1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã đồng lạc – thị xã chí linh – tỉnh hải dương

117 1,8K 22

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 764 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới với xu thế hội nhập mới, nhưng bên cạnh những thành tựu của sự nghiệp đổi mới thì nguy cơ một số giá trị đạo lý, truyền thống có xu hướng bị lãng quên hoặc thiếu sự quan tâm. Người già cô đơn không nơi nương tựa ít được tôn trọng, quan tâm về mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Theo số liệu tổng điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình ngày 142012 của tạp chí DSPT tại Website Tổng cục DSKHHGĐBBC thì số người cao tuổi ngày càng tăng lên. Hiện nay cả nước có khoảng 200 nghìn người già cô đơn không nơi nương tựa (chiếm khoảng 1,15% tổng số NCT) nhưng số người được tiếp nhận vào sống trong các cơ sở Bảo trợ xã hội mới chỉ đạt khoảng 3.500 người (chiếm 6,4 % trong tổng số người già không nơi nương tựa). Với thu nhập ít ỏi, NCT cô đơn không nơi nương tựa chi tiêu rất eo hẹp: 1 tháng chi cho ăn hết 130.000 150.000 đồng, chi bình quân cho mặc 1 tháng 10.000 đồng, chi cho khám chữa bệnh hết 22.000 đồng, chỉ còn khoảng 36.000 đồng chi cho tất cả các nhu cầu khác. Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa không tự lo liệu được cuộc sống (70%) và không có người chăm sóc khi ốm đau. Với những số liệu trên ta thấy rằng số người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa chiếm khá nhiều trong tổng số dân. Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa có thu nhập ít. Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa là một trong những nhóm đối tượng yếu thế cần được sự trợ giúp của xã hội. Họ ít được tiếp cận các dịch vụ cần thiết và cũng ít được thể hiện vai trò của mình. Điều đó ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống tinh thần của họ vì vậy chúng ta cần có những biện pháp tích cực nhằm ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa. Xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương là một xã cũng khá phát triển nhưng kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu việc cung ứng các dịch vụ y tế còn kém không đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu cho người cao tuổi đặc biệt là người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa và xã cũng không có cán bộ văn hóa hay cán bộ công tác xã hội. Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa ở đây mỗi tháng nhận được tiền trợ cấp xã hội theo quy định của nhà nước và ngoài ra không có dịch vụ nào khác. Hiện nay ở xã có 30 cụ là người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa và họ đều là những người nghèo rất cần đến sự hỗ trợ của cộng đồng, chính quyền và nhân viên công tác xã hội. Chính vì những lý do trên mà em lựa chọn đề tài “Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương” với mục đích là tìm hiểu thực trạng cuộc sống của người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa và hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc, nhu cầu của người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc và những vấn đề mà họ cần giải quyết từ đó có cơ sở để phân tích đánh giá và định hướng trong can thiệp trợ giúp cho người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa. Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập thông tin gồm phương pháp thu thập, phân tích tài liệu; Phương pháp phỏng vấn sâu; thảo luận nhóm tập trung; phương pháp quan sát và phương pháp can thiệp gồm phương pháp công tác xã hội nhóm; Phương pháp công tác xã hội cá nhân.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trải qua thời gian 3 tháng thực tập tại Uỷ Ban Nhân Dân xã Đồng Lạc –

thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương với đề tài nghiên cứu “ Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương” em đã nhận được

nhiều sự giúp đỡ từ giảng viên hướng dẫn và cán bộ ủy ban nhân dân xã Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Lê Thị Thúy Ngà Cô đãtận tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và viết bài khóa luận Những lờikhuyên của cô đã giúp em có hướng đi đúng trong triển khai kế hoạch thựctập cũng như hoàn thành bài viết của mình

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trong khoa công tác xã hội đãtrang bị cho em những kiến thức cần thiết để có thể vận dụng trong quá trìnhthực tập Những lời dạy của các thầy cô qua những giờ thực hành là bài họcquý giá giúp em có kinh nghiệm hơn trong lần thực tập này

Cuối cùng em xin chân thành cám ơn cán bộ ủy ban nhân dân xã Đồng Lạcđặc biệt là bác phó chủ tịch Nguyễn Văn Thuận đã tạo điều kiện thuận lợi cho

em thực tập và cung cấp cho em những thông tin, tài liệu cần thiết để em hoànthành quá trình thực tập

Em nhận thấy bản thân còn chưa đủ năng lực và kinh nghiệm, bài viết cònnhiều thiếu sót em mong thầy cô thông cảm và em cũng rất mong nhận được

sự đánh giá, nhận xét của các thầy cô để bài viết khóa luận của em được hoànthiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NCT: người cao tuổi

DS&PT: dân số và phát triển

DS-KHHGĐ: dân số - kế hoạch hóa gia đình

Bảng 2.3 Tình trạng sức khỏe, khả năng đi lại, sinh hoạt của người cao tuổi

cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc năm 2014

Bảng 2.4 Tình hình mắc các triệu chứng/bệnh của người cao tuổi cô đơnkhông nơi nương tựa

Bảng 2.5 Tình hình khám sức khỏe định kỳ hàng tháng của người cao tuổi côđơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 ý nghĩa lý luận và thực tiễn 3

2.1 ý nghĩa lý luận 3

2.2 ý nghĩa thực tiễn 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 khách thể nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Mục đích nghiên cứu 4

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Câu hỏi nghiên cứu 5

6 giả thuyết nghiên cứu 5

7 phương pháp nghiên cứu 6

7.1 Phương pháp thu thập thông tin 6

7.2 Phương pháp can thiệp 7

PHẦN 2: NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1 Các khái niệm liên quan 9

1.1.1 Khái niệm Người cao tuổi 9

1.1.2 Khái niệm Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa 10

1.1.3 Khái niệm vai trò 11

1.1.4 Khái niệm CTXH 11

1.1.5 Khái niệm NV CTXH 13

Trang 4

1.1.6 Khái niệm hỗ trợ 13

1.1.7 Khái niệm chăm sóc người cao tuổi 14

1.1.8 Khái niệm công tác xã hội với người cao tuổi 14

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 14

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 14

1.2.2 Lý thuyết vai trò 16

1.2.3 Lý thuyết hệ thống và sinh thái 17

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 18

1.4 Một số văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề nghiên cứu 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ SỨC KHỎE VÀ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐỒNG LẠC – THỊ XÃ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG 26

2.1 Tổng quan về xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương 26

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26

2.1.2 Đặc điểm kinh tế của cộng đồng 27

2.1.3 Văn hóa, tôn giáo 27

2.1.4 Vấn đề dân số, y tế, giáo dục 28

2.2 Thực trạng về sức khỏe và hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người NCT cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc- thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương 29

2.2.1 Thực trạng về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của NCT cô đơn không nơi nương tựa ở xã Đồng Lạc- thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương 29

2.2.2 Tình trạng Sức khỏe của NCT cô đơn không nơi nương tựa ở xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương 34

2.2.3 Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT cô đơn không nơi nương tựa của xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương 39

Trang 5

2.2.4 Nguyên nhân 42

Chương 3 TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC NHÓM NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NHÓM NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐỒNG LẠC 45

3.1 Tiến trình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ chăm sóc nhóm người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa 45

3.1.1 Thành lập nhóm 45

3.1.2 Khảo sát nhóm 48

3.1.3 Duy trì nhóm 61

3.1.4 Kết thúc nhóm 63

3.2 Vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ chăm sóc cho nhóm NCT cô đơn không nơi nương tựa 65

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Khuyến nghị 69

Trang 6

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới với xu thế hội nhập mới,nhưng bên cạnh những thành tựu của sự nghiệp đổi mới thì nguy cơ một sốgiá trị đạo lý, truyền thống có xu hướng bị lãng quên hoặc thiếu sự quan tâm.Người già cô đơn không nơi nương tựa ít được tôn trọng, quan tâm về mọimặt đời sống vật chất, tinh thần cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác Theo số liệu tổng điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình ngày1/4/2012 của tạp chí DS&PT tại Website Tổng cục DS-KHHGĐ/BBC thì sốngười cao tuổi ngày càng tăng lên Hiện nay cả nước có 7,5 triệu NCT, trong

đó khoảng 200 nghìn người già cô đơn không nơi nương tựa (chiếm khoảng1,15% tổng số NCT) nhưng số người được tiếp nhận vào sống trong các cơ sởBảo trợ xã hội mới chỉ đạt khoảng 3.500 người (chiếm 6,4 % trong tổng sốngười già không nơi nương tựa) Khoảng 70% NCT cô đơn không nơi nươngtựa có hoạt động tạo thu nhập, những hoạt động tạo thu nhập đó tập trung chủyếu là làm nông nghiệp, dịch vụ, buôn bán vặt… Ngoài nguồn thu nhập từhoạt động kinh tế, NCT cô đơn không nơi nương tựa còn có các khoản thunhập khác như: từ trợ giúp xã hội Trong cơ cấu thu nhập: thu từ cộng đồnggiúp đỡ 25,84%, từ hoạt động kinh tế 23,6% và từ trợ cấp xã hội 41,08%…Với thu nhập ít ỏi như vậy, NCT cô đơn không nơi nương tựa chi tiêu rất eohẹp: 1 tháng chi cho ăn hết 130.000 - 150.000 đồng, chi bình quân cho mặc 1tháng 10.000 đồng, chi cho khám chữa bệnh hết 22.000 đồng, chỉ còn khoảng36.000 đồng chi cho tất cả các nhu cầu khác NCT cô đơn không nơi nươngtựa không tự lo liệu được cuộc sống (70%) và không có người chăm sóc khi

ốm đau

Với những số liệu trên ta thấy rằng số NCT cô đơn không nơi nương tựachiếm khá nhiều trong tổng số dân NCT cô đơn không nơi nương tựa có thunhập ít và họ sống chủ yếu dựa vào nguồn trợ cấp xã hội đặc biệt là họ không

Trang 7

tự lo liệu được cuộc sống bởi sức khỏe yếu hay ốm đau NCT có sức đề khángyếu nên họ dễ nhiễm bệnh vì vậy đối với NCT cô đơn không nơi nương tựakhi ốm đau sẽ rất khó khăn trong các hoạt động sinh hoạt thường ngày NCT

cô đơn không nơi nương tựa thường cảm thấy lạc lõng trong cuộc sống vớinhững sự thay đổi không ngờ của công nghệ thông tin, họ không thích ứngkịp với nhịp sống ngày nay vì vậy ở mỗi địa phương nên có một cán bộ côngtác xã hội để giúp họ tự giải quyết khó khăn hòa nhập với những sự thay đổitrong xã hội nhưng hiện nay ít địa phương có cán bộ công tác xã hội điển hình

là xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương

Mặt khác ta thấy rằng trong những năm qua Đảng và Nhà nước cũng đãđưa ra những chính sách dành cho NCT và NCT cô đơn không nơi nương tựanhư Pháp lệnh về NCT ban hành ngày 28/04/2000, luật NCT ban hành23/11/2009,…tuy nhiên những chính sách này đưa ra chưa hiệu quả bởi NCT

cô đơn không nơi nương tựa ít quan tâm đến các chính sách nhà nước đưa ra

mà chính quyền các địa phương ít tuyên truyền các chính sách này Điều nàycho thấy sự cần thiết của nhân viên công tác xã hội tại các địa phương, với vaitrò là nhà giáo dục nhân viên công tác xã hội có thể cung cấp cho NCT cô đơnkhông nơi nương tựa những thông tin cần thiết

NCT cô đơn không nơi nương tựa là một trong những nhóm đối tượng yếuthế cần được sự trợ giúp của xã hội Họ ít được tiếp cận các dịch vụ cần thiết

và cũng ít được thể hiện vai trò của mình Điều đó ảnh hưởng ít nhiều đến đờisống tinh thần của họ vì vậy chúng ta cần có những biện pháp tích cực nhằm

ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT cô đơn không nơi nươngtựa Đây cũng là một trong những chiến lược của quốc gia nhằm chăm sóc tốthơn cho đối tượng NCT cô đơn không nơi nương tựa nói riêng và các đốitượng yếu thế (người nghèo, người khuyết tật,…) nói chung

Xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương là một xã cũng khá pháttriển nhưng kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu việc cung ứng các dịch vụ

Trang 8

y tế còn kém không đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu cho NCT đặc biệt làNCT cô đơn không nơi nương tựa và xã cũng không có cán bộ văn hóa haycán bộ công tác xã hội NCT cô đơn không nơi nương tựa ở đây mỗi thángnhận được tiền trợ cấp xã hội theo quy định của nhà nước và ngoài ra không

có dịch vụ nào khác NCT cô đơn không nơi nương tựa ở trên địa bàn xãĐồng Lạc rất cần sự giúp đỡ của nhân viên công tác xã hội để đối mặt vớinhững khó khăn của sự biến đổi xã hội Hiện nay ở xã có 30 cụ là NCT côđơn không nơi nương tựa và họ đều là những người nghèo rất cần đến sự hỗtrợ của cộng đồng, chính quyền và nhân viên công tác xã hội

Chính vì những lý do trên mà em lựa chọn đề tài “Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương” với mục đích trước hết

là làm cho mọi người hiểu về công tác xã hội hơn sau đó là làm cho họ thấyđược vai trò của công tác xã hội và giúp cho NCT không nơi nương tựa có thể

tự giải quyết vấn đề của mình và mặt khác tìm kiếm nguồn lực hay tìnhnguyện viên sẵn sàng giúp đỡ họ để họ có thể tìm thấy niềm vui trong cuộcsống sau khi nhân viên xã hội không hỗ trợ cho họ nữa

2 ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Lạc, vai trò của công tác xã hội với NCT cô đơn không nơi nương tựa nóichung và NCT cô đơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc nói riêng

Trang 9

2.2 ý nghĩa thực tiễn

Đảng nhà nước ta luôn quan tâm và mong muốn giúp đỡ được cho NCT vàviệc tìm hiểu giải pháp, mô hình giúp đỡ NCT là điều mang ý nghĩa thực tiễnnhất Qua việc nghiên cứu đề tài này giúp mọi người có cái nhìn đúng hơn vềnghề công tác xã hội, thực trạng về cuộc sống NCT cô đơn không nơi nươngtựa Đồng thời từ thực trạng về cuộc sống NCT cô đơn không nơi nương tựatrên địa bàn xã Đồng Lạc đưa ra những khuyến nghị giúp cơ quan chức năngđiều chỉnh bổ sung hoàn thiện chính sách đối với nhóm đối tượng này

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi côđơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh HảiDương.

3.2 khách thể nghiên cứu

Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc –thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương và các tổ chức xã hội cùng với chính quyềnđịa phương

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tiến hành mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng chăm sóc sức khỏe ngườicao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc và tìm ra những khókhăn mà người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa ở đây hay gặp phải; tìmhiểu nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó; tiến hành làm việc với nhómngười cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa cụ thể và đưa ra được hướng canthiệp cho nhóm đối tượng này và làm rõ được vai trò của công tác xã hộitrong trợ giúp cho nhóm đối tượng trên

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng cuộc sống của người cao tuổi cô đơn không nơi nươngtựa trên địa bàn xã Đồng Lạc như thế nào?

- Công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cô đơn không nơinương tựa tại địa bàn như thế nào? Chính quyền địa phương và các tổ chứckhác đã có hoạt động gì để trợ giúp người cao tuổi cô đơn không nơi nươngtựa tại đây ?

- Vai trò của công tác xã hội được thể hiện như thế nào trong việc

hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địabàn xã Đồng Lạc ?

6 giả thuyết nghiên cứu

- Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc cónhiều nhu cầu về tình cảm cần sự giúp đỡ của mọi người và nhân viên côngtác xã hội

- Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạckhông nhận được nhiều sự trợ giúp từ chính quyền địa phương cũng như cộngđồng trong xã Đồng Lạc

- Nhân viên công tác xã hội giúp đỡ họ vượt qua khó khăn thích nghi vớihoàn cảnh và hòa nhập cộng đồng, nâng cao sức khỏe và biết cách chăm sócbản thân

Trang 11

- Nhân viên công tác xã hội có thể giới thiệu và kết nối các dịch vụ chongười cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc nhằmđáp ứng một số nhu cầu cho họ

7 phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập, phân tích tài liệu:

Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu là tổng hợp, tập trung cácnguồn tài liệu có liên quan tới nội dung đang tìm hiểu, trong nghiên cứu tàiliệu, người nghiên cứu thường phải vừa phân tích vừa tổng hợp tài liệu vìnguồn tài liệu cho nghiên cứu rất đa dạng: Tạp chí, báo mạng, thông tin đạichúng Sau khi phân tích phát hiện ra những thiếu sót sai lệch nên lựa chọnnhững tài liệu cần đủ để xây dựng luận cứ cho đề tài và sắp xếp tài liệu chophù hợp

Trên cơ sở thu thập các nguồn tài liệu, thông tin từ sách báo, các trangmạng, các bài viết, bài nghiên cứu em tiến hành phân tích tổng hợp từ tài liệutheo phương pháp chọn lọc làm cơ sở để đánh giá cho bài nghiên cứu củamình

Phương pháp này sử dụng các thông tin định tính nhằm tìm hiểu sâu hơnvấn đề nghiên cứu mà trong phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏikhông thu được, đối với nghiên cứu này tôi sử dụng để thu thập thông tin và

Trang 12

số lượng người trong phỏng vấn là 10 người bao gồm những người hàng xómgần nhà với người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa, đại diện của tổ chứcliên quan như hội người cao tuổi.

Thảo luận nhóm tập trung:

Sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin từ nhóm thông qua họp

nhóm Đối với phương pháp này tôi tập trung vào 2 nhóm là nhóm người caotuổi cô đơn không nơi nương tựa và nhóm tình nguyện viên trợ giúp họ

Phương pháp quan sát:

Phương pháp này được vận dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề

tài Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin xã hội được sửdụng rộng rãi trong nghiên cứu xã hội học, đây là phương pháp rất cơ bản và

quan trọng trong nghiên cứu Quan sát là phương pháp nghiên cứu bằng tri giác

trực tiếp và ghi chép mọi nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu mộtcách có hệ thống Quan sát rất phù hợp với những vấn đề nghiên cứu mang tínhchất mô tả, những sự kiện, diễn biến bề mặt Dựa vào đó khái quát cái bên trong,cái bản chất và sự kiện và tìm ra mối quan hệ giữa chúng với nhau

Áp dụng phương pháp này vào trong đề tài nghiên cứu giúp em có những ghichép đầy đủ về nhóm thân chủ

7.2 Phương pháp can thiệp

Đối với đề tài này tôi sẽ kết hợp cả phương pháp công tác xã hội nhóm và công tác xã hội cá nhân

Phương pháp công tác xã hội nhóm: là phương pháp nhằm giúp tăng

cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm

và khả năng ứng phó với các vấn đề cá nhân phát sinh, có nghĩa là: ứng dụngnhững kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc năng động nhóm),nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề,

Trang 13

các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợthân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằmgiúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua cáckinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình vàthỏa mãn nhu cầu

Áp dụng phương pháp này nhằm can thiệp trực tiếp đến nhóm người caotuổi cô đơn không nơi nương tựa sử dụng tiến trình sinh hoạt nhóm giúp chocác thành viên tương tác lẫn nhau, chia sẻ tâm tư với nhau tạo ra sự thay đổithái độ, hành vi và tăng cường khả năng giải quyết vấn đề và thỏa mãn nhucầu của các thành viên trong nhóm

Phương pháp công tác xã hội cá nhân:

Là phương pháp can thiệp của công tác xã hội để giúp một cá nhân yếu

thế thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất tinh thần, chữa trị vàphục hồi sự vận hành các chức năng xã hội của họ giúp họ tự nhận thức,mong muốn và tự giải quyết vấn đề bằng khả năng của chính mình Đây làphương pháp cơ bản của ngành CTXH với mục đích giúp cho thân chủ có thể

tự mình giải quyết được vấn đề khó khăn của bản thân và để thân chủ có thểlàm được như thế thì nhân viên CTXH phải có kĩ năng nghề và kiến thức thựchành

Áp dụng phương pháp này để can thiệp đến từng cá nhân trong nhóm đểhiểu rõ hơn từng thành viên và giải quyết vấn đề triệt để hơn Đồng thời kếthợp với một số kĩ năng như kĩ năng vãng gia, kĩ năng giao tiếp để có thể nắmbắt rõ tình hình của các thành viên và duy trì làm việc nhóm tốt hơn

Trang 14

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm Người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Trước đây, người

ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay

“người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuykhông khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuậtngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắnliền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể (nguồn: giáo trình “công tác

xã hội với người cao tuổi” PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa, Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012, tr.3)

Theo luật người cao tuổi việt nam ban hành vào 23/11/2009 tại kì họpthứ VI của quốc hội thống nhất rằng người cao tuổi là những người công dânViệt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên

Hiện nay ở Việt Nam, theo quy định chung người cao tuổi là nhữngngười từ 60 tuổi trở lên Pháp lệnh về người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụQuốc hội ngày 28/04/2000 quy định: Người cao tuổi theo quy định của Pháplệnh này là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trởlên

Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên (nguồn: giáo trình

“công tác xã hội với người cao tuổi” PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa, TrườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012, tr.3).Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi

là những người từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do

sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đókhác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ

Trang 15

và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Do đó, các biểu hiện của tuổigià thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũngkhác nhau (nguồn: giáo trình “công tác xã hội với người cao tuổi” PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Hoa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đạihọc Quốc Gia Hà Nội, 2012, tr.3)

Để đánh giá đúng được thực trạng của người cao tuổi cô đơn không nơinương tựa và có cái nhìn đúng đắn hơn trong nghiên cứu này thì ta phải dựavào quan điểm luật pháp đã ban hành năm 2009 và có thể hiểu người cao tuổi

là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên

1.1.2 Khái niệm Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa

Theo nghị định số 07/2000/NĐ - CP ngày 9/3/2000 của chính phủ vềchính sách cứu trợ xã hội quy đinh: NCT cô đơn không nơi nương tựa lànhững người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân, người già còn vợ hoặc chồngnhưng già yếu, không có con cháu, người thân thích để nương tựa, không cónguồn thu nhập Trường hợp là phụ nữ cô đơn không nơi nương tựa không cónguồn thu nhập từ đủ 55 tuổi trở lên hiện nay được hưởng trợ cấp cứu trợ xãhội vẫn tiếp tục được hưởng

NCT cô đơn không nơi nương tựa được xác định là những người không

có gia đình, hoặc đã mất liên lạc với gia đình, người thân không còn chỗ đểnương nhờ chăm sóc, hỗ trợ mà phải tự kiếm sống để nuôi bản thân Nhữngngười này có thể sống bên ngoài xã hội, có hoặc không có chỗ ăn ở cố địnhhay được tập trung nuôi dưỡng ở trong các trung tâm bảo trợ xã hội

Như vậy có thể khái quát chung đặc trưng của NCT cô đơn không nơinương tựa được nghiên cứu trong đề tài như sau: người cao tuổi cô đơn khôngnơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân, không có gia đìnhhoặc đã mất liên lạc với gia đình, không có nguồn thu nhập hoặc thu nhậpthấp, có chỗ ở cố định hoặc sống ngoài xã hội hoặc trong trung tâm bảo trợ xãhội

Trang 16

1.1.3 Khái niệm vai trò

Vai trò được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt thường là tính từ chỉtính chất của sự vật, sự việc hiện tượng dùng để nói về vị trí chức năng,nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bốicảnh và mối quan hệ nào đó Ví dụ : Vai trò của Đảng đối với sự phát triểnđất nước, vai trò của tác phẩm văn học nào đó đối với sự nghiệp sáng tác vănhọc của tác giả (nguồn:www.từ-điển.com)

Theo Robertsons vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyềnlợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định Mỗi cá nhân có

hội Vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xãhội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hộikhác mà quy định nên Mỗi cá nhân tuỳ theo vai trò của mình mà có cách ứng

xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảmtrách Vai trò của cá nhân được xác định bằng cách trả lời câu hỏi: người đóphải làm gì? (nguồn: http://vi.m.wikipedia.org)

Đối với đề tài này có thể hiểu vai trò như định nghĩa ở từ điển tiếng việtđược nêu ở trên

1.1.4 Khái niệm CTXH

Theo Joanf Robertson- chủ nhiệm khoa CTXH trường ĐH Wisconsin,Hoa Kỳ: CTXH là một quá trình giải quyết các vấn đề hợp lý nhằm thay đổitheo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở các cấp độ cá nhân, gia đình,nhóm, cộng đồng và chính sách xã hội (nguồn: giáo trình “nhập môn công tác

xã hội”, Lê Văn Phú, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại họcQuốc Gia Hà Nội, 3/2008, tr.28)

Theo Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia (NASAW): CTXH là nhữnghoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộngđồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong

Trang 17

xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đíchcủa cá nhân (nguồn: giáo trình “nhập môn công tác xã hội”, Lê Văn Phú,trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội,3/2008, tr.28).

Theo liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế- IFSW (đưa ra tại Đại hộiMontreal-tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hộiviệc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyềnlực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoảimái dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội,CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề (nguồn:giáo trình “nhập môn công tác xã hội”, Lê Văn Phú, trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 3/2008, tr.28)

Theo Nguyễn Thị Oanh (Đại học mở bán công TP HCM): CTXH là hoạtđộng thực tiễn mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc vàphương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giảiquyết các vấn đề đời sống của họ, qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúclợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội CTXH là hoạt động thực tiễn bởi

họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng với nhóm người cụ thể và mang tínhtổng hợp cao, bởi người làm CTXH phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhaunhư: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình CTXH không giảiquyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đềthiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người Đó là an sinh xã hội hayphúc lợi xã hội đồng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thểcủa họ nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển chocộng đồng, xã hội (nguồn: giáo trình “nhập môn công tác xã hội”, Lê VănPhú, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội,3/2008, tr.28)

Trang 18

Nói chung CTXH được hiểu như sau: CTXH là một ngành khoa học, mộtnghề chuyên môn vận dụng những kiến thức, kĩ năng, tay nghề để hỗ trợ chothân chủ (cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng yếu thế) nhằm khôi phục, tăngcường, phát triển các chức năng xã hội cho thân chủ thông qua các hoạt động

xã hội đặc thù tác động vào các mối quan hệ xã hội của đối tượng tạo nên sựtương tác giữa con người và môi trường xung quanh

Dù được hiểu theo nghĩa nào thì CTXH cũng được hiểu là một hoạt độngmang tính chất tổng hợp cao, là ngành khoa học có tính chất liên ngành vớinhiều chức năng, CTXH có phương pháp linh hoạt và tuân thủ theo nhữngquy điều đạo đức riêng

1.1.5 Khái niệm NV CTXH

Nhân viên CTXH là người được đào tạo một cách chuyên nghiệp vềCTXH có bằng cấp chuyên môn Đó là những người có khả năng phân tíchvấn đề xã hội, có khả năng làm việc độc lập hoặc theo nhóm để giúp đỡ thânchủ của mình vượt qua khó khăn, tự mình vươn lên trong cuộc sống (nguồn:giáo trình “nhập môn công tác xã hội”, Lê Văn Phú, trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội,3/2008, tr.66)

Đối với đề tài này NV CTXH cũng được hiểu theo nghĩa trên và đặc biệt lànhân viên công tác xã hội ở đây phải biết kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết vàthực tiễn, biết áp dụng các phương pháp, kĩ năng chuyên môn vào thực hànhnghiên cứu

1.1.6 Khái niệm hỗ trợ

Hỗ trợ có thể được hiểu như là những biện pháp chuyên dụng nhằm duytrì những điều kiện đủ để tồn tại cho các đối tượng yếu thế trong hoạt độngđời sống của mình Trong hệ thống công tác xã hội, hỗ trợ không chỉ là hoạtđộng nhất thời mà là hoạt động thường xuyên mang tính kế hoạch với ý nghĩađáp ứng một phần các yêu cầu của đối tượng CTXH (nguồn: giáo trình “nhập

Trang 19

môn công tác xã hội”, Lê Văn Phú, trường Đại học Khoa học xã hội và nhânvăn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 3/2008, tr.63).

Trong đề tài này khái niệm hỗ trợ cũng có thể được hiểu như trên

1.1.7 Khái niệm chăm sóc người cao tuổi

Chăm sóc là hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phụchồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoái mái

về vật chất và tinh thần cho cá nhân (nguồn: bài giảng: công tác xã hội vớingười cao tuổi, GV Nguyễn Thị Phương Mai, Trường Đại học Công Đoàn) Chăm sóc người cao tuổi là hoạt động tổ chức chăm sóc sức khỏe đờisống vật chất và tinh thần cho nhóm người cao tuổi trong xã hội đảm bảo cho

họ những quyền lợi cơ bản như quyền được nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tiếpcận các dịch vụ y tế, văn hóa, xã hội có môi trường sống tốt đẹp trong giađình và xã hội (nguồn: bài giảng: công tác xã hội với người cao tuổi, GV.Nguyễn Thị Phương Mai, Trường Đại học Công Đoàn)

1.1.8 Khái niệm công tác xã hội với người cao tuổi.

Là một phương pháp giúp cho từng đối tượng người cao tuổi cụ thể thôngqua quan hệ tương tác giữa nhân viên xã hội với người cao tuổi từ đó trợ giúpđối tượng trong quá trình trị liệu (nguồn: bài giảng: công tác xã hội với ngườicao tuổi, GV Nguyễn Thị Phương Mai, Trường Đại học Công Đoàn)

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Nhu cầu là hiện tượng tâm lý của con người: Là đòi hỏi mong muốn,nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.Tuỳ theo mức độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý,mỗi người cũng có những nhu cầu khác nhau

Đối với con người, để đảm bảo cho sự sống, sự phát triển cả về thể chất

và tinh thần đòi hỏi phải đủ các yếu tố cần thiết Điều đó cũng có nghĩa là cácnhu cầu cơ bản của con người cần được đáp ứng Theo quan niệm của Mác

Trang 20

“nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhấtđịnh, đảm bảo cho sự sống và phát triển của mình ” Nếu nhu cầu được thỏamãn sẽ đem lại những yếu tố tích cực cho sự phát triển con người (trích từ:giáo trình “nhập môn công tác xã hội”, Lê Văn Phú, trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 3/2008, tr.63)

Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhậnđược, nhu cầu của cá nhân là đa dạng và vô tận, nó là yếu tố thúc đẩy conngười hoạt động, nó chi phối con người Nhu cầu của con người là không ổnđịnh luôn luôn biến đổi theo quy luật, nhu cầu của con người không bao giờđược thoả mãn cùng một lúc bởi ham muốn của con người là không giới hạn

Lý thuyết nhu cầu đáp ứng cho con người tồn tại và phát triển như: nhucầu muốn được tôn trọng và nhu cầu muốn thể hiện bản thân

Maslow chia nhu cầu thành 5 loại theo thứ tự bậc thang:

- nhu cầu vật chất: thức ăn, không khí, nước uống,…

- nhu cầu được an toàn: là nhu cầu tự duy trì và chuẩn bị cho tương lai vữngchắc, ổn định về thu nhập, việc làm,…

- nhu cầu xã hội: được hội nhập, thuộc vào nhóm nào đó,…

- nhu cầu tự khẳng định chính mình: nhu cầu hoàn thiện, được thể hiện khảnăng của mình

- được coi trọng: được chấp nhận có một vị trí trong xã hội, được đánh giácao

phân biệt các loại nhu cầu xã hội của con người trong từng điều kiện, hoàncảnh nhất định, thấy được mối quan hệ nhu cầu xã hội của con người cũng làmục đích của nghề CTXH

Áp dụng lý thuyết nhu cầu vào trong đề tài nghiên cứu để nhìn nhận,đánh giá nhu cầu của nhóm người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trênđịa bàn xã Đồng Lạc, trong đó chủ yếu nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc vànâng cao sức khỏe và ngoài ra là nhu cầu vật chất và nhu cầu được an toàn,

Trang 21

nhu cầu được coi trọng, chấp nhận trong xã hội của nhóm người cao tuổi côđơn không nơi nương tựa ở xã Đồng Lạc để từ đó đưa ra hướng trợ giúp phùhợp cho nhóm đối tượng này, phân tích xem nguyên nhân dẫn đến những nhucầu này không được đáp ứng, những nhu cầu đó đã được thực hiện như thếnào và cho thấy được vai trò của công tác xã hội trong việc giúp đỡ đáp ứngnhu cầu của nhóm đối tượng

1.2.2 Lý thuyết vai trò

Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗichức vị của con người trong xã hội đó Có hai loại vai trò khác nhau: vai tròhiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người đều có thể thấyđược Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính ngườiđóng vai trò đó cũng không biết Vì một người có thể có nhiều vai trò khácnhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình

Tuấn).

Trong thực hành CTXH người ta xem xét vai trò ở những khía cạnh đó là: Mong đợi vai trò: đây là cách xã hội quy định về vai trò, về mong đợi màvai trò đó thực hiện

Thể hiện vai trò: Cách con người thể hiện vai trò của mình như thế nào

Ý thức vai trò: đó là những suy nghĩ của bản thân về những gì mà ngườikhác mong đợi ở họ

Áp lực vai trò: khi cá nhân phải thực hiện vai trò của mình và vai trò củangười khác cùng một lúc thì cá nhân đó có thể thích nghi hoặc không thểthích nghi để có thể thực hiện được cả hai vai trò đó

Vai trò thể hiện những mong đợi xã hội gắn với những vị thế cụ thể vàphân tích thực hiện những mong đợi Mỗi cá nhân có một loại vai trò đượcđem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà chủ thể đó tạo giữ Trongtiến trình cuộc đời của mỗi cá nhân thực hiện một số vai trò khác nhau lần

Trang 22

lượt hoặc đồng thời và tổng hợp tất cả các vai trò trong xã hội của chủ thể đóđược thực hiện từ khi chủ thể đó được sinh ra cho tới lúc chết đi, tại thànhnhân cách xã hội của chủ thể đó (theo Ralph Linton)

Vai trò của nhân viên CTXH ở đây là giúp nhóm người cao tuổi cô đơnkhông nơi nương tựa thấy được những vai trò khác nhau họ có thể đóng tùytheo hoàn cảnh cá nhân và tài nguyên có thể huy động được

Áp dụng lý thuyết này nhằm tìm hiểu vai trò của nhân viên công tác xãhội trong trợ giúp chăm sóc nhóm người cao tuổi cô đơn không nơi nươngtựa trên địa bàn xã Đồng Lạc hay là hoạt động trợ giúp nhóm đối tượng trên

cơ sở mong đợi của nhân viên công tác xã hội và nhóm đối tượng

1.2.3 Lý thuyết hệ thống và sinh thái

Hệ thống là tập hợp các bộ phận, các quá trình có mối quan hệ tác động qualại với nhau và được sắp xếp theo một trật tự nhất định Mỗi hệ thống sẽ nằmtrong một hệ thống khác và đồng thời cũng có thể chia thành nhiều hệ thốngkhác nhỏ hơn Nó luôn có sự liên kết và mâu thuẫn với nhau

Sinh thái có nghĩa là môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môitrường xã hội Mỗi cá nhân, nhóm, cộng đồng đều gắn liền và chịu sự tácđộng của môi trường này trong quá trình tồn tại và phát triển

Hệ thống sinh thái là tổng hợp của tất cả các hệ thống tồn tại, tác động lẫnnhau trong môi trường Nó không chỉ là hệ thống của một người mà là củatổng hòa tất cả các hệ thống cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng

Đây là lý thuyết cho thấy hệ thống là một tổng thể phức tạp gồm nhiềuyếu tố liên quan Mỗi cá nhân trong xã hội thuộc vào môi trường, hoàn cảnhsống và tạo thành một thể thống nhất, chịu sự tác động của hệ thống khác nằmtrong đại hệ thống Trong hệ thống ấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng, chi phốiđến hành vi của con người

Trang 23

Lý thuyết này cho ta thấy sự liên hệ giữa các hệ thống, vai trò của cá nhântrong môi trường sống Trong mỗi môi trường sinh thái các yếu tố có mối liên

hệ ràng buộc với nhau và để hiểu được một yếu tố nào đó trong môi trườngphải hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh cá nhân đó Vận dụng lý thuyếtnày để nghiên cứu tìm hiểu thân chủ không phải là yếu tố riêng biệt mà nằmtrong hệ thống có sự tương tác qua lại với nhau từ đó mới có giải pháp phùhợp cho thân chủ, tất cả các vấn đề của thân chủ được nhìn nhận một cáchtổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác Vì vậy vận dụng lý thuyếtnày trong đề tài nghiên cứu để phân tích, xem xét những khó khăn mà thânchủ, nhóm thân chủ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày một cách tổng thểtrong mối quan hệ với các yếu tố kinh tế xã hội của địa phương đồng thời tìmhiểu hệ thống trợ giúp đối với nhóm đối tượng trên địa bàn xã Đồng Lạc từ đóđánh giá hiệu quả của công tác xã hội trong trợ giúp nhóm đối tượng trên địabàn xã Đồng Lạc

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đề tài về người cao tuổi là đề tài mà nhiều người quan tâm tính đến nay cũng đã có khá nhiều bài viết về người cao tuổi Dưới đây là một số bài tiêu biểu:

Tiến sĩ Hoàng Mộc Lan Khoa Tâm lý học Trường Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn, “Đời sống tinh thần của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay ,”, lib.ussh.vnu.edu.vn, 2007

B i viài vi ết đề cập đến nhu cầu của người cao tuổi, hoạt động lao động đểkiếm sống của họ và mối quan hệ xã hội của người cao tuổi Bài viết nêu lênnhu cầu của người cao tuổi như sau: “Nhu cầu được làm việc, tiếp tục cốnghiến cho gia đình và xã hội phù hợp với sức khỏe và điều kiện của từng ngườicao tuổi cũng là một yêu cầu của các vị cao niên Đến hết tuổi lao động thìhưởng chế độ nghỉ hưu song nhiều người cao tuổi vẫn có nhu cầu làm việc để

có thêm thu nhập, để được sống có ích, ngoài việc tự mỗi người phấn đấu để

Trang 24

có sự cống hiến, nhiều vị cao niên vẫn muốn được gia đình và xã hội quantâm giải quyết và tạo điều kiện thuận lợi”.

( nguồn: lib.ussh.vnu.edu.vn,[ tr 1] )

Bên cạnh đó tác giả còn điều tra đưa ra số liệu về nhu cầu được chăm sócsức khỏe người cao tuổi như sau: “ Nhiều cuộc điều tra cho thấy, có tới 95%các cụ cao tuổi có bệnh và có nhu cầu chữa bệnh, nhưng nhu cầu này chưađược đáp ứng Hiện nay chỉ có nhóm người về hưu được khám chữa bệnh tốthơn các nhóm khác, nhờ Nhà nước bỏ tiền để mua bảo hiểm y tế cho họ Gầnđây nhóm người già cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi nghèo ở một

số địa phương được cấp phát thẻ khám và chữa bệnh miễn phí hoặc thẻ bảohiểm y tế Nhìn chung số người cao tuổi được hưởng chế độ này còn rất ít vàhiệu quả của việc khám, chữa bệnh cho người cao tuổi rất hạn chế Tuy sứckhỏe của người cao tuổi những năm gần đây có khá hơn trước nhưng hiện tạisức khỏe người cao tuổi vẫn còn rất kém Số người sức khỏe khá tốt mới có5,7% và kém còn tới 22,9%.”

( nguồn: lib.ussh.vnu.edu.vn, [ tr 2] )

Từ những nội dung mà tác giả đưa ra ở trên ta có thể áp dụng vào đề tàinghiên cứu của mình để đi sâu nghiên cứu về nhu cầu của thân chủ dựa trênnhững nhu cầu mà tác giả đã nêu như nhu cầu về thu nhập, nhu cầu về chămsóc sức khỏe, nhu cầu được quan tâm và tôn trọng và từ đó có thể tìm thấygiải pháp phù hợp đáp ứng nhu cầu của thân chủ Đối với đề tài của mìnhkhông những nghiên cứu về nhu cầu mà tôi sẽ nghiên cứu về yếu tố tác độngđến nhu cầu của nhóm thân chủ

Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh, Dương Huy Lương, Khương Anh Tuấn và cộng sự Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, “Nghiên cứu đánh giá tình hình Chăm Sóc Sức Khỏe người cao tuổi ở Việt Nam”, www.hspi.org.vn, Ngày 28/06/2007.

Trang 25

Bài viết này đi sâu đánh giá tình hình sức khỏe của người cao tuổi vàtình hình sử dụng dịch vụ y tế và chăm sóc cho người cao tuổi như: “Tỷ lệ ốmcủa nhóm người cao tuổi cao hơn các nhóm tuổi khác Phụ nữ cao tuổi có tỷ

lệ mắc bệnh cao hơn nam giới Theo kết quả nghiên cứu điều tra tại 3 tỉnh vàmột số nghiên cứu khác, khoảng 60% người cao tuổi bị ốm trong thời gian 4tuần trước thời điểm điều tra Hơn một nửa (53,5%) số người cao tuổi trên địabàn nghiên cứu tự đánh giá có tình trạng sức khoẻ kém và rất kém Tuổi làmột yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng sức khỏe Tình trạngngười cao tuổi tự đánh giá sức khỏe kém tăng lên rõ rệt theo tuổi và tỷ lệ ốmtăng dần theo nhóm tuổi

Khoảng 70% số người cao tuổi được điều tra tại 3 tỉnh cho biết có mắctriệu chứng/bệnh mạn tính Triệu chứng/bệnh mạn tính thường gặp ở ngườicao tuổi là đau khớp (42%), tăng huyết áp (28%), đau lưng (21%) và bệnh vềmắt (25%) Bệnh không nhiễm trùng có xu hướng trở nên phổ biến ở khu vựcnông thôn Tăng huyếp áp mạn tính là bệnh thường gặp ở người cao tuổi(28,4%)

Về nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, số điểm trầm cảm ở người cao tuổi cómối liên quan chặt chẽ với tình trạng sức khỏe, tình trạng sống độc thân dogóa bụa và tình trạng kinh tế Khoảng 5% người cao tuổi trong diện điều tra

có biểu hiện của trầm cảm

Đối với ốm cấp tính, hình thức tự điều trị và sử dụng dịch vụ y tế tưnhân vẫn là hai hình thức phổ biến trong sử dụng dịch vụ y tế của người caotuổi Chỉ khoảng 40% người cao tuổi sử dụng dịch vụ y tế nhà nước khi bị

ốm Những người trên 85 tuổi có tỷ lệ sử dụng dịch vụ bệnh viện thấp hơn 2lần so với nhóm tuổi từ 60-64 do khả năng đi lại hạn chế Tại 3 tỉnh nghiêncứu, người cao tuổi ở 2 tỉnh Hải Dương và Ninh Thuận có xu hướng tự điềutrị và sử dụng dịch vụ y tế tư nhân cao hơn tỉnh Vĩnh Long

Trang 26

Đối với bệnh mạn tính, đến cơ sở y tế nhà nước để chẩn đoán bệnh làhình thức phổ biến ở cả 3 tỉnh điều tra Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi tự chẩnđoán bệnh cũng tương đối cao, chiếm khoảng 27% Sử dụng dịch vụ y tế tưnhân trong điều trị bệnh mạn tính là hình thức phổ biến ở cả 3 tỉnh Phụ nữcao tuổi có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế tư nhân với tỷ lệ cao hơn nam giới,trong khi nam giới cao tuổi lại sử dụng dịch vụ bệnh viện với tỷ lệ cao hơn ” ( nguồn: www.hspi.org.vn, [ tr 7] ).

Từ bài viết trên tác giả đã cho thấy tình hình sức khỏe hiện nay của NCTnhư thế nào và qua đó ta có thể hiểu được nhiều hơn về các bệnh mà NCTthường gặp và nguyên nhân mắc bệnh cũng như là tại sao họ không tiếp cậnđược với dịch vụ y tế tốt Đối với đề tài của mình tôi đi sâu vào nghiên cứuthực trạng chăm sóc sức khỏe NCT cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn

xã Đồng Lạc

Những bài viết trên đã cho ta thấy hiểu hơn về NCT và càng hiểu sâu sắc

về tâm lý của NCT, quan hệ gia đình sẽ tác động nhiều đến tâm lý và sứckhỏe của họ Cuộc sống của NCT sẽ khó khăn hơn bởi vấn đề sức khỏe thểchất

Mới đây tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình đã xây dựng và triển khaithí điểm đề án tư vấn và chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng ở 7 tỉnh thành cho

ta thấy được để chăm sóc sức khỏe NCT được tốt thì trước tiên phải có sự tưvấn tốt, phải giải thích được cho họ thấy những gì cần lưu ý đối với sức khỏecủa mình

Từ những đề tài này ta có thể biết nhiều hơn về NCT từ đó học hỏi và pháthuy đối với đề tài nghiên cứu của mình đưa ra có cái nhìn mới về NCT đặcbiệt là NCT cô đơn không nơi nương tựa và thể hiện tốt hơn vai trò của nhânviên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc NCT cô đơn không nơi nươngtựa

Trang 27

1.4 Một số văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề nghiên cứu

a Những chủ trương của Đảng

Đảng và nhà nước ta luôn tiếp thu quan điểm của Bác Hồ về NCT.

Trong Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” Điều này thể hiện tính nhân

văn nhằm giúp đỡ những NCT không còn sức lao động và họ có quyền đượcgiúp đỡ

Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…”

Điều này tức là người già hay còn gọi là NCT là một trong những đốitượng cần được giúp đỡ và cần mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khỏe

và cứu trợ xã hội cho đối tượng này

Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”.

Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”

Điều này cũng giống với điều luật trên cho rằng người cao tuổi có quyềnđược trợ giúp

Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư TW

đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định:

“Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của NCT là trách nhiệm củaĐảng, Nhà nước và toàn xã hội Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng,các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phốihợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, pháthuy NCT phục vụ công cuộc đổi mới Nhà nước cần dành ngân sách để giải

quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc NCT Trước hết cần

quan tâm chăm sóc những NCT có công, cô đơn không nơi nương tựa,…”

Trang 28

Thông báo số 12-TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 đã khẳng định HộiNCT Việt Nam là tổ chức xã hội của NCT, có các nhiệm vụ đã được quy định

cụ thể tại Pháp lệnh NCT; Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngàyquốc tế NCT (01/10/2002) do TW Hội NCT Việt Nam tổ chức tại Hà Nội,

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “…NCT thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy”…

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa…”.

Như vậy, từ Chỉ thị 59/CT-TW, các văn kiện Đại hội Đảng và Thôngbáo số 12-TB/TW của Ban Bí thư TW Đảng đều khẳng định: NCT là nền tảngcủa gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội

Vì thế, chăm sóc và phát huy tốt vai trò NCT là thể hiện bản chất tốt đẹp củachế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kếttoàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh

b Luật pháp của Nhà nước

Một số văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến NCT:

Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định:“Con có nghĩa vụ

và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”.

Theo điều khoản này cho thấy con cái phải có nghĩa vụ chăm sóc ông bà,cha mẹ vậy trong trường hợp người cao tuổi có con cái vẫn còn mà khôngchăm sóc, bỏ rơi cha mẹ thì phải quy trách nhiệm cho những người con đó

Trang 29

Luật Bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng: Bảo

vệ sức khoẻ NCT … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định: “NCT

… được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”

Theo điều này thì NCT xứng đáng được nhận quyền lợi về dịch vụ y tế

và phải được ưu tiên

Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ người lao động cao tuổi, không được sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ”.

Luật NCT được ban hành ngày 23 tháng 11 năm 2009 trong đó quy địnhquyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của người cao tuổi Nghị định

số 06/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT ban hành ngày 23tháng 11 năm 2009

Số 1781/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2012 của thủ tướng chính phủ

về Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn

2012 – 2020 trong đó đưa ra một số hoạt động có ích cho NCT

Nghị định 67/2007/ NĐ- CP ngày 13/3/2007 quy định: “NCT cô đơnkhông nơi nương tựa không có nguồn thu nhập được hưởng trợ cấp xã hộihàng tháng tại cộng đồng được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội củanhà nước, ngoài ra người được nuôi dưỡng tại nhà bảo trợ xã hội được hưởngtrợ cấp về tư trang, vật dụng phục vụ sinh hoạt hàng ngày, thuốc chữa bệnhthông thường và mai tang phí khi chết NCT từ 85 tuổi trở nên không cólương hưu, không có nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống thì được xem xéthưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng”

Trang 30

Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/ 2004/TT - BYT hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ NCT trong đó quy định: NCT được

chăm sóc sức khoẻ, được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được chămsóc sức khoẻ ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế… Tổchức mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc sức khoẻ cho NCT tại nhà Trạm y

tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý sức khoẻ và thực hiện chăm sócsức khoẻ ban đầu cho NCT tại địa phương Trường hợp NCT cô đơn khôngnơi nương tựa bị ốm đau nhưng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy địnhthì trưởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở củangười cao tuổi hoặc báo cáo Uỷ ban nhân dân địa phương tổ chức đưa ngườibệnh đến cơ sở khám, chữa bệnh… thực hiện việc ưu tiên khám trước chongười bệnh cao tuổi (Sau trường hợp cấp cứu), phát triển các phương phápchữa bệnh không dùng thuốc nhất là ở tuyến y tế cơ sở đối với người bệnhcao tuổi

NCT từ 90 tuổi trở lên được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế theo quy địnhtại Thông tư số 24/2003 ngày 6/11/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội hướng dẫn thi hành Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20/10/2003của Chính phủ

Nghị định 67/CP, năm 2007 của Chính phủ “Về chính sách trợ giúp cácđối tượng bảo trợ xã hội”, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lênkhông có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000 đồng/tháng

Từ những điều luật này ta thấy được quyền và trách nhiệm của NCT nóichung và NCT cô đơn không nơi nương tựa nói riêng để có thể tư vấn cho họ

và kết nối cho họ với những dịch vụ mà họ xứng đáng được nhận

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ SỨC KHỎE VÀ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐỒNG LẠC – THỊ XÃ CHÍ LINH –

TỈNH HẢI DƯƠNG 2.1 Tổng quan về xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương

Xã Đồng Lạc có đường quốc lộ 183 chạy qua, phía Bắc nối với đườngquốc lộ 18 tại thị trấn Sao Đỏ, phía Nam nối với quốc lộ số 5 tại Tiền Trungcủa huyện Nam Sách Với hệ thống đường bộ, đường thủy như vậy, Đồng Lạcgiao lưu với các xã trong huyện, các huyện trong và ngoài tỉnh rất thuận lợi.Với những đặc điểm trên Đồng Lạc là một địa bàn có ý nghĩa quan trọng cả

về chính trị, kinh tế, quân sự

+ Khí hậu: Xã Đồng Lạc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa

rõ rệt, mùa khô hanh lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng

Trang 32

4 đến tháng 9 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm 23°C; Tháng có nhiệt độthấp nhất là tháng 1 và tháng 2 (khoảng 10-12°C); Tháng có nhiệt độ cao nhất

là tháng 6 và tháng 7 (khoảng 37-38°C)

Lượng mưa trung bình hàng năm 1.463 mm, tổng tích ôn khoảng 8.2000, độ

ẩm tương đối trung bình là 81,6% Mùa đông khí hậu rất lạnh do không khílạnh tràn về từ phía đông tiếp giáp với huyện đảo Vân Đồn, thành phố CẩmPhả tỉnh Quảng Ninh Chính vì khí hậu như vậy nên người cao tuổi ở đây haymắc bệnh về phổi và đau khớp

2.1.2 Đặc điểm kinh tế của cộng đồng

Kinh tế chủ yếu phát triển nông nghiệp Đây là một xã thuần nông, nôngnghiệp là ngành chủ đạo chiếm 80% còn lại là tiểu thủ công nghiệp và dịch

vụ Trong xã phát triển dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ cưới hỏi, tang lễ Nghềchăn nuôi chủ yếu là nuôi vịt, gà, lợn, trâu, bò Số lượng vịt và bò là nhiềunhất vì có thể tận dụng thức ăn tự nhiên và giá trị kinh tế cũng khá cao Xãcũng đã ứng dụng công nghệ kĩ thuật như máy cấy, máy gặt, máy tưới trongtrồng trọt nhưng không được rộng rãi, phổ biến Sản xuât quy mô nhỏ Tổnggiá trị về các ngành nông nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp, Dịch vụ Thương mạiước đạt 293.128.972.000 đồng năm 2014 Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp24,82%; tiểu thủ công nghiệp 2,8%; dịch vụ thương mại 72,38%

Mức thu nhập bình quân hằng năm: 2500.000vnđ/người/tháng

Với nền kinh tế không mấy phát triển như vậy sẽ ảnh hưởng đến công tácchăm sóc sức khỏe người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn

xã Đồng Lạc

2.1.3 Văn hóa, tôn giáo.

Những giá trị truyền thống tôn sư trọng đạo vẫn được người dân ở đây kếthừa và phát huy từ bao đời, người già trong xã được mọi người kính trọng, lễ

Trang 33

phép Hàng năm, xã thường tổ chức các dịp lễ mừng thọ cho những người caotuổi.

Văn hóa ở xã vẫn luôn được duy trì và thực hiện nếp sống văn minh kể từviệc cưới, việc tang, cộng đồng vẫn luôn giữ vững danh hiệu Làng văn hóa,gia đình văn hóa, thường xuyên tổ chức công tác kiểm tra vệ sinh môi trường,vấn đề rác thải, nạo vét kênh mương, dẫn nước Bên cạnh đó còn có các hoạtđộng bổ ích cho người dân với các hoạt động thể dục - thể thao, văn hóa vănnghệ, sinh hoạt, các câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ ở các thôn được duy trì Phong tục tập quán của cộng đồng không có điều nổi bật mà diễn ra nhưbình thường như: trong nhà có bàn thờ tổ tiên, gia tiên của gia đình…tínngưỡng thờ cúng tổ tiên là một trong những nét văn hóa đặc trưng Nhữngnếp sống không phù hợp với sự phát triển của thời đại đều bị loại bỏ Ngàynay, xã đang phát huy thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang;

tổ chức cho nhân dân tham gia đăng kí thực hiện quy chế đạt 100%, các khudân cư thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa ở khu dân cư” công tác thông tin tuyên truyền: duy trì đều đặn cácchương trình phát thanh, thực hiện tốt việc tiếp âm đài trung ương và đài địaphương

2.1.4 Vấn đề dân số, y tế, giáo dục.

- Về dân số: Tổng dân số là 7330 người, mật độ là 652 người/km, có 2069

hộ, 7051 khẩu, trong đó nam có 3407 người, nữ là 3736 người

- Về vấn đề y tế: xã luôn quan tâm và thực hiện tốt công tác phòng, chốngdịch bệnh, công tác khám và chữa bệnh, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản,công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân và kế hoạch hóa gia đình.Thường xuyên tuyên truyền, theo dõi và giám sát công tác y tế, vệ sinh antoàn thực phẩm, không có dịch bệnh xảy ra trong địa bàn xã 100% trẻ emdưới 1 tuổi và phụ nữ có thai được tiêm chủng, 100% trẻ từ 6 - 36 tháng tuổi

Trang 34

được vuống Vitamin A Tuy nhiên công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổilại chưa hiệu quả.

- Về vấn đề giáo dục: công tác quản lý, chất lượng giáo dục ngày càngđược nâng cao, phương pháp dạy và học được đổi mới, phổ cập đúng độ tuổi

Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy học được đầu tư đầy đủ Thực hiệnđầy đủ chương trình của Bộ Giáo dục và đào tạo, hướng dẫn của sở Giáo dụctỉnh và phòng Giáo dục thị xã Tuy nhiên người trung niên và cao tuổi lại đaphần là không biết chữ

2.2 Thực trạng về sức khỏe và hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người

NCT cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc- thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương.

2.2.1 Thực trạng về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của NCT cô đơn không nơi nương tựa ở xã Đồng Lạc- thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương.

Theo báo cáo của phòng lao động – thương binh xã hội xã Đồng Lạccuối năm 2014 toàn xã có 573 NCT trong đó có 30 cụ là NCT cô đơn khôngnơi nương tựa

Bảng 2.1 Đặc điểm giới tính và nhóm tuổi người cao tuổi cô đơn không

nơi nương tựa tại các thôn năm 2014.

Nội Dung Trụ Hạ

(n=10)

TrụThượng(n=5)

Tế Sơn(n=6)

ThủChính(n=5)

MạcNgạn(n=4)

Chung(n=30)

4(66,7%)

4(80%)

1(25%)

16(53,3%)

>75 6

(60%)

2(40%)

2(33,3%)

1(20%)

3(75%)

14(46,7%)Giới

tính

(30%)

3(60%)

1(16,7%)

2(40%)

2(50%)

11(36,7%)

Trang 35

Để biết nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về số lượng, tỉ lệ giữa nhómtuổi của NCT cô đơn không nơi nương tựa và giới tính của NCT cô đơnkhông nơi nương tựa tại các thôn như vậy tôi đã phỏng vấn anh Phạm VănPhương (37 tuổi, Mạc Ngạn) trưởng phòng lao động thương binh xã hội của

xã Đồng Lạc

Trích phỏng vấn: “NVCTXH: Thưa anh! Anh có thể cho em hỏi là tại sao mà

số NCT cô đơn không nơi nương tựa nữ lại nhiều hơn số NCT cô đơn khôngnơi nương tựa nam ?

Anh Phương: ừ thì một phần là do nam giới mắc bệnh và mất đi khá nhiềunên chỉ còn lại các cô sống một mình đến giờ thôi và thứ hai là do tác độngcủa chiến tranh

NVCTXH: anh ơi cho em hỏi thêm nữa là tại sao thôn Trụ Hạ lại có nhiềuNCT hơn ?

Anh Phương: thôn Trụ Hạ có mức sống cao hơn những thôn khác

NVCTXH: là trưởng phòng chắc anh nắm rõ tình hình NCT trong xã vậy anh

có thể cho em biết phòng lao động thương binh – xã hội của xã mình cóthường xuyên điều tra về tình hình NCT cô đơn không nơi nương tựa không

Trang 36

và số liệu của bảng về đặc điểm giới tính và nhóm tuổi NCT cô đơn khôngnơi nương tựa tại các thôn là lấy từ đâu ạ ?.

Anh Phương: Tùy theo chỉ đạo từ cấp trên mà tiến hành điều tra thường thì ítđiều tra mà tổng hợp số liệu từ các thôn và bảng mà em nói thì cũng là tổnghợp từ báo cáo của các thôn để phân tích các số liệu vậy.”

Vậy từ những số liệu đó ta có thể kết luận là NCT cô đơn không nơi nươngtựa ở xã Đồng Lạc phân bổ không đồng đều và khác nhau theo giới tính vànhóm tuổi NCT cô đơn không nơi nương tựa là nữ chiếm chủ yếu và nhómtuổi từ 60 – 75 tuổi nhiều hơn chứng tỏ mức sống của NCT cô đơn không nơinương tựa ở xã Đồng Lạc thấp nên tuổi thọ của NCT cô đơn không nơi nươngtựa ở đây không cao

Bảng 2.2 Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa thuộc diện chính

sách năm 2014.

Nội

Dung

Trụ Hạ(n=10)

TrụThượng(n=5)

Tế Sơn(n=6)

ThủChính(n=5)

MạcNgạn(n=4)

Chung(n=30)

Hộ

nghèo

2(20%)

2(40%)

2(33,3%)

1(20%)

1(25%)

8(26,7%)Cận

nghèo

1(10%)

2(40%)

1(16,7%)

1(20%)

2(50%)

7(23,3%)Khuyết

tật

1(10%)

0(0%)

1(16,7%)

0(0%)

0(0%)

2(6,7%)Thương

binh liệt

3(30%)

1(20%)

2(33,3%)

1(20%)

1(25%)

8(26,7%)

Nguồn: Số liệu báo cáo cuối năm của phòng lao động thương binh – xã hội

xã Đồng Lạc năm 2014

Từ những số liệu trong bảng 2.2 ta thấy hầu như NCT cô đơn không nơinương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc đều thuộc diện chính sách Số NCT côđơn không nơi nương tựa thuộc diện hộ nghèo là 26,7% trong tổng số 30NCT cô đơn không nơi nương tựa và thuộc diện hộ cận nghèo là 23,3 % trongtổng số 30 NCT cô đơn không nơi nương tựa Số NCT cô đơn không nơi

Trang 37

nương tựa thuộc diện thương binh liệt sĩ là 26,7% và diện khuyết tật là 6,7%trong tổng số 30 NCT cô đơn không nơi nương tựa trong toàn xã.

NCT cô đơn không nơi nương tựa của xã Đồng Lạc đều là những ngườithuộc diện khó khăn và có thu nhập thấp bởi NCT nói chung và NCT cô đơnkhông nơi nương tựa nói riêng có sức khỏe yếu hơn nên không thể làm việcnhiều để kiếm thêm thu nhập trang trải cuộc sống được hơn nữa họ đều thuộcvào diện chính sách nhận trợ cấp xã hội nên chứng tỏ thu nhập của họ thấp Đối với vấn đề nhà ở thì chính quyền xã đã hỗ trợ NCT cô đơn không nơinương tựa của xã được xây mới hay sửa sang lại nhà ở Theo như bác NguyễnVăn Thuận (52 tuổi, Trụ Hạ) Phó chủ tịch xã Đồng Lạc cho biết: “toàn xã có

13 cụ NCT cô đơn không nơi nương tựa được tỉnh và xã hỗ trợ xây nhà ở cho

và 9 cụ được xã hỗ trợ sửa lại nhà ở cho” Tuy nhiên việc xây nhà ở hay sửasang lại nhà ở cho các cụ mất nhiều thời gian làm thủ tục vậy nên các cụ đềucho rằng việc có được ngôi nhà để ở rất là vất vả vì phải chạy đi chạy lại xácnhận nhiều giấy tờ

Bà Trạch (89 tuổi, Trụ Hạ) cho biết: “Để có được ngôi nhà như bây giờ vất

vả lắm cháu bà phải nhờ người kiến nghị lên huyện nhiều lần mới được giảiquyết đấy”

Bà Đà (85 tuổi, Trụ Thượng) cho biết: “nhà này không có ủng hộ của xómvới lại của hội thì chắc còn lâu mới được như thế này chờ cái xã này giảiquyết lâu lắm”

Qua tìm hiểu và quan sát tôi thấy những vật dụng trong nhà của các cụ rấtđơn sơ cũng chỉ là cái nồi, cái chảo, cái quạt cũ và mấy cái chum ngoài rakhông có vật gì giá trị, không có ti vi hay báo để biết tin tức xã hội

Đời sống vật chất của NCT cô đơn không nơi nương tựa rất hạn chế nhiềuthiếu thốn và khó khăn

Trang 38

Bà Tư (82 tuổi, Tế Sơn) cho biết: “hàng tháng được trợ cấp 180.000 không

đủ sống cháu à, nguyên tiền thuốc men đã mất nhiều rồi bà thì bị hen suyễntháng nào cũng phải xuống trạm lấy thuốc”

Theo báo cáo cuối năm của phòng lao động thương binh – xã hội xã ĐồngLạc năm 2014 thì mức thu nhập NCT cô đơn không nơi nương tựa ở xã thấp.Mức thu nhập bình quân của xã Đồng Lạc là 2500.000/người/tháng còn mứcthu nhập bình quân của NCT cô đơn không nơi nương tựa xã Đồng Lạc là500.000/người/tháng

Đời sống tinh thần của các cụ cũng không mấy cải thiện bởi cuộc sốnghiện nay ai ai cũng phải lo kinh tế gia đình, làm việc suốt ngày không cónhiều thời gian nghỉ đến bố mẹ còn không quan tâm nhiều được thì làm sao

có thể quan tâm đến NCT cô đơn không nơi nương tựa Ở địa phương không

có nhiều hoạt động cho NCT cô đơn không nơi nương tựa tham gia nên họthấy khó khăn bởi nhiều lúc thấy buồn mà không tâm sự cùng ai được Họ íttham gia các hoạt động chung ngay cả việc hiếu, việc hỷ bởi điều kiện kinh tế

và họ cảm thấy mặc cảm với bản thân

Bà Số (75 tuổi, Trụ Hạ) cho biết: “Nhiều khi được mời sang ăn cưới màkhông biết làm sao không có tiền mừng mà đi ăn không cũng ngại nên cũngkhông đi luôn”

Về tinh thần, NCT cô đơn không nơi nương tựa hay lo lắng nhiều về tươnglai

Bà Trạch (89 tuổi, Trụ Hạ) tâm sự: “cứ trời tối là thấy lo lắm nhiều khi lochẳng may xảy chân ngã thì ai chăm mà bà già rồi chẳng biết bao giờ chết ai

lo tang cho đây, khi được hỗ trợ xây cái nhà này phải bảo người ta làm cáihiên rộng ra để nhỡ chết đi còn có chỗ cho đội kèn trống”

Hàng ngày có bao nhiêu người mất đi thì các cụ lại lo mình sẽ có ngàynhư vậy Đối với việc hòa nhập cuộc sống khiến cho các cụ thấy khó khăn,hàng xóm thì ai cũng đi làm, trẻ con thì không thể nói chuyện được vì sự khác

Trang 39

biệt nhiều giữa quan niệm sống và cả ngôn ngữ Lớp trẻ hiện nay có sự thayđổi nhiều so với lớp người như các cụ họ nói tiếng anh xen lẫn tiếng việt vànhiều từ mới lạ làm các cụ thấy ngại tiếp xúc hơn

2.2.2 Tình trạng Sức khỏe của NCT cô đơn không nơi nương tựa ở xã

Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương.

NCT cô đơn không nơi nương tựa cũng như những NCT khác thường mắccác bệnh về khớp, hô hấp….Đây là những bệnh mà NCT hay mắc phải cònđối với NCT cô đơn không nơi nương tựa xã Đồng Lạc thì theo như báo cáokhảo sát của trạm y tế xã Đồng Lạc cuối năm 2014 thì tình trạng sức khỏe của

họ không mấy khả quan, hầu như các cụ đều mắc nhiều bệnh

Bảng 2.3 Tình trạng sức khỏe, khả năng đi lại, sinh hoạt của người cao tuổi cô đơn không

nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc năm 2014.

Nội dung Trụ Hạ

(n=10)

TrụThượng(n=5)

Tế Sơn(n=6)

ThủChính(n=5)

MạcNgạn(n=4)

Chung(n=30)

2(40%)

1(16,7%)

1(20%)

1(25%)

8(26,7%)Bình

thường

4(40%)

2(40%)

2(33,3%)

3(60%)

1(25%)

12(40%)

(20%)

1(20%)

3(50%)

1(20%)

1(25%)

8(26,7%)

(10%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

1(25%)

2(6,7%)Tình

1(20%)

2(33,3%)

2(40%)

1(25%)

8(26,7%)Bình

thường

1(10%)

2(40%)

1(16,7%)

1(20%)

1(25%)

6(20%)Không

thoải

mái

2(20%)

0(0%)

1(16,7%)

1(20%)

1(25%)

5(16,7%)

(50%)

2(40%)

2(33,3%)

1(20%)

1(25%)

11(36,7%)

2(40%)

3(50%)

2(40%)

2(50%)

12(40%)

Trang 40

2(33,3%)

3(60%)

2(50%)

16(53,3%)Không

tự đi lại

được

0(0%)

1(20%)

1(16,7%)

0(0%)

0(0%)

2(6,7%)

Nguồn: số liệu khảo sát năm 2014 của trạm y tế xã Đồng Lạc.

Từ bảng 2.3 cho thấy số NCT cô đơn không nơi nương tựa có tình trạngsức khỏe bình thường là 40% trong tổng số 30 NCT cô đơn không nơi nươngtựa, có 26,7% là khỏe mạnh, tỉ lệ yếu là 26,7% và rất yếu là 6,7% Đối vớitình trạng tinh thần thì có 26,7% NCT cô đơn không nơi nương tựa ở tìnhtrạng thoải mái, 20% NCT cô đơn không nơi nương tựa ở tình trạng bìnhthường, 36,7% NCT cô đơn không nơi nương tựa ở tình trạng lo lắng, tỷ lệNCT cô đơn không nơi nương tựa ở tình trạng lo lắng khá nhiều Đối với hoạtđộng đi lại sinh hoạt có 53,3 % NCT cô đơn không nơi nương tựa ở tình trạngkhó khăn và chỉ có 40% NCT cô đơn không nơi nương tựa ở tình trạng bìnhthường

Qua những số liệu trên cho thấy phần lớn là NCT cô đơn không nơinương tựa đều khỏe mạnh, bình thường, ít NCT cô đơn không nơi nương tựa

có sức khỏe yếu trầm trọng tuy nhiên vẫn có NCT cô đơn không nơi nươngtựa có sức khỏe kém (26,7%) Vấn đề đi lại đối với NCT cô đơn không nơinương tựa là khá khó khăn, hầu hết họ đều đi lại khó khăn và cũng có ngườikhông đi lại được Việc đi lại khó khăn sẽ rất khó cho họ tiếp cận dịch vụ y tếbởi để chuẩn đoán được tình trạng sức khỏe cần NCT cô đơn không nơinương tựa khám định kỳ mà họ không đi được thì khó cho trạm y tế chuẩnđoán tình hình sức khỏe của họ

Số NCT cô đơn không nơi nương tựa rơi vào trạng thái lo lắng khá nhiềucho thấy được sức khỏe tinh thần của họ không được tốt Điều đó sẽ ảnhhưởng đến sức khỏe thể chất gây khó ngủ, mất ngủ hay ngủ không sâu giấc và

ăn uống không ngon

Ngày đăng: 18/12/2015, 21:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Đặc điểm giới tính và nhóm tuổi người cao tuổi cô đơn không - Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã đồng lạc – thị xã chí linh – tỉnh hải dương
Bảng 2.1. Đặc điểm giới tính và nhóm tuổi người cao tuổi cô đơn không (Trang 34)
Bảng 2.2. Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa thuộc diện chính - Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã đồng lạc – thị xã chí linh – tỉnh hải dương
Bảng 2.2. Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa thuộc diện chính (Trang 36)
Bảng 2.3. Tình trạng sức khỏe, khả năng đi lại, sinh hoạt của người cao tuổi cô đơn không - Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã đồng lạc – thị xã chí linh – tỉnh hải dương
Bảng 2.3. Tình trạng sức khỏe, khả năng đi lại, sinh hoạt của người cao tuổi cô đơn không (Trang 39)
Bảng 2.4. Tình hình mắc các triệu chứng/ bệnh của người cao tuổi cô đơn không - Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã đồng lạc – thị xã chí linh – tỉnh hải dương
Bảng 2.4. Tình hình mắc các triệu chứng/ bệnh của người cao tuổi cô đơn không (Trang 41)
Bảng 2.5. Tình hình khám sức khỏe định kỳ hàng tháng của người cao tuổi cô đơn không - Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã đồng lạc – thị xã chí linh – tỉnh hải dương
Bảng 2.5. Tình hình khám sức khỏe định kỳ hàng tháng của người cao tuổi cô đơn không (Trang 43)
Bảng kế hoạch - Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã đồng lạc – thị xã chí linh – tỉnh hải dương
Bảng k ế hoạch (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w