Văn bản pháp luật hiện nay chủ yếu quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng vì đây là hình thức phát hành phổ biến, công khai của các công ty trong "chiến dịch" chiếm lĩnh thị trườ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Minh Hiếu
Trang 21.2.1 Khái niệm về phát hành chứng khoán công ty 18 1.2.2 Bản chất phát hành chứng khoán công ty 20 1.2.3 Các hình thức phát hành chứng khoán công ty 21 1.2.4 Bảo lãnh phát hành chứng khoán công ty 22 1.3 Quy định về hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở
một số nước trên thế giới
2.1.3 Quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành chứng khoán 45
Trang 32.2 Thực trạng hoạt động phát hành chứng khoán công ty 48
2.2.2.1 Khả năng tham gia của các tổ chức nước ngoài vào hoạt động
chứng khoán và phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam
49
2.2.2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về điều kiện, thủ tục trong
hoạt động phát hành chứng khoán công ty
52
2.2.2.3 Một số vấn đề khác trong thực tiễn phát hành chứng khoán
công ty ở Việt Nam
57
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT
HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY Ở VIỆT NAM
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ khi đi vào hoạt động đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển thị trường và xem thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế So với lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam còn mới và quy mô nhỏ bé, song chúng ta đã tạo dựng được một thể chế thị trường chứng khoán và vận hành nó theo những nguyên tắc cơ bản của thị trường từ khuôn khổ pháp luật đến cách thức vận hành, tạo cho thị trường chứng khoán phát triển theo đúng tinh thần văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: "Phát triển nhanh và bền vững thị trường vốn, nhất là thị trường vốn dài hạn và trung hạn Tổ chức vận hành thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm an toàn, hiệu quả Hình thành đồng bộ thị trường tiền tệ, tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam" [1]
Thông qua thị trường chứng khoán (kênh huy động vốn trung và dài hạn), các doanh nghiệp có cơ hội và môi trường huy động vốn cho hoạt động của mình bằng việc phát hành chứng khoán công ty Việc phát hành chứng khoán được thực hiện thông qua hai phương thức là chào bán chứng khoán ra công chúng và phát hành chứng khoán riêng lẻ Văn bản pháp luật hiện nay chủ yếu quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng vì đây là hình thức phát hành phổ biến, công khai của các công ty trong "chiến dịch" chiếm lĩnh thị trường vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh của mình
Bằng việc ban hành Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006 cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đến hoạt động của thị trường chứng khoán Tiếp theo đó là một loạt văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán
ra đời góp phần hình thành một hệ thống các văn bản pháp luật về chứng
Trang 5khoán đồng bộ, điều chỉnh hiệu quả các quan hệ pháp luật về chứng khoán Tuy nhiên hoạt động phát hành chứng khoán vẫn còn là đề tài, một lĩnh vực rất mới với nhiều công ty, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, trong điều kiện chuyển đổi sang cổ phần và trước xu thế hội nhập của đất nước Thời điểm nước ta là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đánh dấu sự hội nhập sâu rộng của các doanh nghiệp trên trường quốc tế Một số doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng trong việc thực thi pháp luật về phát hành chứng khoán và áp dụng có hiệu quả các quy định pháp lý để phục vụ mục đích kinh doanh của công ty mình
Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán cũng cần phải tạo tính thanh khoản cao cho các loại chứng khoán được niêm yết, tạo điều kiện cho các mã chứng khoán mới phát hành phát huy được tiềm năng của nó, tạo "sân chơi" bình đẳng cho các nhà đầu tư và các công ty phát hành chứng khoán, hạn chế
và loại bỏ những hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia Điều này đòi hỏi, pháp luật về phát hành chứng khoán phải không ngừng được hoàn thiện để tăng cường về số lượng cũng như chất lượng chứng khoán phát hành đáp ứng lòng mong mỏi của các tổ chức phát hành và những người tham gia trên thị trường chứng khoán
Từ những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài "Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện"
làm luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn tìm hiểu thực tiễn và đóng góp ý kiến để xây dựng và hoàn thiện hơn nữa các quy định về phát hành chứng khoán công ty
2 Tình hình nghiên cứu luận văn
Trước hết, cần nhận định rằng đề tài về "chứng khoán" nói chung và
"Phát hành chứng khoán" nói riêng là những đề tài rất mới trong điều kiện nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như hiện nay Luật Chứng khoán 2006 có hiệu lực được hơn 1 năm, do đó hệ thống các
Trang 6văn bản dưới Luật về chứng khoán đang trong quá trình được hình thành, những văn bản quy phạm pháp luật trước đó đã có nhiều thay đổi kể từ khi ban hành Luật Chứng khoán 2006
Trước kia đã có một số luận văn tốt nghiệp đề cập đến đề tài về chứng khoán, tuy nhiên chưa có luận văn đề cập sâu về vấn đề phát hành chứng khoán công ty, ví dụ như:
- Đề tài "Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung theo Luật Chứng khoán ở Việt Nam" của tác
Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên, tôi muốn chọn đề tài "Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện" để làm luận văn tốt nghiệp nhằm giúp người đọc hiểu rõ
hơn các quy định hiện hành về phát hành chứng khoán công ty, thấy được các bất cập của các văn bản pháp luật và tôi cũng xin đề xuất một số ý kiến nhằm
hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài luận văn là nhằm giúp cho người đọc nhận thức được toàn cảnh pháp luật về phát hành chứng khoán công ty, cụ thể là chào
Trang 7bán chứng khoán ra công chúng của công ty ở Việt Nam, giúp người đọc nắm được thực tiễn áp dụng pháp luật này và thực tiễn điều chỉnh của nó trên thực
tế, đồng thời từ đó có thể đề xuất thêm những giải pháp hiệu quả hơn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trước hết, luận văn nêu và phân tích các khái niệm cơ bản về chứng khoán, phát hành chứng khoán công ty, quy định về pháp luật phát hành chứng khoán công ty Trong phần này, xin đề cập và so sánh với các quy định của pháp luật nước ngoài về phát hành chứng khoán công ty, đặc biệt là chào bán chứng khoán ra công chúng
- Phân tích thực trạng pháp luật phát hành chứng khoán công ty, trong
đó có đưa ra các số liệu, dữ liệu thực tiễn từ các nguồn khác nhau, các hành vi
vi phạm trong lĩnh vực này Phần này chủ yếu tập trung vào những quy định bất cập của pháp luật hiện hành khi áp dụng vào thực tiễn, có những phần mà pháp luật chưa điều chỉnh tới và ảnh hưởng của nó đối với thị trường chứng khoán như thế nào
- Trên cơ sở thực tiễn pháp luật hiện hành về phát hành chứng khoán công ty, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài đối với pháp luật phát hành chứng khoán cũng như các quy định pháp luật có liên quan nhằm tạo ra một
hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán hiệu quả, khách quan, đảm bảo sự công bằng, minh bạch của thị trường chứng khoán trong đó
có phát hành chứng khoán
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Như đã đề cập ở trên, Phát hành chứng khoán công ty gồm có hai loại
là chào bán chứng khoán ra công chúng và phát hành chứng khoán riêng lẻ Đối với chào bán chứng khoán ra công chúng, chúng ta đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về vấn đề này từ văn bản Luật như Luật Chứng khoán
2006 đến nghị định và thông tư hướng dẫn Về phát hành chứng khoán riêng
Trang 8lẻ, đến nay vẫn chưa có văn bản cụ thể nào quy định về loại phát hành này Trong thời gian tới sẽ có nghị định của Chính phủ điều chỉnh phát hành chứng khoán riêng lẻ tuy nhiên những quy định đó sẽ được kiểm nghiệm trong thực tiễn và từ thực tiễn chúng ta sẽ có chính sách điều chỉnh cho phù hợp
Trong phạm vi đề tài của luận văn này, tôi xin tập trung nghiên cứu pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng của công ty ở Việt Nam hiện nay; phần pháp luật về phát hành chứng khoán riêng lẻ chỉ đề cập ở mức
độ nhất định Mục đích của việc này là nhằm nghiên cứu sâu về phát hành chứng khoán ra công chúng từ đó đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống văn bản pháp quy về vấn đề này, tránh nghiên cứu dàn trải, nhiều về nội dung nhưng không đảm bảo chất lượng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận nền tảng của thực tiễn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mọi vấn đề nghiên cứu luôn phải xem xét trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng, luôn đặt trong quan hệ tổng thể tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác Các hiện tượng luôn phải được xem xét trong cả quá trình từ sự hình thành đến sự phát triển qua các giai đoạn khác nhau Luận văn được nghiên cứu bằng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp cụ thể được áp dụng như: So sánh, phân tích, tổng hợp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về phát hành chứng khoán công ty
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phát hành chứng khoán ở Việt Nam Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về phát hành chứng
khoán công ty ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY
1.1 CHỨNG KHOÁN CÔNG TY
1.1.1 Khái niệm chứng khoán công ty
Lịch sử chứng khoán bắt nguồn từ năm 1453 Vào thời điểm này một thương gia người Bỉ là Van De Buerzo đã có sáng kiến tổ chức một cái chợ tại tư dinh của mình ở Bruges là nơi trao đổi các thương phiếu cho các thương nhân cần vàng và tiền mặt trong các chuyến đi buôn của họ Sau đó vào năm
1531 chợ này dời về Artwerpas và phát triển sôi động Nhiều thương nhân từ nhiều nước đã đến trao đổi các loại giấy tờ có giá Đến năm 1531 đã triển khai các nghiệp vụ trao đổi về chứng khoán là các khoản nợ của Chính phủ Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và Anh tại Artwerpas Đến cuối thế kỷ XVI, Tây Ban Nha xâm chiếm và cướp đoạt Artwerpas thì thị trường chứng khoán sụp đổ Nhưng sau đó thì các thị trường chứng khoán Lion ra đời năm
1545, thị trường chứng khoán London ra đời năm 1566 và thị trường chứng khoán Amsterdam ra đời năm 1608 mà ngày nay gọi là Stock Exchange Đến thế kỷ thứ XVIII thị trường chứng khoán Paris (Pháp), Berlin (Đức) và Viên (Áo) mới ra đời Đến giữa thế kỷ thứ XIX thì các thị trường chứng khoán ở Châu Âu rất hưng thịnh Vào thế kỷ XX thị trường chứng khoán New York đóng vai trò quan trọng nhất, tiếp theo là các thị trường chứng khoán Tokyo, rồi đến Paris và Frankfukt
Khi thị trường mới bắt đầu hoạt động, các hợp đồng mua bán chỉ là những mẫu giấy nhỏ (ngày nay vẫn còn dùng trên sàn) do các nhà môi giới viết và các em nhỏ giúp việc chạy giao Vào năm 1867, bộ máy ghi chứng khoán (Stock tickers) được đưa vào hoạt động để ghi lại các diễn biến mua bán Hình ảnh quen thuộc ký hiệu các cổ phần, giá sau cùng, lên xuống và số
Trang 10lượng trao tay chạy từ phải sang trái ở Quảng trường Thời Đại (Time Squares), các trung tâm tài chính, các chương trình về thị trường chứng khoán trên tivi là hình ảnh băng giấy chạy từ stock ticker
Như vậy chứng khoán ra đời từ thế kỷ XVI, sự ra đời của chứng khoán là đòi hỏi tất yếu của thị trường khi mà nhu cầu huy động vốn trở nên cấp thiết nhằm huy động nhiều nguồn tiền nhỏ để cung cấp cho một nhu cầu tiền lớn cùng một lúc
Theo quan điểm của Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) thì chứng khoán là: + Quyền hưởng lãi hay lợi nhuận đối với vốn, tài sản, lợi ích thu nhập của Chính phủ, công ty hoặc quỹ đầu tư do đóng góp cổ phần hoặc vay nợ
+ Quyền lựa chọn, quyền bảo chứng (Warrant), quyền mua các chứng khoán + Mọi thỏa thuận mà theo đó lợi ích của mỗi bên được đánh giá theo mục đích phát hành, chuyển nhượng hay chuyển nhượng lại quy chiếu với giá trị của lợi nhuận, tỷ lệ thuận trong tổng lượng kỳ phiếu của tài sản hay trong
số lượng tiêu chuẩn của tiền tệ hay hàng hóa
+ Một hợp đồng đầu tư mà theo đó nhà đầu tư có phần vốn trong tài sản hay phần vốn này có thể được sử dụng chung với các khoản vốn khác hoặc theo đó người góp vốn được kỳ vọng về khoản lợi nhuận, tiền thuê hay thu nhập do nỗ lực của những người thúc đẩy hợp đồng đầu tư hoặc của một bên thứ ba
Nhằm phục vụ cho mục đích quản lý và nghiên cứu về chứng khoán, các nhà nghiên cứu pháp luật phân chia chứng khoán thành nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào căn cứ mà nó áp dụng:
- Căn cứ vào tính chất của chứng khoán: Có chứng khoán vốn, chứng khoán nợ và chứng khoán phái sinh (chứng quyền, bảo chứng quyền )
- Căn cứ vào hình thức của chứng khoán chúng ta phân chia chứng khoán thành: Chứng khoán vô danh, chứng khoán ghi danh và chứng khoán hỗn hợp
Trang 11- Căn cứ vào lợi tức thu được từ chứng khoán: Chúng ta phân chia thành chứng khoán có lợi tức cố định, chứng khoán không có lợi tức cố định (lợi tức bất định)
- Căn cứ vào chủ thể phát hành chứng khoán: Chúng ta phân chia thành chứng khoán chính phủ; chứng khoán của chính quyền địa phương; chứng khoán công ty,
Theo quy định của Luật Chứng khoán 2006 có hiệu lực ngày 01/1/2007,
thì chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành
Khái niệm nêu trong Luật Chứng khoán 2006 là khá súc tích, khái quát được đầy đủ bản chất của chứng khoán, giúp cho những người nghiên cứu về chứng khoán hiểu và vận dụng trong thực tiễn phát hành chứng khoán công ty
1.1.2 Đặc điểm của chứng khoán công ty
Chứng khoán công ty là một loại chứng khoán vì thế nó mang đầy đủ đặc điểm của chứng khoán nói chung giúp phân biệt nó với những giấy tờ có giá khác trên thị trường tài chính, bên cạnh đó chứng khoán công ty còn có những đặc trưng khác, nói lên bản chất của nó trong mọi hoạt động giao dịch của thị trường Trước hết, chứng khoán công ty có những đặc điểm chung của chứng khoán đó là: tính thanh khoản, tính sinh lời và tính rủi ro:
- Đặc điểm nổi bật là tính thanh khoản cao Nhờ có thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh toán là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao Với đặc điểm nổi bật này nên trong thời gian qua, thị trường chứng khoán luôn là điểm nóng và thu hút
Trang 12được rất nhiều sự quan tâm của đông đảo các nhà đầu tư Có những nhà đầu
tư mặc dù chưa hiểu rõ về bản chất của chứng khoán, chưa có khái niệm về chứng khoán nhưng vẫn lợi dụng thị trường đang lên mà đầu cơ kiếm lợi Với đặc tính thanh khoản nên chứng khoán được xem là công cụ "siêu lợi nhuận" khi thị trường đang nóng lên nhưng ngược lại nó cũng tiềm ẩn những nguy cơ rớt giá không thể lường trước được và điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố của thị trường cũng như năng lực thực sự của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch hoặc trên thị trường OTC
- Đặc điểm thứ hai là tính sinh lợi, chứng khoán có thể tạo ra lợi nhuận sau một thời gian tham gia (là trái phiếu) hoặc có cổ tức (cổ phiếu) - trên cơ
sở hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty niêm yết hoặc sinh lợi thông qua khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán Các nhà đầu tư chứng khoán nhận biết được đặc tính này nên khi họ tham gia vào thị trường chứng khoán trong thời gian dài và đầu tư có nghiên cứu thì họ sẽ kiếm được lợi nhuận Việc kiếm lợi được nhiều hay ít phụ thuộc vào quyết định của nhà đầu tư (ví dụ: có nhà đầu tư khi mua cổ phiếu muốn bán ngay khi giá lên để hưởng khoản chênh lệch và không quan tâm đến việc giá sau đó có thể tiếp tục tăng - đây được gọi là đầu tư nóng và như vậy khoản lợi nhuận họ thu được có thể rất nhỏ, ngược lại nhà đầu tư nào đã nghiên cứu kỹ lưỡng về một công ty và quyết định đầu tư dài hạn để kiếm nhiều lợi nhuận của công ty đó, đồng thời
họ còn được chia cổ tức thì khoản tiền lãi do đầu tư chứng khoán của họ có thể là rất lớn) Cùng với đặc tính thanh khoản cao, tính sinh lời là đặc tính hấp dẫn cho những nhà đầu tư tài chính Khi tham gia mua hoặc bán chứng khoán, tính sinh lời là động lực làm cho thị trường chứng khoán luôn sôi động và tiềm ẩn những yếu tố gây bất ngờ
- Cuối cùng là tính rủi ro, có thể nói sự "hấp dẫn" của chứng khoán là tính sinh lời và thanh khoản thì sự "e ngại" của các nhà đầu tư nằm ở đặc tính này Khi tham gia thị trường chứng khoán, khi trao đổi chứng khoán, các nhà đầu tư luôn ý thức được tính rủi ro của chứng khoán Nếu như lợi nhuận của
Trang 13việc tham gia "chơi chứng khoán" mang lại cho nhà đầu tư bao nhiêu thì
"nguy cơ" nhà đầu tư bị mất khoản tiền tương đương (hoặc cao hơn) lợi nhuận
mà họ mong muốn nhận được là bấy nhiêu, tức là khi tham gia thị trường chứng khoán, tham gia "chơi chứng khoán" thì nhà đầu tư luôn ý thực được rằng lợi nhuận và rủi ro là tỷ lệ thuận với nhau (tức là khả năng sinh lợi càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại khả năng sinh lợi càng thấp thì rủi ro càng ít) Có ba loại rủi ro trong chứng khoán là: Rủi ro không thanh toán tức là nguy cơ mất một phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư do phá sản của tổ chức phát hành chứng khoán; Rủi ro thị trường là loại rủi ro bị chi phối bởi yếu tố giá cả tác động đến, việc giá cả lên xuống của thị trường sẽ tạo nên rủi ro thị trường,
mà việc thay đổi giá cả là xuất phát từ sự kiện chính trị, thay đổi, ban hành chính sách kinh tế; Rủi ro lạm phát là rủi ro bị ảnh hưởng bởi yếu tố lạm phát, tức là nền kinh tế bị lạm phát và không thể kiểm soát nổi giá trị của đồng tiền, rủi ro lạm phát có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chứng khoán và thị trường chứng khoán, nó có thể gây ra tổn thất to lớn cho các nhà đầu tư chứng khoán
Ngoài những đặc điểm chung của chứng khoán, chứng khoán công ty còn mang trong mình những đặc trưng riêng biệt giúp chúng ta phân biệt rõ ràng giữa chứng khoán công ty với các loại chứng khoán khác trong nền kinh
tế Những đặc trưng này luôn đi kèm với chứng khoán công ty và nếu thiếu một trong các đặc trưng đó thì không thể coi là chứng khoán công ty mà nó sẽ biến thể thành một loại chứng khoán khác
- Đặc trưng về chủ thể: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm
2005 thì mô hình doanh nghiệp chỉ hạn chế ở một số mô hình nhất định, trong
đó Công trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc hai thành viên trở lên không được phát hành cổ phần; công ty cổ phần được phát hành tất cả các loại chứng khoán; Công ty tư nhân và công ty hợp danh không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Luật Chứng khoán quy định công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của
Trang 14Luật doanh nghiệp và công ty đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp để đầu tư chứng khoán Nhìn chung các chủ thể phát hành chứng khoán là trên cơ sở Luật Doanh nghiệp 2005 và những quy định nêu trong Luật Chứng khoán 2006 Đặc trưng cơ bản của chứng khoán công ty đó là chứng khoán do công ty phát hành nên yếu tố chủ thể được nêu ra ở đây là rất quan trọng và cần thiết
- Về thời điểm hoàn trả: Chứng khoán công ty có đặc điểm về thời điểm hoàn trả khác biệt với chứng khoán của các loại chủ thể khác, đối với trái phiếu thì thời điểm hoàn trả được xác định trước trong trái phiếu, với cổ phiếu thì thời điểm hoàn trả được xác định là lúc công ty giải thể hoặc phá sản Thời điểm hoàn trả của chứng khoán do các chủ thể khác phát hành được xác định trước
1.1.3 Các loại chứng khoán công ty
Cổ phiếu thường được hiểu là loại giấy tờ có giá chứng nhận cổ phần
do công ty cổ phần chuyển nhượng cho nhà đầu tư và người sở hữu có quyền được hưởng lợi ích, đồng thời cũng phải gánh chịu trách nhiệm cùng với những rủi ro của công ty Khi một công ty cổ phần gọi vốn để thành lập hoặc
mở rộng, hiện đại hóa sản xuất, thì số vốn đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần, người mua cổ phần gọi là cổ đông Giấy chứng
nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Có quan niệm cho rằng, cổ phiếu là một chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu hợp pháp của một chủ thể đối với tài sản của công ty cổ phần
Trang 15Theo quy định của Luật Chứng khoán 2006 thì cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành
Khái niệm trong Luật Chứng khoán 2006 quy định chủ thể phát hành
là "tổ chức phát hành" nói chung, như vậy tất cả các tổ chức có hoạt động phát hành cổ phiếu đều là đối tượng điều chỉnh của Luật Chứng khoán 2006
Chính công ty cổ phần đã khai sinh ra cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu Các cổ đông - người mua cổ phiếu của công ty - là người hùn vốn cùng công ty hoạt động, là người chủ sở hữu công
ty Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn
Cổ phiếu là loại chứng khoán chủ yếu được giao dịch trên thị trường,
là kênh huy động vốn hữu hiệu nhất mà đơn vị phát hành muốn thông qua đó thu hút vốn tối đa Cổ phiếu có 4 đặc điểm chính sau:
+ Là chứng chỉ có giá, phản ánh quan hệ góp vốn vào công ty giữa nhà đầu tư và công ty phát hành được pháp luật công nhận và bảo hộ;
+ Là văn bản ghi nhận sự góp vốn vào công ty do đó cổ phiếu là cơ sở xác lập quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ góp vốn, là căn cứ quan trọng để các bên thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình
+ Là chứng chỉ có giá nên có thể được coi là hàng hóa và được phép mua bán, chuyển nhượng trên thị trường (trừ các loại cổ phiếu bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận được ghi trong Điều lệ của công ty phát hành)
+ Là loại chứng khoán có thời hạn không xác định, nó tồn tại cùng với
sự tồn tại của công ty cổ phần
Tùy vào tính chất, căn cứ mà cổ phiếu được chia thành các loại khác nhau:
- Căn cứ vào hình thức phát hành: Cổ phiếu chia thành cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu vô danh;
Trang 16- Căn cứ vào mục đích huy động vốn: Cổ phiếu phân chia thành cổ phiếu sơ cấp và cổ phiếu thứ cấp;
- Căn cứ vào quyền lợi của cổ đông: Cổ phiếu được chia thành cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi (cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi
* Trái phiếu
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhu cầu huy động vốn ngắn hạn và trung hạn để bổ sung vốn lưu động của các công ty là thường xuyên và lặp đi lặp lại theo chu kỳ sản xuất kinh doanh Do đó, công ty lựa chọn giải pháp đi vay để tăng vốn lưu động (phát hành trái phiếu) chứ không huy động tăng vốn điều lệ (phát hành cổ phiếu) Phát hành trái phiếu là hình thức vay vốn trực tiếp từ các nhà đầu tư và mang lại lợi ích cho cả nhà đầu tư và đơn vị phát hành: tổ chức phát hành có thể giảm bớt được chi phí đi vay (không phải trả lãi trung gian) còn nhà đầu tư thì có thể chuyển khoản cho vay thành tiền mặt khi cần mà không phải chờ đến thời điểm đáo hạn
Có rất nhiều khái niệm về trái phiếu Trái phiếu được hiểu là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu (trái chủ), trong đó cam kết sẽ trả số tiền gốc kèm với số tiền lãi trong một thời hạn nhất định
Theo quy định của Luật Chứng khoán 2006 thì trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành
Về cơ bản, khái niệm trái phiếu và cổ phiếu trong Luật Chứng khoán
2006 có cách tiếp cận khá giống nhau, mặc dù bản chất của hai loại chứng khoán này là khác nhau
Phát hành trái phiếu là một phương thức huy động vốn trung và dài hạn mang hiệu quả cao Các loại trái phiếu đa dạng hình thành trên cơ sở nhu
Trang 17cầu, sở thích của cả nhà đầu tư và nhu cầu huy động, sử dụng vốn của công ty phát hành, tạo cơ hội cho cả nhà đầu tư và công ty phát hành đạt được mục đích của mình Việt Nam đang khuyến khích và mở rộng các loại trái phiếu công ty được phép lưu hành để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường vốn trung và ngắn hạn
* Một số loại chứng khoán phái sinh
Trên thị trường chứng khoán, bên cạnh các giao dịch mua bán chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, còn có giao dịch mua bán các chứng từ tài chính khác như chứng quyền, chứng khế… Các chứng từ tài chính này được ra đời
từ các giao dịch chứng khoán và được quyền chuyển đổi sang chứng khoán qua mua bán Do đó, người ta gọi chúng là chứng từ có nguồn gốc tài chính hoặc các chứng khoán phái sinh
- Chứng quyền
Chứng quyền hay còn gọi là quyền đặt mua là một chứng thư do công ty
cổ phần phát hành cho cổ đông, xác nhận quyền của cổ đông được mua một số lượng cổ phiếu nhất định và trong một thời hạn nhất định Các cổ đông là người góp vốn vào công ty, vì vậy họ là thành viên của công ty, có quyền nhất định đối với công ty như quyền sở hữu tài sản, quyền biểu quyết, quyền hưởng cổ tức
Những quyền đó nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của cổ đông đối với công ty Để đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, thông thường, khi một công ty cổ phần muốn tăng thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới, công ty thường dành cho các cổ đông hiện hữu quyền ưu tiên mua trước một lượng cổ phiếu mới tỷ lệ với số cổ phiếu mà họ đang nắm giữ Mỗi cổ đông được hưởng ưu đãi này sẽ nhận được một tờ chứng quyền,
nó thể hiện chính xác số lượng quyền mua trong một thời hạn xác định theo một giá ấn định
Số quyền mua của một chứng quyền bằng chính số cổ phần hiện hữu
mà một cổ đông nắm giữ trong tổng toàn bộ số cổ phần hiện hữu của công ty
Trang 18Số cổ phiếu dành cho một quyền mua tùy thuộc vào số cổ phiếu mới phát hành so với số cổ phiếu hiện hữu Thông thường, giá cả của cổ phiếu phát hành thêm thấp hơn giá thị trường của cổ phiếu khi chưa tăng nhằm bù đắp thiệt hại cho các cổ đông do "hiệu ứng pha loãng" gây ra (thị giá cổ phiếu sau khi phát hành cổ phiếu bổ sung sẽ giảm so với trước lúc phát hành)
Các chứng quyền thường có thời hạn ngắn, có thể chỉ từ 1 tuần đến
6 tuần Trong thời hạn này, người nắm giữ chứng quyền có thể sử dụng chúng
để mua cổ phiếu mới của đợt phát hành đó hoặc bán chứng quyền cho người khác trên thị trường chứng khoán Quá hạn, chứng quyền mất tác dụng và coi như hủy bỏ, có nghĩa là nó không còn giá trị
Nếu một cổ đông muốn thực hiện quyền của mình, họ sẽ điền một tờ chứng quyền và gửi đến công ty Họ cũng có thể gửi séc hoặc ngân phiếu theo giá trị của những cổ phiếu muốn mua thêm Ngược lại, nếu họ không muốn thực hiện quyền của mình, họ có thể bán lại chứng quyền trên thị trường chứng khoán theo giá thị trường hiện hành để hưởng một phần chênh lệch giá
và phải chấp nhận "hiệu ứng pha loãng" đối với phần tài sản thuộc sở hữu của
họ trong công ty
Giá chứng quyền phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giá trị của chứng quyền, thời hạn còn lại của chứng quyền, xu hướng biến động về mệnh giá của cổ phiếu ấn định trong chứng quyền
Luật Chứng khoán 2006 quy định chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định
- Hợp đồng quyền lựa chọn
Hợp đồng quyền lựa chọn là hợp đồng được ký kết giữa một bên là
"người ký phát" và một bên là người mua hợp đồng, trong đó cho phép người mua hợp đồng được quyền mua hoặc bán cho người ký phát hợp đồng một số
Trang 19lượng chứng khoán, với giá cả nhất định và trong một thời hạn quy định của tương lai
Quyền lựa chọn có hai loại:
(1) Quyền chọn mua: cho phép người mua hợp đồng được quyền mua một số lượng chứng khoán nhất định với giá cả nhất định, trong một thời hạn quy định của tương lai Người mua hợp đồng phải trả cho người bán hợp đồng một khoản phí gọi là phí chọn mua
(2) Quyền chọn bán: cho phép người mua được quyền bán một số lượng chứng khoán nhất định, với giá cả nhất định, trong một thời hạn quy định trong tương lai Người mua hợp đồng phải trả cho người bán hợp đồng một khoản phí gọi là phí chọn bán
Thông thường, người mua quyền chọn mua là người đang dự đoán giá của chứng khoán trên thị trường có xu hướng tăng và họ là người kỳ vọng giá lên; còn người ký phát thì đóng vai trò là người mong đợi giá xuống Ngược lại, đối với quyền chọn bán, người mua quyền chọn bán là người kỳ vọng giá chứng khoán sẽ xuống
Hợp đồng quyền lựa chọn cung cấp quyền cho người sở hữu nó chứ không phải là nghĩa vụ mua hoặc bán Vì vậy, người chủ của quyền lựa chọn
có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng quyền lựa chọn Nếu không muốn thực hiện quyền, người chủ của quyền có thể bán quyền lựa chọn đó trên thị trường chứng khoán, nghĩa là chuyển quyền sở hữu cho người khác Vì vậy, hợp đồng quyền lựa chọn cũng được coi là một loại chứng khoán của thị trường chứng khoán
- Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là hợp đồng giữa người bán và người mua, trong
đó người bán cam kết giao một số lượng chứng khoán (nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán) nhất định và người mua sẽ trả tiền khi nhận số
Trang 20chứng khoán đó với một giá nhất định, tại một ngày nhất định trong tương lai, được xác định trước tại thời điểm ký kết hợp đồng
Các điều khoản và điều kiện của hợp đồng tương lai được xác định trước, được quy định cụ thể theo các nguyên tắc giao dịch và thống nhất về số lượng, chất lượng chứng khoán phải giao, địa điểm giao hàng và nhiều quy định cụ thể khác Để tránh mọi thiệt hại khi hợp đồng không được tôn trọng, vào lúc ký kết hợp đồng, cả hai bên đều được yêu cầu ký quỹ Số tiền này còn được gọi là tiền đặt cọc đảm bảo thực hiện hợp đồng
Tại khoản 8, Điều 6 Luật Chứng khoán 2006 quy định: "Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai" [12]
Xét về bản chất của hợp đồng thì hợp đồng tương lai được bắt nguồn
từ hợp đồng giao hàng Hợp đồng tương lai có những đặc điểm riêng biệt nhằm phân biệt nó với các loại hợp đồng khác, bao gồm:
Một hợp đồng giao hàng không được chuyển nhượng, người mua buộc phải trả tiền để nhận hàng và người bán phải giao hàng để nhận tiền Còn hợp đồng tương lai được tiến hành trên cơ sở trao đổi, tức là nó cũng trở thành hàng hóa, được mua bán trên một thị trường riêng biệt thị trường chứng khoán
Phí hoa hồng mua bán các hợp đồng tương lai thường rất cao, có khi gấp 8 đến 9 lần phí hoa hồng mua bán chứng khoán Việc thanh toán mua bán các hợp đồng tương lai thường được thực hiện ngay qua tài khoản mở tại Trung tâm thanh toán bù trừ, không được mua bán chịu
- Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là những thỏa thuận mua bán một loại tài sản ở một thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức giá nhất định Tuy nhiên, không giống như hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn không trao đổi trên thị trường,
Trang 21không định giá hàng ngày Hợp đồng này không phải theo tiêu chuẩn của thị trường riêng biệt, ngày chuyển giao được xác định theo từng hợp đồng
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá của các chứng từ có nguồn gốc chứng khoán là: Giá của chứng khoán gốc; giá thực hiện; sự dao động giá của các chứng từ có nguồn gốc chứng khoán; thời gian còn lại cho đến khi đáo hạn;
sự sẵn có của chứng từ thay thế tương tự; các lãi suất tương đối và các chi phí
để giữ các chứng từ có nguồn gốc chứng khoán
1.2 PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY
1.2.1 Khái niệm về phát hành chứng khoán công ty
Trước hết, chúng ta cần hiểu chứng khoán công ty là một loại chứng khoán vì thế nó mang đầy đủ đặc điểm, tính chất của chứng khoán nói chung
Luật Chứng khoán 2006 và các văn bản liên quan không quy định khái niệm thế nào là chứng khoán công ty Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì chứng khoán công ty là chứng khoán do công ty phát hành theo quy định của pháp luật Có một số nhà nghiên cứu cho rằng chứng khoán công ty "là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán với tài sản hoặc vốn của công ty phát hành" Chứng khoán công ty bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác (chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng quyền )
Theo một cách tiếp cận khác thì phát hành chứng khoán là việc "thò tay" vào túi nhà đầu tư để "rút tiền" nhưng làm sao để không bị nói là "ăn cắp" Khái niệm này chỉ đúng khi xem xét ở góc độ nhất định, các nhà đầu tư
"bỏ tiền" để đầu tư vào hoạt động chứng khoán là nhằm mục đích sinh lời nhưng xét ở góc độ của công ty phát hành thì việc phát hành chứng khoán thực chất là nhằm huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và việc huy động vốn này ít nhiều cũng làm lợi cho công ty dưới hình thức được hợp
lý hóa là phát hành chứng khoán
Trang 22Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát hành chứng khoán công ty:
Có quan niệm cho rằng, phát hành chứng khoán công ty là hoạt động phát hành các loại giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu) của các tổ chức phát hành nhằm xác nhận sự góp vốn hoặc vay nợ để huy động vốn trực tiếp từ các nhà đầu tư cho mục đích phát triển sản xuất kinh doanh nhất định của công ty
Ngoài ra, một khái niệm khác cũng được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận là: Phát hành chứng khoán công ty là hình thức phân phối chứng khoán của công ty phát hành cho nhà đầu tư theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Trong đó có hai hình thức phát hành là phát hành chứng khoán riêng lẻ và chào bán chứng khoán ra công chúng
Pháp luật phát hành chứng khoán công ty là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các bên liên quan trong quá trình phát hành chứng khoán công ty như phát hành chứng khoán, bảo lãnh chứng khoán, thanh toán, giải quyết tranh chấp phát sinh nhằm đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động phát hành chứng khoán, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, các chủ thể tham gia quan hệ trên
Trên cơ sở những quy định của pháp luật phát hành chứng khoán công
ty, các công ty cần nghiên cứu cụ thể và thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định Các công ty khi cần huy động để tăng vốn cho các hoạt động của công ty mình, họ sẽ tiến hành phát hành chứng khoán và việc phát hành chứng khoán đó là phát hành chứng khoán công ty Việc phát hành chứng khoán công ty phải đáp ứng yêu cầu về chủ thể phát hành thì mới được phát hành
Khi công ty phát hành chứng khoán, bản chất của quan hệ phát hành chứng khoán chính là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu vốn Cụ thể, quan hệ phát hành cổ phiếu là quan hệ hợp đồng góp vốn, trong đó công ty phát hành và nhà đầu tư là các bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự này Ngoài ra, trong quan hệ trái phiếu thì các bên tham gia vào quan
Trang 23hệ này là những bên liên quan của hợp đồng vay nợ (công ty phát hành đóng vai trò là "con nợ" phải cam kết nhận nợ và nhà đầu tư là "chủ nợ")
Luật Chứng khoán 2006 không quy định như thế nào là phát hành chứng
khoán công ty, chỉ nêu khái niệm Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây:
- Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet;
- Chào bán chứng khoán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;
- Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định
So với khái niệm cơ bản về phát hành chứng khoán công ty thì khái niệm chào bán chứng khoán ra công chúng được thể hiện đầy đủ và chi tiết hơn, trình bày các phương thức mà công ty phát hành có thể lựa chọn để chào bán ra công chúng Nếu không thực hiện theo một trong các phương thức đó thì không được gọi là chào bán chứng khoán ra công chúng
tư để có cơ hội thu được lợi nhuận cao hơn lãi suất tiền gửi nhưng khi cần thiết
họ vẫn có thể chuyển đổi các chứng khoán công ty thành tiền mặt thông qua các giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán (tập trung và phi tập trung) Đồng thời, khi mua cổ phiếu của công ty, nhà đầu tư còn có cơ hội tham gia vào hoạt động kiểm soát và quản lý công ty (chủ động trong đầu tư)
Trang 24Trên thực tế, chủ thể của quan hệ phát hành chứng khoán công ty gồm công ty phát hành và nhà đầu tư Công ty cần vốn bổ sung cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào công ty để thu lợi nhuận Do vậy, về bản chất, có thể coi quan hệ phát hành chứng khoán công ty là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vốn Cụ thể, bản chất quan hệ phát hành
cổ phiếu là hợp đồng góp vốn, trong đó các cổ đông có vị trí nhất định, được hưởng lợi nhuận và phải gánh chịu các khoản lỗ của công ty tương ứng với phần vốn góp của vào công ty Còn bản chất quan hệ phát hành trái phiếu công ty là hợp đồng vay nợ, trong đó công ty phát hành là "con nợ" (cam kết nhận nợ) và nhà đầu tư là "chủ nợ"
Trong từng loại quan hệ phát hành chứng khoán khác nhau, quyền và nghĩa vụ của công ty phát hành cũng như nhà đầu tư được xác định khác nhau Tùy theo mục đích, nhu cầu và khả năng của mình, công ty phát hành
và nhà đầu tư lựa chọn loại quan hệ phát hành chứng khoán cho phù hợp
1.2.3 Các hình thức phát hành chứng khoán công ty
Phát hành chứng khoán của công ty được thực hiện dưới hai hình thức sau:
- Phát hành chứng khoán riêng lẻ hay còn gọi là phát hành chứng khoán nội bộ là việc phát hành mà trong đó chứng khoán được bán trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định (thông thường là các nhà đầu tư có mối quan hệ quen biết với công ty) tương ứng với khối lượng phát hành hạn chế Việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ thông hiếm khi thực hiện dưới hình thức này Ngược lại chủ yếu việc phát hành trái phiếu được thực hiện theo hình thức này vì xuất phát từ đặc thù cơ bản của trái phiếu là có thời hạn hoàn trả xác định và công ty phát hành nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trong một thời gian ngắn hạn Các ngân hàng thương mại cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành Chứng khoán trong phát hành chứng khoán riêng lẻ không thuộc đối tượng chào bán trên thị trường giao dịch chứng khoán tập trung
Trang 25- Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán rộng rãi ra công chúng với số lượng lớn các nhà đầu tư
và khối lượng phát hành phải đạt đến một mức nhất định, theo một trong ba phương thức phát hành được quy định trong Luật Chứng khoán 2006 về
"Chào bán chứng khoán ra công chúng" Trong đó, phát hành lần đầu ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán của công ty lần đầu được chào bán rộng rãi ra công chúng
Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và chào bán ra công chúng để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết về chứng khoán và thị trường chứng khoán Đồng thời đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai, hiệu quả
1.2.4 Bảo lãnh phát hành chứng khoán công ty
Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán
và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Trên thế giới, các ngân hàng đầu tư thường là những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng "hoa hồng"
Luật chứng khoán 2006 quy định: Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng
Trang 26Khái niệm bảo lãnh phát hành chứng khoán trong Luật Chứng khoán
2006 được nêu khá chi tiết và quy định được nhiệm vụ của "người nhận bảo lãnh" Việc quy định như vậy rất quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật
vì trong suốt quá trình bảo lãnh, "người bảo lãnh" phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và chịu trách nhiệm trong phạm vi nhận bảo lãnh Luật Chứng khoán
2006 không quy định cụ thể những phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán, theo các chuyên gia nghiên cứu chứng khoán thì có một số phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán đang tồn tại trên thị trường như sau:
Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó
tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc chắn", một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh
và giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường
được áp dụng ở các nước phát triển khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường Trong trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty Do vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có
Trang 27tiềm lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh thông dụng nhất
Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó
tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại
Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương
thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ hủy toàn bộ đợt phát hành
Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức trung
gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu
tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn) Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần) Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ
1.3 QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG
TY Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Các nước có điều kiện văn hóa, kinh tế, chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở các mức độ khác nhau vì thế pháp luật về phát hành chứng khoán công ty của các nước cũng khác nhau cơ bản, tuy nhiên ở một mức độ nào đó chúng có những điểm chung phản ánh nhận thức của cơ quan ban hành pháp luật, các cơ quan này luôn mong muốn sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu điều chỉnh hoạt động của thị trường trong nền kinh tế của nước đó
Nhìn chung, pháp luật các nước trên thế giới quy định vốn của công ty xuất phát từ vốn điều lệ do các thành viên đóng góp (đối với công ty trách
Trang 28nhiệm hữu hạn) hoặc do các cổ đông đóng góp (đối với công ty cổ phần); vốn vay ngân hàng (thường là nguồn vốn ngắn hạn); vốn vay từ nhà đầu tư (thường là nguồn vốn trung và dài hạn); hoặc lợi nhuận sau khi đã trừ đi chi phí Thị trường chứng khoán cũng là một kênh huy động vốn có tổ chức, có quy luật, nó giúp cho các công ty phát hành huy động vốn, giúp cho nguồn vốn được lưu chuyển trong nền kinh tế, khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
* Mô hình quản lý phát hành chứng khoán
Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai mô hình quản lý hoạt động phát hành chứng khoán, đó là: Mô hình quản lý phát hành chứng khoán theo chất lượng
và Mô hình quản lý phát hành chứng khoán theo chế độ công bố thông tin:
- Mô hình quản lý phát hành theo chất lượng:
Đây là mô hình được áp dụng đối với thị trường chứng khoán phát triển ở giai đoạn đầu Trong mô hình này, điều kiện phát hành chứng khoán được quy định khá chi tiết trong các văn bản Luật và dưới luật nhằm thống nhất quản
lý việc phát hành chứng khoán của các công ty như về vốn, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, đội ngũ cán bộ có năng lực, dự án sử dụng vốn khả thi, Nhìn chung, việc quy định cụ thể, chi tiết như vậy là nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi cho nhà đầu tư, bởi vì khi thị trường chứng khoán mới ra đời chắc chắn sẽ có rất ít nhà đầu tư chuyên nghiệp, hiểu sâu về quy luật, tính chất hoạt động của thị trường chứng khoán, có những nhà đầu tư chứng khoán chỉ giao dịch chứng khoán theo "hiệu ứng số đông" (tức là việc mua vào hay bán ra chứng khoán theo xu hướng chung của các nhà đầu tư) Bên cạnh đó, các nhà đầu tư rất khó thẩm định và hiểu rõ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty phát hành vì đó là những công ty mới xuất hiện trên thị trường chứng khoán Chính vì thế, các nhà làm luật quy định rõ các điều kiện phát hành chứng khoán, đồng thời các nhà quản lý cần tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát,
xử lý vi phạm nhằm tránh rủi ro cho nhà đầu tư Trong mô hình quản lý phát
Trang 29hành chứng khoán theo chất lượng thì nhà nước còn quản lý cả giá phát hành lần đầu ra công chúng với hai mục đích: thứ nhất, với mô hình này nhà đầu tư chưa thể thẩm định, chưa đủ kiến thức để đánh giá được giá của chứng khoán
do tổ chức phát hành đưa ra; thứ hai, với việc quy định giá phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng, Chính phủ muốn tạo lập một thị trường ổn định
để phát triển và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư
Bên cạnh những điểm tích cực, mô hình quản lý theo chất lượng còn thể hiện những mặt hạn chế, trước hết, gánh nặng đối với các cơ quan quản lý
là rất lớn, chính vì thị trường mới hình thành, nhà đầu tư còn thiếu hiểu biết, các tổ chức phát hành có thể lợi dụng kẽ hở của pháp luật để "trục lợi" nên phạm vi hoạt động của cơ quan quản lý ngày càng nặng nề, có những vấn đề
mà cơ quan quản lý có thể buông lỏng bởi vì họ phải "căng sức" ở nhiều vấn
đề khác nhau từ khâu cấp phép, kiểm tra, giám sát đến khâu xử lý vi phạm Ngoài ra, đối với thị trường hoạt động theo mô hình này vô hình chung đã cản trở việc phát hành chứng khoán ra công chúng do các điều kiện phát hành có thể "bị lạc hậu" theo thời gian Chúng ta có thể thấy mô hình này ở Thái Lan, Trung Quốc vào thời điểm trước 2/4/2004; ở Malaysia trước năm 2003
- Mô hình quản lý phát hành chứng khoán theo chế độ công bố thông tin:
Đảm bảo chế độ công bố thông tin là một nguyên tắc cơ bản của IOSCO (Tổ chức các Ủy ban Chứng khoán quốc tế) Nó giúp cho mọi hoạt động của thị trường chứng khoán đều được công khai, minh bạch, việc sử dụng thông tin đó như thế nào là nhiệm vụ của nhà đầu tư Yêu cầu đối với
mô hình này là tổ chức phát hành phải công bố đầy đủ các thông tin quan trọng liên quan đến quyết định của nhà đầu tư, các cơ quan quản lý chỉ đảm bảo cho nhà đầu tư trên cơ sở sự thật, minh bạch của thông tin mà không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào khác với thị trường và nhà đầu tư
Tuy nhiên khi áp dụng mô hình này, các cơ quan quản lý phải xây dựng được chuẩn mực của việc công bố thông tin và giám sát chặt chẽ nó, các
Trang 30cơ quan trung gian cũng cần được tăng cường vai trò và chịu trách nhiệm trước pháp luật khi thực hiện chức trách của mình như cơ quan kiểm toán, tư vấn Mặc dù đã quy định chặt chẽ như vậy nhưng tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư là rất lớn vì ngoài quy luật của thị trường điều tiết, vai trò phân tích, tổng hợp, đánh giá
và quyết định của nhà đầu tư đóng vai trò quan trọng cho việc "thắng hay bại"
Ở Việt Nam, sau một giai đoạn phát triển thì đến nay vẫn hoạt động theo mô hình quản lý theo chất lượng, bước đầu đang dần dần chuyển sang việc quản lý theo đăng ký, mục đích là nhằm loại bỏ các công ty nhỏ, không
có triển vọng phát triển và tạo niềm tin cho nhà đầu tư Khi thị trường phát triển đến một giai đoạn nhất định, Việt Nam có thể sẽ chuyển sang giai đoạn quản lý theo chế độ công bố thông tin, tuy nhiên thời điểm đó còn rất xa do hệ thống các cơ quan quản lý và cơ quan trung gian còn chưa đồng bộ, năng lực cán bộ quản lý còn yếu
* Cơ quan quản lý phát hành
Hiện nay trên thế giới đang tồn tại hai mô hình cơ quan quản lý phát hành chứng khoán là cơ quan quản lý chuyên trách và cơ quan quản lý kiêm nhiệm Các nước thường gọi cơ quan này là "Ủy ban", có nước gọi khác đi như Trung Quốc gọi là "Cơ quan giám quản chứng khoán" Tuy tên gọi khác nhau nhưng bản chất vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về phát hành chứng khoán
- Cơ quan quản lý phát hành chuyên trách: Là cơ quan được tổ chức độc lập, trực thuộc Chính phủ (ở Trung Quốc thì thuộc Quốc Vụ viện), thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán nói chung và phát hành chứng khoán nói riêng Ví dụ như tại Ba Lan gọi là Ủy ban Chứng khoán
và Giao dịch Ba Lan gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch và 7 thành viên; theo Luật Chứng khoán Bulgaria được gọi là Ủy ban Chứng khoán nhà nước Bulgaria gồm Chủ tịch và 6 thành viên Ngoài ra ở Mỹ, Đức, Pháp, Úc, Canada, Malaysia cũng có Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hoặc Ủy ban Giám sát Chứng khoán
Trang 31Mô hình quản lý chuyên trách có ưu điểm là giải quyết các công việc một cách nhanh chóng, giảm bớt các thủ tục phiền hà, phức tạp đối với các nhà đầu tư nhưng đôi khi xuất hiện sự chồng chéo trong quản lý, phân định thẩm quyền quản lý giữa các cơ quan có liên quan làm cho các cơ quan quản
lý phát hành lúng túng trong xử lý các tình huống phát sinh
- Cơ quan quản lý phát hành kiêm nhiệm là cơ quan của Chính phủ đảm nhiệm từng phần quản lý theo các chức năng có liên quan Việc kiêm nhiệm thể hiện ở thành phần tham gia cơ quan quản lý, bên cạnh việc quản lý nhà nước về chứng khoán các thành viên của Ủy ban còn thực hiện các chức năng quản lý chuyên môn khác thuộc lĩnh vực mình phụ trách Ví dụ, ở Thái Lan, Ủy ban Chứng khoán gồm: Bộ trưởng Tài chính làm chủ tịch, Thống đốc Ngân hàng Trung ương, Chánh văn phòng Bộ Tài chính, Chánh văn phòng Bộ Thương mại Theo Luật Chứng khoán Hàn Quốc thì thành phần Ủy ban Chứng khoán
và Giao dịch Chứng khoán gồm có Chủ tịch Ngân hàng Hàn Quốc, Chủ tịch
Sở giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc, Thứ trưởng Bộ Tài chính và Kinh tế
Mô hình này giúp tận dụng nguồn nhân lực có chuyên môn, trình độ ở nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau tham gia, điều hòa các chính sách, chiến lược phát triển của ngành, của thị trường chứng khoán một cách dễ dàng nhưng lại tạo ra sự phân tán quản lý, các thành viên trong cơ quan quản lý chứng khoán không "toàn tâm toàn ý" thực hiện nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực chứng khoán, trong khi với trình độ phát triển của kinh tế toàn cầu hiện nay thì việc tham gia như vậy là không đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thị trường, đặc biệt là một thị trường đầy năng động như trị trường chứng khoán
- Hiện nay có mô hình tự quản chỉ có thể được thực hiện ở các nước
có thị trường chứng khoán phát triển như các hiệp hội công ty niêm yết, hiệp hội những người phát hành chứng khoán Mô hình này tạo cho thị trường sự linh hoạt trong hoạt động nhưng khó đảm bảo tính trung thực của thị trường
vì lợi ích của thành viên cơ quan quản lý và nhà đầu tư thường đối kháng
Trang 32nhau, dễ dẫn đến tùy tiện trong quản lý thị trường, tạo sự bất bình đẳng trong hoạt động phát hành chứng khoán
* Điều kiện, thủ tục phát hành chứng khoán
Điều kiện, thủ tục phát hành được quy định trong Luật Chứng khoán của các nước có sự khác biệt nhau, ở một số nước có quy định các điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể đối với việc phát hành nhằm tránh rủi ro cho các nhà đầu tư; ngược lại một số nước lại cho rằng, việc quy định điều kiện, tiêu chuẩn phát hành
là hạn chế khả năng phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế nên cho phép các công ty có đủ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận phát hành, sau khi xem xét đều có khả năng được cấp giấy chứng nhận phát hành lần đầu ra công chúng
Ví dụ, ở Bulgaria, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận cho bản cáo bạch của phát hành lần đầu ra công chúng bao gồm: Bản cáo bạch, bản điều lệ của công ty phát hành, báo cáo quyết toán tài chính của công ty trong vòng 3 năm gần nhất,
do một công ty kiểm toán độc lập hoặc công ty kiểm toán chuyên biệt xác nhận Như vậy hoàn toàn không có quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu mà công ty xin phép phát hành phải có hay điều kiện phải kinh doanh có lãi Điều này tạo
sự bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể sử dụng thị trường chứng khoán như kênh huy động vốn chung trong thị trường
Nhìn chung, ở đa số các nước trên thế giới, công ty phát hành phải lập
hồ sơ xin phép phát hành chứng khoán ra công chúng gửi tới cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán Tuy nhiên, ở từng nước khác nhau có quy định khác nhau về thủ tục phát hành Có nước quy định việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán cấp giấy phép phát hành, có nước lại quy định chỉ cần đăng ký việc phát hành với cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán Ở một số thị trường phát triển, như Mỹ, Ủy ban chứng khoán còn cho phép công ty phát hành đăng ký dự phòng sẵn một số lượng chứng khoán dự kiến, sau đó công ty phát hành có thể chọn thời điểm thích hợp để phát hành một hoặc nhiều đợt phát hành trong phạm vi số lượng chứng khoán dự kiến được phép
Trang 33Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY
2.1.1 Chủ thể phát hành chứng khoán công ty
Phát hành chứng khoán công ty là một trong những kênh huy động vốn hữu hiệu của các công ty nhằm phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh Tuy nhiên không phải công ty nào cũng có thể phát hành chứng khoán Trong Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định rõ các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường hiện nay Trong số các loại hình doanh nghiệp này thì những chủ thể sau đây có thể thực hiện việc phát hành chứng khoán công ty:
* Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là chủ thể chủ yếu phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Các cổ đông của công ty cổ phần tối thiểu là 3 và không hạn chế tối đa, có thể là cá nhân hoặc tổ chức.Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho cá nhân hoặc tổ chức khác Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn
Với một công ty cổ phần thì có thể có nhiều loại cổ phần khác nhau, trong đó cổ phần phổ thông là bắt buộc phải có (người nắm giữ cổ phần phổ thông được gọi là cổ đông phổ thông), có thể có cổ phần ưu đãi (người nắm giữ cổ phần ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi Cổ phần ưu đãi gồm các loại:
Trang 34cổ phần ưu đãi biểu quyết (chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết), cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công
ty quy định
Công ty cổ phần gồm có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Nếu công ty nào có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có một cổ đông là tổ chức nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần của công ty thì công ty cổ phần đó phải có Ban kiểm soát Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị có không ít hơn ba thành viên, không quá mười một thành viên, nếu Điều lệ công
ty không có quy định khác
Từ sau khi Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời và có hiệu lực, mô hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài phải tiến hành chuyển đổi theo lộ trình do Chính phủ đề ra và chỉ đạo nhằm thống nhất thực hiện trên phạm vi toàn quốc Điều này sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước với phương châm tự chủ, tự chịu trách nhiệm Nhà nước sẽ giữ vai trò điều tiết chính sách nhằm tạo hành lang pháp
lý căn bản định hướng hoạt động của toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như các công ty nói riêng Với chủ trương này, chúng ta đang thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài nhằm tạo sân chơi bình đẳng ngay trên "sân nhà" với hy vọng tạo động lực mạnh mẽ chuyển biến kinh tế nước ta phát triển nhanh, mạnh và bền vững
Trang 35Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hàng hóa giao dịch chủ yếu trên thị trường chứng khoán là chứng khoán do các công ty cổ phần phát hành Như vậy, giữa thị trường chứng khoán và công ty cổ phần có mối quan hệ gắn
bó, mật thiết với nhau Sự phát triển của công ty cổ phần góp phần quan trọng giúp thị trường chứng khoán phát triển và hoạt động hiệu quả Ngược lại, sự phát triển của thị trường chứng khoán tác động trở lại tới sự phát triển của công ty cổ phần Để chứng khoán của công ty mình có ưu thế trên thị trường chứng khoán, các công ty phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ, cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ khoa học công nghệ Đồng thời, sự phát triển của thị trường chứng khoán giúp các công ty cổ phần huy động được nhiều vốn hơn để đáp ứng các yêu cầu phát triển của công ty
* Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp
mà thành viên có thể là tổ chức, cá nhân (tổng số các thành viên không vượt quá 50) Trong công ty thì các thành viên chịu trách nhiệm về khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết đóng góp vào doanh nghiệp Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình trong trường hợp thành viên đó không thống nhất với quyết định của Hội đồng thành viên được quy định tại Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2005 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn loại hình này phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Ban kiểm soát được thành lập nếu công ty có từ 11 thành viên trở lên; trường hợp có ít hơn mười một thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều
lệ công ty Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt
Trang 36Nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên ba mươi ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty
Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong công ty với thành phần là tất cả các thành viên của công ty Nếu thành viên là tổ chức thì phải
có người được đại diện theo ủy quyền tham gia vào hội đồng thành viên của công ty đó Ít nhất 1 năm Hội đồng thành viên phải tiến hành họp 1 lần, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác nhưng tối thiểu không thấp hơn
1 lần/ 1 năm
* Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một
tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần
Với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân thì công ty
có Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Chủ sở hữu công ty đồng thời là Chủ tịch công ty Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty
Với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức thì tổ chức
đó bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Nhiệm kỳ của người địa diện theo ủy quyền không vượt quá 5 năm Người đại diện cho công ty chịu trách nhiệm trước tổ chức là chủ sở hữu công
ty trong phạm vi hoạt động được ủy quyền Chủ sở hữu công ty có quyền thay thế người đại diện theo ủy quyền bất cứ khi nào Nếu có ít nhất 2 người được làm đại diện theo ủy quyền cho công ty thì công ty sẽ gồm Hội đồng thành
Trang 37viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên Hội đồng thành viên nhân danh chủ sở hữu công ty tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công ty
về các quyết định của mình liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong phạm vi được ủy quyền
2.1.2 Điều kiện, trình tự và thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng
Ngày nay, bất kỳ quốc gia nào có nền kinh tế phát triển cũng đều có hai kênh huy động vốn quan trọng: kênh huy động vốn gián tiếp thông qua hệ thống ngân hàng theo nguyên tắc tín dụng và kênh huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán theo nguyên tắc đầu tư Phát hành chứng khoán ra công chúng là bước đi đầu tiên của các doanh nghiệp trong một chuỗi các hành động nhằm thu hút vốn, tạo tiềm năng phát triển cho doanh nghiệp mình Thị trường chứng khoán của nước ta mới hình thành nên còn trải qua những
"bỡ ngỡ" của thời kỳ phát triển đầu tiên, đi liền với đó là sự phát triển chưa đồng bộ giữa thị trường và pháp luật, pháp luật luôn phải đáp ứng đòi hỏi của thị trường Chúng ta đang xây dựng một hệ thống đồng bộ các văn bản pháp luật về chứng khoán nói chung và phát hành chứng khoán nói riêng nhằm tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động phát hành chứng khoán được diễn ra theo quy luật tự nhiên của nền kinh tế Đó là mục đích lớn nhất của các hoạch định nói chung và các nhà làm luật nói riêng
2.1.2.1 Phát hành cổ phiếu
* Điều kiện, thủ tục phát hành cổ phiếu ra công chúng
Để có thể phát hành cổ phiếu ra công chúng, theo quy định của Luật Chứng khoán 2006 công ty cần phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán;
Trang 38- Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua
Cụ thể hóa những quy định của Luật Chứng khoán 2006, Nghị định 14/2007/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 19/01/2007 quy định chi tiết hơn về từng loại hình công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng, ví dụ như đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng thì ngoài đáp ứng hai điều kiện đầu tiên trong Luật Chứng khoán 2006 về phát hành cổ phiếu thì doanh nghiệp đó phải "có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh thông qua; đồng thời cũng cần có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu"
Do đặc thù của Luật Chứng khoán ra đời vào thời điểm Luật Doanh nghiệp 2005 thống nhất chuyển đổi hình thức hoạt động các công ty thành những đầu mối chung, không có sự phân biệt hình thức sở hữu của các công
ty nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các công ty trong và ngoài nước nên điều kiện phát hành chứng khoán của các công ty đang trong thời gian chuyển đổi cũng cần xét đến đặc thù này Một khi các công ty đã được chuyển đổi hoàn thành và đi vào hoạt động kinh doanh như nhau, với loại hình như nhau thì điều kiện phát hành chứng khoán sẽ được thống nhất áp dụng
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, lần đầu tiên Nghị định 14 quy định điều kiện chào báo chứng khoán ra nước ngoài Quy định này nhằm không ngừng hoàn thiện chế định liên quan đến chào bán cổ phiếu mà còn đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của thực tế cuộc sống phát sinh khi đất nước ta không ngừng hội nhập sâu rộng vào sự phát triển chung của thế giới, khi chúng ta trở thành thành viên của WTO, khi ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến thị trường Việt Nam và ngược lại các doanh nghiệp Việt Nam đang tìm kiếm cơ hội phát triển tại thị trường nước ngoài
Trang 39Bộ hồ sơ đăng ký phát hành cổ phiếu ra công chúng theo quy định của
Bộ Tài chính phải bao gồm:
- Giấy đăng ký chào bàn cổ phiếu ra công chúng;
- Bản cáo bạch; Điều lệ công ty;
- Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành
và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng;
- Cam kết bảo lãnh (nếu có) và quyết định của Hội đồng quản trị thông qua hồ sơ
Ủy ban Chứng khoán nhà nước sẽ xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và yêu cầu bổ sung, sửa đổi nếu thấy cần thiết Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ Ủy ban Chứng khoán nhà nước sẽ xem xét cấp hoặc không cấp giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chúng Ở đây chúng ta cần lưu ý thời gian cấp giấy chứng nhận tính từ ngày nhận được "hồ
sơ hợp lệ", pháp luật quy định như vậy ngầm hiểu là khi nhận được hồ sơ nhưng nếu không hợp lệ thì Ủy ban Chứng khoán nhà nước có quyền yêu cầu doanh nghiệp điều chỉnh, bổ sung và không tính thời gian đó vào thời hạn 30 ngày Với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, những quy định về thủ tục như hiện nay liên quan đến phát hành chứng khoán ra công chúng là hợp lý, giúp hạn chế sự rườm rà, sách nhiễu của bộ máy quản lý hành chính nhà nước tác động đến các tổ chức xin phép phát hành
Nhìn chung về thủ tục chào bán cổ phiếu ra công chúng của nước ta so với một số nước có thị trường chứng khoán là không có nhiều sự khác biệt Điều này cho thấy mặc dù mới đi vào hoạt động, hệ thống pháp luật về chứng khoán mới hình thành nhưng chúng ta đã và đang dần tiếp cận được với yêu cầu, đòi hỏi và sự phát triển của thị trường
* Đình chỉ, hủy bỏ việc phát hành cổ phiếu ra công chúng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán nhà nước là cơ quan thuộc Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quản lý việc xem xét,
Trang 40cấp phép hoạt động phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp Đối với pháp luật Trung Quốc thì quy định Cơ quan giám quản chứng khoán của Quốc vụ viện đặt ra Hội đồng thẩm định phát hành, thẩm định hồ sơ xin phép phát hành cổ phiếu theo pháp luật Thành viên của Hội đồng thẩm định phát hành bao gồm cán bộ chuyên nghiệp của cơ quan giám quản chứng khoán của Quốc vụ viện và các chuyên gia mời từ bên ngoài, tiến hành biểu quyết đối với hồ sơ xin phép phát hành cổ phiếu thông qua hình thức bỏ phiếu, từ đó đưa ra ý kiến thẩm định Ngoài ra, pháp luật Đài Loan lại quy định "Ngoại trừ trái phiếu chính phủ hay các loại chứng khoán được Bộ Tài chính miễn trừ, việc chào bán hoặc phát hành chứng khoán ra công chúng mà không được Cơ quan thẩm quyền phê duyệt hay cấp đăng ký có hiệu lực sẽ bị cấm Trình tự phê duyệt và đăng ký sẽ được Cơ quan thẩm quyền quy định cụ thể"
- Đình chỉ việc phát hành cổ phiếu ra công chúng
Ủy ban Chứng khoán nhà nước, trước khi kết thúc đợt phát hành, có thể ra Quyết định đình chỉ việc phát hành cổ phiếu ra công chúng khi:
+ Khi phát hiện hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
có những thông tin sai lệch, bỏ sót nội dung quan trọng có thể ảnh hưởng tới quyết định đầu tư và gây thiệt hại cho nhà đầu tư;
+ Hoặc khi tổ chức phát hành không thực hiện các quy định của pháp luật về phân phối chứng khoán
Khi việc phát hành cổ phiếu ra công chúng bị đình chỉ, nhà đầu tư có quyền hủy bỏ việc đăng ký mua hoặc trả lại cổ phiếu đã mua trong đợt phát hành đó Theo quy định của pháp luật ở một số nước trên thế giới, sau khi việc phát hành bị đình chỉ, nhà đầu tư có quyền yêu cầu công ty phát hành trả lại tiền theo giá trị chứng khoán phát hành cộng thêm lãi tiền gửi ngân hàng
- Hủy bỏ việc phát hành cổ phiếu ra công chúng
Ủy ban Chứng khoán nhà nước thu hồi giấy phép phát hành cổ phiếu
ra công chúng khi Quá thời hạn đình chỉ đề nghị bổ sung, sửa đổi hồ sơ mà