Thành công của một số nước công nghiệp mới châu Á và Trung Quốc trong phát triển các KCN cho thấy các KCN đã trở thành những thực thể kinh tế năng động nhất trong thu hút đầu tư trực tiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN VĂN HẬU
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Ở NAM ĐỊNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Trang 2DNLD Doanh nghiệp liên doanh
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp của nước ngoài
KCN Khu công nghiệp
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của Nam Định thời kỳ 2000 - 2009 ………… 43
Bảng 2.2 Cơ cấu sử dụng đất trong KCN Hoà Xá 54
Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng đất trong KCN Mỹ Trung 55
Bảng 2.4 Cơ cấu sử dụng đất trong KCN Bảo Minh 56
Bảng 2.5 Dự án FDI được cấp mới vào các KCN của Nam Định, giai đoạn 2003 -
2009 58
Bảng 2.6 Cơ cấu dự án thu hút FDI theo các KCN Nam Định, giai đoạn 2003 - 2009 59
Bảng 2.7 Cơ cấu dự án FDI theo hình thức đầu tư trong các KCN của Nam Định, giai đoạn 2003 - 2009 60
Bảng 2.8 Cơ cấu dự án FDI phân theo quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào các KCN của Nam Định, giai đoạn 2003 - 2009 61
Bảng 2.9 Cơ cấu VTH phân theo hình thức đầu tư trong các KCN tập trung của Nam Định, giai đoạn 2003 - 2009 ……… 63
Bảng 2.10 Cơ cấu VTH theo KCN tập trung của Nam Định, giai đoạn 2003 - 2009 64
Bảng 2.11 Tình hình sản xuất kinh doanh của các DN FDI trong KCN 66
Trang 4
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khu công nghiệp là một mô hình kinh tế hiện đại để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, mô hình kinh tế này đã được nhiều nước áp dụng và thực sự được coi là một trong những công cụ có hiệu quả để thực hiện chiến lược công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Thành công của một số nước công nghiệp mới châu Á và Trung Quốc trong phát triển các KCN cho thấy các KCN đã trở thành những thực thể kinh tế năng động nhất trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo nguồn lực xuất khẩu, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế
Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, nhiều KCN đã được xây dựng và phát triển, phát huy tác dụng tích cực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh xuất khẩu, giải quyết việc làm
Cùng với sự phát triển các KCN của cả nước, các KCN ở Nam Định ra đời
đã trở thành một trong những địa điểm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, tạo động lực cho quá trình phát triển KT - XH của tỉnh Tuy nhiên, các dự án đầu tư vào KCN triển khai chậm; hầu hết các dự án đầu tư có quy mô nhỏ, nguồn vốn đầu tư chủ yếu là nguồn vốn trong nước, vốn FDI rất hạn chế; nhu cầu đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển dịch vụ, các ngành phụ trợ ở các KCN rất lớn nhưng vốn huy động được quá ít Mặc dù trong những năm vừa qua tỉnh Nam Định đã có nhiều cố gắng song do nhiều yếu tố tác động nên
số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định còn hạn chế Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Nam Định nói chung và vào các KCN của tỉnh nói riêng chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 5Thu hút được nhiều FDI vào các KCN ở Nam Định trong thời gian tới là
một vấn đề cấp bách Xuất phát từ thực tế đó, tác giả chọn vấn đề "Thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp ở Nam Định hiện nay" làm
đề tài luận văn thạc sĩ
- Lê Phương Hiếu (2006), “Phát triển các KCN, KCX đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí tài chính DN số 8 Tác giả đã phân tích vai trò của các KCN, KCX đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Nguyễn Hữu Dũng (2006), “Phát triển các KCN với vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam”, Tạp chí lao động và xã hội số 291 Tác giả đã phân tích
và đưa ra những đánh giá về sự hình thành và phát triển các KCN đã tác động tới tình hình lao động và việc làm ở Việt Nam
- Mai Ngọc Cường (1993): “Các KCX châu Á – Thái Bình Dương”, Nxb Thống kê Tác giả đã phân tích những vấn đề cơ bản về tổ chức KCX, kinh nghiệm thành bại của một số KCX châu Á Thái Bình Dương và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các KCX ở Việt Nam
- Trương Thị Minh Tâm (2004): “Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực pháp lý quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở các KCN, KCX”, Nxb Khoa học Xã hội
Trang 6- Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long (2004), “Phát triển các KCN, KCX trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Chế Đình Hoành (1996): “cải tạo và hoàn thiện các KCN Hà Nội theo định hướng phát triển đến năm 2010” Luận án đưa
ra những cơ sở khoa học của việc cải tạo và phát triển các KCN ở Hà Nội trên
cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển các KCN ở Hà Nội trong thời gian tới
- Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Xuân Hinh (2003), “ quy hoạch và phát triển KCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” Luận án đã phân tích thực trạng quy hoạch và phát triển các KCN ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển các KCN ở Việt Nam
- Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Tuyển Cử (2004), “Những biện pháp phát triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với KCN ở Việt Nam” Luận
án đã phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các KCN ở Việt Nam, trên cơ sở đó luận án đã đưa ra những biện pháp nhằm phát triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các KCN ở Việt Nam
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Văn Hân (2006): “Giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DN trong các KCN tại thủ đô Hà Nội” Luận án phân tích, đánh giá thực trạng về tín dụng ngân hàng trong các KCN Hà Nội, đồng thời đưa ra những kiến nghị và giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng đối với các DN tại các KCN ở Hà Nội
Các công trình trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thu hút FDI vào các KCN ở Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về thu hút FDI vào các KCN ở tỉnh Nam Định một cách hệ thống và dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp đồng bộ nhằm thu hút FDI vào các KCN ở Nam Định hiện nay là vấn đề rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 73.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng, đề xuất hệ thống các giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI
vào các KCN ở Nam Định
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút FDI vào các KCN
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI vào các KCN ở Nam Định trong những năm qua
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thu hút FDI vào các KCN ở Nam Định trong trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động thu hút
FDI vào các KCN tập trung ở Nam Định
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề thu hút FDI
vào các KCN ở Nam Định từ năm 2003 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Dựa trên đường lối và chủ trương của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước ta về phát triển các KCN và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Kế thừa những kết quả nghiên cứu liên quan đến thu hút FDI vào các KCN của các công trình khoa học trong nước và ngoài nước
- Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp
hệ thống, thống kê, phân tích - tổng hợp, kết hợp lôgic - lịch sử, khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn
6 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN, bước đầu tổng kết kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước
về thu hút FDI vào các KCN
Trang 8- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI vào các KCN ở tỉnh Nam Định
- Đề xuất những giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm đẩy mạnh thu hút FDI vào các KCN ở Nam Định thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 9Chương 1
CƠ CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của KCN
1.1.1 Khái niệm KCN
Thuật ngữ KCN xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX - khi các KCN bắt đầu được hình thành và phát triển Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về KCN Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) trong tài liệu KCX tại các nước đang phát triển (Export processing Zone in Developing Countries) công bố năm 1990 thì KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà
Theo quan điểm của Hiệp hội Thế giới về KCX (World Export Processing Zone Association - WEPZA), KCX là tất cả khu vực được Chính phủ các nước cho phép thành lập và hoạt động như Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được tổ chức này công nhận Cũng từ quan điểm này, do nhu cầu phát triển của các mối quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng, xuất phát từ yêu cầu bức thiết của quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển, khái niệm này đã được bổ sung bằng những quan niệm mới như: Khu kinh tế
Trang 10bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, nhà ở cho công nhân Các KCN ở Indonesia và Thái Lan thường gồm
ba bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu sản xuất hàng xuất khẩu
và khu thương mại và dịch vụ [18, tr.30,31,33]
Tuy nhiên, cũng có những quan niệm cho rằng KCN là một khu vực phụ (Subregion), không nhất thiết phải có sự ngăn cách, biệt lập
Ở Việt Nam, quy chế KCN (Ban hành kèm theo Nghị định số 192-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ) đã đưa ra quan niệm: "KCN quy định trong quy chế này là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sống" [3, tr.1]
Trong mục 1, điều 2 tại Nghị định 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về quy chế KCN, KCX và khu công nghệ cao: “KCN là khu tập trung các DN KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có DN chế xuất” [4, tr.1]
Nhìn chung, các tiêu chí để hình thành một KCN bao gồm:
- KCN phải do Chính phủ hoặc do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành
lập
- KCN là nơi tập trung các DN có đủ cơ sở pháp lý, chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp
- KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống
- Trong KCN có thể có DN chế xuất, đó là các DN chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu
Trang 11Trên cơ sở 4 tiêu chí trên, tác giả luận văn thống nhất với khái niệm về KCN đã được nêu ra Theo luật đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005
có hiệu lực thi hành từ 01/7/2006:
- “KCN là khu sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [21]
- “Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định được thành lập theo quy định của Chính phủ” [21]
- “Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất
và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [21]
Với khái niệm như vậy, KCN của Việt Nam được hiểu là KCN tập trung, không có dân cư sinh sống nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề hạ tầng và ô nhiễm môi trường, có phân biệt với các vùng công nghiệp (bao gồm nhiều KCN), với các đặc khu kinh tế (có bộ máy quản lý hành chính độc lập) Theo quan niệm của Việt Nam, các KCX (chuyên sản xuất hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu), khu công nghệ cao (tập trung các DN có công nghệ cao hoặc DN dịch vụ cho các DN có công nghệ cao) chỉ là hình thái đặc thù của KCN tập trung (dưới đây gọi chung là KCN)
- Các xí nghiệp trong KCN thường được hưởng một quy chế riêng của Nhà
Trang 12nước và địa phương sở tại Các quy chế này thể hiện sự quan tâm, ưu đãi, có chính sách kinh tế đặc thù, tạo môi trường đầu tư thuận lợi hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng phạm vi đất đai nhất định trong KCN để tạo lập thành các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và miễn hoặc giảm phí thuê đất, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển
- KCN có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản lý thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các xí nghiệp công nghiệp và các DN hoạt động
- KCN thường có giới hạn địa lý hẹp, khoảng vài chục đến vài trăm ha và
có thể được ngăn cách với xung quanh bởi hàng rào cứng Không có dân cư sinh sống trong KCN
- Hoạt động chính trong KCN là hoạt động sản xuất công nghiệp, sản phẩm của các nhà máy, DN trong KCN chủ yếu giành cho xuất khẩu, hướng ra thị trường thế giới Tuy nhiên, để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, các nhà máy trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lượng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu
Tuy nhiên, có thể coi khái niệm KCN mà chúng ta sử dụng là khái niệm hẹp bởi chúng ta chỉ quan tâm chủ yếu đến phần diện tích dành cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng để cho thuê, còn việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội không nằm trong phạm vi quy định Quan niệm này dẫn đến một thực tế là khi xây dựng KCN, người ta không quan tâm đến tính đồng bộ của nó theo nghĩa rộng, dẫn đến yếu tố bất cập, ảnh hưởng lớn tới hiệu quả KT - XH của KCN
1.1.3 Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.1 Thu hút các nguồn vốn đầu tư
Thực tế trong những năm qua ở nước ta, KCN đã đóng vai trò tích cực vào việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là FDI Số dự án đầu tư (cả trong nước và ngoài
Trang 13nước) vào các KCN chiếm tỷ trọng khá lớn Sự gia tăng vốn đầu tư vào các KCN góp phần quan trọng vào việc tăng tổng vốn đầu tư của toàn xã hội và sự phát triển của các DN này còn tạo sức lan toả tới các DN ngoài KCN Tính đến hết năm 2009, các KCN của Việt Nam đã thu hút được trên 3.600 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 46,9 tỷ USD (chiếm 30% về số dự án và 25% về vốn đầu tư so với cả nước) và 3.200 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 254.000 tỷ đồng [31] Trong điều kiện nền kinh tế tích lũy nội bộ còn thấp thì thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng KCN là một giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn của các DN có vốn đầu tư nước ngoài Thực tế từ khi xây dựng KCN cho đến nay, số dự án và tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào KCN không ngừng gia tăng và chiếm tỉ lệ lớn trong tổng
số vốn FDI đầu tư trên cả nước
Bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, việc tập trung các DN công nghiệp vào một khu vực địa lý, hình thành KCN tập trung là một vấn đề không kém phần quan trọng, bởi trong KCN tập trung, các DN dùng chung các công trình hạ tầng nên giảm được chi phí trên một đơn vị diện tích và đơn vị sản phẩm, thực hiện phát triển công nghiệp theo một quy hoạch thống
nhất, kết hợp giữa quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch lãnh thổ
1.1.3.2 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
KCN phát triển kéo theo sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp, những vùng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả thấp sẽ được chuyển sang xây dựng KCN để sản xuất công nghiệp có hiệu quả cao hơn nhiều Sự phát triển của các KCN góp phần to lớn vào sự hình thành các khu đô thị mới với hàng loạt các ngành dịch vụ phát triển như thông tin liên lạc, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải và thương mại Từ đó, kinh tế của cả nước được tăng trưởng, cơ cấu GDP của nền kinh tế quốc dân có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp Đi theo sự
Trang 14dịch chuyển này, lao động từ nông nghiệp sẽ được di chuyển vào công nghiệp và dịch vụ sẽ làm giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ trong tổng số lao động của cả nước
Trong những năm qua, doanh thu và giá trị kim ngạch xuất khẩu của các
DN trong các KCN, KCX liên tục tăng nhanh đều qua các năm Doanh thu trung bình của các DN trong KCN, KCX tăng trưởng trung bình gần 48%/năm, gấp 6,3
lần tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của cả nước Năm 2005, các DN trong
KCN, KCX đã nộp ngân sách đạt 650 triệu USD, đến năm 2008, các DN này đóng góp vào ngân sách nhà nước đạt 2.620 triệu USD, cao gấp 4 lần so với năm 2005 Các KCN, KCX đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, từ năm 2001 – 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt
khoảng 7,2%/năm
Giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của các KCN, KCX tăng trưởng mạnh đã góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành của Việt Nam theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong GDP, từ 23,79% năm 1991 lên 40,24% năm
2009 Trong khi đó, tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp giảm tương ứng từ 40,49% năm 1991 xuống còn 20,66% năm 2009 [27]
Sự chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế này chủ yếu là do tốc độ tăng trưởng nhanh của những ngành công nghiệp chế biến, hiện nay các ngành công nghiệp chế biến chiếm tới 80% giá trị sản lượng công nghiệp (trừ ngành khai
thác mỏ) của các DN trong các KCN, KCX
1.1.3.3 Mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu
Hàng hoá được sản xuất tại các KCN không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong nước mà sẽ thâm nhập vào thị trường thế giới, do đó KCN sẽ góp phần phát triển mặt hàng, mở rộng thị trường, phục vụ cho chiến lược kinh tế hướng
về xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các DN KCN, KCX giai đoạn từ năm 2005 - 2008 là 38,1% Tính đến ngày 30/12/2009, các KCN trong cả nước
đã xuất khẩu đạt 12,3 tỷ USD và 2,6 nghìn tỷ đồng [31]
Trang 15Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng và cân bằng cán cân thương mại của mỗi nước cũng như của từng địa phương, thông qua xuất khẩu, lợi thế so sánh của từng địa phương sẽ được khai thác có hiệu quả hơn Trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, dù DN có khả năng sản xuất với mức chi phí thấp cũng vẫn gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường, nhất là thị trường thế giới Thông qua liên doanh, liên kết đầu tư, nhất là với các công ty xuyên quốc gia nắm được thị phần lớn là điều kiện tốt nhất để phát huy những lợi thế so sánh của mỗi quốc gia và của mỗi địa phương, nhanh chóng khẳng định được thương hiệu, vì các công ty xuyên quốc gia có vị thế và uy tín lớn trong hệ thống sản xuất
và thương mại quốc tế
Thực tế cho thấy, nhiều KCN ở các nước, đặc biệt ở các quốc gia khu vực châu Á đã thành công trong mục tiêu này Theo thống kê của WEPZA (Hiệp hội KCX thế giới), một KCX diện tích khoảng 100 ha, cần đầu tư 50 triệu USD cho kết cấu hạ tầng, trong vòng 10 năm sẽ tạo ra hàng xuất khẩu trị giá 100 triệu
USD/năm [25,tr.35]
1.1.3.4 Tiếp thu công nghệ mới, kỹ năng quản lý tiên tiến
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đi tắt đón đầu tiếp thu những công nghệ mới là một đòi hỏi bức thiết của các nước đang phát triển cũng như của từng địa phương
KCN tạo điều kiện cho việc tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến Hình thành các KCN sẽ tạo ra những tiền đề cho phép tiếp nhận những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại nhất của thế giới để vận dụng vào sản xuất những sản phẩm có chất lượng Tiếp nhận những thành tựu khoa học công nghệ trong các KCN có một sự thuận lợi hơn hẳn so với các DN sản xuất kinh doanh phân tán, rải rác ở các khu vực dân
cư
Mặc dù, ở các KCN, đầu tư nước ngoài chủ yếu thực hiện các hoạt động sản xuất hàng tiêu dùng, dệt may, gia công giày da, lắp ráp điện tử sau đó là sản
Trang 16xuất cơ khí, linh kiện điện tử song, quá trình chuyển giao công nghệ vẫn diễn
ra thông qua nhiều hình thức như: đào tạo công nhân nước chủ nhà để sử dụng máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất, đưa máy móc hiện đại sang để tiến hành sản xuất nhằm mục đích tạo năng suất lao động cao Các công ty ở các KCN có thể chuyển giao một số các công nghệ mới vào giúp đỡ kỹ thuật cho các nhà cung cấp địa phương hoặc các công ty sản xuất các chi tiết sản phẩm vào các DN trong KCN
1.1.3.5 Giải quyết việc làm và đào tạo nguồn nhân lực
Sự hình thành và phát triển các KCN không chỉ thu hút lao động vào các
DN bên trong KCN mà còn kích thích các hoạt động dịch vụ phát triển, do đó thu hút vào các hoạt động này một số lớn lao động khác Các KCN cũng như các dịch vụ hỗ trợ bên ngoài KCN đã giải quyết được một số lượng lao động khá lớn Theo con số thống kê, đến năm 2009, các DN trong KCN, KCX ở Việt Nam
đã tạo việc làm cho khoảng 750 nghìn người lao động trực tiếp, và hơn 1 triệu lao động gián tiếp Phần lớn những lao động này là lao động trẻ, có khả năng nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật mới Trong tổng số lượng lao động trong các KCN, có đến 90% lao động có độ tuổi từ 18 đến 35 [31] Nếu so sánh với khả năng tạo việc làm của các KCN, KCX thì con số 750 nghìn lao động trực tiếp và hơn 1 triệu lao động gián tiếp chưa phải là lớn, chưa tương xứng với tiềm năng Nhưng điều quan trọng là số lao động này được tiếp cận với công nghệ sản xuất hiện đại, phương thức quản lý tiên tiến Đây là điều kiện hết sức quan trọng để xây dựng đội ngũ lao động mới có kỷ luật, có chuyên môn, kỹ thuật và có năng suất lao động cao đáp ứng nhu cầu của công cuộc CNH, HĐH đất nước Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các DN, nhiều KCN, KCX đã
mở các cơ sở đào tạo nghề Việc thành lập các trung tâm dạy nghề và đào tạo trong các KCN, KCX đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các
DN trong KCN nói riêng, cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung
Thực tế cho thấy, tại các địa phương có KCN, tỷ lệ thất nghiệp giảm rõ rệt,
Trang 17điều đó tác động khá tích cực đến việc xóa đói giảm nghèo, đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên
1.1.3.6 KCN góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường
Bảo vệ môi trường là nội dung cơ bản của phát triển bền vững Các nước đang phát triển thực hiện CNH, HĐH cần chú ý sự phát triển cân bằng cả kinh tế,
xã hội và môi trường Vấn đề môi trường là một yếu tố quan trọng mà bất cứ một
DN sản xuất nào đều phải giải quyết và xử lý Với mục tiêu chỉnh trang các đô thị theo hướng hiện đại, văn minh và bảo vệ môi trường, phải di dời nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp trong các đô thị ra các vùng ngoại thành Nếu các
DN phân bố phân tán, việc xử lý chất thải do từng DN thực hiện riêng rẽ sẽ rất tốn kém và không đồng bộ Việc tập trung nhiều DN trên cùng một địa bàn sẽ cho phép xây dựng các trung tâm xử lý chất thải với chi phí ít tốn kém hơn, đồng
bộ hơn Mặt khác, với sự tập trung của các DN sản xuất công nghiệp vào một địa điểm xác định, Ban quản lý các KCN có thể kiểm soát tốt hơn mức độ ô nhiễm của các DN để có giải pháp thích hợp
Ô nhiễm môi trường được hạn chế do có hệ thống xử lý chung và được kiểm soát chặt chẽ Những cơ sở công nghiệp khác không có khả năng xử lý ô nhiễm môi trường sẽ được di dời vào KCN, như vậy chúng ta hạn chế được việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dân cư KCN tập trung giảm sự tiếp xúc trực tiếp của các khu đô thị với tác động bất lợi của sản xuất công nghiệp (như tiếng ồn, khói bụi, bức xạ )
1.1.4 Những tác động tiêu cực có thể xảy ra khi thành lập và đưa vào hoạt
động các KCN
- Do theo đuổi phong trào xây dựng KCN mà các nhà quản lý thiếu tính
toán việc thu hút các DN sản xuất nhằm “lấp đầy” KCN, nên có thể dẫn đến tình
trạng lãng phí các nguồn lực
Sự hình thành ồ ạt các KCN mà chưa xét đến nhu cầu thực tế, khiến cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế không theo kịp; thiếu sự tính toán chặt chẽ
Trang 18dẫn đến tình trạng lãng phí lớn các nguồn lực Mặt khác, việc phân bố các KCN giữa các vùng còn bất hợp lý Thành lập quá nhiều KCN trong cùng một vùng trong khi khả năng thu hút đầu tư hạn chế, không phát huy được hiệu quả vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho KCN Điều này vô hình chung đã hình thành nên các KCN có chức năng tương tự nhau ở các địa phương, dẫn đến tình trạng cạnh tranh gay gắt, tự phát, chạy đua theo phong trào thành lập, thu hút đầu tư vào KCN không phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của vùng, quy hoạch phát triển KCN cả nước
- Việc xây dựng các KCN cần phải có mặt bằng xây dựng Nếu chính sách đền bù giải phóng mặt bằng cho các KCN không phù hợp, không được người dân đồng tình thì có thể gây ra tình trạng trì trệ trong phát triển KCN
Chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng cho các KCN nếu không phù hợp
có thể dẫn đến tình trạng bần cùng hóa một bộ phận nông dân Trong thời gian qua, việc đền bù, giải phóng mặt bằng có nhiều bất cập, hạn chế, vừa phức tạp, vừa tốn nhiều thời gian, tiền bạc Nhiều KCN phải mất từ 2 đến 3 năm mới đền
bù, giải tỏa xong Điều này đã đẩy chi phí xây dựng tăng lên, dẫn đến giá cho thuê đất tăng cao, làm giảm tính hấp dẫn của KCN
- Mặc dù KCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường sinh thái, nhưng nếu không có chính sách và cơ chế quản lý chặt chẽ,
có hiệu quả thì sẽ gây tác động ngược lại, mức độ ô nhiễm môi trường sẽ tăng lên nhanh
Các KCN vì mục tiêu kinh doanh, vì cố gắng thu hút các dự án đầu tư bất
kể ở trình độ nào, vì tiết kiệm chi phí đầu tư nên các KCN không quan tâm thỏa đáng đến việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải Điều đó dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường hết sức nghiêm trọng ở một số KCN
- Hơn nữa, việc tập trung nhiều DN sản xuất trên một địa bàn, thu hút một lượng đông đảo lao động từ các địa phương khác đến có thể dẫn tới sự quá tải của
hệ thống kết cấu hạ tầng và mất an ninh trong khu vực
Trang 19Tình trạng thiếu nhà ở, trường học, chợ, trung tâm giải trí, cơ sở y tế cho người lao động là phổ biến tại các KCN Người công nhân tự bươn trải lấy cuộc sống Từ đó có những tác động lớn đến trật tự an ninh, an toàn xã hội; vấn đề vệ sinh môi trường; những tác động đến sức khỏe; phát sinh tệ nạn xã hội; ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người lao động
Vấn đề bảo đảm văn hóa tinh thần của công nhân KCN chưa có giải pháp khả thi, còn thiếu thốn về tiện nghi sinh hoạt văn hóa, mức hưởng thụ văn hóa thấp; thiếu các cơ chế chính sách đầu tư phát triển đời sống văn hóa tinh thần cho KCN, cộng với những vấn đề bức xúc về mặt xã hội như lương thấp, bảo hiểm xã hội không đầy đủ, mất cân bằng giới trong lực lượng lao động đã và đang là vấn đề nổi bật của các KCN không dễ gì giải quyết
Từ những tác động tiêu cực, những hạn chế nêu trên, chúng ta cần kịp thời
có những chính sách, những giải pháp hợp lý, đồng bộ để các KCN phát huy tối
đa những tác động tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, làm cho các KCN thực sự trở thành nhân tố quan trọng phát triển KT - XH nói chung, thu hút nhiều FDI nói riêng
1.2 FDI và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào các KCN
1.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1.1 Khái niệm
Quỹ tiền tệ thế giới (Internationnal Moneytary Fund - IMF), trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một DN tại một nước khác (nước nhận đầu tư - hosting country), không phải tại nước mà DN đang hoạt động (nước đi đầu tư - source country) với mục đích quản lý một cách hiệu quả DN”
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and development - OECD) cũng đưa ra nhận định về đầu tư trực
Trang 20tiếp nước ngoài tương tự như IMF Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tư nước ngoài Theo quan điểm của OECD, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc tổ chức có thể thuộc cơ quan Chính phủ hoặc không thuộc cơ quan Chính phủ đầu tư tại nước ngoài
Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau:
“Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư” [21, tr.8]
“Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [21, tr.8]
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là biểu hiện bằng tiền hoặc tài sản
do tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài mang vào nước khác (nước tiếp nhận) để thực hiện kinh doanh theo luật pháp của nước tiếp nhận nhằm thu được lợi ích Các nhà đầu tư có quyền điều hành DN tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình
1.2.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là hình thức liên kết kinh doanh giữa hai bên hoặc nhiều bên trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành
lập một pháp nhân
- Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do hai bên hoặc các bên nước ngoài cùng hợp tác với nước chủ nhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn DN liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH, công
ty cổ phần có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước nhận đầu tư
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là DN thuộc sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả
Trang 21sản xuất kinh doanh nhưng vẫn là pháp nhân của nước chủ nhà và chịu sự kiểm soát của luật pháp nước chủ nhà
- BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam [21, tr.11] BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự
- Ngoài ra còn một số hình thức đầu tư khác như hình thức đầu tư mới (greenfield), mua lại và sáp nhập (Merger and Aquitition), cổ phần hoá DN đầu tư nước ngoài, hợp đồng phân chia sản phẩm, hợp đồng cấp giấy phép công nghệ,
1.2.1.3 Đặc điểm đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- FDI là một dự án mang tính lâu dài Đây là đặc điểm phân biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp (portfolio investment) Đầu tư gián tiếp thường là các dòng vốn có thời gian hoạt động ngắn và có thu nhập thông qua việc mua bán chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) Đầu tư gián tiếp có tính thanh khoản cao hơn so với đầu tư trực tiếp, dễ dàng thu lại số vốn đầu tư ban đầu khi đem bán chứng khoán và tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ phát triển ở những nước tiếp nhận đầu tư
- FDI là một dự án có sự tham gia quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài Trong khi đầu tư gián tiếp không cần sự tham gia quản lý DN, các khoản thu nhập chủ yếu là các cổ tức từ việc mua chứng khoán tại các DN ở nước nhận đầu
tư, ngược lại nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có quyền tham gia hoạt động quản
lý trong các DN FDI
- Đi kèm với dự án FDI là ba yếu tố: hoạt động thương mại (xuất nhập khẩu); chuyển giao công nghệ; di cư lao động quốc tế, trong đó di cư lao động quốc tế góp phần vào việc chuyển giao kỹ năng quản lý DN FDI
Trang 22- FDI là hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất” “chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật” Trên thực tế, nhất là trong nền kinh tế hiện đại có một số yếu tố liên quan đến kỹ thuật sản xuất, kinh doanh đã buộc nhiều nhà sản xuất phải lựa chọn phương thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như là một điều kiện cho sự tồn tại
và phát triển của mình Ngoài ra, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ giúp DN thay đổi được dây chuyền công nghệ lạc hậu ở nước mình nhưng dễ được chấp nhận
ở nước có trình độ phát triển thấp hơn và góp phần kéo dài chu kỳ sản xuất
- FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và bên kia là nước tiếp nhận đầu tư
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào các KCN
1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Thực tế cho thấy, địa phương có những điều kiện như cảng biển, đường quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt đi qua, nằm trong trung tâm kinh tế lớn hoặc ở gần kề đều thu hút được nhiều dự án đầu tư Ở nước ta, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là 2 trung tâm kinh tế lớn của đất nước, do vậy thu hút đầu tư vào KCN ở 2 thành phố này cũng như các vùng xung quanh rất mạnh mẽ
Qua số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các địa phương trong cả nước ta thấy FDI tập trung chủ yếu tại 02 vùng trong cả nước là vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc (21%), vùng kinh tế trọng điểm miền Nam (66%) Mà tâm điểm của
02 vùng này là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Miền Trung FDI chiếm 4% với tổng vốn đầu tư đạt 5% và cũng tập trung chủ yếu tại Đà Nẵng và một số tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố cần thiết để tiến hành hoạt động sản xuất Vì nó cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp KCN nằm trong vùng sẵn có nguyên liệu cho sản xuất, các nhà đầu tư sẽ giảm bớt được chi phí vận tải, tránh được gián đoạn sản xuất trong trường hợp khó khăn về giao thông Vùng có trữ lượng khoáng sản lớn, phong phú và có giá trị kinh tế cao sẽ tạo điều kiện thu hút các DN đầu tư vào công nghiệp khai khoáng,
Trang 23công nghiệp năng lượng Như vậy, nếu vùng nào có được điều kiện trên thì KCN
trên địa bàn sẽ có thêm cơ hội thu hút đầu tư
Khí hậu thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi cũng như đất đai đảm bảo cho việc xây dựng những vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp chế biến những sản phẩm nông nghiệp KCN nằm trong khu vực này sẽ thu hút các nhà đầu tư vào công nghiệp chế biến
1.2.2.2 Tình hình chính trị và hệ thống pháp luật
- Sự ổn định về chính trị
Sự ổn định chính trị và an ninh là yếu tố cơ bản đảm bảo cho quá trình đầu
tư lâu dài Vì vậy, đây chính là yếu tố đầu tiên khiến các nhà đầu tư quan tâm khi
có ý định đầu tư vào một quốc gia Đây là điều kiện ảnh hưởng đến mức độ rủi
ro của đồng vốn mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ ra Những bất ổn về chính trị - xã hội sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và tiêu thụ của các KCN Nó làm dòng vốn từ nước ngoài đổ vào trong nước sụt giảm và chững lại, thậm chí thúc đẩy dòng vốn từ trong nước đổ ra nước ngoài nhằm tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn
Khi nước tiếp nhận đầu tư có bất kì sự xung đột nào ở trong nước hay ở trong khu vực, nội chiến hay sự hoài nghi đều tạo sự thiếu thiện cảm đối với các nhà đầu tư nước ngoài về môi trường đầu tư trong nước nói chung và môi trường đầu tư của các KCN trong nước nói riêng, bởi vì đây là những nhân tố nhạy cảm, tác động tiêu cực đến tâm lý và hành động thực tế của các chủ đầu tư cũng như làm chậm lại các cải cách chính sách cần thiết đối với việc thu hút FDI của nước chủ nhà
- Hệ thống pháp luật
Thực tế cho thấy sự thành công hay thất bại trong việc hấp dẫn các nhà đầu
tư nước ngoài phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống luật pháp cũng như môi trường thể chế Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện KT - XH cụ thể của từng nước mà hệ thống luật pháp của mỗi nước có sự hấp dẫn đầu tư khác nhau Nếu hệ thống pháp luật
Trang 24của một nước càng đồng bộ, rõ ràng, chặt chẽ, không có sự chồng chéo, phù hợp với hệ thống luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng thu hút FDI của nước đó
sẽ càng cao và ngược lại
Hoạt động của các DN xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng, Ban quản lý KCN, các DN KCN đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật như: Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao, Luật đầu tư nước ngoài, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Môi trường,…Nếu các luật này được ban hành với nội dung cụ thể đồng bộ và được sử dụng có hiệu lực thống nhất giữa các cơ quan thi hành luật thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trong KCN, tránh được những khiếu kiện không cần thiết, hay những vi phạm pháp luật không đáng có
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống luật pháp trong việc thu hút FDI, nhiều nước trên thế giới đã liên tục thay đổi, bổ sung thêm các văn bản, luật hướng dẫn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài và đây cũng là yếu tố cạnh tranh quyết liệt giữa các nước cũng như các khu vực
1.2.2.3 Các yếu tố kinh tế
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia, thể hiện ở mức độ tăng trưởng kinh tế, trình độ quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp các dịch vụ cho hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp sẽ hạn chế sự phát triển của thị trường trong nước Từ đó, nguồn thu về cho ngân sách cũng hạn hẹp, không có vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng Thu nhập của người lao động thấp kéo theo sức cầu thị trường thấp… Do đó, các DN khó khăn trong tiêu thụ hàng hoá Nói chung, trình
độ kinh tế xã hội thấp ảnh hưởng xấu đến khả năng thu hút đầu tư Trái lại, với trình độ phát triển kinh tế xã hội cao sẽ là yếu tố thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh
- Các chính sách kinh tế
Trang 25Các chính sách kinh tế tạo nên bộ phận quan trọng trong môi trường đầu tư quốc gia, nó bao gồm không chỉ hệ thống các văn bản pháp luật quy định về ĐTNN mà bao gồm cả những văn bản quy định về xây dựng và phát triển các KCN, về thương mại, chính sách xuất nhập khẩu, thuế suất…tất cả tạo thành hành lang pháp lý đồng bộ và thuận lợi cho thu hút và triển khai các dự án FDI Các văn bản này phải ban hành đồng bộ, thống nhất và chặt chẽ, không chồng chéo, đảm bảo tính bình đẳng giữa các DN trong nước và nước ngoài, phù hợp với thông lệ quốc tế
Chính sách kinh tế ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư, một khi các nhà đầu tư thấy không an toàn, thì họ sẽ không đầu tư, ví dụ như chính sách tiền tệ không ổn định, lạm phát cao sẽ làm các nhà đầu tư rút vốn hoặc thôi đầu tư để tránh thua lỗ trong kinh doanh Những hạn chế trong chính sách phát triển nguồn nhân lực là một trở ngại lớn đối với thu hút FDI, chẳng hạn trình độ tay nghề thấp của đa số người lao động buộc các DN tốn kém chi phí đầu tư cho đào tạo Mặc dù chi phí này được bù đắp một phần bởi mức lương thấp nhưng kết hợp với năng suất lao động thấp, chi phí này có xu hướng làm tăng đơn giá tiền lương trong sản phẩm Hoặc các dịch vụ ngân hàng, viễn thông với giá cao hơn mức khu vực và thế giới làm tăng chi phí của các nhà đầu tư Những trở ngại ấy
sẽ làm hạn chế thu hút đầu tư
Ngoài hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, mỗi quốc gia còn ban hành hệ thống các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư, như các chính sách về thương mại, tiền tệ, thuế suất…Các chính sách cần rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng
và thông thoáng theo hướng tự do hoá Chính sách ưu đãi phù hợp sẽ góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và năng động, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát huy được khả năng của mình
- Hệ thống thị trường
Hệ thống thị trường có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút FDI, nó kìm hãm hoặc kích thích quá trình sản xuất của các DN, chính vì vậy trước khi tìm
Trang 26hiểu đầu tư vào một nước thì các nhà đầu tư luôn quan tâm đến hệ thống thị trường: thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường sức lao động, thị trường khoa học và công nghệ…các thị trường này phải đầy đủ và đồng bộ, có như vậy mới tạo ra sức hút đối với các nhà đầu
tư nước ngoài
Hệ thống thị trường đầy đủ và phát triển đồng bộ, sự vận hành của chúng được quản lý có hiệu quả sẽ giúp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá diễn ra thuận lợi, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình triển khai, thực hiện dự án của nhà đầu tư nước ngoài
- Cơ sở hạ tầng
Để tăng cường hoạt động đầu tư, ngoài môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch, điều kiện tự nhiên phù hợp, sự ổn định về kinh tế, chính trị, các thị trường đầy đủ và phát triển…còn đòi hỏi các nước phải có kết cấu hạ tầng kỹ thuật tương xứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế Sự phát triển của cơ sở
hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai các dự
án đầu tư đã cam kết
Việc phát triển và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật không chỉ là điều kiện để tăng sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư triển khai các dự án mà còn là một cơ hội thuận lợi cho những nước tiếp nhận đầu tư có thể khai thác lợi ích nhiều hơn, đầy đủ hơn từ các dịch vụ vận tải, thông tin, điện nước từ các dự án đầu tư đã được triển khai
Liên quan đến cơ sở hạ tầng cho các KCN có một số vấn đề cơ bản sau: + Giá thuê đất có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của các nhà đầu
tư Nếu các nhà đầu tư trực tiếp thuê đất từ các công ty phát triển hạ tầng KCN thì sẽ phải chịu một mức giá thuê thực tế rất cao Nếu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét hỗ trợ các DN khi thuê đất trong KCN để đảm bảo giá thuê
Trang 27đất hợp lý, thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong giai đoạn đầu khi chưa đi vào sản xuất kinh doanh Bên cạnh giá thuê đất thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại là một yếu tố tạo nên tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các DN đầu tư yên tâm về lâu dài cũng như có khả năng để huy động vốn, thế chấp để vay tín dụng khi cần
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh một cách hợp lý
Quy hoạch lại là vấn đề phức tạp ở nhiều địa phương trong cả nước Công tác quy hoạch nhiều khi không thống nhất, hay điều chỉnh lại quy hoạch làm cho các DN phải tốn thời gian để giải quyết vấn đề mặt bằng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh Do đó, quá trình quy hoạch nếu được thực hiện công khai minh bạch, nhất quán thì tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, tạo uy tín của các KCN trong việc thu hút các nhà đầu tư
+ Về cơ sở hạ tầng của KCN bao gồm cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào Cơ sở hạ tầng trong hàng rào bao gồm: hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, hệ thống xử lý chất thải…tất cả những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN trong KCN Cơ sở hạ tầng ngoài KCN liên quan đến quá trình vận chuyển, tiêu thụ, cung cấp nguyên vật liệu…cho các
DN KCN
Vấn đề đặt ra là, cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào phải đồng bộ với nhau Hệ thống giao thông, kho tàng, bến bãi, điện nước, thông tin liên lạc, xử lý chất thải, phòng chống cháy nổ ở các KCN được xây dựng tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh Ngoài ra, hạ tầng xã hội như bệnh viện, khu vui chơi giải trí, nhà ở cho người lao động và chuyên gia được chuẩn bị tốt cũng làm tăng sức thu hút đối với các nhà đầu tư Chất lượng cơ sở hạ tầng cũng
là một yếu tố quan trọng đối với quyết định của nhà đầu tư Chất lượng cơ sở hạ tầng thể hiện ở chỗ các công trình trong và ngoài hàng rào có hiện đại, đồng bộ,
thuận tiện và ổn định hay không? Nó phục vụ cho các DN có tốt hay không?
Trang 28- Nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công của DN Doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không phụ thuộc rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực và vì vậy muốn trở thành những DN hàng đầu có khả năng chiếm lĩnh được thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, vấn đề quan trọng hàng đầu là các DN đó phải có nhiều lao động giỏi và nhà quản lý giỏi
Từ thực tế hoạt động của các KCN trong và ngoài nước cho thấy nhu cầu lao động làm việc tại các KCN là rất lớn Tuỳ theo tính chất ngành nghề và số lượng dự án thu hút đầu tư vào trong KCN, bình quân mỗi KCN với diện tích từ
100 - 150 ha khi đã lấp đầy toàn bộ diện tích sẽ cần số lượng lao động từ
15000-18000 người làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp Điều đó cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng lao động cho các KCN [2, tr 67]; sự khan hiếm về lao động địa phương
để cung ứng cho các KCN đóng trên địa bàn cũng tác động đến quyết định của các nhà đầu tư
Ở các nước phát triển, cứ 1 cử nhân tốt nghiệp Đại học, cao đẳng có 4 kỹ thuật viên tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và 10 công nhân kỹ thuật, cơ cấu lao động là 1 - 4 - 10 Còn ở nước ta, cơ cấu lao động tương ứng là 1 - 1,16 - 0,95 Trong khi số lượng sinh viên đại học ngày một tăng nhanh còn số lượng công nhân kỹ thuật ngày một giảm, năm 1997 là 70%, hiện nay chỉ còn 20% trong tổng lao động được đào tạo [2, tr.68] Như vậy, để có nguồn lao động có khả năng đáp ứng được yêu cầu cho các KCN cần phải phát triển hệ thống đào tạo có khả năng cung cấp cho các KCN một đội ngũ lao động đông đảo, có trình
độ cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng với công nghệ mới Trong đó vai trò của các trường dạy nghề rất quan trọng với việc cung ứng nguồn lao động đã qua đào tạo, có tay nghề cho các KCN
- Quản lý và các thủ tục hành chính
Trang 29Lực cản lớn nhất làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm
rà, phức tạp, gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu tư Bộ máy hành chính hiệu quả không chỉ quyết định sự thành công trong thu hút vốn FDI mà còn trong vấn đề sử dụng nguồn vốn Bộ máy hành chính gọn nhẹ, các thủ tục hành chính và những quy định pháp lý đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ chuyên môn cao
và tôn trọng pháp luật sẽ là những yếu tố quan trọng khi quyết định đầu tư và
mở rộng đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
Vì mục tiêu của FDI là nhằm thu lợi nhuận cao, do vậy, nếu các dự án FDI
đã được triển khai đạt tỷ suất lợi nhuận cao sẽ khuyến khích và củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư để tái sản xuất đồng thời có tính lan toả đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư Điều này sẽ giúp cho nguồn vốn FDI tiếp tục tăng Ngược lại nếu các dự án đang triển khai kinh doanh không hiệu quả, thường xuyên thua lỗ sẽ làm nản lòng các nhà đầu
tư, vì họ cho rằng có thể môi trường đầu tư không tốt
Do đó, Ban quản lý KCN phải tổ chức hoạt động tốt theo cơ chế một cửa, tại chỗ, giải quyết nhanh các thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư vào KCN Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính là rất quan trọng Để DN nhanh chóng tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh thì thời gian phê duyệt, quyết định cấp giấy phép đầu tư, cũng như thời gian thẩm định thiết kế kỹ thuật, thẩm định môi trường cho các dự án trong KCN phải nhanh chóng, cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, sẽ là một yếu tố giúp DN giảm thiểu được chi phí giao dịch trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Các dịch vụ
Các dịch vụ xã hội:
Để một KCN tồn tại và phát triển, thì một yếu tố không thể thiếu đó là các dịch vụ xã hội cung cấp cho các KCN này Các dịch vụ này gồm hệ thống nhà ở cho công nhân và các chủ DN, trường học, bệnh viện – y tế, chợ…Vì thế, cung
Trang 30cấp các dịch vụ cho KCN là một trong những yếu tố quan trọng làm cho môi trường đầu tư hấp dẫn hơn Nếu hệ thống các dịch vụ đầy đủ chất lượng và chuyên nghiệp thì sẽ giảm chi phí cho các DN trong quá trình sản xuất, kinh doanh
Liên quan đến hệ thống các dịch vụ này thì giá dịch vụ cũng tác động đến môi trường đầu tư trong KCN Vì bên cạnh phí quản lý DN KCN, các DN trong KCN còn phải chịu cước dịch vụ (điện, nước, viễn thông, phí vận chuyển…) Chi phí quản lý DN và cước các loại dịch vụ này thấp là một trong những yếu tố tạo nên ưu thế cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư vào các KCN
Dịch vụ cung cấp thông tin cho các DN:
Số lượng và khả năng phân tích đánh giá thông tin trong nền kinh tế hiện nay có tác động rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của các DN, nó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các DN DN KCN cũng không đứng ngoài nhu cầu quản lý và trao đổi thông tin trên
Là một DN sản xuất, trực tiếp quản lý nhân sự, tiền lương, vật tư sản xuất chiếm một vị trí quan trọng trong việc quản trị DN Hệ thống công nghệ thông tin sẽ hỗ trợ rất tích cực cho công tác quản lý này, giúp nhà quản lý có thể đạt hiệu quả tối đa Có một hệ thống công nghệ thông tin tốt, hiệu quả, DN dễ dàng tiếp cận với các thị trường và với khách hàng trong nhiều thời điểm hoàn cảnh khác nhau
Như vậy, cung cấp cho các DN trong khu công công nghiệp một hệ thống internet được coi là một dịch vụ tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn của Ban quản
lý KCN đối với các DN tham gia hoạt động trong KCN
Dịch vụ cung ứng lao động cho các DN
Khả năng đáp ứng nhu cầu về lao động có tay nghề cao ở một số lĩnh vực, đặc biệt là các ngành công nghệ cao ở Việt Nam cũng hạn chế nên hầu hết các
DN đều phải tự đào tạo lại lao động cho mình, như vậy sẽ làm chậm quá trình
Trang 31sản xuất kinh doanh của DN với thời gian đào tạo thường dài và chi phí đào tạo lại khá lớn
Nếu trong các KCN có dịch vụ cung cấp lao động thoả mãn nhu cầu DN được thực hiện tốt thì sẽ đem lại hiệu quả cao cho các DN, công ty phát triển cơ
sở hạ tầng KCN và cả Ban quản lý các KCN
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển mạnh
mẽ hiện nay việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò tích cực trong việc thu hút FDI Nếu như trước đây lao động rẻ là một yếu tố quyết định đối với đầu tư nước ngoài thì ngày nay tuy lao động vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong đầu tư nước ngoài nhưng là lao động lành nghề giá rẻ chứ không phải là lao động giản đơn giá rẻ như trước
Trong thời gian vừa qua, các đơn vị phụ trách về nhân lực của Ban quản
lý các KCN đã dự báo và hoạt động thiếu tính chuyên nghiệp, không có chiến lược đào tạo lâu dài Điều này dẫn đến mò mẫm trong khâu đào tạo và huy
động có số lượng lớn lao động để phục vụ nhu cầu cho các DN
1.2.2.4 Văn hoá xã hội
Nghiên cứu và xây dựng mô hình đời sống văn hoá đa dạng, phù hợp với thói quen, tâm lý của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với họ Ngoài ra, đặc điểm văn hoá xã hội của địa phương cũng sẽ tạo ra sự thuận lợi hay không thuận lợi về ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán, để trở thành yếu tố khuyến khích hay kìm hãm việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Các công trình văn hoá của các nước sở tại và của địa phương nếu được chú trọng và phát triển, đặc biệt nơi có các KCN thì các công trình văn hoá này sẽ phục vụ lợi ích tinh thần cho các nhà đầu tư nước ngoài, cho người lao động ở
đó Nhờ vậy, đời sống văn hoá tinh thần của những người sống trong nơi này sẽ phong phú và mang lại hiệu quả làm việc cao cho người lao động và cũng mang lại lợi ích cho nhà đầu tư nước ngoài
Trang 321.3 Kinh nghiệm thu hút FDI vào các KCN ở một số địa phương và bài học rút
- Đầu tư phát triển KCN, cụm công nghiệp theo hướng bền vững - coi đây
là một yêu cầu quan trọng trong quá trình CNH, HĐH, nhằm phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của từng khu vực trên địa bàn tỉnh, tận dụng những khu vực
gò đồi, đất xấu để xây dựng các KCN
- Quy hoạch phát triển các KCN phải dựa trên cơ sở phân bố hợp lý, có trọng điểm ở những nơi có triển vọng về thu hút đầu tư Các ngành nghề trong từng khu, cụm công nghiệp phải phù hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, đảm bảo vệ sinh môi trường và thúc đẩy tất cả các thành phần kinh tế phát triển Các dự án đầu tư trực tiếp trên địa bàn được tập trung vào các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch, không phân tán
- Việc phân bố đầu tư xây dựng các KCN, cụm công nghiệp phải cân nhắc
kỹ tất cả các điều kiện cần thiết để bố trí quy mô và cấp độ thích hợp; đồng thời phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của một tỉnh nằm trong vùng trọng điểm và vùng phát triển thủ đô Hà nội Các KCN của Vĩnh Phúc được bố trí tại những vị trí thuận lợi về giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng không; thế đất cao, không bị ngập úng; cạnh các khu đô thị có dịch vụ đạt tiêu chuẩn cao; gần nguồn nhân lực dồi dào
- Phát triển KCN đi đôi với phát triển đô thị, khu dân cư và giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động
- Để không bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư trong bối cảnh hiện nay, Vĩnh Phúc xác định phải đi tắt, đón đầu, thực hiện phương thức vừa hoàn thiện thủ tục xây
Trang 33dựng KCN, cụm công nghiệp, vừa triển khai hạ tầng kỹ thuật bên ngoài hàng rào hoặc có thể xây dựng một phần hạ tầng kỹ thuật bên trong hàng rào KCN, vừa kêu gọi đầu tư
Các quan điểm trên đã được triển khai thực hiện trên thực tế và thu được một số kết quả khả quan:
Thứ nhất, về thu hút đầu tư:
- Vĩnh Phúc đặc biệt quan tâm, coi trọng công tác xúc tiến đầu tư, học tập, trao đổi kinh nghiệm về phát triển KCN nước ngoài và các tỉnh bạn Chủ động phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước, tổ chức nhiều cuộc hội thảo xúc tiến đầu tư tại các nước để vận động các nhà đầu tư vào tỉnh Không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, sẵn sàng chia sẻ khó khăn vướng mắc, coi các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc là công dân của tỉnh, coi thành công của nhà đầu tư là thành công của chính mình Điều này đã tạo cho các nhà đầu tư thực sự yên tâm, tin tưởng khi đầu tư vào tỉnh Các nhà đầu tư luôn mong muốn triển khai nhanh dự án để sớm đi vào hoạt động, các KCN đã đáp ứng điều này Các chính sách ưu đãi của Nhà nước về thuế, thủ tục hành chính đối với các
dự án đầu tư vào KCN, có tác động đáng kể đến các nhà đầu tư [20, tr.372]
Tính đến hết năm 2008, đã có các DN từ 16 quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ, Ý, Anh, Đức,… đầu tư vào Vĩnh Phúc [31]
Các dự án đầu tư vào tỉnh trong những năm qua đã tạo điều kiện cho tỉnh Vĩnh Phúc hình thành nên các Trung tâm công nghiệp lớn như: công nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy với 4 nhà máy lớn Honda, Toyota, Daewoo, Foxconn, Xuân Kiên và nhiều nhà máy sản xuất sản phẩm linh kiện phụ tùng đã trở thành trung tâm vật liệu xây dựng lớn so với toàn quốc
Thứ hai, về quy hoạch và phát triển các KCN: năm 1998 tỉnh Vĩnh Phúc chỉ xây dựng có 1 KCN Kim Hoa, nhưng do gặp nhiều khó khăn, KCN này đã chậm hình thành và phát triển Đến năm 2008, trên địa bàn tỉnh đã có 11 KCN được
Trang 34Chính phủ cho phép thành lập với tổng diện tích là trên 3.000ha Trong đó có 6 KCN đã đi vào hoạt động và có tỷ lệ lấp đầy các dự án cao như KCN Quang Minh (giai đoạn I 344 ha) 100%, KCN Khai Quang 74,1%, KCN Bình Xuyên 54%, KCN Kim Hoa (giai đoạn 1): 100%, còn lại 5 KCN đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư Hiện nay cả 11 KCN đã có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng, trong
đó có 6 DN là nhà đầu tư trong nước và 5 DN có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ ba, Về công tác quản lý các DN đầu tư trên địa bàn tỉnh: Ban Quản lý các KCN đã rất quan tâm đến việc giải quyết các thủ tục đầu tư, bảo đảm giải quyết nhanh gọn, hiệu quả, kịp thời các vướng mắc và tạo điều kiện tốt nhất để các DN triển khai dự án; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện tiến
độ đầu tư, phối hợp với các ngành, các cấp tháo gỡ khó khăn cho DN Chính nhờ vậy mà tỷ lệ các dự án đầu tư đi vào hoạt động ngày càng cao
Đến cuối năm 2008, trong các KCN có 84 dự án FDI chiếm 84% tổng số dự
án FDI trong toàn tỉnh, các dự án FDI đầu tư vào trong các KCN có tổng vốn đầu
tư là 1.512,65 triệu USD (chiếm 76,15% tổng vốn đầu tư của dự án FDI trong toàn tỉnh) Năm 2008 vốn thực hiện đối với dự án FDI đạt 149,9 triệu USD, tăng 103% so với cùng kỳ năm trước Luỹ kế đến hết năm 2008, vốn thực hiện của các dự án FDI trong các KCN đạt 623,6 triệu USD, đạt tỷ lệ 41,23% tổng vốn đầu tư [31]
Kết quả đó đã góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn tỉnh, bình quân giai đoạn 1997 - 2006 tăng 17,5%, giai đoạn 2006 - 2008 tăng 20,4% Tuy nhiên, Vĩnh Phúc có một số hạn chế trong chính sách, quản lý, thu hút FDI như ban hành chính sách ưu đãi vượt khung quy định chung của Chính phủ, nhiều dự án do không đánh giá chính xác về thiết bị công nghệ, tác động môi trường nên gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Một số KCN triển khai chậm, thu hút đầu tư thấp công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai chậm và gặp nhiều khó khăn, chồng chéo về quy hoạch hoặc cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN chưa phát triển như: KCN Kim Hoa
Trang 351.3.1.2 Hải Phòng
Trên địa bàn thành phố Hải Phòng có hai KCN và một KCX đã được thành lập
từ rất sớm và gắn với sự ra đời của các công ty liên doanh với nước ngoài theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước đây( KCN Normuna - Hải Phòng, KCN Đình
Vũ, KCX Hải Phòng – 96 nay là KCN Đồ Sơn Hải Phòng) Gần đây KCN Tràng Duệ và Nam Cầu Kiền mới được điều chỉnh quy hoạch và triển khai đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi để xúc tiến đầu tư
KCN Normuna Hải Phòng có diện tích dành cho sản xuất công nghiệp là 123ha
và đến nay phần diện tích này đã được lấp đầy trên 90%
KCN Đình Vũ có tổng diện tích là 945ha trong đó giai đoạn 1 là 164ha (diện tích đất nông nghiệp chiếm 81%), đến nay đã lấp đầy được 85% diện tích đất còn lại của giai đoạn 1 và đã có nhà đầu tư đăng ký thoả thuận để chuẩn bị dự án đầu tư dự
án giai đoạn 2 với số vốn đầu tư 146 triệu USD đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư
KCN Nam Cầu Kiền, Ban quản lý các KCN đã cấp giấy chứng nhận đầu tư để chủ đầu tư – công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Shinec thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN với giai đoạn 2 có quy mô là 263ha, tổng mức đầu
tư 800 tỷ đồng
Tính đến năm 2008, các KCN Hải Phòng đã thu hút được 86 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 1 tỷ USD, tính cả các dự án đầu tư hạ tầng KCN
Trang 36thì tổng vốn FDI đăng ký đạt 1,3 tỷ USD Trong năm 2008 đã thu hút được dự án sản xuất thiết bị điện của tập đoàn GE (Hoa Kỳ) vốn lên tới 61 triệu USD [31]
Ngay từ cuối năm 2009, Ban quản lý đã xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư
và ban hành danh mục các dự án khuyến khích đầu tư vào khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải và các KCN của thành phố năm 2010
Nhiều dự án phát triển hạ tầng các KCN, khu đô thị và dịch vụ, du lịch như VSIP Hải Phòng, Amco Mibeak Vina được triển khai đúng tiến độ là cơ hội để thu hút vốn FDI khu vực ASEAN và Châu Á
Kết quả thực hiện vốn FDI trong các KCN đến nay đạt tỷ lệ khoảng 60%, các
dự án có vốn đầu tư lớn đều triển khai ngay sau khi được cấp giấy phép
Có được kết quả như trên bởi vì Hải Phòng đã đưa ra những giải pháp hữu hiệu phù hợp với thực tiễn của địa phương:
- Hải phòng xác định việc phát triển các KCN, KCX phải phù hợp với quy hoạch phát triển KT - XH của Hải Phòng và quy hoạch phát triển vùng của cả nước Phát triển KCN nhằm tạo mặt bằng sạch thu hút các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ nguồn, không gây ô nhiễm môi trường, góp phần gia tăng hàm lượng kỹ thuật - công nghệ trong sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, chuyển dần từ phát triển KCN theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, đồng thời phát triển KCN phải luôn gắn với việc giải quyết các vấn đề
xã hội, môi trường để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
- Căn cứ vào tình hình phát triển của các KCN trong từng giai đoạn để từ đó Ban quản lý sẽ xây dựng lộ trình mời gọi, xúc tiến đầu tư Cụ thể, từ nay đến năm
2015 sẽ tập trung thu hút các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ nguồn, không gây ô nhiễm môi trường nhằm đạt muc tiêu thu hút khoảng 10 tỷ USD
- Ban quản lý phối hợp với các ban, ngành thành phố tập trung triển khai xây dựng khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, hỗ trợ các công ty phát triển hạ tầng KCN tháo
gỡ vướng mắc, giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng và minh bạch
Trang 37- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành về việc thường xuyên quan tâm đến đời sống, thu nhập, sức khoẻ, điều kiện làm việc, thực hiện chính sách đối với người lao động làm việc tại các DN trong KCN đặc biệt là các DN sử dụng nhiều lao động
- Thường xuyên tăng cường kiểm tra giám sát tiến độ đầu tư của các dự án đã được thuê đất trong KCN, yêu cầu các DN thực hiện đúng tiến độ đầu tư cam kết trong dự án
- Đẩy mạnh công tác giám sát thực hiện luật bảo vệ môi trường, yêu cầu tất cả các DN đầu tư vào các KCN phải có báo cáo đánh giá tác động của môi trường, cam kết đảm bảo chất lượng của môi trường theo quy định
- Yêu cầu chủ đầu tư hạ tầng các KCN đẩy nhanh việc đầu tư các công trình cấp nước sạch và các công trình xử lý nước thải trong các KCN
Tuy nhiên, công tác tái định cư và tình hình đời sống người dân sau khi bị thu hồi đất tại khu vực quy hoạch phát triển KCN còn gặp nhiều khó khăn Người dân sau thu hồi đất thường gặp phải tình trạng thiếu đất sản xuất, cuộc sống không ổn định Việc quy hoạch phát triển các KCN thường chưa đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, dẫn tới ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển; chưa chú trọng gắn việc xây dựng quy hoạch chi tiết từng KCN với quy hoạch nhà ở, công trình công cộng phục vụ đời sống người lao động làm việc trong KCN
1.3.1.3 Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh có diện tích nhỏ nhất nước, mật độ dân số và mật độ các điểm dân cư lại rất cao Từ khi mới tái lập tỉnh (1997), Bắc Ninh mới quy hoạch xây dựng KCN, đến nay Bắc Ninh đạt được những thành tựu cơ bản được thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, về quy mô hoạt động KCN:
- Quy hoạch và đầu tư xây dựng các KCN:
Nếu trong 5 năm (2000 – 2005) có 03 KCN được quy hoạch, thành lập, đầu
tư xây dựng và đi vào hoạt động với tổng diện tích quy hoạch là 1.160,98ha Thì
Trang 38đến hết năm 2009 có 15 KCN được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng với tổng diện tích đất quy hoạch 5.958,31ha, chiếm 91% diện tích được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; 09 KCN đang triển khai đầu tư xây dựng, đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy trên diện tích quy hoạch có thể cho thuê đạt 42,53%, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất thu hồi cho thuê đạt 60,22%
- Công tác xúc tiến, thu hút đầu tư:
Từ năm 2006 đến năm 2009 thu hút được 234 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 2.379,04 triệu USD, thuê 517,36 ha đất công nghiệp, đạt 10,17 triệu USD/dự án; hình thức vốn đầu tư chủ yếu là dự án đầu tư nước ngoài chiếm 82,58% tổng vốn đăng ký (134 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.964,81 triệu USD) vào lĩnh vực điện tử, viễn thông; cơ khí, chế tạo với trình độ công nghệ tiến tiến Luỹ kế đến hết năm 2009 thu hút được 385 dự án với tổng vốn đăng ký 2.980,73 triệu USD, thuê 907,7ha đất công nghiệp; hình thức vốn đầu tư chủ dự
án nước ngoài chiếm 71,79% tổng vốn đăng ký (166 dự án với tổng vốn đăng ký 2.140,15 triệu USD), riêng lĩnh vực điện tử chiếm 51,8% tổng vốn đăng ký
Thứ hai, Về hiệu quả hoạt động KCN:
- Năng lực sản xuất của các DN KCN:
Giai đoạn 2006 - 2009 có 136 dự án đi vào hoạt động (79 dự án đầu tư trong nước, 57 dự án đầu tư nước ngoài); luỹ kế đến hết năm 2009 có 191 dự án
đi vào hoạt động (105 dự án đầu tư trong nước, 86 dự án đầu tư nước ngoài) Các DN trong KCN đi vào hoạt động đã đóng góp quan trọng vào chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, liên tục và trên hai con số của tỉnh Nếu năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.800 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 19,1 triệu USD, nộp ngân sách 51 tỷ đồng; thì đến năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 19.421 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 1.004 triệu USD, nộp ngân sách đạt 800
tỷ đồng, riêng dự án FDI vào lĩnh vực điện tử chiếm 75% giá trị sản xuất công nghiệp và 66% giá trị xuất khẩu của toàn tỉnh
Trang 39Thời kỳ đầu xây dựng các KCN 2000 - 2005, tỉnh quan tâm nhiều đến số lượng dự án đầu tư, chưa có điều kiện để lựa chọn dự án đầu tư tốt, chủ yếu là các dự án trong nước áp dụng công nghệ trung bình thấp, quy mô nhỏ, năng lực thấp, dẫn đến giá trị sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh của sản phẩm không cao Giai đoạn 2006 – 2009, các dự án đi vào hoạt động có sự đầu tư lớn về công nghệ sản xuất, đặc biệt các dự án đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến, quy
mô đầu tư lớn của các tập đoàn đa quốc gia như: Canon (Nhật Bản), Samsung (Hàn Quốc), ABB (Thụy Điển) vào các lĩnh vực điện, điện tử, viễn thông tạo
ra sự đột phá về giá trị sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao
- Thu hút lao động và giải quyết việc làm:
Giai đoạn 2006 - 2009 lao động làm việc trực tiếp tại các KCN là 33.155 người (lao động địa phương chiếm 52,75%), thu nhập bình quân người lao động đạt 1,3 triệu đồng/người/tháng Luỹ kế đến hết năm 2009 lao động làm việc trực tiếp tại các KCN là 41.323 người với tỷ lệ lao động của địa phương 53%; 62% lao động nữ Trình độ lao động: 21,7% đại học, cao đẳng, trung cấp, công nhân
kỹ thuật; 78,3% lao động phổ thông
Thực tế tại các KCN, 53% lao động là người của địa phương (21.900 lao động) cộng với lao động gián tiếp, thì đã giải quyết việc làm cho khoảng 28.470 – 32.850 lao động địa phương Như vậy, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân địa phương có đất thu hồi phát triển các KCN [31]
Một số giải pháp mà Bắc Ninh đã thực hiện để đạt được những thành công trên là:
- Xây dựng cơ chế hỗ trợ vốn cho các DN Tạo điều kiện thuận lợi cho các
DN kể cả DN đầu tư xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN huy động tốt các nguồn vốn, đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng và triển khai thực hiện dự
án
Trang 40- Chỉ đạo các DN đầu tư xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng điều chỉnh hình thức thanh toán nhiều lần, thời gian dài hơn khi cho thuê đất, để các DN nhỏ giảm bớt gánh nặng về vốn đầu tư ban đầu, thực hiện triển khai và đưa các dự án vào hoạt động đúng tiến độ Đây là cơ chế tốt để thu hút các dự án vào các KCN
- Có quan điểm nhất quán về xây dựng và phát triển KCN Theo đó công tác quy hoạch và phát triển các KCN phải vững chắc theo trình tự từ tổng thể đến quy hoạch vùng, không gian đến chi tiết và được kiểm định lại sự chi tiết tổng thể đó
- Cụ thể hoá, chi tiết mô hình KCN theo những mục tiêu, tiêu chí phù hợp với từng điều kiện đặc điểm của địa phương
- Tăng cường công tác trật tự an ninh trong KCN góp phần tạo lập môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh
Tuy nhiên, do kiến thức về công nghệ của đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật của Ban quản lý các KCN nhìn chung còn hạn chế nên rất khó đánh giá được công nghệ nhập khẩu của các nhà đầu tư, dẫn đến công nghệ sản xuất ở trong các KCN đa phần cũng chỉ ở mức trung bình thấp Một số DN đầu tư công nghệ mới nhập khẩu từ Mỹ, EU,… nhưng số lượng còn khá khiêm tốn, chủ yếu là công nghệ chắp vá và công nghệ trung bình của Trung Quốc
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Nam Định
Từ kinh nghiệm của các địa phương nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, phát triển KCN là nội dung của quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, là bước đi có tính „tuần tự ‟ của các nước đang phát triển
Cho nên, dưới góc độ của một tỉnh, tỉnh cần có nhãn quan nhạy bén về kinh
tế, chính trị, nắm bắt thời cơ, thuận lợi, thấy rõ những khó khăn, thách thức của địa phương mình để đề ra được chủ trương, biện pháp, chính sách đúng đắn, kịp thời, tập trung nguồn lực để phát triển các KCN