1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt nam với việc thực hiện điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu,

191 868 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM VĂN HẢO VIỆT NAM VỚI VIỆC THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, HƯỚNG TỚI HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM VĂN HẢO

VIỆT NAM VỚI VIỆC THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, HƯỚNG TỚI HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH VÀ XUẤT KHẨU

CHỨNG NHẬN GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM VĂN HẢO

VIỆT NAM VỚI VIỆC THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, HƯỚNG TỚI HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH VÀ XUẤT KHẨU

CHỨNG NHẬN GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN

Hà Nội – 2012

Trang 3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

VÀ CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CÓ LIÊN QUAN

Tình hình biến đổi biến đổi khí hậu

Tình hình biến đổi khí hậu Trái Đất

Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Các khái niệm công cụ

Cơ chế phát triển sạch

Chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính

Xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính

Các công ước quốc tế về biến đổi khí hậu

Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư

Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn

UNFCCC và Nghị định thư Kyoto

Chương 2: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC

GIA TRONG THỰC HIỆN CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN

SẠCH VÀ THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC

CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở

VIỆT NAM

Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc xây dựng

khung pháp lý và triển khai các dự án theo cơ chế phát

Trang 4

Kinh nghiệm của Ấn độ trong việc xây dựng khung pháp

lý và triển khai các dự án theo cơ chế phát triển sạch

Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc xây dựng khung

pháp lý và triển khai các dự án theo cơ chế phát triển sạch

Kinh nghiệm của Brazil trong việc xây dựng khung pháp

lý và triển khai các dự án theo cơ chế phát triển sạch

Thực trạng việc thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi

khí hậu ở Việt Nam

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu

Pháp luật Việt Nam về biến đổi khí hâu

Thực tiễn xây dựng và triển khai các dự án CDM ở Việt Nam

Tình hình chung

Tình hình thực hiện ở một số dự án theo cơ chế phát triển sạch

Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG

CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CÁC CAM KẾT QUỐC

TẾ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HOÀN THIỆN CÁC

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN

SẠCH Ở VIỆT NAM

Hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về biến đổi

khí hậu trong một số lĩnh vực cụ thể

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiêu chuẩn môi trường

Hoàn thiện các quy định về ĐTM

Hoàn thiện các quy định về giảm phát thải các chất độc hại

gây biến đổi khí hậu

Hoàn thiện các quy định về phát triển năng lượng sạch

Hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về cơ chế

Trang 5

3.2.2

3.2.3

3.2.4

triển khai dự án theo cơ chế phát triển sạch

Hoàn thiện các quy định pháp luật thuế và tài chính về CDM

Hoàn thiện các quy định pháp luật về thương mại CERs

Giải pháp tăng cường năng lực thực hiện dự án CDM tại

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 ADB : Ngân hàng Phát triển Á Châu

2 APCF : Quỹ Carbon Châu Á - Thái Bình Dương

3 CDM : Cơ chế phát triển sạch

4 CERs : Chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính

5 CMF : Quỹ Hỗ trợ Thị trường Tín dụng

6 CMI : Sáng kiến Thị trường Carbon

7 COP : Hội nghị thành viên

8 ĐMC : Đánh giá môi trường chiến lược

9 ĐTM : Đánh giá tác động môi trường

10 EB : Ban Chấp hành quốc tế về CDM

11 EVN : Tập đoàn Điện lực Việt Nam

12 FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc

13 GEF : Quỹ Môi trường toàn cầu

14 IET : Cơ chế buôn bán quyền phát thải quốc tế

15 IPCC : Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của LHQ

16 JI : Cơ chế đồng thực hiện

17 LOA : Thư phê duyệt cho dự án CDM

18 OECD : Tổ chức Hỗ trợ kinh tế và Phát triển

19 PDD : Văn kiện thiết kế dự án

20 PIN : Thư xác nhận ý tưởng dự án

21 PoA : Chương trình hoạt động theo CDM

22 PVN : Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam

23 TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

24 Tr : Trang

25 TSF : Quỹ Hỗ trợ kỹ thuật

26 UNDP : Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

27 UNEP : Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc

28 UNFCCC : Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

29 UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

30 WHO : Tổ chức y tế thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

TRONG LUẬN VĂN

1.1 Nhiệt độ trung bình Trái Đất từ năm 1865 đến 2006

1.2 Biểu đồ băng tan ở Biển băng Bắc cực

1.3 Biểu đồ về mực nước biển dâng

1.4 Thời hạn loại bỏ CFC theo Nghị định thư Montreal

1.5 Khái quát chung về các hoạt động CDM

2.1 So sánh các dự án CDM đã đăng ký ở Brazil, Trung Quốc, và Ấn Độ

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình sinh sống trên Trái Đất, con người luôn tác động vào tự nhiên nhằm phục vụ cho những lợi ích của mình Những tác động ấy bên cạnh những mặt tích cực, còn nhiều tác động tiêu cực gây nên những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường Trong những năm qua, Trái Đất ngày một nóng lên, cùng với đó là những hiện tượng thời tiết bất thường đã và đang đe dọa đến cuộc sống của hàng tỷ con người, được chúng ta gọi là hiện tượng biến đổi khí hậu Đó là hậu quả của việc con người không tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên, tàn phá thiên nhiên một cách quá mức Trước những nguy cơ to lớn của biến đổi khí hậu với con người, Công ước khung của Liên Hợp quốc

về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã được chấp nhận vào 9/5/1992 tại trụ sở của Liên hợp quốc ở New York và đã có 155 lãnh đạo các nước trên thế giới ký Công ước này tại Hội nghị Môi trường và phát triển ở Rio de Janeiro, Braxin vào tháng 6/1992 Theo Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), những nước đang phát triển, nước nghèo sẽ chịu tác động nặng nề nhất từ hiện tượng biến đổi khí hậu Trên thực tế, những cơn bão lớn, những vụ lở núi, sạt đất liên tục xảy ra trong những năm gần đây ở nước ta đã chứng thực Việt Nam là một trong những quốc gia có nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng do hiện tượng biến đổi khí hậu Vì thế, năm 2002, Việt Nam đã tham gia Nghị định thư Kyoto với mục đích góp phần hạn chế những ảnh hưởng do biến đổi khí hậu Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện nghị định này còn khá mới mẻ nên gặp nhiều rào cản

Tại hội nghị các bên tham gia UNFCCC lần thứ 3 được tổ chức tại Kyoto (Nhật Bản) tháng 12/1997, Nghị định thư của Công ước đã được thông qua (gọi là Nghị định thư Kyoto - KP) Điểm nhấn quan trọng của công ước nhìn nhận trên góc độ kinh tế chính là sự hình thành thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính (CERs - Certified Emission Reductions) Thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính là

Trang 9

một thị trường mới mẻ chưa từng có trong lịch sử phát triển kinh tế từ trước đến nay Do đó, chưa có được những quy ước, quy định chặt chẽ và rõ ràng trong cơ chế này Tuy nhiên, đã là thị trường thì đương nhiên phải có người mua và người bán Người mua ở đây là các nước phát triển, người bán là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Là một trong những nước đang phát triển, Việt Nam đã nhanh chóng tham gia cam kết với các tổ chức quốc tế, như ký kết Công ước khung, Nghị định Kyoto, tham gia dự án CDM - Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism), có chỉ định cơ quan đầu mối quốc gia, phê chuẩn nghị định thư Việt Nam đủ điều kiện theo quy định của tổ chức quốc tế để xây dựng và thực hiện các dự án CDM Có thể nói, việc xây dựng và thực hiện các dự án CDM sẽ mang lại các giá trị kinh tế và ý nghĩa bảo vệ môi trường to lớn Dù vậy, do thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính còn quá mới mẻ, nhiều cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là các nhà doanh nghiệp của Việt Nam còn ít thông tin về thị trường này, nên chưa có nhiều doanh nghiệp xây dựng và đăng ký dự án CDM cho đơn vị mình Thực tiễn việc thực hiện các dự án CDM ở Việt Nam cho thấy, thành phần và đối tác của CDM khá đa dạng và phức tạp khi việc áp dụng CDM ở mỗi đối tác

và mỗi quốc gia khi điều kiện kinh tế - xã hội không tương đồng Việc thận trọng trong phân tích và chấp thuận các phương thức, các thể chế của CDM là cần thiết vì nó không những sẽ bảo đảm quyền lợi của quốc gia mà còn nhằm bảo toàn sự trong sáng của mục tiêu mà UNFCCC đã đưa ra Việt Nam đã có những văn bản pháp quy để hỗ trợ các dự án CDM nhưng thủ tục còn phức tạp và nhiều bất cập, chồng chéo

Việc nghiên cứu và hệ thống hóa các văn bản pháp lý quốc tế về chống biến đổi khí hậu và CDM có ý nghĩa to lớn về lý luận và thực tiễn với Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án CDM sẽ giúp chúng ta có thêm những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế phát triển sạch và xây dựng

Trang 10

thị trường mua, bán CERs hoàn chỉnh

Vì những lý do trên, vấn đề "Việt Nam với việc thực hiện điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu, hướng tới hoàn thiện các quy định pháp luật về

cơ chế phát triển sạch và xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính" được học viên lựa chọn làm đề tài của luận văn thạc sĩ luật học của

mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề cấp bách mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải cùng chung sức thực hiện Vì vậy, có nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến một số tài liệu nghiên cứu về khía

cạnh pháp lý liên quan đến biến dổi khí hậu như: 1) Lưu Ngọc Tố Tâm (2003), Việc thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về biến đổi khí hậu, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; 2) Chu Thị Trinh (2009), Những vấn đề pháp lý về thích nghi và ứng phó với biến đổi khí hậu

tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội; 3) UNEP

(2002), Cơ chế phát triển sạch CDM, Hà Nội; 4) Ngô Gia Long (2010), Vấn

đề biến đổi khí hậu trong luật pháp quốc tế ở thế kỷ 21, Khóa luận tốt nghiệp,

Trường Đại học Luật Hà Nội; 5) UNEP (2009), Implementing CDM Projects

- A Guidebook to Host Country Legal Issues, Denmark; 6) Dr Thomas

Straubhaar (2004), Transaction Costs of CDM Projects in India – An

Empirical Survey, Hamburg Institute of International Economics

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về khía cạnh pháp lý liên quan đến biến đổi khí hậu của các tác giả trong và ngoài nước, tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc toàn diện các quy định về CDM và CERs nhằm hoàn thiện các quy định pháp lý cho việc phát triển thị trường này ở Việt Nam Bởi vậy, việc nghiên cứu sâu sắc vấn đề thực thi các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu mà Việt Nam tham gia và nền tảng pháp lý cho việc thực hiện các dự án CDM là rất cần thiết

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài

Trang 11

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích tình hình biến đổi khí

hậu trên thế giới, những vấn đề lý luận và thực tiễn thực thi cam kết quốc tế

về biến đổi khí hậu tại Việt Nam, Luận văn nêu và phân tích những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tài nguyên, môi

trường và cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích mục đích nghiên cứu

nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Nghiên cứu tình hình, nguyên nhân và những tác động của biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam

Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống pháp luật quốc tế liên quan đến lĩnh vực biến đổi khí hậu, cụ thể là: nội dung cơ bản của UNFCCC và Nghị định thư Kyoto, Công ước quốc tế về bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư

Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn

Hệ thống hóa các văn bản pháp luật trong nước về chống biến đổi khí hậu, trên cơ sở đó nghiên cứu, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế Đặc biệt, Luận văn dành một phần lớn nội dung để nghiên cứu thực trạng pháp lý

và triển khai các dự án CDM ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc phát triển thị trường CERs Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và hoàn thiện các quy định pháp luật về CDM ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các vấn đề về thực tiễn

thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu của Việt Nam, trong đó có việc triển khai thực hiện các dự án CDM; nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về xây dựng pháp luật liên quan đến CDM; nghiên cứu những hạn chế và hướng hoàn thiện quy định pháp luật trong nước về biến đổi khí hậu, trong đó có pháp luật về CDM

Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tổng quan về tình hình

biến đổi khí hậu Trái Đất và Việt Nam; nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp

Trang 12

lý quốc tế về biến đổi khí hậu và CDM; nghiên cứu pháp luật của Trung Quốc

và Ấn Độ, Brazil là các quốc gia có pháp luật phát triển về CDM và có năng lực trong xuất khẩu CERs hàng đầu thế giới; nghiên cứu hệ thống pháp luật của Việt Nam về biến đổi khí hậu và CDM

4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở lí luận của Luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trên quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước về tăng cường công tác bảo vệ môi trường, phát triển bền vững trong thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước; những thành tựu của các ngành khoa học như: Triết học, Luật quốc tế, Luật thương mại, Luật dân sự… Nội dung của Luận văn được giải quyết trên cơ sở phân tích hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam và các văn bản khác; các tài liệu tổng hợp từ hoạt động thực tiễn nghiên cứu biến đổi khí hậu của các nhà khoa học; tham khảo một

số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề liên quan

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Luận văn đặc biệt coi trọng các phương pháp hệ thống, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, … Qua đó, rút ra những kết luận, đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế phát triển sạch và xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính cả về lý luận và thực tiễn

5 Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề vấn

đề biến đổi khí hậu và thực hiện điều ước quốc tế có liên quan, nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về biến đổi khí hậu và CDM Trong bối cảnh vấn đề triển khai thực hiện thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính đang và sẽ mang lại giá trị kinh tế cao cho đất nước, nhưng hệ thống pháp luật cho việc xây dựng, thực hiện và xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, cho đến nay,

Trang 13

chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện nào dưới góc độ pháp luật

để hoàn thiện quy chế pháp lý liên quan đến thực hiện điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu ở Việt Nam Vì vậy, luận văn có những đóng góp khoa học mới sau:

- Tổng hợp những thông tin mới nhất về tình hình biến đổi khí hậu đã được công bố

- Cung cấp bức tranh toàn cảnh về việc thực hiện điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu đặc biệt là việc triển khai các dự án CDM và mua bán CERs

ở các dự án CDM đã được triển khai ở Việt Nam trong thời gian qua;

- Chỉ ra được những hạn chế của hệ thống pháp luật Việt Nam về biến đổi khí hậu, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật một số nước, Luận văn chỉ ra những hạn chế của pháp luật Việt Nam về CDM

- Đề xuất hướng hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến biến đổi khí hậu và CDM nhằm hình thành thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật trong nước mang lại giá trị kinh tế thiết thực cho quốc gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sâu sắc hơn các quan niệm về biến đổi khí hậu và chống biến đổi khí hậu, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, bổ sung để hoàn chỉnh hơn các hệ thống các quy định của pháp luật quốc tế về khí hậu và thực hiện cơ chế phát triển sạch, hình thành thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp những ý kiến tham vấn có giá trị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về biến đổi khí hậu, giúp triển khai các dự án CDM có hiệu quả mang lại giá trị kinh tế và ý nghĩa môi trường to

Trang 14

Chương 2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong thực hiện cơ chế

phát triển sạch và thực trạng việc thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Chương 3 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các

cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC ĐIỀU ƯỚC

QUỐC TẾ CÓ LIÊN QUAN

1.1 Tình hình biến đổi biến đổi khí hậu

1.1.1 Tình hình biến đổi khí hậu Trái Đất

1.1.1.1 Khái niệm chung về khí hậu và biến đổi khí hậu

Khí quyển Trái Đất là một hệ thống lớn, rất phức tạp, chịu sự tác động qua lại của mặt trời, đại dương, lục địa và sự sống để phân bố lại năng lượng nhiệt Vòng tuần hoàn gió, mây và hơi nước đóng vai trò to lớn trong việc

phân phối nhiệt và độ ẩm khắp Trái Đất Chế độ tổng quát của các điều kiện

thời tiết diễn ra trên một địa điểm, một vùng, một đới được gọi là khí hậu

[57] Khí hậu phụ thuộc vào những khuynh hướng nóng và lạnh trên bề mặt Trái Đất; nó chịu ảnh hưởng lớn bởi vòng tuần hoàn khí quyển và đại dương

Sự cân bằng giữa các thành phần và quá trình của khí hậu tạo nên một chu trình khép kín ổn định tương đối Do đặc trưng của vị trí địa lý mà khí hậu ở các vùng khác nhau trên Trái Đất có sự khác biệt đáng kể Trên thế giới có rất nhiều đới khí hậu, có thể kể đến như: khí hậu xích đạo, khí hậu nhiệt đới, khí hậu ôn đới, khí hậu cực đới Những đới khí hậu này lại chia ra thành các loại hình khí hậu khác nhau dựa trên các thông số chính xác về nhiệt độ và lượng mưa như: khí hậu nhiệt đới ẩm, khí hậu nhiệt đới khô, khí hậu ôn đới khô về mùa đông, khí hậu ôn đới khô về mùa hè, khí hậu ôn đới ấm Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định Điều này trái ngược với khái niệm thời tiết về mặt thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đến các diễn biến hiện tại hoặc tương lai gần Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ địa lí, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu

ở các đại dương lân cận

Trang 16

Trong thành phần của khí quyển Trái Đất, khí nitơ chiếm 78% khối lượng, khí oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% các khí khác như argon, đioxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ, nêon, hêli, hyđrô, ôzôn,… và hơi nước Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nhưng khí CO2, CH4, NOx, và CFCs - một loại khí mới chỉ có trong khí quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, lại là những khí có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên Trái Đất Trước hết, vì các chất khí nói trên hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất Các chất khí nói trên, trừ CFCs, đã tồn tại từ lâu trong khí quyển và được gọi là các khí nhà kính tự nhiên Nếu không có các chất khí nhà kính tự nhiên, Trái Đất của chúng ta sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 33oC, tức là nhiệt độ trung bình Trái Đất sẽ khoảng 18oC Hiệu ứng giữ cho bề mặt Trái Đất ấm hơn so với trường hợp không có các khí nhà kính được gọi là

“Hiệu ứng nhà kính” Ngoài ra, khí ôzôn tập trung thành một lớp mỏng trên tầng bình lưu của khí quyển có tác dụng hấp thụ các bức xạ tử ngoại từ mặt trời chiếu tới Trái Đất và thông qua đó bảo vệ sự sống trên Trái Đất [34]

Khí hậu Trái Đất luôn vận động tuần hoàn trong sự ổn định theo những chu kỳ nhất định, tuy nhiên, trong những năm gần đây, chúng ta nói nhiều đến vấn đề biến đổi khí hậu và sự tác động mạnh mẽ của nó với sự sống trên Trái Đất Hiệu ứng nhà kính đã gây ra những thay đổi tiêu cực đối với khí hậu Trái Đất và môi trường sống của con người và các sinh vật khác Trong mấy thập

kỷ qua, nhân loại đã và đang chứng kiến và thậm chí hứng chịu những hiện tượng bất thường của thời tiết Về khái niệm, biến đổi khí hậu được hiểu là:

"Một sự thay đổi trong khí hậu do tác động trực tiếp hay gián tiếp của các hoạt động con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so

Trang 17

sánh được" [6, tr.4]

Như vậy, biến đổi khí hậu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của con người, cùng với quá trình thay đổi tự nhiên của khí hậu Trái Đất Xét dưới góc độ môi trường, biến đổi khí hậu theo nghĩa rộng được hiểu

là tất cả sự khác nhau giữa những số liệu thống kê dài hạn các yếu tố khí tượng ở các thời kỳ khác nhau của một khu vực, không bị phụ thuộc vào phép thống kê và nguyên nhân đã gây ra sự khác nhau đó Theo nghĩa hẹp, là những thay đổi rõ nét về giá trị trung bình của những yếu tố khí tượng (chủ yếu là nhiệt độ và lượng mưa) trong những khoảng thời gian xác định (một tháng, một mùa hay vài năm) so với giá trị trung bình trong một thời gian dài (từ vài chục năm trở lên) của một khu vực; những biến đổi đó có thể gây ra những hậu quả về kinh tế, xã hội hoặc môi trường sinh thái của khu vực [49, tr.9] Khái niệm về biến đổi khí hậu đã được xem xét dưới góc độ khoa học thống kê và những tác động tiêu cực của nó đối với đời sống con người Trong phạm vi Luận văn này, chúng ta nghiên cứu biến đổi khí hậu dưới giác

độ là những tác động có ảnh hưởng tiêu cực với hệ sinh thái nói chung trong

đó có con người

1.1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu

Những thay đổi của khí hậu mà ngày nay chúng ta đang chứng kiến diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh chóng hơn, nghiêm trọng hơn và xuất hiện những hình thế không thể lý giải được bằng các chu trình tự nhiên Những biểu hiện của biến đổi khí hậu có thể thấy rõ nhất qua những hiện tượng có thể quan sát được

Nhiệt độ trung bình của của bề mặt Trái Đất là thước đo cơ bản nhất để đánh giá sự biến đổi khí hậu Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 (FAR) của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), trong suốt thời gian gần 100 năm (1906-2005) nhiệt độ bề mặt Trái đất chỉ tăng 0,74oC, nhưng trong gần 5 thập kỷ gần đây (1956-2005) nhiệt độ đã tăng lên đến 0,64oC [14, tr.16]

Trang 18

1.1 Nhiệt độ trung bình Trái Đất từ năm 1865 đến 2005

(Nguồn: Viện nghiên cứu Không gian Goddard) Như vậy, Trái Đất hiện đã đến hoặc gần đến mức độ nóng nhất ghi nhận được trong suốt thời kỳ gián băng bắt đầu từ khoảng 12000 năm trước công nguyên Chính sự nóng lên của vỏ Trái Đất đã khiến băng băng ở hai cực và các dãy núi cao tan nhanh Vùng Bắc cực nóng lên nhanh gấp 2 lần mức nóng trung bình trên toàn cầu Diện tích của Biển Bắc cực được bao phủ bởi băng trong mỗi mùa hè đang thu nhỏ lại Tính từ năm 1980, vùng Bắc Âu

đã mất khoảng 20-30% lượng băng trên biển Từ năm 1978 trở đi mỗi thập kỷ băng tuyết ở Nam cực đã giảm đi khoảng 2,7% năm [14, tr.17] Trung bình nhiệt độ Bắc bán cầu trong nửa sau của thế kỷ 20 đã rất có khả năng cao hơn trong bất kỳ khoảng thời gian 50 năm khác trong 500 năm qua và có khả năng cao nhất trong ít nhất là 1300 năm qua [27, tr.3]

1.2 Biểu đồ băng tan ở Biển băng Bắc cực

(Nguồn: IPCC) Lượng mưa tăng giảm thất thường làm cho lũ lụt và hạn hán gia tăng ở nhiều vùng trên Trái đấ t Mực nước biển tăng trung bình trên Trái Đất từ đầu thế kỉ 20 là 0.17 m, hầu hết là do các khu vực đại dương ấm lên, và sự tan

Trang 19

giới tăng nhanh hơn trong giai đoạn 1993-2003 ( 3.1 [2.4-3.8] mm/năm) so với 1961-2003 (1.8 [1.3-2.3] mm/năm) [27, tr.2]

1.3 Biểu đồ về mực nước biển dâng

(Nguồn: IPCC, 2007)

Những biến đổi trong tương lai có thể lên tới 0.5 m vào năm 2100 và lên tới 1 m trong vòng 2-3 thế kỷ, phụ thuộc vào lượng khí nhà kính thải ra Các kịch bản đang được các nhà khoa học đưa ra là nếu nhiệt độ Trái đất tăng 1,80 C thì nước biển sẽ dâng cao thêm 0,18-0,38cm, tương ứng với tăng 2,40C là 0,20-0,45cm, tương ứng với tăng 2,80C là 0,21-0,45cm và tương ứng với 3,40C là 0,23 đến 0,51cm Các nhà khoa học dự kiến trong thế kỷ XXI lượng mưa mùa mưa sẽ tăng 3,6-4,6%; lượng mưa mùa khô sẽ tăng 3,8-4,6%; lượng mưa trong năm tăng 3,0-14,6%; mực nước biển dâng cao tới 40-60cm [14, tr.17]

Bão nhiệt đới có xu hướng tăng cường dưới tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu gây ra bởi nhiệt độ bề mặt nước biển tăng (nhưng không chắc chắn về tần xuất cũng như hướng di chuyển của bão) Tính thất thường của những cơn bão nhiệt đới cũng gây ra tính biến thiên của lượng mưa trong tương lai Có bằng chứng quan sát về sự gia tăng hoạt động dữ dội cơn bão nhiệt đới ở Bắc Đại Tây Dương kể từ khoảng năm 1970 Nhưng không có xu hướng rõ ràng trong các con số hàng năm của các cơn bão nhiệt đới Thật khó

để xác định xu hướng dài hạn trong hoạt động của cơn bão, đặc biệt trước năm 1970 [27, tr.2] Dự báo của IPCC: có khả năng bão nhiệt đới (bão tố và

Trang 20

cuồng phong) sẽ trở nên khốc liệt hơn khi đại dương nóng lên, tốc độ gió giật cao hơn và lượng mưa nhiều hơn Mọi bão tố và cuồng phong đều khởi phát

từ năng lượng do đại dương giải phóng ra - và năng lượng đó sẽ tăng cao Một nghiên cứu phát hiện thấy trong ba thập kỷ qua năng lượng giải phóng từ các cơn bão nhiệt đới đã tăng gấp đôi [11, tr.103]

Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái Đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người [21, tr.6] Ngoài những tư liệu về

sự thay đổi nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, Báo cáo của IPCC năm

2004 đã trình bày những kết quả nghiên cứu tại sao nhiệt độ Trái Đất thay đổi

đã ảnh hưởng đến khí hậu, các đặc điểm vật lý và diễn thế các đặc điểm đó của Trái Đất, đến nơi sống của các loài sinh vật và đến sự phát triển kinh tế của chúng ta Báo cáo cũng đã đưa ra kết luận là nhiệt độ Trái Đất trong thế

kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,6oC làm cho nhiều vùng băng hà, diện tích phủ tuyết, vùng băng vĩnh cửu đã bị tan chảy, dẫn đến mực nước biển dâng lên Nhiều dấu hiệu đã cho thấy tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng ngày một sâu, rộng đến các hệ sinh thái Vùng phân bố của các loài đó thay đổi: nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phía Bắc và lên các vùng cao hơn; nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa di cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều [19, tr.22-23]

1.1.1.3 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là kết quả của nhiều yếu tố bao gồm cả các quy trình động năng của bản thân Trái Đất, cả các lực bên ngoài bao gồm các biến đổi trong cường độ ánh sáng Mặt Trời, đặc biệt là những hoạt động của con người trong thời gian gần đây Những yếu tố bên ngoài - những yếu tố có thể định hình khí hậu thường được gọi là các lực khí hậu, chúng là sự tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm những thay đổi của quỹ đạo Trái Đất quanh

Trang 21

mặt trời (như độ nghiêng của trục Trái Đất), quỹ đạo của mặt trời quanh Ngân

Hà, các hoạt động của mặt trời (như bức xạ mặt trời) và vị trí của các lục địa

Nguyên nhân từ quá trình vận động của tự nhiên

Sự biến đổi trong quỹ đạo Trái Đất: Trong các yếu tố tác động đến khí

hậu, sự thay đổi trong quỹ đạo của Trái Đất là yếu tố có ý nghĩa quan trọng làm thay đổi năng lượng Mặt Trời, bởi vì dù chỉ có sự thay đổi rất nhỏ trong quỹ đạo Trái Đất cũng đã dẫn tới những sự thay đổi trong sự phân phối của ánh sáng Mặt Trời khi tiến tới bề mặt Trái Đất độ lệch tâm, độ nghiêng của trục sai là 3 chu kì chi phối tạo ra sự thay đổi trong quỹ đạo Trái Đất Sự kết hợp hiệu quả của các biến thể trong 3 chu kì này đã tạo ra sự thay đổi trong sự tiếp nhận theo mùa vụ của bức xạ Mặt Trời trên bề mặt Trái Đất Như vậy, chu kì Milankovitch (tên gọi cho hiệu ứng tổ hợp của các thay đổi trong chuyển động của Trái Đất lên khí hậu) ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay giảm bức xạ Mặt Trời mà Trái Đất nhận được, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hoàn lưu khí quyển, đồng thời cũng ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống băng hà trên Trái Đất

Hoạt động núi lửa: Phun trào núi lửa là một quá trình vận chuyển vật

liệu từ dưới sâu lòng đất lên bề mặt, như là một phần của tiến trình mà Trái Đất loại bỏ sự quá dư thừa về nhiệt độ và áp suất bên trong lòng nó Sự phun trào núi lửa là sự giải phóng ở các mức độ khác nhau những vật liệu đặc biệt vào trong bầu khí quyển Trong một thế kỉ mà xảy ra vài vụ nổ núi lửa sẽ có tác động ít nhiều đến khí hậu toàn cầu, điển hình là chúng có thể gây ra hiện tượng “mát” cho một giai đoạn kéo dài khoảng một năm hoặc nhiều hơn thế

Sự hoạt động của núi lửa Pinatubo năm 1991 – hoạt động phun trào núi lửa lớn thứ hai trên Trái Đất trong thế kỉ XX (chỉ sau hoạt động của núi lửa Novarupta xảy ra vào năm 1912), là một ví dụ, làm cho khí hậu bị ảnh hưởng, nhiệt độ toàn cầu giảm đi 0,5oC và làm cho tầng ô zôn bị suy yếu đi đáng kể Ban đầu, nó được nghĩ là đám bụi mờ được đẩy ra từ các vụ nổ núi lửa lớn vào không khí là nguyên nhân ngăn chặn sự vận chuyển bức xạ Mặt Trời

Trang 22

xuống bề mặt Trái Đất nên đã gây ra hiện tượng nguội lạnh của Trái Đất Tuy nhiên, các công tác đo lường cho thấy rằng hầu hết lượng bụi được đưa vào bầu khí quyển có thể trở về bề mặt Trái Đất ít nhất trong vòng 6 tháng, theo đúng điều kiện [60, tr 1-7]

Các vụ cháy rừng ở các địa phương: xảy ra chỉ vài lần trong hàng

trăm triệu năm, nhưng có thể định hình lại khí hậu của hàng triệu năm và gây

ra sự tuyệt chủng khổng lồ Ngày nay, nạn cháy rừng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, nó không chỉ gây ra khói và bụi làm giải phóng một lượng CO2 vào khí quyển và làm nóng thêm nhiệt độ của Trái Đất Cháy rừng làm mất đi

hệ thống thảm thực vật và hệ sinh thái rừng tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm Các diện tích rừng bị cháy khó có khả năng phục hồi và khiến hệ thống

bể hấp thụ khí nhà kính giảm đi đáng kể

Nguyên nhân từ hoạt động của con người

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Theo IPCC, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên Trong hầu hết các mối quan tâm về những tác động do con người gây ra thì mối quan tâm hàng đầu hiện nay đó là sự gia tăng của lượng khí CO2 do việc đốt các nhiên liệu

có nguồn gốc hóa thạch, việc sản xuất xi măng… Các yếu tố khác, bao gồm

cả việc sử dụng đất, lỗ thủng tầng ôzôn, sản xuất nông nghiệp và nạn phá rừng cũng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến khí hậu

Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái Đất Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và

Trang 23

tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời

kỳ tiền công nghiệp (280ppm) Từ khoảng năm 1.800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ)

và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005 Riêng các chất khí chlorofluoro carbon (CFCs) là loại khí mới có trong khí quyển do kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển, CFCs vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu [66]

Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng 20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốc Anh 580 triệu tấn Các nước đang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn CO2, chiếm 42% tổng lượng phát thải toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá nhanh trong khoảng 15 năm qua [69]

Trang 24

1.1.1.4 Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu

Những thảm họa thiên nhiên do biến đổi khí hậu gây ra có thể kể đến như: động đất và sóng thần ở Nhật Bản tháng 3 năm 2011 đã để lại hậu quả

vô cùng khủng khiếp, hàng chục ngàn người chết và mất tích, tài sản bị hủy hoại và gây ra vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Fukushima; cơn bão Katrina tháng 8 năm 2005 tàn phá nước Mỹ khiến hàng nghìn người chết và bị thương; cơn bão Nargis tại Myanmar khiến số nạn nhân thiệt mạng có thể lên tới con số 100.000 đã được ghi nhận là một trong 6 trận bão khủng khiếp nhất thế giới kể từ năm 1991 Đó mới chỉ là một phần của những thiệt hại và thảm họa thiên nhiên mà con người đang phải gánh chịu trong thế kỷ này Trong tương lai những tác động của biến đổi khí hậu dự báo sẽ còn to lớn hơn rất nhiều Những tác động này thể hiện trên những phương diện sau đây:

Tác động tiêu cực tới môi trường và hệ sinh thái

Loài người đã làm thay đổi các hệ sinh thái một cách hết sức nhanh chóng trong khoảng 50 năm qua, nhanh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây Diện tích các vùng hoang dã đã được chuyển đổi thành đất nông nghiệp, chỉ tính riêng từ năm 1945 đến nay đã lớn hơn cả trong thế kỷ thứ 18 và 19 cộng lại Tất cả những điều đó đã gây nên những sự mất mát về đa dạng sinh học trên thế giới một cách nghiêm trọng không thể nào đảo ngược được, trong đó

có khoảng 10 đến 30% số loài chim, thú và bò sát hiện đang có nguy cơ bị tiêu diệt Năm 2005, đánh giá hệ sinh thái Thiên niên kỷ phát hiện thấy 60% các dịch vụ hệ sinh thái hoặc đã suy thoái hoặc đang bị sử dụng thiếu bền vững, gần 1/4 các loài có vú đang suy giảm nghiêm trọng Biến đổi khí hậu đã góp phần làm nhiều loài biến mất - và sự nóng lên toàn cầu đang diễn ra sẽ góp thêm phần vào đó Nhưng những tác động sâu sắc hơn sẽ tăng vọt khi nhiệt độ tăng thêm 2oC so với mức thời kỳ tiền công nghiệp Đây là ngưỡng

mà tốc độ tuyệt chủng được dự báo sẽ bắt đầu gia tăng Theo IPCC, 20 - 30% các loài động thực vật có thể sẽ có nguy cơ tuyệt chủng cao hơn nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng quá 1,5 - 2,5oC, kể cả gấu trắng Bắc Cực và nhiều

Trang 25

loài cá tôm lấy nguồn thức ăn từ các rạn san hô Khoảng 277 loài thú lớn và vừa ở Châu Phi sẽ bị nguy hiểm khi nhiệt độ tăng lên 3oC [ 11, tr.108]

Mất đa dạng sinh học ngày nay đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có, kể từ thời kỳ các loài khủng long bị tiêu diệt cách đây khoảng

65 triệu năm và tốc độ biến mất của các loài hiện nay ước tính gấp khoảng

100 lần so với tốc độ mất các loài trong lịch sử Trái Đất, và trong những thập

kỷ sắp tới mức độ biến mất của các loài sẽ gấp 1.000 -10.000 lần Có khoảng 10% các loài đã biết được trên thế giới đang cần phải có những biện pháp bảo

vệ, trong đó có khoảng 16.000 loài được xem là đang có nguy cơ bị tiêu diệt Trong số các loài thuộc các nhóm động vật có xương sống chính đã được nghiên cứu khá kỹ, có hơn 30% các loài ếch nhái, 23% các loài thú và 12% các loài chim, nhưng thực tế số loài đang nguy cấp lớn hơn rất nhiều [63, tr.9]

Ước tính đã có khoảng 60% khả năng dịch vụ cho sự sống trên Trái Đất của các hệ sinh thái - như nguồn nước ngọt, nguồn cá, điều chỉnh không khí

và nước, điều chỉnh khí hậu vùng, điều chỉnh các thiên tai và dịch bệnh tự nhiên đã bị suy thoái hay sử dụng một cách không bền vững Các nhà khoa học cũng đã cảnh báo rằng, tác động tiêu cực của những suy thoái nói trên sẽ phát triển nhanh chóng trong khoảng 50 năm sắp tới [46, tr.35]

Diện tích rừng, nhất là rừng nhiệt đới bị thu hẹp một cách báo động Trong vòng 8000 năm gần đây, khoảng 45% diện tích từng nguyên sinh trên Trái Đất đã biến mất, chủ yếu do bị chặt phát trong thế kỷ trước Theo đánh giá của FAO gần đây, mỗi năm khoảng 13 triệu ha rừng trên toàn thế giới đã

bị mất Trong giai đoạn 2000 - 2005, diện tích rừng bị mất thực hàng năm là 7.3 triệu ha (tương đương 0.18 % diện tích thực trên toàn thế giới) Cứ mỗi năm, khoảng 18.000 – 55.000 loài bị tuyệt chủng và số loài bị tiêu diệt sẽ tăng tới 25% vào năm 2050 Chỉ tính riêng rừng nhiệt đới bị phá huỷ, hàng năm đã

có khoảng 27.000 loài bị tiêu diệt Ước tính có khoảng 60.000/265.000 loài thực vật, 728 loài bò sát, lưỡng cư (5%), 472 loài cá đang bị đe doạ và có

Trang 26

nguy cơ diệt chủng (Ban thư ký Công ước Đa dạng sinh học, 2010) Hậu quả tất yếu dẫn đến là sẽ làm giảm hoặc mất các chức năng của hệ sinh thái như điều hoà không khí, nước, chống xói mòn, đồng hóa các chất thải, làm sạch môi trường, đảm bảo vòng tuần hoàn vật chất và năng lượng trong tự nhiên, giảm thiểu thiên tai hay các hậu quả cực đoan về khí hậu Hệ quả cuối cùng là

hệ thống kinh tế bị suy giảm do mất đi các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, môi trường, nhất là ở các nước đang và chậm phát triển [15, tr.4]

Tác động tới sức khỏe của con người

Biến đổi khí hậu sẽ tác động tới sức khoẻ con người thông qua các hệ thống phức tạp bao gồm thay đổi nhiệt độ, nguy cơ hiện tượng cực đoan, tiếp cận tới dinh dưỡng, chất lượng không khí và nhiều phương diện khác Môi trường sống của hàng tỷ người đã và đang chịu sự tác động nghiêm trọng do biến đổi khí hậu Lũ lụt, hạn hán, nhiệt độ tăng cao và bão tố đem theo nguy

cơ sức khoẻ gia tăng như tả và tiêu chảy ở trẻ em Năm 2005, Băng-la-đét, Ấn

Độ và Pa- kít-xtan nhiệt độ cao hơn trung bình khu vực tới 5 - 6oC Riêng Ấn

Độ đã báo cáo 400 ca tử vong, mặc dù số tử vong không được báo cáo còn lớn hơn con số này gấp nhiều lần Đợt nóng ở châu Âu năm 2003 cướp đi từ 22.000 đến 35.000 sinh mạng, chủ yếu là người già Dự báo những đợt nóng kéo dài ỏ hầu hết các thành phố ở Hoa Kỳ sẽ tăng khoảng gấp đôi vào năm

2050 [11, tr.111]

Diễn đàn nhân đạo toàn cầu tại Genever nêu rõ, có khoảng 300 triệu người trên thế giới bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu do sức khỏe bị giảm sút, sản xuất lương thực bị ảnh hưởng Theo Cơ quan giảm thiểu thiên tai quốc tế của Liên hợp quốc, 300 vụ thảm họa trong năm 2008 đã cướp đi sinh mạng của khoảng 236 nghìn người và gây thiệt hại khoảng 180 tỷ USD Theo UNICEF và WHO, trẻ em là nhóm gặp rủi ro cao nhất bởi thiên tai, mỗi năm

có khoảng 175 nghìn trẻ em bị ảnh hưởng và khoảng 300 nghìn người chết, chủ yếu do suy dinh dưỡng và mắc các bệnh liên quan Trong khi đó, Tổ chức Thú y thế giới (OIE) tại cuộc họp ở Paris cuối tháng 5-2009 đã đưa ra kết luận

Trang 27

rằng, biến đổi khí hậu làm gia tăng mức độ lây lan dịch bệnh do vi-rút gây ra

ở động vật nuôi, cũng như mức độ lây lan của một số loài vi khuẩn nguy hiểm đối với sức khỏe của cả vật nuôi lẫn con người Tử vong liên quan đến nắng nóng mùa hè có thể tăng 55% vào thập kỷ 2020, tăng hơn gấp đôi thập kỷ

2050 và tăng hơn gấp ba lần vào thập kỷ 2080 [11, tr.111]

Tác động tới an ninh lương thực và kinh tế

Biến đổi khí hậu toàn cầu là một nguy cơ, có thể trở thành thảm họa cho nhân loại do sự tác động của nó tới những yếu tố cơ bản của cuộc sống con người trên toàn thế giới Hàng trăm triệu người có thể lâm vào cảnh đói nghèo, thiếu nước, lũ lụt, hạn hán Những thảm họa thiên nhiên do biến đổi khí hậu gây ra có thể kể đến như: động đất và sóng thần ở Nhật Bản tháng 3 năm 2011 đã để lại hậu quả vô cùng khủng khiếp, hàng chục ngàn người chết

và mất tích, tài sản bị hủy hoại và gây ra vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Fukushima với con số thiệt hại trực tiếp ước tính lên tới 309 tỷ USD; cơn bão Katrina tháng 8 năm 2005 tàn phá nước Mỹ khiến hàng nghìn người chết và

bị thương; cơn bão Nargis tại Myanmar khiến số nạn nhân thiệt mạng có thể lên tới con số 100.000 đã được ghi nhận là một trong 6 trận bão khủng khiếp nhất thế giới kể từ năm 1991 Khu vực nông nghiệp đang phải chịu những hệ quả của sự biến đổi khí hậu, có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng lương thực Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) nhận định, trong những năm tới, không thể loại trừ mức tăng giá tột đỉnh tương tự như mức tăng trong năm 2008, đặc biệt

là khi giá lương thực, thực phẩm ngày càng gắn chặt với giá dầu mỏ và năng lượng Theo thống kê, đã có 344 triệu người chịu bão nhiệt đới, 521 triệu người chịu lũ lụt, 130 triệu người chịu hạn hán, 2,3 triệu người chịu sạt lở đất ước tính số người tăng thêm phải chịu ngập lụt ở vùng duyên hải là 134- 332 triệu người khi nhiệt độ tăng 3 - 4°C Hoạt động của bão nhiệt đới gia tăng cũng có thể làm tăng số người bị tác động lên 371 triệu vào cuối thế kỷ 21 [11, tr.104] Những thách thức của an ninh lương thực toàn cầu thể hiện qua

Trang 28

việc gia tăng dân số, kèm theo việc tăng nhu cầu lương thực thực phẩm Theo

dự báo, dân số thế giới tăng từ 6,8 tỷ hiện nay lên 9,1 tỷ vào năm 2050, mà đa

số xảy ra ở những nước đang phát triển Với số dân tăng như vậy, đòi hỏi lượng lương thực nói chung tăng 70%, song tại các nước đang phát triển phải tăng gấp đôi Gánh nặng khổng lồ của việc nuôi một số dân toàn cầu đang tăng nhanh như vậy càng trở nên nặng nề hơn do tác động của biến đổi khí hậu lên sản xuất lương thực Những nghiên cứu mới đây đã vẽ ra một bức tranh đáng buồn Tại Đông và Nam Á, việc thay đổi khí hậu sẽ làm thay đổi chế độ mưa, tăng tần suất hạn hán và nhiệt độ trung bình, đe dọa nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp Tại vùng châu Phi cận Sahara, theo dự báo, chỉ đến năm 2020 lượng mưa sẽ giảm một nửa Biến đổi khí hậu có thể làm sản lượng nông sản phẩm tổn thất đến 50% Nếu không có hành động khẩn cấp, biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực, khiến số người bị thiếu đói và suy dinh dưỡng tăng vọt Những dự báo mới đây cho rằng vào năm 2020 sẽ có khoảng 60 triệu người có nguy cơ bị đói [65]

Tác động tới an ninh chính trị

Dưới góc độ chính trị - an ninh, biến đổi khí hậu được xếp vào dạng vấn đề an ninh "phi truyền thống" và được xem như là một trong những thách thức lớn nhất đối với môi trường an ninh - phát triển toàn cầu trong những năm tới, thậm chí là trong cả thế kỷ XXI

Nhiều đánh giá cho rằng, tác động của biến đổi khí hậu đối hòa bình và

an ninh của thế giới là rất lớn, khó lường, lâu dài, có thể còn nghiêm trọng hơn cả chủ nghĩa khủng bố quốc tế Tầm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là mang tính toàn cầu và các chiến lược, biện pháp mang tính quốc gia đơn lẻ,

kể cả của các nước phát triển nhất, không thể đối phó một cách hiệu quả đối với thách thức này Các nước ven biển ở một số khu vực, bao gồm cả một số nước Đông Nam Á, có thể là nơi phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (nước biển dâng, thiên tai, thời tiết diễn biến bất thường )

Biến đổi khí hậu có thể gây ra những thảm họa toàn cầu về thiên nhiên

Trang 29

- môi trường, đe dọa mạng sống hàng triệu người, làm bùng nổ các làn sóng di

cư, thậm chí đe dọa sự tồn tại của nhiều quốc gia ở vị trí thấp so với mực nước biển Có dự báo cho rằng, đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi những khu vực duyên hải do nước biển dâng, bão lụt hoặc nước ngọt bị nhiễm mặn Nếu những điều này xảy ra, cơ cấu địa-chính trị cũng như không gian chiến lược ở một số khu vực trên thế giới có thể có sự thay đổi lớn; sự bố trí quốc phòng - an ninh cũng có thể có những sự xáo trộn không nhỏ

Biến đổi khí hậu có thể làm gia tăng sự khan hiếm và làm thay đổi quá trình phân bổ các nguồn tài nguyên thiết yếu và có tầm chiến lược quan trọng như nước, đất trồng trọt , làm trầm trọng thêm các thách thức an ninh phi truyền thống khác đang nóng bỏng hiện nay như an ninh lương thực, an ninh năng lượng, khoảng cách giàu - nghèo , từ đó làm gia tăng nguy cơ bất ổn định, xung đột, khủng bố, làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn chính trị - xã hội ở nhiều nơi trên thế giới Dự báo đến năm 2025, khoảng 5 tỷ người có thể sẽ sống trong những khu vực có nguy cơ căng thẳng, xung đột liên quan đến sự khan hiếm nước và lương thực Cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước về chi phối, kiểm soát các nguồn tài nguyên thiết yếu của thế giới có chiều hướng gay gắt hơn có thể dẫn tới đối đầu về quân sự liên quan đến việc phân bố lại các nguồn lực của thế giới

Biến đổi khí hậu cũng có thể làm thay đổi hình thái tập hợp lực lượng quốc tế (do thay đổi về cơ cấu địa chính trị và phân bổ nguồn lực thế giới) Nhiều ý kiến cho rằng, trong vài thập kỷ tới, tài nguyên sẽ được sử dụng như một loại "vũ khí" ngày càng quan trọng hơn để mặc cả lợi ích trong quan hệ quốc tế [63]

1.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam

1.1.2.1 Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Theo số liệu quan trắc, biến đổi khí hậu ở Việt Nam có những điểm đáng lưu ý sau:

Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình

Trang 30

năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,7oC Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn 3 thập kỷ trước đó (1931 - 1960) Nhiệt độ nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt là 0,8; 0,4

và 0,6oC Năm 2007, nhiệt độ nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,3oC và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,5oC

Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa nhiệt

độ trung bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911 – 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Trên lãnh thổ Việt Nam, xu thế biến đổi của lượng mưa cũng rất khác nhau giữa các khu vực

Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu cho thấy, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20cm

Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh, bằng 56% trung bình nhiều năm 6/7 trường hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI-III) thấp dị thường (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 2/1997, 11/1997) Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp

Bão: Những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn

Số ngày mưa phùn nhiệt độ trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981 – 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần

Trang 31

đây [8, tr.9]

1.1.2.2 Xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Về nhiệt độ: Trên các khu vực, nhiệt độ nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2oC vào năm 2050 Dự tính đến năm 2100 nhiệt độ sẽ tăng lên 3oC

Về lượng mưa: Lượng mưa mùa mưa ở các khu vực, trừ Trung Bộ, đều tăng 0-5% vào năm 2050, riêng Trung Bộ là 0-10% Lượng mưa mùa khô ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Trung Bộ, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ có thể tăng hay giảm 5%, riêng ở Bắc và Trung Trung Bộ tăng 0-5% Đáng chú ý là ở những vùng thường xảy

ra hạn hán vào mùa khô, hạn hán có nhiều khả năng tăng lên cả về cường độ

và diện tích

Về mực nước biển: Trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam, mực nước biển có thể tăng lên 40cm vào năm 2050 và ước tính có thể tăng lên 100cm vào năm 2100 [8, tr.10]

1.1.2.3 Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Tác động của nước biển dâng: Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển, trong đó có trên 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và trên 30% diện tích đồng bằng sông Hồng – Thái Bình có độ cao dưới 2,5m so với mặt biển Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô Biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đến các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị và khu vực dân cư ven biển Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngập mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và

Trang 32

nuôi trồng thuỷ sản ven biển Tất cả những điều trên đây đòi hỏi phải có đầu

tư rất lớn để xây dựng và củng cố hệ thống đê biển, nhằm ứng phó với mực nước biển dâng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các khu dân

cư và đô thị có khả năng thích ứng cao với nước biển dâng

Tác động của sự nóng lên toàn cầu: Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới và nhiệt đới có thể

bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi và mùa vụ có thể thay đổi ở một số vùng, trong đó vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn lại, thậm chí không có vụ đông, vụ mùa thì kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến đổi của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh, dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực Nhiệt độ và độ ẩm tăng cao làm gia tăng làm gia tăng sức ép về nhiệt độ với

cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm Sự gia tăng nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại, liên quan đến chi phí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản thiết bị, phương tiện, sức bền vật liệu

Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan: Sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do biến đổi khí hậu là mối đe doạ thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, tố, lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây

Trang 33

thiệt hại cho sản xuất và đời sống Biến đổi khí hậu sẽ làm cho các thiên tai nói trên trở nên khốc liệt hơn và có thể trở thành thảm hoạ, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế - xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển Những khu vực được dự tính chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng núi Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long [61]

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Cơ chế phát triển sạch

Nghị định thư Kyoto thiết lập ba cơ chế hỗ trợ các nước công nghiệp (Các bên thuộc Phụ lục I) giảm nhẹ phát thải khí nhà kính để đạt được mục tiêu giảm phát thải với chi phí thấp nhất gồm: mua bán quyền phát thải quốc

tế (IET), đồng thực hiện (JI) và Cơ chế phát triển sạch (CDM) Trong đó, cơ chế phát triển sạch - CDM đóng vai trò rất quan trọng đối với các nước đang phát triển

Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về Cơ chế phát triển sạch (clean development machenism - CDM) Song chúng ta có thể hiểu rằng Cơ chế phát triển sạch là một cơ chế hợp tác quốc tế theo nghị định thư Kyoto nhằm làm giảm sự phát thải khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu thông qua cơ chế đầu tư giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển, tăng cường khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp của các nước phát triển thực hiện các dự án giảm phát thải khí nhà kính Có hai phương thức CDM, đó là CDM cho giảm khí nhà kính (CDM thông thường hay CDM năng lượng) và CDM cho hấp thụ khí nhà kính bằng các bể hấp thụ (trồng rừng hoặc tái trồng rừng theo CDM hay AR - CDM)

CDM có hai tính chất rất quan trọng, đó là “tính bền vững” và “tính bổ sung”: Tính bền vững là sự đánh giá tác động môi trường của CDM đối với

sự phát triển của nhà nước chủ nhà Mỗi quốc gia đều xây dựng một tiêu chí phát triển bền vững cho mình Tính bổ sung: là vai trò thúc đẩy cắt giảm phát thải khí nhà kính Việc giảm phát được tính toán bằng mức giảm phát thải

Trang 34

CO2 của dự án sau khi áp dụng công nghệ sạch so với mức phát thải cơ sở (baseline) Dự án CDM được đầu tư vào các lãnh vực như: năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý chất thải

Nghị định thư Kyoto sẽ khuyến khích các chính phủ hợp tác với nhau nâng cao hiệu suất các quá trình năng lượng, cải tổ ngành năng lượng và giao thông, phát triển sử dụng năng lượng tái tạo, cải tiến các thể chế tài chính chưa hợp lý, giới hạn phát thải CO2 từ việc quản lý hệ thống chất thải, quản

lý hệ thống năng lượng và quản lý cả những bể hấp thụ carbon như: rừng, đất nông nghiệp và chăn nuôi Phương pháp đo đếm mức giảm phát thải bằng việc sử dụng các bể chứa là đặc biệt phức tạp Thỏa thuận cũng kêu gọi các nước phát triển "kiềm chế sử dụng" các dự án hạt nhân trong CDM Theo thỏa thuận Bonn, một Hội đồng tuân thủ sẽ được thành lập để giám sát việc tuân thủ Nghị định thư Nếu nước nào phát thải quá chỉ tiêu cho phép là 1 tấn khí trong thời kỳ trước 2012 (thời kỳ cam kết thứ nhất), thì nước đó phải giảm thêm 1,3 tấn khí nhà kính trong thời kỳ cam kết thứ hai của Nghị định thư bắt đầu từ năm 2013 Việc phê chuẩn thỏa thuận Bonn được đánh giá là một thỏa thuận chính trị "lịch sử" nhằm cứu vãn Nghị định thư Kyoto, bảo vệ hệ thống khí hậu toàn cầu [49, tr.31]

Khoản 3, Điều 12, Nghị định thư ghi nhận:

" 3 Theo cơ chế phát triển sạch:

a) Các Bên không thuộc Phụ lục I sẽ được lợi nhờ các hoạt động

dự án đưa đến những sự giảm phát thải được chứng nhận; và b) Các Bên thuộc Phụ lục I có thể sử dụng sự giảm phát thải được chứng nhận đạt được nhờ các hoạt động dự án như vậy để đóng góp vào việc tuân thủ một phần các cam kết của mình về giảm và hạn chế phát thải định lượng theo Điều 3, như đã xác định bởi Hội nghị các Bên tức là cuộc họp các Bên của Nghị định thư này" [7, tr.16]

Trang 35

1.2.2 Chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính

Cơ chế phát triển sạch đặc biệt liên quan đến các nước đang phát triển,

nó cho phép các Dự án giảm phát thải khí nhà kính hoặc tăng bồn chứa khí nhà kính, hỗ trợ phát triển bền vững ở những nước đang phát triển thu về

"lượng giảm phát thải được chứng nhận" - CERs (The Certified Emission Reductions) cho chủ đầu tư dự án CERs được coi là loại hàng hóa đặc biệt có thể dùng để bán cho các quốc gia, các tổ chức nước ngoài có nhu cầu giảm phát thải khí nhà kính Theo quy ước, mỗi CERs tương đương 1 tấn khí CO2

Nghị định thư Kyoto cũng cho phép một vài cách tiếp cận linh hoạt cho các nước các nước thuộc Phụ lục I nhằm đạt được mục tiêu cắt giảm khí thải bằng cách cho phép các nước này mua lượng khí cắt giảm được từ những quốc gia khác Điều này có thể đạt được dưới hình thức tài chính hay từ những chương trình hỗ trợ công nghệ cho các nước không thuộc Phụ lục I với mục đích nhằm hoàn thành mục tiêu đã kí kết trong Nghị định thư Trong thực tế, điều này có nghĩa là các nước không thuộc Phụ lục I không bị bắt buộc phải giới hạn lượng khí thải gây ra, nhưng một khi chương trình cắt giảm khí thải được xúc tiến ở các quốc gia này, họ sẽ nhận được một lượng hạn ngạch carbon cho phép (Carbon Credit) Các chủ dự án CDM là người sở hữu CERs có thể bán cho các nước thuộc Phụ lục I Qui định này xuất hiện trong Nghị định thư do có ý kiến cho rằng chi phí bỏ ra cho mục tiêu được kí kết trong Nghị định thư là quá đắt đối với các nước các nước thuộc Phụ lục I, đặc biệt là các nước đã đầu tư rất hiệu quả cho việc bảo vệ môi trường trên đất nước họ và đã đạt tiêu chuẩn môi trường sạch Vì lí do đó, Nghị định thư cho phép những nước này mua lượng hạn ngạch carbon cho phép từ các nước không thuộc Phụ lục I trên thế giới thay vì tiến hành nâng cấp tiêu chuẩn môi trường trong nước Điều này được xem như một công cụ hiệu quả nhằm khuyến khích các nước các nước không thuộc Phụ lục I giảm thiểu khí gây hiệu ứng nhà kính, hơn nữa nó còn mang lại lợi ích kinh tế rất lớn cho các nước đang phát triển có dự án CDM[16, tr.8]

Trang 36

1.2.3 Xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính

Trước hết xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiên thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận Mục đích của hoạt động này là thu được một khoản lợi nhuận dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế Hoạt động xuất khẩu là một mặt của hoạt động thương mại quốc tế nên nó cũng có những đặc trưng của hoạt động thương mại quốc

tế Hoạt động xuất khẩu không giống như hoạt động buôn bán trong nước ở đặc điểm là nó có sự tham gia buôn bán của đối tác nước ngoài, hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ở phạm vi nước ngoài

Thị trường tín dụng carbon với “sản phẩm” đặc biệt là chứng chỉ CERs đang hấp dẫn các nhà đầu tư bởi giá cả ngày càng tăng Thị trường carbon toàn cầu được dự đoán sẽ tiếp tục được mở rộng hơn trong tương lai khi tại các hội nghị các bên của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu gần đây Về mặt nguyên tắc, những đơn vị sở hữu chứng nhận về khả năng giảm phát thải hiệu ứng nhà kính có thể bán lại chứng nhận này cho những đơn vị hay quốc gia có nhu cầu với nguyên tắc thuận mua vừa bán Ban điều hành quốc tế về CDM của Liên Hiệp Quốc (EB) công nhận và cấp CERs, người sở hữu CERs có thể bán chứng chỉ này trên thị trường quốc tế Chỉ cần có chứng chỉ CERs, bất kể chứng chỉ đó có nguồn gốc hay được thực hiện tại quốc gia nào cũng được chấp nhận là đã đóng góp giảm phát thải hiệu ứng nhà kính như cam kết trong Nghị định thư này

Cùng với cơ chế buôn bán chứng nhận giảm phát thải phát thải (IET) đã tạo ra một thị trường phát mua bán một loại hàng hóa đặc biệt - chứng nhận khả giảm phát thải và thị trường mua bán loại hàng hóa đặc biệt này cũng ngày càng sôi động Đã là thị trường thì phải có bên mua và bên bán Người mua ở đây là các nước phát triển, người bán là các nước đang phát triển, trong

đó có Việt Nam Dù các bên mua bán rất đa dạng, có thể là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, nhà nước nhưng mục tiêu cuối cùng là giảm được lượng phát

Trang 37

thải khí nhà kính Trong khi các nước công nghiệp phát triển khó có khả năng giảm lượng phát thải theo quy định của UNFCCC, thì các nước đang phát triển lại có rất nhiều cơ hội cho việc thực hiện các dự án CDM Vì thế, các CERs được cấp chủ yếu không phải được dùng cho các nước đang phát triển như Việt Nam mà xuất khẩu sang các nước phát triển Thực chất việc xuất khẩu CERs với tư cách là hàng hóa đặc biệt cũng có nhiều nét tương đồng như các hàng hóa khác Tuy nhiên, do có những đặc điểm vô cùng đặc biệt nên việc xuất khẩu CERs có những khác biệt Cũng là hoạt đông mua bán có yếu tố nước ngoài mà hàng hóa được chuyển ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhưng CERs lại không có hoạt động xuất khẩu qua cửa khẩu

1.5 Khái quát chung về các hoạt động CDM

(Nguồn: www.dmcgroup.vn)

1.3 Các công ước quốc tế về biến đổi khí hậu

Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về môi trường, trong đó có thể kể đến các công ước như:

- Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế, 1944

- Thoả thuận về thiết lập Uỷ ban nghề các Ấn Độ dương - Thái bình dương, 1948

- Hiệp ước về Khoảng không ngoài vũ trụ, 1967

Trang 38

- Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR), 1971

- Nghị định thư bổ sung công ước về các vùng ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước, Paris, 1982

- Công ước liên quan đến Bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên

- Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hoá học, vi trùng và công việc tiêu huỷ chúng

- Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa, 1973

- Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL

- Công ước của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường

- Nghị định thư chữ thập đỏ liên quan đến bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang

- Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển

- Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng, FAO, 1985

- Công ước Viên về bảo vệ tầng ô-zôn, 1985

- Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân, IAEA, 1985

- Công ước về trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ, 1986, IAEA

- Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn, 1987

- Bản bổ sung Luân đôn cho công ước, Luân đôn, 1990

- Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, 1992

- Công ước về Đa dạng sinh học

Trang 39

- Công ước về trách nhiệm dân sự đối với những tổn thất ô nhiễm biển

do dầu (sửa đổi 1992)

- Công ước về thiết lập Quỹ quốc tế về đền bù ô nhiễm biển do dầu sửa đổi 1992)

Trong số các công ước trên, Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn, Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn và Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu trong đó có Nghị định thư Kyoto là các văn bản có ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu Vì thế, trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu các công ước này làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các nội dung tiếp theo của Đề tài

1.2.1 Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal

về các chất làm suy giảm tầng ôzôn

1.2.1.1 Tầng Ôzôn và hiện trạng của tầng Ôzôn hiện nay

Bầu khí quyển bao quanh Trái Đất được chia ra làm nhiều tầng khác nhau: từ mặt đất lên đến độ cao 10 km là tầng đối lưu và từ 10 km trở lên đến

50 km là tầng bình lưu, độ cao 50 - 85 km là tầng trung lưu, tầng nhiệt nằm ở

độ cao 85 - 100km và cuối cùng là tầng điện ly ở độ cao trên cao 800 km Trong đó khoảng 90% lượng Ôzôn trong khí quyển của chúng ta tập trung ở tầng bình lưu Trong khí quyển, Ôzôn chiếm một tỷ lệ không lớn nhưng nó lại

có vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình vật lý xảy ra ở các lớp khí quyển trên cao Ôzôn phân bố rải rác trong lớp khí quyển từ mặt đất tới độ cao khoảng 50 - 60 km, nhưng tập trung phần lớn ở độ cao từ 20 - 35 km Theo chiều cao từ mặt đất đến độ cao 10 km, lượng Ôzôn thay đổi không theo quy luật nào cả Đến độ cao từ 10 km trở lên, lượng Ôzôn tăng theo chiều cao

và đạt cực đại ở độ cao từ 20 - 25 km, sau đó lượng Ôzôn giảm và trở nên không đáng kể ở độ cao 55 - 60 km Mật độ trung bình của Ôzôn trong lớp khí quyển dưới 60 km vào khoảng 0,9 x 10-7 kg/m3, lớn nhất khoảng 6,0x107 kg/m3 Toàn bộ Ôzôn trong khí quyển chỉ vào khoảng 3,2 x109 tấn Tầng

Trang 40

Ôzôn rất quan trọng đối với sự sống trên Trái Đất vì nó ngăn 97% - 99% tia cực tím của bức xạ mặt trời không cho đến Trái Đất, có tác dụng lọc tia

UV nguy hại gây nguy hiểm cho thảm thực vật và có thể gây ung thư và bệnh đục thuỷ tinh thể ở người Nếu tầng Ôzôn bị suy giảm 1% sẽ dẫn đến việc gia tăng tia cực tím ở tầng đối lưu khoảng 2%

Con người bắt đầu tiến hành đo đạc tầng Ôzôn từ các trạm trên mặt đất vào năm 1956 ở vịnh Halley - Nam cực Đau những năm 1970 con người bắt đau tiến hành đo đạc tầng Ôzôn từ các vệ tinh Tuy nhiên, các đo đạc tổng hợp chỉ bắt đầu tiến hành vào năm 1978 bởi vệ tinh Nimbus - 7 Một nghiên cứu ở diện rộng đã cho rằng trên bình diện toàn cầu tầng Ôzôn đã bị suy giảm 2,5% trong khoảng thời gian từ 1969 -1986, và thêm 3% nữa từ năm 1986 -

1993 98% tia cực tím của bức xạ mặt trời (UV-B và UV-C) được hấp thụ ở tầng bình lưu để tạo thành và phá hủy Ôzôn theo các qúa trình tự nhiên

Năm 1979, việc đo lỗ thủng tầng Ôzôn bằng vệ tinh lần đầu tiên được NASA thực hiện Lỗ thủng lớn che phủ 10,5 triệu dặm vuông vào tháng 9 năm 1998 Năm 2000, lỗ thủng tầng Ôzôn khổng lồ đạt tới 11,4 triệu dặm vuông vào tháng 9 năm 2000 Đó là lỗ thủng lớn nhất đã từng đo được Diện tích xấp xỉ ba lần diện tích nước Mỹ Sau đó, năm 2003, lỗ thủng tầng Ôzôn che phủ 11,1 triệu dặm vuông là lỗ thủng lớn thứ 2 Năm 2001, lỗ thủng tầng Ôzôn bao phủ khoảng 10 triệu dặm vuông Lỗ thủng này nhỏ hơn năm 2000, nhưng vẫn lớn hơn tổng diện tích của Nước Mỹ, Canada và Mexico Lỗ thủng ở Nam Cực năm 2002 không những nhỏ hơn năm 2000 và 2001, mà còn tách ra thành 2 lỗ riêng biệt Kích thước nhỏ có thể do điều kiện nóng ấm không bình thường và sự phân tách có thể do các khu vực thời tiết của tầng bình lưu khác thường Năm 2003, lỗ thủng tầng Ôzôn che phủ 11,1 triệu dặm vuông và là lỗ thủng kỷ lục đứng thứ hai Năm 2004, lỗ thủng là 9,4 triệu dặm vuông Lỗ thủng năm 2005 che phủ khoảng 10 triệu dặm vuông Năm 2008, lỗ thủng tầng Ôzôn ở Nam Cực có diện tích đến 27 triệu km2 Con số này lớn hơn nhiều so với diện tích lớn nhất của nó được ghi nhận năm

Ngày đăng: 18/12/2015, 19:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm