Vì vậy vấn đề nghị luận xã hội luôn đóng một vị trí quan trọng trong chương trình ôn luyện và trong cấu trúc đề thi qua các năm, việc hướng dẫn học sinh làm kiểu bài nghị luận xã hội, dặ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HOA
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
VỀ CÁC HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN KHÁNH THÀNH
HÀ NỘI – 2013
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn chân thành tới
thầy giáo PGS.TS Trần Khánh Thành đã định hướng giúp tôi suốt quá
trình thực hiện luận văn, ban giám hiệu Trường THPT Hàn Thuyên nơi tôi đang công tác, các thầy cô các trường THPT Hàn Thuyên, Trường THPT Quế
Võ 2, trường THPT Chuyên Bắc Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp ý kiến, bổ sung của tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này
Trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Hoa
Trang 4iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục biểu đồ, đồ thị v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích, nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 10
1.1 Cơ sở lí luận 10
1.1.1 Quan điểm chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở THPT 10
1.1.2 Lí luận dạy học hiện đại làm cơ sở cho việc dạy nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống 13
1.1.3.Khái lược về văn nghị luận xã hội 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Thực trạng của việc dạy và học nghị luận xã hội ở THPT 21
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh khi tiếp xúc với những vấn đề nóng bỏng của xã hội 26
1.2.3 Ý nghĩa và vai trò của việc dạy và học nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống ở trường phổ thông 29
Tiểu kết chương 1 35
Trang 5iv
CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ
ĐỘNG CỦA HỌC SINH 36
2.1 Rèn luyện kỹ năng sống cơ bản cho học sinh 36
2.1.1 Rèn luyện thói quen tư duy 38
2.1.2 Rèn kỹ năng phản biện, tranh luận cho học sinh 39
2.1.3 Rèn kỹ năng lập dàn ý cho bài văn nghị luận xã hội 41
2.2 Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh khi dạy nghị luận về hiện tượng đời sống 58
2.2.1 Vận dụng phương pháp xây dựng tình huống trong dạy và học nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống trong chương trình Trung học phổ thông 60
2.2.2 Dạy nghị luận xã hội bằng phương pháp thuyết trình thông qua điều tra xã hội 64
2.2.3 Phương pháp làm việc nhóm trong dạy nghị luận xã hội giúp học sinh tăng khả năng nhận thức và biết cách tranh luận 67
2.2.4 Dạy và học theo quan điểm truyền thông tin 71
Tiểu kết chương 2 73
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74
3.1 Phạm vi thực nghiệm sư phạm 74
3.2 Mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc thực nghiệm 74
3.3 Phương pháp thực nghiệm 76
3.4 Mô tả thực nghiệm 77
3.5 Nội dung thực nghiệm 78
3.6 Tổ chức thực nghiệm 78
3.5.1 Tổ chức Thực nghiệm vòng 1 78
3.5.3 Các biện pháp và phương pháp đánh giá thực nghiệm 86
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 87
3.7 Giáo án thực nghiệm 94
Tiểu kết chương 3 102
Trang 6v
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Lợi ích lớn nhất của học tập nghị luận xã hội về hiện
Trang 81
1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học như: mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương tiện dạy học, môi trường dạy học, kiểm tra đánh giá Tuy nhiên, sự đổi mới nội dung
và phương pháp dạy học chỉ thực sự có ý nghĩa và mang tính khả thi khi được tiến hành đồng bộ với việc đổi mới các hình thức dạy học Nói cách khác, phải tạo ra được các hình thức tổ chức dạy học phong phú có đủ khả năng để thể hiện và chuyển tải nội dung và phương pháp
Một trong những môn học từ trước cho tới nay vẫn được Bộ giáo dục
và các giáo viên phổ thông quan tâm đó là môn Ngữ văn Trong xu thế hội nhập, xã hội ngày càng hiện đại, chất lượng cuộc sống đang từng bước được cải thiện và nâng cao Môn Ngữ văn đang ngày càng chứng tỏ vai trò và chức năng nhận thức của mình trong đời sống Học Văn là học cách làm người, trở thành những con người chân chính, sống có ích cho xã hội.Văn học chính là nơi để con người thăng hoa cảm xúc, bày tỏ suy nghĩ, bộc lộ quan điểm, thái
độ sống, cách nhìn cuộc sống và xác định mục tiêu sống Trong thực tế không
ít người cho rằng, môn Văn là môn học không thực sự quan trọng, bởi nó xa rời thực tế, nó không giúp ích nhiều cho con người trong việc lựa chon công việc, đem lại lợi ích thiết thực về mặt kinh tế Dó đó, phần lớn học sinh, thậm chí cả các bậc cha mẹ học sinh cũng không muốn con mình học và ham thích văn chương Sở dĩ môn văn khiến cho học sinh không hứng thú như vậy có lẽ phần lớn nằm ở phía giáo viên chưa tìm ra những phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh nhận rõ vai trò của môn Văn
Văn học không chỉ giúp con người có tầm hiểu nhất định về mặt lịch sử hào hung của dân tộc, hơn thế trong những năm gần đây, văn học đã làm tròn vai trò của bộ môn Đạo Đức ở cấp 1 và đang lấn sân sang bộ môn Giáo dục công dân Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển toàn diện cho học sinh về kiến thức cũng như kỹ năng sống, đề thi học kỳ, thi kiểm tra cuối
Trang 92
năm ở các lớp 10, 11, 12, đề thi tốt nghiệp phổ thông trung học, đề thi đại học, thậm chí cả đề thi học sinh Giỏi quốc gia môn Văn có rất nhiều đổi mới Đề bài thường gồm có hai phần : Nghị luận văn học và nghị luận xã hội Vì vậy vấn đề nghị luận xã hội luôn đóng một vị trí quan trọng trong chương trình ôn luyện và trong cấu trúc đề thi qua các năm, việc hướng dẫn học sinh làm kiểu bài nghị luận xã hội, dặc biê ̣t là ngh ị luận về một hiện tượng đang diễn ra trong cuộc sống là điều hết sức quan trọng Vấn đề đặt ra là phải làm sao để
đa số học sinh có thể nắm được cách viết một bài văn nghị luận đạt yêu cầu,
từ đó thông qua bài văn giáo viên có thể đánh giá năng lực nhận thức của từng học sinh Nghĩa là bài viết không chỉ đúng ý, đủ ý mà còn phải hay, phải thể hiện được tài năng, tố chất, bản lĩnh và năng lực vượt trội của cá nhân trước những vấn đề đặt ra trong cuộc sống
Nghị luận về hiện tượng trong đời sống tuy mới chỉ được đưa vào dạy
ở bậc phổ thông trong vòng chục năm trở lại đây Nghị luận xã hội giúp học sinh có tầm hiểu biết nhất định về đời sống, về mối quan hệ giữa cá nhân với môi trường, giữa cá nhân với tập thể, cá nhân với gia đình, cá nhân với cá nhân….Từ đó làm thước đo về giá trị đạo đức cho con người Dưới sự điều khiển của giáo viên, từng cá nhân, học sinh có dịp đi sâu tìm hiểu những vấn
đề nóng hổi của xã hội mang tính thời sự cấp thiết, giúp các em nâng cao năng lực nhận thức cuộc sống, xã hội Từ cơ sở đó rèn luyện đức tính cần thiết tạo cơ sở để hình thành nhân cách con người
Nói một cách khái quát thì dạy nghị luận xã hội chính là dạy học sinh
kỹ năng sống, nhờ đó mà ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em học sinh đã được tiếp xúc với mọi vấn đề, phương diện của cuộc sống xã hội.Làm tiền đề, cơ sở, hành trang giúp các em bước vào cuộc sống không bị
bỡ ngỡ, nhờ đó mà học sinh có thể phận biệt đúng sai, hạn chế đến mức tối đa việc mắc sai lầm.Và quan trong hơn giúp học sinh nắm được những giá trị to lớn về mặt tinh thần trong cuộc sống, tránh xa các tệ nạn xã hội, trở thành những công dân tốt góp phần xây dựng xã hội ngày một giàu đẹp văn minh
Trang 103
Nghị luận xã hội có vai trò to lớn trong giáo dục, góp phần hình thành nhân cách và lối sống của con người trong xã hội mà các giá trị to lớn về mặt đạo đức đang dần bị băng hoại Tuy nhiên để giúp người học có thể làm một bài nghị luận về hiện tượng xã hội đạt hiệu quả cao, thì người dạy phải đưa ra được những phương pháp phù hợp, gợi được khả năng liên tưởng, chiều sâu
tư duy, từ đó khích lệ người học bày tỏ suy nghĩ của mình Nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy phù hợp, phát huy tính tích cực chủ động
của học sinh trong làm văn nghị luận xã hội, tôi đã đi nghiên cứu đề tài: Rèn
luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận về các hiện tượng xã hội cho học sinh trung học phổ thông, với mong muốn giúp các thầy cô giáo dạy bộ môn Văn
sẽ đem đến cho học sinh những bài giảng thú vị và bổ ích, từng bước rèn luyện học sinh làm văn nghị luận xã hội Đồng thời giúp cho người học nắm bắt được những kỹ năng cơ bản để áp dụng vào việc làm bài văn nghị luận đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng dạy và học Nó góp phần trang bị đầy đủ tri thức để thế hệ trẻ bước vào tương lai, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh sánh ngang tầm các nước trên thế giới
2 Lịch sử vấn đề
Văn nghị luận là một trong những thể loại văn hội tụ đầy dủ các yếu tố như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, mở rộng vấn đề…Do đó văn nghị luận đã được đưa vào giảng dạy từ rất lâu trong nhà trường Tuy nhiên, chúng ta chỉ chủ yếu áp dụng văn nghị luận cho các tác phẩm văn chương Trong khoảng mười năm trở lại đây, cùng với việc thay đổi chương trình sách giáo khoa, Bộ giáo dục đã đưa vào chương trình giảng dạy một phương diện phản án mới của văn nghị luận Đó là nghị luận xã hội, mà đặc biệt là nghị luận về một hiện tượng trong đời sống xã hội Đây là một thể loại văn cho thấy rõ nhất khả năng nhận thức của con người về đời sống, về xã hội, nhưng ngay cả những thầy cô giáo như chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn trong việc tìm hiểu và hướng dẫn học sinh nắm vững được kỹ năng làm văn nghị luận xã hội Từ yêu cầu cấp thiết của việc học văn cũng như nhu cầu tìm hiểu
Trang 11Bàn về phương pháp làm bài văn nghị luận của thầy Nguyễn Hữu Xuân Quang
(giáo viên Trường THCS, Quận Thủ Đức) Ở bài viết này thầy tập trung phân biệt sự giống và khác nhau giữa nghị luận về tư tưởng đạo lý và nghị luận về hiện tượng đời sống, giúp các em tránh nhầm lẫn trong khi làm bài
Thầy giáo Trương Văn Quang – Chuyên viên Sở giáo dục tỉnh Quảng Nam cũng có bài viết đăng trên diễn đàn dạy học của Bộ giáo dục.Ở bài viết
này, thầy đã chỉ Phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội, giúp người dạy
và học nắm vững được những bước cơ bản khi dạy và học văn nghị luận.Từ
đó, người dạy sẽ tặng cho học sinh của mình một chiếc cần câu, mà không phải cho học sinh con cá Có nghĩa là người dạy chỉ có vai trò hướng dẫn, dẫn dắt học sinh, gợi mở giúp học sinh tư duy, quan sát và nhận thức cuộc sống,
từ đó bày tỏ quan điểm của mình trên trang giấy mà không ỷ lại vào giáo viên, vào văn mẫu
Trên diễn dàn văn học, đã có không ít những đóng góp để xây dựng
một bài dạy và học nghị luận xã hội như: Cấu trúc bài văn nghị luận xã hội,
Công thức làm văn nghị luận xã hội Thậm chí có những bài viết bàn về cách tiếp cận một đề văn nghị luận xã hội và phạm vi dẫn chứng của bài văn Trên
báo giáo dục của Bộ đăng tải trên mạng cũng đưa ra bài viết :Cách ghi điểm
của bài văn nghị luận xã hội và Cách làm bài văn nghị luận xã hội Những
bài viết này đã chỉ rõ cho người dạy và người học biết cách nắm bắt thông tin, phân tích được dạng đề, và đặc biệt là cách hành văn sao cho phù hợp với từng dạng đề cụ thể
Gần đây trong đề cương bài giảng: Dạy học sinh giỏi làm bài nghị
luận xã hội cho sinh viên ngành sư phạm của PGS.TS Trần Khánh Thành
Trang 12Trong cuốn sách “125 bài văn nghị luận xã hội 10,11,12” do PGS.TS
Trần Khánh Thành chủ biên, đã cung cấp cho giáo viên và học sinh những kiến thức bổ ích về xã hội Cuốn sách không cụ thể chỉ ra phương pháp làm văn nghị luận xã hội, song qua cuốn sách, người học sẽ nắm được những bước cơ bản trong cách hành văn, cách lập dàn ý bài văn, cấu trúc một bài nghị luận, và phạm vi dẫn chứng mà mỗi bài nghị luận xã hội hướng tới Cuốn sách đã trở thành cẩm nang giúp cho các nhà hoạt động sư phạm rèn luyện học sinh khi bàn luận về những vấn đề của xã hội đang diễn ra xung quanh cuộc sống
Nhận thấy được nhu cầu thiết yếu của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống, trên các phương tiện thông tin đại chúng, dặc biệt là trên các trang mạng Internet cũng đã cung cấp cho học sinh một cái nhìn khá toàn diện về cách làm văn nghị luận xã hội Giúp quá trình học tập nghị luận xã hội đạt hiệu quả cao, gợi được suy nghĩ,
cách nhìn nhận cuộc sống, xây dựng được bản lĩnh tự lập cho học sinh
Mặc dù có rất nhiều những bài viết, sáng kiến kinh nghiệm về việc dạy
và học nghị luận xã hội ở trong trường phổ thông Nhưng hầu hết những bài viết đó đều mang tính chất nhỏ lẻ, mỗi bài viết chỉ đề cập đến một khía cạnh, phương diện của việc dạy và học nghị luận xã hội, do vậy chưa giúp người dạy và học có một tầm hiểu biết toàn diện và sâu săc về kỹ năng, phương
Trang 136
pháp dạy và học tập tích cực đạt hiệu quả cao Thậm chí chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự có giá trị, mang tính hệ thống và khái quát được toàn bộ quy trình và những phương pháp dạy nghị luận xã hội đạt chất lượng.Tài liệu tham khảo để dạy nghị luận xã hội còn rất khan hiếm Do vậy, phần đông các giáo viên chúng tôi vẫn còn rất bỡ ngỡ, lúng túng trong dạy nghị luận xã hội Và hầu hết học sinh chưa nắm được kỹ năng làm văn nghị luận xã hội, vì thế nên đa phần học sinh còn e dè, thậm chí là sợ, là ngại, là lúng túng trong hành văn, trong kỹ năng làm văn nghị luận xã hội
Nhằm khắc phu ̣c tình tra ̣ng đó , và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu , học tập
của học sinh , Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ đã có sáng kiến tổ chức cuô ̣c thi
“Ra đề và viết văn nghi ̣ luận xã hộ i”, được sự hưởng ứng rô ̣ng rãi của các thầy cô và các em ho ̣c sinh trong cả nước Tuyển tập đề bài và bài văn nghi ̣
luận xã hội do Nguyễn Văn Tùng và Thân Phương Thu tuyển cho ̣n đã giúp
học sinh tiếp cận những vấn đề nghị luâ ̣n xã hô ̣i thường được quan tâm trong nhà trường và trong các kỳ thi Qua đó, học sinh sẽ hình dung được phạm vi
và mức độ của đề văn nghị luận Cuốn sách còn cung cấp cho đô ̣c giả những bài làm văn nghị luận xã hội có nô ̣i dung phong phú, cách diễn đạt và lập luận
có tính thuyết phục của học sinh , giúp người học tích lũy được vốn tri thức nho nhỏ để trau dồi ý tứ và kỹ năng làm văn nghi ̣ luâ ̣n xã hô ̣i
Nhâ ̣n thức rõ được vai trò của văn nghi ̣ luâ ̣n về hiê ̣n tượng trong đời sống đối với viê ̣c giáo du ̣c, hình thành nhân cách, năng lực của con người GS
TS Trần Đình Sử nhâ ̣n đi ̣nh: “Hiê ̣n nay , nhiều em có thiên hướng học các
khối tự nhiên , khoa học kỹ thuật Ngân hàng thương mại…lại nghĩ rằng làm văn không cần thiết bằng làm toán , học lý, học hóa… Đó là quan niê ̣m chưa đúng Thực tế văn nghi ̣ luận cần thiết cho mỗi người , dù ta có học nghề gì trong tương lai Bởi làm văn nghi ̣ luậ n là rèn luyê ̣n tư duy bằng ngôn ngữ , cách diễn đạt chính xác , cách dùng từ đúng chỗ , cách thuyết phục người khác Thiếu năng lực thuyết phục thì khó mà thành đạt trong cuộc sống ”.Từ
nhâ ̣n đi ̣nh này , giáo sư đi đến việc lý giải bản chất của nghị luận về hiện
Trang 14Như vâ ̣y, viê ̣c ho ̣c và làm văn nghi ̣ luâ ̣n không đơn thuần chỉ là ho ̣c để thi cử, mà quan trọng hơn nghi ̣ luâ ̣n về hiê ̣n tượng xã hô ̣i đang trở thành mô ̣t vấn đề thiết yếu đối với viê ̣c giáo du ̣c ho ̣c sinh Làm tốt bài văn nghị luận là chuẩn bi ̣ được hành trang thiết thực nhất giúp ho ̣c sinh khi bươn trải trong cuô ̣c sống sẽ không bi ̣ cám dỗ , không sợ va vấp vào những tê ̣ na ̣n của xã hô ̣i Nghị luận xã hội không chỉ giúp con người hình thành nhân cách mà còn giúp con người sống la ̣c quan , tự tin vào năng lực của bản thân , có ý chí , có bản lĩnh để đương đầu với mọi khó khăn trong cuộc sống
Trong quá trình tim hiểu văn nghị luận, đã thôi thúc tôi đi nghiên cứu
và tìm ra phương pháp phù hợp nhất với mong muốn giúp học sinh nâng cao nhận thức, phát huy tính tích cực trong học tập, biết quan sát cuộc sống, khuyến khích học sinh tư duy và thoải mái bày tỏ suy nghĩ, quan niệm của mình về các vẫn đề trong cuộc sống nhằm rèn luyện và nâng cao kỹ năng sống cho giới trẻ, thanh niên, giúp chúng có định hướng đúng đắn trên hành
trình tìm ra chân lý của sự sống Với ý nghĩ ấy, tôi đã đi nghiên cứu về Đề tài
Rèn kỹ năng làm bài văn nghị luận về các hiện tượng xã hội cho học sinh
Trang 158
trung học phổ thông, với mong muốn giúp các nhà sư phạm sẽ có thể truyền
đạt và hướng dẫn học trò của mình nắm được kỹ năng và làm tốt một bài văn nghị luận xã hội Đồng thời góp một tiếng nói nhỏ bé, một đóng góp không đáng kể vào kho tàng sáng kiến để làm tư liệu cho các nhà sư phạm tham khảo, nâng cao chất lượng dạy và học góp phần đổi mới giáo dục nước nhà
3 Mục đích, nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu
Cung cấp cho những nhà sư phạm một công trình nghiên cứu mang tính chất hệ thống, toàn diện về Phương pháp dạy học nghị luận về hiện tương đời sống trong nhà trường, từ đó rèn luyện học sinh làm văn nghị luận xã hội đạt hiệu quả cao
Nâng cao kỹ năng sống, khả năng nhận thức và kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh
Hệ thống hóa những thành tựu về lí luận dạy học nghị luận xã hội (kỹ
năng sống ) trên thế giới và ở Việt Nam
Xác định được các hình thức, biện pháp tổ chức, phương pháp dạy và học nghị luận về hiện tượng đời sống ở trường phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là Văn nghị luận: Rèn kỹ năng làm bài văn nghị luận về các hiện tượng xã hội cho học sinh THPT
Đối tượng hướng đến là những nhà hoạt động sư phạm và tầng lớp học sinh mà chủ yếu là học sinh trung học phổ thông
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ những vấn đề, hiện tượng diễn ra xung quanh cuộc sống của con người Đặc biệt là những vấn đề nóng hổi, mang tính thời sự ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, đến sự sống, đến việc hình thành nhân cách của con người
Phạm vi dẫn chứng chủ yếu là lấy ngay trong cuộc sống và một phần là lấy từ tác phẩm văn chương
Trang 169
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu một số công trình khoa học
về Tâm lí học, Giáo dục học, Giáo dục văn học và tài liệu liên quan đến đề tài: nghiên cứu nội dung, chương trình, SGK văn học bậc THPT
Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh
về việc tổ chức dạy học nghị luận xã hội trong dạy học Ngữ văn (kỹ năng sống) ở trường THPT
Phương pháp thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần:
+ Xử lí số liệu kết quả khảo sát và kết quả sau thực nghiệm sư phạm
+ Phân tích số liệu khảo sát và số liệu thực nghiệm
+ Sử dụng phương pháp thống kê toán học và các thành tựu của công nghệ thông tin để xử lí kết quả thực nghiệm
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục, bố
cục luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy và học nghị luận xã hội Chương 2: Dạy nghị luận về hiện tượng xã hội theo phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 1710
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Quan điểm chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở THPT
Giáo dục nước ta trong thập kỉ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới
Yêu cầu phải đối mới, phải chấn hưng nền giáo dục Việt Nam được nêu rất rõ trong các văn kiện của Đảng và được cụ thể hóa qua Luật Giáo dục của Việt Nam
Ở nước ta, trong quá trình cải cách giáo dục – đào tạo, mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục – đào tạo đã thay đổi nhiều lần cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được những tiến bộ đáng khích lệ Tuy nhiên, những thay đổi về chuyên môn còn quá ít, quá chậm Phương pháp đang được sử dụng phổ biến trong các trường học chủ yếu là thuyết giảng có tính chất áp đặt của thầy, coi nhẹ hoạt động tích cực, chủ động của trò Sự chậm trễ đổi mới phương pháp dạy học ở THPT là trở ngại lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng ta đã đề ra là đào tạo “người lao động tự chủ năng động, sáng tạo” Để khắc phục tình trạng này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tiếp tục khẳng định để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo cần thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo lí, lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống và năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành và tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội
Trang 1811
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, đã khẳng định phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỉ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau Chiến lược cũng đã xác định rõ một trong ba đột phá
là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục
Điều 28.2 Luật Giáo dục đã được sửa đổi bổ sung có hiệu lực thi hành
từ 1/7/2010, quy định: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Tiếp đó, Tại Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012,
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã kí quyết định phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của Đảng ta khẳng định phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước, nâng cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu
tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với giáo dục, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương; ưu tiên ngân sách nhà nước dành cho phát triển giáo dục phổ cập và các đối tượng đặc thù
Trang 1912
Như vậy, để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng Sự phát triển của xã hội cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI đòi hỏi con người có một phẩm chất và năng lực nổi lên hàng đầu như năng lực làm việc nhóm, năng lực hoạt động thực tiễn và giải quyết vấn đề do cuộc sống đặt ra, năng lực hợp tác, năng lực thích ứng,… Những yêu cầu trên đặt ra cho giáo dục phải đổi mới toàn diện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu giáo dục của xã hội và cá nhân, từ học chế đào tạo, cách thiết kế chương trình, tìm tòi những phương thức, cách thức giáo dục tốt hơn Tuy nhiên, để tìm được những cách thức đào tạo phù hợp, cần phải làm sáng tỏ bản chất việc học mới có thể tìm được những cách dạy phù hợp, có hiệu quả nhất
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn hiện nay và yêu cầu phải cải cách toàn diện giáo dục THPT là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dục phổ thông Phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu dạy học, chương trình, nội giáo dục phổ thông, đặc biệt là đổi mới phương pháp giáo dục kết hợp với đổi mới hình thức tổ chức giáo dục THPT Cuối cùng là đổi mới đánh giá kết quả giáo dục THPT
Hiện nay, giáo dục phổ thông ở nước ta đang từng bước tiến hành đổi mới theo định hướng của Đảng và của Bộ giáo dục và Đào tạo Tuy nhiên, sự đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo chỉ thực sự có ý nghĩa và mang tính khả thi khi được tiến hành đồng bộ với việc đổi mới các hình thức tổ chức dạy học Nói cách khác, là phải tạo ra được các hình thức tổ chức dạy học phong phú có đủ khả năng để thể hiện và chuyển tải những nội dung và phương pháp
Trang 2013
đang ngày càng hoàn thiện Rèn luyện học sinh THPT làm văn nghị luận về hiện tượng xã hội là một trong những chương trình đổi mới giáo dục hiệu quả, nhằm nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm của người học, đồng thời phát huy được năng khiếu, tính chủ động của học sinh trước những đổi thay của cuộc sống, qua đó có thể giải quyết phần nào những định hướng mà Đảng, Bộ Giáo dục và đào tạo đang quyết tâm thực hiện
1.1.2 Lí luận dạy học hiện đại làm cơ sở cho việc dạy nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống
Sự phát triển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia, dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội nhưng cũng đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng đồng thời lạc hậu rất nhanh Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực công tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong tình huống thay đổi Từ những đòi hỏi trên, giáo dục cần phải đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế, xã hội
và thị trường lao động
Trong thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI, rất nhiều lí thuyết học tập mới đã ra đời để đáp ứng sự đổi mới của giáo dục Các lí thuyết học tập đều tìm cách giải thích cơ chế của việc học tập, làm cơ sở để tổ chức và thực hiện tối ưu quá trình học tập của HS Có rất nhiều mô hình lí thuyết khác nhau, trong đó có một số thuyết học tập làm cơ sở cho tổ chức dạy và học nghị luận xã hội Đó là thuyết học tập mang tính xã hội, sự giải quyết mâu thuẫn, sự hợp tác tập thể
1.1.3.Khái lược về văn nghị luận xã hội
1.1.3.1 Nội hàm khái niệm
Trang 2114
Trong nội dung hạn chế đề thi học kỳ, thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh cao đẳng và đại học 4 năm gần đây (từ 2009), đây là phần được coi là mới nhất Đúng ra, dạng đề thi thuộc loại này trước đây đã từng rất quen thuộc với học sinh Có một thời kì, trong đề thi làm văn của học sinh bậc phổ thông trung học, người ta không còn ra loại đề này Chính thức từ kì thi năm 2009, dạng
đề thi này mới quay trở lại, nên học sinh, nhất là khối thí sinh tự do cảm thấy
bỡ ngỡ Tuy nhiên, với những học sinh đã học chương trình mới từ đầu, nếu được thầy cô giảng dạy chu đáo và bản thân thường xuyên rèn luyện, đây cũng chỉ là bài làm văn thông thường, không khó
Để làm tốt câu hỏi dạng này, học sinh trước hết phải nắm được những vấn đề lí thuyết về văn nghị luận Những kiến thức này đã có đầy đủ trong các bài học của sách giáo khoa, học sinh chỉ cần ôn luyện lại, nắm vững những khái niệm then chốt và các thao tác khi làm bài văn nghị luận xã hội
Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng
cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức) Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác
bỏ, so sánh…” (Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập 2)
Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống Đề tài của dạng bài nghị luận xã hội cũng hết sức rộng mở Nó gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hoá…Nghĩa là, ngoài những tác phẩm nghị luận văn học (lấy tác phẩm văn học, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng văn bản viết khác đều có khả năng được xếp vào dạng nghị luận xã hội, chính trị
Trang 22+ Phải chủ động, mạnh dạn trong khi viết bài, vì không giống với nghị luận văn học, nói chung người viết có thể dựa vào bài học có sẵn, hoặc được thầy
cô giáo hướng dẫn, bài nghị luận xã hội hoàn toàn buộc người viết phải chủ động đề xuất chính kiến của mình, có thể đúng hay chưa đúng, được số đông chấp nhận hay không chấp nhận, miễn là nó thuyết phục được người đọc bằng những lí lẽ xác đáng
+ Dạng câu hỏi nghị luận xã hội chỉ được cho tối đa 3 điểm, nên dung lượng bài viết cũng không nên quá dài Trong yêu cầu cụ thể, đề thi có thể ghi rõ bài viết không vượt quá 600 từ, nghĩa là với khổ giấy thi được sử dụng chính thức như hiện nay, chỉ cần không quá 2 trang, viết ngắn quả là khó hơn viết dài, thí sinh cần phải chú ý thời gian để không bị phân tán tư tưởng, tránh ảnh hưởng đến phần bài làm khác Để giúp học sinh làm quen với dạng đề thi này, người viết xin dẫn dưới đây một số câu hỏi tiêu biểu
1.1.3.2 Dạng đề tiêu biểu
Đề 1: “Như một thứ a xít vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội” Từ ý kiến trên, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay (đề thi ĐH khối C, năm 2010)
Đề 2: Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng” Từ ý kiến trên, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về sự nguy hại của đạo đức giả đối với cuộc sống con người (đề thi
ĐH, khối D, năm 2010)
Trang 2316
Đề 3: Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến sau: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa (đề thi ĐH, khối D, năm 2009)
Đề 4: Phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời
Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” (Norman Kusin) Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên
Đề 5: Anh/ Chị hãy bình luận ca từ sau đây trong một bản nhạc của Trịnh Công Sơn: “Sống trên đời cần có một tấm lòng/ Để làm gì em biết không?”
Đề 6: Trong một lần trả lời con gái thế nào là hạnh phúc, Mác nói: “Hạnh phúc là đấu tranh” Anh/chị hiểu câu nói trên như thế nào?
Đề 7: “Mọi lí thuyết đều màu xám, chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi” (Gớt) Anh/chị hiểu câu nói trên như thế nào”?
Đề 8: Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về “bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay
Đề 9: Viết bài tham gia cuộc vận động tìm giải pháp bảo đảm an toàn giao thông hiện nay
Đề 10: Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về bệnh thành tích – một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay Có thể so sánh liên hệ với trường và lớp anh/ chị đang theo học
Đề 11: Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới” (M Gorki) Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề trên
Đề 12: Nhà văn Nga Lev Tolstoi nói “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không
có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống” Hãy nêu ý kiến của anh/chị về vấn đề trên
Đề 13: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình” (Tố Hữu) Dựa vào câu thơ trên, hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ riêng của anh/ chị
Những câu hỏi nghị luận xã hội như đã nêu ở trên khá rộng mở Chúng ta không thể có cách học nào tốt hơn là rèn luyện thật nhiều kĩ năng đọc hiểu
Trang 24+ Hai là loại bài nghị luận về một hiện tượng đời sống (về căn bệnh vô cảm, bệnh thành tích, về thói quen sinh hoạt hàng ngày, về thái độ thi cử thiếu trung thực…)
1.1.3.3 Cấu trúc của bài nghị luận
Một bài nghị luận xã hội dù dung lượng không dài cũng vẫn phải đảm bảo cấu trúc của một bài làm văn, nghĩa là vẫn phải có mở đầu, thân bài và kết luận Phần mở bài cần phải nêu được vấn đề trọng tâm mà đề ra yêu cầu Phần thân bài, phải triển khai tiếp các luận điểm đã được nêu ra ở phần một,
và cuối cùng, phần kết luận, người viết phải đưa ra tổng kết của cá nhân mình
về vấn đề đã nêu, đúng hay sai? Bài học nào được rút ra cho cá nhân người viết? Tóm lại, với một bài nghị luận xã hội, bố cục chung của bài làm nên lần lượt triển khai theo các bước sau đây:
- Ý 1: Nêu và giải thích ý kiến câu hỏi đề thi
- Ý 2: Bàn luận mở rộng về ý kiến câu hỏi đề thi
- Ý 3: Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân và cho mọi người
* Một số ví dụ
Để giúp các nhà hoạt động giáo dục và các em học sinh có thể dễ dàng giải quyết các bài làm cụ thể của mình, chúng tôi xin dẫn ra dưới đây 3 ví dụ
cụ thể: một đáp án sơ lược, một đáp án chi tiết và một bài viết hoàn chỉnh
Ví dụ 1 Trình bày suy nghĩ về ý kiến: Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích,
người chân chính thì kiên nhẫn tạo nên thành tựu (đề thi ĐH, khối C, 2012)
Đáp án sơ lược
Trang 2518
+ Giải thích ý kiến
- Kẻ cơ hội là người lợi dụng thời cơ để mưu cầu lợi ích trước mắt, bất kể việc làm đúng hay sai; người chân chính là người luôn biết sống đúng với thực chất và phù hợp với những giá trị xã hội; thành tích là những kết quả được đánh giá tốt; thành tựu là những thành quả có ý nghĩa lớn, thường chỉ đạt được sau một thời kì phấn đấu lâu dài
- Về nội dung, đây là ý kiến chỉ ra sự đối lập về lối sống và cách hành xử trong công việc giữa loại người cơ hội và chân chính
+ Bàn luận về ý kiến
* Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích
- Do thói vụ lợi, bất chấp đúng sai nên trong công việc, kẻ cơ hội không cầu kết quả tốt, mà chỉ cầu được đánh giá tốt Kẻ nào càng vụ lợi thì lại càng nôn nóng có được thành tích.Bởi thế, loại người này thường chỉ tạo ra những thành tích giả
- Về thực chất, cách hành xử ấy là lối sống giả dối khiến cho thật giả bất phân, làm băng hoại các giá trị về đạo đức; lối sống cơ hội này đã khiến bệnh thành tích lan tràn như hiện nay
* Người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu
- Coi trọng chất lượng thật, kết quả thật là đức tính của người chân chính Bởi thế loại người này thường kiên nhẫn trong mọi công việc để tạo nên những kết quả thực sự, những thành quả có ý nghĩa lớn Đối với họ chỉ có những thành quả thực sự mới tạo nên giá trị thực của con người, dù có khi phải trả giá đắt
- Về thực chất, cách hành xử ấy thuộc về lối sống chân thực, biểu hiện của những phẩm chất cao quý; giúp tạo nên những thành quả thực, những giá trị đích thực cho mình và cộng đồng, góp phần thúc đẩy xã hội tiến lên
+ Bài học về nhận thức và hành động
- Cần nhận thức rõ đây là hai kiểu người đối lập nhau về nhân cách: một loại người tiêu cực thấp hèn cần phê phán, một mẫu người tích cực cao cả cần trân trọng
Trang 2619
- Cần noi theo lối sống của những người chân chính, luôn coi trọng những kết quả thật và kiên nhẫn phấn đấu để lập nên những thành tựu; đồng thời lên án lối sống cơ hội, nôn nóng chạy theo thành tích giả
Ví dụ 2: “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời Sự
mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” (Norman Kusin).Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày những suy nghĩ của anh/chị về câu nói trên
Đáp án chi tiết
+ Đặt vấn đề
- Cuộc sống với mỗi con người là điều quan trọng nhất Ai trên đời này lại không yêu cuộc sống.Đó là điều không thể phủ nhận.Vì thế, cũng không thể phủ nhận, cái chết là nỗi bất hạnh lớn nhất với mỗi con người Từ xưa tới nay, con người luôn tìm hiểu và tìm mọi cách chế ngự cái chết để giành sự sống
- Nói “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như Norman Kusin cũng không hề sai.Cuộc sống và cái chết là hai thái cực đối lập nhau dữ dội.Bởi thế càng yêu cuộc sống, con người lại càng sợ hãi trước cái chết Nhưng, có một nỗi sợ lớn lao hơn cái chết, đó là khi còn sống, người ta để cho “tâm hồn mình tàn lụi”
+ Giải thích câu nói của Kusin
- “Cái chết không phải là mất mát lớn nhất”: Để làm sâu sắc chân lí này, trước tiên cần phải khẳng định giá trị cuộc sống của con người, khẳng định cái chết với mỗi con người quả nhiên là sự mất mát lớn nhất Chết là chấm dứt sự sống, chấm dứt sự tồn tại hữu hình của con người Khi chết, người ta sẽ phải rời xa vĩnh viễn tất cả những gì yêu thương, gắn bó, không còn được tận hưởng niềm hạnh phúc, những thú vui, lao động, cống hiến và sáng tạo “Mỗi con người chỉ được sống một lần…”, một nhà văn Nga đã từng nói như thế
Và như thế, cũng có nghĩa, một con người bình thường, không thể không coi cái chết là sự mất mát lớn nhất Vậy nhưng, theo Norma Kusin, có một nỗi
Trang 27và biết ghét, yêu cái đẹp và ghét những cái xấu xa; không để tâm hồn chai sạn,
vô cảm trước mọi nỗi buồn vui của cuộc đời
+ Bàn luận mở rộng về câu nói của Kusin
- Tại sao cái chết không phải là mất mát lớn nhất? – Cuộc sống với con người thật là quý giá Nhưng không ai có thể vĩnh viễn trong cuộc đời này.Đó là quy luật.Tuy nhiên, cái chết với mỗi con người không có nghĩa là kết thúc, là dấu chấm hết Bởi lẽ, có những cái chết vẫn để lại “muôn vàn tình thân yêu”; chết nhưng lại “gieo mầm sự sống”, để lại cho muôn đời sau sự ngưỡng mộ, kính yêu Chị Võ Thị Sáu ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng tên tuổi, tâm hồn, vẻ đẹp của chị vẫn mãi sống trong lòng nhân dân.Một cái chết như thế đâu phải
là mất mát lớn nhất?
- Sự tàn lụi trong tâm hồn khi còn sống mới là đáng sợ: Sự sống không đơn giản chỉ là ăn uống, hít thở, hưởng thụ, tận hưởng về mặt vật chất Có những người sống trong cuộc đời chỉ coi trọng điều này Rõ ràng, họ không chết về mặt thể chất Thế nhưng, tâm hồn của họ trống rỗng; họ vô cảm, dửng dưng trước mọi nỗi buồn vui của cuộc đời; chỉ biết “yêu” bản thân mình, không ước
mơ và khát vọng…Một cuộc sống như thế chính là “cái chết” về mặt tâm hồn Cái chết này thậm chí còn đáng sợ hơn, khủng khiếp hơn “cái chết thể chất”
Đó là lí do khiến Trương Ba xin được “chết” khi Đế Thích vẫn cho ông sống, nhưng là sống trong vỏ bọc thể xác của một người khác, không phải là mình
+ Liên hệ với bản thân trong cuộc sống hiện nay
Trang 2821
Trong cuộc sống hiện nay, khi mà nhu cầu vật chất không còn là điều quá khó khăn, mỗi con người đều có thể dễ dàng thoả mãn nhu cầu vật chất của mình Xã hội càng hiện đại, tiện nghi, con người lại càng dễ có nguy
cơ sa vào lối sống hưởng thụ, vô cảm, lạnh lùng, mất phương hướng Sống tích cực, lạc quan, chan hoà, yêu thương và chia sẻ chính là cách tốt nhất để con người không rơi vào tình trạng “tâm hồn tàn lụi”
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng của việc dạy và học nghị luận xã hội ở THPT
1.2.1.1 Đặc điểm kiến thức xã hội
Kiến thức của bộ môn văn học là những hiểu biết của học sinh về xã hội loài người và lịch sử dân tộc, về phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, nét tính cách, tâm hồn và chất của con người Việt Nam được ghi chép trong các cuốn sách giáo khoa mới nhất Từ quan điểm đó, chúng ta thấy kiến thức văn học là những thành tựu của khoa học đời sống mang tính ổn định được nhân loại thừa nhận và phù hợp với mục tiêu đào tạo, khả năng nhận thức của học sinh và do đó kiến thức của bộ môn hẹp hơn so với kiến thức của nền văn hóa và càng hẹp hơn so với tri thức văn hóa của nhân loại Việc đó đòi hỏi chúng trong dạy học ngữ văn kiểm tra đánh giá phải bám sát theo sách giáo
khoa mới nhất
Khác với các kiến thức của bộ môn khác ở trường phổ thông, kiến thức của bộ môn Ngữ văn có những đặc điểm riêng
Đặc điểm thứ nhất: Kiến thức văn học chỉ mang tính tương đối
được trình bày diễn đạt ở các nước khác nhau Nếu kiến thức của các ngành khoa học khác nhất là các bộ môn tự nhiên mang tính chính xác được diễn đạt giống nhau Ví dụ như một bài toán, lý, phản ứng hóa học thì kiến thức văn học, đặc biệt là kiến thức xã hội lại phụ thuộc vào nhận thức của học sinh, cách trình bày, diễn đạt phản ánh của học sinh cho nên kiến thức văn học luôn luôn được trình bày khác nhau, nói một cách khác kiến thức văn học không có khái niệm chính xác tuyệt đối
Trang 2922
Đặc điểm thứ hai: Kiến thức xã hội mang tính hiện tại, kiến thức bộ
môn chỉ đề cập đến những sự kiện hiện tượng đã xảy ra trong xã hội loài người, nó luôn luôn ở thời hiện tại Cho nên khi dạy học Văn học chúng ta cần chú ý dẫn dắt học sinh lùi lại thời gian, về với quá khứ, đồng thời hướng học sinh nhìn thẳng vào thực tại, hướng đến tương lai Kiến thức xã hội đề cập đến những vấn đề nóng bỏng đang diễn ra từng ngày từng giờ xung quanh cuộc sống của chúng ta, có thể trực tiếp quan sát được, có thể tiến hành xây dựng các tình huống nhằm khôi phục lại bức tranh hiện thực sinh động, đưa vấn đề của cuộc sống vào trong môi trường sư phạm từ đó mới có thể hướng dẫn học sinh nhận xét, đánh giá, bày tỏ suy nghĩ, quan điểm, cách giải quyết vấn đề, giúp các em hiểu được chính mình và am hiểu cuộc sống
Đặc điểm thứ 3: Kiến thức xã hội mang tính lặp lại Khác với những bộ
môn khác, kiến thức văn học, đặc biệt là kiến thức xã hội luôn luôn mang tính lặp lại Cùng một hiện tượng, cùng một vấn đề có thể xảy ra ở nhiều nơi khác nhau, bởi nhiều người khác nhau, gây nên một làn sóng dư luận mạnh mẽ, khiến cho loài người trăn trở nhức nhối Một hiện tượng xã hội có thể được học nhiều lần
Đặc điểm thứ 4: Kiến thức xã hội mang tính cụ thểnghĩa là nó luôn luôn
gắn với thời gian, nhân vật, gắn với hoạt động của con người nên rất cụ thể sinh động hấp dẫn tiếc rằng trong quá trình học tập vì chưa vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp, chưa hiểu rõ bản chất và vai trò của kiến thức xã hội chúng ta đã làm mất đi tính sống động, hấp dẫn Điều đó đòi hỏi chúng ta trong dạy học nghị luận xã hội phải làm sao cho bài dạy càng sinh động giàu hình ảnh bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu Chính vì vậy một trong những yêu cầu của dạy học nghị luận xã hội là mỗi tiết dạy, mỗi bài học giáo viên phải
cố gắng sử dụng một phương pháp nào đó có ưu thế để tái hiện hình ảnh, hiện tượng như tường thuật, miêu tả, sử dụng đồ dùng trực quan, kể chuyện
Đặc điểm thứ 5: Kiến thức xã hội mang tính hệ thống, nghĩa là kiến
thức xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trước nó sau nó và đồng thời
Trang 3023
với nó Chính vì vậy nó đòi hỏi chúng ta trong quá trình dạy học nghị luận về hiện tượng đời sống phải luôn hướng dẫn cho học sinh mối liên hệ giữa các yếu tố để làm sáng rõ vấn đề Một hiện tượng xã họi luôn luôn là kết quả của hiện tượng trước đồng thời lại là nguyên nhân của hiện tượng sau, đồng thời
nó có mối liên hệ chặt chè với các hiện tượng cùng thời, nhớ lâu và đặc biệt các em đựoc phát triển tư duy lôgic, liên kết, đámh giá các hiện tượng
Đặc điểm thứ 6: Kiến thức xã hội có sự thống nhất giữa văn chương và
đời sống, giữa cảm và luận, nghĩa là mỗi một hiện tượng xã hội bao giờ cũng
phải đánh giá, giải thích, bình luận về hiện tượng, vấn đề ấy Kiến thức xã hội của chúng ta là có sự thống nhất của hai nội dung ấy điều đó nhắc nhở chúng
ta trong dạy học phải chú ý không một hiện tượng nào là không hướng dẫn cho học sinh đánh giá, giải thích, bày tỏ quan điểm và ngược lại không áp đặt đánh giá giải thích khi không xuất phát từ hiện tượng đời sông
1.2.1.2 Thực trạng việc học nghị luận xã hội của học sinh THPT
Mặc dù rất hứng thú với những vấn đề mang tính xã hội được dư luận quan tâm, được tuyên truyền qua những phương tiện thông tin đại chúng Nhưng thực trạng việc học nghị luận của học sinh còn chưa đạt hiệu quả vì nhiều lí do:
Thứ nhất: Đa phần các em học sinh còn học tập một cách thụ động, chủ yếu dựa vào sự truyền đạt của giáo viên, và những kiến thức có trong sách vở Trong khi đó học sinh hiểu biết về kiến thức xã hội rất ít, từ đó dẫn đến hiện trạng các em viết một bài nghị luận xã hội còn kém, đa phần học sinh mới chỉ nêu được vấn đề, mà chưa đi phân tích và tìm ra giải pháp đúng đắn để giải quyết vấn đề
Thứ hai: Khả năng nhận thức, tư duy của học sinh còn chậm, đặc biệt là học sinh ở các vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu xa vì không có nhiều điều kiện tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, dẫn đến việc không nắm bắt được thông tin, lại thiếu đi sự quan tâm của gia đình
Trang 3124
Thứ ba: Phần lớn các em học sinh cấp 3 học theo khối với mục tiêu thi đại học, dẫn đến tình trạng coi thường bộ môn văn, thậm chí còn không quan tâm đến các vấn đề của xã hội, làm văn ngị luận chủ yếu mang hình thức chống đối, không làm rõ được vấn đề
Thứ tư: Kỹ năng làm văn nghị luận xã hội của học sinh còn kém Trong chương trình Ngữ văn THPT các em đã được làm quen rất nhiều với văn nghị luận tuy nhiên đó lại là nghị luận văn học theo hướng cảm thụ Trong khi đó nghị luận xã hội đòi hỏi học sinh phải có sự hiểu biết nhất định về cuộc sống, phải có kỹ năng tranh luận, phản biện, tư duy sâu Nhưng yêu cầu này học sinh Việt Nam phần lớn chưa đáp ứng được
Thứ năm : HS quen cách học theo bài mẫu ở cấp 2 nên lười tư duy, không chịu thực hành, chưa được trang bị một cách hệ thống các kỹ năng làm văn một cách bài bản từ cấp dưới, không có điều kiện rèn luyện nhiều, kiến thức xã hội hạn chế, nhiều HS học đối phó, không chăm; tư liệu ít, tư liệu đã
có thì lạc hậu và GV chưa được trang bị đầy đủ tài liệu phục vụ cho giảng dạy
có khả năng áp dụng, thực hành cao; cách đánh giá họat động dạy học của giáo viên có nhiều điểm chưa hợp lý; Chương trình SGK biên soạn còn hàn lâm, chưa mang tính ứng dụng-thực hành cao, chưa có độ tinh giản hợp lý, và nội dung chưa đáp ứng được yêu cầu dạy cho HS cách học, cách suy nghĩ, kỹ năng giải quyết vấn đề mà còn nặng về truyền thụ kiến thức; cách đánh giá - kiểm tra, thi cử của HS còn nhiều bất cập; thời lượng phân phối chương trình cho môn văn còn quá ít và chưa hợp lý giữa số tiết dành cho lý thuyết và thực hành trong nội bộ phân môn làm văn; văn NLXH cần có kiến thức thực tế rộng, lập luận chặt chẽ; giờ học khô khan, các vấn đề đưa ra bàn luận còn đơn điệu nhàm chán, đa số HS không thích thú thậm chí xem thường học văn; GV chưa chú trọng dạy NLXH; tỷ lệ giữa việc dạy văn nghị luận xã hội và việc dạy văn nghị luận văn học ở trường THPT hiện nay chưa thật sự hợp lý Đa số
GV đều cho rằng để việc dạy và học phân môn làm văn nói chung và văn NLXH nói riêng cần phải khắc phục tất cả những nguyên nhân dẫn đến thực
Trang 3225
trạng dạy – học đã nêu ở trên Đồng thời phải có một quy trình hóa hệ thống các thao tác làm văn nghi ̣ luâ ̣n kh ả thi trong quá trình dạy-học nghi ̣ luâ ̣n xã
hô ̣i về hiê ̣n tượng đời sống
Vì tất cả những lý do trên mà việc học nghị luận xã hội của học sinh ở THPT còm kém, không đạt hiệu quả cao Khẳ năng ứng dụng vào thực tế ít, dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên Việt Nam trong những năm gần đây phạm rất nhiều sai lầm trong cuộc sống Nguyên nhân là ở sự quan tâm, giáo dục và định hướng của gia đình và nhà trường
1.2.1.3 Thực trạng việc dạy nghị luận xã hội của giáo viên
Về thực trạng giảng dạy của GV, đại đa số GV nhận thấy việc dạy làm văn nói chung và dạy làm văn NLXH nói riêng rất khó khăn Các khó khăn
mà GV thường gặp phải đó là: chương trình SGK còn nhiều kiến thức hàn lâm đối với học sinh, khó áp dụng vào thực tiễn, chưa mang tính thực hành cao, còn thiếu đồng nhất; tư liệu mang tính ứng dụng thực hành cao phục vụ cho môn học còn ít; HS không chăm, thiếu kĩ năng tự học, bị hổng kiến thức
từ cấp dưới; thời lượng phân phối cho phân môn làm văn và cho từng tiết dạy quá ít; việc đào tạo, tổ chức bồi dưỡng GV về kỹ năng dạy học làm văn chưa thiết thực và hiệu quả Cũng chính vì vậy, nhiều GV còn cảm thấy lúng túng ở việc đưa ra các biện pháp và hệ thống bài tập giúp học sinh luyện tập thêm hiệu quả ở nhà; hướng dẫn học sinh áp dụng các kiến thức lý thuyết ở SGK để thực hành; việc đưa ra một quy trình làm văn nghi ̣ luâ ̣n xã hô ̣i mang tính ứng dụng, thực hành cao đồng thời với việc hướng dẫn học sinh vận dụng hiệu quả quy trình ấy vào thực tế học tập Trong quá trình dạy học làm văn nói chung và dạy làm văn NLXH nói riêng vẫn còn tồn tại những hiện tượng: GV
bỏ, không thực hiện các tiết dành riêng để dạy lí thuyết và kĩ năng làm văn; có khá ít GV tích hợp dạy lí thuyết và kĩ năng làm văn trong giờ trả bài; rất ít GV dạy các tiết lí thuyết, kĩ năng một cách hào hứng; rất ít GV dạy tiết trả bài một cách hào hứng; đa số GV dạy các giờ lí thuyết, kĩ năng làm văn một cách đơn điệu, chiếu lệ; khá nhiều GV dạy tiết trả bài một cách nhàm chán, chiếu lệ;
Trang 3326
vẫn còn khá đông GV thật sự lúng túng, không biết bằng cách nào để rèn kĩ năng lập ý cho HS; đại đa số tiết trả bài chủ yếu trở thành tiết sửa câu sai, từ sai, chữ sai
Không chỉ các em học sinh mà bản thân những nhà giáo dục đã có nhiều năm kinh nghiệm đứng lớp, rất vững vàng về chuyên môn, nhưng sự hiểu biết xã hội còn chưa sâu, lại bằng lòng với chính mình mà không chịu tìm hiểu, rèn luyện nâng cao năng lực, kỹ năng sống Dẫn đến việc truyền đạt kiến thức cho học sinh còn hạn chế
Mặt khác, đa phần các nhà giáo vẫn dạy học theo phương pháp cô đọc, trò chép, áp đặt suy nghĩ cho học sinh, tạo không khí căng thẳng cho giờ học không phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh …
1.2.1.4 Phân phối chương trình trong SGK còn chưa hợp lý
Nghị luận xã hội trong những năm gần đây đóng vai trò quan trọng trong các kỳ thi , tuy nhiên thời lượng số tiết cho nghi ̣ luâ ̣n xã hô ̣i trong phân phối chương trình SGK là rất ít, nghị luận về hiện tượng đời sống càng ít hơn Chính vì vậy mà xảy ra tình trạng học nghị luận xã hội như “ cưỡi ngựa xem hoa” dẫn đến hiê ̣u quả da ̣y ho ̣c không cao
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh khi tiếp xúc với những vấn đề nóng bỏng của xã hội
1.2.2.1 Đặc điểm hoạt động học tập lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông
Hoạt động học tập là mô ̣t ho ạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi tính mục đích, tính tự giác - Con người bước vào hoạt động học tập ở nhà trường từ khá sớm, ở giai đoạn 5-6 tuổi Song, mỗi giai đoạn của hoạt động học tập lại có những đặc điểm riêng, khác nhau cả về tính chất và nội dung
Hoạt động học tập của học sinh Trung học phổ thông đòi hỏi cao về tính năng động, tính độc lập, gắn liền với xu hướng học tập lên cao hay chọn nghề, vào đời… Đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được chương trình học một cách sâu sắc thì cần phải phát triển tư duy lí luận, khả năng phân tích, khái quát, nhận thức và vận dụng …
Trang 3427
Học sinh ở tuổi này trưởng thành hơn, sở hữu nhiều kinh nghiệm sống hơn, các em ý thức được vị trí, vai trò của mình Do vậy, thái độ có ý thức của các em trong hoạt động học tập ngày càng được phát triển Đặc biệt tâm lý của các em rất nhạy cảm với cuộc sống, vì thế phần lớn học sinh rất hứng thú với những vấn đề nóng bỏng, đang được dư luận quan tâm, thông qua đó các
em phần nào bộc lộ được quan điểm, thái độ của mình về vấn đề mà các em quan tâm Từ đó mở ra những hướng đi, dự định tương lai, cách sống cho chính bản thân
1.2.2.2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của học sinh Trung học phổ thông
Ở thanh niên mới lớn, tính chủ động được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức
Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ Tuy vậy, quan sát của các em cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo, định hướng của giáo viên Giáo viên cần quan tâm để định hướng quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa tích luỹ đầy đủ các sự kiện…
Ở tuổi này, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các em sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh, đối chiếu…) Đặc biệt, các em đã có khả năng phân hoá trong ghi nhớ Khi phân biệt tài liệu nào cần nhớ từng chữ, cái gì hiểu mà không cần nhớ… Tuy nhiên bên cạnh đó, một số em còn ghi nhớ kiểu đại khái, chung chung, hoặc chủ quan vào trí nhớ của mình mà đánh giá thấp việc ôn tập tài liệu…
1.2.2.3 Hoạt động giao tiếp, đời sống tính cảm và sự phát triển tâm lý
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lí giữa con người và con người nhằm mục đích trao đổi tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, hoàn thiện năng lực bản thân
Trang 3528
Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, là phương tiện cơ bản
để hình thành nhân cách của HS Ở tuổi thanh niên, đời sống giao tiếp, tình cảm của các em phát triển rất phong phú và đóng vai trò quan trọng Giao tiếp nhóm là loại giao tiếp rất phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nhân cách và phát triển tâm lí các em
Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất Điều quan trọng với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi, là cảm thấy mình cần cho nhóm, có vị trí nhất định trong nhóm
Trong các lớp học dần dần hình thành sự “phân cực” nhất định - xuất hiện những người được lòng nhất (được nhiều người lựa chọn nhất) và những người ít được lòng nhất Những người có vị trí thấp nhất (ít được lòng các bạn) thường băn khoăn và suy nghĩ nhiều về năng lực của mình Ở lứa tuổi này, quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hoặc người ít tuổi hơn Điều này do lòng khao khát muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối
Như vậy, từ việc phân tích tâm lí của học sinh THPT chúng ta nhận thấy rằng việc học tập nghị luận xã hội, kỹ năng sống, không chỉ giúp học sinh phát huy được tính tích cực xã hội, thoả mãn nhu cầu giao tiếp mà điều quan trọng hơn là giúp các em nhận thức được bản thân mình và người khác đồng thời qua đó phát triển một số kĩ năng như so sánh, phân tích,…
Tinh thần học hỏi và khả năng lắng nghe người khác cũng sẽ là điều mà học sinh sẽ học hỏi được Những kĩ năng này là rất quan trọng khi các em bước ra môi trường làm việc sau này và đây sẽ là tiền đề tốt để biết cách làm việc trong một môi trường tập thể Làm việc, thảo luận những vấn đề nóng của đời sống không chỉ đơn thuần là do yêu cầu của giáo viên đề ra cho học sinh mà quan trọng hơn còn là cách học tập, nghiên cứu của học sinh Học tập kiến thức xã hội sẽ giúp học sinh tập hợp được những ý kiến sáng tạo của từng cá nhân, từ đó sản phẩm học tập sẽ giàu tính sáng tạo
Trang 3629
1.2.3 Ý nghĩa và vai trò của việc dạy và học nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống ở trường phổ thông
1.2.3.1 Vai trò của dạy học nghị luận xã hội
Giao tiếp, ứng xử nơi công cộng được xem là một kỹ năng quan trọng đối với mỗi người Ứng xử có văn hóa nơi công cộng là nếp sống văn minh cần được mọi người coi trọng, nhất là giới trẻ Có thể, hình thức một ai đó thật nổi bật, cá tính thật hay, nhưng thiếu đi những kỹ năng ứng xử đúng mực trước mọi người thì họ cũng đã tự làm xấu đi hình ảnh của mình Bởi hiện nay, chúng ta dễ dàng bắt gặp những hành vi thiếu văn hóa đang tồn tại ở một bộ
phận không nhỏ trong giới trẻ Xã hội ngày càng phát triển, giới trẻ đang ngày
càng trở nên mạnh dạn, tự tin hơn trong mọi lĩnh vực đời sống, xã hội Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một phần không nhỏ các bạn trẻ lại có cách ứng
xử thiếu văn hóa nơi công cộng; nói năng tục tĩu, ồn ào, nói chuyện điện thoại oang oang hoặc thể hiện tình cảm thái quá nơi đông người, công viên; chen lấn, xô đẩy khi xếp hàng; bóp còi inh ỏi khi tắc đường; đi xe buýt không nhường ghế cho người già và phụ nữ Những hành vi này đang tạo ra một thói quen xấu cho giới trẻ, tạo ra một môi trường thiếu văn hóa trong xã hội, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi, nhân cách của các bạn trẻ Có những chuyện người xung quanh chứng kiến phải lắc đầu ngao ngán với lối ứng xử
“quá tệ” của các bạn trẻ ngày nay.Văn hóa ứng xử không thể đem ra cân – đong – đo- đếm và cũng không hẳn tỉ lệ thuận với trình độ học vấn của con người Nó chủ yếu là do trình độ nhận thức và sự quan tâm hướng dẫn, giáo dục của những người trong gia đình và nhà trường Do đó, để xây dựng cộng đồng văn minh và ứng xử văn hóa nơi công cộng trở thành một thói quen tốt, mỗi người cần phải tự nâng cao hơn nữa ý thức bản thân, sống có văn hóa, biết tôn trọng bản thân mình và mọi người xung quanh Song song đó, ngoài việc làm gương thì cha mẹ, người lớn trong gia đình, thầy cô giáo cần phải giáo dục, hướng dẫn cách ứng xử phù hợp để các bạn trẻ có thói quen sống có
Trang 37và tay nghề, ý chí và nghị lực không thua kém học sinh các nước Nhưng học sinh nước ta còn thua kém học sinh các nước tiên tiến về kỷ luật lao động, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tham gia các hoạt động quốc tế
Để giúp học sinh, sinh viên tự tin tham gia có hiệu quả vào hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, đòi hỏi Đoàn và Hội phải có các hoạt động hỗ trợ thanh niên có kỹ năng, kỷ luật, có tác phong lao động công nghiệp và nếp sống văn minh.Thế hệ thanh niên ngày nay được sống, lao động, học tập trong môi trường hòa bình; được thừa hưởng những thành quả của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và công cuộc đổi mới đất nước; được cống hiến và trưởng thành trong sự ổn định về chính trị, sự phát triển vững chắc của kinh tế
- xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện; được gia đình và xã hội dành cho nhiều cơ hội học tập để có trình độ học vấn, chuyên môn cao hơn các lớp thanh niên đi trước Những lợi thế đó là hành trang giúp thanh niên vững bước tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thanh niên đã và đang cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
Trang 3831
phấn đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Thanh niên Việt Nam ngày nay mang trên vai trọng trách lịch sử, đó là phải trở thành lực lượng lao động
có trí tuệ và có tay nghề cao, có đạo đức và lối sống trong sáng, có sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng để đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong muốn của chủ tịch Hồ Chí Minh Thanh niên đang tự khẳng định mình là thế hệ vượt lên hơn so với các thế hệ thanh niên đi trước và đang dần xóa bỏ ranh giới tụt hậu để sánh vai ngang bằng với thế hệ thanh niên các nước trên thế giới
Học sinh Việt Nam cần có 3 nhóm phẩm chất là: Trình độ chuyên môn
và tay nghề cao, đạo đức và lối sống trong sáng, sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng mới đáp ứng được yêu cầu cảu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ kinh tế tri thức, thời kỳ hội nhập quốc tế Để đạt được những tiêu chí và các phẩm chất trên đòi hỏi bản thân học sinh tự học, tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tụ tin, tự chịu trách nhiệm trước những việc mình làm, để trở thành nguồn lao động chất lượng cao, trở thành người thừa
kế trung thành sự nghiệp cách mạng của Đảng
Thứ nhất, học sinh phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ
Do đó, thanh niên phải rèn luyện để có lập trường tư tưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có niềm tin vào sự nghiệp giáo dục của nước nhà, có đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh; tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh
chống tiêu cực, tệ nạn xã hội tham nhũng……
Thứ hai, học sinh cần tích cực học tập và tự học tập để nâng cao trình
độ văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, tay nghề Trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội trong nước và hội nhập quốc tế, học sinh nước ta cần nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, khả năng thực tế, kỹ năng lao động để khi ra đời có thể thích ứng với thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế Học sinh phải tích cực tham gia xây dựng xã hội học tập với phương châm: người học sinh nào cũng phải học, ở đâu, làm gì, thời gian nào
Trang 3932
cũng phải học; người học sinh nào cũng phải xác định tham gia học tập
thường xuyên, suốt đời là quyền và nghĩa vụ của bản thân
Thứ ba, học sinh phải tích cực tham gia xây dựng môi trường học tập,
môi trường xã hội lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành, sạch đẹp Tích cực tham gia phòng chống ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và ứng phó biến đổi khí hâ ̣u toàn cầu.Cách mạng nước ta đang chuyển sang thời
kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với mục tiêu sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Mục tiêu đó đã đang đặt ra những yêu cầu, trọng trách lớn lao đối với thế hệ trẻ hôm nay Để
kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, mỗi thanh niên Việt Nam hãy ra sức học tập, trau dồi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức thi đua lao động và rèn luyện để hình thành một thế
hệ thanh niên tân tiến, xứng tầm đòi hỏi của đất nước và thời đại
Mặt khác, điểm yếu của học sinh, sinh viên Việt Nam là kỹ năng sống,
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, khả năng thuyết trình, hùng biện trước đám đông còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc làm mất đi nhiều cơ hội tốt trong cuộc sống Đa số các em học sinh cấp 3 hiện nay, còn mang nặng tư tưởng học để thi cử, do vậy các em chủ yếu học tập theo khối thi đại học, mà phần nhiều là các khối A, khối B, dẫn đến hiện trạng học sinh xem nhẹ môn Ngữ văn, thậm chí có những em học sinh cho rằng: “ Học Văn là vô ích, tốn thời gian và không giúp được gì trong việc thi Đại học và trong cuộc sống” Đó là những suy nghĩ sai lầm, học nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống, giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc đời, về con người, về xã hội…từ đó mỗi học sinh sẽ có những định hướng đúng đắn cho tương lịa của mình Như vậy việc dạy và học nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống trong trường phổ thông có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách, lối sống, để trở thành con người toàn diện
Trang 40Thông qua kiến thức xã hội, dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên,
học sinh được định hướng hoạt động nhận thức, trước hết là nắm vững chính
xác kiến thức cơ bản của nội dung bài học Vì vậy khả năng định hướng hoạt
động của học sinh là điều kiện tiên quyết của sự phát triển tính tích cực sáng tạo của học sinh, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Từ việc biết các hiện tượng, vấn đề, về thời gian, không gian, địa điểm cũng như nhân vật, thông qua đó các em sẽ biết lập luận, phân tích, lí giải về hiện tượng, về nguyên nhân của hiện tượng đó
Học tập nghị luận xã hội là sản phẩm học tập sẽ giàu tính sáng tạo của
từng cá nhân Những ý kiến được lựa chọn của cá nhân đưa ra sẽ là ý kiến có
tính thuyết phục cao Trong học tập nghị luận về hiện tượng xã hội, với những vấn đề xã hội lí thú, hấp dẫn, với những hiện tượng xã hội gây những tranh cãi trái chiều thì khi đưa ra bàn luận, bàn bạc có thể xuất hiện những ý hay, những phương án giải quyết thông minh, độc đáo Từ đó, vốn kiến thức xã hội của học sinh sẽ trở nên bền vững và sâu sắc, đặc biệt khi hiểu về xã hội các em
sẽ yêu thích và trở nên say mê học tập
Dạy học nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống sẽ đánh thức
và khơi dậy tiềm năng trí tuệ của học sinh qua việc đặt các em vào tình huống cụ thể và sinh động của cuộc sống, học sinh sẽ phải tự mình khám phá tri thức, tự chiếm lĩnh tri thức
Học nghị luận xã hội bao giờ cũng sôi nổi Nó tạo cơ hội tối đa cho học sinh được bộc lộ hiểu biết và quan điểm của mình về nội dung và phương pháp học tập, cũng như các lĩnh vực khác, giúp họ có nhiều cơ hội rèn luyện các khả năng diễn đạt cách thức tư duy và ý tưởng của mình.Điều này đặc biệt