1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu hiệu định lượng trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh đắk nông) luận văn ths

79 353 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 636,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN GIANG

DấU HIệU ĐịNH LƯợNG TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN GIANG

DấU HIệU ĐịNH LƯợNG TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: GS TS ĐỖ NGỌC QUANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu thống kê, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính thực tiễn, chính xác, trung thực và tin cậy Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác, tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo chương trình và thực hiện tất cả các nghĩa vụ về tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại Học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Giang

Trang 4

LƯỢNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6 1.1 Khái niệm, phân loại dấu hiệu định lượng trong Luật hình

sự Việt Nam 6 1.1.1 Khái niệm dấu hiệu định lượng trong Luật hình sự 6 1.1.2 Phân biệt dấu hiệu định lượng và dấu hiệu định tính trong Luật

hình sự 11 1.1.3 Phân loại dấu hiệu định lượng trong luật hình sự 14 1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt

Nam về dấu hiệu định lượng 19 1.2.1 Giai đoạn 1945 đến 1985 19 1.2.2 Giai đoạn 1985 đến 1999 21 1.3 Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về dấu hiệu định lượng

trong cấu thành tội phạm cụ thể Phần các tội phạm 27 1.3.1 Dấu hiệu định lượng về hình thức được thể hiện trong các quy

định tại các cấu thành tội phạm cụ thể Bộ luật hình sự năm 1999 27 1.3.2 Dấu hiệu định lượng về nội dung được thể hiện trong các quy

định tại các cấu thành tội phạm cụ thể Bộ luật hình sự năm 1999 30

Trang 5

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG DẤU HIỆU ĐỊNH LƯỢNG

TRONG LUẬT HÌNH SỰ (TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG) VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 37 2.1 Thực tiễn áp dụng dấu hiệu định lượng trong luật hình sự

(trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông) 37 2.1.1 Sơ lược về tình hình địa chính trị, kinh tế, xã hội tỉnh Đắk Nông 37 2.1.2 Những kết quả đạt và những tồn tại, vướng mắc trong áp dụng

dấu hiệu định lượng trong luật hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Nông giai đoạn từ 2010 đến 2014 39 2.1.3 Nguyên nhân gây nên những tồn tại vướng mắc trong việc áp

dụng dấu hiệu định lượng trong luật hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Nông 51 2.2 Những kiến nghị đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng dấu

hiệu định lượng trong luật hình sự 56 2.2.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước trong hoàn thiện quy định

pháp luật hình sự về các tội phạm cụ thể có liên quan đến dấu hiệu định lượng 56 2.2.2 Kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự về dấu hiệu

định lượng trong một số cấu thành tội phạm cụ thể 59 2.2.3 Các kiến nghị đề xuất khác liên quan đến áp dụng dấu hiệu định

lượng trong Luật hình sự vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm 63 KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự (VAHS), các

cơ quan điều tra, truy tố, xét xử phải định tội danh căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm để chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhằm xác định đúng tính chất của vụ án Việc nhận thức chân lý khách quan của vụ án hình sự là một quá trình hết sức phức tạp được tạo bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng

cứ do các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện phù hợp với các qui định của

Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự Vì vậy, để định đúng tội danh mà người phạm tội đã thực hiện cần căn cứ vào các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, trong đó có dấu hiệu định tính và dấu hiệu định lượng trong mặt khách quan của tội phạm, tùy thuộc vào từng cấu thành tội phạm cụ thể mà

Bộ luật hình sự quy định

Do “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” mà hành vi phạm tội có thể xảy ra trong các lĩnh vực khác nhau của

Trang 8

đời sống xã hội Tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi phạm tội xâm phạm vào các nhóm quan hệ xã hội khác nhau được pháp luật hình sự bảo vệ mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm xâm phạm ở từng lĩnh vực cụ thể Để tránh những sai lầm trong việc xử lý hành vi nguy hiểm cho

xã hội, Bộ luật hình sự có quy định dấu hiệu định lượng để phân biệt hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức nào thì phải bị xử lý về hình sự hoặc đến mức nào thì phải bị xử lý về hành chính Đây là vấn đề mấu chốt rất quan trọng để phân biệt hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải là tội phạm Trên cơ sở đó đưa ra các chế tài xử lý phù hợp với từng hành vi nguy hiểm cho xã hội

Vấn đề dấu hiệu định lượng trong luật hình sự Việt Nam đã được đề cập khi xây dựng Bộ luật hình sự năm 1985 Tuy nhiên, quá trình áp dụng Bộ luật hình sự 1985 đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết trong việc quy định dấu hiệu định lượng nên đã dẫn đến sự tùy tiện trong việc định tội danh tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Bộ luật hình sự năm 1999 thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 đã khắc phục tình trạng này bằng cách quy định rõ hơn những dấu hiệu định lượng trong từng nhóm tội phạm cụ thể

Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn áp dụng qui định của pháp luật hình sự vào quá trình chứng minh vụ án hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng rất ít được quan tâm nghiên cứu Bên cạnh đó,

Bộ luật hình sự 1999 qui định về vấn đề này ở một chừng mực nào đó còn chưa cụ thể, chặt chẽ và đang phát sinh nhiều bất cập do sự thay đổi của tình hình kinh tế, xã hội đất nước Mặt khác, trong khoa học luật hình sự còn không ít vấn đề về dấu hiệu định lượng còn chưa thống nhất về cách hiểu, thậm chí có những quan điểm trái ngược nhau.Trong thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm đang diễn ra hết sức phức tạp, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm của

Trang 9

kẻ phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn thì cần quy định một cách rất cụ thể về dấu hiệu định lượng trong từng tội phạm vụ thể Điều đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu về dấu hiệu định lượng để góp phần hoàn thiện Bộ luật hình sự bổ sung, sửa đổi thời gian tới đây Trước yêu cầu này, tác giả lựa

chọn đề tài: “Dấu hiệu định lượng trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở

số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông)” viết luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay đã có một số rất ít công trình công bố về kết quả nghiên cứu liên quan đến dấu hiệu trong luật hình sự Cụ thể: Luận văn thạc sĩ luật

học năm 2004: “Vai trò của Yếu tố định lượng tài sản trong việc phân biệt tội

phạm với hành vi không phải là tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam”của tác giả Nghiêm Xuân Cường; Bài viết: “Vấn đề định lượng tài sản

bị chiếm đoạt trong Bộ luật hình sự năm 1999” của tác giả Lê Thúy Phượng

đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 3/1999; Bài viết: Có cần định giá tài sản

theo Bộ luật hình sự mới hay không” của tác giả Hồ Oanh đăng trên tạp chí

Tòa án nhân dân số 8/2000; Bài viết: “Bàn về định lượng trong Bộ luật hình

sự năm 1999” của TS Đặng Anh đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số

7/2002; Bài viết: “Dấu hiệu định lượng trong Bộ luật hình sự” của TS Lê Thị

Sơn đăng trên Tạp chí Luật học số 1/2005 v.v Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và các bài viết trên chỉ thể hiện ở một phần, ở một khía cạnh nhất định trong nghiên cứu dấu hiệu định lượng trong luật hình sự theo từng chương của Bộ luật hình sự ở từng nhóm tội phạm mà chưa nghiên cứu toàn diện những vấn đề liên quan đến dấu hiệu định lượng khi định tội danh cũng như định lượng khi áp dụng tình tiết định khung tăng nặng và giảm nhẹ

Từ thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn dấu hiệu định lượng của tội phạm, đặt ra yêu cầu đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 10

của những quy định dấu hiệu định lượng trong luật hình sự Đây là vấn đề hết sức cần thiết, nhằm không ngừng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam, trên

cơ sở đó tạo nền tảng cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án khắc phục thiếu sót nhằm xác định chính xác tội danh và bảo đảm xử lý công minh, công bằng, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay và tương lai

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn

Mục đích của luận văn là làm quy định về dấu hiệu định lượng trong luật hình sự Việt Nam nhằm giúp cho việc định tội danh cũng như tính chất

và mức độ phạm tội của từng tội phạm

Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận hình thành và của những quy định của luật thực định liên quan đến dấu hiệu định lượng trong luật hình sự; nghiên cứu thực trạng áp dụng những quy định về dấu hiệu định lượng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông; nghiên cứu làm rõ những tồn tại, vướng mắc trong áp dụng pháp luật hình sự và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về dấu hiệu định lượng khi định tội danh cũng như khi xem xét tính chất, mức độ phạm tội của những tội phạm có liên quan

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những dấu hiệu định lượng trong luật hình sự về những tội phạm cụ thể

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những quy định dấu hiệu định lượng trong phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1999 trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông từ năm 2009 đến 2014

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê

Trang 11

Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và đấu tranh phòng, chống tội phạm

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê xã hội học, điều tra… để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn này

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, có 2 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về dấu hiệu định lượng trong luật

hình sự Việt Nam

Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về dấu hiệu định lượng

trên địa bàn tỉnh Đắk Nông và các kiến nghị đề xuất

Trang 12

1.1.1 Khái niệm dấu hiệu định lượng trong Luật hình sự

Dấu hiệu, theo Từ điển Tiếng Việt, là cái định ra theo quy ước để nhận diện một một sự vật, hoặc một hiện tượng Ví dụ, hành vi giơ tay làm dấu hiệu Còn định lượng, cũng theo Từ điển này, là số lượng cụ thể Ví dụ, khẩu đội pháo cao xạ có 5 người, mỗi người làm một nhiệm vụ khác nhau liên quan đến hoạt động của khẩu pháo, nếu thiếu một người thì không thể là khẩu đội pháo Như vậy, dấu hiệu định lượng được hiểu là dấu hiệu xác định số lượng hình thành một sự vật, một hiện tượng trong xã hội

Khác với những sự vật, hiện tượng trong xã hội, tội phạm tuy là một hiện tượng xã hội, nhưng để xác định tội phạm phải dựa vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở chỗ nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của xã hội Để xác định hành vi nào đó

do con người thực hiện có phải là tội phạm hay không phải dựa vào cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý thống nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội Nhắc đến cấu thành tội phạm là đề cập đến các yếu tố bắt buộc cấu thành nên tội phạm đó cũng như các dấu hiệu của mỗi yếu

tố đó Phụ thuộc vào mỗi chế độ, nhà nước khác nhau và phụ thuộc vào chính sách hình sự của nhà nước đó mà quy định trong pháp luật hình sự những yếu

tố nào là các yếu tố cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là những yếu tố đặc trưng của các loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự Chỉ khi nào có đầy đủ các dấu hiệu bắt buột này thì hành vi vi phạm pháp luật

Trang 13

mới được coi là hành vi phạm tội Những dấu hiệu bắt buộc bao gồm: khách thể, chủ thể, mặt chủ quan, mặt khách quan của tội phạm

 Khách thể của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại như: “độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật

do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

 Mặt chủ quan của tội phạm là biểu hiện bên trong ý thức của người thực hiện hành vi phạm tội thông qua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội

Do tội phạm là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan Vì vậy, Luật hình sự Việt nam không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa

là truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ căn cứ vào những biểu hiện của hành vi nguy hiểm cho xã hội không kể hành vi đó bắt nguồn từ đâu, diễn biến tâm lý của người thực hiện hành vi ra sao Hoạt động định tội phải là sự kết hợp giữa mặt khách quan và chủ quan, giữa hành vi biểu hiện và thái độ bên trong của người thực hiện hành vi Xem xét mặt chủ quan của tội phạm biểu hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội Mỗi yếu tố có ý nghĩa khác nhau trong việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội

Trang 14

Lỗi là biểu hiện về mặt tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Một hành vi của bị xem là có lỗi khi hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan để lựa chọn và thực hiện những xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Lỗi cố ý là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra; hoặc trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy

ra Lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; hoặc trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc

dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

Mục đích phạm tội là kết quả cuối cùng mà người phạm tội muốn đạt được khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Nó xác định khuynh hướng

ý chí và khuynh hướng hành động của người phạm tội Còn động cơ phạm tội

là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội

 Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm những dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi nguy hiểm gây nên; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu bên ngoài khác

Hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mặt khách quan của tội phạm là tất

cả những xử sự của con người được biểu hiện ra thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định (hành động hoặc không hành động) gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Để

Trang 15

trở thành hành vi khách quan của tội phạm thì hành vi đó phải có tính nguy hiểm cho xã hội; thể hiện bằng hành động hoặc không hành động; được quy định trong luật hình sự; gây nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội bằng những thiệt hại nhất định (cho nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân) do hành vi phạm tội gây ra cho các quan hệ xã hội luật hình sự bảo vệ Hậu quả thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: hậu quả vật chất là những thiệt hại mà con người trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện

kỹ thuật có thể xác định được một cách chính xác mức độ của nó (ví dụ, thiệt hại về vật chất thường được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các đối tượng vật chất như tài sản bị phá huỷ, bị chiếm giữ, bị sử dụng trái phép; thiệt hại về thể chất biểu hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của thực thể tự nhiên con người như tính mạng, sức khỏe v.v ); hậu quả phi vật chất là những thiệt hại không thể tính toán một cách chính xác bằng các phương tiện đo lường Sự thiệt hại này chỉ được đánh giá thông qua hoạt động tư duy của con người Thiệt hại loại này có thể kể đến như danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người, chính trị, xã hội, đạo đức…

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm) Dùng để chỉ hành vi khách quan đóng vai trò là nguyên nhân, hậu quả nguy hiểm cho xã hội đóng vai trò là hậu quả Để xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chúng ta cần dựa vào các

cơ sở có tính nguyên tắc sau: hành vi được coi là nguyên nhân phải là hành vi trái pháp luật hình sự và xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian Nguyên nhân

và hậu quả phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu Một nguyên nhân bao giờ cũng chứa đựng mầm mống nội tại nhằm phát sinh kết quả nhất định

Bên cạnh các mặt biểu hiện đã nêu, mặt khách quan của tội phạm còn

Trang 16

được biểu hiện qua các nội dung khác như phương pháp, phương tiện, công

cụ phạm tội, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội… Phương tiện phạm tội như phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, tiền… Công cụ phạm tội như gậy gộc, súng, chất độc… là những đối tượng được chủ thể sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội Phương tiện phạm tội trong một số trường hợp là dấu hiệu định tội và định khung hình phạt

Mỗi tội phạm cụ thể bao giờ cũng có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm khách thể, chủ thể, mặt chủ quan, mặt khách quan như đã nêu ở trên Tuy nhiên, trong các yếu tố cấu thành tội phạm thì khi xác định tính nguy hiểm của tội phạm thường được các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét trước tiên là các dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm Tùy thuộc vào từng tội phạm cụ thể mà hành vi nguy hiểm cho xã hội, có thể thể hiện bằng hậu quả của tội phạm gây ra cho xã hội Chính những dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu định tội như đã trình bày ở trên Hậu quả có thể là vật chất được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các đối tượng vật chất như tài sản bị phá huỷ, bị chiếm giữ, bị sử dụng trái phép; thiệt hại về thể chất biểu hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của thực thể

tự nhiên con người như tính mạng, sức khỏe v.v ); hoặc hậu quả có thể là phi vật chất thể hiện ở những những thiệt hại không thể tính toán một cách chính xác bằng các phương tiện đo lường mà chỉ được đánh giá thông qua hoạt động tư duy của con người như danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người, chính trị, xã hội, đạo đức… Trong các loại hậu quả về vật chất được quy định trong mặt khách quan của tội phạm thì những hậu quả được quy định trong cấu thành cơ bản của tội phạm được thể hiện ra bên ngoài có thể cân, đong, đo đếm được thì được coi là dấu hiệu định lượng Đây chính là những dấu hiệu đặc trưng của từng tội dưới hình thức cấu thành tội phạm Ví

dụ mức độ thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị hư

Trang 17

hỏng, bị thiệt hại v.v Ngoài ra, hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mặt khách quan của tội phạm còn được thể hiện ở những đối tượng phạm tội Ví

dụ giá trị hàng hóa, kim khí quá, đá quý; trong lượng của những vật chất bị cấm sản xuất, mua bán vận chuyển, tàng trữ v.v Căn cứ vào những dấu hiệu này mà định tội danh của từng tội phạm cụ thể hoặc định khung hình phạt tăng nặng đối với người phạm tội

Như vậy, dấu hiệu định lượng trong Luật hình sự là một trong những

dấu hiệu thể hiện tại mặt khách quan của tội phạm mà căn cứ vào đó để định tội danh của từng cấu thành tội phạm cơ bản, hoặc định khung tăng nặng hình phạt của từng cấu thành tội phạm tăng nặng

1.1.2 Phân biệt dấu hiệu định lượng và dấu hiệu định tính trong Luật hình sự

Như phần trên đã trình bày, Luật hình sự quy định tội phạm cụ thể tại Phần các tội phạm Bộ luật hình sự thông qua phần quy định của quy phạm pháp luật hình sự Khoa học luật hình sự xác định quy phạm pháp luật hình sự đối với mỗi tội phạm cụ thể được chia làm 3 phần: phần giả định (người nào); phần quy định (mô tả các dấu hiệu có tính đặc trưng của tưng tội dưới hình thức của cấu thành tội phạm) và phần chế tài (quy định loại và mức hình phạt cần áp dụng đối với người nào thỏa mãn nhưng dấu hiệu của cấu thành tội phạm) Khoa học luật hình sự xác định có 3 loại quy định trong quy phạm pháp luật hình sự phần các tội phạm cụ thể Đó là “quy định tóm tắt”, “quy định viện dẫn” và “quy định mô tả”

“Quy định tóm tắt” là quy định ngắn gọn, không mô tả những dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm Ví dụ: Điều 138 Bộ luật hình sự quy định

về tội trộm cắp tài sản: Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị

từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi

Trang 18

chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích

mà còn vi phạm, thì bị phạt ; hoặc Điều 93 Bộ luật hình sự quy định: Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt Còn thế

nào là trộm cắp tài sản, hoặc thế nào là giết người thì cần có sự hướng dẫn của những văn bản quy phạm pháp luật khác

“Quy định viễn dẫn” là quy định tội phạm thông qua một quy phạm pháp luật khác, hay nói cách khác, để hiểu quy phạm pháp luật của tội phạm này phải thông qua một quy phạm pháp luật của một tội phạm khác Ví dụ, Điều

289 Bộ luật hình sự quy định về tội đưa hối lộ: Người nào đưa hối lộ mà của

hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt

Tuy nhiên, để hiểu thế nào là đưa hội lộ phải thông qua quy phạm pháp luật hình sự về tội nhận hội lộ Bộ luật hình sự quy định về tội nhận hối lộ:

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian

đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt

Từ quy định này có thể hiểu về tội đưa hối lộ là: Người nào trực tiếp

hoặc qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để yêu cầu người có chức vụ làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của mình, thì bị phạt

“Quy định mô tả” là quy định nêu một cách cụ thể về các dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm Ví dụ, Điều 133 Bộ luật hình sự quy định về tội

cướp tài sản: Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc

Trang 19

có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt ; hoặc Điều 135 Bộ luật

hình sự quy định về tội cưỡng đoạt tài sản: Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực

hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt

Tuy nhiên, trong các quy phạm pháp luật hình sự phần các tội phạm cụ thể có những quy định mô tả thì cũng có sự khấc nhau về sự mô tả của các tội phạm Việc mô tả các dấu hiệu của tội phạm trong cấu thành tội phạm có thể

là sự mô tả về dấu hiệu định lượng và có thể là sự mô tả về dấu hiệu định tính

Như phần trên đã trình bày, dấu hiệu định lượng trong Luật hình sự là một trong những dấu hiệu thể hiện tại mặt khách quan của tội phạm mà căn

cứ vào đó để định tội danh của từng cấu thành tội phạm cơ bản, hoặc định khung tăng nặng hình phạt của từng cấu thành tội phạm tăng nặng Như vậy, quy định mô tả theo dấu hiệu định lượng là rất cụ thể, có thể xác định được ngay thông qua hậu quả do tội phạm gây nên cho xã hội; hoặc thông qua giá trị tài sản bị tội phạm tác động; hoặc thông qua đối tượng của tội phạm

Còn quy định của quy phạm pháp luật với mô tả về dấu hiệu định tính trong cấu thành tội phạm cụ thể thường rất trừu tượng, mà để hiểu rõ nội dung

về sự mô tả này cần có sự hướng dẫn hoặc giải thích pháp luật mới có thể vận dụng được thống nhất trong các cơ quan tư pháp Ví dụ, Điều 285 Bộ luật

hình sự quy định về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng: “Người

nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt ” Như

vậy, hiểu như thế nào là hậu quả nghiêm trọng là vấn đề rất trừu tượng mà để hiểu nội hàm của hậu quả nghiêm trọng trong tội phạm này cần có hướng dẫn của Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì tòa án các cấp mới có thể áp dụng để xét xử tội phạm này một cách thống nhất

Trang 20

Như vậy, điểm giống nhau của dấu hiệu định lượng và dấu hiệu định tính

trong cấu thành tội phạm cụ thể của Luật hình sự là những dấu hiệu thể hiện tại mặt khách quan của tội phạm, mà căn cứ vào đó để định tội danh của từng cấu thành tội phạm cơ bản, hoặc định khung tăng nặng hình phạt của từng cấu thành tội phạm tăng nặng Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản của dấu hiệu định lượng và dấu hiệu định tính trong cấu thành tội phạm cụ thể của Luật hình sự chính là tính cụ thể và tính trừu tượng của dấu hiệu này Đối với những dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể dựa vào những dấu hiệu này để có thể định ngay được tội danh Ngược lại, đối với những dấu hiệu định tính trong cấu thành tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng không thể dựa vào những dấu hiệu này để có thể định ngay được tội danh, mà phải có sự hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự của cơ quan tư pháp có thẩm quyền

Với những hạn chế của dấu hiệu định tính trong cấu thành tội phạm cụ thể như đã nêu trên, xu hướng chung của việc xây dựng cấu thành tội phạm là

cố gắng hạn chế sự mô tả trừu tượng (định tính), tăng cường sự mô tả theo dấu hiệu định lượng Từ đó việc áp dụng pháp luật hình sự mới được cụ thể,

rõ ràng, tránh những nhận định chủ quan của những người tiến hành tố tụng

1.1.3 Phân loại dấu hiệu định lượng trong luật hình sự

Trong Bộ luật hình sự năm 1999, dấu hiệu định lượng không phải được quy định trong tất cả các chương, hoặc không phải được quy định trong tất cả các tội phạm cụ thể Do vậy, có hai cách phân loại dấu hiệu định lượng trong luật hình sự như sau: dấu hiệu định lượng về hình thức và dấu hiệu định lượng

về nội dung trong cấu thành tội phạm cụ thể

 Dấu hiệu định lượng về hình thức trong cấu thành tội phạm cụ thể được thể hiện ở những cấu thành tội phạm cơ bản và cấu thành tội phạm định khung tăng nặng Đối với dấu hiệu định lượng này có thể chia làm 3 loại:

Thứ nhất, dấu hiệu định lượng được quy định chỉ trong cấu thành tội

Trang 21

phạm cơ bản mà không được quy định trong cấu thành tội phạm tăng nặng Ví

dụ, Tội giết con mới đẻ (Điều 94) quy định: “Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng

nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” Dấu hiệu

định lượng trong tội danh này thể hiện ở chỗ: hậu quả đứa trẻ chết Trong tội

danh này không có cấu thành tội phạm định khung tăng nặng Hoặc ví dụ Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều

102) Tại khoản 1 của điều luật này quy định: “Người nào thấy người khác

đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” Dấu hiệu định

lượng trong tội danh này là người không được cứu giúp chết Tuy nhiên khoản 2 của cấu thành tội phạm định khung tăng nặng lại không quy định dấu

hiệu định lượng mà chỉ quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp

sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm: a) Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;b) Người không cứu giúp là người

mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp

Thứ hai, dấu hiệu định lượng không được quy định trong cấu thành

tội phạm cơ bản, nhưng lại được quy định trong cấu thành tội phạm tăng nặng Ví dụ, Điều 111 Bộ luật hình sự quy định về tội hiếp dâm (khoản 1 là cấu thành tội phạm cơ bản không quy định dấu hiệu định lượng, nhưng khoản 2, khoản 3 là cấu thành tội phạm định khung tăng nặng lại có quy định dấu hiệu định lượng):

1 Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

Trang 22

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

Như vậy, dấu hiệu định lượng trong tội hiếp dâm thể hiện ở mức độ thương tích hoặc mức độ tổn hại về sức khỏe chỉ được quy định trong cấu thành tội phạm định khung tăng nặng (tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà

tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên)

Thứ ba, dấu hiệu định lượng được quy định trong cả cấu thành tội

phạm cơ bản và cấu thành tội phạm tăng nặng Ví dụ, Điều 104 Bộ luật hình

sự quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (khoản 1 là cấu thành tội phạm cơ bản; khoản 2, khoản 3 và khoản

4 là cấu thành tội phạm định khung tăng nặng):

1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

Trang 23

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

2 Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

3 Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm

4 Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân

Như vậy, dấu hiệu định lượng trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thể hiện ở mức độ thương tích hoặc mức

độ tổn hại về sức khỏe được quy định trong cả cấu thành tội phạm cơ bản và cấu thành tội phạm định khung tăng nặng (từ 11% đến 30% hoặc dưới 11%;

từ 30% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%; từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%)

 Phân loại về nội dung dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm

cụ thể được thể hiện bằng hậu quả của tội phạm, giá trị của tài sản, giá trị của phương tiện phạm tội và trọng lượng của đối tượng tác động v.v trong cấu thành tội phạm cụ thể thuộc mặt khách quan của tội phạm thể hiện:

Trang 24

Thứ nhất, dấu hiệu định lượng phản ánh hậu quả của tội phạm dưới

dạng thiệt hại về thể chất (tính mạng, sức khỏe) với những tình tiết: làm chết người; tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật theo tỷ lệ phần

trăm trong giới hạn nhất định Ví dụ: Tội không cứu giúp người đang ở trong

tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102 Bộ luật hình sự); Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 107 Bộ luật hình sự);

Thứ hai, dấu hiệu định lượng phản ánh hậu quả của tội phạm dưới dạng

thiệt hại về vật chất (tài sản bị phá hủy, bị hủy hoại, bị hư hỏng) với những

tình tiết thể hiện giá trị của tài sản Ví dụ, Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng

tài sản (Điều 143 Bộ luật hình sự); Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước

về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 Bộ luật hình sự);

Thứ ba, dấu hiệu định lượng phản ánh giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị

chiếm giữ, bị sử dụng trái phép Ví dụ, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

sản (Điều 140 Bộ luật hình sự); Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141 Bộ

luật hình sự);

Thứ tư, dấu hiệu định lượng phản ánh đối tượng tác động của tội phạm

thể hiện bằng giá trị tài sản Ví dụ, Tội buôn lậu (Điều 153 Bộ luật hình sự);

Tội trốn thuế (Điều 161 Bộ luật hình sự);

Thứ năm, dấu hiệu định lượng phản ánh đối tượng tác động của tội

phạm thể hiện bằng trọng lượng của vật chất Ví dụ, Tội tàng trữ, vận chuyển,

mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194 Bộ luật hình sự); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 195 Bộ luật hình sự);

Thứ sáu, dấu hiệu định lượng phản ánh giá trị của phương tiện phạm tội

Ví dụ, Tội nhận hối lộ (Điều 279 Bộ luật hình sự); Tội lợi dụng chức vụ, quyền

hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 283 Bộ luật hình sự)

Trang 25

Như vậy, có nhiều cách phân loại dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm của các quy phạm pháp luật hình sự Phần các tội phạm của Luật hình sự Việc phân loại này giúp cho việc nghiên cứu sâu những vấn đề liên quan đến dấu hiệu định lượng trong Luật hình sự của Luận văn này

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam

về dấu hiệu định lượng

1.2.1 Giai đoạn 1945 đến 1985

Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) thành công đã xóa bỏ xiềng xích chế độ thực dân gầm 100 năm của Thực dân Pháp và chế độ quân chủ phong kiến hàng chục thế kỷ lập lên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngay trong ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới rằng, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa xóa bỏ hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam Tuy nhiên, do yêu cầu khách quan của một nhà nước, một đất nước không thể thiếu pháp luật và không thể một thời gian ngắn nhà nước có thể ban hành đầy đủ pháp luật để điều hành đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 02 ngày

10/10/1945 quyết định “giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam

bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc”, trong

Trang 26

truy tố các tội bắt cóc, tổng tiền và ám sát; Sắc lệnh số 163-SL ngày 23/8/1946 về tổ chức tòa án binh lâm thời đặt tại Hà Nội, trong đó quy định tương đối chi tiết các tội phạm quân sự; Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 trừng trị các tội hối lộ; Sắc lệnh số 73-SL ngày 26/2/1947 về các tội đạo thiết, lừa đảo, biển thủ và thiện thủ; Sắc lệnh số 177-SL ngày 14/4/1948 về định tội các việc phá hủy hay làm tổn hại đến động sản của người khác; Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1949 về phạt tội ăn cắp lấy trộm các vật dụng của nhà binh trong thời bình và thời kỳ chiến tranh”; Sắc lệnh số 154-SL ngày 17/11/1950

về ấn định hình phạt trừng trị việc tiết lộ bí mật của cơ quan hoặc công tác của Chính phủ; Sắc lệnh số 180-SL ngày 20/12/1950 quy định hình phạt đối với những hành vi đầu cơ tiền tệ, làm giấy bạc giả, tàng trữ hay lưu hành giấy bạc của địch; Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/1/1953 về trừng trị các loại việt gian và phản động; v.v

Trong thời kỳ đầu những năm giải phóng miền Bắc và đấu tranh chống

Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lại tiếp tục bản hành các văn bản pháp luật hình sự như Sắc lệnh số 267-SL ngày 15/6/1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, cản trở việc thực hiện chính sách,

kế hoạch nhà nước; Sắc lệnh số 001-SL ngày 19/4/1957 cấm mọi hành động đầu cơ về kinh tế v.v Nhìn chung các sắc lệnh về hình sự được ban hành chỉ quy định một cách chung nhất đều mang tính liệt kê hành vi phạm tội, có tính chất đơn hành về những hành vi nguy hiểm cụ thể cho xã hội được hình sự hóa thuộc các loại quan hệ xã hội nhất định, mà không quy định về dấu hiệu định lượng khi định tội danh của từng tội phạm cụ thể

Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lại phải tiếp tục huy động toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam Bên cạnh nhiệm vụ

Trang 27

kháng chiến chống Mỹ, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Yêu cầu xây dựng pháp luật hình sự được đặt ra để đấu tranh với các loại tội phạm hình sự Năm 1967, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng Việc ban hành pháp lệnh này thể hiện tiến trình lập pháp hình sự, quy định tương đối bao quát có hệ thống các tội danh phản cách mạng Tiếp đó giai đoạn những năm 70, đầu 80, Ủy ban thường vụ Quốc hội tiếp tục ban hành 4 pháp lệnh hình sự Đó là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân; Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ và Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép Tuy nhiên, hạn chế cơ bản của các văn bản pháp luật trong thời gian này là không quy định dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm cụ thể Điều này đã dẫn đến sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn điều tra, khám phá, xử lý tội phạm nói chung

1.2.2 Giai đoạn 1985 đến 1999

Trước tình hình đấu tranh với các loại tội phạm ngày càng phức tạp khi các văn bản pháp luật hình sự còn rời rạc, không hệ thống, khó áp dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, tháng 6 năm 1985, Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên (gọi là Bộ luật hình sự 1985) Sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1985 đánh dấu sự trưởng thành của Nhà nước trong việc hệ thống hóa một cách cơ bản các hành

vi nguy hiểm cho xã hội cần bị bị xử lý theo các chế tài hình sự

Sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp thể hiện trong Bộ luật hình sự năm

1985 thể hiện ở chỗ, Bộ luật đã thể chế hóa về hình sự đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ quá độ xây dựng một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với chế độ hành chính bao cấp mà thành phần kinh tế cơ bản là nhà nước (quốc doanh) và hợp tác xã Mặt khác, để vận dụng thống nhất pháp luật hình sự trong toàn quốc, Bộ luật được chia làm 2 phần: Phần chung và Phần

Trang 28

các tội phạm Tại Phần chung Bộ luật hình sự năm 1985 quy định những vấn

đề chung nhất về tội phạm và không phải là tội phạm; hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp hình sự; những vấn đề về quyết định hình phạt v.v Tại Phần các tội phạm, Bộ luật hình sự 1985 chia làm 12 nhóm tội phạm bao gồm: các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người; các tội xâm phạm những quyền tự do dân chủ của công dân; các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa; Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên; các tội xâm phạm sở hữu của công dân; các tội phạm về kinh tế; các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính; các tội phạm về chức vụ; các tội xâm phạm hoạt động tư pháp; các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân; và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh

Điểm mới rất cơ bản trong Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định những dấu hiệu định lượng trong một số tội phạm cụ thể, chủ yếu là tội liên quan đến làm chết người Ví dụ: tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người, dấu hiệu định lượng được thể hiện ở

nhiều điều luật, như dấu hiệu làm chết người tại các điều 101 (Tội giết người) với hành vi: giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ

chết; các điều 103 (Tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của người khác

trong khi thi hành công vụ), 104 (Tội vô ý làm chết người), 107 (Tội cố ý không giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng)

Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực, Nhà nước quyết định chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thành phần từ năm 1986 Điều này làm phát sinh nhiều bất cập trong những quy định của Bộ luật hình sự 1985 Vì vậy liên tục những năm 1989, 1991, 1992 và 1997, Quốc hội nước Cộng hòa

Trang 29

xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải ban hành các văn bản Luật bổ sung sửa đổi một số điều của Bộ luật hình sự 1985 Trong 4 lần sửa đổi đã có 69 điều của

Bộ luật hình sự năm 1985 được sửa đổi, bổ sung với 101 lần sửa đổi đối với từng điều luật riêng biệt, trong đó 45 điều luật sửa một lần; 18 điều luật sửa hai lần, 4 điều luật sửa ba lần và có 2 điều luật có 4 lần sửa đổi bổ sung; có 23 điều luật mới được bổ sung Đặc biệt trong lần sửa đổi lần thứ 4 (1997), từ một điều luật (Điều 96a) được bổ sung thành một chương gồm 14 điều luật quy định tội phạm và hình phạt đối với các tội phạm về ma túy và 11 điều luật quy định tội phạm và hình phạt đối với các tội phạm về tham nhũng

Điểm đáng chú ý trong các lần sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1985, các dấu hiệu định lượng trong hành vi phạm tội từng bước được quy định rõ trong

Bộ luật hình sự 1985 qua lần sửa đổi lần thứ 4 năm 1997 về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật hình sự năm 1985 Ví dụ, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104) quy định:

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; Có tổ chức; Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật

Trang 30

từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt

tù từ hai năm đến bảy năm Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm

Đối với Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 108); Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109) thì dấu hiệu định tội căn cứ vào tỷ lệ thương tích từ 31% trở lên Đối với các tội như: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); Tội trộm cắp tài sản (Điều 138); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

(Điều 139) dấu hiệu định tội căn cứ vào chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn

vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm Đối với Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141), dấu hiệu định lượng căn cứ vào giá trị tài sản từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142) căn cứ vào tài sản có giá

Trang 31

trị từ năm mươi triệu đồng trở lên gây hậu quả nghiêm trọng; Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143), dấu hiệu định lượng căn cứ vào gây thiệt hại từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích

mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù

từ sáu tháng đến ba năm v.v

Đối với các tội phạm về ma túy, Bộ luật hình sự năm 1985 được bổ sung sửa đổi năm 1997 quy định dấu hiệu định lượng trong tình tiết định khung tăng nặng căn cứ vào trọng lượng của chất ma túy Ví dụ, Tội sản xuất trái phép chất ma túy, tại các khoản 2, 3, 4 Điều 193 quy định:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam; Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam; Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam; Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít; Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm h khoản 2 Điều này Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam; Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam; Các chất

ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam; Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít; Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các

Trang 32

điểm từ điểm b đến điểm đ khoản 3 Điều này Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên; Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên; Các chất

ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên; Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên; Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản 4 Điều này

Tương tự như thế đối với các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194)

Đối với các Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 195), dấu hiệu định lượng đặt ra đối với tình tiết định khung tăng nặng khi người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

Tiền chất có trọng lượng từ hai trăm gam đến dưới năm trăm gam Phạm tội trong trường hợp tiền chất có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một nghìn hai trăm gam, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm Phạm tội trong trường hợp tiền chất có trọng lượng từ một nghìn hai trăm gam trở lên, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân

Như vậy, dấu hiệu định lượng đã được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 trong các lần sửa đổi bổ sung những quy định về các tội phạm cụ thể Tuy nhiên, dấu hiệu định lượng chủ yếu tập trong vào những tình tiết định khung tăng nặng, còn các tình tiết định tội vẫn chưa được quy định cụ thể, trừ một số tội xâm phạm liên quan đến tính mạng sức khỏe con người Có thể thấy từ năm 1985 đến năm 1997, việc sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự

Trang 33

năm 1985 là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên, trong những lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự 1985 còn thể hiện tính chắp vá, chưa toàn diện, chưa tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng thống nhất pháp luật trong toàn quốc, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới, còn bộc lộ rất nhiều bất cập Vì vậy, Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội ban hành nhằm đáp ứng các yêu cầu xây dựng pháp luật hình sự trong giai đoạn mới, khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong Bộ luật hình sự 1985 trong nhiều vấn

đề, trong đó có vấn đề dấu hiệu định lượng khi định tội danh cũng như khi quy định những tình tiết định khung tăng nặng đối với từng tội phạm cụ thể

1.3 Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm cụ thể Phần các tội phạm

1.3.1 Dấu hiệu định lượng về hình thức được thể hiện trong các quy định tại các cấu thành tội phạm cụ thể Bộ luật hình sự năm 1999

Trong phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1999 có 281 điều luật từ Điều 78 đến Điều 344 quy định về các tội phạm cụ thể Nghiên cứu 281 điều luật này cho thấy:

 Có 10 điều luật quy định dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm cơ bản Điểm đáng chú ý là trong 10 điều luật thì có 9 điều về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người và 1 điều về tội xâm phạm sở hữu

Đó là các Tội giết con mới đẻ (Điều 94); Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97); Tội vô ý làm chết người (Điều 98); Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99); Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106); Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ

Trang 34

(Điều 107); Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 108); Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109); và Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142)

 Có 15 điều luật quy định dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm định khung tăng nặng, trong khi dấu hiệu này không được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản Điểm đáng chú ý là trong 15 điều luật thì có:

- 5 điều luật về tội xâm phạm nhân phẩm danh dự con người, nhưng có dấu hiệu định lượng xác định mức độ tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân thông qua tỷ lệ thương tật, đó là các Tội hiếp dâm (Điều 1110, Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112), Tội cưỡng dâm (Điều 113), Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114) và Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115);

- 4 điều luật quy định về các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản, nhưng

có dấu hiệu định lượng xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt và xác định mức

độ tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân thông qua tỷ lệ thương tật, đó là các Tội cướp tài sản (Điều 133), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135) và Tội cướp giật tài sản (Điều 136);

- 3 điều luật quy định về các tội phạm về ma túy, nhưng có dấu hiệu định lượng thông qua đối tượng tác động của tội phạm này bằng trọng lượng các chất ma túy, đó là các Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193), Tội tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194), Tội tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 195), và 2 điều luật về tội phạm ma túy, nhưng dấu hiệu định lượng được xác định bằng tổn hại cho sức khoẻ của người khác do sử dụng trái phép chất ma túy, đó là các Tội tổ chức

sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), và Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200);

Trang 35

- 1 điều luật quy định về tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng thông qua việc chiếm đoạt tài sản bằng sử dụng kỹ thuật số có dấu hiệu định lượng bằng giá trị tài sản bị chiếm đoạt (tiền), đó là Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226 b)

 Có 25 điều luật quy định dấu hiệu định lượng trong cả cấu thành tội phạm cơ bản và cấu thành tội phạm định khung tăng nặng Điểm đáng chú ý

là trong 15 điều luật thì có:

- 2 điều luật quy định về các tội xâm phạm sức khỏe con người, có dấu hiệu định lượng xác định mức độ tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân thông qua tỷ lệ thương tật, đó là các tội Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104) và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105);

- 6 điều luật quy định về các tội xâm phạm sở hữu có dấu hiệu định lượng xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, đó là các Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137), Tội trộm cắp tài sản (Điều 138), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140); Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141) và Tội tham ô tài sản (Điều 278);

- 3 điều luật quy định về các tội xâm phạm sở hữu có dấu hiệu định lượng xác định giá trị tài sản bị hủy hoại, làm hư hỏng, mất mát, lãng phí, đó

là các Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144) và Tội

vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145);

- 4 điều luật quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có dấu hiệu định lượng xác định giá trị hàng hóa với tư cách hàng phạm pháp trong hoạt động kinh doanh,buôn bán, đó là các Tội buôn lậu (Điều 153); Tội

Trang 36

vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 154); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156) và Tội kinh doanh trái phép (Điều 159);

- 3 điều luật quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có dấu hiệu định lượng xác định giá trị tiền Nhà nước bị thiệt hại, đó là các Tội trốn thuế (Điều 161); Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165) và Tội lập quỹ trái phép (Điều 166);

- 1 điều luật quy định về các tội xâm phạm trật tự công cộng có dấu hiệu định lượng xác định bằng giá trị tiền hoặc giá trị vật phạm pháp, đó là Tội đánh bạc (Điều 248);

- 6 điều luật quy định về các tội phạm về chức vụ xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức dấu hiệu định lượng xác định giá trị phương tiện phạm tội (tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào), đó là các Tội nhận hối lộ (Điều 279); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 283); Tội đưa hối lộ (Điều 289); Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290) và Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người

có chức vụ quyền hạn để trục lợi (Điều 291)

Như vậy, nếu so sánh với 281 điều luật quy định về các cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1999 thì chỉ có 50 điều luật quy định có dấu hiệu định lượng (chiếm 17,79%) Điều này cho thấy trong Bộ luật hình sự 1999, số lượng các cấu thành tội phạm có dấu hiệu định tính chiếm đa số (82,21%) Cho nên, trong trường hợp không có hướng dẫn

áp dụng pháp luật của Cơ quan tư pháp có thẩm quyền thì rất dễ dẫn đến suy luận chủ quan, phiến diện một chiều trong việc điều tra, xử lý, cũng như dễ dẫn đến bỏ lọt tội đối với những tội phạm có dấu hiệu định tính

1.3.2 Dấu hiệu định lượng về nội dung được thể hiện trong các quy định tại các cấu thành tội phạm cụ thể Bộ luật hình sự năm 1999

Trong 50 điều luật quy định dấu hiệu định lượng thuộc Phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1999 cho thấy:

Trang 37

 Có 21 điều luật quy định dấu hiệu định lượng phản ánh hậu quả của tội phạm dưới dạng thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thể hiện hành vi phạm tội làm chết người hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật theo tỷ lệ phần trăm trong giới hạn nhất định, trong đó:

- 5 điều luật quy định về các tội xâm phạm tính mạng con người mà dấu hiệu định lượng được xác định trong cấu thành tội phạm là hậu quả làm chết người Đó là các tội giết con mới đẻ (Điều 94); Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97); Tội vô ý làm chết người (Điều 98); Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99); Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102)

- 16 điều luật quy định về các tội xâm phạm sức khỏe con người mà dấu hiệu định lượng được xác định trong cấu thành tội phạm là gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật được tính từ 11% đến 30%; từ 31% đến 60% và từ 60% trở lên Đó là các Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106), Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 107), Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 108), Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109), Tội hiếp dâm (Điều 1110, Tội hiếp dâm trẻ

em (Điều 112), Tội cưỡng dâm (Điều 113), Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114)

và Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115), Tội cướp tài sản (Điều 133), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), Tội cướp giật tài sản (Điều 136), Tội

Trang 38

tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), và Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200)

Điểm đáng chú ý ở các điều luật này quy định dấu hiệu định lượng của các tội phạm này thể hiện ở chỗ, đối với các tội xâm phạm sức khỏe con người, khách thể trực tiếp mà quyền được bảo vệ về sức khỏe bị xâm phạm gây nên tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ phần trăm nhất định (như Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104), Tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106) v.v Tuy nhiên, đối với các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm sở hữu (như Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114) và Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115); Tội cướp tài sản (Điều 133), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), Tội cướp giật tài sản (Điều 136) v.v ), khách thể trực tiếp của các tội phạm này ngoài nhân phẩm, danh dự, sở hữu tài sản, nên trong cấu thành tội phạm cơ bản không có quy định về dấu hiệu định lượng Dấu hiệu định lượng liên quan đến thiệt hại về sức khỏe chỉ được quy định tại cấu thành tội phạm tăng nặng khi gây thiệt hại về sức khỏe con người

vì người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực với nạn nhân

Ví dụ, Điều 133 Bộ luật hình sự quy định về Tội cướp tài sản với nội dung: Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành

vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm khi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm khi Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình khi

Trang 39

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người

 Có 4 điều luật quy định dấu hiệu định lượng phản ánh hậu quả của tội phạm dưới dạng thiệt hại về vật chất (tài sản bị phá hủy, bị hủy hoại, bị hư hỏng, bị thiệt hại) với những tình tiết thể hiện giá trị thiệt hại về vật chất đối với tài sản từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; từ 50 triệu đồng đến dưới

200 triệu đồng; từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng và từ 500 triệu đồng trở lên, trong đó:

- 3 điều luật quy định về các tội xâm phạm xâm phạm sở hữu mà dấu hiệu định lượng được xác định trong cấu thành tội phạm là gây thiệt hại về vật chất (tài sản bị phá hủy, bị hủy hoại, bị hư hỏng) Đó là các Tội hủy hoại hoặc

cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144) và Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145);

- 1 điều luật quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế gây thiệt hại từ 100 triệu đến dưới 300 triệu; gây thiệt hại từ ba trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng; và gây thiệt hại từ một tỷ đồng trở lên Đó là Tội cố

ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165)

 Có 14 điều luật quy định dấu hiệu định lượng phản ánh giá trị tài sản

bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ, bị sử dụng trái phép với các mức độ khác nhau từ

2 triệu đồng, hoặc từ 4 triệu đồng, hoặc từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; từ 200 triệu đồng đến dưới

500 triệu đồng và từ 500 triệu đồng trở lên, trong đó:

- 4 điều luật quy định dấu hiệu định lượng phản ánh giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; từ 50 triệu đồng đến dưới

200 triệu đồng; từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng và từ 500 triệu

Ngày đăng: 18/12/2015, 20:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Anh (2008), “Bàn về định lượng trong Bộ luật hình sự năm 1999”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về định lượng trong Bộ luật hình sự năm 1999”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Đặng Anh
Năm: 2008
2. Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
5. Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (1957), Sắc lệnh 267-SL ngày 19/8/1957, trừng trị mọi hoạt động phá hoại tài sản XHCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh 267-SL ngày 19/8/1957, trừng trị mọi hoạt động phá hoại tài sản XHCN
Tác giả: Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa
Năm: 1957
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/10/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: quyết số 08-NQ/TW ngày 02/10/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hòa thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hòa thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
10. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003
11. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
12. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2010), Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại điều 248 và điều 249 của Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại điều 248 và điều 249 của Bộ luật hình sự
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2010
13. Nguyễn Lân (chủ biên) (1992), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển và ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Lân (chủ biên)
Năm: 1992
14. Nguyễn Đình Lộc (2000), “Sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999”, Kỷ yếu Tọa đàm khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Nguyễn Đình Lộc
Nhà XB: Kỷ yếu Tọa đàm khoa học
Năm: 2000
15. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự năm 1985 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự năm 1985 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1985
16. Quốc hội (1992 - 1993, 2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
17. Quốc hội (1999), Nghị quyết số 32/1999/NQ/QH10 ngày 21/12/1999 về việc thi hành Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 32/1999/NQ/QH10 ngày 21/12/1999 về việc thi hành Bộ luật hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1999
19. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
20. Lê Thị Sơn (2005), “Về dấu hiệu định lượng trong Bộ luật hình sự”, Tạp chí luật học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về dấu hiệu định lượng trong Bộ luật hình sự
Tác giả: Lê Thị Sơn
Nhà XB: Tạp chí luật học
Năm: 2005
21. TAND tỉnh Đắk Nông (2010 - 2014), Các Báo cáo tổng kết, Đắk Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Báo cáo tổng kết
23. Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân tối cao - Bộ công an - Bộ tư pháp (2007), Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương xviii “các tội phạm về ma túy” của bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương xviii “các tội phạm về ma túy” của bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
26. Trường đại học luật Hà Nội (2002), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Tình hình xét xử  các  vụ án hình  sự tại các  cấp tòa - Dấu hiệu định lượng trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh đắk nông)   luận văn ths
Bảng 2.1 Tình hình xét xử các vụ án hình sự tại các cấp tòa (Trang 6)
Bảng 2.1: Tình hình xét xử các vụ án hình sự tại các cấp tòa án nhân dân - Dấu hiệu định lượng trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh đắk nông)   luận văn ths
Bảng 2.1 Tình hình xét xử các vụ án hình sự tại các cấp tòa án nhân dân (Trang 46)
Bảng 2.2. Tình hình xét xử các vụ án hình sự có dấu hiệu định lượng tại  các cấp tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông từ năm 2010 đến 2014 - Dấu hiệu định lượng trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh đắk nông)   luận văn ths
Bảng 2.2. Tình hình xét xử các vụ án hình sự có dấu hiệu định lượng tại các cấp tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông từ năm 2010 đến 2014 (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w