Theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, phương pháp in phun giúp giảm khoảng 50% giá thành chế tạo các điện cực cho các kiểu cảm biến khác nhau so với các sản phẩm được sản xuất theo phương
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH PTN CÔNG NGHỆ NANO
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH PTN CÔNG NGHỆ NANO
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy PGS
TS Đặng Mậu Chiến đã luôn giúp đỡ, động viên và cho tôi cơ hội làm việc cùng Thầy
Tôi chân thành cảm ơn TS Đoàn Đức Chánh Tín, ThS NCS Đặng Thị
Mỹ Dung, TS Lê Thị Mai Hoa, ThS NCS Lê Duy Đảm và CN Tô Diễn Thiện đã cho tôi những lời khuyên cũng như những kinh nghiệm nghiên cứu quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn, đồng thời đã góp ý và chỉnh sửa luận văn tốt nghiệp của tôi
Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi được hoàn thành tốt luận văn tốt này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy cô Khoa Vật lý Kỹ thuật và Công nghệ Nano – Trường ĐH Công nghệ, ĐHQG Hà Nội và Thầy cô Trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên, ĐHQG TP HCM đã trang bị cho tôi những kiến thức cần thiết và bổ ích cho nghề nghiệp của tôi sau này
Cuối cùng, tôi không bao giờ quên công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ tôi, những người luôn chịu thương chịu khó lo lắng nuôi dạy để tôi có được ngày hôm nay Sự quan tâm động viên, ủng hộ của cậu mợ và gia đình
là động lực rất lớn cho tôi trên con đường học vấn Cảm ơn anh, người bạn đã gắn bó, chia sẽ và bên cạnh tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 11 năm 2014
Nguyễn Thị Ngọc Nhiên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Ngọc Nhiên, học viên cao học chuyên ngành Vật liệu và Linh kiện Nano thuộc chương trình liên kết giữa Trường Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội và Phòng Thí Nghiệm Công Nghệ Nano –
ĐHQG TP HCM Tôi đã thực hiện đề tài thạc sĩ “Nghiên cứu thiết kế và chế
tạo cảm biến đo khí NH 3 bằng phương pháp in phun” tại Phòng Thí nghiệm
Công nghệ Nano (LNT) – ĐHQG TP HCM với sự hướng dẫn của PGS TS Đặng Mậu Chiến
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong công trình mà tôi không tham gia
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Nhiên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU & SƠ ĐỒ xi
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về cảm biến khí 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 3
1.1.3 Các loại cảm biến khí 6
1.1.4 Polyme dẫn điện 8
1.2 Tổng quan về công nghệ in phun ……… 14
1.2.1 Công nghệ in phun 14
1.2.2 Ứng dụng công nghệ in phun để chế tạo cảm biến 17
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 19
2.1 Các thiết bị thực nghiệm 19
2.2 Các thiết bị phân tích 22
2.2.1 Kính hiển vi kim loại học 22
2.2.2 Thiết bị đo độ dày màng 23
2.2.3 Thiết bị đo điện trở suất 23
2.2.4 Phương pháp chụp ảnh trên kính hiển vi điện tử quét (SEM) 24
2.2.5 Thiết bị phổ tử ngoại khả kiến (UV-vis) 24
2.3 Quy trình thực nghiệm 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 38
Trang 63.1 Kết quả tạo màng mỏng SiO2 bằng phương pháp oxi hóa 38
3.2 Đánh giá chất lượng của lớp điện cực 38
3.2.1 Nghiên cứu độ phân giải của máy in phun 38
3.2.2 Ảnh hưởng của số lớp in đến bề dày và điện trở 40
3.2.3 Kết quả nghiên cứu chế tạo điện cực 42
3.3 Kết quả khảo sát cảm biến hoàn chỉnh 47
3.3.1 Kết quả UV-Vis khảo sát dung dịch polymer dẫn điện 47
3.3.2 Kết quả ảnh bề mặt của màng PANI-ES trước và sau khi hấp phụ khí NH3 ……… 49
3.3.3 Kết quả khảo sát sự thay đổi điện trở theo độ ẩm 51
3.3.4 Kết quả khảo sát sự thay đổi điện trở với nồng độ khí ammoniac 52
3.3.5 Kết quả khảo sát thời gian hồi phục của cảm biến 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PANI : Polyaniline
PANI-EB : Polyaniline Emeraldine Base
PANI-ES : Polyaniline Emeraldine Salt
PET : Poly Etylen Terephtalate
PPy : Polypyrrole
PTh : Polythiophene
SEM : Kính hiển vi điện tử quét
SOHO : Small office home office
UV-VIS : Phổ hồng ngoại và khả kiến
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Cấu trúc điện cực vàng phủ trên đế PET 3
Hình 1.2 Ảnh chụp các bản tụ điện là các điện cực đan xen chế tạo bằng phương pháp in phun bạc 4
Hình 1.3 Các dây vàng hình rắn chế tạo bằng phương pháp in phun 5
Hình 1.4 Cấu trúc (a) và mặt cắt ngang của cảm biến kiểu điện trở (b) 7
Hình 1.5 Các chuỗi polyme dẫn điện tiêu biểu [17] 10
Hình 1.6 Cấu trúc và độ dẫn điện của một vài polymer [17] 11
Hình 1.7 Cấu trúc PANI 12
Hình 1.8 Cơ chế pha tạp proton (protonation) của PANI 13
Hình 1.9 Thang thể hiện độ dẫn điện của PANI và các chất khác 13
Hình 1.10 Số lượng công trình công bố về công nghệ in phun trong 20 năm qua (trích từ ISI) 14
Hình 1.11 Nguyên lý đẩy (in) chất lỏng bằng phương pháp nhiệt 16
Hình 1.12 Một số nguyên lý in phun dựa trên nguyên lý đẩy cơ học của vật liệu áp điện 17
Hình 2.1 Máy in phun Dimatix printer (a), Bộ phận phun mực (b), Cấu trúc áp điện để phun ra các giọt mực (c) và Cấu trúc lỗ phun (d) 20
Hình 2.2 Mực ở trạng thái chờ 20
Hình 2.3 Mực được đưa vào buồng chứa 21
Hình 2.4 Mực được đẩy ra khỏi vòi phun [3] 21
Hình 2.5 Đầu in trở lại trạng thái ban đầu [3] 22
Hình 2.6 Quy trình chế tạo cảm biến bằng công nghệ in phun 25
Hình 2.7 Lò ôxi hóa PEO 601 26
Hình 2.8 Chương trình điều khiển Lò ôxi hóa PEO 601 27
Hình 2.9 Chương trình điều khiển quá trình Oxi hóa của Lò ôxi hóa PEO 601 28
Hình 2.10 Chế tạo điện cực bằng kỹ thuật in phun 30
Trang 9Hình 2.11 Đầu in và hộp mực 31
Hình 2.12 Cửa sổ điều chỉnh điện thế vòi phun 32
Hình 2.13 Sơ đồ quy trình điều chế màng polymer dẫn điện 34
Hình 2.14 Ảnh minh họa điện cực sau khi được phủ polyme 35
Hình 2.15 Hệ đo nhạy khí của nhóm nghiên cứu 36
Hình 2.16 Sơ đồ cấu tạo tổng quát của hệ đo nhạy khí 37
Hình 3.1 Hình ảnh các giọt/đường mực tại những độ phân giải khác nhau 39
Hình 3.2 Biểu đồ quan hệ giữa độ dày, điện trở đối với số lớp in 41
Hình 3.3 Ảnh chụp kính hiển vi kim loại học GX51 Hình (a) in trên đế thủy tinh; hình (b) in trên đế PET; hình (c) in điện cực hướng ngang và hình (d) in điện cực hướng dọc trên đế SiO2/Si 43
Hình 3.4 Các điện cực thu được sau quá trình in phun với các kích thước 100 (a), 150 (b), 200 (c), 250 (d), 350 (e), và 400 (f) 45
Hình 3.5 Các điện cực trước (a) và sau khi phủ dung dịch polyme (b) 45
Hình 3.6 Đồ thị đo đặc tuyến I-V 46
Hình 3.7 Đồ thị điện trở phụ thuộc vào kích thước của các điện cực 47
Hình 3.8 Sự thay đổi màu sắc của dung dịch PANI-EB (xanh đậm) (a), PANI-ES (xanh lá cây) với 2µl HCl 0.1 M (b), 3µl HCl 0.1 M (c), 4 µl HCl 0.1 M (d) 48
Hình 3.9 Phổ UV-Vis của PANI-EB và PANI-ES trong dung môi DMSO và DMF 49
Hình 3.10 Ảnh chụp bằng kính hiển vi quang học với màng PANI-EB (a), màng PANI-ES (b), và màng PANI-ES sau khi hấp phụ khí NH3 (c) của chíp 150 và độ phóng đại X10 50
Hình 3.11 Ảnh SEM của điện cực 250 sau khi phủ dung dịch polyme ở các độ phóng đại khác nhau 51
Hình 3.12 Kết quả đo điện trở theo độ ẩm của các chíp với kích thước khác nhau 52
Hình 3.13 Kết quả khảo sát đặc trưng nhạy khí của màng polymer của các chíp 53
Trang 10Hình 3.14 Đồ thị tương quan tuyến tính giữa điện trở và nồng độ khí ammoniac của các chíp 150, 200 và 250 55 Hình 3.15 Thời gian hồi phục của cảm biến 150 trong môi trường khí N2 56 Hình 3.16 Kết quả khảo sát sự phục hồi của cảm biến M150 57 Hình 3.17 Thời gian hồi phục của cảm biến M150 khi gia nhiệt trong lò nung 60ºC 57
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thông số kỹ thuật thiết kế điện cực 29 Bảng 3.1 Điêù kiện tối ưu cho quá trình oxi hóa 38 Bảng 3.2 Độ phân giải ứng với góc in và khoảng cách giọt mực 38 Bảng 3.3 Kết quả đo độ dày và điện trở của mẫu ở những độ dày khác nhau 41 Bảng 3.4 Số liệu so sánh kích thước chip trước và sau khi in phun 43 Bảng 3.5 Số liệu đo điện trở của các chíp sau khi chế tạo 46
Trang 12MỞ ĐẦU
Ngày nay, cảm biến khí được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều các lĩnh vực như: trong công nghiệp, y học, kiểm soát chất lượng môi trường nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn lao động, phát hiện hàng cấm tại các cửa khẩu
và sân bay…Các cảm biến khí được ứng dụng trong đo đạc nồng độ các khí độc hại như CO, NOx, HCl, H2S, NH3, và các dung môi hữu cơ … nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường, hoặc khí CO2 và độ ẩm trong các cao ốc văn phòng, hoặc trong kho lưu trữ thực phẩm
Bên cạnh đó, các cảm biến khí sử dụng các chất điện giải thể rắn (solid electrolyte) cũng khá phổ biến, tuy nhiên cảm biến loại này yêu cầu phải hoạt động ở nhiệt độ cao (~400C) dẫn đến tiêu thụ nhiều năng lượng Do đó, các polyme hữu cơ và đặc biệt là các polyme dẫn điện với đặc tính cảm biến có thể xảy ra ở nhiệt độ phòng, vật liệu dễ tổng hợp, có giá thành thấp đã và đang được nghiên cứu rộng rãi trong cảm biến khí
Thời gian gần đây, do một số đặc điểm nổi trội so với công nghệ quang khắc truyền thống, nhiều nghiên cứu khoa học trên thế giới đã bắt đầu triển
khai các nghiên cứu phát triển công nghệ in phun để chế tạo các điện cực cho các kiểu cảm biến khác nhau Ưu điểm nổi bật của công nghệ in phun là
không cần dùng mặt nạ “mask” (tiết kiệm vì mask rất đắt tiền), một máy tính
sẽ điểu khiển in từng chấm một dựa trên hình ảnh đã thiết kế Quy trình đơn giản hơn, sử dụng rất ít nguyên vật liệu, hóa chất (chỉ vào khoảng 10-20% so với phương pháp quang khắc) nên giá thành chế tạo linh kiện có thể giảm đáng kể Theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, phương pháp in phun giúp giảm khoảng 50% giá thành chế tạo các điện cực cho các kiểu cảm biến khác nhau
so với các sản phẩm được sản xuất theo phương pháp truyền thống (quang khắc) có mặt trên thị trường Đây là lý do quan trọng giúp cho công nghệ in phun có thể ứng dụng trong phòng thí nghiệm để in màng mỏng lên các loại
đế khác nhau, đặc biệt là đế nhựa hay đế giấy thì khó có thể thực hiện bằng các phương pháp khác
Do vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: ‘Nghiên cứu thiết kế và
chế tạo cảm biến đo khí NH 3 bằng phương pháp in phun’ với mục tiêu của
Trang 13Luận văn là nghiên cứu chế tạo cảm biến kiểu điện trở để phát hiện khí NH3với các điện cực kim loại trên đế cách điện được phun phủ bằng công nghệ in phun Lớp nhạy khí vật liệu polyme dẫn điện được phủ lên trên điện cực sau khi chế tạo, cảm biến có thể ứng dụng trong đo đạc nồng độ khí NH3 Bên cạnh đó, chúng tôi xây dựng được hệ đo nhạy khí hoàn chỉnh được điều khiển bằng máy tính nhằm phục vụ hiệu quả cho luận văn này
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về cảm biến khí
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay trong nước đã có một số nhóm nghiên cứu cảm biến khí như nhóm nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu – Trường Đại học Bách khoa Hà nội đã công bố khá nhiều các bài báo quốc tế về chế tạo các cảm biến khí kiểu điện trở Nhóm nghiên cứu này đã công bố nhiều kết quả về chế tạo các cảm biến đo nồng độ ethanol sử dụng oxit kim loại SnO2/ZnO [1], cảm biến hydro sử dụng Pt/SnO2 [2], cảm biến khí NH3 sử dụng composite gồm ống than nano và polyme dẫn điện polypyrrole, cảm biến khí NH3 sử dụng polyaniline trên điện cực platin [3], cảm biến đo CO2 sử dụng LaOCl-SnO2 [4] Tuy nhiên, các điện cực cảm biến thường được chế tạo bằng phương pháp quang khắc truyền thống sử dụng mặt nạ (mask) và polyme cản quang (photoresist) đắt tiền
1.1.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu chế tạo các nền (platform) cảm biến bằng công nghệ in phun hướng đến ứng dụng làm cảm biến khí Ví dụ như nhóm Tseng [5] sử dụng hạt nano palladium ổn định trong nước bởi oligome styrene-N-isopropylacrylamide được in phun trên bề mặt đế PET để tạo các điểm xúc tác, sau đó nickel được phủ tiếp theo lên trên bằng phương pháp mạ điện không điện cực để tạo thành các cấu trúc điện cực dạng lược như thiết kế Tiếp đến, họ sử dụng phản ứng thay thế galvanic để phủ đơn lớp vàng trên bề mặt lớp nickel để tăng độ dẫn điện (Hình 1.1) Cuối cùng họ phủ lớp polyme dẫn điện PEDOT-PSS cũng bằng công nghệ in phun lên trên điện cực vàng và dùng để dò khí CO2
Hình 1.1 Cấu trúc điện cực vàng phủ trên đế PET
Trang 15Molina và các cộng sự đề xuất chế tạo các điện cực đan xen dạng lược bằng phương pháp in phun để giảm kích thước của các cảm biến [6] Quy trình công nghệ tương thích với công nghệ chế tạo ở nhiệt độ thấp và có thể
áp dụng lên trên các đế hữu cơ dẻo (flexible) Ý tưởng đưa ra là phủ lớp điện môi mỏng parylene-C trên điện cực dạng lược đầu tiên trước khi in lên điện cực thứ 2 Bằng phương pháp này các điện cực răng lược không nằm trên cùng 1 mặt phẳng, tránh được vấn đề ngắn mạch không mong muốn Thiết kế này đặc biệt thích hợp cho các linh kiện kiểu điện dung, cho phép tăng điện dung trên diện tích bề mặt Nhóm này đã thí nghiệm bằng cách phủ lớp nhạy
độ ẩm trên các điện cực chế tạo và đánh giá cảm biến khi độ ẩm tương đối thay đổi Nhóm nghiên cứu này cũng thử nghiệm mạ điện bạc với nickel [7] Tuy nhiên cảm biến này chỉ đo được độ ẩm đến 70% Các cảm biến khí thử nghiệm với lớp phủ nhạy khí poly (ether urethane) cũng cho kết quả tốt và có thể sử dụng trong các linh kiện ứng dụng thực tế Hình 1.2 Ảnh chụp các bản
tụ điện là các điện cực đan xen chế tạo bằng phương pháp in phun bạc Bề rộng của các điện cực là 95 ± 3 μm và khoảng cách là 105 ± 3 μm
Hình 1.2 Ảnh chụp các bản tụ điện là các điện cực đan xen chế tạo bằng
phương pháp in phun bạc
Cho và các cộng sự [8] chế tạo dãy các vi điện cực bằng vàng sử dụng máy in phun thông thường (Hình 1.3), hướng đến ứng dụng cảm biến đo hơi iodine Các dây vàng hình dích dắc chế tạo bằng phương pháp in phun đơn lớp alkanethiolate trên đĩa CD-R vàng và sau đó khắc ướt Các dây có bề rộng
100 μm và các vòng dài 8 mm, cách nhau 300 μm
Trang 16Hình 1.3 Các dây vàng hình rắn chế tạo bằng phương pháp in phun
Busato và các cộng sự [9] phát triển công nghệ in phun chế tạo các mạch in đồng trên màng polyimide uốn cong ứng dụng trong điện tử Quy trình gồm in phun dung dịch palladium (II) trên bề mặt đã có màng polyimide, tiếp theo là khử thành palladium kim loại và mạ đồng không điện cực Tất cả các bước sử dụng máy in phun bàn thông dụng và có thể chế tạo các mạch in kim loại với kích cỡ khoảng 100 μm Nhóm nghiên cứu này đã ứng dụng trong chế tạo các màng điện cực đan xen dùng vật liệu composite
Loffredo và các cộng sự [10] sử dụng phương pháp in phun để chế tạo điện cực trên đế alumina và cũng dùng phương pháp này để phun phủ lớp vật liệu nhạy khí trên cơ sở composit gồm polyme và than đen (carbon black) lên các điện cực Các cảm biến này dùng để đo nồng độ acetone và toluene trong không khí ở nhiệt độ phòng Kết quả nghiên cứu được so sánh với các linh kiện có các điện cực chế tạo bằng phương pháp quang khắc truyền thống và lớp vật liệu nhạy khí phủ bằng đúc mẫu (casting) và in phun
Bên cạnh đó, phương pháp in phun còn được sử dụng để phun phủ các lớp vật liệu nhạy khí lên trên các điện cực Ví dụ như Kukkola và các cộng sự [11] trình bày quy trình công nghệ in phun chất điện giải rắn (solid electrolyte) là hỗn hợp của H3PW12O40 và PVC ứng dụng trong chế tạo cảm biến khí hydro (nồng độ dưới 100 ppm trong không khí) sử dụng trong transistor có cấu trúc nano Kim loại-Điện giải-Cách điện-Bán dẫn (Metal-Electrolyte-Insulator-Semiconductor - MEIS) Mabrook [12] dùng công nghệ
in phun để phủ các màng polyme dẫn điện polypyrrol ứng dụng đo nồng độ ethanol và methanol Shen [13] dùng mực in SnO2 tổng hợp bằng kỹ thuật sol-
Trang 17gel với ethanol để in phun trên đế ceramic alumina và silicon ứng dụng đo nồng độ ethanol, NO2, H2S và H2
1.1.3 Các loại cảm biến khí
Cảm biến khí hiện nay có nhiều loại phổ biến như sau:
- Cảm biến kiểu điện trở (chemiresistor),
- Cảm biến kiểu transistor: transistor màng mỏng sử dụng polymer dẫn điện làm cực cổng (gate) (Organic Thin Film Transistor - OTFT) và transistor hiệu ứng trường dùng cực cổng cách điện (Insulated Gate Field-Effect Transistor - IGFET),
- Cảm biến vi cân tinh thể thạch anh (Quartz Crystal Microbalance - QCM),
- Cảm biến sử dụng sóng âm bề mặt (Surface Acoustic Wave - SAW) Trong bốn loại cảm biến nêu trên, loại cảm biến kiểu điện trở và transistor được nghiên cứu nhiều nhất do khả năng chế tạo dễ dàng và hiệu năng cảm biến vượt trội hơn với độ nhạy cao hơn và thời gian đáp ứng nhanh hơn Trong luận văn này tập trung nghiên cứu về cảm biến kiểu điện trở được chế tạo bằng công nghệ in phun và sử dụng trong cảm biến đo khí amoniac
Cảm biến kiểu điện trở
Cảm biến kiểu điện trở: là loại cảm biến thông dụng nhất, chúng có thể
được chế tạo theo quy trình công nghệ đơn giản và có giá thành thấp Cảm biến kiểu điện trở là một điện trở thay đổi (nhạy) với môi trường hóa chất xung quanh
Cấu tạo cảm biến kiểu điện trở
Cảm biến điện trở được cấu tạo gồm 3 phần:
- Đế cách điện PET, thủy tinh hay SiO2, …
- Điện cực dẫn điện Pt, Au, Ag, …
- Lớp vật liệu nhạy khí polyaniline (PANI), polypyrrole (PPy), … Cấu trúc cảm biến hoàn chỉnh gồm phần điện cực dẫn điện tạo thành nhiều cặp điện cực đan xen dạng răng lược và trên cùng là một lớp nhạy khí được phủ trên các điện cực xem hình 1.4 Sự thay đổi điện trở của lớp nhạy
Trang 18khí được ghi nhận bằng cách áp vào cảm biến một dòng điện hay điện thế cố định và tín hiệu đo (output) là sự thay đổi điện thế hay cường độ dòng điện
Các đặc trưng của cảm biến khí
Cấu tạo của cảm biến khí bao gồm 2 phần: lớp nhạy khí và phần chuyển tính hiệu cảm biến thành tính hiệu điện Lớp nhạy khí được lựa chọn trong luận văn này là vật liệu polyaniline (PANI) và bộ phận chuyển tính hiệu được quyết định bởi kỹ thuật in phun mực in bạc trên đế SiO2
Bên cạnh đó, sự lựa chọn vật liệu chế tạo cảm biến cũng làm ảnh hưởng đến độ nhạy, thời gian hồi phục và độ ổn định của cảm biến khí
Độ nhạy của cảm biến được định nghĩa là hệ số giữa điện trở của lớp
nhạy khí trong môi trường chứa khí và điện trở trong không khí, S = Rgas / Rair
Trang 19Thời gian đáp ứng hay thời gian hồi phục là thời gian cần thiết để giá
trị đầu ra của cảm biến ổn định khi các điều kiện đo thay đổi đột ngột từ trạng thái này sang trạng thái khác Thời gian đáp ứng là khoảng thời gian giữa 10
và 90 % giá trị ổn định Trong cảm biến khí, giá trị này phụ thuộc chủ yếu vào động học của phản ứng hóa học Thời gian đáp ứng phụ thuộc vào tốc độ hấp phụ/giải hấp và phụ thuộc vào khả năng phản ứng (tăng nhiệt độ để tăng thời gian đáp ứng) Thời gian hồi phục được định nghĩa là thời gian cần thiết để vật liệu trở về trạng thái ban đầu khi ngắt kích thích khí (hấp phụ lại oxy nhanh, không phụ thuộc vào khí cần đo) Trong luận văn này chúng tôi dùng phương pháp gia nhiệt để giảm thời gian hồi phục nhằm giúp cảm biến hoạt động tốt hơn trong lần đo tiếp theo
Độ ổn định, ngược lại với độ chọn lọc và độ nhạy, vấn đề về độ ổn định
ít được đề cập trong các tài liệu Điều này không có nghĩa là độ ổn định ít ảnh hưởng lên tính hữu ích của cảm biến khí Đúng hơn là độ ổn định là vấn đề thường được chú ý đến ở giai đoạn chế thử và sản xuất Độ ổn định rất khó khắc phục và vấn đề độ ổn định có thể liên quan đến các thực tế sau:
(1) bề mặt cảm biến luôn bị nhiễm bẩn do cảm biến luôn tiếp xúc với môi trường tự nhiên
(2) một cảm biến dựa trên nền polyme rất dễ bị oxi hóa khi tiếp xúc với các phân tử khí có tính khử
(3) những thay đổi có thể xuất hiện từ sự khác nhau về điều kiện khảo sát
Đây là vấn đề rất khó khăn cần thời gian để giải quyết do đó hướng tiếp theo trong luận văn này sẽ khảo sát độ ổn định của cảm biến
1.1.4 Polyme dẫn điện
Đầu những năm 80 của thế kỷ trước ý tưởng về polyme dẫn điện là chủ
đề của nhiều cuộc tranh cãi Tuy nhiên, các bài báo cáo về polyme dẫn điện xuất hiện lần đầu tiên vào cuối những năm 70 Polyacetylen là polyme dẫn điện được nghiên cứu đầu tiên bởi Shirakawa [14], trước đó người ta chỉ tạo
ra được các vật liệu thô đen giống như Cacbon đen
Sự xuất hiện của polyme dẫn điện và vật liệu hữu cơ là chìa khóa cho
sự phát triển bền vững trong tương lai, được nghiên cứu để dần dần thay thế cho các vật liệu đang dần trở nên khan hiếm, đã mở ra một hướng phát triển
Trang 20mới cho ngành công nghệ vật liệu điện tử Do tính chất ưu việt về mặt vật lý, hóa học, quang học và đặc biệt là thân thiện với môi trường, đã có những bước đột phá trong quá trình tổng hợp và nghiên cứu, và đã thu được các kết quả ngày càng hoàn thiện Đặc trưng của quan trọng nhất của polyme dẫn điện ứng dụng trong điện hóa đó là khả năng làm thay đổi tính chất vật lý, hóa học của chúng khi được pha tạp các ion thích hợp Chính nhờ khả năng này
mà các polyme dẫn điện được ứng dụng để chế tạo các cảm biến hóa học và sinh học trong phân tích như cảm biến đo nồng độ khí CO, NOx, H2S, NH3, cảm biến đo pH, cảm biến đo độ ẩm, …
Các polyme dẫn điện như trong hình 1.6 có độ dẫn điện khá lớn so với các polyme khác tuy nhiên nó vẫn là chất bán dẫn Polypyrrole, polyphenylene đóng vai trò là chất cho mạnh (strong donor) hay chất nhận điện tử mạnh (strong acceptor) dẫn tới tạo thành chất bán dẫn hay vật liệu có tính kim loại [15] Các polyme dẫn điện khác với các chất bán dẫn thông thường, ở tính bất đẳng hướng cao và cấu trúc một chiều hay còn gọi là cấu trúc chuỗi Hiện nay, các nhà khoa học đã nghiên cứu và tìm ra nhiều loại polyme dẫn điện như: polyphenylene, polypyrrole, polyaniline hoặc các copolyme như copolyme chứa pyrrole, thiophene, poly 2-5 dithienyl pyride xem hình 1.5 Khả năng dẫn điện của các polyme và các copolyme có được là
do trong chuỗi polyme có hệ liên kết liên hợp nằm dọc theo toàn bộ chuỗi polyme do đó tạo ra đám mây điện tử linh động nên điện tử có thể chuyển động từ đầu chuỗi đến cuối chuỗi polyme dễ dàng Tuy nhiên, việc chuyển dịch điện tử từ chuỗi polyme này sang chuỗi khác gặp phải khó khăn Các nguyên tử ở hai chuỗi phải xen phủ với nhau thì việc chuyển điện tử từ chuỗi này sang chuỗi khác mới có thể được thực hiện Do vậy, các polyme đơn thuần hoặc các copolyme có độ dẫn điện không lớn và để tạo ra vật liệu có độ dẫn điện cao (high- conductive polymer) từ các polyme người ta pha tạp (dopant) để tạo ra vật liệu có độ dẫn điện cao hơn [16]
Trang 21Hình 1.5 Các chuỗi polyme dẫn điện tiêu biểu [17]
Polyme có tính cách điện vì các nguyên tử trong chuỗi polyme được gắn kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị của các cacbon no, không có sự tự dịch chuyển các electron hay còn gọi là sự cộng hưởng Còn đối với các phân
tử liên hợp của các hợp chất cacbon, có sự cộng hưởng trong phân tử, do đó
nó có thể dẫn điện
Trang 22Hình 1.6 Cấu trúc và độ dẫn điện của một vài polymer [17]
Độ dẫn điện của polyme có thể thay đổi trong phạm vi rất rộng, từ chất bán dẫn đến kim loại, bằng cách thay đổi nồng độ chất pha tạp
1.1.4.1 Cơ chế dẫn điện của polyme
Polyme dẫn điện là một chất bán dẫn hữu cơ có hệ số dẫn nhiệt âm [5, 6], do đó lý thuyết về chất bán dẫn thường được dùng để giải thích cơ chế dẫn của chúng Một yêu cầu đối với polyme để mang bản chất dẫn điện là có sự hình thành sự cộng hưởng trong phân tử
Trong lý thuyết miền hóa trị, các obital nguyên tử của mỗi nguyên tử trùng với vân đạo của các nguyên tử bên cạnh trong tất cả các hướng để tạo ra vân đạo phân tử tương tự như một phân tử nhỏ [6] Tính chất điện của bán dẫn vô cơ thông thường phụ thuộc vào năng lượng vùng cấm Các chất bán dẫn có một độ rộng vùng cấm xác định Ở không độ tuyệt đối, các điện tử tồn tại ở vùng hóa trị, do đó chất bán dẫn không dẫn điện Khi độ rộng vùng cấm hẹp, ở nhiệt độ thường, các electron của vùng hóa trị nhận được năng lượng nhiệt lớn hơn năng lượng vùng cấm và nó sẽ nhảy lên vùng dẫn và trở thành
Trang 23chất dẫn điện Đây là lý thuyết của chất bán dẫn cổ điển Khi khoảng cách năng lượng vùng cấm rộng, năng lượng nhiệt ở nhiệt độ phòng không đủ kích thích các electron nhảy lên vùng dẫn, do đó nó là chất cách điện Trong các loại polyme dẫn điện được nghiên cứu, polyaniline được quan tâm nhiều nhất
do những tính chất đặc biệt của nó như độ dẫn điện cao, khả năng oxi hóa bằng hóa học và điện hóa, bền trong các ứng dụng Do đó, trong luận văn này chúng tôi chọn polyaniline (PANI) vì PANI là một trong các loại polyme có giá thành thấp và độ ổn định tương đối cao
1.1.4.2 Polyaniline
PANI là một polyme dẫn điện linh hoạt hơn các loại polyme khác Mặc
dù các hợp chất của nó đã phát hiện ra hơn 150 năm trước, nhưng từ năm
1980 polyaniline chiếm được sự chú ý mạnh mẽ của cộng đồng khoa học Nhờ sự phát hiện ra tính dẫn điện cao của PANI Do đó, polyaniline là một trong những polyme được nghiên cứu nhiều nhất trong 50 năm qua
Polyaniline (PANI) là một loại vật liệu tuyệt vời dung làm lớp vật liệu nhạy khí Cảm biến sử dụng PANI thường xuyên được áp dụng để phân tích amoniac và các khí khác [18] Một cảm biến khí NH3 trên cơ sở dung dịch nhũ tương PANI dodecylbenzenesulfonate (trong chloroform) được công bố bởi nhóm nghiên cứu Wu et al [19] và gần đây hơn, việc sử dụng PANI phủ lên giấy cho một số ứng dụng bao gồm cả việc phát hiện đo màu của khí và dung dịch ammoniac [20]
Bên cạnh đó, PANI là một trong những polyme dẫn điện có độ ổn định nhiệt cao và dễ dàng pha tạp Để phân biệt PANI với các polyme dẫn điện khác ta xem công thức hóa học PANI như hình 1.7 Dị nguyên tử Nitơ kết hợp với các nguyên tử Cacbon khác và hình thành nên những liên kết π giữa obital pz của Cacbon và Nitơ
Trang 24Hình 1.8 Cơ chế pha tạp proton (protonation) của PANI
Do đó, PANI là polyme dẫn điện được nghiên cứu nhiều nhất được ứng dụng làm lớp nhạy khí để đo khí NH3 trong môi trường Hiện nay, PANI và các dẫn xuất của nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học, được ứng dụng rộng rãi trong hóa học, vật lý và các thiết bị điện tử Trên thực
tế, PANI là polyme dẫn điện đầu tiên được thương mại hóa trên toàn thế giới
Hình 1.9 Thang thể hiện độ dẫn điện của PANI và các chất khác
Trang 251.2 Tổng quan về công nghệ in phun
Sau gần 30 năm phát triển bền vững, kỹ thuật in phun đã đạt đến một chất lượng mà cho phép thực hiện việc in chụp ảnh.Trong cùng thời gian này,
ở cấp độ công nghiệp, kỹ thuật in phun từng bước được quan tâm nhằm thực hiện việc in các chi tiết rất nhỏ trong các tài liệu đặc biệt Một số hãng chế tạo đầu in hiện nay cũng đã phát triển ngành công nghệ in phun đặc biệt này như Xaar, Spectra, Seiko, Tektronic… Hiện nay, thị trường đã bắt đầu phát triển
đa dạng các máy in phun với chất lượng tối thiểu tương đương với công nghệ
in offset
Từ giữa những năm 90, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu thấy rằng kỹ thuật in phun là một công cụ lý thú để chuyển các lượng nhỏ chất lỏng mà không cần tiếp xúc Đặc biệt hơn là trong lĩnh vực sinh học và vi lượng, công nghệ này đã thu hút rất nhiều sự chú ý Từ đó đến nay, công nghệ này đã phát triển không ngừng, thể hiện qua sơ đồ hình 1.10
0 20 40 60 80 100 120 140
1988198919 19 19 19931994199519 19 19981999200020 20 20 2004200520 20 20
Hình 1.10 Số lượng công trình công bố về công nghệ in phun trong 20
năm qua (trích từ ISI).
Trang 26Các thông tin thống kê này chỉ ra rằng lãnh vực nghiên cứu công nghệ
in phun còn tương đối mới mẻ và còn nhiều cơ hội để nghiên cứu khám phá,
kể cả về nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu ứng dụng
Ý tưởng về việc sử dụng kỹ thuật in phun cho các ứng dụng đồ họa được phát triển rộng rãi và thể hiện rõ thông qua kỹ thuật in ấn bằng mực in kim loại [21], polymer [22] và dung môi [23],…Điều này đồng thời đã dẫn đến những quan tâm về ứng dụng hệ thống in phun nhằm cung cấp các giải pháp chung cho SOHO và công nghệ in công nghiệp Đó là sự kết hợp các ưu điểm của cả hai bên: chất lượng cao của đầu in vi chế tạo SOHO và sự linh hoạt của mực in phun công nghiệp và nền in
Có hai kỹ thuật in phun cơ bản là phương pháp đẩy (in) chất lỏng liên tục, và phương pháp đẩy (in) từng giọt chất lỏng theo yêu cầu (drop-on-demand inkjet - DOD) “DOD” là kỹ thuật đẩy các giọt chất lỏng lần lượt mỗi lần in Kỹ thuật này chính là linh hồn để chế tạo ra các máy in mà chúng ta hiện sử dụng hàng ngày trong các văn phòng và gia đình Trong kỹ thuật này, các giọt chất lỏng được đẩy ra một cách chính xác với độ kiểm soát cao với thể tích nhỏ nhất cỡ 10 pico lít (tương đương thể tích của giọt chất lỏng có kích thước mỗi chiều là 10 µm) Kỹ thuật này có thể áp dụng cho nhiều công đoạn của công nghệ micro, dùng chế tạo các vi linh kiện hoặc vi hệ thống
Kỹ thuật DOD sử dụng hai nguyên lý vật lý cơ bản để đẩy (in) chất lỏng đó là: kỹ thuật in nhiệt và kỹ thuật in sử dụng tính chất áp điện (piezoelectric) của vật liệu Trong kỹ thuật in nhiệt, một điện trở được chế tạo gần đầu của đầu mũi phun kim (nozzle), và được đốt nóng bằng một dòng xung điện cường độ cao chạy qua nó, tạo nên các bong bóng, và các bong bóng này phát triển, tạo ra áp suất trong kênh dẫn mực in Khi áp suất đẩy do bong bóng tạo ra trong kênh dẫn mực lớn hơn năng lượng bề mặt của các hạt mực bám quanh đầu phun, sẽ đẩy mực in trong các kênh dẫn ra ngoài Các lọai mực in sử dụng thường là các dung dịch của nước với các hóa chất khác nhau Nguyên lý làm việc của quá trình đẩy (injection) các hạt chất lỏng (mực
in) qua đầu phun lên bề mặt cần in được minh họa trong Hình 1.11
Trang 27Hình 1.11 Nguyên lý đẩy (in) chất lỏng bằng phương pháp nhiệt
Một kỹ thuật DOD khác lại dựa trên nguyên lý in áp điện: các kênh dẫn mực (được chế tạo bằng vật liệu áp điện) bị biến dạng dưới tác động của thay đổi điện thế, tạo ra các áp suất trong kênh dẫn, đẩy chất lỏng ra khỏi đầu mũi phun Trong trường hợp này, một điện thế xung được áp trực tiếp vào thành của kênh dẫn mực, và tùy vào tín hiệu xung (âm, hay dương) sẽ đẩy mực in ra ngoài, sau đó lại hút trở lại các thể tích mực chưa bị đẩy hết ra ngoài, cho phép kiểm soát quá trình in theo ý muốn Một số cấu trúc hoạt động của kỹ thuật đẩy cơ học được minh họa trên hình 1.12
Phương pháp đẩy (in) từng giọt chất lỏng theo nguyên lý nhiệt là phương pháp chủ yếu được sử dụng cho các máy in văn phòng vì tính năng làm việc ổn định và dễ dàng chế tạo các đầu in Tuy nhiên, phương pháp này chỉ thực sự phù hợp với việc sử dụng các chất lỏng (mực in) bền nhiệt Trong khi đó phương pháp in áp điện lại được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp in
ấn bởi vì nó cho phép sử dụng nhiều loại mực in khác nhau
Trang 28Hình 1.12 Một số nguyên lý in phun dựa trên nguyên lý đẩy cơ học của vật
liệu áp điện
1.2.2 Ứng dụng công nghệ in phun để chế tạo cảm biến
Cảm biến khí đã phát triển từ những năm 60 của thế kỷ trước và bắt đầu tăng rất nhanh từ những năm gần đây bởi vì những ứng dụng quan trọng của
nó trong nhiều lĩnh vực đời sống Việc chế tạo cảm biến khí bằng công nghệ quang khắc (photolithography) và phún xạ (sputtering) đã thực hiện nhiều nhưng giá thành khá cao Tuy nhiên để giảm giá thành sản xuất chúng tôi cải tiến để chế tạo cảm biến bằng công nghệ in phun (inkjet printing) Ngày nay, công nghệ in phun đang là một hướng nghiên cứu thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học do những ưu điểm vượt trội của nó so với các phương pháp vi chế tạo truyền thống Kỹ thuật này có ưu điểm lớn nhất là ở khả năng phủ màng không cần mặt nạ (maskless), vốn có tiềm năng ứng dụng rất lớn để tạo mạch vi điện tử trên các đế bằng vật liệu dẻo Một máy tính sẽ
Trang 29điểu khiển in từng chấm một dựa trên hình ảnh đã thiết kế, bảo đảm nhanh chóng và giảm giá thành Đây là một lý do quan trọng khiến cho in phun có thể ứng dụng trong phòng thí nghiệm để phủ các loại vật liệu nhạy cảm, đặc biệt là vật liệu bán dẫn (polyme hoặc vô cơ) mà độ tinh khiết ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng linh kiện
Phương pháp in phun cũng như các phương pháp khác đó là có những khó khăn trong quá trình in phun Tuy nhiên, chúng tôi đã khắc phục được các vấn đề khó khăn do phương pháp này mang lại Trong phần này, chúng tôi sử dụng những kết quả đạt được để chế tạo điện cực cảm biến bằng công nghệ in phun mực dẫn điện theo mẫu đã thiết kế
Một vài thuận lợi của công nghệ in phun trong chế tạo cảm biến:
- Thiết kế ban đầu có thể được chuyển đổi trực tiếp thành file ảnh để in
- Việc in trực tiếp lên trên đế SiO2/Si sạch cho các mẫu in có chất lượng tốt
- Không cần các bước xử lý sau khi in ngoại trừ việc nung trong lò nung để mẫu in ổn định trên đế SiO2/Si, sự bám dính tốt được kiểm tra bằng phương pháp đo điện trở suất của bề mặt
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Các thiết bị thực nghiệm
Tất cả các thiết bị thực nghiệm được sử dụng đều có sẵn tại Phòng thí nghiệm Công Nghệ Nano (LNT) – ĐHQG TP HCM
Cân phân tích (Max 210 gram, d = 0,1 mg, model TE214S, Sartorius Germany, PTN Công Nghệ Nano, ĐHQG TP HCM)
Máy khuấy từ (China, PTN Công Nghệ Nano, ĐHQG TP HCM)
Lò nung chân không (China, PTN Công Nghệ Nano, ĐHQG TP HCM)
Một số dụng cụ như: micro pipet, đũa khuấy, giấy lọc, …
Thiết bị in phun: Dimatix Materials Printer (DMP)
Thiết bị in phun (Hình 2.1) hoạt động theo công nghệ in phun áp điện Đây là phương pháp phổ biến nhất để in mực có chứa các vật liệu chế tạo linh kiện, thiết bị Phần tử áp điện (thường là vật liệu PZT) được gắn vào vòi phun
và được nối với bộ phát tín hiệu Khi có điện thế áp vào nó, phần tử áp điện sẽ thay đổi hình dáng hay kích thước, từ đó làm tăng hoặc giảm diện tích mặt cắt ngang của buồng chứa sẵn mực Điều này sẽ hình thành sóng nén trong chất lỏng đẩy giọt mực ra khỏi vòi phun (Hình 2.1) Thể tích giọt mực nhỏ nhất có thể hình thành phụ thuộc chủ yếu vào kích thước của vòi phun
Trang 31(c) (d)
Hình 2.1 Máy in phun Dimatix printer (a), Bộ phận phun mực (b), Cấu trúc
áp điện để phun ra các giọt mực (c) và Cấu trúc lỗ phun (d)
Nguyên lý hoạt động
Các hệ thống máy in phun dựa trên nguyên lý áp điện nói chung và hệ thống
in phun áp điện được sử dụng tại Phòng Thí Nghiệm Công Nghệ Nano nói riêng hoạt động theo một chu kỳ gồm 4 pha:
- Pha 0: mực đang ở trạng thái chờ Khi đầu in không hoạt động, hay ngay trước khi bắt đầu chu kỳ làm việc, một điện áp nhỏ được đặt vào phần tử
áp điện, làm cho nó bị biến dạng nhỏ (Hình 2.2)
Hình 2.2 Mực ở trạng thái chờ
Trang 32- Pha 1: mực được bơm vào buồng chứa Trong pha này, mực được đưa vào buồng chứa thông qua các lỗ nạp Khi bắt đầu làm việc, xung điện áp giảm
về 0, phần tử áp điện không còn bị biến dạng nên buồng chứa mực lúc này được mở rộng ra Điều này sẽ hình thành nên sóng nén âm (dãn nở) có tác dụng hút dung dịch mực từ hộp mực và vòi phun vào buồng chứa Điện thế sau đó được giữ nguyên không đổi (Hình 2.3)
Hình 2.3 Mực được đưa vào buồng chứa
- Pha 2: giọt mực được hình thành và đẩy ra khỏi vòi phun Điện áp tăng làm phần tử áp điện biến dạng, nén buồng chứa mực Áp suất nén hình thành đẩy mực ra ngoài (hình 2.4)
Hình 2.4 Mực được đẩy ra khỏi vòi phun [3]
Trang 33- Pha 3 và pha 4: đây là pha hồi phục với điện áp được đưa về pha 0 Buồng chứa mực được giải nén một phần ở pha 3 và được bơm đầy mực trong pha 4 để sẵn sàng cho chu kỳ làm việc tiếp theo (Hình 2.5) Pha 3 là pha không bắt buộc, nó được thêm vào với mục đích làm triệt tiêu các sóng âm còn dư lan truyền trong ống dẫn, giúp tối ưu hóa các đặc tính phun của đầu
in áp điện
Hình 2.5 Đầu in trở lại trạng thái ban đầu [3]
2.2 Các thiết bị phân tích
2.2.1 Kính hiển vi kim loại học
Mẫu sau khi in được quan sát và chụp ảnh bằng kính hiển vi kim loại học, được trang bị tại tại Phòng Thí Nghiệm Công nghệ Nano- ĐHQG TP.HCM
Kính hiển vi kim loại học (Metallurgical Inverted Microscope – GX51) cho phép ta quan sát bề mặt mẫu trong một vùng diện tích nhỏ với độ phóng đại 50, 100, 200, 500, 1000, 1500 lần Hình ảnh bề mặt mẫu được thu lại bằng máy ảnh kỹ thuật số
Ngoài ra, phần mềm ANALYSIS đi kèm trong máy tính là công cụ hỗ trợ đắc lực, giúp chúng ta dễ dàng điều chỉnh tiêu cự thấu kính để thu được
Trang 34hình ảnh chất lượng tốt nhất Bên cạnh đó, phần mềm còn cung cấp một số công cụ giúp chúng ta đo kích thước các giọt mực trên bề mặt đế
2.2.2 Thiết bị đo độ dày màng
Mẫu sau khi in được khảo sát độ dày màng bằng máy DEKTAK 6M tại tại Phòng Thí Nghiệm Công nghệ Nano- ĐHQG TP.HCM
Thiết bị này đo mẫu bằng bằng phương pháp cơ điện thông qua việc di chuyển mẫu bên dưới một đầu nhọn làm từ kim cương Bệ đặt mẫu di chuyển chính xác thông qua sự lập trình quãng đường, tốc độ và lực của đầu nhọn quét trên mẫu Đầu nhọn được gắn kèm bộ phận chuyển đổi cơ – điện
Khi bệ đặt mẫu di chuyển, đầu nhọn quét trên bề mặt mẫu Sự thay đổi bề mặt của mẫu làm đầu nhọn chuyển động lên xuống thẳng đứng Tín hiệu điện tương ứng với sự di động đó của đầu nhọn được tạo ra Những tín hiệu này sau đó được điều chỉnh và chuyển đổi về dạng dữ liệu số, sau đó phần mềm DEKTAK 6M đi kèm trong máy tính sẽ biểu diễn chúng trên đồ thị Phần mềm này còn cung cấp công cụ giúp xác định độ dày cần tìm
2.2.3 Thiết bị đo điện trở suất
Mẫu sau khi in được đo điện trở suất bằng thiết bị bốn mũi dò tại tại
Phòng Thí Nghiệm Công nghệ Nano- ĐHQG TP.HCM
Thiết bị bốn mũi dò dùng để đo điện trở suất của vật liệu bán dẫn, dẫn điện Bộ phận chính gồm bốn mũi dò bằng vonfram Mỗi mũi dò đều có gắn thêm một lò xo để nó có thể đàn hồi nhằm tránh làm hại mẫu Bốn mũi dò có thể di chuyển lên xuống trong quá trình đo Dòng điện cung cấp ở hai mũi bên ngoài, một vôn kế đo điện thế qua hai mũi bên trong để tính được điện trở suất của mẫu Khoảng cách giữa hai mũi, s, không đổi và khoảng 1 mm
Nguyên lý hoạt động: chúng ta xem các mũi dò là vô cùng bé và kích thước mặt bên của mẫu là bán vô hạn
Ta có công thức vi phân điện trở là:
Đối với những lớp có độ dày rất mỏng (t << s), dòng điện tỏa ra theo hình tròn Thay biểu thức diện tích A = 2 xt vào công thức trên rồi lấy tích phân:
Trang 35Như vậy, đối với R = V/2I, điện trở suất của màng mỏng là:
2.2.4 Phương pháp chụp ảnh trên kính hiển vi điện tử quét (SEM)
Ảnh kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscope) của màng sau khi in trên được chụp bằng máy Jeol 6600 tại Phòng Thí nghiệm
Công nghệ Nano - ĐHQG TP.HCM
Phương pháp SEM được sử dụng để xác định hình dạng và cấu trúc bề mặt của vật liệu Ưu điểm của phương pháp SEM là có thể thu được những bức ảnh chiều rõ nét và không đòi hỏi phức tạp trong khâu chuẩn bị mẫu Các bước ghi được ảnh SEM như sau: Một chùm electron được quét trên bề mặt mẫu và tạo ra một tập hợp các hạt thứ cấp đi tới detector, tại đây nó sẽ được chuyển thành tín hiệu điện, các tín hiệu này sau khi được khuếch đại đi tới ống tia catốt thì được quét lên ảnh
2.2.5 Thiết bị phổ tử ngoại khả kiến (UV-vis)
Các dung dịch polyme được đo bằng máy Cary 100 Conc của hãng Varian tại
Phòng Thí Nghiệm Công nghệ Nano- ĐHQG TP.HCM
2.3 Quy trình thực nghiệm
Quy trình chế tạo cảm biến đo khí NH3 bằng công nghệ in phun bao gồm 3 bước chính được trình bày trong hình 2.6
Trang 36Hình 2.6 Quy trình chế tạo cảm biến bằng công nghệ in phun
Thuyết minh qui trình chế tạo điện cực
Bước 1: Chuẩn bị đế cách điện - Quá trình oxidation để tạo lớp cách điện SiO2 trên đế Si
Trước khi tiến hành thực hiện các bước trong quy trình chế tạo, wafer silic cần phải được rửa để làm sạch bụi bẩn trên bề mặt Có nhiều cách khác nhau để làm sạch đế Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi chọn quy trình rửa đế chuẩn: 2~5 phút ngâm wafer silic lần lượt trong acetone, ethanol và