Trước thực trạng như vừa nêu ở trên, nhằm góp phần sử dụng hợp lý LSNG và nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại khu Bảo tồn Thiên nhiên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đ
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC……….… ……i
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… … iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG……… ………… v
DANH SÁCH CÁC HÌNH…….……… …… ….vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 11
1.1 Khái quát về lâm sản ngoài gỗ 11
1.1.1 Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ (Timber Forest Products, Non-Wood Forest Products) 11
1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ 12
1.2 Khái niệm về quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng 15
1.3 Tình hình quản lý, sử dụng và nghiên cứu LSNG 16
1.3.1 Trên thế giới 16
1.3.1.1 Tình hình quản lý, sử dụng LSNG: 16
1.3.1.2 Nghiên cứu về LSNG : 18
1.3.2 Ở Việt Nam 19
1.3.2.1 Tình hình sử dụng LSNG : 19
1.3.2.2 Tình hình quản lý LSNG 20
1.3.2.3 Nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam 22
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu 25
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 25
2.1.2 Các câu hỏi nghiên cứu: 25
2.2 Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
Trang 22.2.2.2 Điều tra thực địa về các loại LSNG được sử dụng tại cộng đồng 26
2.2.2.3 Phương pháp quan sát có sự tham gia(ParticipatoryObservation) 27
2.2.2.4 Phương pháp lượng giá kinh tế LSNG 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu 29
3.1.1 Vị trí địa lý 29
3.1.2 Địa hình - địa thế 30
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 30
3.1.4 Khí hậu thuỷ văn 32
3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên và vấn đề sử dụng tài nguyên 33
3.1.5.1 Diện tích các loại đất đai 33
3.1.5.2 Hiện trạng thảm thực vật rừng 34
3.1.5.3 Tài nguyên sinh vật 36
3.1.5.4 Sự suy giảm về tài nguyên rừng và vấn đề sử dụng tài nguyên của người dân 37
3.2 Bối cảnh kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 39
3.2.1 Lược sử hình thành thôn bản 39
3.2.2 Dân tộc, dân số và sự phân bố dân cư ở khu vực Đồng sơn – Kỳ thượng 42
3.2.3 Thực trạng phát triển văn hoá – xã hội của xã Đồng Sơn 43
3.2.3.1 Thực trạng phát triển văn hóa, y tế và giáo dục 43
3.2.3.2 Giao thông 45
3.2.4 Các hoạt động kinh tế của người dân xã Đồng Sơn 45
3.2.4.1 Các hoạt động sản xuất nông-lâm nghiệp và chăn nuôi 45
3.2.4.2 Hoạt động săn bắt và khai thác các sản phẩm từ rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Đồng sơn – Kỳ thượng 47
3.2.4.3 Thị trường và tình hình tiêu thụ 52
3.2.4.4 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của xã Đồng Sơn 53
3.2.5 Hiện trạng công tác quản lý bảo vệ, bảo tồn và phát triển rừng khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng 55
3.2.5.1 Quá trình tổ chức quản lý tài nguyên rừng 55
3.2.5.2 Kết quả của các chương trình hỗ trợ về lâm nghiệp của chính phủ 56 3.2.5.3 Các đối tượng tham gia và những mâu thuẫn/tranh chấp trong quản lý sử
Trang 33.2.5.4 Kết quả thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng của khu bảo tồn 61
3.2.5.5 Vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên 62
3.3 Tình hình quản lý và sử dụng LSNG của cộng đồng và thị trường 63
3.3.1 Giá trị sử dụng của LSNG, vai trò và mức độ sử dụng các LSNG trong cộng đồng dân cư thuộc khu vực Đồng Sơn – Kỳ thượng 63
3.3.2 Lượng giá kinh tế một số LSNG quan trọng trong đời sống cộng đồng theo nhóm kinh tế hộ ở xã Đồng sơn – Hoành bồ 66
Thu nhập từ các loại LSNG chính theo nhóm kinh tế hộ 66
3.3.3 Tình hình thị trường của các nhóm LSNG quan trọng ở Hoành bồ - Quảng ninh 70
Chuỗi hành trình một số lâm sản ngoài gỗ quan trọng trong cộng đồng: 71
3.4 Đề xuất những hỗ trợ, cải tiến cần thiết để thúc đẩy quản lý và sử dụng hợp lý LSNG dựa vào cộng đồng 73
3.4.1 Phân tích các nhân tố có liên quan đến quản lý và sử dụng LSNG 73
Phân tích SWOT 73
Cơ hội 74
Thách thức 74
3.4.2 Đề xuất giải pháp hỗ trợ cho quản lý LSNG dựa vào cộng đồng ở Đồng sơn – KBTTN Đồng sơn – Kỳ thượng 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
KẾT LUẬN 79
KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ BIỂU……… 80
Trang 4BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CRES Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐT&QHR Điều tra và Quy hoạch rừng
ECO – ECO Viện Kinh tế Sinh thái
FAO Cơ quan Lương Nông Liên Hợp Quốc
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
WWF Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên
PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
RRA Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
SWOT Điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
5Whys Phân tích 5 nguyên nhân
SXNN Sản xuất nông nghiệp
UNEP Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát
Trang 5DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất đai khu Bảo tồn Thiên
nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng
28
Bảng 3.2 Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng ở
KBTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng
29
Bảng 3.3 Mốc thời gian và những sự kiện liên quan đến hình
thành thôn bản – xã Đồng Sơn, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 3.7 Đánh giá mâu thuẫn, tranh chấp về quản lý và sử dụng tài
nguyên rừng tại KBTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng
54
Bảng 3.9 Sự phụ thuộc vào LSNG của các nhóm hộ ở xã Đồng
Sơn KBTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng
Trang 6DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.2 Một số hình ảnh thu hái và sử dụng lâm sản ngoài gỗ
của người dân xã Đồng Sơn, Hoành Bồ, Quảng Ninh
46
Hình 3.3 Thu nhập hộ gia đình theo loại LSNG chính ở xã
Đồng Sơn (2006)
62
Hình 3.4 Giá trị trung bình thu nhập từ LSNG của các nhóm
hộ ở Đồng Sơn – KBTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam
Á giàu về đa dạng sinh học Tuy nhiên, nguồn tài nguyên quý giá này đã và đang bị khai thác quá mức, diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng Nhiều loài động thực vật hiện nay đã trở nên hiếm, một số loài đang
có nguy cơ bị diệt vong, nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam đang suy thoái nhanh chóng Trước thực trạng đó, chính phủ nước Việt Nam cũng
đã quan tâm đến việc thành lập các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Dự trữ sinh quyển… Cho đến cuối năm 2003, ở Việt Nam đã hình thành một hệ thống các khu bảo tồn với 128 khu trong đó có 30 vườn quốc gia, phân bố đều trong cả nước với tổng diện tích hơn 2,5 triệu ha, chiếm
khoảng 7,6% diện tích tự nhiên (Chiến lược Quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010; Cục Kiểm lâm, 2006)
Bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay Sự gia tăng về dân số đã gây sức ép từ nhiều phía tới công tác bảo tồn
đa dạng sinh học, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế giới Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển của xã hội đã được chính thức công nhận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển (UNEP) ở Rio de Janeiro tháng 6 năm 1992 Khi thành lập các Khu bảo tồn, Vườn Quốc gia, chúng ta mới quan tâm đến mục tiêu bảo tồn, bảo vệ, mà ít chú ý đến một mối quan hệ phức tạp đó là mối quan hệ giữa những người dân mà cuộc sống của họ bị lệ thuộc vào tài nguyên đa dạng sinh học Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, để bảo tồn đa dạng sinh học đạt được hiệu quả cao, điều quan trọng hơn hết là không tạo thêm sự đối lập
Trang 8dựng kế hoạch phát triển kinh tế vùng đệm, tạo thêm công ăn việc làm hợp
lý cho nhân dân ở đó, chia sẻ lợi ích và giúp họ giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống để họ tự nguyện giảm dần sức ép lên khu bảo tồn và rồi tham gia tích cực vào việc bảo vệ vì lợi ích thiết thực của họ Một số khu bảo tồn và vườn quốc gia đã thực hiện các dự án như trên và bước đầu đạt
kết quả khả quan như: Hình thức hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng trong KBT: hiện nay đang được áp dụng tại các Vườn Quốc gia: Ba Vì, Yok Đôn,
Lò Gò - Sa Mát và các khu bảo tồn: Hang Kia - Pà Cò, Bình Châu - Phước Bửu Hình thức này đã góp phần bảo vệ tốt tài nguyên khu rừng tại các KBT, nhất là những vùng sâu, xa nơi có người dân sinh sống tiếp giáp với
KBT; Hình thức Nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng: Rừng và đất rừng được
Ban quản lý VQG giao khoán quản lý bảo vệ cho một nhóm hộ gia đình, nhóm có một người chịu trách nhiệm chung và đứng tên "chủ rừng" Người trưởng nhóm có trách nhiệm tổ chức cho các thành viên trong thôn thực hiện hợp đồng Mô hình tương đối thành công ở Vườn Quốc gia Ba Vì, KBT Hang Kia - Pà Cò với tổng diện tích là 2.891 ha Sau khi nhận rừng để bảo
vệ và đất trồng để trồng rừng, các thành viên thống nhất phân chia thực hiện các công việc được giao như trồng rừng mới, bảo vệ rừng hiện có, chăm sóc rừng v.v Tiền công khoán trồng rừng và bảo vệ được chia theo sự đóng góp công sức của các thành viên trong nhóm Đây là hình thức bảo vệ rừng tại các KBT có hiệu quả cao, mặt khác nó cũng tạo ra mối liên kết xã hội
chặt chẽ hơn trong cộng đồng; Hình thức Thôn bản nhận khoán bảo vệ rừng:
Hình thức quản lý bảo vệ rừng thông qua thôn bản được thực hiện chủ yếu ở các vườn quốc gia: Ba Bể, Cát Tiên và Lò Gò - Sa Mát Từ đầu năm 2004 đến tháng 12 năm 2004, VQG Cát Tiên đã tổ chức giao khoán rừng cho cộng đồng nhận khoán quản lý bảo vệ 8.851 ha cho 25 cộng đồng dân cư địa
Trang 950.000 đồng/ha/năm Hình thức này triển khai có hiệu quả cao, nhất là tại các thôn bản được tổ chức chặt chẽ, trưởng thôn, bản là những người có năng lực thực hiện Hình thức này huy động được mọi thành viên của cộng đồng cùng tham gia quản lý bảo vệ và đưa lại lợi ích thiết thực cho toàn
cộng đồng (Nguyễn Huy Dũng, Hồ Mạnh Tường, 2006) Tuy nhiên, những
kết quả nghiên cứu đó không thể áp dụng như nhau đối với các vùng có điều kiện sinh thái nhân văn khác nhau, mà cần có những điều tra, nghiên cứu cụ thể cho từng vùng, để từ đó có thể đề xuất những biện pháp giúp cộng đồng các dân tộc miền núi, tăng nguồn thu nhập mà vẫn giữ được rừng và bảo tồn được đa dạng sinh học
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, nằm trong cánh cung trùng điệp của khu Đông Bắc, ở độ cao từ 150m – 1120m so với mặt nước biển Với tổng diện tích 21.353 ha, thuộc địa giới hành chính 5 xã: Đồng Lâm, Đồng Sơn, Hòa Bình, Vũ Oai, Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh, được thành lập năm 2003, theo quyết định số 440/QĐ-UB của UBND tỉnh Quảng Ninh Đây là khu rừng đặc dụng điển hình của hệ sinh thái rừng kín lá rộng thường xanh núi thấp, có tính ĐDSH cao ở vùng Đông Bắc Việt Nam
Tuy vậy hiện tại, những áp lực lên khu bảo tồn là rất lớn, vì đây là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số: Dao, Sán chỉ, Tày Đời sống của bà con các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn Với tổng số 248 hộ, gần
1500 nhân khẩu đang sinh sống trong vùng lõi của khu bảo tồn, và hơn 2000
hộ gia đình, xấp xỉ 10.000 cư dân có liên quan, ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Trang 10Trước thực trạng như vừa nêu ở trên, nhằm góp phần sử dụng hợp lý LSNG và nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại khu Bảo tồn Thiên
nhiên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp
quản lý bền vững tài nguyên lâm sản ngoài gỗ dựa vào cộng đồng ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh”
Nội dung nghiên cứu chủ yếu là tìm hiểu về thực trạng khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên lâm sản ngoài gỗ của cộng đồng địa phương, nhằm đề xuất một số giải pháp khuyến khích được người dân trực tiếp tham gia, cùng với các cấp quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn
và sử dụng hợp lý tài nguyên lâm sản ngoài gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về lâm sản ngoài gỗ
1.1.1 Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ (Non-Timber Forest
Products, Non-Wood Forest Products)
- Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ
nhỏ và sợi (Jenne H de Beer & Milanie J McDermott, 1996)
- Lâm sản ngoài gỗ bao gồm “tất cả sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xã hội” Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng”
(Wickens, 1991)
- "Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi
Song mây là thực vật đặc sản rừng" (Lê Mộng Chân, Vũ Dũng, 1992)
- LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này như là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến những sản phẩm
này (FAO, 1995)
- Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ
lớn, có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999)
Trang 12gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (còn sống hay sản phẩm của chúng), củi và các
nguyên liệu thô như tre, nứa, mây song, gỗ nhỏ và sợi (J.H.De Beer, 1996)
Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho Lâm sản ngoài gỗ là không thể Định nghĩa này có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế,
xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triển tài nguyên và nhu cầu khác Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của chúng để phục vụ cuộc sống con người, chúng gồm các sản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến
1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ
Hiện nay, có rất nhiều loại LSNG được điều tra, phát hiện, khai thác
và sử dụng Đối tượng và mục tiêu sử dụng, nghiên cứu LSNG cũng rất đa dạng (người dân, thương nhân, nhà quản lý, nhà nghiên cứu ) Chính vì vậy, việc phân loại chúng có rất nhiều quan điểm khác nhau
Dưới đây sẽ trình bày một số phương pháp phân loại LSNG đang được sử dụng phổ biến hiện nay:
- Phương pháp phân loại LSNG theo hệ thống sinh: Đây là cách
phân loại các LSNG theo hệ thống tiến hoá của sinh giới Theo phân loại kinh điển, sinh giới được chia thành hai giới chính: Động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật, tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể xắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới \ Ngành \ Lớp \ Bộ \ Họ \ Loài Ưu điểm của cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhóm loài cùng sự tiến hoá của chúng Phương pháp này chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của
Trang 13loài Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu biết nhất định
về phân loại động, thực vật (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000)
- Phương pháp phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: là cách
phân loại mà các lâm sản ngoài gỗ khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh, nơi phân bố có cùng giá trị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm Ví dụ: Một hệ thống phân loại LSNG thực vật theo nhóm công
dụng như sau: Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm; Nhóm cây cho sợi; Nhóm cây cho ta-nanh; Nhóm cây cho màu nhuộm; Nhóm cây làm dược liệu; Nhóm cây cho tinh dầu; Nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn; Nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ; Nhóm cây làm cảnh, cho bóng mát
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời khuyến khích được họ tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên Ngoài ra phương pháp này cũng được các nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu LSNG quan tâm Nhược điểm của phương pháp này chỉ mới nhấn mạnh tới giá trị sử dụng,
mà chưa đề cập đến đặc điểm sinh vật học (đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố ) của các loài, nên khả năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn, hơn nữa một số loài có nhiều công dụng khi phân loại dễ bị trùng vào nhiều nhóm khác nhau
Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, như hệ thống phân loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng
11/1991 (Bài giảng Lâm sản ngoài gỗ, 2002 Dự án LSNG, Hà Nội) Trong
hệ thống này lâm sản ngoài gỗ được chia làm 6 nhóm:
Nhóm 1 - Các sản phẩm có sợi: Tre nứa, song mây, lá và thân có sợi
và các loại cỏ
Trang 14sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côn trùng
Nhóm 3 - Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật
Nhóm 4 - Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa dầu, nhựa mủ, tananh
và thuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu
Nhóm 5 - Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ, động vật sống, chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ
Nhóm 6 - Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc
lá ở Ấn Độ)
Bốn năm sau, chuyên gia về lâm sản ngoài gỗ của FAO, là
C.Chandrasekharan (FAO, 1995) đã đề xuất hệ thống phân loại lâm sản
ngoài gỗ gồm 4 nhóm chính như sau:
• Cây sống và các bộ phận của cây
Ở Việt Nam, khung phân loại lâm sản ngoài gỗ đầu tiên được chính
Trang 15lý thống nhất theo ngành” Đây là văn bản kèm theo Nghị định 160-HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các đặc sản rừng (nay gọi là lâm sản ngoài gỗ)
Theo danh mục này đặc sản rừng được chia thành 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và Hệ động vật rừng Mỗi nhóm lớn lại chia làm nhiều nhóm phụ sau:
+ Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và
mỹ nghệ như: Song, Mây, Tre, Trúc, Lá buông
+ Các sản phẩm công nghiệp được chế biến từ nguyên liệu có nguồn gốc từ các loài cây rừng như: cánh kiến Shellac, dầu Thông, Tùng hương, dầu trong, chai cục
• Hệ động vật rừng:
Bao gồm các nhóm động vật rừng cho da, lông, sừng, xương, ngà, thịt,
xạ, mật; cho dược liệu như: Voi, Hổ, Báo, Gấu, Trâu rừng, Bò rừng, Hươu, Nai, Trăn, Rắn, Kỳ đà, Tắc kè, Khỉ, Vượn, Nhím, ong rừng, các loài chim quí, các nhóm động vật rừng có đặc dụng khác
Mặc dù còn vài điểm chưa thật hợp lý, tuy nhiên có hệ thống phân loại lâm sản ngoài gỗ trên là một mốc quan trọng, đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam
1.2 Khái niệm về quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng
Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là quản lý tài nguyên mà
Trang 16những sắc thái của phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, của chính sách, luật pháp v.v Trong khi các nước công nghiệp phát triển đề cao vai trò của cá nhân, thì các nước đang phát triển mà đặc biệt là ở vùng Châu Á - Thái Bình Dương, gia đình và cộng đồng được đánh giá cao Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
Don Gilmour (1998) cho rằng quản lý rừng cộng đồng là các hoạt động kiểm soát và quản lý các nguồn tài nguyên rừng do người dân địa phương thực hiện, những người này sử dụng chúng cho các mục đích của cộng đồng và nó là một bộ phận hữu cơ của hệ thống canh tác
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng có đặc điểm nhấn mạnh vào lợi ích của cộng đồng địa phương với mục đích là sử dụng bền vững tài nguyên rừng
Gần với khái niệm trên, có thể thấy được Quản lý lâm sản ngoài gỗ dựa vào cộng đồng mang những đặc điểm của việc quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, nhằm mục đích sử dụng bền vững các lâm sản ngoại gỗ “nhỏ bé” có ảnh hưởng to lớn trong xóa đói giảm nghèo và bảo tồn đa dạng sinh
Trang 17sớm, từ các đảo Tây Indonesia tới Trung Hoa đầu thế kỷ V; Trung Đông buôn
bán với đảo Malaysia từ năm 850; Châu Âu nhập khẩu từ thế kỷ XV (FAO, 1995)
Hiện nay, ít nhất có 30 triệu người sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên này, số người nhận được lợi ích từ đó còn lớn hơn nhiều Một lượng LSNG trị giá nhiều tỉ đô la đã được mua bán trao đổi ở Đông Nam á
Trước đây ở nhiều nước người dân khai thác tự phát và chủ yếu là xuất khẩu LSNG thô Ngày nay chính phủ nhiều nước đã ý thức được vai trò của LSNG, nên tăng cường các biện pháp quản lý, khai thác bắt đầu có qui hoạch, tăng cường xuất khẩu các sản phẩm tinh chế nên giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng lên, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, nâng cao mức sống người dân, mà nguồn tài nguyên rừng và LSNG cũng được quản lý tốt hơn
Việc đầu tư phát triển nguồn LSNG và hỗ trợ các cộng đồng sử dụng bền vững chúng là lĩnh vực đang được quan tâm của các nhà khoa học, các tổ chức, nhiều chính phủ và cộng đồng quốc tế
- Nhiều nước Châu Á như: Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Philippins
(FAO, 1999) Người dân đã gắn bó với LSNG từ lâu đời, đã và đang có
nhiều dự án, chương trình đầu tư phát triển LSNG Tuy nhiên, còn một số nước như: Lào, Campuchia vẫn đang bỏ ngỏ tài nguyên này và việc khai thác, sử dụng còn tự do, chưa có sự quản lý hợp lý
- Nhiều nước châu phi nông dân phụ thuộc rất lớn vào LSNG (cho đời sống và xuất khẩu) Mặt dù chính phủ đã có sự quan tâm quản lý, song do ý thức của nhiều cộng đồng còn thấp, thêm vào đó là sự gia tăng dân số nhanh, nhu cầu sử dụng tăng lên nên việc quản lý sử dụng LSNG của họ vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập Vùng Đông và Nam Phi đã có những nghiên cứu
Trang 18Nhưng các tài liệu khoa học về sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này thì vẫn rất thiếu
- Các nước Châu Mỹ cũng vậy, nằm trong khu vực nhiệt đới, người dân gắn bó với tài nguyên rừng và LSNG rất mật thiết Một số cộng đồng đã
có kinh nghiệm quản lý sử dụng LSNG, song hiện nay bị chi phối mạnh mẽ của chính sách và thị trường, cần nhiều cải cách và hỗ trợ họ quản lý sử dụng tốt LSNG
1.3.1.2 Nghiên cứu về LSNG
Thấy được vai trò của LSNG đối với đời sống người dân và vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng ở các nước đang phát triển, nhất là các nước vùng nhiệt đới, nhiều tổ chức quốc tế đã tiến hành nhiều dự án nghiên cứu nhằm làm rõ vai trò LSNG, định chế quản lý, các chính sách liên quan, thông tin tiếp thị
Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế đặt tại Indonesia (CIFOR)
đã chú trọng nhiều về nghiên cứu LSNG, đề ra phương pháp phân tích với
các lâm sản thương mại trên thế giới (FAO, 1999)
Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp (ICRAF) nghiên cứu làm thế nào sản xuất, nâng cao sản lượng của các cây rừng có tiềm năng
Cơ quan lương nông liên hợp quốc (FAO, 1995) thành lập ra mạng lưới
nghiên cứu LSNG trên thế giới và ra tạp chí “Tin tức về lâm sản ngoài gỗ”
Tổ chức một số cuộc hội thảo quốc tế về LSNG (Vd: ở Thái Lan năm 1994, ở Indonesia năm 1995 ) Từ năm 1985, FAO đã có những nghiên cứu về LSNG của từng quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; riêng với Việt Nam, các báo cáo mới chỉ dừng lại ở những số liệu thu được qua những con số thống kê xuất nhập khẩu LSNG
Chính phủ Hà Lan tài trợ cho nhiều dự án về LSNG khắp thế giới,
Trang 19trợ cho nhiều dự án nghiên cứu LSNG ở Châu Phi (Bolivia, Tanzania,
Cameroom, ), Châu Á (Lào, Việt Nam, Campuchia, ), Nhiều trường đại
học ở Đức, Hà Lan, Anh, Mỹ quan tâm nghiên cứu ảnh hưởng của LSNG đến
đời sống của các cộng đồng dân cư gần rừng (FAO, 1999)
Như vậy, nhiều cộng đồng dân cư trên thế giới đã có truyền thống sử
dụng LSNG từ lâu đời Ngày nay, chính phủ nhiều nước đã quan tâm quản lý
nguồn tài nguyên LSNG, có chính sách hỗ trợ các cộng đồng quản lý sử dụng
hợp lý chúng Nhiều trung tâm nghiên cứu khoa học, nhiều chính phủ và các
tổ chức phi chính phủ đã chú ý đến việc nghiên cứu phát triển và sử dụng bền
vững này Nghĩa là, nghiên cứu LSNG đã trở thành một nhiệm vụ khoa học
nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn
1.3.2 Ở Việt Nam
1.3.2.1 Tình hình sử dụng LSNG
Do phạm vi trải dài trên nhiều vĩ độ, sự phức tạp về địa hình, với khí
hậu nhiệt đới ẩm và cảnh quan không đồng nhất nên Việt Nam có nguồn tài
nguyên sinh vật rất đa dạng và phong phú Vì vậy, rừng nước ta có rất nhiều
loại LSNG có giá trị, sản lượng lớn có thể khai thác được từ Bắc chí Nam
Mặc dù rừng đã bị phá huỷ nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng thảm
thực vật rừng Việt Nam cũng còn rất phong phú, trong đó có nhiều loài cây
LSNG có giá trị cao (Vũ Văn Dũng, 2002) Trong số 12.000 loài cây được
thống kê, có:
+ 76 loài cho nhựa thơm + 160 loài chỉ cho dầu
+ 600 loài cho ta nanh + 260 loài cho tinh dầu
+ 93 loài cho chất màu + 1.498 loài cho các dược phẩm
(Nguồn: Phân tích ngành Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam,7/2000)
LSNG đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân
Trang 20thuốc men, các sản phẩm để bán Nhiều cộng đồng cư dân miền núi đã biết quản lý nguồn tài nguyên này theo cách của họ Tuy nhiên thời gian qua, do tác động của cơ chế thị trường, LSNG đã bị khai thác quá mức, gây suy thoái nghiêm trọng Nhiều nghiên cứu hỗ trợ trong quản lý sử dụng LSNG của cộng đồng đã được triển khai, một số đem lại hiệu quả khả quan Tuy nhiên, ở Việt Nam các cộng đồng dân tộc thiểu số có đặc điểm rất khác nhau về các bối cảnh và tập quán địa phương, người ta không thể cho rằng những gì làm được
ở nơi này, sẽ tự động làm được ở nơi khác Vì vậy, cần có những nghiên cứu cho từng trường hợp cụ thể
Tuỳ theo mục đích sử dụng khác nhau mà phương thức khai thác thu hái, chế biến sử dụng cũng khác nhau Về lĩnh vực này, kho tàng kiến thức của nhân dân rất phong phú Do vậy cần thu thập, phân tích thông tin, đúc rút kinh nghiệm của nhân dân của địa phương về khía cạnh khai thác, thu hái, chế
biến, sử dụng LSNG (Dự án LSNG, 1999)
Với kỳ vọng góp phần tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng cao đời sống cho người nhận đất nhận rừng, khuyến khích thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài trong phát triển tài nguyên rừng, cục khuyến nông khuyến lâm
đã xuất bản tài liệu hướng dẫn trồng cây dưới tán rừng với 15 loài, mà trong
đó 2/3 là những cây cho các LSNG có giá trị (Vũ Văn Dũng, Lê Huy Cường, 1996)
Một nghiên cứu ở Nam Đông, Thừa Thiên Huế cho thấy: Thành phần giới, thành phần kinh tế hộ có ảnh hưởng đến việc khai thác và sử dụng LSNG Dân tộc thiểu số dùng nhiều LSNG hơn người kinh trong cùng khu vực
1.3.2.2 Tình hình quản lý LSNG
Chính phủ Việt Nam đã ban hành rất nhiều chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn tài nguyên rừng Trước đây, hầu như chưa có
Trang 21vậy, các chương trình và chính sách phát triển về bảo tồn tài nguyên đều có
nội dung liên quan đến quản lý LSNG (Lê Thị Diên, 2004)
Trước năm 1991, hệ thống quản lý rừng nhấn mạnh khía cạnh quản lý nhà nước theo cách tiếp cận từ trên xuống với hệ thống kiểm soát của chính phủ qua các doanh nghiệp nhà nước trong vấn đề quản lý và thị trường của các loại lâm sản
Sau năm 1991, hệ thống quản lý rừng dịch chuyển từ hình thức quản lý nhà nước sang phương thức quản lý bởi nhiều thành phần xã hội - Định hướng phát triển Lâm nghiệp xã hội Chính sách quan trọng nhất tạo nên sự chuyển biến này là chính sách của chính phủ về GĐGR cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý (Nghị Định 02/CP ngày 15/1/1994 về giao đất lâm nghiệp; Thông Tư 06 LN/KN về giao đất lâm nghiệp; Nghị định 163/CP ngày 16/11/1999 về giao và cho thuê đất lâm nghiệp)
Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (dự án 661 theo quyết định số 661/ QĐ-TTg ra ngày 29/7/1998 của thủ tướng chính phủ) cũng đã đề cập đến việc phát triển các loài lâm đặc sản, lâm sản ngoài gỗ
Luật bảo vệ và phát triển rừng (19/8/1991) kèm theo nghị định số HDBT (17/1/1992) của Hội Đồng Bộ Trưởng, Thông tư số 13/LN/KL của Bộ Lâm Nghiệp đã ban hành nhiều qui định nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên động thực vật rừng quí hiếm, mà nhiều loài là LSNG có giá trị Đây cũng là chính sách quan trọng của chính phủ trong bảo tồn, phát triển tài nguyên rừng nói chung và LSNG nói riêng
18-LSNG ở Việt Nam trước đây thường được coi như nguồn lâm sản thứ yếu, sản phẩm phụ của rừng, nó được xem gần như là loại tài sản mở, mặc dù việc sử dụng LSNG đã gắn liền với sự sinh tồn của các cộng đồng dân cư
Trang 22nhiều hình thức khác nhau như: Quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng và quản
lý ở cấp hộ gia đình, cá nhân với nhiều mục đích khác nhau (Kinh doanh, sử dụng cho mục đích tự cung tự cấp, nghiên cứu, v.v.) Trong đó, việc lập kế hoạch quản lý bền vững LSNG dựa vào cộng đồng là một trong những vấn đề đang được quan tâm và nó đang ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực trong phát triển nguồn tài nguyên LSNG
Trước tình hình đó, Bộ NN và PTNT đã giao cho Cục Lâm nghiệp phối hợp với Dự án LSNG tổ chức nghiên cứu xây dựng “Đề án Quốc gia về Bảo tồn và Phát triển LSNG giai đoạn 2006 – 2020” Đây là cơ sở để xây dựng Kế hoạch hành động về Bảo tồn và Phát triển LSNG giai đoạn 2006 – 2010
(Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản, 2006)
1.3.2.3 Nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam
So với các loại cây gỗ lớn, nghiên cứu về các loài LSNG vẫn giữ vai trò thứ yếu hơn Tuy nhiên, cũng đã có những tổ chức và cá nhân thực hiện các chủ đề nghiên cứu về LSNG Tổ chức đứng đầu về lĩnh vực này là Trung tâm Nghiên cứu Lâm Đặc sản Điển hình nhất là Dự án Sử dụng Bền vững LSNG do Trung Tâm này thực hiện với sự phối hợp của Trung Tâm Nghiên cứu tài nguyên và Môi trường (CRES) của Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Kinh tế Sinh thái (ECO-ECO) Dự án do chính phủ Hà Lan tài trợ về tài chính
và Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) hỗ trợ kỹ thuật Các hoạt động nghiên cứu của dự án bao gồm các vấn đề: Phát triển và thử nghiệm các
hệ thống quản lý rừng và LSNG có sự tham gia; Nghiên cứu hệ thống sở hữu LSNG ở Việt Nam; Nghiên cứu thử nghiệm gây trồng một số loại LSNG có giá trị dựa theo nhu cầu của người dân địa phương như gây trồng một số loại tre và cây thuốc nam, v.v
Ngoài ra cũng có nhiều cá nhân nghiên cứu nhiều chủ đề liên quan đến
Trang 23Thử nghiệm nhân giống Luồng của trường Đại học Lâm nghiệp Xuân Mai, nghiên cứu nhân giống và gây trồng các loài tre lấy măng của Phân Viện Khoa học Lâm nghiệp Miền Nam; Nghiên cứu nhân giống tre Lồ Ô và Luồng của Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Huế; Một số tác giả khác đã nghiên cứu về cây thuốc nam Ngoài ra có một số đề tài nghiên cứu về khai thác và sử dụng cũng như chế biến các loại LSNG của một số cộng đồng dân tộc thiểu số của sinh viên khoa Lâm nghiệp các trường Đại học Lâm nghiệp
Xuân Mai, Đại học Huế và Đại học Tây Nguyên (Trương Thanh Huyền và cộng sự, 2003)
Một nghiên cứu ở Nam Đông - Tỉnh Thừa Thiên Huế của nhóm sinh viên của Học viện kỹ thuật liên bang Thuỵ Sĩ đã phân tích cách sử dụng tại địa phương, nguồn sản phẩm và thị trường tiêu thụ LSNG của cộng đồng dân tộc thiểu số Cơ Tu Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng việc nghiên cứu truyền thống quản lý sử dụng LSNG của các cộng đồng dân cư khác nhau là
cần thiết (Lê Thị Diên, 2004)
Các dự án, các tổ chức trong nước và quốc tế cũng đã chú ý đến LSNG Nhiều chương trình đã mang lại hiệu quả, tạo cơ sở, tiền đề và đưa ra những chỉ dẫn thiết thực cho các nghiên cứu LSNG tiếp theo Nhiều hội thảo
về LSNG chỉ ra rằng trong thời gian tới, việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu và sử dụng tổng hợp các phương pháp tiếp cận là một xu thế tất yếu trong nghiên cứu LSNG
Các vấn đề nghiên cứu trên đã khẳng định rằng:
- Nghiên cứu về LSNG bằng những nghiên cứu cơ bản hay bằng cách tiếp cận có sự tham gia đều cho những kết quả có giá trị khoa học
- Việc nghiên cứu vai trò của LSNG trong đời sống cộng đồng là cần
Trang 24- Nghiên cứu LSNG cần được tiến hành cho từng vùng sinh thái nhân văn cụ thể, gắn với truyền thống, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của từng cộng đồng dân tộc và nguồn tài nguyên rừng trong từng khu vực
- Những kết quả nghiên cứu trên sẽ là cơ sở định hướng tốt cho việc nghiên cứu của đề tài và các đề xuất nghiên cứu tiếp theo
Qua một số nghiên cứu trên và qua sự tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam khác, cho thấy: các đề tài nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ có liên quan đến cộng đồng dân tộc thiểu số hiện nay còn rất
ít, và cũng chỉ mới đề cập nghiên cứu vào các vấn đề: gây trồng, khai thác, sử dụng, chế biến một số loài lâm sản có giá trị mà chưa đi sâu vào nghiên cứu vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với cộng đồng, cũng chưa khai thác truyền thống quản lý và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của cộng đồng, phương pháp khai thác bền vững và vấn đề vai trò của cộng đồng trong quản lý bền vững nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ chưa được đề cập và quan tâm đúng mức Đây là một “lỗ hổng” của các đề tài nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ ở nước ta hiện nay
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về tình hình quản lý, sử dụng các nhóm lâm sản ngoài gỗ tại cộng đồng, đánh giá mức độ phụ thuộc về kinh tế, hay vai trò của LSNG trong đời sống cộng đồng Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần sử dụng hợp lý LSNG và nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
2.1.2 Các câu hỏi nghiên cứu
1) Trước kia (khi chưa có chính sách đổi mới và chưa thành lập khu bảo tồn thiên nhiên) người dân địa phương sử dụng lâm sản ngoài gỗ như thế nào? Ai là người đi lấy những lâm sản này?
2) Hiện trạng của việc sử dụng các loại lâm sản ngoài gỗ hiện nay ở cộng đồng địa phương như thế nào (về mức độ, chủng loại và quy mô khai thác)? Có gì khác (thay đổi) so với việc sử dụng nguồn lâm sản này khi chưa thành lập khu bảo tồn?
3) Có những ảnh hưởng hay áp lực nào của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng nói chung và LSNG nói riêng ở khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng?
4) Những đối tượng nào tham gia vào việc quản lý và sử dụng tài nguyên lâm sản ngoài gỗ? Có những mâu thuẫn/tranh chấp nào trong việc quản lý sử dụng nguồn tài nguyên này?
Trang 262.2 Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: do điều kiện về thời gian và nhân lực nên chúng tôi tiến hành lựa chọn 1 thôn điển hình, trong xã vùng lõi của khu bảo tồn để tiến hành nghiên cứu, thu thập số liệu
Cụ thể, căn cứ trên những tiêu chí lựa chọn địa điểm nghiên cứu (vị trí địa lý, thành phần dân tộc, đặc điểm kinh tế xã hội ) đề tài đã lựa chọn thôn Tân Ốc 2 – xã Đồng Sơn thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh làm địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: tháng 3/2007 đến tháng 11/2007
Trong đó, thời gian khảo sát thực địa và thu thập số liệu được thực hiện
từ tháng 5/2007 đến tháng 10/2007
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu thứ cấp
- Thu thập và phân tích số liệu thứ cấp (bao gồm: Luận chứng kỹ thuật thành lập khu bảo tồn; các nghiên cứu đã được thực hiện trong khu vực, các điều tra cơ bản của khu bảo tồn về thành phần loài động thực vật, điều kiện
tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, các nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam, các văn bản luật và chính sách có liên quan ) Đây là những cơ sở dữ liệu ban đầu, là nguồn thông tin định hướng cho các bước nghiên cứu tiếp theo
- Thu thập, cập nhật bổ sung các số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội của khu vực
2.2.2.2 Điều tra thực địa về các loại LSNG được sử dụng tại cộng đồng
- Sử dụng phương pháp Đánh giá nhanh hay đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (Participatory/Rapid Rural Appraisal – PRA/RRA), với công cụ chủ yếu là quan sát trực tiếp và phỏng vấn linh hoạt với các câu
Trang 27tìm hiểu, nghiên cứu về truyền thống quản lý, sử dụng và vai trò của LSNG trong đời sống cộng đồng Đồng thời quá trình này còn giúp cho người dân được trực tiếp tham gia vào việc lập kế hoạch, đề xuất các phương án lựa chọn loại cây trồng vật nuôi phù hợp, định hướng cho việc đề xuất những giải pháp thay thế trong sử dụng tài nguyên
2.2.2.3 Phương pháp quan sát có sự tham gia (ParticipatoryObservation)
- Đây là một phương pháp “3 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) Tức
là trong quá trình nghiên cứu thực địa, người thực hiện nghiên cứu sẽ ở tại nhà dân để phỏng vấn họ, đồng thời quan sát và tham gia vào những hoạt động liên quan đến những vấn đề nghiên cứu để hiểu sâu những vấn đề người dân đề cập tới trong quá trình phỏng vấn, ví dụ: Người Dao ở địa phương trong thực tế sử dụng lâm sản ngoài gỗ như thế nào? Họ có những kinh nghiệm cụ thể gì trong quá trình khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ ?
2.2.2.4 Phương pháp lượng giá kinh tế LSNG
Điều tra tình hình khai thác, canh tác nương rẫy, thu nhập kinh tế hộ gia đình và sự phụ thuộc về kinh tế vào LSNG:
- Kế thừa số liệu, kết hợp điều tra bổ sung tình hình khai thác (về chủng loại, mùa vụ, số lượng, mục đích sử dụng…)
- Phỏng vấn thu nhập kinh tế hộ gia đình trong một cộng đồng thuộc vùng lõi khu bảo tồn (thôn Tân Ốc 2, xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh )
- Phân loại, phân tích kinh tế hộ có sự tham gia thu thập được số liệu
về thu nhập của hộ/năm dựa vào lâm sản ngoài gỗ của các nhóm kinh tế hộ khác nhau để thấy được lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò quan trọng như thế nào trong kinh tế hộ gia đình của các nhóm hộ
Trang 28- Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc nghiên cứu sự khác biệt giữa nhu cầu sử dụng lâm sản ngoài gỗ giữa các nhóm kinh tế hộ khác nhau trong cộng đồng
- Thu thập số liệu thứ cấp, phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát và theo dõi thực tế trên hiện trường để tìm hiểu thông tin về thị trường của nhóm lâm sản ngoài gỗ quan trọng
- Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và trở ngại (SWOT), Phân tích 5 nguyên nhân (5WHYs) để phân tích các yếu tố có liên quan đến quản lý và sử dụng lâm sản ngoài gỗ
- Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến quản lý
và sử dụng lâm sản ngoài gỗ để đề xuất các giải pháp chính để hỗ trợ và cải tiến việc quản lý dựa vào cộng đồng
Đề tài đã chọn ngẫu nhiên 30% số hộ trong thôn Tân Ốc 2, xã Đồng Sơn, nằm trong vùng lõi khu bảo tồn để tiến hành phỏng vấn các nội dung có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Đề tài cũng chọn một số nông dân ở tại thôn nghiên cứu làm cộng tác viên nòng cốt cho việc điểu tra, nghiên cứu Tiêu chuẩn của những cộng tác viên này là: Biết khai thác/chế biến các lâm sản ngoài gỗ; Có kiến thức/kỹ năng thực hành; Am hiểu truyền thống quản lý và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của cộng đồng; Sử dụng tốt hai thứ tiếng: tiếng phổ thông và tiếng Dao; Đại diện cho các thành phần khác nhau trong thôn bản như: lứa tuổi, lãnh đạo thôn, giới, thành phần kinh tế, mối quan tâm
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu
Trang 30Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc địa giới hành chính 5 xã phía Bắc huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: Đồng Sơn, Đồng Lâm, Hòa Bình, Vũ Oai, Kỳ Thượng
Ranh giới tiếp giáp của khu bảo tồn:
- phía Bắc: giáp xã Lương Mông, Minh cầm huyện Ba Chẽ
- phía Tây: giáp xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ
- phía Nam: giáp xã Thống Nhất, huyện Hoành Bồ
- phía Đông (Bắc): giáp xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ
Tọa độ địa lý: khu bảo tồn thiên nhiên Đồng sơn – Kỳ thượng nằm trong tọa độ địa lý:
- 31m), và mức độ chia cắt rất phức tạp với nhiều đỉnh núi, nhiều phụ lưu, hồ nước lớn ở phía Tây Nam có nhiều ngách suối, tạo nên một cảnh quan hùng vĩ
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Địa chất:
Nền địa chất khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng là các sản phẩm trầm tích lục nguyên hình thành vào kỷ Triat với các loại đá mẹ chủ yếu thuộc nhóm đá trầm tích như phiến thạch sét, đá cát kết Cũng do quá trình hoạt động tạo sơn và chấn động địa chất, khối Alumic silicat nóng chảy trong lòng đất phun trào rồi đông đặc lại hình thành nên đá Mắcma tại phần sườn,
Trang 31đỉnh các dãy núi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Viện điều tra và quy hoạch rừng, 2001)
Thổ nhưỡng:
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất do Phân viện điều tra qui hoạch rừng Tây Bắc Bộ kết hợp với Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ninh
khảo sát, xây dựng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Viện điều tra
và quy hoạch rừng, 2001; Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2003), đã cho
thấy trong khu vực có 22 dạng đất thuộc 4 nhóm đất chính:
+ Nhóm đất Feralit có mùn trên núi trung bình, phân bố ở độ cao trên 700m, thuộc dãy núi Khe Ru, Am Váp, Đèo Mo Do có thảm thực bì che phủ nên tầng mùn dày, giàu dinh dưỡng
+ Nhóm đất Feralit vùng đồi núi thấp phát triển trên nhóm đá sét, phân
bố ở sườn giữa thuộc các xã Đồng Lâm, Kỳ Thượng Đất phát triển trên đá phiến thạch sét, tầng đất trung bình, thành phần cơ giới là thịt trung bình đến nặng, hàm lượng dinh dưỡng khá Loại đất này thích hợp với các loại cây trồng lâm nghiệp như Dẻ, Trám, Keo
+ Nhóm đất Feralit vùng đồi núi thấp phát triển trên đá cát, phân bố tập trung ở các xã Đồng Sơn, Hòa Bình, Đồng Lâm Đất phát triển trên đá sa thạch, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, tầng đất trung bình từ
60 – 80 cm, nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn Loại đất này phù hợp với các loại cây trồng như: Keo, Quế, Chè, Dứa
+ Nhóm đất thung lũng: phân bố ở ven sông suối ở hầu hết các xã Đất hình thành do sản phẩm bồi tụ nên tầng đất dày, giàu dinh dưỡng, thích hợp với các loài cây ăn quả, cây công nghiệp
Trang 323.1.4 Khí hậu thuỷ văn
Khí hậu:
Khu vực Đồng Sơn – Kỳ Thượng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ảnh hưởng của khí hậu đại dương, hàng năm có 2 mùa rõ rệt: mùa nóng
ẩm từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau,
với các đặc trưng về khí hậu như sau (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2003):
+ Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình năm là 230C, nhiệt độ trung bình mùa nóng là 250C, nhiệt độ trung bình mùa lạnh là 200C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 410C vào tháng 6 và nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 00C vào tháng 1
+ Chế độ ẩm: lượng mưa trung bình năm từ 2000mm đến 2400mm, tập trung vào các tháng 7 và 8, chiếm tới 80% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 Do đặc điểm của địa hình nên khu vực phía Bắc thường ít mưa hơn và có thời gian khô hạn kéo dài hơn khu vực phía Nam
+ Độ ẩm tương đối trung bình năm 80%, độ ẩm không khí cao nhất vào tháng 3 và 4 là 89%, thấp nhất vào tháng 1 và tháng 2 là 65%
+ Lượng bố hơi nước bình quân năm từ 700 – 1300mm
+ Chế độ gió: hướng gió thịnh hành vào mùa hè là gió mùa đông nam, mùa đông là gió mùa đông bắc
+ Các yếu tố bất lợi về thời tiết - khí hậu:
- Bão: mặc dù khu vực Đồng Sơn – Kỳ Thượng gần biển nhưng do Vịnh Hạ Long có nhiều đảo che chắn nên ít bị ảnh hưởng của bão lớn Tuy vậy, háng năm thường có từ 2 – 3 cơn bão đổ bộ vào với tốc độ gió cấp 8, cấp
9 gây mưa lớn, kéo dài, nhiều vùng bị lũ lụt, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông
- lâm nghiệp trong khu vực
Trang 33- Sương muối: do đặc điểm địa hình nên tại các thung lũng thường xuất hiện sương muối Sương muối thường xảy ra vào các tháng 12, tháng 1 ảnh hưởng đến cây trồng nông lâm nghiệp
Thủy văn:
Khu vực Đồng Sơn – Kỳ Thượng là đầu nguồn của 2 con sông chính là sông Ba Chẽ và sông Man Do địa hình chia cắt mạnh đã tạo nên rất nhiều chỉ lưu với dòng suối hẹp, dòng chảy xiết Hầu hết cá khe suối đều có dòng chảy quanh năm vì phần lớn diện tích lưu vực còn có rừng tự nhiên che phủ Tuy
vậy, vào mùa mưa thường xảy ra lũ lụt vì độ dốc quá lớn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Viện điều tra và quy hoạch rừng, 2001)
Cùng với hệ thống sông suối, hồ Cao Vân với diện tích mặt nước 146ha, có dung tích 5.000.000m3, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện và thành phố
Hạ Long
3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên và vấn đề sử dụng tài nguyên
3.1.5.1 Diện tích các loại đất đai
Diện tích các loại đất trong khu vực Đồng sơn - Kỳ thượng được tổng hợp và thống kê ở bảng 3.1:
Trang 34Bảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất đai khu Bảo tồn Thiên nhiên
Sơn
Kỳ Thượng
Đồng Lâm Vũ Oai
Hòa Bình Tổng diện tích tự
1 Đất có rừng 22.139 6.583 4.673 4.035 2.912 3.936 + rừng tự nhiên 21.353 6.527 4.663 3.864 2.787 3.512
2 Đất không có rừng 2.928 768 628 754 236 542
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Viện điều tra và quy hoạch rừng, 2001)
Như vậy, với tổng diện tích rừng tự nhiên là 21.353 ha, chiếm 83,9% so
với tổng diện tích tự nhiên, khu vực Đồng Sơn – Kỳ Thượng là nơi còn diện
tích rừng tự nhiên vào bậc nhất trong điều kiện đồi núi thấp đối với tỉnh
Quảng Ninh và khu vực Đông Bắc Việt Nam
3.1.5.2 Hiện trạng thảm thực vật rừng
Căn cứ theo tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của
Thái Văn Trừng (Thái Văn Trừng, 1970), kết quả điều tra khảo sát (Bộ NN &
PTNT, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, 2001) đã xác định khu vực Đồng Sơn –
Kỳ Thượng có các kiểu thảm thực vật ở bảng 3.2:
Trang 35Bảng 3.2 Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng ở khu Bảo tồn
Thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng
Đơn vị: ha
1 Kiểu thảm thực vật thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp 1.137
2 Kiểu thảm thực vật thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 23.930
2.1 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác do hoạt động khai thác của con
2.1.1 Ưu hợp Dẻ, Trám, Trâm, Chẹo, Lim xanh… 15.547 2.1.2 Ưu hợp Thành ngạnh, Sau sau, Dẻ, trâm, Kháo… 4.669 2.1.3 Ưu hợp Thẩu tấu, Me rừng, Sim, mua, Cỏ lào… 1.796
2.2.1 Quần hợp Keo trồng thuần loài trông sau nương rẫy 363 2.2.2 Quần hợp Keo, Bạch đàn hỗn giao trồng sau nương rẫy 125
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Viện điều tra và quy hoạch rừng, 2001)
Khu vực Đồng Sơn – Kỳ Thượng tuy không đa dạng về kiểu thảm thực vật rừng, nhưng thảm thực vật tự nhiên đặc biệt là rừng kín thường xanh á nhiệt đới còn tương đối nguyên vẹn về cấu trúc, và có diện tích tập trung lớn nhất trong tỉnh Quảng Ninh Nhìn chung các loại rừng này mới bị tác động nhẹ còn khá đa dạng về tổ thành loài, có nhiều loài cây quí hiếm cần được đặc biệt quan tâm, bảo vệ
Trang 363.1.5.3 Tài nguyên sinh vật
Khu rừng Đồng Sơn – Kỳ Thượng có hệ động, thực vật khá phong phú
(Nguồn: Bộ NN & PTNT; Viện ĐT & QHR, 2001) Kết quả điều tra ban đầu
đã xác định được:
+ Về thực vật có: 485 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 280 chi, 101
họ, trong đó có 5 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam: Trầm hương Trung hoa
(Aquilaria sinensis Gilg.), Vù Hương (Cinamomum balansae Lecomte), Lát Hoa (Chukrasia tabularis A.juss), Đại Hải (Heteropanax fragrans (Roxb) Seem ), Ba Kích (Murinda officinalis How.) Tài nguyên thực vật rừng Đồng
Sơn – Kỳ Thượng có giá trị nhiều mặt, trong đó: nhóm cây cho gỗ gồm hơn
100 loài, đặc biệt có nhiều loài là cây gỗ tốt, có khả năng chịu lực cao, ít bị mối mọt, bền vững như Lim xanh, Chò chỉ, Sao hòn gai, Táu mật…; Nhóm cây làm thuốc có 101 loài, có những loài cây thuốc quý như Ba kích, Ngũ gia
bì, Hoàng đằng vàng, Đu đủ rừng, Thiên niên kiện… Nhóm cây làm cảnh có
24 loài như: Đỗ quyên, Hải đường… nhóm cây thực phẩm và cho quả ăn như: Trám, Dẻ gai, Óc chó, Củ mài… và rất nhiều loại rau quả khác
+ Về động vật có: 249 loài thuộc 79 họ và 28 bộ của 4 lớp động vật là thú, chim, bò sát và ếch nhái Đặc biệt khu hệ chim ở đây rất đa dạng, có tới
17 bộ trong tổng số 19 bộ chim trong cả nước, đang hiện hữu tại khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ thượng Đã phát hiện nhiều loài chim thú quý hiếm, có tên trong sách đỏ Việt Nam như: Khỉ vàng, Tê tê vàng, Công, Trĩ…
có giá trị bảo tồn nguồn gen, đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới
Tài nguyên động vật rừng là thành phần của hệ sinh thái, góp phần quan trọng trong sự phát triển, đảm bảo tính cân bằng ổn định của hệ sinh thái rừng Sự phong phú các nhóm loài động thực vật là nguồn tài nguyên thiên
Trang 37đồng các dân tộc đang sinh sống trong khu vực Tuy nhiên, mối tác động và ảnh hưởng hữu cơ giữa tự nhiên và con người dẫn đến sự suy giảm cả về số lượng và chủng loại là rất đáng kể theo không gian và thời gian
3.1.5.4 Sự suy giảm về tài nguyên rừng và vấn đề sử dụng tài nguyên của người dân
Kết quả điều tra khảo sát, cùng với việc tổng hợp các tài liệu của khu vực nghiên cứu đã cho thấy, vào đầu những năm của thập kỷ 90 cho đến trước khi chính thức có quyết định thành lập khu bảo tồn (năm 2003), diện tích rừng tự nhiên ở đây bị suy giảm đáng kể, do sức ép về dân số và đất canh tác nông nghiệp quá ít nên buộc người dân phải vào rừng khai thác lâm sản để bán Qua tìm hiểu, với nhiều thành phần khác nhau (người dân, chính quyền xã, cán bộ kiểm lâm xã và kiểm lâm địa bàn) đã cho thấy giai đoạn từ năm 1993 đến 2000 là thời gian mà người dân vào rừng khai thác gỗ tự nhiên nhiều nhất, rừng bị tàn phá mạnh mẽ làm phương hại đến hệ động, thực vật rừng do sự chuyển đổi cơ chế quản lý Vì vậy hiện nay, các loài thú lớn và quý hiếm như Gấu, Hổ, Báo hầu như không bắt gặp
Sử dụng gỗ của người dân:
Trước đây nhu cầu sử dụng gỗ của người dân là rất lớn, gỗ dùng làm nhà, làm đồ dùng gia đình, đặc biệt là người dân có thói quen dùng gỗ làm phản nằm Thường là các loại gỗ tốt, gỗ lớn khai thác ở rừng tự nhiên như:
Dẻ, Táu, Sến, Lim xanh… Hiện nay do sự tăng cường các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và lâm sản, nên đã hạn chế phần nào việc người dân vào rừng khai thác các loại gỗ củi,
gỗ rừng trồng muốn khai thác và vận chuyển đi bán người dân phải xin phép và được cấp có thẩm quyền phê duyệt Điều này đã phần nào hạn chế
Trang 38 Sử dụng lâm sản ngoài gỗ:
Các lâm sản ngoài gỗ gắn liền với đời sống của người dân ở trong thôn, bản, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt trong đời sống của cộng đồng Các cuộc phỏng vấn và trao đổi với người dân đã chỉ ra rằng: người dân trong khu vực nghiên cứu đã có một truyền thống sử dụng lâm sản ngoài gỗ từ lâu đời, với một kho tàng kiến thức bản địa về lâm sản ngoài gỗ phong phú (LSNG dùng làm lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên, vật liệu ) So với trước đây, việc khai thác và sử sụng LSNG của họ đã có nhiều thay đổi, cả về chủng loại, mức độ và cách thức Song chủ yếu là họ vào rừng lấy ra các sản phẩm LSNG mà chưa chú ý đến việc quản lý, bảo vệ
và phát triển chúng
Trước đây, LSNG trên địa bàn rất đa dạng về chủng loại, dồi dào về trữ lượng, khi có đầu mối tiêu thụ, việc khai thác LSNG đem lại một nguồn thu nhập quan trọng cho các hộ gia đình Nhưng hiện nay, nhiều LSNG trở nên khan hiếm bởi sự suy giảm của tài nguyên rừng, sự thay đổi cơ chế quản
lý tài nguyên rừng, việc khai thác các LSNG trở nên khó khăn, bởi trữ lượng sản phẩm thấp, hoặc vùng phân bố quá xa Hơn nữa hiện nay họ chỉ tập trung vào một nhóm LSNG theo nhu cầu của thị trường và có hiệu quả kinh
tế cao, đó là khai thác nhựa trám, với mỗi kg nhựa bán được 15.000, 1 tháng trung bình họ thu được 30 – 40 kg nhựa, nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm này tương đối ổn định
Như vậy, nếu có phương án quản lý sử dụng hợp lý, LSNG sẽ tạo ra công ăn việc làm, đem lại thu nhập cho người dân, giúp họ nâng cao cuộc sống và gắn bó với tài nguyên rừng hơn nữa Đây là một giải pháp lấy ngắn nuôi dài, rất có ý nghĩa trong việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng của người dân khi thực hiện GĐGR
Trang 39Nhưng trên thực tế người dân ở đây chưa được GĐGR, mà vẫn tiếp tục vào rừng tự nhiên để tìm gốc Trám khai thác nhựa, do sức ép từ sự gia tăng dân số và mức sống sinh hoạt tăng lên, cùng với đó là hiện tượng lợi dụng để săn bắn động vật hoang dã bất hợp pháp mà lực lượng chức năng không kiểm soát được Trước tình hình đó, chính quyền địa phương đã có những đề xuất nhằm giảm những căng thẳng và mâu thuẫn giữa mục tiêu bảo tồn và đảm bảo cuộc sống của người dân, bằng việc phân chia những phần diện tích đất vùng ven thuộc rừng bảo tồn, giao cho các hộ gia đình quản lý và sử dụng (GĐGR) Vấn đề này đã được đưa ra thảo luận và lấy ý kiến của dân Ổn định và nâng cao đời sống của người dân sống trong KBT bằng việc tham gia các hoạt động khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng rừng… góp phần phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo trật tự an ninh trong khu vực, phục vụ nghiên cứu khoa học là mục tiêu đặt ra của Dự án xây dựng KBT
3.2 Bối cảnh kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
3.2.1 Lược sử hình thành thôn bản
Bảng 3.3 Mốc thời gian và những sự kiện của việc hình thành thôn bản
xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
1960 - 1980
Sau năm 1960, người Tày chuyển ra huyện Ba Chẽ sinh sống, các hộ gia đình người Dao chuyển từ trong các khe, hẻm ra sống dọc theo đường mòn, cùng với người Dao từ Tân Dân chuyển sang và lập nên thôn bản mới, gọi là xã
Trang 401983
Do dân số tăng lên, với 1120 nhân khẩu, sống phân tán trên địa bàn rộng và chia cắt, khó quản lý theo đơn vị hành chính, dàn trải trên 60km dài, tiến hành tách xã Đồng Quặng thành
2 xã Đồng Lâm và Đồng Sơn Người dân vẫn sống chủ yếu bằng săn bắt, khai thác các sản phẩm từ rừng, kết hợp khai phá ruộng đất dọc theo các khe suối, trồng lúa nước nhưng không có đầu tư giống, kỹ thuật, phân bón Cuộc sống vẫn
là tự cung tự cấp và thu hái từ rừng là chính
1986 - 1990
Người dân được giao khoán ruộng đất canh tác nông nghiệp, nhưng sản xuất vẫn không có đầu tư phân bón, kỹ thuật, làm không đủ ăn do đất dốc, canh tác khó khăn, mùa màng thất bát, người dân bỏ hoang ruộng cấy cày, lên rừng khai thác
gỗ củi đem bán cho các công ty khai thác than Hoành Bồ
1990 - 1993
Có một vài người dân địa phương học được phương pháp khai thác nhựa trám – là loại lâm sản phụ mang lại thu nhập cao, người dân trong xã đã đổ xô vào rừng tìm cây, chiếm lĩnh và khai thác nhựa để bán Cùng với việc khai thác các lâm sản khác thì người dân ở đây đã tìm ra một nguồn thu mới, đó là nhựa trám, vào thời điểm đó cây trám tự nhiên trong rừng còn nhiều, do chưa có kinh nghiệm và kỹ thuật
mà nhiều cây trám cổ thụ đã bị chết đi do người dân khai thác nhựa không đúng cách
Năm 1993
Nhận thấy giá trị của rừng, Sở Nông lâm nghiệp (nay là Sở
NN và PTNT) tỉnh Quảng Ninh đã lập luận chứng kinh tế kỹ thuật nhằm xây dựng khu vực Đồng Sơn – Kỳ Thượng thành khu bảo tồn thiên nhiên Tuy nhiên, do sự lồng ghép