1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t

116 409 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 856,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, trên địa bàn cả nước nói chung, địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng, các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN DUY PHƯƠNG

những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

theo luật tố tụng hình sự việt nam

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN DUY PHƯƠNG

những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

theo luật tố tụng hình sự việt nam

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH TIẾN VIỆT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn kế thừa từ các tác giả khác đều được trích dẫn đầy đủ

Tác giả luận văn

Trần Duy Phương

Trang 4

ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7 1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA NHỮNG CĂN CỨ

KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 7 1.1.1 Khái niệm những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự 7 1.1.2 Bản chất pháp lý của những căn cứ không được khởi tố vụ án

hình sự 11 1.2 PHÂN BIỆT NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ

VỤ ÁN HÌNH SỰ VỚI NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 12 1.2.1 Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với

căn cứ khởi tố vụ án hình sự 12 1.2.2 Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với

chế định miễn trách nhiệm hình sự 16 1.2.3 Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với

loại trừ trách nhiệm hình sự 17 1.2.4 Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với

với các trường hợp không xử lý hình sự 19

Trang 5

1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH

SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM

1945 ĐẾN NAY 20 1.3.1 Giai đoạn từ Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước pháp

điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 20 1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm

1988 đến nay 26 1.4 NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH

SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 30 1.4.1 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 30 1.4.2 Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 33 Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VIỆT NAM VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI

TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 36 2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT

NAM VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ

ÁN HÌNH SỰ 36 2.1.1 Trường hợp không có sự việc phạm tội 37 2.1.2 Trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm 38 2.1.3 Trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa

đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự 39 2.1.4 Trường hợp người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án

hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật 43

Trang 6

2.1.5 Trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự 43

2.1.6 Trường hợp tội phạm được đại xá 47

2.1.7 Trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác 48

2.2 CÁC QUY ĐỊNH KHÁC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 48

2.3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 52

2.3.1 Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 52

2.3.2 Thực tiễn áp dụng chế định những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 54

2.3.3 Một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản 56

Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 65

3.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 65

3.1.1 Về phương diện thực tiễn 65

3.1.2 Về phương diện lý luận 67

3.1.3 Về phương diện lập pháp 70

3.2 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 73

3.2.1 Nhận xét, đánh giá 73

Trang 7

3.2.2 Nội dung hoàn thiện 74

3.3 KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 88

3.3.1 Về chuyên môn, nghiệp vụ 88

3.3.2 Về tổ chức, cán bộ 91

3.3.3 Về sự tham gia của cơ quan, tổ chức 97

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Sự hình thành và phát triển nhân cách con người 41 Bảng 2.2: So sánh độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một

Bảng 2.3: Phân bố dân số trên địa bàn các huyện ở thành phố

Buôn Ma Thuột và một số thị trấn, huyện lỵ ở tỉnh

Bảng 2.4: Tổng hợp số vụ án được đưa ra khởi tố và số vụ án

không đưa ra khởi tố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta xác định một trong những phương hướng trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là:

…Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người… [2]

Do vậy, nhiệm vụ của các ngành, các cấp trong giai đoạn hiện nay tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội được coi là một trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước ta, tiến tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật luôn luôn là một công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với toàn xã hội, đồng thời pháp luật cũng là một công cụ để củng cố và bảo vệ sự tồn tại của Nhà nước Điều đặc biệt hơn chính là quyền con người, quyền công dân được coi trọng và bảo đảm và đã được đề cập trong một Chương II của Hiến pháp mới năm 2013 Mọi hoạt động của Nhà nước, của cá nhân nào đó đi ngược lại với lợi ích hợp pháp của con người, xâm phạm tới quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định đều phải bị lên án và bị xử lý nghiêm khắc Ngoài ra, Đảng ta đã khẳng định:

Trang 10

Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo

vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ,

đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp [11, tr.80]

Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự là một trong những quy định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Chính vì thế, việc áp dụng đúng đắn và chính xác các quy phạm của các quy định này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của của việc thực hiện các quy định của luật tố tụng hình sự, đấu tranh phòng và chống tội phạm có hiệu quả, củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân bằng pháp luật tố tụng hình sự Đặc biệt, hoàn thiện các quy định định này còn góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị

Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự cũng là một vấn đề rất rộng lớn và phức tạp Cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn đề này, vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất bởi lẽ chưa đi sâu vào bản chất của nó, chưa nghiên cứu một cách toàn diện về riêng một điều luật cụ thể và các điều luật có liên quan hay áp dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử về vấn đề này Hiện nay, trên địa bàn cả nước nói chung, địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng, các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự,

Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự như khái niệm, nội dung, những căn cứ để không được khởi tố vụ án hình sự, v.v Theo đó, hiện tượng oan, sai hay bỏ lọt tội phạm, nhầm lẫn giữa

Trang 11

những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với loại trừ trách nhiệm hình

sự, với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tránh oan, sai vẫn xảy ra

Do đó, lợi ích của con người, của xã hội và của Nhà nước ở một góc độ nào

đó chưa kịp thời được bảo đảm, hiệu quả đấu tranh phòng và chống tội phạm còn chưa cao Nguyên nhân của tình hình trên là do có sự nhận thức về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự chưa đúng và các cơ quan tiến hành

tố tụng không nghiên cứu kỹ các tình tiết của vụ án Các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự còn nhiều chỗ chưa rõ ràng, văn bản giải thích hướng dẫn áp dụng không cụ thể, còn sơ sài không hệ thống

Vì vậy, từ những lý do đã nêu trên, học viên quyết định chọn đề tài:

Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk) làm luận văn

thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Về quy định Những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự trong Luật tố

tụng hình sự đã có một số công trình nghiên cứu nhưng chưa nhiều, nội dung nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một vài khía cạnh của quy định về: những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự Các công trình nghiên cứu có một phần nội dung trực tiếp đề cập đến quy định về những căn cứ không khởi tố vụ án

hình sự chủ yếu là các cuốn: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, năm

2004; cuốn Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Học viện Khoa học

xã hội, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2013) và một số giáo trình Luật tố tụng

hình sự Việt Nam của các cơ sở đào tạo luật như: Giáo trình Luật tố tụng hình

sự Việt Nam (Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia

Hà Nội, Hà Nội, năm 2014 do PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên); Giáo

Trang 12

trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội Nxb Công

an nhân dân, Hà Nội, năm 2011 do PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên); v.v Bên cạnh đó, quy định về những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự còn được đề cập một cách trực tiếp trong một số bài viết được đăng trên các

tạp chí pháp luật: Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự và một số quy định liên

quan (TS Phan Thị Thanh Mai, Tạp chí Luật học số 7/2010); Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về không khởi tố vụ án hình sự (Ths Hoàng

Duy Hiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 8(269)/2014)

Tuy nhiên, đến nay thời điểm hiện nay, vẫn chưa có tác giả nào tiếp tục trực tiếp nghiên cứu về vấn đề này dưới góc độ một luận văn thạc sĩ luật học, đặc biệt từ khi Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đang xin ý kiến góp ý sửa đổi,

bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, cũng như đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn một tỉnh cụ thể có tình hình an ninh, trật tự rất cần sự ổn

định là địa bàn tỉnh Đắk Lắk Vì vậy, việc học viên lựa chọn đề tài: “Những

căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” làm luận văn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn có phạm vi nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về những căn cứ không được khởi tố vụ

Trang 13

án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản để đề xuất kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời có những kiến nghị khác nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những căn cứ không được khởi

tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực

tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

1) Làm rõ khái niệm những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự, bản chất pháp lý và phân tích các đặc điểm cơ bản, các mối liên hệ của nó với các quy định có liên quan trong Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam;

2) Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam

từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay;

3) Nghiên cứu quy định này trong Bộ luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới để rút ra nhận xét;

4) Phân tích quy định về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình

sự theo Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam và đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó chỉ ra các tồn tại, hạn chế và những nguyên nhân cơ bản;

5) Luận chứng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định về những căn

cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam;

Trang 14

6) Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng và chống tội phạm,… Đồng thời dựa trên những thành tựu của khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình

sự, Tội phạm học

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống… để tổng hợp các tri thức khoa học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét

xử các vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng trong những năm gần đây trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương với tên gọi như sau:

Chương 1: Các vấn đề chung về những căn cứ không được khởi tố vụ

án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về

những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt

Nam về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

và những kiến nghị

Trang 15

Chương 1

CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI

TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1.1 Khái niệm những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự đó là nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự được quy định tại Điều

13 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Theo nguyên tắc này:

Khi phát hiện dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định [30, tr.10]

Nguyên tắc này xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự đồng thời cũng xác định rõ phạm vi thẩm quyền đó được giới hạn bởi những căn cứ và trình tự luật định Trong quá trình giải quyết vụ án, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình sự, cung cấp toàn bộ “nguyên liệu” đầu vào cho quy trình tố tụng Trong giai đoạn này các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xác định sự việc có hay không có dấu hiệu phạm tội để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hay không khởi tố vụ án hình sự nhằm khẳng định

về mặt pháp lý có hay không có tội phạm xảy ra Việc quyết định khởi tố vụ

án có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, bằng quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng đã xác định về mặt

Trang 16

pháp lý vụ việc nào cần phải xử lý theo tố tụng hình sự và những vụ việc nào không cần xử lý theo tố tụng hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm

để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án

Đây là giai đoạn tố tụng đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, có tính chất độc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng [8, tr.293] Chủ thể có quyền khởi tố

vụ án hình sự là những cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự - những văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn này Tuy nhiên, tính độc lập của giai đoạn khởi tố vụ án cũng như các giai đoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước Quyết định khởi tố vụ án là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện các hoạt động điều tra Khi chưa có quyết định khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạt động điều tra cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn Quyết định khởi tố vụ án làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền, người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng [8, tr.294]

Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, bắt đầu từ việc tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện dấu hiệu tội phạm

và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể là sự khởi đầu cho các giai đoạn tố tụng khác hoặc chấm dứt quá trình tố tụng Vì thế, việc chứng minh khởi tố

vụ án hình sự là một giai đoạn vô cùng quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự để quyết định việc đưa vụ án ra khởi tố hay không khởi tố

Trang 17

Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự có thể là sự hiện diện dấu hiệu của tội phạm Các dấu hiệu này có thể chưa phản ánh đầy đủ về tội phạm đã xảy ra nhưng là căn cứ để khẳng định rằng cần phải tiến hành tố tụng để làm rõ vụ việc Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, tuy chưa đặt ra yêu cầu cần phải xác định chính xác và đầy đủ, nhưng phải sơ bộ định tội danh phù hợp với tội phạm Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khởi tố các vụ án hình sự, bên cạnh việc quy định về các căn cứ khởi tố vụ án hình sự, Bộ luật tố tụng hình

sự còn quy định về các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự (Bộ luật tố tụng hình sự 2003) như sau:

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

1 Không có sự việc phạm tội;

2 Hành vi không cấu thành tội phạm;

3 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4 Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5 Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6 Tội phạm đã được đại xá;

7 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác [30, Điều 107]

Nghiên cứu các sách báo pháp lý về tố tụng hình sự cho thấy, không có quan điểm khoa học nào nêu lên khái niệm này Vì vậy, căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và thực tiễn xét xử, dưới góc độ khoa học, theo chúng tôi, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau:

Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự là sự hiện diện dấu hiệu không phạm tội và khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ

Trang 18

án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố không được khởi tố vụ án hình

sự, nếu vụ án đã khởi tố thì phải hủy quyết định khởi tố đó

Như vậy, những quy định về căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan khởi tố trong việc kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự khi vụ án đó không có dấu hiệu phạm tội

Đối ngược với những căn cứ khởi tố vụ án hình sự là sự hiện diện của dấu hiệu phạm tội thì những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự là việc đưa

ra những căn cứ thể hiện những dấu hiệu không phạm tội trong vụ án Việc đưa ra những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự này tạo điều kiện thuận lợi cho những cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở pháp lý để dừng việc điều tra, khởi tố, xét xử một vụ án hình sự khi mà vụ án này không có sự hiện diện của dấu hiệu phạm tội Dấu hiệu phạm tội là dấu hiệu của hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và những kẻ có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thì được coi là tội phạm Vì vậy ở góc độ pháp lý ta có thể hiểu những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự là sự hiện diện của dấu hiệu không có tội phạm ở trong một vụ án hình sự Như chúng ta đã biết, theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 thì:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [26]

Trang 19

Do đó, những hành vi của cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự không gây nguy hiểm cho xã hội hay không còn gây nguy hiểm cho xã hội sẽ

là dấu hiệu, căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự

1.1.2 Bản chất pháp lý của những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

Xuất phát từ nhận thức nêu trên về giai đoạn khởi tố vụ án, những căn

cứ khởi tố và không khởi tố vụ án hình sự, chúng ta có thể nhận thấy, bản chất pháp lý của giai đoạn này là ở chỗ: Với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (vật chất) và về pháp luật về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự; thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự có liên quan đến hành vi đó

Như vậy, bản chất pháp lý của những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự là những dấu hiệu để cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc giai đoạn khởi tố và chấm dứt quá trình tố tụng, tức là khi xét thấy vụ án thỏa mãn một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ dừng việc chứng minh khởi tố và không đưa vụ án đó ra xét xử

Với bản chất pháp lý đặc trưng này thì những căn cứ không khởi tố vụ

án hình sự là lý do, căn cứ xác đáng cho các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra

để kết thúc vụ án hình sự ở các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng Những dấu hiệu của việc không phạm tội này có thể xuất hiện ngay khi mới bắt đầu vào vụ án (xét thấy người gây hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự) hoặc xuất hiện ở những phút cuối trong giai đoạn tố tụng (người phạm tội chết trong quá trình tố tụng) nhưng chỉ cẩn khi

Trang 20

xuất hiện những căn cứ này thì nó sẽ là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự

Việc ban hành quy định về những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

đã tạo nên một cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng đưa

ra các căn cứ pháp lý để giải quyết các vụ án hình sự không có sự hiện diện dấu hiệu phạm tội, nhanh chóng kép hồ sơ của những vụ án mà không có tội phạm hay không còn tội phạm Những căn cứ này không chỉ giúp cho các cơ quan tố tụng dễ dàng hơn khi đưa ra kết luận có khởi tố vụ án hình sự hay không mà nó còn giúp cho Nhà nước tiết kiệm được kinh phí, thời gian mà vẫn đảm bảo sự quản lý của Nhà nước với xã hội

1.2 PHÂN BIỆT NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ

ÁN HÌNH SỰ VỚI NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1 Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ để khởi tố vụ vụ án hình sự và căn cứ không được khởi tố vụ

án hình sự đều là sự hiện diện của dấu hiệu để từ đó cơ quan tiến hành tố tụng và kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án Tuy nhiên kết quả của những căn

cứ để không khởi tố vụ án hình sự là việc chấm dứt quá trình tố tụng và kết quả của những căn cứ khởi tố vụ án hình sự là sự khởi đầu cho các giai đoạn tố tụng khác

Vụ án hình sự chỉ có thể được khởi tố khi có căn cứ theo luật định Theo đó, căn cứ vào Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự như sau:

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu của tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

Trang 21

1 Tố giác của công dân;

2 Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4 Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5 Người phạm tội tự thú [30, tr.67]

Như vậy, điều luật quy định khả năng duy nhất cho phép khởi tố vụ án

chính là khi xác định có “dấu hiệu của tội phạm” Dấu hiệu tội phạm chính là

những tài liệu ban đầu về sự kiện phạm tội nói chung, chưa phải tài liệu về người phạm tội cụ thể nào và thực tế cho thấy có những trường hợp lúc đầu mới chỉ biết những thông tin về sự kiện nhưng khi kiểm tra thì sự kiện đó không đủ dấu hiệu tội phạm Có dấu hiệu tội phạm chính là căn cứ cần và đủ

để khởi tố vụ án hình sự Dấu hiệu tội phạm được xác định trên cơ sở những thông tin thu được từ những nguồn nhất định Điều luật quy định 5 nguồn thông tin cụ thể làm cơ sở xác định có dấu hiệu tội phạm

Khi nhận được sự tố giác hay tin báo về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải kiểm tra nhằm xác định có dấu hiệu tội phạm hay không

và có những căn cứ để khởi tố vụ án hình sự hay không để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Chỉ sau khi đã ra quyết định khởi

tố vụ án hình sự thì mới được thực hiện các hoạt động tố tụng khác như bắt người, khám xét…

Điều luật không quy định yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại là căn cứ độc lập để khởi tố Bởi một số tội phạm, trong khoản 1 của điều luật có quy định chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại (các tội được quy

Trang 22

định tại khoản 1 của các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122,

131, 171 của Bộ luật hình sự) Điều này không xuất phát từ sự khác biệt nào

về bản chất của thông tin ban đầu làm cơ sở để xác định căn cứ khởi tố vụ án

so với sợ tố giác của công dân Trường hợp đó, cơ sở để xác định căn cứ khởi

tố được coi như là sự tố giác về tội phạm của công dân Yêu cầu của người bị

hại được hiểu như nguồn tin “tố giác của công dân” Như vậy, những quy

định đã nêu trên là những căn cứ để khởi tố vụ án hình sự

Stt Tiêu chí Căn cứ khởi tố

Quy định tại Điều 107 Bộ luật

tố tụng hình sự 2003, gồm 7 căn cứ, mỗi căn cứ tương ứng với một khoản cụ thể quy định trong điều này

2 Bản chất

pháp lý

Căn cứ để khởi tố vụ án hình

sự chỉ có thể là sự hiện diện dấu hiệu của tội phạm Các dấu hiệu này có thể chưa phản ánh đầy đủ về tội phạm

đã xảy ra, nhưng là căn cứ

để khẳng định rằng cần phải tiến hành tố tụng để làm rõ

vụ việc Chỉ được khởi tố vụ

tố vụ án hình sự

Những căn cứ không khởi tố

vụ án hình sự là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào đó mà ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Trang 23

hình sự cần xác định: Có sự

việc xảy ra; và sự việc đó

có dấu hiệu tội phạm

Căn cứ khởi tố vụ án hình

sự cũng là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền dựa vào đó mà ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

xã hội đồng thời bảo vệ quyền

và lợi ích của công dân

Phòng ngừa việc khởi tố vụ

án hình sự một cách thiếu chính xác, không đúng căn cứ pháp luật mang lại những hậu quả xấu cho công dân và xã hội

Khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật

tố tụng hình sự thì cơ quan có

thẩm quyền ra quyết định

không khởi tố vụ án hình sự; hoặc nếu đã khởi tố thì phải

ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự

theo quy định của pháp luật Như vậy, hậu quả pháp lý của

không khởi tố vụ án hình sự

là không làm phát sinh các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra

Trang 24

1.2.2 Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với chế định miễn trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật hình sự quy định đối với người phạm tội [51, tr.224]

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý mà bản thân người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc thực hiện hành vi phạm tội Nhà nước

có quyền áp dụng chế tài hình sự đối với người phạm tội Hậu quả là người phạm tội bị áp dụng biện pháp cưỡng chế (hình phạt, biện pháp tư pháp) của Luật hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội [50, tr.97] Bản chất pháp lý của chế định miễn trách nhiệm hình sự là hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm khi có các căn cứ do pháp luật hình sự quy định, tức

là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của nhà nước (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội

Khác với căn cứ không khởi tố vụ án là khi có dấu hiệu không phạm tội

và khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan khởi tố không được khởi tố vụ án hình sự, hậu quả pháp lý của nó là vụ

án hình sự sẽ làm chấm dứt giai đoạn khởi tố Còn miễn trách nhiệm hình sự

là khi vụ án hình sự đã được đưa ra xét xử và đã có hành vi phạm tội nhưng được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp nhất định

chứ không phải người không phạm tội Việc miễn trách nhiệm hình sự có thể

do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng

Trang 25

1.2.3 Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với loại trừ trách nhiệm hình sự

Nghiên cứu Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành cho thấy, thuật ngữ

“loại trừ trách nhiệm hình sự” duy nhất được sử dụng tại đoạn 2 Điều 53 Bộ luật hình sự (“Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm”) Ngoài ra, trong Bộ luật hình sự còn sử dụng một số thuật ngữ có nội dung tương đương

và gắn với từng trường hợp cụ thể (mặc dù nội hàm chưa đồng nhất) như:

“không phải là tội phạm”; “không phải chịu trách nhiệm hình sự”; “không có tội”; v.v khi đề cập đến hậu quả pháp lý của mỗi trường hợp tương ứng trong Bộ luật này như sau:

- Hành vi có tính chất nguy hiểm không đáng kể - thì không phải là tội phạm (khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự);

- Sự kiện bất ngờ - thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 11

là “không có tội”: “Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ” (khoản 6 Điều 289) v.v…

Trang 26

Như vậy, về cơ bản, các nhà lý luận, thực tiễn đều quan niệm những tình tiết trên là các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự do trách nhiệm hình sự quy định (mặc dù còn một số tình tiết vẫn đang tranh luận) Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ chưa thống nhất này với từng trường hợp cụ thể và xét về tổng thể thì giữa các thuật ngữ đã nêu không có gì mâu thuẫn Bởi lẽ, suy cho cùng, thì hậu quả pháp lý hình sự mà người thực hiện hành

vi gây thiệt hại cho xã hội đều giống nhau - họ không phải chịu trách nhiệm hình sự, có nghĩa được loại trừ trách nhiệm hình sự Nói một cách khác, khi

đề cập đến trách nhiệm hình sự với tư cách là hậu quả pháp lý của tội phạm, trong thực tế bao giờ cũng dẫn đến ba khả năng đối với một người - phải chịu trách nhiệm hình sự, được miễn trách nhiệm hình sự hay không phải chịu trách nhiệm hình sự, có nghĩa là được loại trừ trách nhiệm hình sự Do

đó, dưới góc độ khoa học, loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp một người đã có hành vi gây thiệt hại cho xã hội, nhưng căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này Nói một cách khác, trong hành vi của một người khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hộ do không thỏa mãn ít nhất một trong các dấu hiệu cơ bản của tội phạm, nên tính chất tội phạm của hành vi đó được loại trừ, và logic tương ứng người thực hiện nó không phải chịu trách nhiệm hình sự hay được loại trừ trách nhiệm hình sự

Như vậy, có thể thấy điểm khác biệt giữa căn cứ không khởi tố vụ án hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

là hiện diện ở giai đoạn đầu của tố tụng vụ án hình sự, nó là căn cứ chứng minh để kết thúc vụ án và không đưa vụ án ra xét xử còn loại trừ trách nhiệm hình xuất hiện khi vụ án đã được đem ra xét xử và trong trường hợp người đã

Trang 27

có hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này

1.2.4 Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với với các trường hợp không xử lý hình sự

Khác với những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự là những căn

cứ để không đưa vụ án ra xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Những trường hợp không xử lý hình sự là một vụ án hình sự đã đủ điều kiện để đưa

ra khởi tố và trong quá trình tố tụng đối chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự thì hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đó không bị xử lý hình sự Tại

khoản 3 điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định “Không được khởi tố vụ

án hình sự khi có căn cứ: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự” và tại Bộ luật hình sự năm 1999 lại quy

định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

- Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [26, Điều 12]

Như vậy đối chiếu với các quy định của pháp luật thì khi một người chưa đủ 14 tuổi phạm tội thì chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đó là căn cứ để không được khởi tố vụ án hình sự Nhưng nếu người đó đã từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thì vụ án đó sẽ được đưa ra khởi tố theo đúng trình tự và quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Trong quá trình tố tụng nếu xét thấy hành vi phạm tội đó không phải là tội phạm rất nghiệm trọng do

cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì người gây ra hành vi nguy hiểm cho xã hội đó không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình

Trang 28

1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ

ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY

1.3.1 Giai đoạn từ Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất Nền kinh tế nước ta vốn lệ thuộc vào thực dân Pháp, bị tàn phá trong chiến tranh, giê đây rất kiệt quệ, tiêu điều Nghiêm trọng và cấp bách hơn cả là nạn ngoại xâm Ở miền Bắc, khoảng hơn 200.000 quân Tưởng Giới Thạch mượn danh nghĩa Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, nhưng dã tâm của chúng là lật đổ chính quyền nhân dân để lập một Chính phủ phản động làm tay sai cho chóng Ở miền Nam, thực dân Pháp và bọn can thiệp Anh chiếm Sài Gòn và mở rộng chiến tranh, tìm cách xâm chiếm các tỉnh ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ

Trong tình hình đó, Đảng ta xác định giữ vững chính quyền là nhiệm

vụ hàng đầu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc Đảng ta đã giữ vững được chính quyền, tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị gấp rút về mọi mặt, trước khi bước vào cuộc kháng chiến lâu dài

Mặc dù phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, hoạt động lập pháp nói chung, lập pháp tố tụng hình sự nói riêng vẫn được Nhà nước ta quan tâm, khi hoạt động tố tụng chưa được quy định thành một bộ luật cụ thể nhưng được thể hiện thông qua các Sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam lâm thời Các quy định về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự cũng chưa được cụ thể hóa thành một điều khoản cụ thể nào [39, tr.15]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn

Trang 29

diện, khắc phục từng bước những sai lầm, khuyết điểm trước đây, mở ra những hướng mới, nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng về kinh tế - xã hội

Trước hết, chúng ta tiến hành đổi mới tư duy, nhận thức về chủ nghĩa

xã hội và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nhằm khắc phục những nhận thức đơn giản và tư duy lý luận lạc hậu Đồng thời, chúng ta tiến hành đổi mới về cơ chế và chính sách kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng, phát triển sản xuất Kiên quyết và dứt khoát xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, từng bước hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Chính sách kinh tế mới đã động viên, khuyến khích, phát huy khả năng của toàn xã hội, tạo động lực cho sự phát triển và nâng cao mức sống chung của xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, cũng đã nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực mới, bất công xã hội tăng lên, pháp luật, kỷ cương bị buông lỏng; tình trạng oan sai, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án diễn biến phức tạp Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

Chính vì vậy, việc ban hành Bộ luật tố tụng hình sự là vấn đề mang tính khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1989 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988)

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Bộ luật đã kế

Trang 30

thừa và phát triển những thành tựu của luật tố tụng hình sự Việt Nam, nhất là

từ Cách mạng tháng Tám đến nay, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 gồm 7 phần, 32 chương với 286 điều Trong đó tại Điều 89, chương VII, phần 2 đã đưa ra bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự Cụ thể như sau:

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

- Không có sự việc phạm tội;

- Hành vi không cấu thành tội phạm;

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực của pháp luật;

- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Tội phạm đã được đại xá;

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm người khác

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 là kết quả tổng kết kinh nghiệm của hơn 40 năm hoạt động tư pháp hình sự, là sự thể chế hóa đường lối đổi mới trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra Sự ra đời của Bộ luật đã đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta, đã nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Đặc biệt trong đó những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

Trang 31

đã được quy định cụ thể làm một điều riêng của Bộ luật tố tụng hình sự là một bước đổi mới để hoàn thiện hơn trong công tác tố tụng cũng như việc hỗ trợ cho hoạt động tố tụng hình sự của nước ta Nó tạo điều kiện thuận lợi cho các

cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ để nhanh chóng kết thúc vụ án khi thỏa mãn một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự Nhìn vào mặt kinh tế và xã hội chúng ta có thể thấy quy định này đã giúp cho nhà nước tiết kiệm được chi phí điều tra và xét xử tuy nhiên, cũng bảo đảm cho việc xét xử đúng người đúng tội góp phần giữ vững an ninh và trật tự xã hội

Bên cạnh quy định về những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự Bộ luật

tố tụng hình sự 1988 còn đưa ra rất nhiều những quy định liên quan khác như:

Điều 86 Nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được

tố giác hoặc tin báo, Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm

vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự

Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng [25]

Trong quy định này nêu rõ về thời gian cho các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xác minh nguồn tin tố giác tội phạm và nếu thấy thỏa mãn một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định dừng khởi tố vụ án Việc xác minh nguồn tin để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự này là 20 ngày kể từ ngày nhận được nguồn tin tố giác, trong trường hợp nguồn tin có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng Có thể thấy tại thời điểm này bộ luật tố tụng hình sự đã có những giới hạn cho các cơ

Trang 32

quan tiến hành tố tụng để giải quyết các vụ án hình sự khi nhận được tin tố giác của công dân đê tránh kéo dài thời gian cho việc giải quyết một vụ án Vì vậy, việc ban hành ra quy định về các căn cứ không được khởi tố vụ án hình

sự vào thời điểm này là một trong những công cụ hỗ trợ lớn cho công tác điều tra và khởi tố của các cơ quan tố tụng của nước ta Bởi vì từ quy định này mà

cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ để dừng điều tra vụ án nhanh chóng và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật

Điều 90 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998 cũng có nêu ra việc việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng Theo

đó khi có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định tài Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự thì cơ quan có quyền khởi tố ra quyết định không khởi tố

vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải huỷ bỏ quyết định khởi tố và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm biết rõ lý do; nếu xét cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan hoặc

tổ chức hữu quan giải quyết Như vậy, quy định về căn cứ không được khởi tố

vụ án hình sự sẽ là căn cứ để cơ quan có quyền khởi tố tụng ra quyết định khởi tố và là lý do để cơ quan có quyền khởi tố trả lời cho các cơ quan có thẩm quyền khác và cá nhân báo tin về tội phạm biết về quyết định không khởi tố của mình

Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Việt Nam ra đời và sau

đó mãi đến năm 1988 Bộ luật tố tụng hình đầu tiên mới được ban hành Việc ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã phát huy ngày càng tốt công tác tố tụng của các cơ quan có thẩm quyền tố tụng và các quy định trong bộ luật hình sự 1985 cũng được thực thi triệt để hơn Cụ thể trong bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 có những quy định như sau:

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1 Người từ 14 tuổi trở lên những chưa đủ 16 tuổi phải trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý

Trang 33

2 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự

về mọi tội phạm [25, Điều 58]

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1 Không truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện đã qua những thời hạn sau đây:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt từ hai năm tù trở xuống hoặc hình phạt khác nhẹ hơn;

b) Mười năm tù đối với các loại tội phạm ít nghiêm trọng mà

Bộ luật quy định hình phạt tù trên hai năm;

c) Mười lăm năm đối với các loại tội phạm nghiêm trọng Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới

mà Bộ luật quy định thì hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian

đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ tính lại kể từ ngày phạm tội mới

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh

và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ

2 Đối với những trường hợp nói ở điểm c khoản 1 Điều này nếu có lý do đặc biệt thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự và Tòa án nhân dân tối cao có thể quyết định không áp dụng thời hiệu [25, Điều 45]

Với những quy định nêu trên của Bộ luật hình sự năm 1985 đã làm cơ

sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở rõ ràng khi đưa ra căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự Ví dụ như một người phạm tội mà chưa đủ

14 tuổi thì sẽ làm căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự vì theo quy định của

bộ luật hình sự thì người dưới 14 tuổi không nằm trong độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đối chiếu với quy định về căn cứ không khởi tố vụ án hình

Trang 34

sự thì khi người phạm tội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì sẽ không được khởi tố hình sự Nhìn chung ở giai đoạn này chúng ta thấy mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của chúng ta ra đời sau Bộ luật hình sự nhưng hai

bộ luật này lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng hỗ trợ rất nhiều cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm của nước ta vào thời điểm bấy giờ

1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 đến nay

Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Bộ luật đã phát huy tác dụng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm kỷ cương, phép nước

Ngày 30/6/1990, tại kỳ họp thứ bảy, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung 03 điều của Bộ luật tố tụng hình sự Cụ thể như sau: Điều 42a Người bảo vệ quyền lợi của đương sự, Điều 168a Thời hạn hoãn phiên tòa, Điều 215a Việc Tòa

án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; sửa đổi, bổ sung 35 điều luật

Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đã nảy sinh một số vướng mắc liên quan đến người làm chứng, kê biên tài sản, bắt giam người bị kết án tại phiên tòa phúc thẩm, tiếp tục tạm giam bị cáo trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm, hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại… Để giải quyết những vướng mắc đó, ngày 22/12/1992, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

IX, đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung 3 điều mới Cụ thể như sau: Điều 143a Trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Điều 143b Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ

Trang 35

vụ án, Điều 160a Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm; sửa đổi, bổ sung 5 điều

Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988 và được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990

và ngày 22/12/1992 [26] Tuy nhiên, do Bộ luật hình sự mới đã được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2000, có một số nội dung mới trực tiếp liên quan đến các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, nên Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự đã được Quốc hội thông qua ngày 9/6/2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2000 nhằm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 và giải quyết kịp thời một số vấn đề bức xúc mà thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đặt ra, mà ý kiến của các cơ quan hữu quan tương đối thống nhất Cụ thể, Bộ luật tố tụng hình sự đã sửa đổi bổ sung 2 điều mới: Điều 10a Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, Điều 234a Thi hành hình phạt trục xuất; bỏ khoản 3, 4 Điều 145 Thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp, bỏ điều 160a Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm; bỏ điểm a khoản 1 Điều 226 Những bản án và quyết định được thi hành; sửa đổi, bổ sung 21 điều luật và sửa đổi số điều, khoản của

Bộ luật hình sự năm 1985 được viện dẫn trong Bộ luật tố tụng hình sự thành số điều, khoản tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999

Như vậy, cho đến nay sau nhiều lần sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta ngày càng hoàn thiện, phù hợp hơn và góp phần giữ gìn

an ninh, trật tự xã hội trong bối cảnh đất nước đang hội nhập, mở rộng kinh tế phát triển đất nước Tuy nhiên, quy định về những căn cứ không được khởi tố

vụ án hình sự vẫn không có sửa đổi, bổ sung nào Hiện nay, trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự được

Trang 36

quy đinh cụ thể tại Điều 107 và nó vẫn giữ nguyên 07 căn cứ giống như với

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 [28]

Có thể thấy trên thực tế áp dụng những căn cứ này có một vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ cho các cơ quan hoạt động tố tụng của chúng ta và vẫn đang phát huy được tốt vai trò của mình trong bối cảnh xã hội đang ngày càng phát triển và tình hình tội phạm đang ngày càng diễn biến phức tạp.Tuy nhiên những quy định liên quan đến những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự đã được bổ sung sửa đổi thêm Cụ thể tại điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều

36 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định về thẩm quyền quyết định không khởi tố vụ án hình sự Khoản 2 Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định về thời hạn để kiểm tra, xác minh nguồn tin tố giác tội phạm để ra quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không khởi tố vụ án hình sự Và quy định về việc quyết định khởi tố vụ án hình sự cũng có sự thay đổi so với bộ luật tố tụng hình sự 1988

Theo đó tại Điều 90 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 có nêu: “Khi có một

trong những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan khởi tố có quyền

ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự…” [26] còn tại Khoản 1 Điều 108

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì quy định “khi có một trong những căn cứ quy

định tại Điều 107 của Bộ luật này thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự…” [30] Như vậy tại Bộ luật tố tụng hình sự

năm 1988 chỉ nói chung chung về cơ quan khởi tố có quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự còn bộ luật tố tụng hình sự thì nêu cụ thể là người

có quyền khởi tố vụ án hình sự ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Ngoài ra khoản 1 Điều 108 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn đưa

ra quy định thêm: “Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ

quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu liên quan phải được gửi cho

Trang 37

Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định” [30]

Với quy định này thì trong vòng 24 giờ kể từ khi có quyết định không khởi tố

vụ án hình sự thì Viện kiểm sát sẽ nắm được tình hình vụ án hình sự đó đã được ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự nữa Và song hành cùng với việc ban hành ra bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là Bộ luật hình sự 2005 Bộ luật hình sự cũng có những sửa đổi bổ sung so với Bộ luật hình sự năm 1985

về những quy định liên quan đến căn cứ không khởi tố hình sự

Tại khoản 2 và khoản 3 Điều 23 quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự có nêu:

2 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau: a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng; d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

3 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại

kể từ ngày phạm tội mới

Tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tuổi chịu

trách nhiệm hình sự như sau: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ

16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [27] Như vậy khác với quy định về

độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Bộ luật hình sự năm 1985: “Người từ

14 tuổi trở lên những chưa đủ 16 tuổi phải trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý” [25] Quy định mới này của Bộ luật hình sự

Trang 38

2005 thì người từ đủ 14 tuổi trở lên đến 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng chứ không phải là tội phạm nghiêm trọng do cố ý như Bộ luật

án hình sự

1.4.1 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga

Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Bộ luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga về các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự như sau:

1 Không được khởi tố vụ án hình sự và đối với vụ án hình sự

đã được khởi tố thì phải đình chỉ theo những căn cứ sau đây:

1) Không có sự việc phạm tội;

2) Hành vi không cấu thành tội phạm;

3) Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

4) Người bị tình nghi hoặc bị can đã chết, trừ những trường hợp việc tiến hành tố tụng đối với vụ án là cần thiết để minh oan cho người đã chết;

Nghị quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga số 16-P ngày 14/7/2011 khẳng định: các quy định liên quan với nhau tại điểm 4 Điều 24 và điểm 1 Điều 254 Bộ luật này, quy định về việc người bị tình nghi hoặc bị can đã chết, trừ những trường hợp việc tiến hành tố tụng đối với vụ án là cần thiết để minh oan cho người

đã chết như một trong những căn cứ đình chỉ vụ án hình sự, bị coi

Trang 39

là trái Hiến pháp ở mức độ nếu như các quy định này được áp dụng

để đình chỉ vụ án hình sự do người bị tình nghi (hoặc bị can) đã chết mà không có sự đồng ý của họ hàng thân thích của họ

5) Không có yêu cầu của người bị hại, nếu vụ án đó chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trừ những trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 20 Bộ luật này;

6) Không có kết luận của Tòa án về dấu hiệu tội phạm đối với hành vi của một trong những người quy định tại các điểm 2 và

2.1 khoản 1 Điều 448 Bộ luật này hoặc không có sự đồng ý của Hội

đồng Liên bang (tương đương Thượng nghị viện - ND), Đuma

Quốc gia (tương đương Hạ nghị viện - ND), Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga, Hội đồng thẩm định chức danh Thẩm phán về việc khởi

tố vụ án hình sự hay khởi tố bị can đối với một trong những người quy định tại các điểm 1 và từ 3 - 5 khoản 1 Điều 448 Bộ luật này

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29/5/2002 và Luật liên bang số 176/LLB ngày 18/7/2009) [48]

Như vậy, so với quy định về những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam thì quy định tại Điều

24 “Những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự hoặc đình chỉ vụ án hình sự”

trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga có một vài điểm khác biệt sau:

Về hình thức: Nếu như Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam (2003) quy

định những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự tại Điều 107, thuộc phần thứ

hai “Khởi tố, điều tra vụ án hình sự và quyết định việc truy tố” và thuộc chương VIII “Khởi tố vụ án hình sự”, thì Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang

Nga lại quy định những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự tại Điều 24, mục

4 “Những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự hoặc đình chỉ vụ án hình sự” và chương I “Những quy định chung”

Trang 40

Về nội dung, về cơ bản thì những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga cũng chính là những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định trong Bộ luật tố tụng hình

sự Việt Nam năm 2003 (Điều 107) Tuy nhiên, ở Nga có quy định căn cứ: Không có yêu cầu của người bị hại, nếu vụ án đó chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại; mà ở Việt Nam không có căn cứ không khởi tố này Theo em đây là một căn cứ cần thiết và nên đưa vào làm những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự ở Việt Nam Bởi căn cứ này không chỉ nâng cao bảo đảm quyền con người trong Bộ luật tố tụng hình sự mà còn thống nhất được với các điều luật khác trong Bộ luật tố tụng hình sự (như Điều 105)

Về thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, theo Bộ luật

tố tụng hình sự Việt Nam thì thẩm quyền này thuộc về cơ quan ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, đó là: Cơ quan điều tra, thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 1, Điều 108) Còn Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga lại quy định thẩm quyền ra quyết định không

khởi tố vụ án hình sự tại khoản 1, Điều 145: “1 Trên cơ sở kết quả xem xét

thông tin về tội phạm, Cơ quan điều tra ban đầu, Điều tra viên, Dự thẩm viên hoặc Thủ trưởng Cơ quan điều tra dự thẩm ra một trong những quyết định sau Quyết định không khởi tố vụ án hình sự” [48]

Về thời hạn ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Ở Bộ luật tố

tụng hình sự Việt Nam thì thời hạn không khởi tố vụ án chính là thời hạn khởi

tố, theo quy định tại Điều 103 Bộ luật này thì thời hạn là 20 ngày, có trường hợp ngoại lệ nhưng cũng không được quá 2 tháng Còn ở Bộ luật tố tụng hình

sự Liên bang Nga thì quy định tại khoản 1 Điều 144, cụ thể:

Điều tra viên, Cơ quan điều tra ban đầu, Dự thẩm viên và

Ngày đăng: 18/12/2015, 20:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Sự hình thành và phát triển nhân cách con người  41 - Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t
Bảng 2.1 Sự hình thành và phát triển nhân cách con người 41 (Trang 8)
Hình sự - Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t
Hình s ự (Trang 22)
Hình sự cần xác định: Có sự - Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t
Hình s ự cần xác định: Có sự (Trang 23)
Bảng 2.1: Sự hình thành và phát triển nhân cách con người - Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t
Bảng 2.1 Sự hình thành và phát triển nhân cách con người (Trang 49)
Bảng so sánh độ tuổi  chịu trách nhiệm  hình sự của  một  số nước  dưới  đây đã phản ánh nội dung của những đặc điểm trên như sau [19] [51]: - Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t
Bảng so sánh độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một số nước dưới đây đã phản ánh nội dung của những đặc điểm trên như sau [19] [51]: (Trang 50)
Bảng 2.3: Phân bố dân số trên địa bàn các huyện ở thành phố Buôn Ma - Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t
Bảng 2.3 Phân bố dân số trên địa bàn các huyện ở thành phố Buôn Ma (Trang 61)
Bảng 2.4: Tổng hợp số vụ án được đưa ra khởi tố và số vụ án không đưa - Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t
Bảng 2.4 Tổng hợp số vụ án được đưa ra khởi tố và số vụ án không đưa (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm