DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT APEC Asia Pacific Economy Cooperation – Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương ASEAN Association of the South-East Asian Nations - Hiệp hội các quốc g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_
DƯƠNG VĂN AN
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_
DƯƠNG VĂN AN
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 9
1.1 Sự hình thành, phát triển, đặc điểm và xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 9
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài 9
1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu 11
1.1.3 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn hiện nay 13
1.1.4 Xu hướng vận động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 15
1.2 Tác động của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam 21
1.2.1 Khái quát tình hình thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian qua 21
1.2.2 Những tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam 25
1.2.3 Một số hạn chế 27
1.3 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương và bài học đối với Thừa Thiên Huế 33
1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 33
1.3.2 Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc 36
1.3.3 Kinh nghiệm của Đà Nẵng 38
1.3.4 Bài học rút ra đối với Thừa Thiên Huế 41
Chương 2 THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2001- 2010 43
2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế 43
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 43
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế 45
2.1.3 Đánh giá về lợi thế và hạn chế của Thừa Thiên Huế và khả năng thu hút FDI 47
2.2 Tình hình thu hút FDI vào Thừa Thiên Huế 52
Trang 42.2.1 Kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa
Thiên Huế 52 2.2.2 Phân loại các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa
Thiên Huế 55 2.2.3 Một số hạn chế và nguyên nhân trong thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Thừa Thiên Huế 62 2.3 Những tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa
Thiên Huế 65 2.3.1 Những tác động tích cực 65 2.3.2 Những tác động tiêu cực 75
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH THỪA THIÊN
HUẾ ĐẾN NĂM 2015 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2020 78
3.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về thu hút vốn đầu tư nước
ngoài 78 3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên
Huế và phương hướng thu hút FDI 80 3.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu 80 3.2.2 Dự báo tăng trưởng GDP của Thừa Thiên Huế và nhu cầu về
vốn đầu tư 83 3.2.3 Phương hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh
Thừa Thiên Huế 86 3.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm thu hút vốn FDI vào tỉnh Thừa Thiên
Huế 88 3.3.1 Giải pháp về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tạo điều kiện
thuận lợi cho thu hút FDI 89 3.3.2 Giải pháp về xây dựng và cải thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật 93 3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt
động thu hút FDI vào tỉnh Thừa Thiên Huế 96 3.3.4 Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, kêu gọi đầu tư 99
Trang 53.3.5 Giải pháp về cơ chế, chính sách ưu đãi để tăng cường hơn nữa
thu hút đầu tư FDI 102
3.3.6 Giải pháp về cải cách hành chính 104
3.3.7 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 106
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 120
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội các giai đoạn từ
1991 đến 2010 22 Biểu đồ 1.2: Vốn FDI đăng ký và vốn thực hiện giai đoạn 2001-2010
ở Việt Nam 23 Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng vốn đăng ký chia theo từng thời kỳ từ năm 1991 -2012
tỉnh Thừa Thiên Huế 55 Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng vốn đầu tư đăng ký theo lĩnh vực tại Thừa Thiên Huế
năm 2010 57 Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng vốn đầu tư đăng ký theo địa bàn tại Thừa Thiên Huế
năm 2010 58 Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng vốn đầu tư đăng ký theo hình thức đầu tư tại Thừa
Thiên Huế năm 2010 59 Biểu đồ 2.5: FDI theo khu vực đối tác đầu tư đến năm 2010 tỉnh Thừa Thiên
Huế 60 Biểu đồ 2.6: Cơ cấu tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đến năm 2010
tỉnh Thừa Thiên Huế 67 Biểu đồ 2.7: Tổng sản phẩm theo giá thực tế theo thành phần kinh tế 68 Biểu đồ 2.8: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
theo thành phần kinh tế 72 Biểu đồ 2.9 Giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế 73 Biểu đồ 2.10: Số lao động trong các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh
Thừa Thiên Huế giai đoạn 2000 - 2010 74
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Vốn FDI đăng ký và thực hiện giai đoạn 2001-2010 ở Việt Nam 23
Bảng 1.2: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI đối với GDP; Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ 2001-2010 25
Bảng 2.1: Số dự án và quy mô vốn đăng ký các dự án FDI (1991-2011) 54
Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thừa Thiên Huế theo lĩnh vực 56
Bảng 2.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thừa Thiên Huế theo địa bàn 57
Bảng 2.4: Các hình thức đầu tư nước ngoài ở Thừa Thiên Huế 59
Bảng 2.5: FDI theo quốc gia đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế 61
Bảng 2.6: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2005-2010 trên địa bàn tỉnh TT.Huế 66
Bảng 2.7: Tổng sản phẩm theo giá thực tế theo thành phần kinh tế 68
Bảng 2.8: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tại Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 69
Bảng 2.9: Doanh thu du lịch theo giá thực tế theo thành phần kinh tế 70
Bảng 2.10: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo thành phần kinh tế 71
Bảng 2.11: Giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế 72
Bảng 3.1: Các phương án tăng trưởng GDP của Thừa Thiên Huế 83
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APEC Asia Pacific Economy Cooperation – Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương ASEAN Association of the South-East Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu
CNXH Chủ nghĩa xã hội
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
EU European Union - Liên minh châu Âu
FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài G7 Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển nhất của thế giới GDP Tổng sản phẩm quốc nội
KTTĐ Kinh tế trọng điểm
Nies Các nền kinh tế mới công nghiệp hoá
ODA Official Development Assistance - Viện trợ phát triển chính thức TBCN Tư bản chủ nghĩa
TNCs Transnational National Companies - Các công ty xuyên quốc gia TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UNCTAD Ủy ban Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc về
WTO World Trade Organization – Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 9Bản đồ hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 25 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, lĩnh vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) đã có những tác động tích cực, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam FDI đã đóng góp lượng vốn đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; góp phần nâng cao sức cạnh tranh, năng lực xuất khẩu, tạo ra những
cơ hội và ưu thế mới để Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Nhờ
có đóng góp quan trọng của FDI mà Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong nhiều năm và được đánh giá là quốc gia phát triển năng động, thu hút được sự quan tâm đầu tư của nhiều tập đoàn kinh tế lớn và của các nước trên thế giới
Thừa Thiên Huế là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung,
có nhiều lợi thế để đẩy mạnh đầu tư, phát triển kinh tế, nhưng tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư từ nội bộ nền kinh tế còn hạn chế Những năm qua Thừa Thiên Huế đã có nhiều biện pháp nhằm kêu gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước và đã có một số dự án đầu tư tương đối lớn ở khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, khu công nghiệp Phú Bài, khu công nghiệp Tứ Hạ - Hương Trà Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết nhiều việc làm Tuy nhiên, vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Thừa Thiên Huế, vốn đầu tư thực hiện chiếm tỷ trọng thấp trong tổng vốn đăng ký
Trước tình hình trên, Thừa Thiên Huế sẽ phải làm gì để thu hút vốn đầu
tư nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng?
Trang 112
Liệu các chính sách và môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh đã thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư chưa? Làm thế nào để cải thiện môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài?
Những vấn đề đó cần được nghiên cứu để tìm ra những giải pháp hợp
lý nhất Do vậy nghiên cứu đề tài về “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thừa Thiên Huế” là hết sức cần thiết, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà
còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, FDI là đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả, các nhà kinh tế, các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách nổi tiếng trên thế giới và Việt Nam Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) hàng năm đều công bố Báo cáo đầu tư thế giới (World Investment Report) tổng hợp, phân tích, đánh giá và dự báo xu hướng vận động FDI trên toàn thế giới
Tại Việt Nam, cũng đã có rất nhiều các cuốn sách, đề tài khoa học, luận
án, luận văn, các báo cáo và bài viết của các nhà khoa học, nhà quản lý, nghiên cứu sinh, học viên cao học đề cập đến vấn đề FDI, có thể nêu một số điển hình như:
Cuốn "Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam", của tác giả Mai Ngọc Cường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Tác
giả đã đánh giá thực trạng hệ thống chính sách và tổ chức thu hút ĐTNN của Việt Nam; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật và tổ chức thu hút ĐTNN ở Việt Nam
Cuốn “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam”, của PGS, TS
Trần Quang Lâm và TS An Như Hải (2006), Nxb Chính trị quốc gia Hai đồng tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng phát triển và sử dụng Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam từ năm1988 đến năm 2005, phân tích xu thế, triển vọng và đưa ra những giải pháp phát triển, sử dụng khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Trang 123
Bên cạnh đó có thể kể đến các cuốn sách tiêu biểu nói về FDI và tác động của FDI đến nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO như: Nguyễn Việt
Hưng (2004): Những giải pháp chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam; Nguyễn Văn Tuấn (2005): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam”; Trần Xuân Tùng (2005): Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp; TS Lê Xuân
Bá (2006): Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam; TS Nguyễn Vũ Hoàng (2006): Kinh tế, pháp luật về đầu tư quốc tế
và những vấn đề đặt ra với Việt Nam khi gia nhập WTO
FDI cũng là lĩnh vực được nhiều nhà khoa học, nghiên cứu sinh, học viên cao học nghiên cứu hoặc chọn làm luận án, luận văn như:
Luận án tiến sỹ: "Các giải pháp tài chính nhằm tăng cường thu hút và
quản lý FDI tại Việt Nam giai đoạn 2001-2010" (2001) của nghiên cứu sinh
Lê Công Toàn, thực hiện tại Học viện Tài chính; tác giả đã đưa ra các giải pháp về tài chính như: thuế, tiền tệ, bảo hiểm, ngân sách nhằm tăng cường
thu hút FDI ở Việt Nam Luận án Tiến sỹ: "Một số giải pháp tăng cường thu
hút vốn đầu tư trực tiếp của các nước trong nhóm G7 vào Việt Nam" (2004),
của nghiên cứu sinh Trần Anh Phương, thực hiện tại Học viện Tài chính; tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp quan trọng nhằm thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút nguồn vốn FDI từ các nước G7 Luận án tiến sĩ của Đỗ
Hoàng Long (năm 2004): Tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; tác giả nghiên cứu tác động của toàn
cầu hoá kinh tế đối với dòng FDI trên thế giới và dòng FDI vào Việt Nam Nghiên cứu xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và một số giải pháp đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam Luận án tiến sĩ của Bùi Huy Nhượng
(2005): Một số biện pháp thúc đẩy việc phát triển, khai thác, thực hiện các dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam; tác giả tìm hiểu những
nguyên nhân về phía Nhà nước đang cản trở hoạt động triển khai dự án FDI tại Việt Nam, đề xuất biện pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc, nhằm thúc đẩy việc triển khai thực hiện dự án FDI tại Việt Nam Luận án tiến sĩ của Phan
Trang 134
Văn Tâm (năm 2011): Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam, tác giả
đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI; thực trạng FDI của Nhật Bản trên thế giới và tại Việt Nam; đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy FDI của Nhật Bản nói riêng, FDI các nước nói chung vào Việt Nam
Đề tài cấp bộ: "Chiến lược đổi mới chính sách huy động các nguồn vốn
nước ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010", do Bộ Tài chính chủ trì, TS Trương Thái Phiên làm chủ nhiệm,
2001-nghiệm thu năm 2000 Đề tài đã đưa ra những nhận thức mới về FDI ở Việt Nam, đánh giá quá trình thực hiện chính sách huy động vốn FDI của Việt Nam Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa ra nhiều kiến nghị quan trọng đổi mới chính sách huy động vốn FDI tại Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Đề tài cấp
bộ: "Những chủ trương và giải pháp cơ bản nhằm thu hút mạnh hơn và sử
dụng hiệu quả cao nguồn vốn FDI theo tinh thần Nghị quyết đại hội IX", mã
số KHBĐ (2001)-02 do Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trì; TS Cao Sỹ Kiêm làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2003 Đề tài đã đề xuất nhiều giải pháp quan trọng nhằm thu hút vốn FDI, trong đó vấn đề tạo lập môi trường thu hút FDI được tiếp cận dưới góc độ hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, cải cách hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo đội ngũ cán bộ
Đề tài cấp bộ: "Thực trạng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách
đầu tư ở Việt Nam”, do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện,
PGS, TS Trần Thị Minh Châu làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2007 Đề tài
đã đánh giá thực trạng chính sách đầu tư của Việt Nam và đưa ra những giải pháp quan trọng để hoàn thiện chính sách đầu tư
Liên quan đến vấn đề FDI ở tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có một số đề tài
nhiên cứu Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Hoài Trâm (2009): “Nghiên cứu thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế " đã tập trung phân tích sâu về thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô nằm ở phía Nam của tỉnh Thừa Thiên Huế, được Thủ tướng Chính phủ quyết
Trang 14Cũng nghiên cứu về thu hút đầu tư vào khu kinh tế Chân Mây - Lăng
Cô nhưng Luận văn Thạc sỹ của Võ Thị Quế Hương “Nghiên cứu giải pháp
thu hút vốn đầu tư vào Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế” (2008) có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả thu hút đầu tư trong nước
và đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài Đề tài đã nghiên cứu kết quả đầu tư vào khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô đến năm 2007, rút ra những kết luận về môi trường đầu tư vào KKT Chân Mây - Lăng Cô, làm cơ sở cho các nhà đầu
tư tham khảo để xây dựng chiến lược hợp tác, đầu tư lâu dài trên các ngành, lĩnh vực kinh tế-xã hội Đề tài cũng đã đề xuất 7 nhóm giải pháp cụ thể, thiết thực để duy trì, cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư ngày càng nhiều vào KKT Chân Mây - Lăng Cô, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế, gồm: nhóm giải pháp về quản lý nhà nước và môi trường pháp lý, nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư, nhóm giải pháp về cở sở hạ tầng và xây dựng môi trường đầu tư tại KKT Chân Mây
- Lăng Cô, nhóm giải pháp về Marketing đầu tư, nhóm giải pháp hỗ trợ nhà đầu tư sau khi dự án được cấp phép, nhóm giải pháp về nguồn nhân lực, nhóm giải pháp về an ninh và an toàn xã hội
Luận văn Thạc sỹ của Hồ Thị Hương: ''Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế''
Trang 156
(2009) đã phân tích được tác động hai mặt của FDI và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Gần đây là luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Sỹ Nguyên (2010): "Giải pháp
nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá " Luận án đã xây dựng được
hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển của tỉnh Thừa Thiên Huế,
từ đó đã đánh giá hiện trạng hiệu quả đầu tư phát triển ở tỉnh Thừa Thiên Huế, tìm ra những mặt được, phát hiện những yếu kém và nguyên nhân cơ bản của tình trạng hiệu quả đầu tư thấp; đề xuất định hướng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, Luận án đề cập rất ít đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngoài ra, còn nhiều đề tài khoa học khác liên quan đến vấn đề này được trình bày trong danh mục tài liệu tham khảo Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu về thu hút FDI ở tỉnh Thừa Thiên Huế không nhiều, thiếu hệ thống Vì
vậy, tác giả chọn đề tài “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thừa Thiên Huế"
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
Trang 167
- Khái quát một số lý luận cơ bản và các vấn đề thực tiễn liên quan đến đầu
tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế, xã hội ở Thừa Thiên Huế
- Phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2001 - 2010
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa Thiên Huế tới năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2001-2010
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu hiện trạng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa Thiên Huế
- Về thời gian: Từ năm 2001 đến 2010, dự báo đến 2015, tầm nhìn đến 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp cơ bản của kinh tế chính trị học như:
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng cơ sở phương pháp luận
- Kết hợp lý luận, quan điểm đường lối của Đảng với thực tiễn địa
phương để lý giải những vấn đề mà luận văn nghiên cứu
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgic - lịch sử,
kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh
6 Đóng góp của luận văn
- Cung cấp hệ thống số liệu và thông tin về thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa Thiên Huế đến thời điểm nghiên cứu; phân tích những tác động tích cực và những hạn chế của nguồn vốn này đến phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 178
- Đánh giá các yếu tố tác động đến thu hút FDI vào tỉnh Thừa Thiên Huế, chỉ ra những nhân tố thuận lợi, khó khăn; những điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội và thách thức
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa khả năng thu hút
và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2011 - 2015; tầm nhìn đến năm 2020
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối với việc giảng dạy, nghiên cứu về FDI cũng như cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học để cơ quan hoạch định chính sách phát triển kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế tham vấn và xây dựng chính sách
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt, bảng biểu, luận văn bao gồm 3 chương, 9 tiết:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội
Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thừa
Thiên Huế
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Thừa Thiên Huế
Trang 181.1.1 Sự hình thành và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, phát huy tối đa ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm
quản lý của mình áp dụng vào nước đầu tư, nhằm tối đa hoá lợi nhuận
Nguồn gốc cơ bản tạo sự di chuyển vốn đầu tư dưới hình thức này là do
có sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận xuất phát từ lợi thế so sánh khác nhau giữa các quốc gia Điều kiện thuận lợi cho di chuyển vốn đầu tư là xu thế tự
do hoá thương mại, đầu tư và tài chính ngày càng tăng trên thế giới
Theo V.I.Lênin, hoạt động đầu tư nước ngoài thực chất là xuất khẩu "tư bản thừa", là hoạt động kinh tế chịu tác động và chi phối của các quy luật kinh tế, là hoạt động kinh tế mang tính khách quan diễn ra khi quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất đã đạt đến một trình độ nhất định, khi lực lượng sản xuất đã phát triển vượt khỏi biên giới quốc gia V.I.Lênin đề cập vấn đề xuất khẩu tư bản như một đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền Theo ông, trong giai đoạn cạnh tranh tự do, đặc điểm của chủ nghĩa tư bản là xuất khẩu hàng hoá, còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, là xuất khẩu tư bản, bởi vì quá trình tích tụ và tập trung tư bản là điều kiện quan trọng cho sự lớn lên của tư bản và sự "thừa tư bản" như là một tất yếu "Tư bản thừa" ở đây có tính chất tương đối, tức là thừa so với lợi nhuận thấp nếu phải đầu tư trong nước, còn nếu đầu tư ra nước ngoài thì tỷ suất lợi nhuận sẽ
Trang 1910
cao hơn V.I.Lênin cho rằng: "Nếu CNTB chú ý đến phát triển nông nghiệp, đến việc nâng cao mức sống của nhân dân thì không thể có hiện tượng "tư bản thừa" "Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn là CNTB, thì số tư bản thừa vẫn còn chuyên dùng không phải để nâng cao mức sống của quần chúng trong một nước nhất định, vì như thế sẽ đi đến kết quả làm giảm bớt lợi nhuận của bọn tư bản, - mà là để tăng thêm lợi nhuận đó bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu Trong các nước này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản còn ít, giá đất đai thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ" [24, tr.456]
Từ đó, V.I.Lênin rút ra kết luận: xuất khẩu tư bản có tác dụng tích cực và tiêu cực đối với cả nước xuất khẩu và nhập khẩu tư bản, đồng thời nó cùng với buôn bán là một trong những đặc điểm của thương mại quốc tế trong thời đại
tư bản độc quyền Trong thời đại tư bản tài chính thống trị, xuất khẩu tư bản trở thành công cụ bành trướng và thực hiện sự phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền [24, tr.458]
Mặt khác, thu hút đầu tư từ bên ngoài vào cũng là nhu cầu cấp thiết của các nước nghèo, các nước chậm phát triển Theo A.Samuelson, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp chỉ đủ sống ở mức tối thiểu do đó khả năng tích luỹ vốn hạn chế Các nước này nguồn nhân lực trình
độ thấp, kỹ thuật lạc hậu, khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên thấp và gặp phải trở ngại trong việc kết hợp chúng Trước “cái vòng luẩn quẩn” đó nên cần phải có đầu tư của nước ngoài xem như là “cú hích” từ bên ngoài A.Samuelson đánh giá cao vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của các nước nghèo Ông cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là lực lượng có khả năng làm phá vỡ “vòng luẩn quẩn của nghèo khổ”, tạo ra những điều kiện cho sự phát triển mà không để lại nợ nần Do vậy, bản thân các nước này cũng xây dựng những chính sách để thu hút các nước đầu tư vào nước mình Về cơ bản, nhận định trên của ông nhận được nhiều sự đồng tình
Mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài là giải pháp thực tế nhất đối với các nước nghèo Dù rằng FDI trước hết phục vụ cho lợi ích các nước xuất khẩu tư
Trang 2011
bản chứ không phải cho các nước nhận đầu tư, thế nhưng mở cửa vẫn còn hơn
là đóng cửa Tuy nhiên, FDI vẫn mang lại lợi ích chung cho cả hai bên, dù chẳng bao giờ cân bằng tuyệt đối nhưng không thể làm khác được vì nó là đòi
hỏi tự nhiên, tất yếu của quá trình vận động thị trường
Song, không nên quan niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài là điều kiện duy nhất để các nước nghèo đi lên, là “chìa khóa vạn năng” của sự phát triển [35]
Quá trình tích tụ, tập trung tư bản lớn; sự phát triển khoa học công nghệ cùng với sự phát triển của quá trình phân công lao động xã hội; sự chi phối của các quy luật kinh tế nhất là quy luật lợi thế so sánh đã làm cho hoạt động
của FDI ngày càng mở rộng về quy mô lẫn phạm vi
1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu
Hiện nay, có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng trong luận văn này chỉ đề cập một số hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài sau đây:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là hình thức đầu tư được ký kết giữa các
nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm
mà không thành lập pháp nhân Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia, quan hệ hợp tác và tổ chức quản lý do các chủ thể đầu tư thoả thuận, ghi trong hợp đồng Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, hiện nay thường được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp gia công và dịch vụ Các bên tham gia hợp đồng vẫn là những pháp nhân riêng, thời hạn hợp đồng thường ngắn
Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do
hai chủ thể hoặc nhiều hơn các chủ thể nước ngoài cùng hợp tác với một nước chủ nhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo Luật pháp của nước nhận đầu
tư Doanh nghiệp liên doanh là loại hình thường được nước tiếp nhận đầu tư
Trang 2112
chào đón nhất vì hầu hết các doanh nghiệp liên doanh khi đầu tư kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư thường đưa vào các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại để chiếm ưu thế về sản xuất, kinh doanh và lợi nhuận Nhưng để đạt được kết quả như mong muốn trong hình thức này, nước tiếp nhận đầu tư phải có khả năng góp vốn, các nhà quản lý doanh nghiệp phải
có đủ trình độ và năng lực quản lý, tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến của nước đầu tư
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm
về kết quả sản xuất kinh doanh, chịu sự kiểm soát theo luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài thường được các chủ đầu tư lựa chọn vì họ được toàn quyền quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo ra
Ngoài ra còn một số dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100% vốn đầu tư nước ngoài là:
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Building Operate
Transfer - BOT): Là hợp đồng được ký giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước nhận đầu tư
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (Building Transfer
Operate - BTO): Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và Nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (Building Transfer - BT): Là hợp
Trang 2213
đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước nhận đầu tư; Chính phủ nước nhận đầu tư tạo điều kiện cho nhà đầu
tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT [41, tr.39-42]
1.1.3 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn hiện nay
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, FDI là hình thức đầu tư chủ yếu trong đầu tư nước ngoài So
với các hình thức đầu tư khác của đầu tư nước ngoài thì FDI có hiệu quả đầu
tư cao hơn, tạo sự chuyển biến lớn trong vốn đầu tư toàn xã hội của nước nhận đầu tư, gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp và tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế theo chiều sâu
Thứ hai, FDI không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh
nặng nợ nần cho các nước nhận đầu tư mà ngược lại, FDI tạo điều kiện thuận lợi để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước
Thứ ba, FDI chủ yếu đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao,
chu chuyển vốn nhanh và có hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên đặc điểm này không rõ ràng Trên thực tế, một số nước khi xuất khẩu tư bản đi kèm với việc
"tuồn" các công nghệ lạc hậu hoặc đầu tư vào một số lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm tối đa hóa lợi nhuận và "bòn rút" tài nguyên của các nước kém phát triển
Thứ tư, kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được
phân chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có) Tuy nhiên, có một thực
tế là, các nhà đầu tư thường tìm cách chuyển giá hoặc định giá cao đối với thiết bị máy móc (do nước nhận đầu tư yếu về năng lực thẩm định) làm thiệt hại kinh tế và lợi nhuận đáng ra phải được hưởng một cách công bằng của nước nhận đầu tư
Trang 2314
Thứ năm, FDI ngày càng gắn liền với các hoạt động kinh doanh
quốc tế của các công ty xuyên quốc gia (TNC), chịu sự chi phối của
nhiều hệ thống luật pháp (bao gồm luật pháp của các nước đầu tư, nước tiếp nhận đầu tư và luật pháp quốc tế) Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia đang nắm giữ khoảng 90% lượng vốn FDI trên thế giới Do
đó, FDI có mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng nhằm mở rộng, chiếm lĩnh thị trường của các công ty xuyên quốc gia (TNC) và thu về lợi nhuận tối đa cho nhà đầu tư
Thứ sáu, FDI có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền lực các
nguồn vốn đã được đầu tư Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn Đối với doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh nghiệp và quản lý đối tượng hợp tác tuỳ thuộc vào mức góp vốn của các bên khi tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì chủ đầu tư toàn quyền quản lý doanh nghiệp
Thứ bảy, hoạt động FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà
còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư Tuy nhiên như đã nêu ở đặc điểm thứ ba, trên thực tế, một số nước đầu tư tìm cách chuyển công nghệ đã lạc hậu, đã hết khấu hao ở nước mình hoặc ở nước có trình độ khoa học, công nghệ tiến bộ hơn sang nước có công nghệ lạc hậu hơn nhằm khai thác tối đa lợi nhuận và biến nước nhận đầu tư trở thành "bãi rác" để từng bước thải công nghệ lạc hậu
Thứ tám, hoạt động FDI gắn liền với sự phát triển của thị trường
tài chính quốc tế và thương mại quốc tế Trong hình thức FDI, các công
ty mẹ thường chuyển giao vốn của mình qua các công ty chi nhánh Do vậy, FDI có liên quan mật thiết với dòng lưu chuyển vốn quốc tế, trong
đó có một công ty ở một nước nhưng có chi nhánh ở các nước khác
Trang 2415
1.1.4 Xu hướng vận động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nghiên cứu lịch sử vận động của FDI trên thế giới, có thể thấy mấy xu
hướng vận động sau đây:
Một là, giai đoạn trước năm 1945, xu hướng chính của FDI là "chảy" từ
các nước phát triển sang các nước chậm phát triển do các nước phát triển đẩy mạnh xuất khẩu tư bản để khai thác thuộc địa, xem xuất khẩu tư bản như là một biện pháp để khai thác tài nguyên thiên nhiên và các lợi thế khác như: nhân công rẻ, nguyên liệu tại chỗ Giai đoạn này, dòng FDI của tư bản Bắc
Mỹ và Tây Âu sang các nước thuộc địa và nửa thuộc địa tăng cao và nhanh Tuy nhiên, một bộ phận của tư bản Tây Âu cũng được đầu tư vào một số nước chậm phát triển ở châu Âu như Nga và các nước vùng Bancăng Tư bản
Mỹ, Anh, Pháp cũng đầu tư mạnh vào Canada - là nước kém phát triển hơn và vẫn là thuộc địa của nước Anh Ngoài mục tiêu kinh tế thuần túy, không loại trừ việc đầu tư của các nước phát triển vào các nước chậm phát triển còn được coi là ưu tiên chiến lược của các cường quốc đế quốc, để khống chế về kinh
tế, chính trị lâu dài các nước này; thực hiện sự phân chia thế giới về mặt kinh
tế, chính trị, giữa các nước TBCN
Hai là, từ sau 1945, FDI chuyển hướng vào các nước phát triển Sau
chiến tranh thế giới thứ 2, phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ làm sụp đổ từng mảng lớn hệ thống thuộc địa Chủ nghĩa thực dân cũ rơi vào tình thế tan rã không thể cứu vãn nổi Hàng trăm quốc gia giành lại được quyền độc lập về mặt chính trị đã sử dụng ngay sức mạnh đang lên của mình vào cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế Với những mức độ khác nhau, biện pháp “quốc hữu hóa” nước ngoài được áp dụng ở hầu hết các nước mới độc lập Ngay cả những công trình rất quan trọng với nền kinh tế các nước tư bản phát triển như kênh đào Xuy-ê (Ai Cập), các mỏ dầu lửa ở Trung Cận Đông, Angieri, Libi… cũng đều bị “quốc hữu hóa” mặc dù nước chủ nhà bị
đe dọa bằng chiến tranh xâm lược Những cố gắng của những cường quốc thực dân chống lại phong trào giải phóng dân tộc nói chung và làn sóng “quốc
Trang 2516
hữu hóa” nói riêng đều bị thất bại Điều đó làm giảm hẳn dòng vốn FDI đầu
tư vào các nước chậm phát triển Ở những nơi chưa kịp “quốc hữu hóa” thì tư bản nước ngoài cũng tìm mọi cách “hồi hương” dòng vốn này hoặc chuyển
sang những nơi có môi trường đầu tư khác, ổn định, an toàn hơn
Mặt khác, vào thời kỳ này, các nước tư bản Tây Âu rất thiếu vốn để khôi phục kinh tế sau chiến tranh, luồng tư bản của họ hồi hương trở lại hòa vào dòng tư bản xuất khẩu từ Bắc Mỹ theo kế hoạch Mác-san tạo nên một sự đổi hướng thực sự của xuất khẩu tư bản ở quy mô toàn thế giới Tây Âu trở thành điểm nóng của đầu tư, thu hút phần chủ yếu của toàn bộ xuất khẩu tư bản trên thế giới [39, tr.10-11] Theo thống kê, nếu vào những thập kỷ 50, 60;
tỷ lệ FDI đầu tư vào các nước đang phát triển chiếm 70% tổng số FDI toàn thế giới, thì sang đầu thập kỷ 90 trở về sau, tỷ lệ này chỉ còn chiếm khoảng dưới 30% thậm chí chỉ còn 16,8% [36, tr.27-28; 127-128] Sự tập trung phần lớn các nguồn FDI vào thị trường các nước tư bản phát triển với quy mô tăng liên tục trong suốt nhiều chục năm, có thể đủ để kết luận rằng đó không phải
là hiện tượng nhất thời, mà là xu thế chủ yếu Xu thế đó hiển nhiên tới mức, nói như là kinh tế Pháp Joice Lolko, là “không cần tới số liệu minh họa người
ta cũng hiểu” [39] Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước thuộc OECD và các nước đang phát triền tăng lên Chỉ có một số ít trong số hơn một trăm nước đang phát triển nhờ những ưu thế về địa lý và biết tận dụng cơ hội trong chiến tranh lạnh để thu hút được phần đáng kể đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo nên được những bước phát triển đáng kể, còn nói chung đa số các nước đang phát
triển rơi vào tình trạng "đói vốn" một giai đoạn dài tiếp tục bị tụt hậu xa thêm
Ba là, đáng chú ý là từ thập niên 70 (thế kỷ XX) đến nay, trên thế giới
xuất hiện thêm một số nước đang phát triển tham gia xuất khẩu tư bản như: các nước thuộc tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), các nước và vùng lãnh thổ NICs châu Á (Đài Loan, Hàn Quốc, Singapo, Hồng Kông…) Lúc đầu, phần lớn tư bản xuất khẩu của họ được đưa tới các nước phát triển như: Mỹ, Anh… Hiện nay, FDI từ các nước này tập trung vào các nước có cùng khu vực địa lý
Trang 2617
và mang tính chất chuyển giao một số ngành, cơ sở kinh tế có năng suất lao
động thấp, sang các các nền kinh tế kém phát triển hơn
Vì thế, khi tiếp nhận FDI từ các nước này, cần phải xem xét, chọn lọc những dự án phù hợp, để có thể đảm bảo tính hiệu quả trong thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững và rút ngắn khoảng cách về trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam đối với thế giới Mặt khác, chúng ta cũng cần mạnh dạn tham gia đầu tư ra nước ngoài để phát
huy lợi thế so sánh của mình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bốn là, những năm đầu thế kỷ XXI, xu hướng FDI vào các nước đang
phát triển và chuyển đổi tăng trở lại Có thể lấy một vài ví dụ sau để minh chứng cho nhận định trên Trong năm 2007, FDI đổ vào tất cả ba nhóm nền kinh tế chủ chốt - các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nền kinh
tế chuyển đổi ở Đông Âu với các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) - đều tăng, phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối cao của các nền kinh
tế và hoạt động tốt của các công ty tại nhiều vùng trên thế giới [62, tr.14] Cụ thể, FDI vào các nước phát triển lên tới 1.248 tỷ USD (năm 2007), trong đó Mỹ vẫn là nước tiếp nhận nguồn vốn này nhiều nhất, tiếp đến là Anh, Pháp, Canađa
và Hà Lan Luồng FDI vào các nước đang phát triển tăng đáng kể: 500 tỷ USD năm 2007 (tăng 21% so với năm 2006), nhưng chỉ bằng 40% so với FDI vào các nước phát triển Các nước kém phát triển nhất (LDCs) thu hút 13 tỷ USD (2007) Các nước Nam Á, Đông Á, Đông Nam Á và châu Đại dương chiếm 1/2 trong tổng số vốn FDI đổ vào các nước đang phát triển Trong số các nền kinh
tế đang phát triển và chuyển đổi, 3 nước và vùng lãnh thổ nhận được nhiều FDI nhất là Trung Quốc, Liên bang Nga và Hồng Kông [62, tr.16]
Theo báo cáo của tổ chức Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), năm 2010, lần đầu tiên các nước đang phát triển đã thu hút hơn 50% vốn FDI của toàn thế giới, nhiều hơn so các nước phát triển Điều này bổ sung bằng chứng cho thấy kinh tế các nước đang phát triển đang phục hồi mạnh mẽ hơn so với các nước giàu sau các cuộc khủng hoảng kinh
tế từ 2007 - 2009
Trang 2718
Năm là, hiện nay, hầu hết các nước đều có xu hướng tham gia vào cả
hai quá trình: đầu tư và tiếp nhận đầu tư Quá trình phân công lao động và quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc, giúp các quốc gia phát huy lợi thế so sánh của mình khi tham gia đầu tư ra nước ngoài, đồng thời bổ sung nguồn vốn đầu tư để khắc phục những hạn chế của mình (nhất là
về công nghệ và năng lực quản lý đối với các nước đang phát triển), làm tăng hiệu quả hoạt động kinh tế trong nước thông qua việc tiếp nhận FDI Đây là
cơ sở của sự gia tăng xu hướng đầu tư
Xu hướng di chuyển tư bản kiểu này đặt ra những vấn đề cần làm sáng
tỏ đối với lý luận kinh tế Macxit về xuất khẩu tư bản Đó là việc một nước trong cùng một thời gian vừa có xuất khẩu, lại vừa có nhập khẩu tư bản đã trở thành phổ biến Khái niệm “nước xuất khẩu tư bản thuần túy” trên thực tế không còn có ý nghĩa nữa, chỉ có thể dùng khái niệm đối lập với nó là “nước nhập khẩu tư bản thuần túy ” bao gồm những nước chậm phát triển hơn trong
số các nước đang phát triển Luận điểm của V.I Lênin về nguồn gốc xuất khẩu tư bản là do có tư bản “thừa” ở các nước phát triển cũng chỉ còn đúng khi vận dụng để giải thích bộ phận tư bản được xuất khẩu từ các nước phát
triển sang các nước đang phát triển
Trước xu thế trên, để thu hút được nhiều FDI phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH, chúng ta cần phát huy những lợi thế của nước ta như: chính trị
ổn định, kinh tế - xã hội phát triển, môi trường đầu tư đang được cải thiện, các yếu tố đầu vào của sản xuất vốn đang còn tương đối thuận lợi để có chi phí
sản xuất thấp
Sáu là, một xu hướng khác, cho thấy dòng vốn FDI đang chịu sự chi
phối và kiểm soát chủ yếu bởi các công ty xuyên quốc gia (TNCs) của các nước phát triển Mặc dù ngày càng có sự đa dạng hoá trong các đối tác và chủ thể tham gia vào quá trình luân chuyển FDI, nhưng thực chất dòng vốn FDI quốc tế hiện nay đang bị chi phối bởi các công ty xuyên quốc gia (TNCs) ở các nước phát triển Các công ty xuyên quốc gia trở thành những chủ thể đầu tư trực tiếp với khối lượng kiểm soát trên 90% tổng FDI toàn thế giới, đồng thời
Trang 2819
là lực lượng chủ yếu vận hành những mảng lớn của nền kinh tế thế giới, nắm vững nguồn vốn tài chính, kỹ thuật, nắm giữ các ngành kinh tế then chốt và mũi nhọn, kiểm soát thương mại quốc tế Theo thống kê, các công ty xuyên quốc gia nắm giữ gần 40% sản lượng công nghiệp; 60% ngoại thương, 80% kỹ thuật mới của thế giới tư bản Chỉ tính riêng 100 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới (tất cả đều thuộc Mỹ, EU và Nhật Bản) đã chiếm 1/3 FDI toàn cầu
và tổng tài sản ở nước ngoài của các công ty này đã lên tới 1.400 tỷ USD, sử dụng 73 triệu lao động, trong đó lao động ở nước ngoài là 12 triệu, chiếm trên 16% Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia tiếp tục vươn ra các khu vực khác nhau trên thế giới với quy mô FDI ngày càng lớn, đóng vai trò ngày càng quyết định đối với lĩnh vực này Bên cạnh việc giữ vững các khu vực đầu tư truyền thống như châu Âu, Bắc Mỹ, các công ty xuyên quốc gia đang gia tăng hoạt động đầu tư vào những địa bàn mới đầy triển vọng Đặc biệt, tất cả các công ty xuyên quốc gia đều đẩy mạnh đầu tư vào khu vực châu Á Đây cũng là địa bàn
ưu tiên đầu tư hàng đầu của Nhật Bản, hàng thứ hai của Mỹ (sau châu Âu) và
hàng thứ ba của các nước châu Âu (sau Bắc Mỹ và châu Âu)
Đối với nước ta, cần chú trọng đến thu hút FDI từ các TNCs để tận dụng sức mạnh về tài chính, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường thế giới của các TNCs vào quá trình phát triển KT-XH, hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Mặt khác, Việt Nam hiện là một trong những địa bàn
mới đầy triển vọng để các TNCs nhắm tới đầu tư
Bảy là, xu hướng cạnh tranh giữa các nước đầu tư và giữa các nước tiếp
nhận đầu tư với nhau ngày càng cao Sự phát triển của nền kinh tế thế giới và tiến trình toàn cầu hoá làm cho nguồn vốn FDI ngày càng mở rộng và gia tăng nhưng đồng thời nhu cầu thu hút sử dụng FDI ở tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển cũng ngày càng lớn, dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt
giữa các nước và khu vực nhằm thu hút nguồn vốn này
Trong tổng FDI toàn cầu, các nước đang phát triển chỉ tiếp nhận được trên 20%, nhưng 2/3 của số đó lại tập trung vào một số nước có điều kiện thuận lợi và sức hấp dẫn đầu tư cao như Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Hàn
Trang 2920
Quốc Nhiều nước khác trong khu vực cũng đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư, cạnh tranh trong việc thu hút FDI như Thái Lan, Malaysia, Philippin Hiện nay đang có sự cạnh tranh khá gay gắt về thu hút FDI trong khu vực, đang xuất hiện xu hướng dịch chuyển luồng vốn FDI từ một số nước
ASEAN sang Trung Quốc
Trong bối cảnh đó, nước ta cần có chiến lược thu hút đầu tư và sử dụng FDI, chiến lược ấy phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trong đó mức độ ổn định về chính trị - xã hội, kết quả của sự nghiệp đổi mới đất nước, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư là những yếu tố quan trọng quyết định để tăng luồng vốn FDI vào Việt Nam nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội
Tóm lại: Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi nhất là
từ sau kết thúc "chiến tranh lạnh" đến nay, nền kinh tế thế giới đã xuất hiện những xu hướng mới: đẩy mạnh quá trình tự do thương mại, gia tăng mạnh
mẽ đầu tư quốc tế, thúc đẩy cạnh tranh - hợp tác trên phạm vi toàn cầu Chính xu hướng vận động mới đó của nền kinh tế thế giới lại quyết định sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc, chưa từng có trong lịch sử
Sự gia tăng của dòng FDI một cách nhanh chóng, mạnh mẽ với người chuyển tải khổng lồ là công ty xuyên quốc gia trên khắp thế giới đã đem lại những cơ hội mới cho cả những nước đầu tư và những nước tiếp nhận đầu
tư Mặc dù hình thức vận động, xu hướng vận động của FDI trong hai thập
kỷ qua vẫn bị chi phối chủ yếu bởi các nước tư bản phát triển trên cả hai phương diện, song sự xuất hiện các nhà đầu tư mới ở các NIEs châu Á, và các nước ASEAN cũng là những nhân tố quan trọng, đánh dấu sự vươn lên trong thu hút đầu tư và đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển này
Nghiên cứu các xu hướng vận động của FDI, Việt Nam cần phải xem xét, chọn lọc những dự án phù hợp, để có thể đảm bảo tính hiệu quả trong thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững và rút ngắn khoảng cách về trình độ khoa học - công nghệ của Việt Nam đối với
Trang 3021
thế giới Mặt khác, chúng ta cũng cần mạnh dạn tham gia đầu tư ra nước ngoài để phát huy lợi thế so sánh của mình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Tác động của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
1.2.1 Khái quát tình hình thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian qua
Sau ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và tiền tệ châu Á, từ năm
2000, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam phục hồi và tăng dần qua các năm Vốn đăng ký năm 2000 đạt 2,5 tỷ USD, tăng 21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng
ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 có sự hồi phục trở lại, tăng 6% so với năm 2002 Vốn FDI có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004, với tốc độ tăng 45,1% vào năm 2004 và 50,8% vào năm 2005 Tổng vốn đăng ký thời kỳ 2001-2005 đạt 20,8 tỷ USD
Phân tích giai đoạn 2006 - 2010 cho thấy, vốn đăng ký giai đoạn này đạt 146,69 tỉ USD Trong đó, giai đoạn 2006 đến 2008, dòng FDI vào Việt Nam tăng đột biến, năm sau luôn đạt kỷ lục so với các năm trước Năm 2006 vốn FDI đăng ký đạt 12 tỷ USD, thực hiện đạt 4,1 tỉ USD; năm 2007 vốn đăng ký đạt 21,3 tỷ USD, thực hiện đạt 8,0 tỉ USD; năm 2008 con số này lên tới 71,7 tỷ USD, gấp hơn 3 lần so với năm 2007, thực hiện đạt 11,5 tỉ USD chiếm tới 30,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn nhiều so với các năm trước Trong 2009 và 2010, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, cũng như những vấn đề hậu khủng hoảng nhưng vốn FDI đăng ký năm 2009 vẫn đạt khoảng 21,482 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 10 tỷ USD; năm 2010, vốn đăng ký đạt 18,6 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 11 tỷ USD, với tỷ trọng tương ứng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội là 25,6% và 25,8%
Tính đến quý hết quý 3 năm 2011, cả nước có 13.243 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 202,244 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 87,13 tỷ USD bằng 43,1% so với tổng số vốn đăng ký Giai đoạn
Trang 31Biểu đồ 1.1: Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
các giai đoạn từ 1991 đến 2010
Nguồn: Niên giám thống kê các năm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 3223
Đơn vị: Tỷ USD
Biểu đồ 1.2: Vốn FDI đăng ký và vốn thực hiện giai đoạn 2001-2010
ở Việt Nam
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Bảng 1.1 Vốn FDI đăng ký và thực hiện giai đoạn 2001-2010 ở Việt Nam
Năm
Vốn đăng ký (Triệu USD)
Vốn thực hiện (Triệu USD)
Tỷ lệ vốn thực hiện/ Vốn đăng ký (%)
Trang 33Theo lĩnh vực đầu tư: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh
vực được sự quan tâm nhiều nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 7.849 dự
án đầu tư, tổng số vốn đăng ký 100,2 tỷ USD chiếm 49,6% tổng vốn đăng ký; tiếp theo là lĩnh vực kinh doanh bất động sản với 362 dự án đầu tư, tổng vốn đăng ký đạt 46,4 tỷ USD chiếm 22,9%
Theo hình thức đầu tư: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài, tiếp theo đó là hình thức liên doanh, hợp đồng BT, BOT, BTO Tính đến hết quý 3 năm 2011, trên địa bàn cả nước có 10.244 dự án đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài, tổng vốn đăng ký 124,7 tỷ USD chiếm 61,7% tổng vốn FDI; hình thức liên doanh có 2.572 dự án, vốn đăng ký 61,7
tỷ USD chiếm 30,5%, tiếp theo là hình thức BT, BOT, BTO
Theo đối tác đầu tư: Hiện nay có 93 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án
đầu tư tại Việt Nam, trong đó lớn nhất là Hàn Quốc với 3.004 dự án, tổng vốn đăng ký đạt 23,37 tỷ USD chiếm 11,56% tổng vốn FDI đăng ký; tiếp theo là Đài Loan với 2.197 dự án, tổng vốn đăng ký 23,31 tỷ USD chiếm 11,52% tổng vốn FDI đăng ký; tiếp theo là các nước Singapo, Nhật Bản, Malaysia
Trang 342009 là 4,8% Nếu so với tốc độ tăng GDP của Việt Nam tương ứng năm
2005 là 8,4%, năm 2006 là 8,23%, năm 2007 là 8,46%, năm 2008 là 6,31%, năm 2009 là 5,32%, năm 2010 là 6,78%, tốc độ tăng trưởng của khu vực FDI
là khá ấn tượng
Bên cạnh đó, đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp FDI vào GDP của Việt Nam ngày càng tăng về tỷ trọng Số liệu thống kê cho thấy, năm 2001 khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 13,76% GDP cả nước, đến năm 2005 tăng lên 15,99 % và năm 2010 chiếm 18,7% (xem bảng 1.2)
Bảng 1.2: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI đối với GDP; Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ 2001-2010
Đơn vị tính: %
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Đóng góp
Nguồn: Niên giám thống kê các năm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
FDI còn tham gia giải quyết việc làm cho người lao động tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư Đối với Việt Nam, các doanh nghiệp FDI cũng đã tham
Trang 3526
gia giải quyết nhiều việc làm cho người lao động Năm 2005, các doanh nghiệp FDI thu hút 1,03 triệu lao động thì đến năm 2010 đã lên tới 1,9 triệu lao động
FDI cũng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Xét theo ngành, tỷ trọng của FDI tập trung vào một số ngành và chiếm tỷ trọng cao so với khu vực nhà nước và ngoài nhà nước Trong đó ngành sản xuất các thiết bị chính xác và quang học, thước đo chiếm 97,8% (năm 2008); sản xuất các thiết bị phát thanh truyền hình và thông tin 91,6%; sản xuất sản phẩm từ da 89,3%; sản xuất, lắp ráp xe có động
cơ, xe máy và phụ tùng 81,6%; quần áo may sẵn, vải các loại 68,7%, lắp ráp ô
tô 68,4% Hiện nay, các doanh nghiệp FDI chiếm gần 100% sản lượng dầu thô khai thác hàng năm, 60% sản lượng thép cán, 28% xi măng, 33% máy móc thiết bị điện, điện tử, 55% sản lượng sợi, 49% da giầy, 25% thực phẩm
đồ uống
Nhờ có đầu tư trực tiếp nước ngoài mà các sản phẩm ngành công nghiệp cũng đa dạng, phong phú hơn về chủng loại, mẫu mã, góp phần cùng các thành phần kinh tế khác thoả mãn phần lớn nhu cầu tiêu dùng trong nước
và cho xuất khẩu Ngoài ra đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đưa vào Việt Nam một số ngành công nghiệp mới có trình độ công nghệ tiên tiến như công nghiệp khai thác dầu khí, hoá dầu, chế tạo ô tô, xe máy, sản xuất đồ điện tử gia dụng, máy tính điện tử, công nghiệp viễn thông… Nhiều Tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới đã đầu tư vào Việt Nam trong hầu hết các lĩnh vực như SAMSUNG, LG, TOYOTA, INTEL, KUMHO, SONY, TOSHIBA, GE…
FDI tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Thông
Trang 36chỉnh, đó là:
- Hiệu quả của vốn FDI còn thấp, chuyển giao công nghệ chậm chạp, chuyển giá ra ngoài, khu vực FDI chưa tạo ra được tác động lan tỏa tới các
khu vực kinh tế khác như mong muốn
Từ khi FDI vào Việt Nam, khối doanh nghiệp FDI được kỳ vọng sẽ là lực lượng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo vốn và kích thích chuyển giao và đổi mới công nghệ Tuy nhiên, trên thực tế, trong giai đoạn 1999-2010, đặc biệt là mấy năm gần đây, khu vực FDI bị coi là khu vực
có hiệu quả kém, với nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ, hoặc các doanh nghiệp khác thì thực chất chỉ là một phân xưởng gia công của công ty mẹ ở nước ngoài Có thể đánh giá hiệu quả FDI căn cứ vào hai chỉ số: Tỷ số gia tăng vốn
và đầu vào (ICOR) và Hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho thấy, trong 10 năm 1999-2009, ICOR của khu vực nhà nước là 7,76; khu vực tư nhân là 3,54; khu
vực FDI là 7,91 Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao
chỉ là 3,6 Như vậy, có thể thấy, khối doanh nghiệp FDI có chỉ số cao nhất và
điều đó chứng tỏ hiệu quả trong khu vực này là thấp nhất
Về việc chuyển giao công nghệ, TFP của các khu vực kinh tế nhà nước,
tư nhân và doanh nghiệp FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6 Theo nghiên cứu này, TFP của khối doanh nghiệp nhà nước cao nhất, cho thấy rằng mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm
Trang 3728
(-17,6), cho thấy sự tăng trưởng chủ yếu nhờ vào các yếu tố khác, như lao động rẻ, chứ không phải do công nghệ Trên thực tế, khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết Thực tế này khiến nhiều người lo ngại Việt Nam có thể bị biến thành “bãi rác” công nghệ Điều đáng nói là Việt Nam không có chính sách chuyển giao công nghệ như các nước Trung Quốc, Hàn
Quốc… Vì vậy, sau gần 20 năm nước ta có nhiều hãng ô tô nổi tiếng thế giới
đầu tư nhưng các chuyên gia kinh tế cho rằng có lẽ Việt Nam vĩnh viễn sẽ
không có ngành công nghiệp ô tô [52]
Khu vực FDI chưa tạo ra được tác động lan tỏa lớn trong nền kinh tế Khu vực FDI và khu vực kinh tế nội địa liên kết với nhau rất lỏng lẻo Bằng chứng rõ ràng là công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất yếu, trong nhiều lĩnh vực để có thể xuất khẩu được thì cần phải nhập khẩu tới 70-80% nguyên vật liệu từ nước ngoài Rõ ràng, điều này một mặt hạn chế tác dụng lan tỏa tích cực của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước, mặt khác tăng chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp FDI Kênh chuyển giao và phổ biến công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cũng không có hoặc ít diễn ra Cho tới nay, chúng ta vẫn chưa có được nhiều dự án có chất lượng cao về công nghệ, về quy mô kinh tế, về tính bền vững, về năng lực cạnh tranh quốc tế và khả năng kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu để tạo nên năng lực và lợi thế cạnh tranh mới cho nền kinh tế
Một vấn đề đã được nói đến từ lâu là thủ thuật “chuyển giá” của doanh nghiệp FDI Theo số liệu của Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh, trong số 1.254 doanh nghiệp có vốn FDI nộp hồ sơ báo cáo thuế năm 2008, có đến 708 doanh nghiệp báo lỗ, trong đó có đến gần 90% hoạt động trong lĩnh vực may mặc Đây rõ ràng là điều vô lý và không bình thường khi hầu hết doanh nghiệp may mặc Việt Nam, dù phải nhập khẩu phần lớn nguyên phụ liệu của nước ngoài, đều làm ăn có lãi Các doanh nghiệp FDI luôn có lợi thế hơn hẳn
so với các doanh nghiệp trong nước khi có các công ty mẹ ở chính quốc sản
Trang 3829
xuất nguyên phụ liệu Họ sẵn sàng cung cấp nguyên phụ liệu cho các công ty con ở nước ngoài sản xuất Vậy vì sao các doanh nghiệp này bị lỗ?
Tại Việt Nam có không ít doanh nghiệp FDI tận dụng yếu tố lao động
rẻ để đầu tư vào các ngành công nghiệp gia công với công nghệ không cao, thậm chí với máy móc lạc hậu, để tạo ưu thế về chi phí sản xuất hàng xuất khẩu Các doanh nghiệp này không chỉ thu lãi trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà còn tạo điều kiện cho các công ty ở chính quốc tăng lợi nhuận khi tính cao giá công thiết kế, bản quyền, hậu cần hay tư vấn Phía đối tác thực hiện chiến lược chuyển giá bằng hình thức tăng giá đầu vào, giảm giá đầu ra, gây thiệt hại không nhỏ cho các phía đối tác Việt Nam Cuối cùng, lợi nhuận thực đã “chảy” ra nước ngoài
- Xuất hiện những bất cập trong cấu trúc vốn FDI
Cấu trúc FDI chưa như mong muốn FDI tập trung nhiều nhất trong những ngành, lĩnh vực mà chúng ta thực sự mở cửa, ưu tiên phát triển trong từng thời kỳ Trong khi đó, một số lĩnh vực khác dù được quan tâm kêu gọi FDI nhưng chưa thu hút được nhiều dự án, do chính sách chưa đủ hấp dẫn, chưa thực sự cởi mở hoặc chưa tạo được niềm tin về năng lực tiếp nhận (như nông nghiệp, kết cấu hạ tầng, công nghệ cao…)
(1) Về cấu trúc vốn FDI theo vùng:
Cho đến nay FDI đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước Tuy nhiên, cơ cấu dự án FDI theo vùng thay đổi khá chậm và bộc lộ nhiều bất cập
Cơ cấu đầu tư còn mất cân đối và phân bổ không đồng đều Như đã phân tích
ở trên, phần lớn các dự án FDI tập trung ở các trung tâm kinh tế, nơi có điều kiện hạ tầng thuận lợi, nguồn lao động dồi dào, có trình độ, và nhiều lợi thế khác là vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung Một số vùng thu hút được lượng vốn FDI rất thấp, đáng chú
ý là: Trung du và miền núi phía Bắc (chỉ chiếm 1,53% tổng lượng vốn FDI); Tây Nguyên (chỉ chiếm 0,33%); Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 4,86%)
Trang 3930
Mặc dù Chính phủ đã dành cho những vùng này nhiều ưu tiên, và bản thân các địa phương rất quan tâm đến việc xúc tiến đầu tư những thu hút FDI vẫn rất khó khăn
(2) Về cấu trúc vốn FDI theo ngành, lĩnh vực:
Cơ cấu đầu tư theo ngành và lĩnh vực chưa hợp lý, về cơ bản chưa kéo được FDI vào những lĩnh vực cần phát triển ưu tiên như hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ cao, nhằm tạo ra cơ sở phát triển bền vững và tăng khả năng đón đầu phát triển Sự mất cân đối giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế được thể hiện ở chỗ FDI thường tập trung vào những ngành có khả năng sinh lợi cao và sinh lợi ngay như khai thác tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, dầu khí, những ngành khai thác được nguồn nhân lực giá rẻ, tận dụng được vị trí địa lý và thị trường nội địa, khai thác những lợi thế so sánh vốn có của Việt Nam Điều này góp phần dẫn tới sự mất cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế1
(3) Về cấu trúc FDI theo hình thức đầu tư:
Nếu như trong những năm đầu, đa số doanh nghiệp FDI chọn phương thức liên doanh với doanh nghiệp trong nước giống như ở nhiều nước trên thế giới, thì càng những năm sau, phương thức lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến hơn, kể cả nhiều doanh nghiệp liên doanh cũng được nhà đầu tư nước ngoài mua nốt phần vốn góp của phía Việt Nam
để trở thành 100% vốn nước ngoài Trước năm 2000, các doanh nghiệp liên doanh chiếm tỷ trọng 60-70% số dự án FDI, thì kể từ đó đến nay, các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng trên 70% Đây là một hiện tượng bất thường bởi sức lan tỏa của FDI không thể dựa chủ yếu vào doanh nghiệp 100% vốn ngoại
(4) Về cấu trúc vốn FDI theo nước đầu tư:
1 Năm 2009, Việt Nam thu hút được 21,482 tỷ USD vốn FDI, trong đó: lĩnh vực lưu trú và ăn uống vẫn dẫn đầu với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm; lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với 7,6 tỷ USD Riêng lĩnh vực bất động sản chiếm hơn 35% vốn, cao hơn mức 30% của năm 2008 và 12% của năm
2007
Trang 4031
Hiện nay, đã có 93 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Tuy nhiên, phần lớn FDI đến từ các nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…, chiếm khoảng 70% tổng lượng vốn FDI Phần lớn nhà đầu tư là các doanh nghiệp nhỏ và vừa với trình độ khoa học công nghệ ở mức trung bình trên thế giới Luồng vốn đầu tư từ các nước có trình độ phát triển cao, thị trường lớn, công nghệ nguồn, cũng như trình độ quản lý hiện đại như các quốc gia thuộc EU còn khá hạn chế Có thể nói, hầu như chưa có thay đổi đáng kể về
cơ cấu FDI theo nước đầu tư trong thời gian qua, ngoại trừ việc FDI từ Mỹ đã tăng lên đáng kể trong một vài năm trở lại đây, đưa Mỹ trở thành một trong những nước đầu tư lớn vào Việt Nam
- Xảy ra tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài:
Các tranh chấp lao động thường diễn ra trong những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động và khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh Nhìn chung các chủ doanh nghiệp FDI thường trả công cho người lao động thấp, các chế độ, chính sách khác như nhà ở, vui chơi giải trí, vệ sinh môi trường, an toàn lao động không thỏa đáng với nhu cầu của người lao động Thậm chí có trường hợp quy định của doanh nghiệp không cho người lao động đi vệ sinh khi chưa đến giờ giải lao, có quản đốc người nước ngoài đánh đạp công nhân Những vấn đề đó tạo nên mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công bãi công làm thiệt hại cho doanh nghiệp
- Tác động tiêu cực của FDI tới môi trường:
Trên phạm vi thế giới, tình hình xuất khẩu ô nhiễm từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua FDI ngày càng gia tăng Các nước đang phát triển có nguy cơ trở thành những nước có mức nhập khẩu ô nhiễm cao, mà Việt Nam không phải là ngoại lệ Hiện nay vấn đề xử lý rác thải, nước thải tại Việt Nam chưa được chú trọng, hầu hết các doanh nghiệp