1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO pháp luật của một số nước và thực tiễn ở việt nam luận văn ths luật 60 38 60 pdf

123 1,9K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 841,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trợ cấp xuất khẩu được thể hiện trong các phương diện sau được quy định trong phụ lục 1 của Hiệp định SCM: - Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho một công ty hay một ngành sản xuất trong nước

Trang 1

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU………

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG………

1.1 TRỢ CẤP ………

1.1.1 Khái niệm ………

1.1.2 Phân loại trợ cấp ………

1.1.3 Các hình thức trợ cấp trong thương mại quốc tế ………

1.1.4 Tác động của các biện pháp trợ cấp ……….………

1.2 BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG ……… ………

1.2.1 Các biện pháp đối kháng……… ………

1.2.2 Thuế đối kháng và tác động của việc đánh thuế đối kháng…………

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG

1.3.1 Trợ cấp là điều kiện để áp dụng biện pháp đối kháng………

1.3.2 Tác động của biện pháp đối kháng với trợ cấp………

Chương 2: HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP, CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA WTO VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC… 2.1 HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA WTO 2.1.1 Tổng quan chung về Hiệp định SCM ………

2.1.2 Thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp đối kháng ……….………

1

4

4

4

6

16

17

21

21

24

28

28

29

31

31

31

33

Trang 2

2.1.3 Đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các Thành viên………

2.2 PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ……… ………

2.2.1 Khái niệm trợ cấp của một số nước………

2.2.2 Xác định thiệt hại của trợ cấp ở một số nước………

2.2.3 Thủ tục chống trợ cấp của một số nước ………

2.2.4 Thực tiễn chống trợ cấp của một số nước ………

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG Ở VIỆT NAM ………

3.1 THỰC TRẠNG VỀ TRỢ CẤP Ở VIỆT NAM ………

3.1.1 Tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu và cam kết của Việt Nam …

3.1.2 Pháp luật về trợ cấp ở Việt Nam trước khi gia nhập WTO …………

3.1.3 Trợ cấp ở Việt Nam sau khi gia nhập WTO ………

3.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG Ở VIỆT NAM………

3.2.1 Tổng quan về tình hình áp dụng biện pháp đối kháng ở Việt Nam…

3.2.2 Một số quy định của pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp ………

3.2.3 Vụ kiện chống trợ cấp của Việt Nam ………

3.2.4 Kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam………

3.3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRỢ CẤP …………

3.3.1 Xây dựng các chương trình trợ cấp phù hợp với quy định của WTO

3.3.2 Hoàn thiện pháp luật về chống trợ cấp ………

3.3.3 Các giải pháp khác ………

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

45

50

50

54

59

68

73

73

73

75

81

85

85

87

94

98

104

104

107

111

115

Trang 3

Tòa án thương mại quốc tế Hoa Kỳ

Bộ Thương mại Hoa Kỳ Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp

Ủy Ban Châu Âu Liên minh Châu Âu Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

Ủy ban Thương mại quốc tế của Hoa Kỳ

Bộ Ngoại thương và hợp tác kinh tế Trung Quốc Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Ủy ban Kinh tế và Thương mại nhà nước Trung Quốc Văn phòng đại diện thương mại Hoa Kỳ

Ngân hàng phát triển Việt Nam

Tổ chức Thương mại thế giới

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy định của Hoa Kỳ về thời gian chống trợ cấp………63 Bảng 2.2 Sơ đồ trình tự điều tra tại EU……… 65 Bảng 2.3 Sơ đồ trình tự điều tra tại Trung Quốc……….67 Bảng 3 Tiêu chí lựa chọn luật sư cho vụ kiện chống trợ cấp…….….102

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới và ngay chính trên thị trường nội địa, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ ngày càng tinh vi thông qua các biện pháp bảo đảm công bằng thương mại của WTO, trong đó có trợ cấp và các biện pháp đối kháng Vì vậy, xu hướng quốc tế cho thấy các vụ kiện chống trợ cấp ngày càng gia tăng

Từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tận dụng được nhiều cơ hội để phát triển, tuy nhiên cũng đang gặp phải rất nhiều thách thức Từ năm 2009, Việt Nam phải đối phó với 4 vụ kiện chống trợ cấp liên tiếp của Hoa Kỳ đối với mặt hàng túi nhựa PE, ống thép, mắc áo thép và tuabin điện gió Kết quả bước đầu của các vụ kiện này đều gây bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam Mặt khác, Việt Nam đã có Pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên cho đến nay, mặc dù thực tế có một số mặt hàng nước ngoài có khả năng được trợ cấp, gây bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước, nhưng Việt Nam chưa khởi xướng một vụ đối kháng nào

Như vậy, hiểu như thế nào cho đúng về trợ cấp và biện pháp đối kháng? Cơ chế điều chỉnh của WTO như thế nào? Pháp luật của các nước và của Việt Nam quy định ra sao? Thực tiễn trợ cấp và chống trợ cấp trên thế giới và ở Việt Nam? Kinh nghiệm gì cho Việt Nam để hoàn hiện chính sách trợ cấp, chống trợ cấp nhằm tăng cường xuất khẩu và bảo vệ nền sản xuất trong nước? Các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để phòng chống một vụ kiện đối kháng?

Trang 5

Hiện nay, vấn đề trợ cấp và chống trợ cấp còn khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam Do vậy, xuất phát từ những yêu cầu mang tính quốc tế, yêu cầu nội tại trong nước, việc nghiên

cứu đề tài: “ Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO- Pháp luật của một số nước và thực tiễn ở Việt Nam” có ý nghĩa hết sức quan

3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được những mục tiêu trên, luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, tư duy logic từ

lý luận đến thực tiễn, theo trình tự, bố cục chặt chẽ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào tìm hiểu những quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO và một số nước Ngoài ra, luận văn tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định này Trên cơ sở đó, liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị đối với pháp luật trong nước cũng như các bên liên quan

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Luận văn tìm hiểu những vấn đề lý luận về trợ cấp và biện pháp đối kháng như khái niệm, phân loại, tác động tích cực và tiêu cực của

Trang 6

chúng Ngoài ra, luận văn tìm hiểu các quy định cơ bản của Hiệp định trợ cấp

và biện pháp đối kháng của WTO (Hiệp định SCM) về các loại trợ cấp, chế

tài tương ứng, thủ tục điều tra và áp dụng thuế chống trợ cấp, quy định đối xử

đặc biệt và khác biệt với các Thành viên đang phát triển, Thành viên có nền

kinh tế chuyển đổi Luận văn cũng tìm hiểu sự khác nhau của pháp luật một

số nước về trợ cấp và biện pháp đối kháng, trên cơ sở so sánh một số tiêu chí

nhất định như khái niệm trợ cấp, xác định thiệt hại và thủ tục chống trợ cấp…

Về thực tiễn: luận văn tìm hiểu thực tiễn về trợ cấp và biện pháp đối

kháng trên thế giới và của Việt Nam, rà soát các quy định của Việt Nam với

các quy định của WTO Luận văn đưa ra những luận giải để chứng minh cần

sửa đổi và hoàn thiện pháp luật chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt

Nam.Theo đó, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm áp dụng hiệu quả các

biện pháp trợ cấp và chống trợ cấp

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Chương 2: Hiệp định về trợ cấp, các biện pháp đối kháng của WTO và

thực tiễn pháp luật ở một số nước

Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ cấp và

biện pháp đối kháng ở Việt Nam

Trang 7

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN

PHÁP ĐỐI KHÁNG 1.1 TRỢ CẤP

1.1.1 Khái niệm

Trợ cấp là một công cụ chính sách được sử dụng hầu hết ở các nước để thực hiện các mục tiêu kinh tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, tùy theo mục đích mà định nghĩa về trợ cấp khác nhau Theo nghĩa hẹp, trợ cấp chỉ bao gồm mỗi biện pháp cấp tiền trực tiếp cho một ngành hoặc một số doanh nghiệp cụ thể Nhược điểm của định nghĩa này là bỏ qua nhiều biện pháp trợ cấp khác có ảnh hưởng về mặt kinh tế tương đương với biện pháp này, do đó

có thể gây khó khăn hoặc nhầm lẫn trong việc so sánh mức trợ cấp giữa các nước khác nhau

Trợ cấp được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm rất nhiều hoạt động của Chính phủ, kể cả các hoạt động điển hình và phổ biến, như bảo đảm trật tự trị

an, phòng cháy, chữa cháy, xây dựng cầu đường…Những trợ cấp này đều có thể làm cắt giảm những chi phí mà một doanh nghiệp sẽ phải đưa vào hạch toán khi tính giá bán của sản phẩm Tuy nhiên, nếu sử dụng khái niệm này và luật quốc tế cho phép thì các Chính phủ sẽ được quyền đánh thuế đối kháng lên rất nhiều mặt hàng vì xét cho cùng, sản phẩm nào cũng được hưởng lợi từ các hoạt động trên của Chính phủ

Quy định của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT liên quan tới trợ cấp chủ yếu là Điều XVI GATT 1947, trong đó bất kỳ hình thức

hỗ trợ giá hoặc hỗ trợ thu nhập nào cũng bị coi là trợ cấp.[2]

Tổ chức thương mại thế giới WTO đã đưa ra khái niệm khá rõ ràng trong Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM) Theo Điều

1 Hiệp định SCM, trợ cấp được định nghĩa là một khoản đóng góp tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp do một Chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên

Trang 8

lãnh thổ của một nước thành viên và đem lại lợi ích cho ngành hoặc doanh nghiệp được nhận trợ cấp Trợ cấp phải được bảo đảm bởi ba yếu tố:

- Chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một

tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng đã nêu trên, là những chức năng thông thường được trao cho Chính phủ và công việc của tổ chức tư nhân này trong thực tế không khác với những hoạt động thông thường của Chính phủ

- Bất kỳ một hình thức thu nhập hoặc trợ giá nào theo nội dung Điều XVI của Hiệp định GATT 1994

(2) Do Chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một thành viên thực hiện

Hiệp định SCM không chỉ áp dụng với các cơ quan công quyền Trung ương mà cả chính quyền địa phương cũng như các biện pháp do một tổ chức nhà nước công, như công ty thuộc sở hữu nhà nước tiến hành Trợ cấp có thể

do các cơ quan này trực tiếp thực hiện hoặc ủy thác hoặc có thể chỉ đạo cho một đơn vị khác thực hiện Ví dụ: Nếu một tổ chức phi Chính phủ tư hỗ trợ tài chính cho một doanh nghiệp thì đây chỉ là trợ giúp tư nhân, không được coi là trợ cấp, trừ khi có sự chỉ đạo của một Chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước công

Trang 9

(3) Đem lại lợi ích cho đối tượng được áp dụng

Mặc dù Hiệp định SCM không định nghĩa khái niệm lợi ích nhưng theo nội dung của Điều 14, sự tồn tại của lợi ích có thể được đánh giá bằng cách tham chiếu đến các tiêu chí thương mại thông thường trên thị trường Chẳng hạn, việc Chính phủ đóng góp cổ phần trong một doanh nghiệp chỉ bị coi là đem lại lợi ích khi quyết định đầu tư đó của Chính phủ không giống với tập quán đầu tư thông thường của các nhà đầu tư tư nhân Hay một khoản cho vay của Chính phủ chỉ bị coi là đem lại lợi ích nếu như có sự chênh lệch giữa khoản tiền mà doanh nghiệp được cho vay phải trả cho Chính phủ đó với khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả cho một khoản vay thương mại tương đương khác Bảo lãnh vay của Chính phủ chỉ bị coi là đem lại lợi ích nếu như

có sự chênh lệch giữa khoản tiền mà doanh nghiệp được bảo lãnh vay phải trả

để có được khoản vay với khoản tiền mà doanh nghiệp đó đáng ra phải trả để

có được một khoản vay thương mại tương đương không cần có sự bảo lãnh của Chính phủ.[3]

1.1.2 Phân loại

1.1.2.1 Trợ cấp chung và trợ cấp riêng

Căn cứ vào tính chất của trợ cấp, người ta phân loại thành trợ cấp chung và trợ cấp riêng

Trợ cấp chung (hay còn gọi là trợ cấp không mang tính riêng biệt) là

trợ cấp sử dụng những tiêu chí hoặc điều kiện khách quan để xác định đối tượng được hưởng trợ cấp và giá trị trợ cấp Những tiêu chí này không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, không ưu đãi doanh nghiệp này hơn so với doanh nghiệp khác và là những tiêu chí và điều kiện mang tính kinh tế, được

áp dụng đồng loạt, chẳng hạn như số lượng nhân công, quy mô doanh nghiệp…

Trang 10

Trợ cấp riêng (hay còn gọi là trợ cấp mang tính riêng biệt) là trợ cấp

dành riêng cho một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp cụ thể, hay trợ cấp dành riêng cho một ngành sản xuất hoặc một nhóm ngành sản xuất nhất định

Trợ cấp riêng theo luật là trợ cấp mà cơ quan cấp trợ cấp có quy định rõ trong luật hoặc văn bản dưới luật là chỉ dành trợ cấp đó cho một số đối tượng nhất định được hưởng Trợ cấp riêng trên thực tế là trợ cấp mà mặc dù cơ quan cấp trợ cấp (hoặc văn bản pháp lý điều chỉnh việc trợ cấp) không đặt ra điều kiện nào về đối tượng nhận trợ cấp nhưng việc quản lý hoặc áp dụng chương trình trợ cấp đó lại dẫn đến kết quả là một hoặc một vài nhóm đối tượng nhận trợ cấp nhất định được nhận nhiều lợi ích hơn một cách đáng kể

so với các đối tượng khác cùng được nhận trợ cấp Ví dụ: trợ cấp cho một vùng nhất định tuy có mục đích là trợ giúp phát triển vùng nhưng thực tế là chỉ trợ cấp cho các nhà xuất khẩu tại vùng đó

1.1.2.2 Trợ cấp nông nghiệp và trợ cấp phi nông nghiệp

Dưới góc độ lĩnh vực kinh tế, người ta chia thành trợ cấp nông nghiệp

và trợ cấp phi nông nghiệp

Trợ cấp nông nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm nông nghiệp và

cho các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Ví dụ: trợ cấp nghiên cứu giống cây, giống con; trợ cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp…

Trợ cấp công nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm công nghiệp và

cho các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp Ví dụ: thuế nhập khẩu ưu đãi cho các sản phẩm cơ khí thực hiện chương trình nội địa hóa

Ngoài ra, còn có các trợ cấp cho các hoạt động dịch vụ

1.1.2.3 Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu

Dưới góc độ thương mại quốc tế thì trợ cấp chia thành hai loại: trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu

Trang 11

Trợ cấp trong nước là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các doanh

nghiệp sản xuất hàng hóa trước tiên hoặc chủ yếu là để phục vụ thị trường trong nước, hay nói cách khác, hàng hóa được trợ cấp phải là hàng hóa được tiêu thụ tại thị trường nội địa của nhà sản xuất Doanh nghiệp được trợ cấp không nhất thiết phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước Tuy nhiên trợ cấp trong nước có thể có tác động gián tiếp tới hoạt động xuất khẩu nếu sản phẩm

do doanh nghiệp nhận trợ cấp sản xuất ra cuối cùng lại được bán ra thị trường nước ngoài

Trợ cấp xuất khẩu hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành

riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đích của trợ cấp là đẩy mạnh xuất khẩu Có hai phương thức trợ cấp: một loại là trực tiếp bổ trợ, tức là trực tiếp chi tiền bổ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu; một loại là gián tiếp bổ trợ, tức là ưu đãi về tài chính cho doanh nghiệp xuất khẩu một số hàng hóa xuất khẩu nào đó

1.1.2.4 Trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp

Căn cứ vào đối tượng, mục đích cuả trợ cấp, người ta chia thành trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp

Trợ cấp trực tiếp là trợ cấp mà đối tượng trực tiếp nhận trợ cấp cũng

chính là đối tượng được trợ cấp (là mục tiêu của chương trình trợ cấp hoặc là đối tượng được chọn để thực hiện hoạt động nhất định được thiết kế trong chương trình trợ cấp)

Trợ cấp gián tiếp là trợ cấp mà đối tượng trực tiếp nhận trợ cấp không

phải là đối tượng được trợ cấp nhưng thông qua khoản trợ cấp đó, Chính phủ tác động tới quyết định hoặc hoạt động tác nghiệp của đối tượng nhận trợ cấp theo cách thức có lợi cho đối tượng cần được trợ cấp Dạng trợ cấp gián tiếp này sử dụng cơ chế tác động lan truyền hoặc cơ chế tác động từ ngành công nghiệp thượng nguồn để đạt được mục đích mong muốn

Trang 12

1.1.2.5 Trợ cấp bị cấm sử dụng, trợ cấp có thể bị đối kháng, trợ cấp không bị khởi kiện

Hiệp định SCM chia trợ cấp thành 3 loại dựa trên mức độ ảnh hưởng đến thương mại của chúng

Thứ nhất, là những loại trợ cấp bị cấm sử dụng (trợ cấp đèn đỏ)

Trợ cấp bị cấm áp dụng (trợ cấp đèn đỏ) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu Hai dạng trợ cấp này bị cấm sử dụng vì tác động tiêu cực tới thương mại và ảnh

hưởng bất lợi đến lợi ích của các nước thành viên WTO khác

Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần, dù

theo luật hay trên thực tế dựa vào việc thực hiện hoạt động xuất khẩu Trợ cấp xuất khẩu được thể hiện trong các phương diện sau (được quy định trong phụ lục 1 của Hiệp định SCM):

- Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho một công ty hay một ngành sản xuất trong nước tính theo kết quả xuất khẩu

- Các biện pháp giữ lại ngoại tệ hoặc các biện pháp tương tự để thưởng khuyến khích xuất khẩu

- Chính phủ cung cấp những điều kiện ưu đãi hơn trong vận chuyển và cước phí vận chuyển hàng xuất khẩu so với hàng trong nước

- Chính phủ hoặc các cơ quan của chính phủ cung cấp những điều kiện

ưu đãi hơn cho hàng hoá hoặc dịch vụ trong nước nhằm phục vụ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu so với những điều kiện dành cho những sản phẩm cùng loại hoặc có tính cạnh tranh trực tiếp được tiêu thụ trong nước, nếu những điều kiện đó thuận lợi hơn điều kiện thương mại thông thường sẵn có trên thị trường thế giới dành cho nhà xuất khẩu của Thành viên

Trang 13

- Miễn hay tạm ngừng thu toàn bộ hay một phần các khoản thuế trực thu hay các khoản đóng góp cho phúc lợi xã hội mà các khoản đóng góp này chỉ áp dụng cho xuất khẩu

- Cho phép miễn, giảm trực tiếp liên quan đến xuất khẩu hoặc kết quả xuất khẩu, vượt quá hay cao hơn những miễn giảm dành cho sản xuất để tiêu thụ trong nước, khi tính toán cơ sở để thu thuế trực tiếp

- Miễn hay hoàn thuế gián thu trong quá trình sản xuất và phân phối hàng xuất khẩu

- Miễn, hoàn hay hoãn nộp những loại thuế gián thu thuộc diện thu gộp (luỹ tiến) cho cả các công khoản trước đây với hàng hoá hay dịch vụ được sử dụng trong sản xuất hàng hoá xuất khẩu, vượt quá mức miễn, hoàn hay hoãn cho hàng hoá được tiêu thụ trong nước tương tự , tuy nhiên với điều kiện là các khoản thuế gián thu gộp (luỹ tiến) được miễn, hoàn hay hoãn có thể áp dụng với hàng xuất khẩu mà không áp dụng đối với sản phẩm tương tư 5 được tiêu thụ trong nước, khi các khoản thuế gián thu gộp được đánh vào vật

tư đầu vàosử dụng cho sản xuất hàng xuất khẩu

- Hoàn hoặc giảm thuế nhập khẩu vượt quá số thu đối với hàng nhập khẩu tiêu thụ ở đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, tuy nhiên trong những trường hợp riêng biệt một công ty có thể sử dụng một số lượng vật tư đầu vào trênh thị trường trong nước có chất lượng và tính năng tương đương với hàng nhập khẩu để thay thế đầu vào trong nước đó có thể được hưởng lợi từ quy định này khi các hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu tương ứng sđược thực hiện trong một thời kỳ hợp lý nhưng không quá hai năm

- Chính phủ bảo đảm tín dụng xuất khẩu và các chương trình bảo lãnh chống sự tăng giá thành sản phẩm xuất khẩu hay các chương trỉnh về rủi ro ngoại hối, với phí thu thấp không hợp lý khônhg đủ để chi trả cho chi phí hoạt động dài hạn hoặc thâm hụt của các chương trình đó

Trang 14

- Chính phủ cấp các khoản tín dụng xuất khẩu với lãi suất thấp hơn mức mà họ thực tế phải trả để có được tiền thực hiện việc này (hay lẽ ra phải trả nếu vay trên thị trường vốn quốc tế để có được tiền với cùng thời hạn và các điều kiện tín dụng , và được tính bằng cùng một đồng tiền của tín dụng xuất khẩu), hoặc các cợ sở đó trả cho toàn bộ hay một phần chi phí phát sinh với nhà sản xuất hay với cơ quan tài chính để có được tín dụng, trong chừng mực các khoản tín dụng đó được sử dụng để bảo đảm dành cho nhà xuất khẩu những lợi thế đáng kể trong lĩnh vực tín dụng xuất khẩu

- Bất kỳ khoản thu nào từ ngân sách được coi là sự trợ cấp theo quy định của Điều 16 GATT 1994

Trợ cấp thay thế nhập khẩu là những khoản trợ cấp gắn với điều kiện

phải sử dụng hàng sản xuất trong nước thay cho hàng nhập khẩu - được quy định trong các văn bản pháp luật hoặc tồn tại trên thực tế Điều 3.1(b) của Hiệp định SCM cấm sử dụng các trợ cấp gắn với yêu cầu về hàm lượng nội địa, đúng với tinh thần của Điều III GATT 1994 về nguyên tắc đối xử quốc gia Mặc dù Điều III.8(b) GATT 1994 nêu rõ việc chỉ dành trợ cấp cho các nhà sản xuất trong nước không vi phạm yêu cầu về đối xử quốc gia của Điều III nhưng nếu việc dành trợ cấp lại gắn với yêu cầu sử dụng hàng nội đia thay thế hàng nhập khẩu thì trợ cấp đó lại vi phạm yêu cầu đối xử quốc gia Hiệp định TRIMS của WTO cũng cấm sử dụng một loạt biện pháp gắn với yêu cầu

về kết quả hoạt động xuất khẩu cũng như gắn với yêu cầu về hàm lượng nội địa Ví dụ các doanh nghiệp lắp ráp ô tô sử dụng phụ tùng, linh kiện sản xuất trong nước chiếm ít nhất 60% giá trị ô tô thành phẩm được hưởng ưu đãi thuế

Nhiều trường hợp các nước còn sử dụng kết hợp cả hai dạng trợ cấp bị cấm này, như trợ cấp 60 USD/tấn bột mỳ xuất khẩu nhằm bù đắp lại việc công ty phải chấp nhận chỉ sử dụng lúa mỳ trong nước với giá cao hơn thông thường để sản xuất bột mỳ Những trợ cấp này dành cho hàng thay thế nhập

Trang 15

khẩu và hàng xuất khẩu chắc chắn sẽ dẫn đến việc bóp méo giá cả hàng xuất nhập khẩu và sự không công bằng trong thương mại, gây thiệt hại cho lợi ích kinh tế của các nước khác, bởi vì đây là những khoản trợ giúp bằng tiền hay những ưu đãi về tài chính đối với những loại hàng hoá có thể thay thế hàng nhập khẩu hoặc hàng xuất khẩu

Thứ hai, là trợ cấp có thể dẫn tới hành động (trợ cấp đèn vàng)

Đây là những loại trợ cấp được cho phép sử dụng trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, nhưng có khả năng bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc có thể bị đánh thuế chống trợ cấp nếu trợ cấp đó gây thiệt hại đối với nước thành viên WTO khác Trong mọi trường hợp, nếu một nước muốn áp dụng hành động khắc phục thương mại chống lại hành vi trợ cấp của nước khác, nước đó phải chứng tỏ được rằng trên thực tế, hành vi của nước khác đúng là trợ cấp theo định nghĩa tại Điều 1 Hiệp định SCM, là trợ cấp riêng biệt theo Điều 2 Hiệp định này, và gây tác động thương mại bất lợi cho nước muốn áp dụng hành động khắc phục thương mại

Trợ cấp sản xuất có thể được coi là thuộc nhóm trợ cấp đèn vàng Trong Hiệp định SCM không sử dụng cụm từ “trợ cấp sản xuất” mà chỉ sử dụng cụm từ “những trợ cấp khác ngoài trợ cấp xuất khẩu” Trên thực tế loại trợ cấp này chính là trợ cấp sản xuất Trợ cấp sản xuất có thể là: cho phép sử dụng mặt bằng và điện năng trong các khu chế xuất, các khoản hỗ trợ của chính phủ trong nghiên cứu, khai thác, các khuyến khích về tài chính như miễn hoặc giảm thuế lợi tức…Trợ cấp sản xuất không những có thể mang lại tác dụng hỗ trợ việc tiêu thụ sản phẩm trong nước mà còn hỗ trợ cho việc xuất khẩu hàng hoá Hiệp định SCM quy định rõ trợ cấp sản xuất là biện pháp được các nước sử dụng để xúc tiến những mục tiêu, chính sách xã hội và kinh

tế vì vậy đã cho phép “sử dụng hạn chế những trợ cấp này”, nhưng yêu cầu các bên ký kết tránh gây ra những ảnh hưởng tiêu cực sau khi trợ cấp cho sản

Trang 16

xuất: Gây ra những thiệt hại về công nghệ hoặc những đe doạ đối với sản xuất của các bên ký kết khác; Gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích của các bên ký kết khác; Làm mất đi hoặc làm thiệt hại những lợi ích của bên

ký kết khác có được từ Hiệp định GATT và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Đối với các thành viên của WTO là các nước chậm phát triển thì sẽ không áp dụng các quy định nói trên hay nói cách khác là được sử dụng các loại trợ cấp nói trên

Thứ ba, là những biện pháp trợ cấp không bị khởi kiện (trợ cấp đèn xanh)

Đây là những trợ cấp không gây ra thiệt hại kinh tế cho các nước khác,

hơn nữa chúng được áp dụng phổ biến, có tính tất yếu đối với sự phát triển kinh tế của một nước Các loại trợ cấp này không thể bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hay bị đánh thuế chống trợ cấp Trợ cấp dạng này gồm các trợ cấp không riêng biệt theo cách hiểu của Điều 2 và các trợ cấp

thỏa mãn một số điều kiện và tiêu chí nhất định

Chương trình hỗ trợ của nhà nước cho hoạt động nghiên cứu và phát triển tiền cạnh tranh Theo quy định tại Điều 8.2 (a) Hiệp đinh SCM, trợ cấp

của chính phủ đối với hoạt động nghiên cứu do các doanh nghiệp thực hiện hoặc các cơ sở đào tạo hoặc nghiên cứu căn cứ vào hợp đồng với các doanh nghiệp là trợ cấp không bị khiếu kiện nếu sự trợ giúp:

- Chiếm không quá 75% tổng chi phí hợp lệ của hoạt động nghiên cứu hoặc không quá 50% chi phí hợp lệ của hoạt động phát triển trong giai đoạn trước cạnh tranh, đối với toàn bộ thời gian của một dự án, hoặc mức trung bình của hai mức trên -62,5%- dành cho các chương trình nghiên cứu liên quan đến hai danh mục đó; và

Trang 17

- Được giới hạn trong phạm vi: (i) chi phí nhân sự được tuyển dụng dành riêng cho mục đích nghiên cứu; (ii) chi phí thiết bị, phương tiện, đất và nhà được sử dụng dành riêng và thường xuyên (trừ trường hợp được định đoạt trên cơ sở thương mại) cho hoat động nghiên cứu; (iii) chi phí tư vấn được sử dụng dành riêng cho hoạt động nghiên cứu; (iv) chi phí quản lý bổ sung phát sinh trực tiếp từ hoạt động nghiên cứu; và (v) các chi phí hoạt động khác phát sinh từ hoạt động nghiên cứu (như chi phí cho vật liệu, nguyên liệu)

Chỉ những hoạt động hỗ trợ nghiên cứu của Chính phủ mà kết quả là có được sản phẩm mẫu phi thương mại đầu tiên mới được coi là được phép Chương trình phát triển được Chính phủ tài trợ và hỗ trợ sản xuất có thể bị kiện theo thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO và pháp luật của các nước

Hỗ trợ của nhà nước cho phát triển vùng Theo quy định của Điều

8.2(b) Hiệp định SCM, trợ giúp của Chính phủ đối với các khu vực khó khăn

sẽ không thể bị khiếu kiện nếu:

- Là một phần của chính sách phát triển khu vực chung;

- Mỗi khu vực là khu vực địa lý được quy định rõ và lien tục và không được tạo ra chỉ nhằm mục đích thu hút viện trợ;

- Sự hỗ trợ được thực hiện chung và được sử dụng chung bởi tất cả các ngành sản xuất trong khu vực có liên quan (tức là không mang tính chất cụ thể trên thực tế trong phạm vi ý nghĩa của Điều 2 Hiệp đinh SCM);

- Sự hỗ trợ không phải dành cho những khu vực tạm thời gặp khó khăn;

- Tiêu chuẩn phù hợp được quy định rõ trong Luật và các quy định để

có thể kiểm tra, các tiêu chuẩn phù hợp phải là khách quan và vô tư, và bao gồm cả số đo phát triển kinh tế (dựa vào thu nhập hoặc theo GDP tính theo đầu người của không quá 85% mức trung bình toàn quốc hoặc tỉ lệ thất

Trang 18

nghiệp chiếm ít nhất 110% so với mức trung bình toàn quốc và được tính trong từng giai đoạn 5 năm

Ví dụ, các doanh nghệp muốn đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất một sản phẩm X nào đó ở TP.Hồ Chí Minh hoặc ở Bình Dương hay Đồng Nai Mục đích của các doanh nghiệp là sản xuất sản phẩm X để cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu Trong khi đó Chính phủ Việt Nam muốn nhà máy được đặt ở Miền Trung hay ở Tây Nguyên để có thể phát triển kinh

tế ở các vùng đó Chính phủ sẵn sàng trả cho doanh nghiệp một khoản trợ cấp tương đương với chi phí gia tăng vì phải đặt nhà máy ở miền Trung hay Tây Nguyên thay vì tại TP.Hồ Chí Minh hay ở Bình Dương, Đồng Nai Trong trường hợp này khoản trợ cấp nói trên có thể làm biến dạng hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, và trong một chừng mực nào đó làm giảm bớt phúc lợi xã hội chung của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên có thể lập luận rằng, sẽ không có sự thay đổi nào về số lượng sản phẩm X được xuất khẩu và

vì vậy khoản trợ cấp nói trên không gây ra sự biến dạng thị trường ngoài lãnh thổ Viêt Nam Trong trường hợp này cộng đồng quốc tế không có lý do gì để

lo ngại về hành động trợ cấp khu vực này

Hỗ trợ của nhà nước nhằm giúp các doanh nghiệp đáp ứng những yêu cầu mới về môi trường Sự trợ giúp của chính phủ cũng có thể được coi là

được phép nếu nó thúc đẩy các cơ sở đang hoạt động trong thời gian ít nhất là hai năm thích nghi với các quy định mới vè môi trường được áp dụng theo quy định của pháp luật Để có thể được cho phép, các điều kiện mới phải đặt

ra nhiều hạn chế hơn và trách nhiệm tài chính nặng hơn cho các doanh nghiệp Ngoài ra, trợ cấp phải:

- Là biện pháp được áp dụng một lần và không lặp lại sau đó;

- Được giới hạn ở mức 20% của chi phí thích nghi;

Trang 19

- Không bao gồm chi phí thay thế và vận hành hoạt động đầu tư hỗ trợ, chi phí này phải do doanh nghiệp trả toàn bộ;

- Liên quan trực tiếp đến và phù hợp với kế hoạch giảm ô nhiễm và chất thải của doanh nghiệp;

- Không bao gồm các chi phí tiết kiệm sản xuất có thể thu được; và

- Phải được dành cho tất cả các doanh nghiệp có khả năng thích nghi với các thiết bị mới hoặc quy trình sản xuất mới

Lý do để các dạng trợ cấp này được duy trì là vì người ta cho rằng chúng hầu như không thể gây tác động bất lợi đến lợi ích của các nước thành viên khác, hoặc việc áp dụng chúng có ích lợi nhất định và không nên bị ngăn chặn Để được công nhận là trợ cấp đèn xanh, các nước thành viên muốn áp dụng trợ cấp này phải thông báo về biện pháp trợ cấp cho Uỷ ban về Trợ cấp trước khi áp dụng để Uỷ ban này kiểm tra và kết luận

Thủ tục xem xét lại trợ cấp đèn xanh: Trợ cấp đèn xanh sẽ được Uỷ ban

về trợ cấp rà soát lại theo quy định của các Điều 8.4, 8.5 Hiệp định SCM Khi được yêu cầu, Ban thư ký của WTO sẽ chuẩn bị một báo cáo cho Uỷ ban về trợ cấp phân tích liệu một chương trình trợ cấp có phù hợp với các tiêu chuẩn

được quy định tại Điều 2.2 SCM hay không

1.1.3 Các hình thức trợ cấp trong thương mại quốc tế

Trong thương mại quốc tế, để đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, Chính phủ các nước sử dụng rất nhiều các biện pháp trợ cấp khác nhau Dưới đây là một số hình thức trợ cấp thường gặp:

Thưởng xuất khẩu là việc thưởng cho phần kim ngạch xuất khẩu của

một năm vượt hơn so với kim ngạch xuất khẩu của năm trước đó

Trợ cấp thay thế nhập khẩu là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một

phần vào việc sử dụng hàng sản xuất trong nước thay cho hàng nhập khẩu, được quy định trong các văn bản luật hoặc trên thực tế Ví dụ: các doanh

Trang 20

nghiệp lắp ráp ô tô sử dụng phụ tùng, linh kiện sản xuất trong nước chiếm ít nhất 60% giá trị ô tô thành phẩm được hưởng ưu đãi thuế

Bù lỗ xuất khẩu là việc Chính phủ chi một số tiền đủ để đảm bảo khỏi

lỗ và một khoản lãi thích đáng cho doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng bị lỗ

Ưu đãi tín dụng là sự hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà xuất khẩu

nước sở tại đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đồng thời giúp đỡ các nhà nhập khẩu nước ngoài có đủ điều kiện về tài chính để mua hàng hóa của nước đó Các hình thức này có thể là: vay phát triển trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi; hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; bảo lãnh tín dụng đầu tư; vay lại các

dự án đầu tư sử dụng vốn ODA; tín dụng ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu

Ưu đãi thuế là việc Chính phủ miễn hoặc giảm thuế cho các doanh

nghiệp, như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất…

Trợ cấp sản xuất là việc Chính phủ trợ cấp cho doanh nghiệp sản xuất

hàng hóa, có thể là: cho phép sử dụng mặt bằng và điện năng trong các khu chế xuất, hỗ trợ trong nghiên cứu, khai thác, các khuyến khích về tài chính như miễn hoặc giảm thuế lợi tức… Trợ cấp sản xuất có tác dụng hỗ trợ việc tiêu thụ sản phẩm trong nước và còn hỗ trợ cho việc xuất khẩu hàng hoá

Ưu đãi đầu tư gồm các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế

nhập khẩu, thuế đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước khi doanh nghiệp đầu tư vào các ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn được Chính phủ ưu đãi đầu tư

Các hình thức trợ cấp khác

Trong thương mại quốc tế, các hình thức trợ cấp được các Chính phủ

sử dụng rất đa dạng: cấp lại tiền sử dụng vồn để tái đầu tư, hỗ trợ kinh phí để xúc tiến thương mại, nghiên cứu khoa học

Trang 21

- Trợ cấp có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế và phân bổ nguồn lực

Trợ cấp cũng có thể được sử dụng nhằm khuyến khích những ngành sản xuất kém sức cạnh tranh giảm công suất dư thừa hoặc rút khỏi những lĩnh vực hoạt động không hiệu quả hoặc không sinh lợi Nhờ đó quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động được diễn ra suôn sẻ hơn, góp phần thúc đẩy phân bổ nguồn lực thích hợp, hiệu quả và khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh với nước ngoài

- Tác dụng an sinh xã hội:

Trợ cấp góp phần duy trì ổn định công ăn việc làm, hạn chế thất nghiệp, bảo đảm trật tự và ổn định xã hội, đặc biệt là những khoản trợ cấp dành cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, phá sản Sự hỗ trợ của Chính phủ có thể giúp các doanh nghiệp này khỏi bị sụp đổ nhanh chóng, thúc đẩy các doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất, tự điều chỉnh khả năng thích nghi và cạnh tranh trong thời kỳ quá độ do những khó

khăn mà môi trường thương mại quốc tế tạo ra

- Trợ cấp xuất khẩu giúp nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp

Với mọi hình thức trợ cấp, lợi thế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong những ngành được trợ cấp luôn được cải thiện và nâng cao Đối

Trang 22

với những ngành công nghiệp non trẻ, bước đầu còn yếu kém về năng lực cạnh tranh thì trợ cấp từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần khởi động và đẩy nhanh sự phát triển của ngành Đối với những công ty mới gia nhập thị trường, thiếu vốn để trang trải chi phí trong thời gian đầu, khó cạnh tranh nổi với những công ty đã trụ vững trên thị trường thì hỗ trợ của Chính phủ có thể bù đắp cho những khoản thua lỗ phát sinh trong những năm đầu, đưa công ty vào quỹ đạo phát triển ổn định

Trợ cấp xuất khẩu còn làm tăng lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu được trợ cấp so với hàng xuất khẩu không được trợ cấp của các nước khác vào thị trường thứ ba và ngăn cản hàng xuất khẩu của các nước khác vào thị trường này

- Trợ cấp có tác động tích cực dây truyền:

Nếu Chính phủ chọn đúng ngành cần được trợ cấp, theo nguyên lý hiệu ứng lan truyền tích cực, trợ cấp sẽ có khả năng tạo ra hiệu ứng tích cực theo dây chuyền Chẳng hạn khi Chính phủ trợ cấp cho ngành xi măng thì các ngành xây dựng cơ sở hạ tầng cũng có điều kiện phát triển Như vậy, lợi ích

của trợ cấp có thể lan rộng sang các ngành khác ngoài ngành được trợ cấp

- Tác động tới người tiêu dùng hay các ngành công nghiệp hạ nguồn Ngành công nghiệp hạ nguồn là những ngành sử dụng hàng hóa làm

đầu vào trong quá trình sản xuất Người tiêu dùng hay các ngành công nghiệp

hạ nguồn ở nước nhập khẩu sản phẩm được trợ cấp sẽ có lợi do mua được hàng hóa cần thiết với giá rẻ hơn

Trang 23

Việc Chính phủ quyết định hỗ trợ cho một ngành sản xuất trong nước có thể dẫn đến xu hướng vốn đầu tư và nguồn lực trong xã hội đổ xô vào ngành đó Hậu quả là hàng loạt doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh bị thua lỗ và đào thải Như vậy, ưu đãi dành cho một hoặc một nhóm nhà sản xuất này lại

có ảnh hưởng giống như một khoản thuế đánh lên những nhà sản xuất khác Lợi ích thu được nhờ việc hỗ trợ một ngành nhất định không chắc sẽ đủ bù đắp cho tổn thất mà những ngành khác phải gánh chịu

- Trợ cấp có ảnh hưởng bất lợi cho ngân sách nhà nước

Trong mọi trường hợp, trợ cấp đều ảnh hưởng bất lợi cho ngân sách nhà nước, cho dù ảnh hưởng bất lợi đó thể hiện trực tiếp hay gián tiếp, có thể

kê khai được hay không kê khai được thành một khoản chi ngân sách cụ thể Nhiều trường hợp, lợi ích do tăng xuất khẩu khi tiến hành trợ cấp xuất khẩu thậm chí còn không đủ để bù đắp cho những tổn phí liên quan đến trợ cấp của nhà nước Về khía cạnh kinh tế, trong những trường hợp như vậy, rõ ràng trợ cấp là một chính sách phi kinh tế của nước xuất khẩu, vừa thiệt hại cho ngân

sách lại vừa không đạt được mục tiêu mong muốn

- Trợ cấp trong nước của nước này có thể gây tổn hại đến lợi ích xuất khẩu của nước khác

Nếu trợ cấp của một nước giúp bảo hộ hoặc nâng cao sức cạnh tranh của ngành sản xuất trong nước thì hiển nhiên gây bất lợi cho nước khác như ngăn cản nhập khẩu sản phẩm tương tự từ các nước khác vào thị trường nước

áp dụng trợ cấp, làm vô hiệu hoá hoặc làm giảm tác dụng các cam kết ràng buộc thuế quan của nước trợ cấp

- Đối với nước nhập khẩu hàng được nước khác trợ cấp:

Ngành sản xuất sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp sẽ gặp khó khăn do bị tăng áp lực cạnh tranh, thậm chí có thể bị thiệt hại vật chất hoặc có nguy cơ bị thiệt hại vật chất Chẳng hạn như xuất hiện sự suy

Trang 24

giảm sản lượng, doanh số bán, lợi nhuận, năng suất, tỷ suất thu hồi vốn đầu

tư, sự thu hẹp thị phần, hay giảm khai thác sử dụng công suất, giảm luồng tiền mặt, lưu kho, công ăn việc làm, lương bổng, tốc độ tăng trưởng, khả năng thu hút vốn, v.v Đối với những ngành tuy chưa thực sự đi vào sản xuất hàng hóa tương tự với hàng nhập khẩu được trợ cấp nhưng Chính phủ đã có kế hoạch phát triển ngành thì trợ cấp xuất khẩu của nước ngoài khiến cho ngành

đó gặp quá nhiều trở ngại, bị trì hoãn, thậm chí không thể xuất hiện

- Người tiêu dùng trong nước phải chấp nhận mua hàng hóa được trợ cấp tại nội địa với giá cao và lượng hàng hóa tiêu thụ ở trong nước cũng giảm sút

1.2 BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG

1.2.1 Các biện pháp đối kháng

1.2.1.1 Biện pháp đối kháng

Khi phát hiện có trợ cấp và thiệt hại xảy ra, Chính phủ nước nhập khẩu

có thể áp dụng các biện pháp đối kháng như đưa ra một cơ quan giải quyết tranh chấp quốc tế hoặc tiến hành điều tra đánh thuế chống trợ cấp với hàng nhập khẩu được trợ cấp Kết quả của việc điều tra có thể đi đến quyết định: đánh thuế chống trợ cấp nếu các điều kiện và thủ tục quy định được đáp ứng; không đánh thuế chống trợ cấp trong trường hợp không hội đủ các điều kiện; hoặc nước nhập khẩu chấp nhận các cam kết tự nguyện do nhà xuất khẩu nước ngoài hoặc chính quyền nước xuất khẩu đưa ra (chẳng hạn như Chính phủ nước xuất khẩu đồng ý loại bỏ trợ cấp hoặc tiến hành các biện pháp khác

để loại bỏ ảnh hưởng bất lợi của trợ cấp hay nhà xuất khẩu đồng ý điều chỉnh lại giá hàng ở mức phù hợp)

Như vậy, biện pháp đối kháng (hay còn gọi là biện pháp chống trợ cấp)

là những biện pháp của một nước có thể áp dụng khi có cơ sở cho rằng hàng

Trang 25

nhập khẩu vào nước đó được Chính phủ trợ cấp và gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước

Hiệp định SCM quy định các biện pháp đối kháng tương ứng với từng loại trợ cấp Trợ cấp “đèn đỏ” hoặc trợ cấp “đèn vàng” gây ra thiệt hại có thể

bị khiếu kiện thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hoặc bị điều tra đánh thuế đối kháng Tiến trình áp dụng thuế đối kháng chỉ có thể được thực hiện khi có thiệt hại xảy ra (mục 2.1.3) Trong các trường hợp khác, biện pháp đối kháng duy nhất là thông qua tiến trình giải quyết tranh chấp của WTO Ví dụ, một trợ cấp bị cấm gây ra thiệt hại, có thể bị đối phó thông qua tiến trình điều tra đánh thuế đối kháng hoặc tiến trình giải quyết tranh chấp của WTO, nhưng nếu trợ cấp đó không gây thiệt hại thì nó chỉ có thể là đối tượng của tiến trình giải quyết tranh chấp

Trường hợp khiếu kiện ra Cơ quan giải quyết tranh chấp được Hiệp định SCM quy định tại Điều 4, Điều 7 và Điều 30 Theo đó, việc tham vấn và giải quyết tranh chấp tuân theo Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU) - Phụ lục 2 Hiệp định Marrakesh thành lập WTO Việc giải quyết tranh chấp với điều kiện và thời gian khác nhau tùy thuộc vào tranh chấp với loại trợ cấp thuộc “đèn đỏ” hoặc “đèn vàng”

Mọi biện pháp trợ cấp bị cấm đều bị coi là rất có thể gây tổn hại đến lợi ích của các nước thành viên khác và do đó, nước thành viên khiếu kiện không cần phải chứng minh tác động bất lợi của biện pháp trợ cấp bị kiện đối với thương mại trong quá trình khiếu kiện

Trợ cấp “đèn vàng” dù không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO nếu gây tổn hại đến lợi ích của thành viên khác Ba dạng tổn hại có thể là:

- Thiệt hại có thể là thiệt hại vật chất hiện hữu, đe dọa gây thiệt hại vật chất hoặc làm trì hoãn sự hình thành của một ngành sản xuất trong nước;

Trang 26

- Tổn hại nghiêm trọng khi: tổng trị giá trợ cấp cho một sản phẩm vượt quá 5%; trợ cấp để bù cho sự thua lỗ kéo dài trong hoạt động kinh doanh của một ngành sản xuất; trợ cấp để bù cho các hoạt động kinh doanh thua lỗ của một doanh nghiệp, trừ khi đó là một biện pháp nhất thời một lần và không lặp lại với doanh nghiệp đó và được cấp chỉ thuần tuý để cho phép có thời gian tìm kiếm một giải pháp lâu dài và tránh phát sinh một vấn đề xã hội gay gắt; trực tiếp xoá nợ như xoá một khoản nợ Nhà nước hay cấp kinh phí để thanh toán nợ

- Vô hiệu hóa hoặc làm tổn hại đến các lợi ích: phát sinh khi đáng ra hàng hóa của các nước của các nước khác được tiếp cận thị trường của nước

X thuận lợi hơn do có cam kết cắt giảm thuế quan của nước X nhưng thực tế tiếp cận thị trường này lại bị thu hẹp hơn mong đợi do hành vi trợ cấp của X

Nếu nước trợ cấp không thực hiện khuyến nghị của Ban hội thẩm thì nước khiếu kiện có thể yêu cầu WTO cho phép sử dụng biện pháp trả đũa Mặc dù nước thành viên nhập khẩu bị tổn hại có thể đồng thời khởi kiện ra

Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO và điều tra đánh thuế đối kháng nhưng cuối cùng chỉ được áp dụng hoặc biện pháp trả đũa được WTO cho phép hoặc thuế đối kháng chứ không được áp dụng đồng thời cả hai.[3]

1.2.1.2 So sánh biện pháp đối kháng với các biện pháp phòng vệ thương mại khác

Các biện pháp phòng vệ thương mại là các biện pháp của một nước nhằm bảo vệ ngành công nghiệp nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, bao gồm ba biện pháp là chống bán phá giá, biện pháp đối kháng và tự vệ.[9] Các biện pháp này ngày càng được sử dụng phổ biến, nếu không sử dụng đúng mức thì chúng sẽ đi ngược với mục tiêu tích cực của thương mại

tự do Do đó, WTO quy định những nguyên tắc về sự tồn tại độc lập và thủ tục áp dụng khác nhau nhằm điều chỉnh việc áp dụng những biện pháp đó

Trang 27

- Về bản chất: Chống bán phá giá và biện pháp đối kháng là các hành

vi phản thương mại công bằng Biện pháp tự vệ chỉ là ngoại lệ của tự do hóa thương mại, có thể được áp dụng kể cả khi các đối tác thương mại thực hiện kinh doanh một cách chính đáng, không có tình trạng bán phá giá hoặc trợ cấp

- Về điều kiện áp dụng: Biện pháp tự vệ được áp dụng một cách khắt

khe hơn so với hai biện pháp còn lại Nếu như yêu cầu về điều kiện để áp dụng biện pháp đối kháng và chống phá giá chỉ dừng lại ở mức cơ quan điều

tra phải chứng minh có thiệt hại “đáng kể” cho ngành sản xuất hàng hóa

tương tự trong nước thì trong các cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, cơ

quan điều tra phải chứng minh được tình trạng thiệt hại “nghiêm trọng” mà

ngành sản xuất hàng hóa “tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp” trong nước phải hứng chịu do việc gia tăng “bất thường” của hàng hóa nhập khẩu

- Về thời gian áp dụng: Các biện pháp đối kháng, chống bán phá giá

thường được áp dụng cho 5 năm và có thể gia hạn tiếp nếu kết luận điều tra cho thấy hàng hóa nước ngoài nhập khẩu tiếp tục được bán phá giá hoặc trợ cấp của Chính phủ Tự vệ là một biện pháp để bảo vệ sản xuất trong nước một cách tạm thời Thời hạn áp dụng biện pháp này là 4 năm cho lần đầu áp dụng

và 6 năm cho lần thứ hai áp dụng đối với nước đang phát triển, đối với nước phát triển thời hạn áp dụng lần hai chỉ là 4 năm

- Về phạm vi áp dụng: Biện pháp đối kháng, chống bán phá giá áp dụng

đối với các sản phẩm nhất định nhập khẩu từ các nước nhất định Biện pháp

tự vệ áp dụng đối với các sản phẩm nhất định nhập khẩu từ tất cả các nước

- Về hệ quả: Do áp dụng trong hoàn cảnh cạnh tranh lành mạnh và nhà

xuất khẩu nước ngoài không có lỗi nên khi áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường cho nước xuất khẩu liên quan bằng cách giảm thuế hoặc bồi thường tiền tương ứng với phần thiệt hại của nhà xuất khẩu nước ngoài do bị áp dụng

Trang 28

biện pháp tự vệ Trong khi đó, áp dụng biện pháp đối kháng và chống bán phá giá không phải bồi thường gì cho nước xuất khẩu

1.2.2 Thuế đối kháng và tác động của việc đánh thuế đối kháng

1.2.2.1 Thuế đối kháng

Tuỳ theo mục đích khác nhau, thuế đối kháng có thể được định nghĩa

một cách khác nhau Theo Điều VI GATT “Thuật ngữ thuế đối kháng được hiểu là một khoản thuế đặc biệt áp dụng nhằm mục đích triệt tiêu mọi khoản

ưu đãi hay trợ cấp dành trực tiếp hay gián tiếp cho công đoạn chế biến, sản xuất hay xuất khẩu bất cứ hàng hoá nào”[2] Như vậy, thuế đối kháng (hay

còn gọi là thuế chống trợ cấp) là biện pháp đối kháng nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều tra chống trợ cấp do nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào Chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp

Về mặt pháp lý, các nước thường dùng định nghĩa của WTO làm định nghĩa chuẩn cho thuế chống trợ cấp Đây là định nghĩa chặt chẽ về mặt luật pháp và thường được các nước chấp nhận Tuy nhiên, định nghĩa này phải được hiểu trong bối cảnh rộng của WTO, có nghĩa là các quy định của WTO liên quan đến quá trình điều tra, thủ tục áp dụng v.v cũng phải được tuân thủ đầy đủ

Về mặt quản lý nhà nước, thuế chống trợ cấp được coi là một biện pháp quản lý phi thuế quan Phần lớn các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành về các biện pháp phi thuế quan đều xếp thuế chống trợ cấp là một biện pháp phi thuế quan Trong hệ thống phân loại của UNCTAD, thuế chống trợ cấp cũng được coi là một trong những biện pháp phi thuế quan Mặc dù vậy, về hình thức bên ngoài, thuế chống trợ cấp lại có nhiều điểmtương đồng với thuế nhập khẩu Vì vây, xét về mặt hình thức, ở một chừng mực nhất định cũng có thể coi thuế chống trợ cấp là một hình thức thuế nhập khẩu đặc biệt

Trang 29

Thuế chống trợ cấp giống với thuế nhập khẩu ở các điểm sau:

- Đối tượng chịu thuế là hàng nhập khẩu;

- Phương pháp quản lý thuế tương đối giống với thuế thông thường: cùng được cơ quan hải quan thu tại cửa khẩu;

- Tác động tương đối rõ ràng và minh bạch ở khâu áp dụng nếu so với các biện pháp phi thuế quan khác (mặc dù quá trình điều tra có thể bị các cơ quan áp dụng lạm dụng vì một số mục đích nhất định)

Tuy nhiên, thuế chống trợ cấp có một số điểm khác căn bản so với thuế nhập khẩu thông thường:

- Thuế nhập khẩu thông thường chủ yếu nhằm mục đích bảo hộ cho sản xuất trong nước còn thuế chống trợ cấp nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu;

- Thuế nhập khẩu thông thường mang tính ổn định, trong khi thuế chống trợ cấp mang tính tình huống rõ rệt Dù là nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước, tạo nguồn thu cho ngân sách hay đảm bảo công bằng xã hội, thuế nhập khẩu đều được áp dụng theo một định hướng tương đối ổn định Trong khi đó, thuế chống trợ cấp chỉ xuất hiện khi phát sinh trợ cấp làm ảnh hưởng đến nhà sản xuất trong nước Thuế chống trợ cấp sẽ mất đi khi không còn trợ cấp nữa hay khi các nhà sản xuất trong nước không còn chịu ảnh hưởng bất lợi của hàng hoá được nước ngoài trợ cấp nữa

Mặc dù có những điểm khác nhau trên, thuế chống trợ cấp thường được coi là một sắc thuế có mối liên hệ hết sức chặt chẽ đến thuế nhập khẩu, cả về mặt hình thức cũng như phương pháp quản lý việc thu thuế

Trang 30

1.2.2.2 Thuế đối kháng tác động như một công cụ chính sách thương mại

Trong thương mại quốc tế, thuế đối kháng là công cụ tương đối khó áp dụng do tính chất phức tạp của nó Tuy nhiên, khi áp dụng, loại thuế này là một công cụ chính sách thương mại tương đối hiệu quả

- Thuế đối kháng là một công cụ hợp pháp, được luật thương mại quốc

tế cho phép, có tác động răn đe đáng kể đối với Chính phủ và nhà sản xuất nước ngoài

Ví dụ: Nếu nước X trợ cấp để xuất khẩu hàng hoá sang nước Y, nước Y

có thể không cần trợ cấp lại cho ngành sản xuất trong nước của mình mà chỉ cần áp dụng thuế đối kháng đối với hàng của nước X Vì vậy, nếu biết chắc rằng nước Y sẽ đánh thuế chống trợ cấp đối với hàng của nước mình, nước X

sẽ không tiến hành trợ cấp nữa Đồng thời khi đó, các nhà kinh doanh khi muốn bán hàng của nước X vào nước Y sẽ tự động tăng giá ngang với giá trị thực của hàng hoá vì sợ bị đánh thuế chống trợ cấp Như vậy, sản xuất trong nước tại nước Y không bị ảnh hưởng của khoản trợ cấp của nước X

- Sử dụng thuế đối kháng giúp hạn chế và loại bỏ các tác động tiêu cực của trợ cấp, giúp đảm bảo công bằng thương mại

Thuế đối kháng khiến cho Chính phủ nước trợ cấp tránh được bảo hộ thái quá hoặc sai đối tượng Đồng thời khiến giá cả hàng hóa gần với các chi phí thực, đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tương tự

1.2.2.3 Tác động đối với các bên liên quan

- Đối với Chính phủ nước áp dụng: thuế chống trợ cấp đem lại nguồn

thu cho ngân sách nhà nước, tuy chỉ chiếm một bộ phận không đáng kể Bên cạnh đó, việc điều tra và quản lý khi đánh thuế tương đối phức tạp, tốn nhiều

Trang 31

kinh phí Cho nên, việc đem lại nguồn thu chỉ có vai trò thứ yếu, thường không ảnh hưởng đến quyết định có đánh thuế chống trợ cấp hay không

- Đối với Chính phủ nước xuất khẩu: Thuế chống trợ cấp có thể giúp

Chính phủ nước xuất khẩu tránh được việc bảo hộ thái quá hoặc sai đối tượng Tuy nhiên, cũng có thể dẫn đến kết quả là hạn chế mức độ mở cửa thị trường

- Đối với doanh nghiệp xuất khẩu: Khi đã đánh thuế chống trợ cấp thì

tác động của loại thuế này đối với hàng nhập khẩu không khác gì khi đánh thuế nhập khẩu thông thường: thuế chống trợ cấp làm tăng giá hàng nhập khẩu và giảm tính cạnh tranh so với các sản phẩm khác Do vậy, doanh nghiêp có thể bị giảm lượng xuất khẩu

- Đối với doanh nghiệp trong nước: nhà sản xuất mặt hàng bị đánh thuế

hoặc nhà sản xuất các mặt hàng trực tiếp cạnh tranh với mặt hàng đó tại nước nhập khẩu sẽ được hưởng lợi Có thể nói việc đánh thuế chống trợ cấp trong tất cả các trường hợp đều nhằm bảo vệ lợi ích cho các nhà sản xuất trong nước

- Tác động đối với người tiêu thụ sản phẩm (người tiêu dùng hoặc người sử dụng sản phẩm nhập khẩu làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất):

Trước khi đánh thuế chống trợ cấp, người tiêu thụ được hưởng khoản trợ cấp của Chính phủ nước ngoài do được mua sản phẩm với giá rẻ Sau khi đánh thuế, phần lợi đó đã được chuyển sang cho nhà sản xuất (và có thể một phần sang cho Chính phủ nước đánh thuế) Do vậy, Chính phủ cũng cần tính đến lợi ích của người tiêu thụ trước khi quyết định có đánh thuế chống trợ cấp hay không

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG 1.3.1 Trợ cấp là điều kiện để áp dụng biện pháp đối kháng

Từ khái niệm biện pháp đối kháng (hay còn gọi là biện pháp chống trợ cấp) là những biện pháp của một nước có thể áp dụng khi có cơ sở cho rằng

Trang 32

hàng nhập khẩu vào nước đó được Chính phủ trợ cấp và gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, có thể cho thấy điều kiện để áp dụng biện pháp đối kháng là có tồn tại trợ cấp và trợ cấp này gây ra thiệt hại

Một mặt hàng được trợ cấp khi xuất khẩu sang nước khác sẽ có lợi thế cạnh tranh Điều này có lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu do bán được nhiều hàng hóa Tuy nhiên lợi ích xuất khẩu của các nước khác sẽ bị ảnh hưởng Bên cạnh đó, tại nước nhập khẩu, ngành sản xuất sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp sẽ gặp khó khăn do bị tăng áp lực cạnh tranh, thậm chí có thể bị thiệt hại vật chất hoặc có nguy cơ bị thiệt hại vật chất Đối với những ngành tuy chưa thực sự đi vào sản xuất hàng hóa tương tự với hàng nhập khẩu được trợ cấp nhưng Chính phủ đã có kế hoạch phát triển ngành thì trợ cấp xuất khẩu của nước ngoài khiến cho ngành đó gặp quá nhiều trở ngại,

bị trì hoãn, thậm chí không thể xuất hiện Căn cứ vào mức độ trợ cấp và những tác động tiêu cực của trợ cấp, nước nhập khẩu có thể tiến hành những biện pháp đối kháng cần thiết

GATT quy định rằng, khi hàng nhập khẩu được sản xuất với sự trợ cấp thì bên nhập khẩu có quyền thu thuế chống trợ cấp hoặc những biện pháp cứu trợ khác Khi hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất, gia công chế tạo, vận chuyển, mua bán, đều khiến cho chính phủ nước nhập khẩu có lý do để thu thuế chống trợ cấp đối với những hàng hoá này Việc thu thuế chống trợ cấp cần phải tuân thủ nguyên tắc, kim ngạch thu thuế không được vượt quá mức trợ cấp

Khi áp dụng biện pháp đối kháng, nước nhập khẩu phải tính toán được mức độ trợ cấp và thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất trong nước Thiệt hại này tồn tại dưới dạng (i) thiệt hại vật chất thực tế, (ii) đe doạ gây ra thiệt hại vật chất, hoặc (iii) gây chậm trễ việc hình thành ngành Như vậy, nếu không chứng minh được rằng hàng nhập khẩu được trợ cấp một lượng đáng kề và có

Trang 33

thiệt hại gây ra bởi trợ cấp đó thì không có căn cứ để áp dụng biện pháp đối kháng

1.3.2 Tác động của biện pháp đối kháng với trợ cấp

Các biện pháp đối kháng được áp dụng nhằm làm triệt tiêu những ảnh hưởng tiêu cực của trợ cấp làm cho môi trường thương mại quốc tế công bằng

và lành mạnh Các biện pháp này làm hạn chế việc trợ cấp cho hàng hoá trong khâu chế tạo, sản xuất và xuất khẩu Cũng nhờ các biện pháp này khiến các Chính phủ xem xét lại các biện pháp trợ cấp cho phù hợp, tránh được việc bảo

hộ thái quá hoặc sai đối tượng

Mục đích của trợ cấp xuất khẩu của các nước xuất khẩu là để tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá ở nước ngoài Mục đích của việc thu thuế chống trợ cấp của nước nhập khẩu lại là để những hàng hoá được trợ cấp mất khả năng cạnh tranh Giá thành của hàng hoá nhập khẩu sau khi bị đánh thuế chống trợ cấp sẽ tăng lên, và như vậy sẽ làm giảm hiệu quả của khoản trợ cấp

mà hàng hoá này nhận được, từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh, khiến cho chúng không thể được bán với giá thành thấp hoặc bán phá giá trên thị trường của nước nhập khẩu

Về mặt kinh tế, thuế chống trợ cấp là một hình thức thuế đánh vào hàng hoá được trợ cấp nhằm triệt tiêu lợi thế do khoản trợ cấp đó đem lại Để đạt được mục tiêu trên, thuế chống trợ cấp phải tương đương với lợi ích mà trợ cấp đem lại cho hàng hoá, hay chính xác hơn, thuế chống trợ cấp phải triệt tiêu được lợi thế hàng nhập khẩu có được do nhận được trợ cấp của Chính phủ so với loại hàng tương tự được sản xuất tại nước nhập khẩu Do đó, sau khi đánh thuế chống trợ cấp, hàng hoá nhận được trợ cấp không còn lợi thế so với hàng tương tự được sản xuất trong nước không được trợ cấp

Tuy nhiên, thuế chống trợ cấp cũng không được đánh quá cao, vượt quá lợi ích thực sự mà hàng nhập khẩu nhận được Do phải đánh đúng mức, thuế

Trang 34

chống trợ cấp chỉ được áp dụng sau khi đã có điều tra rõ ràng về mức độ trợ cấp cũng như thiệt hại trợ cấp đó gây ra đối với sản xuất trong nước Những biện pháp chống trợ cấp có thể nói là con dao hai lưỡi, bởi vì nếu sử dụng chúng một cách hợp lý, với một mức độ vừa phải thì sẽ có thể bảo hộ được trật tự thông thường của thương mại quốc tế, nhưng nếu quá lạm dụng các biện pháp đó thì sẽ trở thành hàng rào hạn chế nhập khẩu

Chương 2 : HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP, CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA WTO VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC

2.1 HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA WTO

2.1.1 Tổng quan chung về Hiệp định SCM

2.1.1.1 Hoàn cảnh ra đời

Trong một thời gian dài trợ cấp được coi là một trở ngại lớn đối với một thị trường hiệu quả và tự do Do đó, vấn đề trợ cấp đã được đưa vào những cuộc đàm phán đầu tiên của GATT Cuối cùng, GATT đã đưa ra những quy định về những loại trợ cấp có tác động đến thương mại và đưa ra được phương thức để các thành viên GATT có thể đối phó với những gì mà

họ cho là sự hỗ trợ của Chính phủ gây tổn hại cho họ Cách thức này được gọi

là các biện pháp đối kháng

Trong vòng đàm phán Tokyo (1974-1979), vấn đề về sự nhất trí đặc biệt đối với cả hai điều khoản đó lần đầu tiên đã được nêu lên Đối với nhiều nước đang phát triển, trợ cấp vẫn là một công cụ quan trọng để đẩy mạnh phát triển Quan điểm một số nước đang phát triển cho rằng trợ cấp là một thành tố quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội đã đối nghịch lại với yêu cầu của các nước phát triển đòi phải có tính trung lập về cạnh tranh thương mại quốc

tế Những quan niệm đôi khi mâu thuẫn nhau của các nước phát triển cũng làm nặng nề thêm những vấn đề về chính sách thương mại Các quy định của

Trang 35

GATT cũng cho thấy là không thích hợp để giải quyết những vấn đề nảy sinh

từ trợ cấp Bởi vậy, với tinh thần này, các cuộc đàm phán được bắt đầu bằng việc thỏa thuận về trợ cấp

Hiệp định đầu tiên có hiệu lực năm 1979 và chỉ có một số lượng hạn chế thành viên của GATT tham gia ký kết Một đặc điểm quan trọng là trong cùng một hiệp định đã nêu lên cả vấn đề trợ cấp và những tác động có hại của trợ cấp đối với thương mại, cũng như khả năng bồi thường cho những tác động có hại mà trợ cấp gây ra, gọi là các biện pháp đối kháng Tuy nhiên, hiệp định này đã chứng tỏ là rất không hiệu quả và khó diễn giải Sự không rõ ràng của hiệp định đã dẫn đến xung đột và cáo buộc nhau về sự tuỳ tiện khi áp dụng trợ cấp của nhà nước và sử dụng các biện pháp đối kháng

Trong giai đoạn cuối của Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994), các bên đã chấp thuận một hiệp định mới với sự tham gia của tất cả các thành viên tương lai của WTO và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 (Hiệp định SCM) Tuy vậy, các điều khoản vẫn còn hạn chế khi quy định các điều kiện trợ cấp hàng hoá Ngoài ra, còn có những ngoại lệ cho hàng nông sản và ngành hàng không dân dụng Vấn đề này quy định đối với hỗ trợ và các biện pháp đối kháng liên quan đến dịch vụ vẫn chưa được giải quyết Một Uỷ ban đặc biệt đã được thành lập để tư vấn cho những vấn đề liên quan đến việc vận dụng hiệp định này

2.1.1.2 Mục tiêu, phạm vi điều chỉnh

Hiệp định SCM ra đời với hai mục tiêu chính: thứ nhất, để điều chỉnh việc trợ cấp công trong nước của các thành viên; thứ hai, Hiệp định mô tả chi tiết những trợ cấp nào gây hại trực tiếp và gián tiếp hoặc được coi là phá vỡ ngành và/ hoặc lợi ích thương mại của một thành viên khác mà có thể là đối tượng áp dụng biện pháp đối kháng Ngoài ra, Hiệp định SCM có thể làm

Trang 36

giảm bớt đáng kể nguy cơ lạm dụng và đánh giá độc đoán trong việc sử dụng trợ cấp và cách thức điều tra trợ cấp

Các quy định trong Hiệp định chỉ áp dụng với trợ cấp công nghiệp là trợ cấp cụ thể, có tính riêng biệt, nghĩa là trợ cấp chỉ áp dụng đối với một doanh nghiệp, một ngành, một nhóm doanh nghiệp hoặc nhóm ngành tại nước trợ cấp Trợ cấp cụ thể đó có thể là trợ cấp trong nước hoặc trợ cấp xuất khẩu

2.1.1.3 Cấu trúc của Hiệp định SCM

Hiệp định SCM có 32 Điều, chia làm 11 phần Phần I- Những quy định chung- định nghĩa thế nào là trợ cấp nói chung, các dấu hiệu để xác định có trợ cấp hay không Phần II, III và IV phân loại trợ cấp Phần V quy định về việc áp dụng các biện pháp thuế đối kháng Phần VI về thiết lập Uỷ ban Trợ cấp và Các biện pháp thuế đối kháng để theo dõi việc thực thi Hiệp định SCM Phần VII bắt buộc các quốc gia thành viên phải báo cáo về trợ cấp và trao cho Uỷ ban nói trên quyền giám sát việc báo cáo Phần VIII quy định về chế độ đặc biệt đối với các quốc gia thành viên là các nước đang phát triển Phần IX bao gồm các quy định về chế độ chuyển đổi Phần X về giải quyết tranh chấp Phần XI gồm các điều khoản thực thi

Hiệp định có 7 phụ lục kèm theo Phụ lục I minh họa trợ cấp xuất khẩu Phụ lục II hướng dẫn tiêu thụ đầu vào trong quá trình sản xuất Phụ lục III hướng dẫn xác định hệ thống thoái thu đối với sản phẩm thay thế được coi là trợ cấp xuất khẩu Phụ lục IV: Tính toán giá trị gia tăng trong trợ cấp Phụ lục V: Tiến trình thu thập thông tin về tổn hại nghiêm trọng Phụ lục VI: Thủ tục điều tra tại chỗ Phụ lục VII xác định các thành viên đang phát triển

Trang 37

2.1.2 Thủ tục điều tra và áp dụng thuế đối kháng

2.1.2.1 Căn cứ điều tra chống trợ cấp

Hiệp định SCM quy định cuộc điều tra chống trợ cấp trên cơ sở những bằng chứng về sự tồn tại của trợ cấp, thiệt hại gây ra bởi trợ cấp và mối quan

hệ nhân quả giữa nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại đó

Trợ cấp phải có tính riêng biệt

Theo quy định của Hiệp định SCM, tất cả các trợ cấp “đèn đỏ” đều là trợ cấp riêng, tức là đều có thể bị nước khác điều tra đánh thuế chống trợ cấp Trợ cấp “đèn vàng” là trợ cấp mang tính riêng biệt nhưng không thuộc nhóm trợ cấp “đèn đỏ” nói trên Một khoản trợ cấp được coi là một trợ cấp riêng nếu trợ cấp đó chỉ dành riêng cho một (hoặc một nhóm) ngành (hoặc doanh nghiệp); hoặc dành riêng cho các doanh nghiệp nằm trong một khu vực địa lý nhất định

Trợ cấp riêng theo luật và trên thực tế: Ngay cả khi một biện pháp trợ cấp không mang tính riêng biệt theo luật nhưng lại có thể mang tính riêng biệt trên thực tế thì cần phải xem xét đến một số yếu tố khác để xác định xem trợ cấp đó có mang tính riêng biệt hay không Các yếu tố đó là: chỉ có một số nhất định các doanh nghiệp cụ thể sử dụng trợ cấp, một số doanh nghiệp nhất định là đối tượng sử dụng phần lớn trợ cấp, khối lượng lớn bất thường của trợ cấp được dành cho một số doanh nghiệp nhất định, và cơ quan chịu trách nhiệm về trợ cấp tùy tiện trong việc ra quyết định về trợ cấp Trong trường hợp này, thông tin về tần suất các hồ sơ xin được hưởng trợ cấp bị từ chối hoặc được chấp thuận cũng như lý do đưa ra các quyết định này sẽ phải được xem xét Ngoài ra, mức độ đa dạng của các hoạt động kinh tế thuộc phạm vi thẩm quyền pháp lý của cơ quan chịu trách nhiệm về trợ cấp cũng như thời hạn hiệu lực của chương trình trợ cấp cũng được tính đến Nếu các yếu tố này

Trang 38

được xem xét đầy đủ thì có thể dẫn đến kết luận về tính riêng biệt trên thực tế của trợ cấp

• Bằng chứng về thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước Ngành sản xuất trong nước được hiểu là đề cập chung đến tất cả các

nhà sản xuất trong nước cùng sản xuất ra sản phẩm tương tự hay những nhà sản xuất sản phẩm tương tự có sản lượng cộng gộp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng nội địa của những sản phẩm đó Tuy nhiên, các nhà sản xuất

có quan hệ với nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu, hoặc bản thân chính nhà sản xuất là nhà nhập khẩu các sản phẩm bị cho là được nước ngoài trợ cấp hoặc các sản phẩm tương tự từ các nước khác sẽ không được tính vào nhóm các nhà sản xuất thuộc ngành sản xuất trong nước

Không những thế, Hiệp định SCM (Điều 16.2 và 16.3) còn cho phép cả ngành sản xuất tại một khu vực thị trường (một bộ phận lãnh thổ) của một nước cũng có thể được bảo vệ thông qua thuế chống trợ cấp nếu sự tập trung sản phẩm nhập khẩu được được trợ cấp vào khu vực thị trường (bộ phận lãnh thổ) đó gây ra thiệt hại cho các nhà sản xuất cung ứng toàn bộ hoặc hầu hết sản phẩm liên quan tại khu vực thị trường (bộ phận lãnh thổ) đó, trong khi phần lớn các nhà sản xuất thuộc ngành sản xuất trong nước lại không hề bị thiệt hại Khi đó, thuế chống trợ cấp được áp dụng đối với các sản phẩm được nước ngoài trợ cấp và được nhập khẩu nhằm tiêu thụ tại khu vực thị trường (bộ phận lãnh thổ) đó

Khái niệm về sản phẩm tương tự: được hiểu là một sản phẩm giống hệt

sản phẩm đang được xem xét về mọi mặt Nếu không có sản phẩm giống hệt thì thuật ngữ sản phẩm tương tự được hiểu là một sản phẩm dù không giống hoàn toàn nhưng có những đặc điểm, tính chất rất giống sản phẩm đang được xem xét

Trang 39

Thông thường, khi xem xét tính tương tự giữa sản phẩm nhập khẩu với sản phẩm sản xuất trong nước, người ta căn cứ vào các tiêu chí sau: Các đặc tính vật lý như cấu tạo hóa học, thành phần hóa học, tính chất vật lý, tính năng, chất lượng của sản phẩm; Mục đích sử dụng sản phẩm, khả năng có thể

sử dụng thay thế cho nhau của sản phẩm; Chức năng của sản phẩm; Thị hiếu

và thói quen của người tiêu dùng đối với sản phẩm; Phân loại thuế quan của sản phẩm Trong một số trường hợp nhất định, người ta đánh giá tính tương tự của các sản phẩm theo nghĩa rộng hơn Chẳng hạn, Điều III.2 GATT và Ghi chú của điều này đề cập tới sản phẩm tương tự trong nước không chỉ gồm các sản phẩm tương tự hoặc giống hệt được sản xuất trong nước mà còn gồm cả các sản phẩm sản xuất trong nước trực tiếp cạnh tranh với hoặc có thể thay thế cho sản phẩm nhập khẩu

Bằng chứng về thiệt hại của ngành sản xuất trong nước

Thiệt hại này tồn tại dưới dạng (i) thiệt hại vật chất thực tế, (ii) đe doạ gây ra thiệt hại vật chất, hoặc (iii) gây chậm trễ việc hình thành ngành

Để xác định thiệt hại vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước, cần có sự đánh giá toàn diện về: Sự suy giảm thực sự hoặc tiềm tàng thể hiện qua tất cả các yếu tố và chỉ tiêu kinh tế liên quan đến tình trạng của ngành như: sản lượng, doanh số tiêu thụ, thị phần, lợi nhuận, năng suất, suất thu hồi vốn đầu tư, công suất sử dụng; Tình trạng trì trệ hoặc suy giảm thực sự hay tiềm tàng của luồng tiền mặt, lượng tồn kho, công ăn việc làm, lương nhân công, khả năng huy động vốn hoặc thu hút đầu tư…

Theo Điều 15.7 Hiệp định SCM, khi xác định sự tồn tại của nguy cơ gây thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất trong nước, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu phải xem xét các yếu tố như: Mức độ tăng nhập khẩu của hàng được nước ngoài trợ cấp cho thấy có nhiều khả năng nhập khẩu sẽ tăng mạnh; Tác động giảm giá, ép giá hoặc kìm chế sự tăng giá tại thị trường nước

Trang 40

nhập khẩu do sự xuất hiện của hàng nhập khẩu với mức giá được trợ cấp gây

ra có khả năng làm gia tăng nhu cầu đối với hàng nhập khẩu hơn nữa… Kết quả điều tra phải đi đến kết luận cho thấy tình trạng gia tăng hàng nhập khẩu được nước ngoài trợ cấp sẽ sớm diễn ra và thiệt hại vật chất sẽ xảy ra nếu như nước nhập khẩu không áp dụng ngay hành động ngăn ngừa Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và nhạy cảm của việc điều tra về nguy cơ xảy ra thiệt hại vật chất với ngành sản xuất trong nước của nước nhập khẩu để có căn cứ đánh thuế chống trợ cấp, Hiệp định SCM lưu ý các nước phải hết sức cẩn trọng khi cân nhắc và quyết định đánh thuế để tránh lạm dụng thuế chống trợ cấp gây trở ngại hoặc hạn chế hàng nhập khẩu

Hiệp định SCM tuy coi việc hình thành một ngành sản xuất tại nước nhập khẩu bị trì hoãn là một dạng thiệt hại nhưng lại không hề có một quy định nào giải thích hay hướng dẫn cụ thể về loại thiệt hại này Nếu phân tích trên cơ sở lý thuyết thuần tuý, khái niệm "trì hoãn thực sự cho việc hình thành một ngành sản xuất" có thể được hiểu dưới hai khía cạnh: (i) gây trở ngại khiến cho một ngành chưa thể được hình thành trên thực tế như dự kiến; (ii) gây khó khăn khiến cho một ngành trong nước mới bắt đầu định hình chưa thể

đi vào sản xuất ổn định

Bằng chứng về quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại

Khi xem xét quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp với thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, cơ quan điều tra phải đánh giá tác động về khối lượng và tác động về giá của hàng nhập khẩu được trợ cấp

Tác động về khối lượng của hàng nhập khẩu được trợ cấp thường được thu thập và xác nhận qua các nguồn số liệu thống kê chính thức của cơ quan thống kê hoặc hải quan nước nhập khẩu Qua các số liệu này, cơ quan điều tra nước nhập khẩu có thể đánh giá được tương quan giữa khối lượng hàng nhập

Ngày đăng: 18/12/2015, 22:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:Quy định của Hoa Kỳ về thời gian điều tra chống trợ cấp[8] - Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO  pháp luật của một số nước và thực tiễn ở việt nam   luận văn ths  luật   60 38 60 pdf
Bảng 2.1 Quy định của Hoa Kỳ về thời gian điều tra chống trợ cấp[8] (Trang 66)
Bảng 2.2: Sơ đồ trình tự điều tra tại EU [9] - Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO  pháp luật của một số nước và thực tiễn ở việt nam   luận văn ths  luật   60 38 60 pdf
Bảng 2.2 Sơ đồ trình tự điều tra tại EU [9] (Trang 68)
Bảng 2.3: Sơ đồ trình tự điều tra tại Trung Quốc [5] - Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO  pháp luật của một số nước và thực tiễn ở việt nam   luận văn ths  luật   60 38 60 pdf
Bảng 2.3 Sơ đồ trình tự điều tra tại Trung Quốc [5] (Trang 70)
Bảng 3. Tiêu chí lựa chọn luật sư cho vụ kiện chống trợ cấp[11] - Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO  pháp luật của một số nước và thực tiễn ở việt nam   luận văn ths  luật   60 38 60 pdf
Bảng 3. Tiêu chí lựa chọn luật sư cho vụ kiện chống trợ cấp[11] (Trang 105)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w