1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa luận văn ths kinh tế 5 02 01

119 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả hoạt động xuất - nhập khẩu đã có ý nghĩa quan trọng góp phần vào ổn định và phát triển kinh tế; góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; góp phần thúc đẩy sản xuất trong nư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN

Trang 3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ACFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC: Diễn đàn kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CNH: Công nghiệp hoá

CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ĐTNN: Đầu tư nước ngoài

EU: Liên minh Châu Âu

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATT: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

KNNK: Kim ngạch nhập khẩu

KNXK: Kim ngạch xuất khẩu

KNXNK: Kim ngạch xuất nhập khẩu

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại hiện nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang là một xu hướng phát triển mạnh mẽ, là quy luật đối với hầu hết các nước trên thế giới, nhất là đối với những nước đang phát triển để góp phần nhanh chóng rút ngắn khoảng cách lạc hậu với những nước phát triển; đặc biệt Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước

Hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước bao gồm ba nội dung cơ bản là:

- Hoạt động ngoại thương; đó là hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá

- Hoạt động hợp tác kinh tế, kỹ thuật; bao gồm hợp tác đầu tư và hợp tác khoa học - công nghệ

- Hoạt động du lịch - dịch vụ; đó là các hoạt động vận tải, bảo hiểm, ngân hàng và hoạt động du lịch

Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động ngoại thương giữ vị trí quan trọng, nó tạo điều kiện phát huy được lợi thế và tiềm năng của từng nước trên thị trường quốc tế Hoạt động ngoại thương của một nước được đánh giá qua tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu, cán cân thương mại, cán cân thanh toán, kết quả này sẽ làm tăng hoặc giảm thu nhập của đất nước, do đó

mà tác động đến tổng cầu của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế tăng trưởng hoặc suy giảm

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng Kết quả hoạt động xuất - nhập khẩu đã có ý nghĩa quan trọng góp phần vào ổn định và phát triển kinh tế; góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH; góp phần đổi mới trang thiết bị

và công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất và năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước; góp phần cải thiện

và nâng cao đời sống nhân dân…

Trang 5

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động ngoại thương Việt Nam những năm qua còn nhiều tồn tại, yếu kém; kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và nội lực của đất nước, với nhu cầu thế giới Việc nghiên cưú

lý luận về phát triển ngoại thương trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh

tế quốc tế và đánh giá kết quả hoạt động ngoại thương những năm qua, tìm nguyên nhân để có phương hướng, chính sách phù hợp, tối ưu cho phát triển ngoại thương trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam là cực kỳ cần thiết

Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển ngoại thương Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH làm luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Do vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động ngoại thương đối với sự phát triển kinh tế đất nước mà từ trước đến nay đã có nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và viết về đề tài ngoại thương dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau Có tác giả nghiên cứu và hoạt động ngoại thương, chính sách ngoại thương trong mối quan hệ là bộ phận của hoạt động kinh tế đối ngoại, chính sách kinh tế đối ngoại Có tác giá nghiên cứu một góc độ nào đó, một lĩnh vực nào đó của hoạt động ngoại thương, hoặc nghiên cứu ngoại thương Việt Nam trong một giai đoạn, một thời kỳ nhất định nào đó, như:

- “Về chính sách thương mại quốc tế của nước ta trong tình hình mới” của GS TS Hà Văn Vĩnh - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- “Ngoại thương Việt Nam, từ 1990 - 2000: Những thành tựu và suy nghĩ” của Võ Hùng Dũng

- “Xuất - nhập khẩu của Việt Nam, trong 10 năm đầu của thế kỷ mới” của Vũ Khoan

- “Chính sách thương mại của Việt Nam trong xu thế thương mại quốc

tế hiện nay” của Nguyễn Thị Thanh Hoà - Đại học tài chính kế toán Hà Nội

- “Phát triển thương mại trong nền kinh tế thị trường” của Nguyễn Duy Nghĩa - Bộ thương mại

Trang 6

- “Mối quan hệ giữa hoạt động ngoại thương và thu hút FDT tại Việt Nam” của thạc sỹ Đoàn Quang Vinh

- “Toàn cầu hoá - hai mặt thuận và nghịch đối với thương mại của Việt Nam” của Nguyễn Thanh Nga - Viện nghiên cứu thương mại, Bộ thương mại

- “Chính sách và giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá Việt Nam giai đoạn 2001-2010, tầm nhìn đến 2020” - Đề tài độc lập cấp Nhà nước do Bộ thương mại thực hiện 2000-2001, chủ nhiệm đề tài: PGS TS Nguyễn Văn Nam

Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu ngoại thương Việt Nam từ góc nhìn kinh tế chính trị: Khái quát lý luận về ngoại thương, nhất là vai trò tác động của ngoại thương đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước (có tính đến xu hướng toàn cầu, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế); đánh giá thực trạng hoạt động ngoại thương Việt Nam từ 1991 đến nay, tìm nguyên nhân, từ

đó đề xuất phương hướng, chính sách phát triển ngoại thương cho thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích vai trò, tác động của ngoại thương đối với việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; đánh giá thực trạng ngoại thương Việt Nam từ năm 1991 đến nay, tìm nguyên nhân và cách khắc phục tồn tại, yếu kém; Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và chính sách phát triển ngoại thương cho thời gian tới

* Nhiệm vụ

Để đạt mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:

- Khái quát lý luận về ngoại thương; phân tích vai trò, tác động của ngoại thương đối với việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (trong xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế)

- Phân tích thực trạng ngoại thương Việt Nam từ 1991 đến nay: Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu và hạn chế đó

Trang 7

- Đề xuất phương hướng, chính sách và những giải pháp lớn (cơ bản)

để nâng cao hiệu quả của hoạt động ngoại thương trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay và giai đoạn tiếp theo

Trang 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận về thương mại quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lênin

- Dựa trên những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

và thương mại quốc tế

- Có tham khảo một số lý luận thương mại quốc tế trong lịch sử tư tưởng kinh tế của nhân loại và các học thuyết hiện đại về thương mại quốc tế

* Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Sử dụng phương pháp của kinh tế chính trị là phương pháp trừu tượng hoá khoa học

- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp; thống

kê, đối chiếu, so sánh; mô hình hoá; đặc biệt chú trọng khảo sát tổng kết thực tiễn, rút ra kết luận có ý nghĩa lý luận

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đề tài lấy hoạt động ngoại thương Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH làm đối tượng nghiên cứu

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò, tác động của ngoại thương trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam, có tính đến xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế - cơ hội và thách thức

Thời gian giới hạn từ 1991 đến nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

* Ý nghĩa lý luận

- Đề tài làm rõ vai trò của ngoại thương đối với việc đẩy mạnh CNH, HĐH

Trang 9

- Sự cần thiết phát triển ngoại thương để đẩy mạnh CNH, HĐH trong

xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

- Làm rõ cơ hội và thách thức của việc phát triển ngoại thương Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Ngoại thương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá

Chương 2: Thực trạng ngoại thương Việt Nam từ năm 1991 đến nay Chương 3: Phương hướng và chính sách phát triển ngoại thương trong

thời gian tới

Trang 11

Chương 1 NGOẠI THƯƠNG TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH

CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

1.1 Vai trò của ngoại thương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.1 Khái niệm ngoại thương

Ngoại thương hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là phạm trù kinh tế phản ánh sự trao đổi hàng hoá giữa một nước này với các nước khác thông qua các hoạt động XK và NK.Toàn bộ quan hệ trao đổi hàng hoá giữa các nước được gọi là mậu dịch quốc tế

Điều kiện để ngoại thương phát sinh, phát triển là:

- Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ, kèm theo đó

là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp

- Sự ra đời của Nhà nước và sự phát triển của phân công lao động quốc

tế giữa các nước

Ngoại thương đã xuất hiện từ thời cổ đại, dưới chế độ nhà nước chiếm hữu nô lệ và tiếp đó là chế độ nhà nước phong kiến Thời đó, do kinh tế tự nhiên còn chiếm địa vị thống trị nên ngoại thương mang tính chất ngẫu nhiên, phát triển với qui mô rất nhỏ hẹp Lưu thông hàng hoá quốc tế chỉ gồm một phần nhỏ những sản phẩm sản xuất ra và chủ yếu là để phục vụ cho tiêu dùng

cá nhân của giai cấp thống trị đương thời Đến thời đại tư bản chủ nghĩa, ngoại thương mới phát triển rộng rãi Ngoại thương vừa là tiền đề, vừa là kết quả của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Các cuộc cách mạng lớn diễn

ra trong thương nghiệp ở thế kỷ XVI, XVII gắn liền với những phát kiến địa

lý đã dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của tư bản thương nghiệp Đó là một trong những nhân tố của tích luỹ nguyên thuỷ tư bản, và góp phần thúc đẩy

Trang 12

phương thức sản xuất phong kiến chuyển sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Thị trường thế giới mở rộng, hàng hoá lưu thông tăng thêm nhiều, các nước châu Âu đua tranh làm chủ các sản phẩm của châu Á và tài nguyên phong phú của châu Mỹ Tất cả những điều đó đã góp một phần căn bản vào việc phá vỡ các giới hạn phong kiến của nền sản xuất Mặt khác, tính tất yếu nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là phải sản xuất trên một qui mô ngày càng lớn hơn để tăng thu lơị nhuận Điều đó thúc đẩy thị trường thế giới phải không ngừng mở rộng; ngoại thương ngày càng phát triển ở thế

kỷ XVI, XVII, lúc đầu tham gia vào mậu dịch quốc tế chỉ có một số ít các nước tư bản chủ nghĩa phát triển hơn, dần dần, do sự phát triển mạnh của lực lượng sản xuất và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, ngày càng có nhiều nước ở nhiều trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thuộc nhiều khu vực lãnh thổ khác nhau cùng tham gia vào mậu dịch quốc tế Ngoại thương phản ánh quá trình tham gia phân công lao động quốc tế của một nước

1.1.2 Một số lý thuyết cơ bản về thương mại quốc tế

1.1.2.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối

Lý thuyết này xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XVIII, xây dựng trên cơ sở

lý thuyết về buôn bán tự do được phát triển vào thế kỷ này Năm 1776, trong tác phẩm “Sự giàu có của các dân tộc”, Adam Smith đã quan niệm các nước thu được lợi ích lớn nhất khi tham gia trao đổi các loại hàng hoá có thể sản xuất với hiệu quả tối đa Điểm then chốt của lập luận này là ở chỗ các loại chi phí sản xuất sẽ là căn cứ cho biết từng nước hoặc từng bạn hàng buôn bán nên sản xuất mặt hàng gì Theo quan niệm về lợi thế tuyệt đối; việc một nước quyết định sản xuất loại hàng hoá nào được dựa vào có sử dụng tốt (nhất) hay không các nguồn lực của quốc gia đó Các nguồn lực đó là đội ngũ lao động, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, tiến bộ công nghệ, hoặc thậm chí cả truyền thống kinh doanh Adam Smith tin tưởng rằng tất cả các quốc gia đều có lợi

từ ngoại thương và đã ủng hộ rất mạnh mẽ cho chính sách tự do thương mại

Trang 13

Ngoại thương tự do sẽ là nguyên nhân làm cho các nguồn tài nguyên thế giới được sử dụng có hiệu quả nhất và phúc lợi của thế giơí nói chung sẽ được tạo ra tới mức tối đa Như vậy, theo lý thuyết này việc khẳng định một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác trong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có thể sản xuất được nhiều sản phẩm A ở nước đó hơn ở nước khác; và tiêu chuẩn quyết định sự lựa chọn ngành nghề cần chuyên môn hoá quốc tế là những ưu thế tự nhiên như khí hậu, đất đai, khoáng sản và những lợi thế khác Một nước có chi phí sản xuất cao hơn sẽ nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn Lợi thế này được xem xét từ hai phía đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn khi bán sản phẩm trên thị trường quốc tế Còn với các nước sản xuất sản phẩm với chi phí cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận, người ta gọi là bù đắp được sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước

1.1.2.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối)

Nếu lợi thế tuyệt đối được xem xét dựa vào chi phí sản xuất thì lợi thế tương đối dựa vào chi phí so sánh Ví dụ, khả năng trao đổi sản phẩm giữa Việt Nam và Nga đối với hai sản phẩm là thép và quần áo (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1 Chi phí sản xuất

Sản phẩm Chi phí sản xuất (ngày công lao động)

Xét theo chi phí sản xuất thì Việt Nam sản xuất thép và quần áo đều có chi phí cao hơn Nga Lợi thế tuyệt đối chỉ ra rằng Việt Nam không có khả

Trang 14

năng xuất khẩu sản phẩm này sang Nga Song nếu xét theo chi phí so sánh thì lại có cách nhìn khác (xem bảng 1.2)

Bảng 1.2: Chi phí so sánh

Sản phẩm Chi phí sản xuất (ngày công lao động)

Theo chi phí so sánh thì thấy rằng chi phí sản xuất thép của Việt Nam cao hơn Nga: Để sản xuất một đơn vị thép ở Việt Nam cần 5 đơn vị quần áo trong khi ở Nga chỉ cần 4 đơn vị Nhưng ngược lại, chi phí sản xuất quần áo ở Việt Nam lại thấp hơn Nga: Để sản xuất một đơn vị quần áo Việt Nam cần 1/5 đơn vị thép trong khi ở Nga cần 1/4 đơn vị Điều này chỉ ra rằng Việt Nam và Nga có thể trao đổi sản phẩm cho nhau Nga xuất khẩu thép sang Việt Nam và Việt Nam xuất khẩu quần áo sang Nga Việc trao đổi này đưa lại lợi thế cho cả 2 nước Có thể mô tả lợi ích của Việt Nam trong trường hợp này qua sơ đồ 1

Trang 15

0 Tb (Tb+2) Ta Thép

Sơ đồ 1: Lợi thế của Việt Nam khi có ngoại thương

Trong sơ đồ này, đường PPF phản ánh khả năng sản xuất thép và quần

áo của Việt Nam

- Khi chưa có ngoại thương, điểm A (nơi tiếp xúc giữa đường PPF và tiếp tuyến có độ dốc là (-5) phản ánh giá so sánh thép của Việt Nam) phản ánh đồng thời khả năng sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam A(Ta, Qa)

- Khi có ngoại thương, Việt Nam sẽ bán quần áo sang Nga và mua thép

từ Nga về ở đây có vấn đề là giá trao đổi sẽ được thực hiện như thế nào Trong trường hợp này, đối với giá thép Việt Nam nhập không phải theo giá so sánh 5 hoặc 4 mà thông thường là theo giá quốc tế; nó sẽ biến động trong khoảng 4 và 5 (4<Pt<5) Xác định ở mức giá nào phụ thuộc cung – cầu thép trên thị trường Việt Nam và Nga và thị trường quốc tế Ví dụ Việt Nam cần nhập 2 đơn vị thép và giá sẽ xác định ở mức 4,5 khi đó tại điểm B (nơi tiếp xúc giữa đường PPF và tiếp tuyến có độ dốc là (-4,5) sẽ phản ánh khả năng sản xuất của Việt Nam B (Tb, Qb) Có nghĩa là Việt Nam sẽ sản xuất nhiều quần áo hơn và sản xuất thép ít đi (Tb<Ta) Và tại điểm C sẽ phản ánh khả năng tiêu dùng của Việt Nam Có thể thấy khả năng tiêu dùng này vượt ra khỏi giới hạn của đường PPF Đó chính là lợi ích của Việt Nam dựa vào lợi thế so sánh: C{(Tb + 2), (Qb - 9)}

Như vậy, lợi thế so sánh của ngoại thương là khả năng nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một nước thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá với nước khác dựa trên cơ sở chi phí so sánh để sản xuất những hàng hoá

đó Nguyên tắc cơ bản để có lợi thế tương đối là thực hiện chuyên môn hoá sản xuất với những sản phẩm có năng suất cao Lợi thế so sánh cho phép bất

kỳ nước nào cũng có thể tăng thu nhập của mình thông qua ngoại thương , ngay cả khi một nước sản xuất mọi sản phẩm với chi phí tuyệt đối thấp hơn một nước khác, bởi vì thị trường thế giới tạo ra cơ hội để có thể mua hàng hoá

Trang 16

với giá tương đối rẻ so với giá đang được lưu hành trong nước nếu không có ngoại thương Nội dung này xuất phát từ sự khác nhau về chi phí so sánh để sản xuất sản phẩm

1.1.3 Vai trò của ngoại thương đối với việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.3.1 Khái niệm và nội dung chủ yếu của CNH, HĐH ở nước ta

CNH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công

là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao [36, tr.587] CNH là con đường tất yếu để xây dựng cơ sở vật chấy kỹ thuật cho chủ nghiã xã hội ở nước ta Thực chất CNH chính là chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí chủ yếu trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, CNH có hai nội dung chủ yếu là: Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật để trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội Đảng ta đã xác định nội dung cơ bản của CNH, HĐH từ nay đến năm 2010 là:

- Con đường CNH, HĐH nước ta cần phải và có thể rút ngắn bằng kết hợp hài hoà giữa phát triển tuần tự với phát triển nhảy vọt, gắn CNH với HĐH bằng phát triển những công nghệ hiện đại, đặc biệt công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, từng bước phát triển kinh tế tri thức

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH

Sự chuyển dịch này phải dựa trên cơ sở phát huy thế mạnh, lợi thế so sánh của đất nước, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường, mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước

Trang 17

- Huy động các nguồn lực đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Đưa nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp phát triển lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm tăng giá trị trên một diện tích đất canh tác; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, đồng thời áp dụng các công nghệ tin học, sinh học; giải quyết tiêu thụ nông sản; đầu tư cho phát triển hạ tầng nông thôn; phát triển nhiều ngành nghề chế biến truyền thống

- Đối với công nghiệp, vừa phát triển các ngành nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành công nghệ hiện đại, công nghệ cao, xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; chú trọng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng một số tập đoàn doanh nghiệp lớn và từng bước HĐH kết cấu

hạ tầng

- Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng ngành dịch vụ, phát triển mạng lưới đô thị hợp lý, phát huy vai trò các vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ vốn lớn, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng khác, nhất là các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa

- Phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển, kết hợp nuôi trồng, đánh bắt, chế biến hải sản Khai thác và chế biến dầu, dầu khí, đóng tàu, vận tải, du lịch, dịch vụ

Phấn đấu đến năm 2010 cơ cấu ngành kinh tế trong GDP là: Nông nghiệp chiếm 16 - 17%; công nghiệp và xây dựng cơ bản chiếm 40- 41%; dịch vụ chiếm 42-43% Phấn đấu năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; lao động chủ yếu bằng máy móc; điện khí hoá cơ bản; GDP tăng gấp 8 lần so với năm 1990; khoa học - công nghệ làm chủ được công nghệ nhập; các lĩnh vực công thương, dịch vụ phát triển mạnh

Trang 18

Trong thời đại ngày nay, thông qua việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc

tế, CNH phải phát triển những ngành có tiềm năng, ưu thế lớn, có khả năng sử dụng kỹ thuật và công nghệ có hiệu quả cao nhất Hơn nữa, với sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, không chỉ ở những nước kém phát triển và đang phát triển, mà cả những nước có nền công nghiệp tương đối phát triển, CNH vẫn còn là vấn đề phải tiếp tục nhưng với nội dung mới: điện tử, tin học, công nghệ mới, công nghệ sinh học…[37, tr.587]

Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định rõ: “Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh [11, tr.80]

Nội dung của CNH, HĐH ở Việt Nam được Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh “ Hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh Hoàn chỉnh một bước cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng Tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh XK, thu hút vốn, công nghệ từ bên ngoài Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, thực hiện các cam kết song phương và đa phương…; duy trì ổn định các cân đối vĩ mô…; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; …ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức… [12, tr.262-263]

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, khẳng định tụt hậu là nguy cơ lớn nhất, vượt và thoát nguy cơ này là thách thức hàng đầu của Việt Nam Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải phát triển rút ngắn thời gian Quan điểm này đã được nêu rõ trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX là: “Đẩy mạnh CNH, HĐH xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, phát huy cao độ nội lực,

Trang 19

đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững…” [12, tr.2] Mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 - 2010) là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; “Phát triển kinh tế, CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm” [12, tr.159]

1.1.3.2 Vai trò của ngoại thương đối với việc đẩy mạnh CNH, HĐH

Thời kỳ CNH được hiểu là giai đoạn biến đổi toàn bộ nền kinh tế xã hội từ lao động thủ công sang lao động công nghệ tiên tiến, hiện đại; từ sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp sang nền sản xuất lớn với năng suất lao động cao tạo ra sự chuyển biến cơ cấu kinh tế theo hướng tăng trưởng và hiệu quả

Như vậy, suy cho cùng, mục tiêu của CNH, HĐH là phát triển nền kinh

tế quốc dân với tốc độ cao và bền vững bằng việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước và cả nguồn lực từ bên ngoài Với góc độ đó, ngoại thương cần thiết cho CNH, HĐH cả về chất và lượng Việc thể hiện được tác động của ngoại thương tới sự nghiệp CNH, HĐH một phần chủ yếu là nhờ vào sự định hướng, chính sách và biện pháp trong hoạt động ngoại thương một cách phù hợp với sự phát triển kinh tế đất nước trong từng thời kỳ phát triển [36, tr.46]

- Về chất, ngoại thương giúp đẩy nhanh tiến độ thực hiện thành công tiến trình CNH, HĐH Trong điều kiện của nước ta đặt ra những yêu cầu trực tiếp và cấp bách là có vốn ngoại tệ để NK công nghệ, kỹ thuật máy móc, thiết

bị tiên tiến cũng như nguyên vật liệu mà ta chưa sản xuất được, hoặc sản xuất được nhưng với chi phí cao hơn nếu nhập từ thị trường thế giới Ngoại thương

sẽ là nguồn cung cấp ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu NK thiết bị, máy móc phục vụ cho yêu cầu của CNH; Nếu có chính sách NK phù hợp thì việc NK máy móc,

Trang 20

thiết bị sẽ là động lực cho tiến trình CNH, HĐH; và sẽ đưa lại lợi ích không kém phần quan trọng là giúp nền sản xuất trong nước tồn tại và phát triển được cùng với thế giới Lúc này chính từ hội nhập kinh tế quốc tế , thông qua thương mại tư do nền sản xuất và kinh doanh trong nước sẽ tìm được câu trả lời chính xác cho sự lựa chọn mình sẽ phải làm gì ? làm bao nhiêu ? và làm như thế nào ? Một trong những kết quả của những trả lới chính xác này là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung, hàng hoá, dịch vụ Việt Nam nói riêng Những lợi ích của ngoại thương có thể được nhìn nhận như những lợi ích về chất bởi lẽ chúng giúp nâng cao được chất lượng của nền kinh tế: tăng trưởng cao nhưng bền vững vì mức tăng trưởng cao của năng suất lao động xã hội trong khi sử dụng ít hơn nguồn lực (bao gồm cả việc thoả mãn được yêu cầu bảo vệ môi trường- sự phá huỷ môi trường có thể coi như là tiêu hao về nguồn lực)

- Về lượng: ngoại thương giúp tăng qui mô tiêu dùng trong khi không phải tiêu hao thêm nguồn lực của đất nước, lợi ích này của ngoại thương thu được chủ yếu dựa trên việc khai thác lợi thế so sánh, trong đó có khai thác lợi ích kinh tế nhờ qui mô Chỉ có thông qua ngoại thương, lợi thế so sánh của đất nước mới có thể chuyển thành lợi ích tiêu dùng, đẩy khả năng tiêu dùng của đất nước vươn xa, ra ngoài giới hạn của nền sản xuất Khối lượng của cải lớn hơn có thể được tiết kiệm để đầu tư trở lại, mở rộng qui mô sản xuất Đây chính là tích luỹ cần thiết trong giai đoạn ban đầu của CNH, bù đắp cho những thiếu hụt trong những nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam

Ngoại thương giúp đẩy mạnh CNH, HĐH, đến lượt nó CNH, HĐH lại tạo điều kiện thuận lợi cho ngoại thương phát triển

Qua phân tích một số lý thuyết về thương mại quốc tế ở phần trên cho thấy, ngoại thương ra đời và phát triển xuất phát từ lợi thế so sánh và cũng được dẫn dắt bởi lợi thế so sánh Một đặc điểm quan trọng nhất của lợi thế so

Trang 21

sánh là không bất định mà luôn thay đổi, nhất là trong thời đại ngày nay, khi

mà khoa học kỹ thuật đã và đang phát triển hàng ngày hàng giờ, vì thế sản xuất và kinh doanh nói chung và ngoại thương nói riêng cũng phải thay đổi theo Thị trường thế giới ngày nay cho thấy, sản phẩm thô và nguyên liệu ngày càng mất giá trong khi các sản phẩm qua chế biến, đặc biệt là những sản phẩm chế biến sâu có hàm lượng chất xám cao, lại có nhiều ưu thế (giá cả và khả năng cạnh tranh) trên thị trường thế giới Sự thay đổi này đang hàng ngày làm thay đổi cơ cấu xuất NK Thế giới đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và thiếu hụt lương thực, thực phẩm và trong khoảng thời gian dài nữa, nhu cầu về nguyên liệu, lương thực, thực phẩm vẫn tăng, nhưng tỷ trọng của chúng trong tổng kim ngạch buôn bán ngày càng giảm, trong khi tỷ trọng và giá trị tuyệt đối của các sản phẩm chế biến, đặc biệt là các sản phẩm có công nghệ cao tăng nhanh Một sự biến đổi cơ cấu khác cũng rất quan trọng là hàm lượng trí tuệ trong giá trị sản phẩm ngày càng cao và chính sự biến đổi này đã làm cho cơ cấu XK của một quốc gia phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu thị trường Ví dụ vấn đề sản xuất, XK gạo ở Việt Nam Sản xuất gạo được coi là có lợi thế so sánh ở nước ta, nơi mà điều kiện thiên nhiên, khí hậu rất phù hợp cho trồng lúa nước; nơi mà người lao động đã có hàng nghìn năm kinh nghiệm cày cấy trong trồng lúa nước Có thể nói chỉ một số rất ít nước trên thế giới có được lợi thế so sánh này Tuy nhiên, lợi thế so sánh thuộc loại nhân tố sản xuất này đang đứng trước những thách thức rất lớn, nếu như không muốn nói là sống còn Thách thức dễ nhìn thấy nhất đã và đang đến từ phía nhu cầu Mẫu hình nhu cầu về gạo trên thế giới đang chuyển từ “no” sang “ngon” đang làm mất dần lợi thế so sánh về sản xuất gạo có chất lượng thấp Chính vì vậy, chúng ta đang cố gắng tạo và chuyển lợi thế sang sản xuất gạo loại có chất lượng cao Nhưng với công nghệ gen, tạo ra được những giống lúa vừa có chất lượng cao vừa có chi phí sản xuất thấp (năng suất cao,

dễ tính trong chăm sóc, không bị sâu rầy, thời gian sinh trưởng ngắn…) thì

Trang 22

thách thức đối với lợi thế trong sản xuất lúa gạo của ta thật là không nhỏ và không dễ vượt qua

Trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, với nền sản xuất còn thấp, chỉ có thể phát triển nền kinh tế đất nước bằng con đường mà Đảng ta đã khẳng định, đó là thực hiện CNH, HĐH Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng ta khẳng định: Nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới là đẩy tới một bước CNH, HĐH đất nước, coi CNH, HĐH là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước xung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoại thương sẽ góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ này và thực hiện thành công CNH, HĐH Và chính ngoại thương sẽ không thể phát triển được nếu không có một nền kinh tế hiện đại dựa trên nền tảng của CNH, HĐH Với mối quan hệ chặt chẽ giữa ngoại thương với CNH, HĐH thì ngoại thương cần đáp ứng các yêu cầu sau:

- Đẩy mạnh XK, tăng tích luỹ vốn cho tái sản xuất mở rộng, phục vụ đắc lực cho phát triển rút ngắn CNH

- NK các yếu tố đầu vào cho các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh

và hình thành những lợi thế so sánh mới thông qua việc NK các công nghệ cao

- NK hợp lý để tiết kiệm tiêu dùng, hướng dẫn tiêu dùng có hiệu quả, tạo cơ sở để phát triển sản xuất công nghiệp

1.2 Kinh nghiệm phát triển ngoại thương trong quá trình CNH ở một số nước

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á

Từ nhiều thập kỷ nay, khi tiến hành CNH để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, các quốc gia chậm phát triển đều phải giải quyết vấn đề tạo vốn và tích luỹ vốn, trong đó có nguồn từ bên ngoài như thu nhâp từ XK,

Trang 23

tín dụng quốc tế Mặc dù hiện nay một số nước trong khu vực Đông Nam Á

đã chuyển sang giai đoạn cao hơn của quá trình CNH, nhưng là một quốc gia

đi sau, Việt Nam vẫn có thể tham khảo những kinh nghiệm thành công cũng như chưa thành công trong việc phát triển ngoại thương nhằm đẩy mạnh CNH của các nước này để vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước mình

1.2.1.1 Khai thác sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên

Đối với một số nước như Malaixia, Philippin, Thái lan, Inđônêxia việc khai thác lợi thế về nguồn tài nguyên sẵn có và các điều kiện thuận lợi của đất nước (như vị trí địa lý, khí hậu…) Có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu CNH, khi trình độ sản xuất đặc biệt là ngành công nghiệp trong nước còn thấp và khả năng tích luỹ vốn của nền kinh tế còn hạn chế Việc XK những mặt hàng có lợi thế này ban đầu gắn với chiến lược XK sản phẩm thô

và sơ chế (như các sản phẩm công nghiệp và khai khoáng) Chẳng hạn như Malaixia đã tập trung khai thác và XK thiếc, dầu mỏ, sắt, đồng, bô xít , Trong đó XK thiếc giữ vai trò chủ yếu Trong thập kỷ 70 (của thế kỷ XX) với sản lượng thiếc tinh luyện trên 60 nghìn tấn, Malaixia đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất và XK thiếc Philippin là nước đứng đầu thế giới về XK các sản phẩm dừa trong những năm đầu thập kỷ 80 (của thế kỷ XX) Dừa là loại cây trồng cho thu nhập cao nhất trong nông nghiệp Philippin Inđônêxia tập trung sản xuất và XK các sản phẩm dầu mỏ, khí đốt, cao su tự nhiên, cà phê,

ca cao Trong suốt hơn một thập kỷ kể từ giữa những năm 70, dầu mỏ và khí

tự nhiên là nguồn XK chủ yếu của Inđônêxia Năm 1976, thu nhập từ XK dầu

mỏ và khí tự nhiên chiếm tới 70,25% tổng KNXK nước này Singgapo lại là một điển hình về việc khai thác lợi thế về vị trí địa lý Singgapo nằm trên trục giao thông hàng hải nối các đại dương lớn Trong giai đoạn đầu CNH, Singgapo phát triển tái XK và môi giới buôn bán các mặt hàng sơ chế giữa các nước Đông nam Á với các nước tư bản Phương Tây [32]

Trang 24

Nguồn lợi thu được từ XK sản phẩm có lợi thế về điều kiện tự nhiên đã góp phần không nhỏ vào quá trình tích luỹ vốn ban đầu cho CNH ở các nước Đông Nam Á

1.2.1.2 Ưu tiên những ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao

để tận dụng nguồn lao động dồi dào vào sản xuất hàng xuất khẩu

Khi bắt đầu chiến lược CNH hướng về XK, trong các yếu tố của quá trình sản xuất ngoài tài nguyên thiên nhiên thì lao động dồi dào và giá rẻ là một lợi thế lớn của một số nước Đông Nam Á Cùng với vốn đầu tư, lợi thế

về lao động nếu được sử dụng triệt để có thể tạo ra những bước phát triển nhanh về kinh tế Vì vậy các nước Đông Nam Á bắt đầu bằng việc xây dựng những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động (chủ yếu thuộc công nghiệp chế biến tvà chế tạo hàng tiêu dùng mang tính chất gia công lắp ráp cho các công ty nước ngoài), nhờ đó tạo ra nhiều việc làm, đồng thời khai thác lợi thế lao động rẻ để tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế giới

Ở Inđôlêxia nhóm hàng XK chiếm vị trí quan trọng và tăng nhanh trong những năm 1980 là hàng dệt và may mặc Giá trị các mặt hàng này trong tổng KNXK từ 0,4% năm 1980 đã tăng lên 17,8% năm 1982 Malaixia lại tập trung khai thác và chế biến gỗ XK Năm 1993, Malaixia đã XK 5,44 triệu m3 gỗ xẻ, thu 4,4 tỷ ringgit (khoảng 1,7 tỷ USD) Nếu tính chung gỗ chế biến và đồ gỗ

XK thì năm 1993 Malaixia thu tới 12,2 tỷ ringgit (khoảng 4,7 tỷ USD) tăng 16% so với năm 1992 Trong số các ngành công nghiệp chế biến mũi nhọn của Thái Lan, công nghiệp chế biến nông - lâm - hải sản và công nghiệp dệt chiếm vị trí quan trọng Thái Lan là một trong số nước hàng đầu thế giới về

XK gạo với mức XK 4-5 triệu tấn/năm, gạo Thái Lan đã cạnh tranh được trên thị trường quốc tế với Mỹ nhờ giá rẻ hơn, cạnh tranh được với Việt Nam nhờ mức độ chế biến tinh hơn Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 (của thế kỷ XX), công nghiệp dệt Thái Lan phát triển mạnh nhờ có được thị trường

Trang 25

XK rộng lớn Năm 1992, công nghiệp dệt đã mang lại 14% tổng KNXK của Thái Lan [32]

Từ giữa những năm 1980, bên cạnh việc sản xuất và XK những sản phẩm có hàm lượng nguyên liệu và lao động cao như công nghiệp chế biến thực phẩm, dệt may, làm đồ trang sức và các nghề thủ công cổ truyền , các nước ASEAN cũng tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến công nghệ cao như công nghiệp điện tử, điện dân dụng nhờ vào đầu tư và liên doanh với nước ngoài Năm 1992, sản phẩm XK của ngành công nghiệp điện

tử, điện dân dụng đã chiếm 13,9% tổng KNXK của Thái Lan Còn ở Malaixia, tổng giá trị XK đồ điện và sản phẩm điện tử tăng từ 10,4% năm

1986 lên 21,9% vào năm 1990 [32]

Sản phẩm XK của một số nước Đông Nam Á có khả năng cạnh tranh cao do chất lượng không quá thua kém so với sản phẩm của nhiều nước công nghiệp mới và các nước tư bản phát triển, giá cả lại phải chăng phù hợp với

bộ phận người tiêu dùng có thu nhập trung bình và thấp ở các nước phát triển Việc tiêu thụ được mở rộng dần từ hàng may mặc, giày dép, tóc giả đến các sản phẩm công nghiệp điện tử đã kích thích sự phát triển các ngành thu hút nhiều lao động ở các nước Đông Nam Á Lợi thế về lao động rẻ cộng với những chi phí sản xuất được tiết kiệm đến tối đa đã làm cho hàng hoá của các nước ASEAN có chỗ đứng trên thị trường thế giới Thu nhập từ sản xuất và

XK làm giàu thêm dự trữ ngoại hối và tích lũy cho CNH

1.2.1.3 Mở rộng thị trường xuất khẩu nhằm tận dụng qui mô sản xuất tối ưu

Sự không thành công của chiến lược thay thế NK đã buộc các nước ASEAN phải thay đổi chiến lược vươn ra thị trường ngoài nước Dung lượng lớn cũng như biến động phức tạp của thị trường ngoài nước đã đặt các nước ASEAN trước nhiệm vụ phát triển sản xuất XK, nâng cao năng lực cạnh tranh

để đạt được qui mô sản xuất tối ưu

Trang 26

Ngay từ khi khởi đầu chiến lược CNH hướng về XK thị trường buôn bán chính của các nước ASEAN là các nước tư bản Inđônêxia chủ yếu buôn bán với Mỹ, Nhật Bản, Singgapo Các nước này chiếm khoảng 77% tổng KNXK, 52% KNXK của Inđônêxia vào những năm 1980, trong đó Nhật Bản

là bạn hàng quan trọng nhất Gần đây, Inđônêxia còn chú trọng mở rộng thị trường EU, Trung Đông, Nam Mỹ, Trung Quốc, Đông Dương Thị trường XNK chính của Malayxia, Thái Lan, Philipin cũng là 3 nước Mỹ, Nhật, Singgapo Năm 1994 Malayxia XK sang thị trường Singgapo 12,1 tỷ USD hàng hoá, gấp 12,5 lần năm 1976 và chiếm 21,3% tổng KNXK cả năm Tiếp đến là thị trường Mỹ với 11,6 tỷ USD, gấp 14,1 lần năm 1976 và chiếm 20,4% Ba chỉ tiêu tương ứng sang thị trường Nhật Bản là 7,1 tỷ USD gấp 6,3 lần và chiếm 12,4% Năm 1990 Thái Lan XK sang Mỹ trên 5,2 tỷ USD, chiếm 22,7% tổng giá trị XK, năm 1993 tăng lên đạt trên 8 tỷ USD; XK sang Nhật Bản năm 1990 là 4,0 tỷ USD, chiếm 17,2% năm 1993 là 6,3 tỷ USD, chiếm 17,0%; XK sang Singgapo năm 1990 là 1,7 tỷ USD, chiếm 7,3%, năm

1993 là 4,4 tỷ USD, chiếm 12,0% [32]

Nhờ có thị trường nước ngoài dung lượng lớn nên các ngành sản xuất hàng XK của các nước ASEAN phát triển mạnh, các cơ sở sản xuất hàng XK tận dụng được qui mô sản xuất tối ưu Như vậy, ngoại thương tạo điều kiện

mở rộng qui mô sản xuất Việc tận dụng hết công suất làm hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh, do đó, tăng lợi nhuận, góp phần tăng tích luỹ Cùng với

sự phát triển sản xuất, hệ thống ngành bổ trợ cho các ngành công nghiệp hướng về XK cũng hình thành Nhiều đạo luật mới được ban hành hoặc sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển XK Tất cả những hoạt động đó được chú trọng để hướng tới đích cuối cùng là XK với doanh số cao Chiến lược hướng về XK đặt ngoại thương nói chung, XK nói riêng vào vị trí động lực tăng trưởng kinh tế Mở rộng thị trường là giải pháp quan trọng để XK được gia tăng nhanh

Trang 27

Những thu nhập từ XK đã cải thiện đáng kể cán cân thương mại Chỉ sau vài năm mở rộng XK một số nước ASEAN đã có thặng dư trong buôn bán quốc tế, từ đó tăng qui mô tích luỹ vốn cho CNH, ở Inđônêxia do chính phủ

áp dụng những biện pháp đẩy mạnh XK và điều hành khéo léo các hoạt động xuất, nhập khẩu nên cán cân thương mại luôn dương Năm 1980 là năm Inđônêxia có xuất siêu cao nhất, tới 13.116 triệu USD, năm 1991 là năm thấp nhất cũng xuất siêu 2.080 triệu USD Bình quân mỗi năm của thời kỳ 1976 -

1994, Inđônêxia xuất siêu 7.771 triệu USD Malayxia hầu như cũng đạt được mức thặng dư trong cán cân thương mại Trong vòng gần 2 thập kỷ qua chỉ có năm 1981 và 1982 là có sự thâm hụt Năm 1989 đạt mức thặng dư kỷ lục với 3,9 tỷ USD, sau đó giảm xuống còn 2,6 tỷ USD năm 1990 và 527 triệu USD năm 1991 nhưng rồi lại tăng lên đạt gần 3,4 tỷ USD năm 1992 và 3,2 tỷ USD năm 1993 Năm 1994 còn thặng dư 1,4 tỷ USD [32]

Trang 28

1.2.1.4 Ngoại thương góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế, thay đổi cơ cấu hiện vật có lợi cho CNH, HĐH

Sự phát triển các ngành công nghiệp chế tạo hướng về XK ở các nước ASEAN đã thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ mới Việc NK thiết bị công nghệ tiên tiến không những tạo điều kiện tái sản xuất mở rộng thay đổi kỹ thuật công nghệ mà còn tăng năng suất lao động, nhờ đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận, tạo điều kiện tăng qui mô tích luỹ Thực hiện chiến lược hướng về

XK, các nước ASEAN đã vươn ra thị trường ngoài nước, thu hút đầu tư của các công ty tư bản quốc tế, NK công nghệ mới, tiếp thu những kiến thức quản

lý kinh tế - xã hội hiện đại, hình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giàu năng lực và những công nhân quen với tác phong công nghiệp

Thông qua XNK, các mặt hàng của ASEAN nhanh chóng tiếp cận thị trường hiện đại của khu vực và thế giới cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Thông qua kênh chuyển giao công nghệ với việc tiếp nhận các công nghệ tiên tiến hơn từ nước ngoài cùng với nguồn lao động rẻ, tài nguyên phong phú

ở đây đã tạo ra những sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh lớn trên thị trường thế giới, ngay cả trong thị trường các nước tư bản phát triển Cũng nhờ công nghệ tiên tiến tập trung vào ngành công nghiệp chế biến khiến cho tỷ trọng ngành công nghiệp chế tạo tăng cao trong tổng số hàng hoá XK Ở Malayxia, tỷ trọng hàng chế tạo trong tổng KNXK qua các năm là: 7,6% vào năm 1970; 21,2% năm 1980; 54,7% năm 1986 Trong khi đó hàng sơ chế giảm theo các năm là: 78,7% năm 1970; 69,1% năm 1980; 32,3% năm 1989 Tuy nhiên, ở những mặt hàng lâu bền như ô tô, xe máy do điều kiện khách quan khó cạnh tranh nổi với những “người khổng lồ” như Mỹ, Nhật thì mức

độ tiếp thu công nghệ sản xuất phục vụ tiêu dùng trong nước có bước đi từ tốn

và chắc chắn hơn Đó chính là để sử dụng lợi thế so sánh về giá nhân công rẻ cộng với công nghệ tiên tiến Kết quả là sự xuất hiện ngày càng nhiều loại sản

Trang 29

phẩm xuất khẩu như dệt, da, dụng cụ điện tử, xe máy do các nước Malayxia, Thái Lan sản xuất được tung ra thị trường thế giới [32]

Công nghệ chuyển giao sang các nước ASEAN nói chung đến nay được coi từ mấy nguồn chủ yếu sau:

- Một là: Từ các nước tư bản phát triển như Mỹ, Nhật, Tây Âu đây là những công nghệ cao đòi hỏi chi phí vốn lớn của các nước tiếp nhận Mặt khác lại chịu chi phối lớn của bên chuyển giao cả về phương diện tài chính,

kỹ thuật, giá cả khiến các nước ASEAN ngày càng lệ thuộc sâu sắc vào các nước XK công nghệ

- Hai là: Nguồn từ các nước NIEs châu Á Nguồn công nghệ và thiết bị này tương đối phù hợp với thực trạng nền kinh tế các nước ASEAN trong hiện tại do đáp ứng được nhu cầu thiết yếu, nhưng tuổi thọ của sản phẩm trong chu kì kinh doanh không cao, sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng có những hạn chế nhất định

- Ba là, từ nguồn trong nội bộ các nước ASEAN đã có nhưng không lớn, công nghệ không cao, khó khấu hao nốt những giá trị cuối cùng khi muốn chuyển giao để thay đổi công nghệ mới vì đó thường là thiết bị công nghệ đã lạc hậu vài thế hệ

Tóm lại, hạn chế trong NK công nghệ ở đây là sự phụ thuộc nặng nề vào công nghệ của các nước tư bản phát triển, khó khăn trong việc tiếp nhận công nghệ hiện đại để nhanh chóng hiện đại hoá nền kinh tế Theo thống kê ở Singgapo 85% năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp quan trọng, 70% KNXK thuộc công ty nước ngoài ở Malayxia, 60% xí nghiệp, 50% chỗ làm việc, 70% KNXK do các công ty xuyên quốc gia nắm Hầu hết những ngành công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế đều nằm trong các công ty xuyên quốc gia Những nhân tố trên làm cho công nghiệp và tích luỹ vốn có những dấu hiệu suy yếu khi chuyển sang giai đoạn đòi hỏi công nghệ cao hơn [32]

Trang 30

1.2.1.5 Những biến động trong hoạt động ngoại thương ảnh hưởng trực tiếp đến CNH, HĐH, tăng trưởng kinh tế và tăng tích luỹ vốn ở một số nước Đông Nam Á

Thương mại đã từng là động lực tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của các nước Đông Nam Á trong suốt 30 năm qua Để thúc đẩy XK phát triển, ban đầu chính phủ các nước Đông Nam Á đã đưa ra những biện pháp khuyến khích khác nhau như giảm thuế, hỗ trợ mua nguyên liệu đầu vào, cấp tín dụng với lãi suất cho vay ưu đãi nhằm mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp hướng vào các ngành kinh tế mới và hiện đại, làm tăng các cơ hội đạt được một nền kinh tế năng động có mức lợi tức cao nhờ qui mô lớn Sau đó, chính phủ lại đưa ra các biện pháp, chính sách có tính bao quát hơn Đó là các cải cách thương mại và chế độ đầu tư, tỷ giá hối đoái hợp lý và các chính sách kinh tế vĩ mô khác Do vậy, phần đóng góp của thương mại vào chuyển kỹ thuật từ thủ công lên cơ khí máy móc, góp phần tăng năng suất lao động, tăng tổng sản phẩm trong nước lên đáng kể (GDP tăng từ 15% năm 1970 lên hơn 50% trong năm 1995) Trong thời kỳ 1970 - 1995, giá trị XK bình quân đầu người tăng từ 80 USD lên 850 USD ở Thái Lan [32]

Nhưng sang năm 1996, thương mại của Đông Nam Á suy giảm với qui

mô chưa từng thấy Từ quí I năm 1995, tăng trưởng XK ở Thái Lan, Inđônêxia, Malayxia và Philippin đang ở mức kỷ lục bắt đầu giảm mạnh Đến hết quí I năm 1996, tăng trưởng XK các nước đó đã giảm xuống bằng không

Sự suy giảm tăng trưởng XK Đông Nam Á phản ánh những yếu tố có tính chu

kỳ trong nền kinh tế thế giới và khu vực Đó là tăng trưởng thương mại thế giới giảm mạnh Tăng trưởng XK thế giới từ mức 20% năm 1995 (cao nhất trong vòng 15 năm trước đó) giảm xuống còn 4% năm 1996 (tính theo giá trị USD) Thái Lan bị tác động nghiêm trọng nhất, có mức tăng trưởng XK danh nghĩa âm trong năm 1996 Đồng yên mất giá mạnh trong năm 1995 đã làm trầm trọng thêm những tác động tiêu cực của suy giảm XK thế giới nên nhiều

Trang 31

nước Đông Nam Á (Nhật Bản vừa là thị trường chính, vừa là một đối thủ cạnh tranh trên các thị trường XK của các nước Đông Nam Á) Một số nước bắt đầu có tình trạng tỷ giá thực tế lên giá từ giữa năm 1995 như Thái Lan (12%), Philippin (15%), Inđônêxia (11%) Điều đó ảnh hưởng đến khả năng XK; Các nước Đông Nam Á cũng chịu tác động bởi sự giảm giá mạnh các mặt hàng XK chủ lực của họ Giảm giá nhiều nhất xảy ra với công nghiệp điện tử, đặc biệt với máy vi tính, linh kiện bán dẫn và viễn thông Giá cả một

bộ nhớ Megabyte đã giảm từ 54 USD cuối năm 1995 xuống còn 13 USD vào giữa năm 1996 và 3 USD vào cuối năm 1997 [32]

Tuy các yếu tố có tính chu kỳ đóng vai trò quan trọng, nhưng các yếu

tố về cơ cấu cũng có vị trí nhất định trong kết quả hoạt động ngoại thương của các nước Đông Nam Á Các nước trong khu vực đứng trước sự cạnh tranh ngày một quyết liệt trên thị trường quốc tế với sự xuất hiện của nhiều nước công nghiệp và XK mới trong cả vùng (Trung Quốc) lẫn bên ngoài (Mêhicô, các nước Đông Âu) Chẳng hạn, Thái Lan đang mất dần tính cạnh tranh đối với các mặt hàng XK có chi phí sản xuất thấp như hàng dệt may và đồ chơi Điều này buộc Thái Lan phải chia xẻ phần lớn thị trường trước sự cạnh tranh ngày càng tăng với giá nhân công thấp của các nước như Trung Quốc, nơi mà hơn 50% sản phẩm XK là sản phẩm công nghệ thấp Trong ngành sản xuất quần áo, chi phí giờ công ở Trung Quốc năm 1995 là 0,25 USD, trong khi đó

ở Thái Lan là 1,11 USD Hơn nữa nhiều nước Đông Nam Á đã đầu tư vào những ngành xuất khẩu tương tự nhau như ngành điện tử, làm gia tăng áp lực cạnh tranh, làm cho giá XK và tỷ lệ trao đổi thương mại giảm mạnh hơn [18]

Là những nền kinh tế hướng vào tăng trưởng XK các sản phẩm công nghiệp chế biến, nhân tố này cho thấy sự cần thiết phải xem xét lại mô hình tăng trưởng ở các nước ASEAN và phải hoàn thiện theo hướng đa dạng hoá

XK, kết hợp hài hoà giữa hướng về XK với thay thế NK để cùng lúc tận dụng được các lợi thế và nhu cầu cả thị trường trong và ngoài nước Việc tận dụng

Trang 32

những lợi thế sẵn có (lợi thế tĩnh) tuy tạo động lực tăng trưởng mạnh trong nhiều năm, nhưng lại không quan tâm đúng mức đến việc tạo ra lợi thế mới (lợi thế động) để lấp vào khoảng trống cơ cấu khi tình hình thị trường thế giới thay đổi (như các nước Thái Lan, Inđônêxia, Malayxia ) Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã ảnh hưởng sâu sắc đến một số nước Đông Nam Á Khủng hoảng làm giảm tăng trưởng kinh tế đến mức thấp nhất trong hai thập kỷ qua, do đó cũng ảnh hưởng xấu đến tích luỹ vốn cho CNH ở giai đoạn tiếp theo

1.2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trong 20 năm cải cách kinh tế, Trung Quốc đã tăng trưởng nền kinh tế với tốc độ phi mã, mức tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 9,6%, cao nhất thế giới Sự tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc là kết quả của nhiều yếu

tố, trong đó có sự góp phần quan trọng là cuộc cải cách ngoại thương, với trọng tâm đẩy mạnh XK Tổng doanh thu hàng năm từ hoạt động ngoại thương của Trung Quốc đã tăng từ 20,6 tỷ USD năm 1978 lên 620 tỷ USD năm 2002 và 761 tỷ USD năm 2003

Có được kết quả trên chính là nhờ việc đưa ra hàng loạt chính sách thương mại có tính quyết định trong phát triển ngoại thương Trung Quốc: Trước khi tiến hành chính sách mở cửa, chính phủ kiểm soát tất cả các hoạt động ngoại thương Đầu những năm 1980, chỉ có các công ty được chỉ định mới có quyền tiến hành các hoạt động ngoại thương Trong thập niên 80 và nửa đầu thập niên 90 (của thế kỷ XX), mặc dù quyền tham gia thương mại quốc tế được phân theo cấp độ, nhưng Chính phủ Trung Quốc vẫn thực hiện

hệ thống kiểm tra và phê chuẩn nghiêm ngặt Đến cuối năm 1997, Chính phủ Trung Quốc cho phép các đơn vị trong các đặc khu kinh tế thực hiện thí điểm đăng ký kinh doanh XNK Từ ngày 01 tháng 01 năm 1999, Trung Quốc cho phép các công ty có qui mô lớn thực hiện theo hệ thống “đăng ký kinh doanh XNK”, thời kỳ này, quyền đăng ký kinh doanh XNK đã mở tới viện nghiên

Trang 33

cứu khoa học của nhà nước, tập thể, các công ty công nghệ cao và công nghệ mới Điều lệ thuế XNK được ban hành và sửa đổi trên nguyên tắc của một nền kinh tế mở cửa [30] Cụ thể:

- Với các sản phẩm là động thực vật, phân bón, quặng thương phẩm, dụng cụ tinh xảo, dụng cụ máy móc thiết yếu và thực phẩm cần thiết cho đời sống nhân dân mà Trung Quốc không sản xuất được hoặc sản xuất rất ít thì áp dụng thuế NK thấp hoặc bằng không

- Thuế NK các nguyên liệu thô sẽ thấp hơn so với thuế NK các sản phẩm thành phẩm hoặc bán thành phẩm Đối với các nguyên liệu lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và không thể tăng năng suất nhanh thì thuế nhập

có thể thấp hơn cả thuế đối với nguyên liệu thô Thuế suất áp dụng đối với thiết bị, dụng cụ và linh kiện máy móc sẽ thấp hơn so với thuế suất áp dụng đối với máy hoàn chỉnh để nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước Mức thuế NK đối với những sản phẩm có thể sản xuất được trong nước và hàng hoá xa xỉ phẩm sẽ khá cao

- Để khuyến khích XK hầu hết các hàng hoá XK được miễn thuế XK Tuy nhiên cũng áp dụng thuế XK đối với một số nguyên liệu thô quí hiếm bán thành phẩm có khả năng cạnh tranh kém trên thị trường quốc tế Mức thuế trung bình danh nghĩa của Trung Quốc liên tục giảm trong hai thập kỷ qua Năm 1992 con số này là 42,5%; năm 1997 là 17%; năm 2002 còn 12% và tiến tới sẽ giảm xuống còn 10% theo cam kết mức thuế quan khi là thành viên của WTO Biện pháp phi thuế quan được cải tổ mạnh mẽ nhất tại Trung Quốc là hạn ngạch, cấp phép NK và định giá hải quan

* Hạn ngạch và cấp phép NK: Với 53 loại mặt hàng phải có giấy phép

NK vào năm 1992 xuống còn 12 loại mặt hàng vào năm 2002, và những mặt hàng phải có giấy phép XK cũng giảm từ 138 (1992) xuống còn 54 (2002); Cuộc cải tổ hệ thống quản lý NK theo các thông lệ quốc tế được tiến hành từ

Trang 34

năm 1993, kể từ đó hạn ngạch NK chỉ áp dụng cho các loại hàng hoá có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu ngành công nghiệp

* Định giá hải quan: Với nguyên tắc cơ bản là ưu tiên áp dụng giá giao dịch thực tế ghi trên hợp đồng NK và tiến hành điều chỉnh trên cơ sở giá này, giá tính thuế là giá sau khi đã được điều chỉnh Trường hợp không áp dụng được giá giao dịch thực tế thì có thể áp dụng giá thay thế Đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm được các doanh nghiệp NK, cơ quan hải quan vẫn có thể tiếp tục khảo sát và kiểm tra giá sau khi hoàn tất thủ tục NK

* Quản lý ngoại hối: Kiểm soát ngoại thương và chính sách tỷ giá đóng vai trò quan trọng trong phát triển ngoại thương Trung Quốc Trước năm

1978, các giao dịch ngoại hối gần như bị hạn chế bởi nhà nước Từ năm 1979 đến năm 1994, để kích thích doanh nghiệp mở rộng XK, chính quyền đã quyết định cho phép được phép giữ một phần ngoại tệ thu được từ XK Cải tổ thêm bước nữa, Trung Quốc bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi đồng tiền trong tài khoản vãng lai năm 1994 và đã kết thúc quá trình này vào nam 1996 Với bước cải tổ này, Trung Quốc không chỉ đã thoát khỏi những rắc rối của chính sách về giữ lại ngoại tệ, giải quyết được vấn đề của hệ thống hai tỷ giá,

mà còn thay đổi phương thức phân phối ngoại hối Thực tế bước cải tổ này đã cải thiện đáng kể hoạt động ngoại thương Trung Quốc trong những năm tiếp theo

Tỷ giá hối đoái Trung Quốc đã đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng XK Trong những năm 1980 và đầu những năm 1990 đồng nhân dân tệ

đã được gắn với đồng đô la Mỹ Thành công nhất của chính sách tỷ giá là năm

1994, Trung Quốc đã thống nhất tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường (bằng việc phá giá đồng nhân dân tệ), đồng thời bắt đầu thực hiện “cơ chế tỷ giá thống nhất và thả lỏng theo thị trường”, hay nói cách khác là chính sách tỷ giá được thực hiện “tỷ giá hối đoái thả nổi có sự kiểm tra thống nhất” được xác định trên cơ sở diễn biến của tình hình cung cầu trên thị trường và xoá bỏ

Trang 35

thị trường ngoại hối chợ đen Ngân hàng trung ương có trách nhiệm công bố

tỷ giá phù hợp với tỷ giá mua bán tại các ngân hàng quốc tế được thành lập ở Trung Quốc từ năm 1994 Ngân hàng trung ương chỉ đảm nhận vai trò điều tiết cung cầu đối với ngoại tệ mạnh và giữ ổn định tỷ giá đồng nhân dân tệ trên cơ sở sử dụng các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ [29]

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Những thành công của các nước ASEAN và Trung Quốc về hoạt động ngoại thương đã cho thấy, trước hết những nước này đã có chiến lược ngoại thương gắn kết chặt với tiến trình CNH và hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế quốc gia Các nước này đã sử dụng chính sách kinh tế nói chung và chính sách thương mại nói riêng một cách linh hoạt, phù hợp với từng thời kỳ nhằm khai thác tối đa các nguồn lực, thu hút được ngoại lực một cách hiệu quả Việt Nam có thể rút ra bài học kinh nghiệm về phát triển ngoại thương trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH của các nước ASEAN và Trung Quốc gồm các nội dung cụ thể: Khai thác, sản xuất và XK những mặt hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên; ưu tiên những ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao để tận dụng nguồn lao động dồi dào vào sản xuất hàng XK; mở rộng thị trường XK nhằm tận dụng qui mô sản xuất tối ưu; mở cửa cho các thành phần kinh tế tham gia XK và NK; không ngừng đa dạng hoá thị trường, chú trọng thị trường các nước công nghiệp phát triển trên

cả hai phương diện xuất và nhập; liên tục đa dạng hoá mặt hàng XK đi từ gia công, lắp ráp chuyển dần sang hàng hoá có hàm chế tạo cao, kết hợp hài hoà giữa hướng về XK với thay thế NK để cùng lúc tận dụng được cái lợi thế và nhu cầu cả thị trường trong và ngoài nước; Chính sách ngoại thương ngày càng ổn định và phù hợp với thông lệ quốc tế

Đây là những bài học quý báu cho Việt Nam để phát triển ngoại thương nói riêng, mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại nói chung; Việt Nam có thể vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội

Trang 36

nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế Tuy nhiên, không nên sao chép máy móc cách làm của các quốc gia khác, mà phải biết chọn lọc và vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước mình trong từng thời kì cho phù hợp để ngoại thương góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Tóm lại: ngoại thương có vai trò rất to lớn đối với CNH, HĐH, đối với

tăng trưởng và phát triển kinh tế Qua đề cập một số lý thuyết cơ bản về thương mại quốc tế cho thấy bất kì một quốc gia nào cũng đều có lợi khi tham gia thương mại quốc tế dựa trên khả năng khai thác lợi thế so sánh của mình Ngoại thương góp phần tạo vốn ngoại tệ; thúc đẩy quá trình đổi mới kỹ thuật, công nghệ theo hướng hiện đại; tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; tạo điều kiện khai thác triệt để nguồn lực và tiềm năng của đất nước, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

Chính vì vai trò quan trọng của ngoại thương như vậy chúng ta cần phải sử dụng ngoại thương như một công cụ, một đòn bẩy quan trọng để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo con đường XHCN

Qua kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á và Trung Quốc, nhìn chung họ đều đi theo con đường tăng cường mở cửa nền kinh tế và đề ra các chính sách phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế và nguồn lợi của từng nước

để phát huy lợi thế về nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên, tăng thu lợi nhuận dành cho tích luỹ; đồng thời việc NK máy móc thiết bị hiện đại góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH Đó là những bài học để Việt Nam vận dụng phát triển mạnh mẽ hoạt động ngoại thương để đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng thành công CNXH

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY 2.1 Tình hình phát triển ngoại thương Việt Nam từ năm 1991 đến nay

2.1.1 Đường lối, chính sách phát triển ngoại thương của Đảng và Nhà nước ta

Từ cuối năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế do Đại hội VI của Đảng đề ra, kinh tế đối ngoại đã được coi là "mũi nhọn" của công cuộc đổi mới Cùng với việc "bung ra" nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, lần đầu tiên ở Việt Nam, các thuật ngữ "mở cửa nền kinh tế", "đa dạng hóa kinh

tế đối ngoại", "đa phương hóa thị trường" đã được đề cập trong các chủ trương, chính sách kinh tế đối ngoại Chế độ "Nhà nước độc quyền ngoại thương" đã được thay bằng sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các quan

hệ kinh tế đối ngoại theo cơ chế thị trường Đáng lưu ý, ngoại thương (đặc biệt là các hoạt động sản xuất kinh doanh XK) đã được coi là một trong ba chương trình kinh tế trọng điểm của Việt Nam Luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua lần đầu tiên vào tháng 12/1987 và có hiệu lực từ tháng 01/1988 là văn bản pháp lýđầu tiên đánh dấu sự chuyển hướng thực sự sang chính sách kinh tế mở theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Từ năm 1989, Đảng và Nhà nước ta đưa ra nhiều chủ trương và chính sách lớn nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách XNK theo cơ chế thị trường Nghị định 64/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 10/6/1989 quy định về chế độ quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh XNK, quản lý ngoại hối và ban hành tỷ giá mua bán ngoại tệ gần sát với giá thị trường tự do Tỷ giá kết toán nội bộ được xoá bỏ, tỷ giá phi mậu dịch được thiết lập sát với tỷ giá chính thức Đây là bước đột phá trong lĩnh vực kinh doanh XNK: với một

Trang 38

tỷ giá thống nhất và sát với thị trường như vậy, Nhà nước đã buộc các doanh nghiệp XNK phải phát huy tính năng động sáng tạo và tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh, nắm bắt kịp thời những diễn biến của thị trường; tính toán lỗ lãi trong kinh doanh phát huy cao nhất khả năng của mình nhằm đạt hiệu quả cao

Công cuộc đổi mới nền kinh tế đang gặt hái được một số kết quả bước đầu thì Việt Nam phải đương đầu với những khó khăn thách thức mới: sự tan

rã của Liên Xô (cũ) và các nước XHCN Đông Âu trong những năm 1989 -

1991 làm cho Việt Nam không những mất hẳn chỗ dựa về nguồn viện trợ vốn, nguồn cung cấp các vật tư chiến lược mà còn gây ra những hụt hẫng do đột ngột bị mất một thị trường lớn tiêu thụ nhiều loại hàng XK truyền thống của Việt Nam (chiếm hơn 60% tổng KNXK hàng năm) Việc cho phép "bung ra" một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong khi Việt Nam còn nhiều bỡ ngỡ, chưa đủ kinh nghiệm để định hướng quản lý đã là kẽ hở cho nạn tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế và nhiều tệ nạn xã hội khác phát triển

Tình hình trên đòi hỏi đường lối phát triển kinh tế phải tiếp tục đổi mới sao cho phù hợp với xu thế thời đại nhưng lại không đi chệch hướng mục tiêu XHCN Đại hội VII của Đảng thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH với tư tưởng chỉ đạo "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước" và "mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại đối với tất cả các nước ở các khu vực trên thế giới"; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện dần cơ chế quản lý và chính sách kinh tế đối ngoại theo hướng đa dạng hóa và đa phương hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại, thực hiện chính sách mở cửa để phát triển kinh tế Trong lĩnh vực ngoại thương, để tiến tới "tự do hóa thương mại", nhiều chính sách mới đã được Chính phủ ban hành nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh hàng hóa XK; XNK được xác định là khâu đột phá đầu tiên trong tiến trình "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước"

Trang 39

Hội nghị TW 3 (khóa VII) đã đưa ra một nghị quyết riêng về kinh tế đối ngoại, theo hướng "xây dựng một nền kinh tế mở, hướng mạnh về XK"

Từ đây chiến lược CNH hướng XK đã được khẳng định; điều này cũng đồng nghĩa với việc coi thị trường bên ngoài là một động lực quan trọng để tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Mục tiêu đề ra cho chính sách XNK là: đẩy mạnh XK, bao gồm XK hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về

NK, tăng thu ngoại tệ để góp phần cải thiện cán cân thanh toán Thông qua

NK để tranh thủ thiết bị và công nghệ hiện đại của thế giới nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước và đổi mới cơ cấu kinh tế

Từ năm 1996, bước sang giai đoạn mới của công cuộc xây dựng đất nước, đòi hỏi hoạt động ngoại thương phải góp phần tích cực làm thay đổi cơ cấu kinh tế và nâng cao trình độ công nghệ theo yêu cầu CNH , HĐH Mặt khác, môi trường kinh doanh quốc tế từ năm 1996 cũng hoàn toàn thay đổi: sự

ra đời tổ chức thương mại thế giới (WTO) thay cho Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) trước đây; sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu vực tự do thương mại và các tổ chức khu vực như NAFTA, AFTA, APEC, EU ; tự do hoá thương mại đã trở thành xu thế chủ yếu trong buôn bán khu vực và toàn cầu Nước ta đã trở thành thành viên của ASEAN, APEC và đangtích cực đàm phán để gia nhập WTO Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng VIII

đã chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hóa và đa dạng hóa kinh tế đối ngoại, tranh thủ vốn, công nghệ nước ngoài để phát triển sản xuất trong nước và đẩy mạnh XK Mục tiêu của chính sách XNK được xác định là: tạo thêm các mặt hàng XK trên thị trường, giảm tỷ trọng hàng thô sơ và sơ chế, tăng tỷ trọng hàng chế biến sâu và tinh của hàng XK để nâng cao giá trị gia tăng XK Giảm tỷ trọng nhập siêu, ưu tiên NK để sản xuất hàng XK Hạn chế NK hàng tiêu dùng chưa cần thiết Bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu,

xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta với các nước đối tác [21]

Trang 40

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, CNH, HĐH đất nước, Đại hội

IX của Đảng đã xác định chúng ta phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc

tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng XHCN

Từ những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trên, chính sách ngoại thương của Nhà nước ta đã từng bước được đổi mới theo hướng CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế

- Chính sách thương nhân: Để xoá bỏ "Chế độ nhà nước độc quyền ngoại thương",Nghị định 114/HĐBT ngày 07/4/1992 được ban hành thay cho Nghị định 64/HĐBT quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK,

mở rộng quyền hoạt động XNK cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Các doanh nghiệp nhà nước không còn điều kiện pháp lý để độc quyền kinh doanh ngoại thương như trước Sau khi có luật thương mại (năm 1997), Chính phủ ban hành Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động XK, NK, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài Theo Nghị định này, chế độ giấy phép kinh doanh XNK đã được xoá bỏ hoàn toàn, quyền kinh doanh và quyền

tự chủ của doanh nghiệp được tôn trọng Quyền kinh doanh XNK được mở rộng thêm một bước thông qua Nghị định 44/2001/NĐ-CP ngày 02/8/2001 của Chính phủ cho phép tất cả các thương nhân (không chỉ có doanh nghiệp) đều được quyền XK tất cả các loại hàng hóa, không phụ thuộc vào ngành nghề, ngành hàng ghi trong giấy đăng ký kinh doanh, trừ hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm XK

Chính sách thương nhân của Chính phủ đã ngày càng tạo điều kiện thông thoáng hơn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh XNK của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nhằm thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: Tận dụng được vốn và công nghệ cao; thúc đẩy nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất

Ngày đăng: 18/12/2015, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thương mại (2002), Báo cáo sơ kết Nghị quyết TW4 (khoá VIII), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết Nghị quyết TW4 (khoá VIII)
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2002
2. Bộ Thương mại (2003), Chuyên đề: Một số định hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu năm 2003, Vụ Xuất nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Một số định hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu năm 2003
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2003
3. Bộ Thương mại (2002), Về tình hình và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu (kèm theo văn bản số 0952 ngày 07/6/2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tình hình và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2002
4. Bộ Thương mại (2005), Báo cáo Hội nghị thương mại toàn quốc năm 2005, Hà Nội, ngày 28/2 và 01/3/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo Hội nghị thương mại toàn quốc năm 2005
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2005
5. Mai Văn Dâu (2001), "Định hướng chính sách thương mạu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế", Báo Thương mại, (4), tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chính sách thương mạu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Mai Văn Dâu
Năm: 2001
6. Lê Đăng Danh (1999), "Hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế nước ta", Tạp chí Cộng sản, (9), tr.28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế nước ta
Tác giả: Lê Đăng Danh
Năm: 1999
7. Hồ Hùng Dũng (2002), "Ngoại thương Việt Nam từ 1991-2000: Những thành tựu và suy nghĩ", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (294) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại thương Việt Nam từ 1991-2000: Những thành tựu và suy nghĩ
Tác giả: Hồ Hùng Dũng
Năm: 2002
8. Ngọc Dương (2005), "Xuất khẩu tăng trưởng bất ngờ và ngoạn mục", Thời báo kinh tế, (chuyên đề 1- 2005), tr 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu tăng trưởng bất ngờ và ngoạn mục
Tác giả: Ngọc Dương
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đào Huy Giám (1999), "Sự vận động hội nhập của chính sách thương mại", Tạp chí Cộng sản, (19), tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động hội nhập của chính sách thương mại
Tác giả: Đào Huy Giám
Năm: 1999
14. Doãn Khánh (2000), " Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam 10 năm qua", Tạp chí Cộng sản, (17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam 10 năm qua
Tác giả: Doãn Khánh
Năm: 2000
15. Vũ Khoan (2000), "Xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 19 năm đầu của thế kỷ mới", Tạp chí Cộng sản, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 19 năm đầu của thế kỷ mới
Tác giả: Vũ Khoan
Năm: 2000
16. Nguyễn Đình Hương - Vũ Đình Bách (1999), Quan hệ thương mại Việt Nam- ASEAN và chính sách XNK của Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ thương mại Việt Nam- ASEAN và chính sách XNK của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hương - Vũ Đình Bách
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
17. Nguyễn Thị Hường (2000), "Một số giải pháp tạo bước đột phá trong xuất khẩu nông sản ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và dự báo, (324) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp tạo bước đột phá trong xuất khẩu nông sản ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2000
18. Nguyễn Thị Hiền (2002), Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Nguyễn Văn Lịch (2005), (Chủ nhiệm đề tài NCKH cấp bộ, mã số 2004- 78-017), Nghiên cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam, Bộ Thương mại - Viện Nghiên cứu Thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Năm: 2005
20. Bùi Xuân Lưu (chủ nhiệm đề tài) (1998), Chính sách ngoại thương trong quá trình CNH, HĐH đất nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngoại thương trong quá trình CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Bùi Xuân Lưu (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá từ 1991 - 2004 - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá từ 1991 - 2004 (Trang 43)
Bảng 2.2 Một số mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam ( Tr.USD) - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 2.2 Một số mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam ( Tr.USD) (Trang 48)
Bảng 2.3. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam từ 1991- 2004 (%) - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 2.3. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam từ 1991- 2004 (%) (Trang 49)
Bảng 2.5. Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam (%) - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 2.5. Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam (%) (Trang 51)
Bảng 2.6. Xuất khẩu dịch vụ Việt Nam thời kỳ 1999-2004 (Tr.USD) - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 2.6. Xuất khẩu dịch vụ Việt Nam thời kỳ 1999-2004 (Tr.USD) (Trang 53)
Bảng 2.8. Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu theo nhóm hàng (%) - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 2.8. Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu theo nhóm hàng (%) (Trang 56)
Bảng 2.9. Thị trường nhập khẩu của Việt Nam (%) - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 2.9. Thị trường nhập khẩu của Việt Nam (%) (Trang 58)
Bảng 2.10 : Cơ cấu NK hàng hoá theo khu vực kinh tế từ 1995- 2004 - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 2.10 Cơ cấu NK hàng hoá theo khu vực kinh tế từ 1995- 2004 (Trang 59)
Bảng 3.1 - Kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu đến năm 2010 - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 3.1 Kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu đến năm 2010 (Trang 85)
Bảng 3.2 - Kim ngạch và cơ cấu nhập khẩu đến năm 2010 - Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa   luận văn ths  kinh tế   5 02 01
Bảng 3.2 Kim ngạch và cơ cấu nhập khẩu đến năm 2010 (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w