1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 luận vă

87 616 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là một vấn đề rất cơ bản nhưng chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, thấu đáo đặc biệt trong nền kinh tế thị tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ CHUYỀN

BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ CHUYỀN

BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Minh Hồng

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Thị Chuyền

Trang 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA

NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

5

1.1 Khái niệm quyền của người phụ nữ và bảo vệ quyền của

người phụ nữ

5

1.1.3 Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa

vợ và chồng

12

1.2 Sự phát triển của quy định về quyền của người phụ nữ và bảo

vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ

Chương 2: NỘI DUNG BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

Trang 5

2.1.2 Quyền được chăm sóc, giúp đỡ, tôn trọng 29

2.2 Quyền bình đẳng của người vợ trong việc thực hiện các quan

2.2.4 Quyền được lựa chọn nghề nghiệp, học tập và tham gia các

hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội

40

2.2.5 Quyền được tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 48

2.2.6 Quyền của người vợ trong việc ly hôn 51

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ KIẾN

NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

58

3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của người phụ

nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

58

3.1.2 Một số khó khăn, vướng mắc trong việc bảo vệ quyền của

người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

61

3.2 Một số đề xuất nhằm bảo đảm quyền của người phụ nữ trong

quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

66

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện các quy định trong các văn bản pháp luật

về hôn nhân và gia đình

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật dân sự HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 19 tháng 06 năm 2014 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm

2015 Đây là một bước hoàn thiện quan trọng về cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam Xuất phát từ mục đích của việc xác lập quan hệ vợ chồng là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững, kế thừa và phát triển các quy định của Luật HN&GĐ năm

2000, Luật HN&GĐ năm 2014 khi điều chỉnh các quan hệ giữa vợ và chồng

đã dựa trên nguyên tắc tiến bộ, bình đẳng và đưa ra nhiều quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng

Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là một vấn đề rất cơ bản nhưng chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, thấu đáo đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay đang có những chuyển biến phức tạp, quyền nhân thân của người phụ nữ trong quan hệ giữa

vợ và chồng đang ngày càng bị xâm phạm dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, chẳng hạn như nạn bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần…

Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không chỉ thể hiện ở việc ghi nhận những quyền nhân thân của họ trong pháp luật mà phải đảm đảm cho những quyền đó được trở thành hiện thực trên thực tế, điều đó đòi hỏi một cơ chế đồng bộ từ việc xây dựng pháp luật đến các biện pháp thực hiện ở mọi cấp, mọi ngànhh Chỉ khi nào bảo vệ tốt quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng thì việc đảm bảo bình đẳng giới mới trở thành hiện thực

Trang 9

Luật HN&GĐ năm 2014 ban hành đã mang nhiều quy định tiến bộ trong việc đảm bảo quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân của vợ và chồng, chẳng hạn quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng, đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh… góp phần đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng Tuy nhiên,

để đưa ra nhiều biện pháp giải quyết hiệu quả, nhằm thúc đẩy và thực hiện tốt

hơn nữa quyền bình đẳng của người phụ nữ thì việc nghiên cứu vấn đề "Bảo vệ

quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014" có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề về quyền của người phụ nữ hiện nay cũng đã có một số đề tài nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau như khóa luận tốt nghiệp năm 2003:

"Bảo vệ quyền của người phụ nữ theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000",

của Lương Thị Kim Dung, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội; Luận văn

thạc sĩ: "Ảnh hưởng của Nho giáo đến các quy định pháp luật Việt Nam về

mối quan hệ giữa vợ và chồng", của Đinh Hạnh Nga, Khoa Luật - Đại học

quốc gia Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ: "Bảo vệ quyền người phụ nữ trong quan

hệ tài sản giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000", của

Trần Thị Hồng Nhung, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội…Tuy nhiên, vấn

đề bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu và quan tâm đúng mức Các công trình nghiên cứu mới chỉ nghiên cứu về việc bảo vệ quyền của người phụ nữ một cách nói chung hay chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng mà chưa có sự đề cập tới việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

* Mục đích

- Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật HN&GĐ

Trang 10

năm 2014 trong đó có xem xét dưới góc độ bình đẳng giới Từ đó, tìm ra một

số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này và nâng cao hơn nữa vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Với đề tài "Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân

thân giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014" luận văn

tập trung làm rõ những vấn đề về bảo vệ quyền nhân thân của người phụ nữ với tư cách là người vợ, người mẹ trong quan hệ giữa vợ và chồng, tức là các quyền nhân thân phát sinh trên cơ sở quan hệ hôn nhân

Vì vậy, những vấn đề về quyền của người phụ nữ không gắn liền với quan hệ vợ chồng không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích đề ra, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Đảng và Nhà nước về pháp luật

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, thống

kê, tổng hợp

Trang 11

6 Ý nghĩa và điểm mới của luận văn

- Luận văn nghiên cứu và phân tích sâu sắc, toàn diện về ý nghĩa, mục đích, nội dung bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa

vợ và chồng dưới góc độ bình đẳng giới

- Luận văn đánh giá thực trạng về nội dung bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trên thực tế, đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này và nâng cao hiệu quả việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa

vợ và chồng, nhằm thực hiện bình đẳng giữa vợ và chồng trên thực tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của người phụ nữ

trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Chương 2: Nội dung bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ

nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị nhằm bảo

đảm quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Trang 12

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN

CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN

GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

1.1 KHÁI NIỆM QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

1.1.1 Quyền của người phụ nữ

Theo nghĩa chung nhất, quyền của người phụ nữ được hiểu là khả năng mà người phụ nữ được hưởng Để tiếp cận một cách đầy đủ khái niệm quyền của người phụ nữ, chúng ta cần xem xét dưới góc độ quyền con người

và bình đẳng giới

1.1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó đã có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người (theo một tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố) [42] Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia, chưa có một định nghĩa đầy đủ về quyền con người mà mỗi định nghĩa tiếp cận dưới những góc độ nhất định và khác nhau

Ở cấp độ quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc thì "Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu, có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc

mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con

người" [43]

Ở Việt Nam, quyền con người được hiểu là "những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp luật quốc tế" [21]

Theo quan điểm của chúng tôi, quyền con người là một quyền vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính pháp lý Quyền con người là quyền tự

Trang 13

nhiên được hiểu là những quyền khi sinh ra họ đã có, mà người khác phải tôn trọng "mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai

có thể xâm phạm được" (Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948) Quyền con người là quyền pháp lý tức là quyền con người được pháp điển hóa, được ghi nhận bằng pháp luật, được cộng đồng tôn trọng và bảo đảm thực hiện

Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được thừa nhận, những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại và được áp dụng cho tất cả mọi người Vì vậy, dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định nhưng một điều rõ ràng rằng quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử

1.1.1.2 Khái niệm bình đẳng giới

Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân loại tiến bộ qua các thời kì lịch sử Năm 1948, Liên hợp quốc ra Tuyên ngôn toàn thế giới

về quyền con người, khẳng định: "Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng

về phẩm giá và các quyền" Ý tưởng về sự bình đẳng này được trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp Điều đó cho thấy bình đẳng là một nguyên lý căn bản cần được chấp nhận bởi mọi quốc gia, mọi dân tộc Bình đẳng là một khái niệm chung của cả nhân loại, nó hướng đến việc khẳng định quyền lợi ngang nhau của mọi người, mọi đối tượng, mọi nhóm người trong xã hội Bình đẳng

là mục tiêu phấn đấu của mọi dân tộc, mọi xã hội tiến bộ và là lý tưởng chung của mọi cuộc cách mạng trên thế giới

Ở Việt Nam, quyền bình đẳng của công dân được tôn trọng và bảo vệ Điều này đã trở thành nguyên tắc hiến định Điều 16, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật" Quy định này có nghĩa là mọi công dân không phân biệt giới tính, dân tộc, tuổi tác, thành phần

Trang 14

và địa vị xã hội đều được hưởng các quyền như nhau và có nghĩa vụ như nhau theo quy định của pháp luật

Bình đẳng giới là sự cụ thể hóa quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân giữa nam và nữ Để tiếp cận với khái niệm bình đẳng giới chúng ta cần nhìn nhận dưới góc độ xã hội học và khoa học pháp lý

Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận và thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý thì bình đẳng giới là một dạng của bình đẳng xã hội nói chung, cần được điều chỉnh bằng pháp luật, nhằm thiết lập sự bình đẳng giữa nam giới và nữ giới Theo Luật bình đẳng giới năm

2006, bình đẳng giới được hiểu là "việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó" [30, khoản 3 Điều 5]

Trên cơ sở khái niệm về quyền con người và bình đẳng giới chúng ta nhận thấy rằng người phụ nữ có các quyền như nam giới và họ được hưởng tất cả những quyền mà pháp luật ghi nhận và bảo vệ Bên cạnh đó, để có nhận thức đầy đủ về bình đẳng giới thì cần phải tính đến những đặc thù về giới của người phụ nữ, đó là đặc điểm sinh học và truyền giống của người phụ nữ khác đàn ông, họ phải thực hiện chức năng sinh nở, thực hiện chức năng làm

vợ, làm mẹ Ngoài ra, về thể chất, người phụ nữ thường có sức khỏe và sự chịu đựng kém hơn đàn ông Do vậy, quyền của người phụ nữ cần được thừa nhận và cần được đảm bảo với nội dung của bình đẳng giới Với mục tiêu

"xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế- xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới

Trang 15

thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam

và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình" [30, Điều 4] Theo đó,

nội dung về quyền bình đẳng giới của người phụ nữ bao gồm nhiều lĩnh vực như về kinh tế, tài chính, xã hội…Tuy nhiên, nhìn nhận dưới khía cạnh quyền nhân thân của người phụ nữ là người vợ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng thì quyền bình đẳng giới mang những nội dung theo quy định tại Điều 18 Luật bình đẳng giới năm 2006 như sau:

1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình

2 Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghĩ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật [30] Bên cạnh đó, quyền bình đẳng giới của người phụ nữ còn được ghi nhận trong Công ước về việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ

nữ (CEDAW) của Hội đồng Liên hợp quốc được thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1979 Công ước CEDAW đảm bảo sự bình đẳng cho người phụ nữ bằng việc ghi nhận sự bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Đặc

biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, công ước CEDAW đã có những quy

định về quyền của người phụ nữ dưới góc độ bình đẳng giới như sau:

- Người phụ nữ được cung cấp những thông tin riêng cho việc đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc gia đình, kể cả các thông tin về hướng dẫn kế hoạch hóa gia đình; quyền không bị phân biệt đối xử vì các lý do liên quan đến đặc trưng riêng biệt về giới tính; quyền của người phụ nữ có thai được bảo vệ đặc biệt; quyền được quan tâm, chăm sóc khi mang thai….(khoản 2 Điều 11; khoản 2 Điều 12);

- Người phụ nữ có quyền và trách nhiệm như nhau đối với người chồng trong mọi vấn đề liên quan đến con cái, trong mọi trường hợp thì lợi ích của con cái là điều quan trọng nhất (Điều 16);

Trang 16

- Người phụ nữ được bình đẳng với người chồng trong việc tham gia bầu cử, ứng cử và tham gia những chức vụ trong bộ máy nhà nước (Điều 7), được bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý, được quyền ứng cử vào các vị trí của cơ quan dân cử, được tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của Chính phủ, tham gia các chức vụ của Nhà nước và thực hiện mọi chức năng cộng đồng ở tất cả các chính quyền;

- Người phụ nữ được tạo điều kiện trong nghề nghiệp, tham gia học tập cũng như được quyền tham gia vào các hoạt động giải trí, thể thao và mọi mặt của đời sống

Từ những nội dung đã phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm quyền của người phụ nữ như sau:

Quyền của người phụ nữ là tập hợp các quyền của con người mà người phụ nữ được hưởng, được tôn trọng, được bảo vệ và bảo đảm thực hiện bằng hệ thống các quy định của pháp luật

1.1.2 Bảo vệ quyền của người phụ nữ

Việc ghi nhận quyền của người phụ nữ trong pháp luật là điều quan trọng nhưng chưa đủ khi thực tế trong đời sống hôn nhân và gia đình hiện nay các quyền của người phụ nữ còn bị xâm phạm, chẳng hạn như thực trạng bất bình đẳng trong mọi lĩnh lực về kinh tế, chính trị, tình trạng bạo lực gia đình…

Vì vậy, điều quan trọng là cần phải bảo vệ và đảm bảo cho quyền của người phụ nữ được thực hiện trong thực tế Có hai phương thức để bảo vệ quyền phụ

nữ bao gồm phương thức tự bảo vệ và phương thức yêu cầu cơ quan, tổ chức can thiệp bảo vệ Theo đó, phương thức tự bảo vệ là một biện pháp dân sự được thực hiện bởi chính chủ thể, theo đó người phụ nữ có quyền sử dụng các biện pháp tự bảo vệ Trên cơ sở sự ghi nhận của pháp luật về quyền nhân thân của người phụ nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng thì người phụ nữ sẽ ý thức được việc thực hiện quyền bảo vệ đối với các quyền nhân thân của mình, để ngăn chặn các hành vi xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Trang 17

Phương thức yêu cầu cơ quan, tổ chức can thiệp bảo vệ là một biện pháp dân sự do chủ thể thực hiện Trên cơ sở pháp luật ghi nhận các quyền nhân thân của phụ nữ, người phụ nữ được áp dụng biện pháp yêu cầu cơ quan,

tổ chức bảo vệ để kịp thời xử lý hành vi xâm phạm quyền của mình Khoản 1 Điều 5 của Luật Phòng chống bạo lực năm 2007 gia đình quy định:

1 Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này [31] Mặt khác, do phụ nữ là "phái yếu" nên bảo vệ quyền phụ nữ cần được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật phải ghi nhận quyền của người phụ nữ dựa trên cơ sở bình đẳng giới Việc bảo vệ quyền của người phụ nữ hiện nay đã được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản liên quan

Bảo vệ quyền của người phụ nữ được thực hiện toàn diện trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, lao động, việc làm, giáo dục, văn hóa, hôn nhân - gia đình Trong Hiến pháp vấn đề quyền của người phụ nữ luôn được thể hiện nhất quán, quyền bình đẳng của phụ nữ ngày càng được quy định mở rộng và hoàn thiện hơn qua các bản Hiến pháp Hiến pháp năm 2013, thể hiện tinh thần bảo vệ quyền của người phụ nữ ngay trong các quy định mang tính nguyên tắc về chế độ hôn nhân và gia đình Cụ thể, Điều 36 quy định:

1 Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng tôn trọng lẫn nhau

2 Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hệ quyền lợi của người mẹ và trẻ em [33]

Trang 18

Với quy định trên người phụ nữ cần phải được đảm bảo quyền lợi của mình trên mọi lĩnh vực, nhất là trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ và khẳng định vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội

Quy định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quy định

cụ thể về quyền của người phụ nữ trong các văn bản pháp luật như Bộ luật dân

sự năm 2005, Luật bình đẳng giới năm 2006, Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014… Theo đó, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 đã có sự quy định về quyền của người phụ nữ tại Điều 40 Mục 2 Quyền nhân thân như sau: "Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững" [29]

Luật HN&GĐ năm 2014 với tư cách là đạo luật quy định trực tiếp, cụ thể về quan hệ hôn nhân và gia đình đã đưa ra nhiều quy định liên quan đến quyền của người phụ nữ cũng như những bảo đảm trong việc thực hiện quyền của họ Trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, Luật quy định: "Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình

đẳng" [34, khoản 1 Điều 2] và "Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm

bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của

người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình" [34, khoản 4 Điều 2] Các nguyên

tắc cơ bản này tạo nền tảng pháp lý cho việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng Trên cơ sở đó, Luật HN&GĐ năm

2014 đã cụ thể hóa quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ

và chồng từ Điều 17 đến Điều 27

Như vậy, bảo vệ quyền của người phụ nữ được hiểu là: hệ thống các

biện pháp, cách thức được pháp luật quy định nhằm bảo đảm việc thực thi đầy đủ, có hiệu quả các quyền con người của phụ nữ trên thực tế cũng như xử

lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền của người phụ nữ

Trang 19

1.1.3 Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

1.1.3.1 Khái niệm bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự gắn liền với đời sống tinh thần của cá nhân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Điều 24 BLDS năm 2005 quy định: "Quyền nhân thân được quy định trong Bộ Luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người

khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" [29]

Sự kiện kết hôn làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản, trong đó các quyền về nhân thân đóng vai trò quan trọng trong đời sống vợ và chồng, là cơ sở đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt chức năng xã hội Từ quy định tại Điều 24 BLDS năm 2005, quyền nhân thân của vợ và chồng được hiểu là quyền gắn liền với vợ và chồng, phát sinh trên cơ sở kết hôn hợp pháp, liên quan đến lợi ích tinh thần của vợ và chồng, không có nội dung kinh tế, không định giá được thành tiền và không thể chuyển giao cho người khác

Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là một nội dung quan trọng góp phần hạn chế hành vi xâm phạm quyền của người vợ, tạo cơ sở để thực hiện quyền bình đẳng của người vợ đối với người chồng trong đời sống hôn nhân và gia đình

Từ khái niệm bảo vệ quyền của người phụ nữ như đã phân tích tại mục 1.1.2 ta có thể hiểu bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là hệ thống các biện pháp, cách thức được pháp luật quy định nhằm bảo đảm việc thực thi đầy đủ cũng như xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi xâm phạm quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng Theo đó, các quyền nhân thân của người vợ cần được bảo

vệ như quyền được yêu thương, chung thủy, chăm sóc; quyền được thực hiện chính sách dân số; quyền đại diện; quyền được lựa chọn nơi cư trú…

Trang 20

Từ khái niệm trên đây rút ra được một số đặc điểm của quyền nhân thân của người vợ trong quan hệ giữa vợ và chồng như sau:

Thứ nhất, quyền nhân thân của người vợ phát sinh trên cơ sở hôn nhân

hợp pháp và tồn tại trong suốt thời kì hôn nhân Các quyền nhân thân này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Tức là, quyền nhân thân của người

vợ sẽ được bắt đầu bằng việc đăng kí kết hôn và sẽ chấm dứt khi sau khi có quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn có hiệu lực hoặc khi người chồng chết hoặc người chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết

Thứ hai, quyền nhân thân của người vợ luôn gắn liền với chồng,

không thể chuyển dịch cho người khác (không thể do người khác thực hiện thay) Đặc điểm này xuất phát từ những đặc trưng của quyền nhân thân và tính chất của quan hệ vợ chồng Theo đó, các quyền nhân thân của người vợ như quyền được yêu thương, chung thủy, chăm sóc; quyền được thực hiện kế hoạch hóa gia đình…là những quyền gắn liền với chồng, liên quan đến lợi ích tinh thần của vợ và chồng nên các quyền nhân thân trên không thể chuyển giao cho người khác

Từ những phân tích nêu trên, chúng ta nhận thấy rằng, việc bảo vệ quyền của người vợ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là một vấn đề

có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện quan hệ vợ chồng tiến bộ, đảm bảo quyền bình đẳng thực chất cho người phụ nữ trên thực tế

1.1.3.2 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan

hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ nói chung và bảo vệ quyền của người vợ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng nói riêng xét trên hai phương diện lý luận và thực tiễn có ý nghĩa vô cùng quan trọng Điều này thể hiện ở những nội dung sau đây:

- Bảo vệ quyền của người vợ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng góp phần xóa bỏ tư tưởng gia trưởng - phong kiến, quyền áp đặt của

Trang 21

người chồng Trong quan hệ nhân thân với người chồng, người vợ phải được bình đẳng khi quyết định các vấn đề quan trọng của gia đình

- Bảo vệ quyền nhân thân của người vợ là cơ sở cho việc phòng chống bạo lực gia đình, cũng như để đảm bảo bình đẳng về giới thực chất giữa vợ và chồng trên thực tế

- Bảo vệ quyền nhân thân của người vợ có tác động to lớn trong việc bảo đảm vị thế, vai trò của người vợ trong gia đình và xã hội Bởi lẽ, dưới góc

độ đặc thù về giới, người phụ nữ luôn là phái yếu trong xã hội Trong gia đình người vợ phải thực hiện chức năng làm mẹ, chăm sóc gia đình… Bởi vậy, việc tạo điều kiện để người vợ thực hiện thiên chức của mình, được thể hiện bản thân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khẳng định tầm quan trọng của người vợ trong đời sống gia đình và xã hội

- Ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ quyền của người vợ trong quan

hệ nhân thân giữa vợ và chồng còn thể hiện ở việc xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của người vợ, qua đó có thể khắc phục thiệt hại gây ra đối với người vợ và răn đe đối với những cá nhân liên quan nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng quyền nhân thân của người vợ trên thực tế

- Mặt khác, việc pháp luật công nhận và bảo vệ quyền của người phụ

nữ về nhân thân đảm bảo sự tương đồng hài hòa với pháp luật quốc tế và xu hướng tiến bộ của nhân loại trong việc bảo đảm quyền của người phụ nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng Điều đó phù hợp với những cam kết của Việt Nam với các điều ước quốc tế ký kết như: Công ước ILO, Công ước CEDAW…

1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG Ở VIỆT NAM

1.2.1 Quyền của người phụ nữ trong pháp luật trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật không chỉ chịu chi phối của cơ sở hạ tầng sinh ra nó, mà bên cạnh đó pháp luật còn chịu ảnh hưởng

Trang 22

bởi các yếu tố tâm lý xã hội, phong tục tập quán, truyền thống Bởi vậy, qua mỗi thời kì phát triển của xã hội, pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan

hệ nhân thân giữa người vợ và người chồng mang những nội dung khác nhau

1.2.1.1 Quyền của người phụ nữ trong cổ luật Việt Nam

Vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa

vợ và chồng trong pháp luật phong kiến được thể hiện ở những nội dung sau:

* Quyền nhân thân thể hiện quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng

Pháp luật phong kiến thể hiện sự phân biệt đối xử khá rõ ràng trong các quy định về nhân thân giữa vợ và chồng, như: người vợ phải "phục tùng chồng và chịu sự dạy dỗ của người chồng" (Điều 481 Bộ luật Hồng Đức)… Song bên cạnh

đó cũng có những nét riêng ít nhiều bảo vệ quyền nhân thân của người vợ, như:

"Phàm người chồng bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình lên quan sở tại

và xã quan làm chứng) thì mất vợ Nếu vợ đã có con thì cho hạn 1 năm Vì việc quan phải đi xa không theo luật này" ( Điều 308 Bộ luật Hồng Đức) Bên cạnh đó,

Bộ Luật Hồng Đức cũng quy định xử nặng đối với trường hợp xâm phạm thân thể của người vợ Điều 404 nếu "người chồng đánh vợ bị thương thì xử như tội đánh người bị thương nhưng nhẹ hơn 3 bậc" hay trong Điều 309 buộc người chồng

phải tôn trọng thứ bậc của người vợ trong gia đình "Ai lấy nàng hầu lên làm

vợ thì xử tội phạt, vì quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì xử tội biếm"

Sau này, nhà làm luật triều Nguyễn soạn trong Hội điển điều tương tự: "Phàm

kẻ nào đem vợ cả làm vợ lẽ phải phạt 100 trượng Vợ cả còn sống mà đem vợ

lẽ làm vợ cả, phải phạt 90 trượng" Quy định này thể hiện nét nhân văn sâu sắc của Bộ Luật Hồng Đức trong việc bảo vệ quyền của người phụ nữ

* Quyền nhân thân của người vợ trong mối quan hệ với các con

Theo lễ giáo phong kiến thì người chồng là người chủ gia đình (người gia trưởng) và trong mối quan hệ với các con về thực chất người chồng chiếm

ưu thế hơn người vợ, mọi quyết định trong gia đình đều trên cơ sở ý kiến của người gia trưởng (người chồng, người cha trong gia đình) Vì thế, về cơ bản pháp luật vẫn thể hiện sự phân biệt đối xử đối với người vợ sinh ra là để làm

Trang 23

"việc nhà" và phải có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, và dường như nghĩa vụ nuôi dạy con cái chỉ là nghĩa vụ từ phía của người mẹ Chính vì thế, trong mối quan hệ đối với các con, quyền của người vợ được thể hiện trong trường hợp:

"khi ly hôn, con cái thường thuộc về chồng, nhưng nếu muốn giữ con, người

vợ có quyền đòi chia một nữa số con" (Điều 310 Bộ luật Hồng Đức) Quy định này góp phần tạo điều kiện cho người mẹ được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, được thực hiện chức năng cao cả của mình

* Bảo vệ quyền của vợ trong việc ly hôn

Có thể nói, các quy định của pháp luật phong kiến liên quan đến quyền ly hôn giữa vợ và chồng phần nào bảo vệ quyền lợi của người vợ trong trường hợp "tam bất khứ" nghĩa là kể cả khi người vợ phạm vào "thất xuất" thì trong ba trường hợp sau thì người chồng không được phép ly hôn người vợ:

- Khi người vợ để tang nhà chồng được ba năm;

- Khi người vợ, chồng lấy nhau nghèo về sau giàu có;

- Khi vợ, chồng lấy nhau, vợ còn bà con họ hàng, lúc bỏ nhau vợ không còn bà con nào để trở về (Điều 165 Bộ luật Hồng Đức)

Đây là những quy định tốt, bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho người vợ Mặc dù pháp luật phong kiến được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ quyền của người gia trưởng, đảm bảo quyền lợi của người cha, người chồng trong gia đình nhưng đã thể hiện những nét tiến bộ khi quy định bảo vệ quyền nhân thân của người vợ Đó cũng là những giá trị của pháp luật thời kì này và cũng là những điểm sáng chỉ có ở pháp luật phong kiến Việt Nam, mang màu sắc Việt Nam, thể hiện truyền thống Việt Nam về ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân của người phụ nữ

1.2.1.2 Quyền của người phụ nữ trong pháp luật Việt Nam thời kì pháp thuộc

Kế thừa những nội dung tiến bộ về quyền của người phụ nữ mà pháp luật phong kiến Việt Nam đã ghi nhận, pháp luật thời kì này cũng có một số

Trang 24

quy định thể hiện được quyền của người phụ nữ và bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng thông qua việc quy định duyên cớ mà người vợ có thể xin ly hôn người chồng Cụ thể, Điều 118 Bộ luật Trung Kì

1936 quy định cho phép người vợ có thể xin ly hôn trong những trường hợp sau đây:

- Chồng không làm những nghĩa vụ đã cam kết khi kết hôn là phải nuôi dưỡng con tùy theo kế sinh nhai;

- Chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có lý do chính đáng và không lo liệu việc nuôi nấng con cái;

- Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ con ra khỏi nhà

Có thể nói rằng, những quy định này bắt đầu thể hiện việc "cởi trói" cho người phụ nữ Các quy định về duyên cớ mà theo đó người vợ có thể xin

ly hôn đem đến cho người vợ một sự bình đẳng nhất định so với người chồng Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của quan niệm bảo vệ quyền gia trưởng nên người đàn ông vẫn là "người nắm quyền hành xử", người vợ vẫn chỉ là người thực hiện mệnh lệnh từ phía người chồng

1.2.2 Quyền của người phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

1.2.2.1 Quyền của người phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình giai đoạn từ 1945 đến 1954

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chấm dứt sự tồn tại của Nhà nước phong kiến thực dân Ngày 9 tháng 11 năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta được thông qua Hiến pháp năm 1946 khẳng định vị thế của một Nhà nước độc lập với bạn bè quốc tế Bản Hiến pháp này đã mở ra một thời kì mới cho người phụ nữ được bình đẳng trước pháp luật, Điều 9 Hiến pháp quy định "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" Tuy nhiên, vào thời điểm này chúng ta chưa xây dựng được một văn bản pháp luật HN&GĐ hoàn chỉnh, thể

Trang 25

chế hóa một cách đầy đủ và toàn diện nội dung về bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ Trong khi đó, đất nước vừa độc lập, Nhà nước ta phải đứng trước bao khó khăn và thử thách: "giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm" cùng đe dọa, lại phải tiếp nhận một cơ sở kinh tế nghèo nàn lạc hậu từ Nhà nước thực dân phong kiến với bao tập quán cổ hủ, bám rễ vào đời sống HN&GĐ, đặc biệt phải kể đến tập quán thể hiện sự phân biệt đối xử với phụ nữ Trước thực tiễn trên, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tạm thời ban hành 2 Sắc lệnh để đáp ứng việc giải quyết các vấn đề về dân sự, hôn nhân và gia đình trong tình hình mới, đó là Sắc lệnh 97 và Sắc lệnh 159

Sắc lệnh số 97/SL được ban hành ngày 22 tháng 5 năm 1950 về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật Sắc lệnh đã cụ thể hóa quyền bình đẳng của người vợ trong gia đình, xóa bỏ quyền gia trưởng của người chồng, người cha Chính vì vậy, vị thế của người vợ trong gia đình được ngang hàng với người chồng "Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình" (Điều 5) Sắc lệnh cũng đảm bảo quyền tự do kết hôn cho hai bên nam,

nữ, xóa bỏ việc kết hôn trong thời kì tang chế Đây là những quy định thể hiện một sự quan tâm đặc biệt đến phụ nữ, bởi vì trong chế độ xã hội phong kiến quyền phụ nữ không được bảo vệ, quyền lợi của họ bị xâm phạm Vì thế, việc ghi nhận bằng pháp luật quyền bình đẳng nam nữ đặc biệt là sự bình đẳng trong gia đình có ý nghĩa rất lớn

Sắc lệnh 159/SL được ban hành ngày 17 tháng 11 năm 1950 quy định

về duyên cớ ly hôn chung cho cả hai vợ chồng Theo đó, vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền xin ly hôn Quy định này, thể hiện sự "giải phóng" người phụ nữ khỏi sự "trói buộc" của pháp luật phong kiến về việc hạn chế quyền xin ly hôn từ phía người vợ Cụ thể, Điều 2 Sắc lệnh số 159/SL quy định: Vợ, chồng đều có quyền ly hôn nếu một bên ngoại tình; một bên can án phạt giam; một bên mắc bệnh điên hoặc bệnh khó chữa khỏi; một bên bỏ nhà đi quá hai năm không có duyên cớ chính đáng; vợ, chồng tình hình không hợp hoặc đối

xử với nhau đến nổi không thể chung sống được

Trang 26

Đặc biệt, Sắc lệnh 159/SL không chỉ ghi nhận quyền bình đẳng nam

nữ về ly hôn, mà còn thể hiện sự bình đẳng về giới, trong đó có quy phạm ưu tiên cho người phụ nữ trên cơ sở xem xét những đặc thù về giới Điều 5 quy định: Nếu người vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin tòa hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn Việc người vợ được xin hoãn ly hôn khi đang mang thai là điều kiện tốt để bảo vệ bà mẹ và thai nhi

Như vậy, mặc dù chưa thực sự đầy đủ song pháp luật của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dành cho người phụ nữ một sự quan tâm đặc biệt bằng việc đưa ra các quy định về quyền của phụ nữ, trong đó có các quyền nhân thân Đây là bước đột phá quan trọng của pháp luật thời kì này làm thay đổi địa vị của người vợ, đặt họ vào vị trí ngang hàng với người chồng Các quy phạm pháp luật này đã đi sâu vào thực tế cuộc sống, người phụ nữ đã khẳng định mình trong các phong trào đấu tranh của dân tộc, người phụ nữ tiên phong trong việc xây dựng nếp sống mới, tham gia lao động, sản xuất và các công việc khác trong xã hội

1.2.2.2 Quyền của người phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình giai đoạn từ 1954 đến 1975

Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, miền Bắc hoàn toàn độc lập còn miền Nam tạm thời nằm dưới ách cai trị của đế quốc Mỹ và

bè lũ tay sai Miền Bắc cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh thống nhất nước nhà

Ở miền Bắc, năm 1957, cuộc cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành, quan hệ sản xuất phong kiến - cơ sở của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến đã bị xóa bỏ Bước đầu, Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng cơ sở vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa dần dần được xác lập, không

Trang 27

chỉ là tiền đề cho chúng ta xây dựng hệ thống pháp luật mới mà còn tạo cơ sở vững chắc để quy định bình đẳng nam nữ được đi vào thực tế Hiến pháp năm

1959 được ban hành và thay thế Hiến pháp năm 1946, tiếp tục ghi nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ tại Điều 24: "Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình…" Trên cơ sở này, việc ban hành một đạo luật mới về HN&GĐ đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của toàn xã hội, là một tất yếu khách quan để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta Luật HN&GĐ năm 1959 được Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1959, có hiệu lực từ ngày 13 tháng 01 năm 1960 Đây là văn bản Luật HN&GĐ đầu tiên của Nhà nước ta thể hiện khá đầy đủ các quyền HN&GĐ của người phụ nữ, là cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta bảo vệ các quyền nhân thân của người phụ nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng Nguyên tắc nam nữ bình đẳng là một trong những nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt các quy phạm pháp luật HN&GĐ Theo đó, người vợ được bình đẳng với người chồng về các quyền HN&GĐ như bình đẳng trong nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ quy định tại Điều 13: "Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, săn sóc nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ, nuôi dạy con cái, lao động sản xuất, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc" [25]; bình đẳng trong lựa chọn nghề nghiệp quy định tại Điều 14: "Vợ và chồng đều có quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do hoạt động chính trị, văn hóa và xã hội" [25]; có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong mối quan hệ với các con theo quy định tại Điều 17: "Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái"; đặc biệt, người vợ được ưu tiên bảo vệ xét dưới góc độ đặc thù về giới, chẳng hạn trong ly hôn theo quy định tại Điều 29:

Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất

Trang 28

Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất [25]

Có thể nói, Luật HN&GĐ năm 1959 là công cụ hữu hiệu để xóa bỏ mọi tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến, tư sản, đảm bảo quyền bình đẳng cho người phụ nữ, góp phần to lớn vào việc xây dựng chế độ HN&GĐ mới, tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Đây chính là đóng góp to lớn của Luật HN&GĐ cho xã hội bởi vì, gia đình có thuận hòa thì lòng người mới yên, đất nước mới thanh bình

Ở miền Nam, sau năm 1954, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới Các chính quyền ở Sài Gòn đã ban hành một số văn bản pháp luật để điều chỉnh vấn đề HN&GĐ như: Luật Gia đình ngày 02 tháng 01 năm

1959 của chính quyền Ngô Đình Diệm; Sắc luật số 15/64 ngày 23 tháng 7 năm 1964 của chính quyền Nguyễn Khánh; Bộ Dân luật Sài Gòn ngày 20 tháng 12 năm 1972 của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Nhìn chung, các văn bản pháp luật này vẫn bảo vệ quyền gia trưởng, phân biệt đối xử, bất bình đẳng giới giữa vợ và chồng Tuy nhiên, ta có thể thấy được những điểm tiến

bộ trong việc bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong hệ thống các văn bản trên như sau:

* Luật gia đình ngày 02 tháng 1 năm 1959 (Luật số 1- 59) của chính quyền Ngô Đình Diệm

Luật số 1-59 ban hành ngày 02 tháng 01 năm 1959 gồm 135 Điều quy định về hôn nhân và gia đình Đây là lần đầu tiên trong nền pháp chế thành văn Việt Nam bãi bỏ chế độ một chồng nhiều vợ: "Chế độ đa thê từ nay bị bãi

bỏ hẳn" Quy định thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong việc đảm bảo chế độ hôn nhân một vợ một chồng Bên cạnh đó, quy định về ly thân tại Điều 55 của

Luật: "Cấm ly hôn, chỉ được phép ly thân" cũng như các quy định xử phạt

hình sự đối với hành vi ruồng bỏ như hành vi ruồng bỏ vợ hay chồng (không

lý do chính đáng mà không chịu nhận người chồng hay vợ tại chỗ ở hôn

Trang 29

nhân), có thể bị phạt tiền hay phạt giam tới 1 năm Những quy định trên phần nào hạn chế hành vi xúc phạm, ruồng bỏ từ phía người chồng, cũng như đảm bảo được quyền lợi của người vợ trong đời sống hôn nhân gia đình

* Sắc luật số 15/64 ngày 23 tháng 07 năm 1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng của chính quyền Nguyễn Khánh

Sắc luật số 15/64 ban hành ngày 23 tháng 07 năm 1964 gồm 158 Điều quy định về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng Trong đó, vấn đề bảo vệ quyền của người vợ được thể hiện trong các quy định về căn cứ ly hôn chung cho vợ và chồng Cụ thể, vợ hoặc chồng có thể yêu cầu ly hôn khi có một trong các căn cứ sau đây: Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu; Vì sự phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội; Sự ngược đãi, bạo hành hay ngục mạ,

có tính chất thâm từ và thường xuyên làm cho vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa; Vì có án văn xác định sự biệt tích của người phối ngẫu đã thất tung; Vì người phối ngẫu bỏ phế gia đình, sau khi có án văn nhất định xử phạt người phạm tội (Điều 63, Sắc luật số 15/64)

Những quy định này cho thấy sự tiến bộ so với quy định của Luật số

1- 59 của chính quyền Ngô Đình Diệm là "Cấm chỉ vợ chồng ruồng bỏ nhau

và sự ly hôn" (Điều 55) Mặc dù, đã có những quy định tiến bộ trong việc quy định về quyền ly hôn của người vợ nhưng quyền bình đẳng của người vợ trong

quyền nhân thân vẫn chưa được ghi nhận nhiều và người vợ vẫn chịu sự phụ thuộc vào người chồng, người chồng vẫn là người có quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong gia đình và thực tế theo quy định tại Điều 41, Sắc luật

số 15/64: "Chồng là trưởng trong gia đình và phải hành xử quyền gia trưởng theo quyền lợi của gia đình và con cái"

* Bộ Dân luật Sài Gòn ngày 20 tháng 12 năm 1972 của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu

Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 gồm có 5 quyển trong đó những quy định thể hiện sự tiến bộ về quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân

Trang 30

giữa vợ và chồng được quy định tại thiên thứ V quyển số 1 Trong đó có một

số quy định khá tiến bộ, chẳng hạn Điều 136 quy định: "Vợ chồng có nghĩa

vụ thủy chung với nhau và giúp đỡ nhau cùng chung lo xây dựng hạnh phúc gia đình và dưỡng dục con cái" [4]; Điều 143 quy định:

Dưới mọi chế độ, vợ có quyền thay mặt chồng về những nhu cầu gia vụ và dùng tiền bạc của chồng vào những nhu cầu ấy Mọi hành vi của vợ trong phạm vi này đều có hiệu lực ràng buộc chồng, trừ phi người chồng đã tước quyền vợ và người đệ tam kết ước với người vợ đã biết có sự tước quyền [4]

Về quyền được ly thân hoặc ly hôn, Điều 170 quy định:

Vợ hay chồng có thể xin ly hôn hoặc ly thân

1 Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu;

2 Vì người phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội;

3 Vì sự ngược đãi, bạo hành hay nhục mạ, có tính chất thậm từ và tái diễn khiến vợ chồng không thể ăn ở với nhau nữa

Ngoài ra, vợ chồng còn có thể xin thuận tình ly hôn nếu hôn thú được lập trên hai năm hoặc không quá hai mươi năm Khi xin thuận tình ly hôn, các đương sự vẫn phải theo đúng thủ tục quy định

ở các điều 171 và kế tiếp Các đương sự có thể thỏa hiệp trước bằng văn thư đệ trình tòa về các vấn đề con cái và tài sản hôn nhân Tuy nhiên, về các vấn đề này, tòa có quyền thẩm định [4]

Tóm lại, có thể thấy rằng trong giai đoạn lịch sử từ 1954 đến 1975 thì những quy định pháp luật HN&GĐ về quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng của hai miền Bắc, Nam đã có những điểm tiến bộ

là đã bãi bỏ chế độ đa thê, xây dựng chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và ghi nhận một số quyền của người vợ bình đẳng với chồng so với pháp luật ở giai đoạn trước Những quy định trên đã mang lại nhiều hơn cho người vợ sự bình đẳng với người chồng trong đời sống hôn nhân và gia đình cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của mình

Trang 31

1.2.2.3 Quyền của người phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình giai đoạn từ 1975 đến nay

* Quyền của người phụ nữ trong Luật HN&GĐ năm 1986

Kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm

1986 ta đã tiến thêm một bước rất quan trọng về bảo vệ quyền của người phụ

nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng Chẳng hạn, ghi nhận nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ: "Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ" [26, Điều 3]; quy định quyền nhân thân của vợ chồng: "Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thủy với nhau, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch Chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho vợ thực hiện tốt chức năng của người mẹ" [26, Điều 11]; quyền của người phụ nữ trong việc lựa chọn nơi cư trú, phong tục, tập quán: "Chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán" [26, Điều 13]

Có thể nói, những quy định trên góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ, xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa thật sự dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa

* Quyền của người phụ nữ trong Luật HN&GĐ năm 2000

Công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thành tựu, tác động đến muôn mặt của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề HN&GĐ Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của Nhà nước đổi mới được ban hành thay thế Hiến pháp năm

1980 tiếp tục cụ thể hóa việc bảo vệ quyền của phụ nữ Điều 64 Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc hết sức quan trọng của hôn nhân: "Hôn nhân theo nguyên tắc

tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng"

Với mục đích nhằm xây dựng và củng cố gia đình Việt Nam, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam đồng thời nâng cao trách nhiệm của nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ quyền của người vợ đặc biệt

Trang 32

là trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng Trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ qua các bản hiến pháp và văn bản Luật hôn nhân và gia đình qua các năm, Luật HN&GĐ năm 2000 đã có những quy định thống nhất và toàn diện

về quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ, đó là:

- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng

- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình

- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em

và giúp đỡ các bà mẹ thực hiện chức năng cao quý của người mẹ

Bên cạnh đó, trong các chế định, cụ thể, Luật HN&GĐ năm 2000 đã

có các quy định về bảo vệ quyền của người vợ trong quan hệ nhân thân, chẳng hạn: "1 Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau 2 Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh

dự, nhân phẩm, uy tín của nhau" [28, Điều 21]; "Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người" [28, Điều 23]

Các quy định này góp phần đảm bảo thực hiện tốt quyền nhân thân cho người vợ cũng như ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến người vợ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trên thực tế

* Quyền của người phụ nữ trong Luật HN&GĐ năm 2014

Luật HN&GĐ năm 2014 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua vào ngày 19 tháng 06 năm 2014 với 9 chương và 133 Điều Luật được xây dựng trên cơ sở kế thừa các giá trị của Luật HN&GĐ năm 2000 và thể chế hóa đường lối của Đảng về hôn nhân và gia đình Trong hoàn cảnh mới, Hiến pháp năm 2013 được ban hành là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho việc đảm bảo quyền của người phụ nữ dưới góc độ bình đẳng giới Theo đó, Hiến pháp

Trang 33

đã có quy định trong việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ: "Nhà nước bảo

hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của phụ nữ" [33, khoản 2 Điều 36] Với quy định này thì người phụ nữ được đảm bảo quyền lợi của mình trên mọi lĩnh vực, nhất là trong việc đảm bảo quyền của người phụ nữ trong quan

hệ nhân thân giữa vợ và chồng, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người

vợ và khẳng định vị trí, vai trò của người vợ trong gia đình và xã hội

Luật HN&GĐ năm 2014 đảm bảo quyền của người phụ nữ trong quan

hệ nhân thân dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:

- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng

- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, giúp đỡ các bà

mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình Nguyên tắc này thể hiện tư tưởng đảm bảo quyền của người phụ nữ dưới góc độ đặc thù về giới

Trên cơ sở các nguyên tắc này, Luật HN&GĐ năm 2014 đã có những quy định cụ thể, đầy đủ về quyền của người vợ, chẳng hạn: "Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan" [34, Điều 17]; "Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác" [34, khoản 2 Điều 19] Các quy định trên góp phần đảm bảo cho người vợ được bình đẳng với người chồng trong đời sống hôn nhân và gia đình

Có thể nói, Luật HN&GĐ năm 2014 mang đến nhiều quy định tiến bộ nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của các chủ thể trong quan hệ HN&GĐ nói chung Đây là một bước phát triển mới của pháp luật về HN&GĐ ở Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, thực hiện các quan hệ HN&GĐ tiến bộ, hạnh phúc

Trang 34

Chương 2

NỘI DUNG BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

2.1 QUYỀN CỦA NGƯỜI VỢ ĐƯỢC THƯƠNG YÊU, CHUNG THỦY VÀ ĐƯỢC CHĂM SÓC, QUÝ TRỌNG

Điều 19 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:

1 Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình

2 Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội và lý do chính đáng khác [34]

Đây là sự kế thừa và phát triển quy định tại Điều 11 Luật HN&GĐ năm 1986 và Điều 18 Luật HN&GĐ năm 2000 Theo quy định này, quyền của người vợ trong quan hệ nhân thân với người chồng được thể hiện ở những nội dung sau đây

2.1.1 Quyền được yêu thương, chung thủy

Yêu thương, chung thủy giữa vợ và chồng là cái gốc để duy trì và phát triển hôn nhân hạnh phúc, tiến bộ và vững mạnh

Trong từ điển Tiếng Việt thì "chung thủy" được hiểu là "tình cảm trước sau như một, không thay đổi" còn "thương yêu" là "tình cảm gắn bó tha thiết hết lòng quan tâm chăm sóc" Tình yêu thương giữa vợ và chồng là tình cảm gắn bó giữa hai người khác giới trong đời sống hôn nhân Tình yêu thương và chung thủy giữa vợ và chồng thường gắn bó và liên quan với nhau Yêu thương là biểu hiện của lòng chung thủy, vợ chồng có yêu thương nhau

Trang 35

thì mới giữ trọn lòng chung thủy với nhau Theo đó, quyền được thương yêu, chung thủy của người vợ được thể hiện ở mặt vật chất và tinh thần Về phương diện vật chất, vợ chồng có nghĩa vụ hợp tác trong việc bảo đảm đáp ứng các yêu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình, của mỗi cá nhân Về phương diện tình cảm, vợ chồng phải dành cho nhau sự thương yêu, chung thủy, đùm bọc lẫn nhau trong đời sống hàng ngày, đặc biệt là khi đau ốm, gặp khó khăn Trong mối quan hệ với người thứ ba, vợ chồng cùng đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của nhau Khi vợ hoặc chồng bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì vợ và chồng phải có nghĩa vụ bảo vệ nhau Đối với công việc, cần động viên nhau để có tinh thần tốt để hoàn thành nhiệm vụ được giao Nếu một trong hai bên vợ, chồng hoặc cả hai bên lại thể hiện tình yêu với người khác thì đó là biểu hiện của sự không chung thủy Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cấm: "Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng,

có vợ" [34, điểm c khoản 2 Điều 5]

Để quyền được yêu thương, chung thủy của người phụ nữ được đảm bảo, pháp luật quy định các biện pháp xử lý hành vi vi phạm Cụ thể, Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 09 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định về hành vi vi phạm quy định về vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:

1 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

Trang 36

b Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ

Đặc biệt, những hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

mà "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" hoặc đã xử phạt vi phạm hành chính

về hành vi này mà còn vi phạm thì theo Điều 147 Bộ luật hình sự, chế tài hình

sự sẽ được áp dụng để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng "phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm" [27]

2.1.2 Quyền đƣợc chăm sóc, giúp đỡ, tôn trọng

Tình yêu là sự kết hợp một cách hài hòa giữa hai phía "cho" và

"nhận" Để xây dựng một gia đình tiến bộ, hạnh phúc thì nghĩa vụ chăm sóc,

giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ và chồng cần nhìn nhận như là một nghĩa vụ "bình đẳng" không chỉ dưới góc độ pháp luật mà ở cả khía cạnh đạo đức

Theo đó, quyền được chăm sóc, quý trọng, giúp đỡ được thể hiện ở hành vi, cách cư xử và thái độ của người chồng Đó là sự yêu mến, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của người vợ; giữ gìn danh dự, uy tín, nhân phẩm; quan tâm, động viên lẫn nhau và tạo điều kiện để người vợ có khả năng phát huy những điểm mạnh của bản thân Để đảm bảo được điều trên thì những hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cần phải được loại bỏ trong đời sống hôn nhân Về vấn đề này, khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 đã quy định các hành vi vi phạm quyền được chăm sóc, giúp đỡ, tôn trọng như sau:

1 Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

Trang 37

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng [31]

Để bảo vệ người phụ nữ thoát khỏi những hành vi vi phạm tới thể chất

và tinh thần những biện pháp xử lý đưa ra có ý nghĩa răn đe và hạn chế những hành vi vi phạm Theo đó, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật

tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình tại khoản 1 Điều 50 như sau:

1 Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đối xử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn

ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

b) Bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ [14]

Đặc biệt những hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì theo Điều 151 Bộ luật hình sự quy định: "Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông

bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm" [27]

2.1.3 Quyền sống chung giữa vợ và chồng

Nghĩa vụ sống chung giữa vợ và chồng được quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật HN&GĐ năm 2014 như sau: "Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế,

văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác" [34]

Từ quy định trên có thể hiểu "nghĩa vụ sống chung" là nghĩa vụ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, phát sinh trên cơ sở hôn nhân hợp pháp

Trang 38

Theo đó, vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ tạo lập một cuộc sống chung, một nơi ở chung để xây dựng, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình hạnh phúc, vững mạnh, tiến bộ Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2014 nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc theo đúng nghĩa Theo đó, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau để vun đắp tình cảm, tạo thành một gia đình, lo lắng, quan tâm lẫn nhau và cũng là một khía cạnh trong vấn đề bảo vệ quyền trẻ em, để trẻ em được sống chung dưới một mái nhà với đầy đủ cha mẹ, được nuôi dưỡng và phát triển trong một gia đình theo đúng nghĩa của nó Quy định này hạn chế được trường hợp vợ chồng có những lúc "cơm không lành, canh chẳng ngọt" dẫn tới việc vợ chồng có thể sống riêng bất cứ khi nào Đồng thời quy định nghĩa vụ sống chung của vợ chồng còn tránh trường hợp hôn nhân giả tạo, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của vợ, chồng Tuy nhiên, trong một

số trường hợp có sự thỏa thuận giữa hai vợ chồng hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia hoạt động chính trị… thì nghĩa vụ sống

chung không bắt buộc phải thực hiện

Có thể khẳng định, các quy định trong quyền được thương yêu, chăm sóc, quý trọng mang lại cho người vợ có sự bình đẳng nhất định với chồng trong đời sống hôn nhân và gia đình cũng như góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ dưới góc độ bình đẳng giới

2.2 QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA NGƯỜI VỢ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUAN HỆ GIA ĐÌNH

2.2.1 Quyền bình đẳng của vợ đối với chồng trong mối quan hệ với con

Theo quy định của pháp luật, sự kiện "sinh con" của người mẹ, "sự kiện nhận nuôi con nuôi" của vợ, chồng đều là những căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật của cha mẹ và con Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em nên trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con thì quyền lợi của người phụ nữ cần thiết được pháp luật bảo vệ Con sinh ra chịu sự ảnh

Trang 39

hưởng đương nhiên của cha mẹ về vấn đề họ, tên, quốc tịch, tôn giáo… cũng như vấn đề về chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục nên việc đảm bảo bình đẳng

về giới và bảo vệ quyền của người vợ là thật sự cần thiết cho con Do vậy, vấn

đề bảo vệ quyền của người vợ trong mối quan hệ đối với con được thể hiện trong những nội dung sau:

* Quyền lựa chọn họ, tên cho con

Quyền của người vợ trong việc lựa chọn họ, tên cho con thực hiện thông qua thỏa thuận với chồng, theo đó, họ, tên của con có thể theo họ mẹ

Về vấn đề này, điểm e khoản 1 mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02 tháng 06 năm 2008 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ

về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: "Khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ" Đây

là quy định mở tạo điều kiện cho người vợ có vị trí ngang bằng với người chồng, hạn chế ảnh hưởng của phong tục, chẳng hạn: tại xã Cộng Hòa và Tân Hòa (Quốc Oai, Hà Nội) con trai sinh ra mang họ bố nhưng con gái sinh ra mang họ từ tên đệm của bố

* Quyền đối với việc lựa chọn quốc tịch cho con

Theo nguyên tắc "quyền huyết thống", quốc tịch của người con sinh ra chịu sự chi phối của cha mẹ Vì vậy, việc lựa chọn quốc tịch cho con cũng chỉ đặt ra trong trường hợp hai bố mẹ mang hai quốc tịch khác nhau Về vấn đề này, để đảm bảo quyền của người vợ thì vợ và chồng có thể thỏa thuận việc lựa chọn quốc tịch cho con cho phù hợp Theo đó, quyền của người mẹ trong việc lựa chọn quốc tịch cho con được thể hiện tại khoản 2 Điều 16 Luật quốc tịch năm 2008 quy định:

Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam,

Trang 40

nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng

ký khai sinh cho con Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam [32]

Quy định trên tạo sự bình đẳng của người vợ đối với người chồng trong việc quyết định những vấn đề về nhân thân đối với con cái

* Quyền lựa chọn tôn giáo, nơi cư trú cho con

Trường hợp không cùng tôn giáo, nơi cư trú, vợ và chồng cũng có thể thỏa thuận để lựa chọn cho con theo tôn giáo của cha hoặc mẹ, cư trú cùng cha hoặc mẹ để tạo điều kiện tốt nhất cho con Người phụ nữ không còn bị ảnh hưởng của phong tục "lấy chồng phải theo chồng" mà được quyền tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến việc lựa chọn tôn giáo, nơi cư trú cho con Sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong mối quan hệ với các con là vi phạm đến quyền của người phụ nữ với tư cách là một người mẹ dưới góc độ bình đẳng giới

* Quyền bình đẳng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con

Quyền của người mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con được thể hiện trong các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 Theo đó, khoản 1, khoản 2 Điều 69 về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ quy định:

1 Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội

2 Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình [34]

Khoản 1 Điều 71 quy định: "Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang

nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành

Ngày đăng: 18/12/2015, 19:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Anh (2011), "Thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình còn nhiều bất cập", http://www.daibieunhandan.vn, ngày 16/12/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình còn nhiều bất cập
Tác giả: Diệp Anh
Năm: 2011
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục Thống kê (2013), Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2013
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục Thống kê
Năm: 2013
6. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2011), Báo cáo về tình hình thực hiện bình đẳng giới tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình thực hiện bình đẳng giới tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Năm: 2011
7. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch - Tổng cục Thống kê - Viện Gia đình và giới (2006), Điều tra gia đình Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra gia đình Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch - Tổng cục Thống kê - Viện Gia đình và giới
Năm: 2006
8. Chính phủ (2001), Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
9. Chính phủ (2006), Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày/102006 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày/102006 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
10. Chính phủ (2009), Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 về xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 về xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
11. Chính phủ (2009), Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
12. Chính phủ (2012), Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 8/11/2012 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 8/11/2012 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
15. Văn Nghiêp Chúc (2014), "Bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trên nhiều lĩnh vực", http://www.nhandan.com.vn, ngày 25/4/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trên nhiều lĩnh vực
Tác giả: Văn Nghiêp Chúc
Năm: 2014
16. "Cô giáo bị chồng tẩn phải nhập viện" (2010), dontruongbt.wordpress.com, ngày 25/12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cô giáo bị chồng tẩn phải nhập viện
Tác giả: Cô giáo bị chồng tẩn phải nhập viện
Năm: 2010
17. Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường (2003), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
18. Hải Hà (2013), "Biểu dương 4000 gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc", http://thanhtra.com.vn, ngày 18/12/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu dương 4000 gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc
Tác giả: Hải Hà
Năm: 2013
19. Thanh Hải (2013), "Nhìn lại ba năm thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới", http://www.baoquangtri.vn, ngày 25/12/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại ba năm thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
Tác giả: Thanh Hải
Năm: 2013
20. "Hệ quả của việc trọng nam khinh nữ" (2011), http://tapchilamdep.com, ngày 12/7/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ quả của việc trọng nam khinh nữ
Tác giả: Hệ quả của việc trọng nam khinh nữ
Năm: 2011
21. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
23. Tưởng Duy Lượng (2005), Bình luận một số vụ án hôn nhân và gia đình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bình luận một số vụ án hôn nhân và gia đình
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
24. "Một năm 8000 vụ ly hôn do bạo lực gia đình" (2014), http://phaply.net.vn, ngày 17/4/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một năm 8000 vụ ly hôn do bạo lực gia đình
Tác giả: Một năm 8000 vụ ly hôn do bạo lực gia đình
Năm: 2014
25. Quốc hội (1959), Luật hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1959
26. Quốc hội (1986), Luật hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1986

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai, thời kì 2002-2012 - Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014   luận vă
Bảng 3.1 Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai, thời kì 2002-2012 (Trang 66)
Bảng 3.3: Tỷ lệ phụ nữ có chồng bị chồng   gây các hành vi bạo lực thể xác khác nhau - Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014   luận vă
Bảng 3.3 Tỷ lệ phụ nữ có chồng bị chồng gây các hành vi bạo lực thể xác khác nhau (Trang 68)
Bảng 3.4: Tỷ lệ các hành vi bạo lực tình dục cụ thể do chồng gây ra - Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014   luận vă
Bảng 3.4 Tỷ lệ các hành vi bạo lực tình dục cụ thể do chồng gây ra (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w