1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới ( WTO ) thực trạng và giải pháp luận văn ths kinh tế 5 02 01 pdf

107 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN AOA: Hiệp định vè nông nghiệp APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Na

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ

GIỚI (WTO) CỦA VIỆT NAM

10

1.1 Khái quát về Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) 10

1.2 Lợi ích và thách thức của Việt Nam khi gia nhập tổ chức WTO 20

WTO của Việt Nam

TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) CỦA VIỆT NAM 66

Trang 4

3.1 Một số quan điểm cơ bản về gia nhập WTO của Việt Nam 66 3.2 Những giải pháp để nâng cao hiệu quả gia nhập WTO của Việt Nam 69

3.2.1 Đổi mới về nhận thức, tạo sự thống nhất trong xã hội 70

3.2.2 Chủ động mở cửa nền kinh tế theo lộ trình thích hợp 71

3.2.3 Tạo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, lành mạnh cho các doanh nghiệp; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế

3.2.8 Cải cách hành chính và bộ máy điều hành của chính phủ 82

3.2.9 Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia để chủ động gia nhập WTO

84

Trang 5

QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

AOA: Hiệp định vè nông nghiệp

APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

DDA: Chương trình Doha về phát triển

DSB: Cơ quan giải quyết tranh chấp

DSU: Bản ghi nhớ về cách thức giải quyết tranh chấp

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

GATT: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

GSP: Hệ thống ưu đãi phổ cập

GEL Danh mục loại trừ hoàn toàn

IL Danh mục cắt giảm ngay

IPPC: Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật

MFA: Hiệp định đa sợi, nay thay bằng hiệp định dệt may (TCA)

NT: Đãi ngộ quốc gia

OECD: Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

SPS: Hiệp định về vệ sinh dịch tễ

TBT: Rào cản kỹ thuật đối với thương mại

TEL: Danh mục loại trừ tạm thời

TPRB: Cơ quan rà soát chính sách thương mại

Trang 6

TPRM: Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại

TQ: Hạn ngạch thuế quan

TRIMS: Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

TRIPS: Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại

WT/ACC/4 Biểu mẫu về hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu với nông

sản

WTO: Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là thực tế khách quan diễn ra với tốc độ nhanh chóng, vừa tạo ra cơ hội, vừa đưa tới những thách thức cho mọi quốc gia Việt Nam trong sự phát triển của mình không thể nằm ngoài các quá trình đó Cùng với việc thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và đạt được nhiều thành tựu

Thực hiện chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam coi việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là mục tiêu quan trọng Việc tham gia các hiệp định, điều ước quốc tế về kinh tế, thương mại trong WTO sẽ tạo ra nhiều cơ hội giúp cho nền kinh tế Việt Nam phát triển ổn định và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhưng việc gia nhập và theo đó là thực hiện các cam kết của WTO lại là một quá trình đầy cam go, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm thấu đáo để nền kinh tế có thể đứng vững và phát triển ổn định khi gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Xuất phát từ những bức xúc nêu trên, nhất là khi chúng ta đang đứng

trước ngưỡng cửa bước vào WTO, Tác giả luận văn chọn vấn đề: “Việt Nam

gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) - Thực trạng và giải pháp “

để làm đề tài Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị của mình

Trang 8

kinh tế quốc tế đã có diễn đàn trao đổi về vấn đề Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới Ở những bài viết này, các tác giả thường tập trung phân tích cơ hội, thách thức và diễn biến tình hình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO từ đó đưa ra giải pháp để đẩy nhanh việc gia nhập tổ chức thương mại

thế giới như: bài: “Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với nền kinh tế toàn

cầu hoá” của tác giả Nguyễn Văn Thanh đăng trên Tạp chí Cộng sản, bài:

"Việt Nam: Con đường tới WTO" của tác giả Vũ Xuân Trường đăng trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, bài "WTO - những thuận lợi và thách thức” của tác giả Hạnh Mai trên báo Hà Nội mới, bài: "Còn nhiều doanh nghiệp chưa

chuẩn bị cho "cuộc chơi" WTO" của tác giả Văn Minh Hoa đăng trên Báo Phụ

nữ Việt Nam

Đối với thể loại sách và công trình nghiên cứu khoa học, các tác giả có điều kiện phân tích sâu hơn vấn đề gia nhập WTO của Việt Nam, một số tác giả đã từng bước nghiên cứu nội dung các hiệp định của WTO và chỉ ra những cơ hội, thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO Điều này có thể tìm

thấy qua những tác phẩm như: “Việt Nam tích cực chuẩn bị gia nhập WTO

trong một số lĩnh vực dịch vụ” do TS Đinh Văn Ân chủ biên (Nxb Văn hoá -

Thông tin H.2004), “Gia nhập WTO Việt Nam kiên định con đường đã chọn” của tác giả Nguyễn Văn Thanh (Nxb Chính trị Quốc gia, H.2004), “Cơ hội và

thách thức (hay những điểm được và mất) của Việt Nam khi gia nhập WTO"

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ do Uỷ ban quốcgia về hợp tác kinh

tế quốc tế thực hiện năm 2001 Qua những công trình trên, các tác giả đều khẳng định sự cần thiết của việc gia nhập WTO, giới thiệu về Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cũng như đưa ra những thuận lợi và thách thức của các nước đang phát triển và Việt Nam khi tham gia quá trình này

Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu , bài báo, sách đề cập đến Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và việc gia nhập WTO của Việt Nam Tuy

Trang 9

nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, cập nhật

và có hệ thống về vấn đề gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam

Luận văn “Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) -

Thực trạng và giải pháp “ có sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những kết quả

nghiên cứu của các công trình kể trên Mặc dù vậy, đây là Luận văn có nội dung độc lập không trùng lặp với các công trình đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Trên cơ sở làm rõ những nội dung lý luận và thực tiễn của việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), luận văn đưa ra một số định hướng và giải pháp cơ bản để quá trình đó được thực hiện một cách hiệu quả, tốt đẹp

- Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

+ Khái quát về tổ chức thương mại thế giới WTO

+ Chỉ ra lợi ích, thách thức và sự cần thiết của việc Việt Nam gia nhập WTO

+ Phân tích và đánh giá thực trạng quá trình Việt Nam chuẩn bị gia nhập tổ chức WTO

+ Nêu ra những định hướng và giải pháp cơ bản để Việt Nam gia nhập tổ chức WTO một cách hiệu quả nhất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cùng với sự chuẩn bị của Việt Nam để gia nhập tổ chức này

Trang 10

- Phạm vi nghiên cứu:

Để có điều kiện đi sâu phân tích nội dung trọng tâm của quá trình Việt Nam gia nhập WTO, Tác giả Luận văn tự giới hạn phạm vi nghiên cứu ở chỗ chỉ nghiên cứu những nét cơ bản của WTO; Thực trạng Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO xét về mặt tổng thể để từ đó đưa ra những nhận xét và kết luận cần thiết theo mục đích của luận văn

5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế

- Nguồn tài liệu:

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:

+ Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được được công bố trên các sách, báo, tạp chí về WTO; về vấn đề gia nhập WTO của Việt Nam

+ Các Kỷ yếu Hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài luận văn

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp kết hợp lịch sử - lôgich, phương pháp

so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp lượng hoá, phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp sắp xếp có hệ thống các sự kiện.v.v

Trang 11

6 Đóng góp của Luận văn

- Về tư liệu: Luận án đã tập hợp, hệ thống hoá một khối lượng tư liệu khá phong phú, đa dạng về vấn đề gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam

- Nêu rõ cơ hội, thách thức của Việt Nam khi gia nhập tổ chức WTO -Đánh giá, tổng kết những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại của việc Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO trên khía cạnh toàn bộ nền kinh

tế

- Đưa ra chủ trương và giải pháp để Việt Nam gia nhập tổ chức WTO có hiệu quả nhất

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Chương 1: Những vấn đề chung về việc gia nhập Tổ chức Thương mại

Chương 2: Tiến trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của

Việt Nam

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc gia nhập

Trang 12

số nước tổ chức Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo bản “Hiến chương La Havana” để thành lập Tổ chức Thương mại quốc tế (ITO) với tư cách là cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý những biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển

Nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong việc phê chuẩn, nên việc hình thành Tổ chức thương mại Quốc tế đã không thực hiện được

Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên: “(45.000 ưu đãi về thuế được áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới) 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948”[63, tr.14]

Trang 13

Tuy nhiên sau đó, do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một sự thoả thuận về vấn đề thuế quan đã tỏ ra không thích hợp Do đó, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995

So với GATT thì WTO mở rộng hơn về các lĩnh vực và diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi thuế quan, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp

Mục tiêu của WTO:

Với tư cách là tổ chức thương mại toàn cầu, WTO có những mục tiêu cơ bản sau:

- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ, nâng cao việc

sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trên thế giới phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường thông qua việc tạo ra một tập hợp các quy tắc và nguyên tắc cho thương mại quốc tế, bảo đảm một môi trường minh bạch, dễ dự báo trong thương mại quốc tế WTO vẫn đảm đương trách nhiệm của GATT về thúc đẩy đàm phán đa phương nhằm tự do hoá thương mại, đã đóng góp vào phát triển và tăng trưởng kinh tế trong các quốc gia thành viên

- Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng

và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ

Trang 14

thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế; bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới

- Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng

Chức năng chính:

WTO thực hiện các chức năng chủ yếu sau:

- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ

- Đưa ra khuôn khổ chung và làm diễn đàn để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO

- Làm diễn đàn cho các thành viên giải quyết các tranh chấp thương mại

và thực thi cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thực hiện và giải thích các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên trong khuôn khổ WTO

- Thực hiện việc rà soát, giám sát các chính sách thương mại của các thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hoá thương mại và tuân thủ các quy định của WTO

- Trợ giúp về kỹ thuật và đào tạo cho các quốc gia đang phát triển

Trang 15

- Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu.[3, tr.222]

Nguyên tắc hoạt động:

Các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có nhiều và phức tạp trên các lĩnh vực như nông nghiệp, dịch vụ, thuế quan Tuy nhiên, xuyên suốt các hiệp định này là những nguyên tắc và chúng được coi là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương

Nguyên tắc thứ nhất là, thương mại không có sự phân biệt đối xử

Nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định về Quy chế đối xử tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT) mà nội dung chính là dành sự đối xử bình đẳng đối với các thương nhân, hàng hoá, dịch vụ của các bên tham gia thương mại Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ trong nguyên tắc này Chẳng hạn, các nước có thể thiết lập một hiệp định thương mại tự do áp dụng đối với những hàng hoá giao dịch trong một nhóm quốc gia, phân biệt với hàng từ bên ngoài nhóm

Nguyên tắc thứ hai là, tạo dựng một nền tảng ổn định, dễ dự đoán cho thương mại Các nước thành viên có nghĩa vụ công khai, minh bạch hoá các

chính sách của mình, cam kết sẽ không có những thay đổi bất lợi cho thương mại Đôi khi cam kết bảo đảm sự ổn định các hàng rào thương mại (thuế quan

và phi thuế quan) đem lại sự an tâm rất lớn cho các nhà đầu tư Với sự ổn định, dễ dự đoán, thì việc đầu tư sẽ được khuyến khích, việc làm sẽ được tạo

ra nhiều hơn và người tiêu dùng, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường

Trang 16

Nguyên tắc thứ ba là, đảm bảo thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán Các hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho

phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương Đến nay có 8 vòng đàm phán đa phương kể từ khi GATT được hình thành vào năm 1947

Nguyên tắc thứ tư là, tạo môi trường cạnh tranh ngày càng lành mạnh

và bình đẳng hơn WTO không cho phép các hành vi cạnh tranh không lành

mạnh trong thương mại quốc tế, ví dụ như bán phá giá, trợ cấp hàng hoá, hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định Tuy nhiên, WTO vẫn cho phép các nước được áp dụng các biện pháp tự vệ như bảo hộ, thuế quan khi nền sản xuất trong nước bị đe doạ, bị gây thiệt hại bởi hàng nhập khẩu

Nguyên tắc thứ năm là, điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát triển Hiện nay, 3/4 thành viên của WTO là các nước đang phát triển và kém

phát triển Thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế chuyển đổi những ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nước này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thương mại đa phương [3, tr.225]

Các ưu đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ nào đó hay có thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách

Các hiệp định chính trong WTO:

Trang 17

Các hiệp định của WTO điều chỉnh các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ Chúng đề ra những nguyên tắc về

tự do hoá và những ngoại lệ được phép áp dụng; nêu lại cam kết của từng nước về giảm thuế quan và các rào cản thương mại khác, về mở cửa và duy trì

mở cửa thị trường dịch vụ; quy định thủ tục giải quyết tranh chấp; quy định các nước đang phát triển phải được đối xử đặc biệt; buộc các chính phủ phải bảo đảm minh bạch trong chính sách thương mại bằng cách thông báo cho WTO biết những luật lệ hiện hành và các biện pháp được áp dụng trong nước song song với các báo cáo định kỳ của Ban thư ký về chính sách thương mại của các nước

Các hiệp định này thường được gọi là các luật lệ thương mại của WTO

và WTO thường được miêu tả như là một hệ thống hoạt động dựa trên các luật lệ

Để điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế, WTO có 16 hiệp định chính như: Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994); Hiệp định

về Hàng rào Kỹ thuật trong thương mại (TBTs); Hiệp định về các Biện pháp

vệ sinh kiểm dịch (SPS); Hiệp định về Thủ tục cấp phép xuất nhập khẩu (ILP); Hiệp định về Quy tắc xuất xứ (ROO); Hiệp định về Kiểm tra trước khi giao hàng (PSI); Hiệp định Trị giá tính thuế hải quan (ACV); Hiệp định về các Biện pháp tự vệ (ASG); Hiệp định về Trợ cấp (SCM) và Phá giá (ADP); Hiệp định về Nông nghiệp (AOA); Hiệp định về Thương mại hàng dệt may

và may mặc (ATC); Hiệp định về các Biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS); Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) và thoả thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU) [3, tr.226]

Tất cả các thành viên WTO đều phải tham gia vào các hiệp định nói trên, quy định này gọi là sự chấp thuận cả gói Bên cạnh đó WTO vẫn duy trì 2

Trang 18

hiệp định nhiều bên, các thành viên WTO có thể tham gia hoặc không tham gia, đó là: Hiệp định về buôn bán máy bay dân dụng; Hiệp định về mua sắm của Chính phủ Còn 2 hiệp định nhiều bên khác là Hiệp định quốc tế về các sản phẩm sữa; Hiệp định quốc tế về thịt bò thì cuối năm 1997, WTO đã chấm dứt và đưa những nội dung của chúng vào phạm vi điều chỉnh của các Hiệp định Nông nghiệp và Hiệp định về các Biện pháp vệ sinh kiểm dịch

Về cơ cấu tổ chức:

Hiện nay WTO có 148 nước, lãnh thổ thành viên, chiếm 97% thương mại toàn cầu và có khoảng gần 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gia nhập

WTO là một tổ chức thuộc về các thành viên của mình Tất cả các quyết định quan trọng đều có sự tham gia của toàn thể các thành viên WTO có một

cơ cấu gồm 3 cấp:

- Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định bao gồm Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại

- Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương, bao gồm Hội đồng GATT, Hội đồng GATS, Hội đồng TRIPS

- Cuối cùng là cơ quan thực hiện chức năng hành chính – thư ký là Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO

Hội nghị Bộ trưởng WTO: là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của

WTO, họp ít nhất 2 năm một lần, thành viên là đại diện cấp Bộ trưởng của tất

cả các nước thành viên Hiệp định thành lập WTO quy định Hội nghị Bộ

Trang 19

trưởng WTO thực hiện tất cả các chức năng của WTO và có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tất cả các hiệp định thương mại đa biên của WTO

Đại hội đồng: Dưới Hội nghị Bộ trưởng là Đại hội đồng, thường họp

nhiều lần trong một năm tại trụ sở chính của WTO ở Geneva Đại hội đồng hoạt động thay mặt Hội nghị Bộ trưởng giải quyết tất cả các công việc liên quan đến WTO trong thời gian giữa các kỳ họp Hội nghị Bộ trưởng Thành viên của Đại hội đồng WTO là đại diện ở cấp đại sứ của Chính phủ tất cả các nước thành viên Nhiệm vụ chính của Đại hội Đồng là giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên, giám sát việc thực hiện các hiệp định

và rà soát các chính sách của WTO

Đại hội đồng có quyền thành lập các Uỷ ban giúp việc và báo cáo trực tiếp lên Đại hội đồng là: Uỷ ban về thương mại và phát triển; Uỷ ban về các hạn chế cán cân thanh toán; Uỷ ban về ngân sách, tài chính và quản trị; Uỷ bân về các hiệp định thương mại khu vực Ba Uỷ ban đầu được thành lập theo hiệp định về thành lập WTO, Uỷ ban cuối cùng được thành lập vào tháng 2/1996 theo quyết định của Đại hội đồng WTO

Ngoài ra còn có hai Uỷ ban là “Uỷ ban về hàng không dân dụng” và “Uỷ ban về mua sắm chính phủ” được thành lập theo quyết định của Vòng đàm phán Tokyo nhưng có số thành viên hạn chế (chỉ những nước ký kết các “bộ luật” có liên quan của Vòng Tôkyo mới được tham gia) Hai uỷ ban này hoạt động trong khuôn khổ của WTO nhưng không phải báo cáo mà chỉ có nghĩa

vụ thông báo thường xuyên về hoạt động của họ lên Đại hội đồng WTO Dưới Đại hội đồng có ba hội đồng trực thuộc là Hội đồng Thương mại hàng hoá (GATT), Hội đồng thương mại dịch vụ (GATS) và Hội đồng giám sát về các vấn đề liên quan đến quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS) Như tên gọi đã chỉ rõ, các hội động này chịu trách nhiệm giám sát sự vận hành của các hiệp định được ký kết của WTO theo từng lĩnh vực được phân công Trong từng

Trang 20

hội đồng này cũng bao gồm đại diện tất cả các thành viên WTO và cũng có các cơ quan trực thuộc

Ngoài ra còn có các cơ quan được các Hội đồng của WTO thành lập với

tư cách là cơ cấu trực thuộc để giúp các hội đồng này trong việc thực hiện các chức năng kỹ thuật, ví dụ như “Uỷ ban về thâm nhập thị trường”, “Uỷ ban về trợ giá nông nghiệp” và các “Nhóm công tác” được thành lập tạm thời để giải quyết những vấn đề cụ thể, ví dụ như các “Nhóm công tác về việc gia nhập WTO” của một số nước

Hầu hết các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự nhất trí chung, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu Khác với các tổ chức khác, mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau

Tại Hội nghị Bộ trưởng và Đại hội đồng, các quyết định thường được thông qua trên cơ sở đa số phiếu Tuy nhiên, những quyết định có ảnh hưởng tới những điều khoản quan trọng trong các hiệp định của WTO thì nhất thiết phải đạt được đa số 3/4 hoặc 2/3 số phiếu thuận

Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO: Khác với GATT 1974, WTO có một

ban thư ký rất quy mô, bao gồm khoảng 500 viên chức và nhân viên thuộc biên chế chính thức của WTO Đứng đầu ban thư ký WTO là Tổng giám đốc WTO Tổng giám đốc WTO do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm Ngoài vai trò điều hành, Tổng giám đốc của WTO còn có một vai trò chính trị rất quan trọng trong hệ thống thương mại đa phương Chính vì vậy

mà việc lựa chọn các ứng cử viên vào chức vụ này luôn là một cuộc chạy đua

ác liệt giữa các nhân vật chính trị quan trọng

Trang 21

Quyền hạn và trách nhiệm của Tổng giám đốc do Hội nghị Bộ trưởng quyết định Biên chế Ban thư ký WTO do Tổng giám đốc quyết định Tổng giám đốc và thành viên Ban thư ký WTO có quy chế hoạt động tương tự như của viên chức các tổ chức quốc tế, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo các quyết định và tôn chỉ của WTO Họ được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ tương tự như viên chức của các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Tổ chức Thương mại thế giới

HỘI NGHỊ BỘ TRƯỞNG

Đại hội đồng nhóm họp với

chức năng là Cơ quan giải

quyết tranh chấp

Đại hội đồng nhóm họp với chức năng là Cơ quan rà soát chính sách thương mại Đại hội đồng

Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Hội đồng về thương mại dịch

vụ

Trang 22

Nguồn: Tìm hiểu Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, trang 212

1.2 Lợi ích và thách thức của Việt Nam khi gia nhập tổ chức WTO

Trang 23

Đồng thời các nước trong WTO cũng không được phân biệt đối xử giữa hàng hoá trong nước và hàng hoá nước ngoài

Do vậy, khi gia nhập WTO hàng hoá của Việt Nam sẽ có sự cạnh tranh bình đẳng với hàng hoá nước ngoài ở trên thị trường thế giới Nền kinh tế Việt Nam sẽ ít bị tổn thương bởi những hành vi bảo hộ mậu dịch hoặc trừng phạt kinh tế của các quốc gia khác trong trường hợp có tranh chấp kinh tế, thương mại hay những lý do chính trị nào đó

Hai là, Việt Nam có một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại công bằng hơn

WTO là diễn đàn thương mại mà ở đó, mọi thành viên có quyền tự bảo

vệ mình khi xảy ra tranh chấp thương mại Tuy nhiên, trong phạm vi GATT,

cơ chế giải quyết tranh chấp có nhiều hạn chế Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) mới được thành lập trong WTO có nhiều ưu điểm Đặc điểm chung của cơ chế này là tính thống nhất và chắc chắn Trước hết, DSB khuyến khích

và cho phép các nước thành viên đàm phán để đi đến một biện pháp hoà giải Nếu thất bại, một ban giải quyết tranh chấp sẽ được thành lập để phân xử và nhờ một cơ quan kháng án đưa ra quyết định cuối cùng (Uỷ ban kháng nghị) Tất cả các phán quyết cuối cùng này phải được các bên có liên quan chấp thuận Nếu kết quả giải quyết tranh chấp không được thi hành nghiêm túc, bên có quyền lợi bị vi phạm có thể áp dụng những biện pháp trả đũa

Việc thiết lập toà án quốc tế này đã làm cho hiệu quả của hệ thống thương mại đa biên được nâng cao rất nhiều Nó đưa những luật lệ vào thế giới thương mại, một thế giới mà trước đây những nước yếu không đủ sức kháng cực lại những nước mạnh Giờ đây, những nước yếu như Việt Nam có quyền thương lượng và khiếu nại một cách công bằng hơn với các cường quốc thương mại trong tranh chấp dựa trên những luật lệ chung

Trang 24

Liên hệ tới tranh chấp thương mại của Việt Nam, vụ kiện chống bán phá giá cá tra và basa của Hoa Kỳ, kết luận của Bộ Thương mại Hoa Kỳ là phi lý, không công bằng nhưng nếu là thành viên của WTO, ta có thể đưa vụ kiện này ra WTO để đòi sự công bằng hơn

Ba là, người tiêu dùng và các doanh nghiệp được lợi từ việc giảm giá hàng hoá

Thương mại tự do sẽ giảm chi phí cuộc sống Chúng ta đều là những người tiêu dùng Giá cả mà chúng ta trả cho thức ăn, quần áo, những vật dụng cần thiết, và tất cả mọi thứ đều chịu tác động của chính sách thương mại Chủ nghĩa bảo hộ dẫn đến độc quyền đắt đỏ, làm tăng giá cả hàng hoá Hệ thống toàn cầu WTO đã giảm bớt các hàng rào mậu dịch thông qua thương lượng và áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử Kết quả là chi phí sản xuất giảm (vì hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất rẻ hơn), giá hàng hoá thành phẩm và dịch vụ giảm và cuối cùng là chi phí cuộc sống thấp hơn

Các lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ được mở cửa, một số ngành sẽ có sự xuất hiện của nước ngoài, tính cạnh tranh sẽ cao cùng với chất lượng hàng hoá, dịch vụ được cải thiện và giá cả hàng hoá, dịch vụ giảm xuống Chẳng hạn, ngành hàng không sẽ bị cạnh tranh bởi chính sách mở cửa bầu trời, việc

đi lại sẽ thuận lợi hơn cho người dân với mức giá hợp lý, khách hàng nước ngoài sẽ đến Việt Nam ngày một nhiều hơn

Khi tham gia WTO, các doanh nghiệp Việt Nam phải vươn lên để cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài trên thị trường quốc tế và ngay ở thị trường trong nước Quá trình cạnh tranh sẽ thúc đẩy giảm chi phí kinh doanh, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo thêm công ăn việc làm và kết quả là nâng cao chất lượng của cả nền kinh tế

Trang 25

Bốn là, thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia khác, nâng cao vị thế của Việt Nam trong các hoạt động kinh tế và chính trị toàn cầu

Hiện nay, thương mại giữa 148 nước thành viên WTO chiếm tới hơn 90% khối lượng thương mại thế giới Nếu các nước đang là quan sát viên được kết nạp, số thành viên WTO có thể lên trên 170 nước, nghĩa là tuyệt đại

đa số các quốc gia trên thế giới sẽ là thành viên của WTO Do vậy, tham gia vào WTO Việt Nam có thị trường thương mại toàn cầu, có mối quan hệ kinh

tế với hầu hết các nước trên thế giới, điều này tạo ra rất nhiều thuận lợi thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển, vị thế của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới được nâng cao

Hai nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại thế giới là giúp cho thương mại được thuận lợi và giải quyết các tranh chấp bình đẳng sẽ tạo dựng

và duy trì sự hợp tác và lòng tin giữa các quốc gia, phần nào đã góp phần mang lại hoà bình, ổn định cho thế giới Việt Nam tham gia vào WTO sẽ có

cơ hội để nâng cao vai trò của mình trong hệ thống chính trị toàn cầu

Tham gia WTO làm tăng sức mạnh tổng hợp của ta khi phải đấu tranh với các nước mạnh hơn về kinh tế, thương mại Các quyết định tại WTO được thương lượng và đưa ra trên cơ sở nhất trí và được áp dụng với tất cả các bên Theo quy định, tất cả các nước, bất kể giàu nghèo, đều có quyền bình đẳng như nhau theo các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO Đứng ngoài một chế độ buôn bán đa phương như WTO, ta dễ bị các nước mạnh hơn dùng sức

ép áp đặt ý chí Tham gia WTO ta cũng có thể tăng thêm sức mạnh của mình bằng việc tham gia các liên minh, tập hợp lực lượng cùng phối hợp đấu tranh cho các lợi ích chung (tập hợp các nước đang phát triển, tập hợp các nước

Trang 26

ASEAN ) bởi vì một nước nhỏ tự mình đối phó với các cường quốc kinh tế đương nhiên sẽ khó hơn

Năm là, tham gia vào WTO sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Đối với Việt Nam hiện nay, xuất khẩu và đầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Khi tham gia vào WTO hàng hoá Việt Nam sẽ có thị trường xuất khẩu lớn do không gặp phải hàng rào bảo hộ thuế quan, phi thuế quan nên xuất khẩu sẽ tăng nhanh góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Hiện nay, WTO có Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) điều chỉnh lĩnh vực đầu tư nước ngoài Theo Hiệp định này, các nước thành viên sẽ phải loại bỏ một số biện pháp hạn chế đầu tư trái với TRIMS Để gia nhập WTO, Việt Nam phải có chương trình hành động để thực hiện hiệp định TRIMS nhằm từng bước loại bỏ những hạn chế không hợp lý Một khi những hạn chế như vậy được dỡ bỏ, môi trường đầu tư sẽ trở nên hấp dẫn hơn và Việt Nam sẽ thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào trong nước từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế

Sáu là, thúc đẩy công cuộc cải cách kinh tế xã hội và giúp chính phủ hoạt động tốt hơn

Công cuộc cải cách kinh tế ở nước ta được thực hiện từ năm 1986, trải qua gần 20 năm đã thu được những thành tựu nhất định Tuy nhiên cũng còn rất nhiều vấn đề nan giải cần phải được giải quyết tiếp tục Để tiếp tục đi sâu

và đẩy mạnh cải cách trong nước, Việt Nam cần phải có động lực mới Việc gia nhập WTO sẽ là động lực bên ngoài thúc đẩy mạnh mẽ cải cách trong nước Bởi vì, việc thực hiện những cam kết và luật lệ của WTO sẽ đẩy nhanh tốc độ cải cách trong nước Nhân tố WTO sẽ đưa cải cách trong nước phát triển mạnh mẽ đến mức mà những tác động trong nước sẽ khó đạt được Gia

Trang 27

nhập WTO, Việt Nam phải cam kết áp dụng và giám sát hệ thống luật của mình theo các nguyên tắc quốc tế: minh bạch, hợp lý, công bằng và đồng bộ; Phải tăng cường thực hiện các cải cách kinh tế vĩ mô để sao cho vừa đáp ứng được những yêu cầu của quá trình tự do hoá thương mại, vừa có thể tranh thủ được tối đa những lợi ích mà nó mang lại; Phải thực sự nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo ra những lực lượng kinh tế mạnh có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế

Lợi ích lớn nữa mà WTO mang lại là nó hạn chế và tránh cho các chính phủ khỏi sa vào quyền lợi hẹp hòi, cục bộ trước mắt mà không nghĩ tới lợi ích lâu dài của cả đất nước

Hệ thống WTO còn giúp và khuyến khích Chính phủ hoạt động tốt hơn thông qua hệ thống minh bạch hoá chính sách, làm cho chính sách rõ ràng, dự đoán được, loại bỏ sự can thiệp tuỳ tiện tác động tiêu cực đến phát triển kinh

tế, thương mại, loại bỏ dần tham nhũng và giảm bớt tình trạng gian lận thương mại

Bảy là, các doanh nghiệp mở rộng môi trường hoạt động, tiếp cận được khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực bên ngoài

Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp sẽ không bị bó hẹp trong các hiệp định song phương và khu vực mà “sẽ có thị trường toàn cầu,

có điều kiện tìm kiếm vốn, công nghệ và kỹ thuật hiện đại cho sản xuất, có điều kiện học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp cận hệ thống chính sách, pháp luật thương mại quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh, trình độ chuyên môn trong tiến trình đất nước hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và quốc tế”[49, tr.3]

Với sự cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối xử, tiêu thụ hàng hoá của Việt Nam trên thị trường thế giới sẽ mạnh mẽ hơn, dễ dàng hơn, thuận lợi

Trang 28

hơn Đây chính là động lực để khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và thâm nhập vào thị trường thế giới

Hệ thống chính sách của Việt Nam được làm rõ theo quy định của WTO

sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư yên tâm đầu tư vào Việt Nam, tăng khả năng thu hút vốn, công nghệ và học hỏi được các kinh nghiệm quản lý tiên tiến Một ví dụ ở Trung Quốc cho thấy, sau khi gia nhập WTO, đầu tư nước ngoài năm 2002 của Trung Quốc tăng vọt lên trên 50 tỷ USD

Tám là, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải vươn lên để tồn tại

Theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, Việt Nam đương nhiên được hưởng các quyền lợi liên quan đến giảm thuế của các nước thành viên khác Chi phí và nguyên liệu đầu vào thấp sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam

có khả năng cạnh tranh tốt hơn và chính sách thuế mới cũng sẽ giúp các nhà kinh doanh cơ cấu lại sản phẩm một cách hợp lý và hiệu quả hơn

Ngoài ra, những ngành sản xuất mà năng lực cạnh tranh hiện nay đang kém sẽ gặp khó khăn và chịu nhiều thách thức Nhưng khi bị dồn đến chân tường, các doanh nghiệp sẽ phải tự vươn lên để tồn tại và phát triển

Tóm lại, gia nhập WTO là cơ hội lớn và là sự lựa chọn đúng đắn với Việt Nam Gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn cho đất nước: Phát triển mạnh mẽ thương mại, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kích thích tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh cải cách kinh tế trong nước

1.2.2 Những thách thức

Thứ nhất, phải mở cửa thị trường trong nước, cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn ngay tại thị trường trong nước

Trang 29

Để có thể gia nhập WTO, Việt Nam bắt buộc phải mở cửa nền kinh tế, phải giảm thuế quan và dỡ bỏ các hàng rào phi thuế, không được bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước hay trợ cấp xuất khẩu Mức độ mở cửa của nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào kết quả đàm phán đa phương và song phương đối với các mặt hàng cụ thể Vì vậy, hàng hoá nước ngoài sẽ tràn vào thị trường Việt Nam tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt ở thị trường nội địa

Trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc

cơ bản của WTO như tối huệ quốc (MFN), đãi ngộ quốc gia (NT), cam kết

mở cửa thị trường Tuy nhiên, hiện tại vẫn tồn tại những khó khăn nhất định đối với Việt Nam trong việc mở cửa các lĩnh vực tài chính và viễn thông Tài chính là một ngành chịu sự kiểm soát lớn của chính phủ Mặc dù trải qua hơn

15 năm cải cách, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã tương đối phát triển và được hiện đại hoá đáng kể, tuy nhiên vẫn còn tồn tại hàng loạt vấn đề như: việc cho vay mang tính chất bao cấp vẫn còn nặng nề, tình hình nợ khó đòi khá nghiêm trọng, khả năng cạnh tranh thực sự của các ngân hàng Việt Nam còn yếu kém Trong khi đó, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải cam kết

mở cửa lĩnh vực tài chính, ngân hàng cho các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp này sẽ được hưởng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia, tức là họ

sẽ có những đặc quyền giống như các doanh nghiệp nội địa Lúc đó các ngân hàng Việt Nam sẽ phải tham gia cạnh tranh thực sự

Thị trường chứng khoán ở Việt Nam mới được hình thành trong những năm gần đây, còn hết sức sơ khai Luật và cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn rất nhiều thiếu sót và không rõ ràng Trong khi

đó gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực này

Ngành viễn thông của Việt Nam trong thời gian qua đã có sự phát triển khá nhanh và năng động, tuy nhiên nó vẫn là ngành bị chính phủ kiểm soát

Trang 30

khá lớn Đối với các công ty nước ngoài mặc dù đã có sự mở cửa nhất định nhưng còn bị hạn chế cả về lĩnh vực, mức độ tham gia cổ phần cũng như lộ trình thực hiện Khi tham gia WTO, Việt Nam sẽ phải mở cửa thực sự khu vực này, vì vậy vấn đề độc quyền của ngành viễn thông và khả năng cạnh tranh thực sự của nó cần phải được tính đến

Việt Nam là một nước nông nghiệp, nhưng vẫn tồn tại nhiều yếu kém nội tại trong sự phát triển nông nghiệp Khu vực nông nghiệp của Việt Nam còn lạc hậu về cơ sở vật chất kỹ thuật lẫn cơ chế quản lý, chất lượng sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam chưa cao (cả về tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh và an toàn thực phẩm ) Tất cả những điều đó sẽ làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của nông phẩm Việt Nam ngay trên thị trường trong nước khi Việt Nam gia nhập WTO bởi vì hàng hoá nông phẩm của Việt Nam phải đối mặt với nông phẩm nhập khẩu có giá thành hạ từ nước ngoài

Thứ hai, sức ép cải cách các doanh nghiệp Việt Nam sẽ lớn, nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc chuyển đổi sản xuất kinh doanh

Theo đánh giá năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn thấp Số các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ lớn (65% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng, hầu hết chưa xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình…) Vì thế khi gặp phải sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài chắc chắn nhiều doanh nghiệp phải chuyển đổi sản xuất kinh doanh hoặc thu hẹp sản xuất hoặc giải thể

Gia nhập WTO, trong giai đoạn đầu, do độc quyền bị loại bỏ, bao cấp và trợ cấp của nhà nước bị cắt giảm, do đó hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước vẫn quan trông chờ vào sự bảo trợ của nhà nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề

Trang 31

Thứ ba, phải tiến hành bảo hộ trí tuệ cho các sản phẩm nước ngoài, sửa đổi quy định về đầu tư, thương mại theo hướng có lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài

Tại vòng đàm phán Urugoay, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) đã được ký kết Đây là một vấn

đề quan trọng, thường xuyên được đưa ra bàn bạc trong WTO, đây cũng là vấn đề bất đồng về lợi ích giữa các nước phát triển và đang phát triển

Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện các cam kết về quyền sở hữu trí tuệ Ngoài những quy định về nhãn hiệu thương mại, Luật bản quyền tác giả và việc bảo vệ các thiết kế công nghiệp, Việt Nam chưa có các luật về các chương trình âm thanh, hình ảnh, chương trình phần mềm máy tính Các công ty cũng như người dân Việt Nam chưa

có thói quen tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ Trong khi đó các thành viên WTO lại rất quan tâm đến vấn đề này và coi đó là nội dung quan trọng trong các cuộc đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam

Việt Nam cũng phải điều chỉnh, sửa đổi lại các quy định về đầu tư, thương mại theo hướng có lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài như phải mở cửa thị trường một số ngành dịch vụ quan trọng mà trước đây doanh nghiệp nước ngoài không được phép tiếp cận; Đối xử công bằng với doanh nghiệp nước ngoài như doanh nghiệp trong nước theo quy chế đãi ngộ quốc gia

Thứ tư, phải cải cách kinh tế, hoàn thiện chính sách, pháp luật cho phù hợp quy định của tổ chức WTO

Sau gần 20 năm thực hiện chính sách mở cửa và đổi mới, 10 năm chuẩn

bị cho việc gia nhập WTO, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khi tham gia vào WTO, thách thức đối với việc thực hiện các cam kết về luật

Trang 32

pháp, thể chế và đặc biệt là mở cửa thị trường trong lĩnh vực dịch vụ nhạy cảm như tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, điện lực chắc chắn sẽ rất lớn

Với hệ thống chính sách thương mại và các chính sách vĩ mô có liên quan của Việt Nam còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ như hiện nay thì việc điều chỉnh những chính sách thương mại cũ và xây dựng các chính sách thương mại mới cho phù hợp các nguyên tắc của WTO, đồng thời hướng dẫn thực hiện có hiệu quả các chính sách nêu trên là công việc cấp thiết, khó khăn đồi hỏi một sự nỗ lực của cả Chính phủ lẫn doanh nghiệp Nhiều quy định luật pháp cần tiếp tục được rà soát và bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với quy định của WTO

Có thể nói, gia nhập WTO có thể là cuộc trắc nghiệm khó khăn nhất đối với hệ thống luật pháp của Việt Nam Việt Nam phải cam kết thực hiện những tiêu chuẩn quốc tế về sự minh bạch, tính đồng bộ, tính công bằng và tính hợp

lý Công bố công khai: các luật, quy định và các quyết định của toà án liên quan đến thương mại cần phải được công bố công khai để cho công chúng và thế giới biết trước khi chúng có hiệu lực Mọi yêu cầu về thông tin, thắc mắc

và bình luận đều phải được giải đáp Tính đồng bộ có nghĩa là các chính quyền địa phương không được đưa ra những đạo luật riêng không thống nhất với những quy định của WTO, tức là chính quyền địa phương phải tuân thủ các nguyên tắc của WTO Tính công bằng yêu cầu không chấp nhận bất cứ sự thiên vị nào trong việc thực hiện pháp luật Để tuân thủ tính đồng bộ và tính công bằng, các đạo luật cũng phải mang tính chất hợp lý, phù hợp So với những tiêu chuẩn quốc tế đó thì hệ thống luật pháp của Việt Nam còn nhiều yếu kém Ngoài ra, tuy Việt Nam đã có Luật thương mại và Luật đầu tư nước ngoài, nhưng chúng ta còn thiếu nhiều luật trong những lĩnh vực thương mại

Trang 33

cụ thể Điều đó sẽ gây khó khăn đáng kể cho Việt Nam khi làm việc với các công ty nước ngoài

1.2.3 Sự cần thiết của việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa lại những thời

cơ mới thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức, khó khăn cho Việt Nam, nhưng Việt Nam vẫn kiên quyết xin gia nhập WTO vì lý do sau:

Thứ nhất, xét trên tổng thể toàn bộ nền kinh tế chúng ta được lợi nhiều hơn là mất

Lợi ích lớn nhất của việc gia nhập WTO là thị trường xuất khẩu hàng hoá cho Việt Nam rộng mở Hàng hoá Việt Nam xuất đi nước ngoài sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn vướng nhiều rào cản về thuế, hạn ngạch như hiện nay nữa

Nhưng, điều các doanh nghiệp lo ngại nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO phải xoá bỏ bảo hộ và họ sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh mạnh hơn từ bên ngoài Tuy nhiên, theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, chính áp lực cạnh tranh lại là lợi ích mà Việt Nam sẽ được thụ hưởng Cạnh tranh sẽ sàng lọc những doanh nghiệp kém hiệu quả, hiện đang là gánh nặng cho nền kinh

tế và buộc các doanh nghiệp khác phải tự hoàn thiện mình để vươn lên Đồng thời, nó còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp và người tiêu dùng sử dụng hàng hoá, dịch vụ với giá rẻ, qua đó kích thích nhu cầu tiêu thụ trong nước, làm cho kinh tế phát triển

Trang 34

Một trong những điểm bất lợi với Việt Nam là việc cắt giảm thuế sẽ làm giảm nguồn thu cho ngân sách từ thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu có thể giảm, nhưng tổng thu ngân sách của Nhà nước thì chưa hẳn sẽ ít hơn Thuế nhập khẩu giảm, nhưng bù lại, nhờ giá hàng hoá giảm nhu cầu tiêu thụ sẽ tăng lên, sản xuất phát triển, nên Nhà nước sẽ thu được nhiều thuế trong nước hơn

Do đó, phần giảm thu ngân sách thực tế sẽ ít đi Đó là chưa kể những lợi ích

về gia tăng việc làm cho xã hội

Trong thực tế, dù nhiều ngành công nghiệp đang được bảo hộ bằng thuế, nhưng các doanh nghiệp vẫn phải chịu áp lực cạnh tranh rất mạnh từ hàng nhập lậu và gian lận thương mại Những ngành được bảo hộ càng mạnh, như mía đường, kính xây dựng, xi măng thì hàng lậu càng nhiều Do đó, khi bãi

bỏ hàng rào bảo hộ để hội nhập, một số ngành chưa hẳn đã phải chịu áp lực cạnh tranh mạnh mẽ

Cùng lúc đó, các nước cũng phải bãi bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan đối với hàng nhập từ Việt Nam, giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu được nhiều hơn Còn Nhà nước thì thu lại được những khoản thuế mà bấy lâu nay không thu được từ hàng lậu

Đánh thuế nhập khẩu cao để bảo hộ cũng là một cách gián tiếp đánh thuế vào xuất khẩu, làm cho năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam bị giảm Thuế nhập khẩu cao làm cho hàng hoá trong nước đắt, buộc doanh nghiệp phải tăng tiền lương cho công nhân để bảo đảm mức sống tối thiểu cho

họ Đồng thời doanh nghiệp cũng phải tăng chi phí đầu tư ban đầu do phải mua xi măng, thép, ô tô với giá cao để xây nhà xưởng và tạo tài sản cố định

Thứ hai, Tổ chức WTO có những luật lệ đảm bảo sự công bằng hơn cho

hàng hoá Việt Nam trong tranh chấp thương mại quốc tế

Trang 35

Trong thời gian qua, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại khu vực và song phương, nhưng hàng hoá Việt Nam vẫn bị đối xử không công bằng Vi dụ vụ Mỹ áp dụng biện pháp trừng phạt về vấn đề cá da trơn và tôm của Việt Nam trên thị trường Mỹ Việt Nam đặc biệt lo ngại rằng nếu không được luật lệ của WTO bảo vệ thì Mỹ và các quốc gia khác có thể lại kiện Việt Nam về các mặt hàng xuất khẩu đang mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam như giày dép và hàng dệt may

Có thể nói, cơ chế đa phương của WTO tạo cơ sở pháp lý, chính trị cho các nước thành viên để ứng dụng với các nước có quan hệ song phương WTO đưa ra cơ chế xử lý tranh chấp đảm bảo sự công bằng cho hàng hoá của các nước nhỏ trước sự bảo hộ của các nước lớn Điển hình như vụ kiện cá tra,

cá ba sa và gần đây là vụ kiện tôm giữa Việt Nam và Mỹ Nếu đã là thành viên WTO, Việt Nam có thể đưa các vụ kiện trên ra trước uỷ ban WTO, chứ không phải là tại Bộ Thương mại Mỹ - nơi khó có thể đạt được sự phân xử công bằng như Việt Nam mong đợi Như vậy, Việt Nam cần phải đạt mục đích vào WTO để sử dụng cơ chế hoạt động của tổ chức này nhằm bảo vệ lợi ích hàng hoá và của các doanh nghiệp Việt Nam

Thứ ba, nếu không gia nhập WTO, thương mại Việt Nam sẽ gặp phải khó khăn và có nguy cơ phải chấp nhận những sức ép ngày càng lớn

Nếu không gia nhập WTO sớm, Việt Nam bõ lỡ cơ hội quan trọng để đẩy nhanh quá trình mở cửa và thúc đẩy kinh tế, và do đó chúng ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn lớn hơn Nguy cơ tụt hậu ngày càng xa là không tránh khỏi do chênh lệch phát triển giữa Việt Nam và các nước ngày càng tăng thêm Việc gia nhập WTO sẽ trở nên phức tạp hơn, các cuộc đàm phán

sẽ khó khăn hơn do các quy định và điều kiện gia nhập WTO ngày càng chặt chẽ, yêu cầu ngày càng cao

Trang 36

Khi vòng đàm phán Doha kết thúc, các nước sẽ ký thêm một số thoả thuận mở cửa thị trường, khi đó các nghĩa vụ mà Việt Nam nghiễm nhiên phải gách vác (không được đàm phán mà chỉ phải chấp nhận) sẽ lớn hơn rất nhiều Người ta hay gọi đó là “WTO +” Thực tế thì Việt Nam đang đàm phán trên

cơ sở WTO +, nhưng nghĩa vụ cũng sẽ nặng nền hơn rất nhiều Nếu Việt Nam không gia nhập WTO sớm, nguy cơ rõ nhất có thể thấy được đó là thương mại Việt Nam trên thị trường thế giới sẽ chịu nhiều thua thiệt, nhất là khi các nước đã mở rộng cửa cho nhau còn Việt Nam thì chưa được Dệt may

là một ví dụ, kể từ năm sau, chế độ hạn ngạch đã được bãi bỏ cho các nước thành viên, còn Việt Nam vẫn bị áp dụng Về thuế quan, các nước thành viên dành cho nhau mức thuế theo Quy chế Tối huệ quốc (khoảng 5%) trong khi Việt Nam phải chịu cao hơn thế rất nhiều lần (tới 50%) Thị phần của Việt Nam trên thị trường quốc tế do đó sẽ nhỏ lại Khả năng cạnh tranh và cơ hội làm ăn của doanh nghiệp cũng ngày càng bị thu hẹp

Khi vòng đàm phán Doha về thương mại toàn cầu kết thúc, các quy định về thương mại sẽ chặt chẽ và hoàn chỉnh hơn, yêu cầu cao hơn, việc đáp ứng những yêu cầu tự do hoá thương mại của Việt Nam sẽ cao hơn Khi không là thành viên của WTO, hàng xuất khẩu của Việt Nam phải chịu mức thuế 30-40%, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình áp dụng cho các thành viên WTO (các nước thành viên phát triển trong WTO giảm thuế còn 3,8%, các nước đang phát triển là 12,3%) Việt Nam có tiềm năng rất lớn về xuất khẩu hàng dệt may, nếu chưa được gia nhập WTO, sẽ phải chịu hạn ngạch và không phát huy hết khả năng xuất khẩu của mình

Thứ tư, Việt Nam không gia nhập WTO sẽ làm giảm sút lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với môi trường kinh doanh của Việt Nam

Trang 37

Việc Việt Nam không gia nhập WTO sớm đồng nghĩa việc Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản của hội nhập theo con mặt của cộng đồng quốc tế Nó chứng tỏ Việt Nam chưa đủ năng lực và các điều kiện tham gia sân chơi chung và trở thành lạc lõng trong xu thế toàn cầu hội nhập Lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam sẽ

bị giảm sút, kéo theo sự suy giảm về đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ, giảm động lực phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam và kéo dài tình trạng trì trệ, lạc hậu của đất nước

Tóm lại, xét trên tổng thể toàn bộ nền kinh tế thì gia nhập WTO là cơ hội lớn và là sự lựa chọn đúng đắn đối với Việt Nam bởi vì nó mang lại nhiều lợi ích lớn lao và suy cho cùng biết tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức cũng chính là vượt qua chính mình để vươn lên tồn tại và phát triển

Trang 38

Chương 2

TIẾN TRÌNH GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

(WTO) CỦA VIỆT NAM

2.1 Quá trình đàm phán gia nhập tổ chức WTO của Việt Nam

Giai đoạn đàm phán gia nhập WTO có ý nghĩa quan trọng bởi nó không chỉ quyết định việc Việt Nam được chấp nhận trở thành thành viên chính thức của WTO vào một thời điểm thích hợp, giảm được “lệ phí gia nhập” mà quan trọng hơn, nó còn quyết định khả năng Việt Nam sẽ “được nhiều hay mất nhiều” khi là thành viên chính thức Quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam gồm 2 lộ trình là đàm phán đa phương và đàm phán song phương với các nước có yêu cầu đàm phán

Giai đoạn 1: Nộp đơn xin gia nhập

Tháng 1/1995, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO

Đến 31/1/1995, Ban Công tác về việc gia nhập của Việt Nam được thành lập gồm 38 quốc gia và lãnh thổ thành viên là Argentina, Australia, Brazil, Brunei, Bulgaria, Canada, Chile, Trung Quốc, Colombia, Croatia, Cuba, Cộng hũa Dominica, Ai Cập, EU và cỏc nước thành viên, Honduras, lónh thổ Hong Kong thuộc Trung Quốc, Iceland, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hũa Triều Tiờn, Cộng hũa Kyrgyz, Malaysia, Morocco, Myanmar, New Zealand,

Trang 39

Na Uy, Panama, Paraguay, Philippines, Romania, Singapore, Thụy Sĩ, lónh thổ Đài Bắc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Uruguay do ông Seung Ho (Hàn Quốc) làm chủ tịch

Giai đoạn 2: Gửi “Bị vong lục về chế độ ngoại thương Việt Nam” tới

Ban Công tác

Tháng 8/1996, “Việt Nam hoàn thành “Bị Vong lục về Chế độ ngoại thương Việt Nam” và gửi tới Ban thư ký WTO để luân chuyển tới các thành viên của Ban Công tác xem xét” [64, 16]

Bản Bị Vong lục không chỉ giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, mà còn cung cấp các thông tin chi tiết về các chính sách liên quan tới thương mại hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam

Giai đoạn 3: Minh bạch hoá chính sách thương mại

Đây là giai đoạn hỏi trả lời, giải trình, minh bạch hoá chính sách kinh tế thương mại của Việt Nam

Sau khi nghiên cứu về “Bị Vong lục về Chế độ ngoại thương Việt Nam” nhiều thành viên đặt ra câu hỏi yêu cầu trả lời để hiểu rõ chính sách, bộ máy quản lý, thực thi chính sách của Việt Nam

Ban Công tác tổ chức các phiên họp tại trụ sở WTO để đánh giá tình hình chuẩn bị của Việt Nam và tạo điều kiện để Việt Nam trực tiếp giải thích các chính sách Về cơ bản, Việt Nam đã hoàn thành giai đoạn minh bạch, làm

rõ chính sách thương mại

Mặc dù vậy, trong WTO, việc làm rõ chính sách là quá trình liên tục Không chỉ có các nước đang xin gia nhập phải tiến hành công việc này mà

Trang 40

ngay cả các thành viên chính thức cũng phải thường xuyên cung cấp thông tin giải thích chính sách của mình

Trong giai đoạn này Việt Nam đã tiến hành các phiên đàm phán sau:

Phiên thứ 1 vào tháng 7 năm 1998;

Phiên thứ 2 vào tháng 12 năm 1998;

Phiên thứ 3 vào tháng 7 năm 1999;

Phiên thứ 4 vào tháng 11 năm 2000

Các phiên họp này tập trung trả lời các câu hỏi của các thành viên Ban Công tác về minh bạch hoá chính sách kinh tế thương mại [17, tr.39]

Việt Nam đã trả lời nhiều câu hỏi nhằm làm rõ nội dung chính sách, bộ máy quản lý và thực thi chính sách của Việt Nam đồng thời cung cấp nhiều thông tin khác theo các biểu mẫu do WTO quy định về hỗ trợ, trợ cấp trong công - nông nghiệp, các doanh nghiệp có đặc quyền, các biện pháp đầu tư không phù hợp với quy định của WTO, thủ tục hải quan, hệ thống tiêu chuẩn

kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ

Kết thúc phiên 4, Ban Công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hoá chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường

Như vậy, qua 4 phiên đầu tiên (từ tháng 7/1998 đến tháng 11/2000), Việt Nam đã kết thúc cơ bản giai đoạn “minh bạch hoá chính sách thương mại”, với việc nhận và trả lời hơn 1.500 câu hỏi của các thành viên trong Nhóm công tác và được đánh dấu bằng bản “Đánh giá tóm lược” do Ban thư ký WTO tổng hợp lại tháng 9/2001

Giai đoạn 4: Đưa ra các bản chào và đàm phán về mở cửa thị trường

Ngày đăng: 18/12/2015, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thy An (2004), “Liên bang Nga con đường gập ghềnh tới WTO”, Báo Hà Nội mới, tr. 4, ngày 11/8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên bang Nga con đường gập ghềnh tới WTO”, "Báo Hà Nội mới
Tác giả: Thy An
Năm: 2004
2. TS. Đinh Văn Ân (chủ biên) (2004), Việt Nam tích cực chuận bị gia nhập WTO trong một số lĩnh vực dịch vụ, Nxb Văn hoá - Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tích cực chuận bị gia nhập WTO trong một số lĩnh vực dịch vụ
Tác giả: TS. Đinh Văn Ân (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin Hà Nội
Năm: 2004
3. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Vụ Tuyên truyền và Hợp tác quốc tế (2004), Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Vụ Tuyên truyền và Hợp tác quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
4. Bộ Ngoại giao (2000), Tổ chức thương mại thế giới WTO, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức thương mại thế giới WTO
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
5. Bộ Ngoại giao, Vụ các tổ chức quốc tế (1999), Các tổ chức quốc tế và Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức quốc tế và Việt Nam
Tác giả: Bộ Ngoại giao, Vụ các tổ chức quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
6. Bộ Ngoại giao, Vụ Tổng hợp kinh tế (1999), Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế của Việt Nam
Tác giả: Bộ Ngoại giao, Vụ Tổng hợp kinh tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
7. Nguyễn Mạnh Cầm (8/1995), "Ngoại giao Việt Nam góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc", Tạp chí Cộng sản (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc
8. Nguyễn Mạnh Cầm (9/1995), "Phát biểu tổng kết hội thảo kỷ niệm 50 năm ngoại giao Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (7), tr. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát biểu tổng kết hội thảo kỷ niệm 50 năm ngoại giao Việt Nam
9. Nguyễn Mạnh Cầm (6/1997), "Châu Á trong thế kỷ XXI", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (18), tr. 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu Á trong thế kỷ XXI
10. Nguyễn Mạnh Cầm (2/1998), "Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì phát triển và hợp tác", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (1), tr. 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì phát triển và hợp tác
11. Nguyễn Mạnh Cầm (2/1999), "Đối ngoại Việt Nam 1998", Tạp chí Cộng sản (4), tr. 17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối ngoại Việt Nam 1998
12. Nguyễn Mạnh Cầm (9/2000), "Ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới", Tạp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới
13. Trần Quang Cơ (3/1995), "Thế giới hướng về thế kỷ 21", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (5), tr. 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới hướng về thế kỷ 21
14. Nguyễn Sinh Cúc (1-2/2000), "Kinh tế Việt Nam năm 1999 và phương hướng năm 2000", Tạp chí Kinh tế và Phát triển (34), tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam năm 1999 và phương hướng năm 2000
15. Nguyễn Sinh Cúc (9/2000), "Kinh tế-xã hội Việt Nam 55 xây dựng và phát triển", Tạp chí Cộng sản (17), tr. 27-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế-xã hội Việt Nam 55 xây dựng và phát triển
16. Phạm Quang Diệu (2004), "Nông nghiệp Việt Nam các kịch bản hội nhập WTO", Tạp chí Tia sáng (5), tr. 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam các kịch bản hội nhập WTO
Tác giả: Phạm Quang Diệu
Năm: 2004
17. Nguyễn Bá Diến (2002), "Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam: cơ hội và thách thức", Tạp chí khoa học (2), tr. 37- 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam: cơ hội và thách thức
Tác giả: Nguyễn Bá Diến
Năm: 2002
18. Lê Đăng Doanh (5/1999), "Hội nhập quốc tế - cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế nước ta", Tạp chí Cộng sản (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế - cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế nước ta
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI), số 08A-NQ/HNTW 27/3/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Tổ chức Thương mại thế giới - Việt nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới ( WTO )   thực trạng và giải pháp   luận văn ths  kinh tế  5 02 01 pdf
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức của Tổ chức Thương mại thế giới (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w