1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở việt nam luận văn ths luật 5 05 15 pdf

105 454 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 44,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, cần phải nghiên cứu hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam dưới góc độ pháp lý song song với góc độ kinh tế - xã hội tâm lý để có một cách nhìn tổng thể, khái quát, đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ Đ Ầ U 3

CHUƠNG I - KHÁI QUÁT CHƯNG VỀ CHÚNG KHOÁN CÔNG TY VÀ PHÁT HÀNH CHÚNG KHOÁN CÔNG T Y 8

1.1 Chứng khoán cống ty 8

1.1.1 Khái n iệ m 8

1.1.2 Đặc đ iể m 10

1.1.3 Các loại chứng khoán công ty 12

1.2 Phát hành chứng khoán công t y 20

1.2.1 Khái niệm phát hành chứng khoán công t y 20

122 Bản chất, ý nghĩa của hoạt động phát hành chứng khoán công ty 21

1.2.3 Các hình thức phát h à n h 21

1.2.4 Chủ thể phát h à n h 23

1.2.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham g ia 27

1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp lý hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở một số nước trên thế g iớ i 30

CHƯ3NG n - PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHÚNG KHOÁN CÔNG TY ở V ỆT NAM 34

II 1 Các quy định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty 34

II 1.1 Phát hành cổ p h iế u 34

II 1.2 Phát hành trái p h iế u 45

n.2 Thực trạng pháp luật về phát hành chứng khoáncồng ty ở Việt Nam 51

n.2.1 Những hạn chế của các quy định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty 51

II.2.2 N hững vướng mắc từ thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về phát hành chứng khoán công t y 55

Trang 3

CHUƠNG III - PHUƠNG HUỐNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHÚNG

KHOÁN CÔNG TY Ở VIỆT N A M 59

III 1 Yêu cầu hoàn th iệ n 59

III.2 Kiến nghị hoàn thiện 60

KẾT L U Ậ N 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 - TÍNH CẤP THIẾT CỬA ĐỂ TÀI

Thị trường vốn là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường Trong đó, thị trường chứng khoán là công cụ đắc lực trong quá trình huy động vốn, sử dụng và luân chuyển vốn nhằm tạo cơ sở vững chắc và đẩy nhảnh nhịp độ phái triển kinh tế của đất nước

Văn kiện Đại hội Đảng lần VIII đã khẳng định: “ phát triển thị trường vốn, thu hút các nguồn vốn trung và dài hạn qua ngân hàng và các công ty tài chính để đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư phát triển, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước xây dựng thị trường chứng khoán phù hợp với điều kiện Việt Nam và định hướng kinh tế - xã hội của đất nước .” [46, trlOO] Khi thị trường chứng khoán bước đầu được tạo lập ở Việt Nam, Đại hội Đảng IX cũng đã xác định: “phát triển nhanh

và bền vững thị trường vốn trung và dài hạn Tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán an toàn, hiệu quả”

Phát hành chứng khoán là tiền đề tạo lập thị trường chứng khoán (tạo hàng hoá cho thị trường), là kênh huy động và phân bổ nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn cho phát triển kinh tế Hàng hoá chủ yếu của thị trường chứng khoán là chứng khoán công

ty (chứng khoán do công ty cổ phần, doanh nghiệp cổ phần hoá, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước phát hành) Thông qua hoạt động phát hành chứng khoán, các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn lớn với chi phí rẻ để mở rộng sản xuất, kinh doanh Cũng từ

đó, nguồn vốn sẽ được điều tiết từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi hoạt động kém hiệu quả đến nơi hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời tạo ra khả năng thu hút vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam

Hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam được điều chỉnh -bởi các văn bản pháp luật chủ yếu sau:

- Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995;

- Luật Doanh nghiệp năm 1999;

Trang 5

tỷ đổng và trái phiếu Chính phủ là 3.088,6 tỷ đồng (22 đợt đấu thầu) Số lượng 19 công ty niêm yết trong 750 doanh nghiệp cổ phần hoá là con số rất nhỏ [3].

Hoạt động phát hành chứng khoán công ty bên cạnh tác động tích cực là huy động vốn tài chính còn có thể tạo ra những tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như những tác động tiêu cực đến hoạt động của thị trường chứng khoán

Hơn nữa, trước xu hướng hội nhập kinh tế nước ta với kinh tế khu vực và thế giới, cần phải xây dựng một hệ thống các qui định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất phù hợp với tình hình phát triển của đất nước cũng như phù hợp với chuẩn mực chung của khu vực và quốc tế, phát huy

Trang 6

được vai trò tích cực của hoạt động phát hành chứng khoán công ty nói riêng và của thị trường chứng khoán nói chung.

Hiện nay, trên thị trường giao dịch, chứng khoán công ty luôn là hàng hoá chủ đạo sau các loại chứng khoán của Nhà nước Và trong tương lai, khi nền kinh tế phát triển, số lượng chứng khoán của Nhà nước giảm đi thì chứng khoán công ty sẽ giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của thị trường chứng khoán Nhưng trên thực tế, hoạt động phát hành chứng khoán công ty còn rất “trầm”, chưa phát huy được tính tích cực trong quá trình huy động, luân chuyển vốn của các công ty, trong khi đó các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung đến nghiên cứu về hoạt động phát hành chứng khoán nói chung, chưa đi sâu vào nghiên cứu hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam nói riêng

Do vậy, cần phải nghiên cứu hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam dưới góc độ pháp lý song song với góc độ kinh tế - xã hội (tâm lý) để có một cách nhìn tổng thể, khái quát, đánh giá đúng thực trạng hoại động phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện các qui định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam theo định hướng, chính sách của Đảng và Nhà nước, dần dần bắt kịp với sự phát triển của thị trường chứng khoán của các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 7

phái hành chứng khoán công ty.

- Đánh giá thực trạng pháp luật về phát hành chứng khoán công ty của Việt Nam

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của hoạt động phát hành chứng khoán công ty đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các qui định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam

4 - PHẠM VI NGHIÊN c ứ u

Luận văn chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các qui định của pháp luật về phát hành chứng khoán công ty, các loại chứng khoán do các chủ thể khác phái hành không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này

Cũng như hoạt động phát hành chứng khoán nói chung, phát hành chứng khoán công ty được thực hiện dưới hai hình thức: phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng Luận văn không đi sâu nghiên cứu về phát hành riêng lẻ mà chỉ tập trung vào nghiên cứu các qui định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ra công chúng, thực trạng, các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam

Khái niệm "chứng khoán công ty" được đề cập và nghiên cứu trong luận vãn này là theo nghĩa rộng, bao gồm chứng khoán của các công ty cổ phần, doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá, công ty quản lý quỹ, doanh nghiệp Nhà nước và công

ty trách nhiệm hữu hạn

5- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, lấy quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam làm cơ sở lý luận

- Sử dụng phương pháp so sánh, thống kê khảo sát thực tiễn, phương pháp khái quát hoá, trừu tượng hoá nhằm đánh giá thực trạng các qui định pháp luật điều chinh các hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, kết hợp với việc so sánh với qui định pháp luật của các nước trên thế giới để xây dựng và hoàn thiện các qui định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam

Trang 8

6 - BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

KẾT LUẬN

Trang 9

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHƯNG VỂ CHỨNG KHOÁN CÔNG TY

xã hội hoá

Chứng khoán, theo quan điểm của Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), được hiểu là:

- Quyền hưởng lãi hay lợi nhuận đối với vốn, tài sản, lợi ích thu nhập của Chính phủ, công ty hoặc quỹ đầu tư do đóng góp cổ phần hoặc vay nợ

- Quyền chọn (option), quyền bảo chứng (warrant), quyền mua các chứng khoán

- Mọi thoả thuận mà theo đó lợi ích của mỗi bên được đánh giá theo mục đích phát hành, chuyển nhượng hay chuyển nhượng lại quy chiếu với giá trị của lợi nhuận,

tỷ lệ thuận trong tổng lượng kỳ phiếu của tài sản hay trong số lượng tiêu chuẩn tủa tiền

tệ hay hàng hoá

- Một hợp đồng đầu tư mà theo đó nhà đầu tư có phần vốn trong tài sản và phần vốn này có thể được sử dụng chung với các khoản vốn khác hoặc theo đó người góp vốn được kỳ vọng về khoản lợi nhuận, tiền thuê hay thu nhập do nỗ lực của những người thúc đẩy hợp đồng đẩu tư hoặc của một bên thứ ba

Chứng khoán là tên thường gọi của các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản hoặc trái quyền, là giấy chứng nhận giúp cho người giữ chứng khoán chứng minh mình

có quyền hưởng lợi ích tương ứng với chứng khoán đó Theo quy định của pháp luật

Trang 10

Trung Quốc, chứng khoán được chia làm hai loại: chứng khoán có giá và chứng khoán bằng chứng Trong đó, chứng khoán có giá bao gồm chứng khoán tài vụ như hoá đơn vận chuyển, đơn lấy hàng và hoá đơn kho bãi; chứng khoán tiền tệ như ngân khoản, ngân phiếu định mức, phiếu chi chứng khoán tư bản như cổ phiếu, trái khoán công

ty Chứng khoán bàng chứng gồm hoá đơn tồn khoản, biên lai vay, biên lai thu [17].Theo pháp luật Việt Nam, chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán g h i‘sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán bao gồm:

a) Cổ phiếu;

b) Trái phiếu;

c) Chứng chỉ quỹ đầu tư;

d) Các loại chứng khoán khác [8]

Chứng khoán được chia thành nhiều loại dựa trên các-tiêu chí khác nhau

Căn cứ vào tính chất của chứng khoán, chứng khoán được chia thành chứng khoán vốn, chứng khoán nợ và các sản phẩm phái sinh từ chứng khoán (chứng quyền, bảo chứng quyền )

Căn cứ vào hình thức chứng khoán, chứng khoán được chia thành chứng khoán vô danh, chứng khoán ghi danh và chúng khoán hỗn hợp

Căn cứ vào lợi tức thu được từ chứng khoán, chứng khoán được chia thành chứng khoán có lợi tức cố định, chứng khoán khỏng có lợi tức cố định (lợi tức bất định)

Ngoài ra, căn cứ vào chủ thể phát hành chứng khoán, có thể phân chia chứng khoán thành các loại sau:

- Chứng khoán của Chính phủ;

- Chứng khoán của chính quyền địa phương ;

- Chứng khoán của các công t y

Chứng khoán công ty là một loại chúng khoán nên có đầy đủ các tính chất, đặc điểm của chứng khoán nói chung Chứng khoán công ty chính là loại chứng khoán do các công

ty phát hành theo quy định của pháp luật

Trang 11

Từ đó, có thể định nghĩa chứng khoán công ty như sau: “Chứng khoán công ty

là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người

sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của công ty phát hành" Chứng khoán

công ty bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác (chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng quyền )

Như vậy, chứng khoán công ty là một trong những công cụ huy động vốn trung và dài han của các công ty nhằm đáp ứng nhu cầu tăng vốn phát triển sản xuất, kinh doanh Đồng thời, chứng khoán công ty cũng chính là bằng chứng về quyền sở hữu của người sở hữu chứng khoán đối với vốn và tài sản của công ty phát hành

1.1.2 Đặc điểm

Chứng khoán công ty là một loại hàng hoá đặc biệt nhưng cũng có đầy đủ những thuộc tính của hàng hoá thông thường (giá trị và giá trị sử dụng) Hai thuộc tính này được thể hiện cụ thể ở 3 đặc điểm của chứng khoán: tính thanh khoản, tính sinh lợi và tính rủi ro

- Tính thanh khoản của chứng khoán là sự dễ dàng trong việc chuyển chứng khoán sang tiền mặt mà không làm giảm sút giá trị tiền tệ của nó Tính thanh khoản của chứng khoán được đảm bảo bởi hai yếu tố là thời gian thực hiện các thủ tục để chuyển chứng khoán sang tiền mặt phải nhanh chóng, phí tổn chuyển đổi phải thấp

và giá trị tiền tệ của chứng khoán đó phải được đảm bảo tránh được những rủi ro trên thị trường

- Tính sinh lợi của chứng khoán chính là khả năng tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu chứng khoán Khi đầu tư vào chứng khoán, chủ đầu tư mong muốn thu về một khoản lợi nhuận như lãi suất cố định trong một khoảng thời gian nhất định (đối với trái phiếu) hoặc cổ tức (đối với cổ phiếu), khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán

- Tính rủi ro của chứng khoán là những rủi ro mà nhà đầu tư có thể gặp phái dưới tác động của các quan hộ thị trường đối với quá 'trình luân chuyển và sử dụng vốn Rủi ro được chia thành ba loại chính sau:

+ Rủi ro không thanh toán là nguy cơ mất một phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư

do sự phá sản của tổ chức phát hành chứng khoán (mất khả năng thanh toán các

Trang 12

khoản nợ đến hạn).

+ Rủi ro thị trường là những rủi ro phát sinh từ sự xáo động về giá cả của chứng khoán trên thị trường do tác động của các sự kiện chính trị, chính sách kinh tế, các yếu

tố làm cho giá cả bị đẩy lên hoặc kéo xuống một cách giả tạo

+ Rủi ro lạm phát là rủi ro phát sinh do lạm phát tiền tệ như làm cho thu nhập thực tế từ chứng khoán giảm sút, khả năng hoàn vốn của các chứng khoán nợ cùng giảm Nghĩa là, nếu tỷ lệ lạm phát cao hơn lãi suất đầu tư thì giá trị thực của khoản đầu tư sẽ mất dần theo thời hạn đầu tư

Các đặc điểm trên của chứng khoán có tác động qua lại với nhau Chứng khoán

có tính sinh lợi cao cũng là chứng khoán có tính rủi ro cao và tính thanh khoản thấp Ngược lại, để đảm bảo khả năng thu hồi vốn (tính thanh khoản cao), ít rủi ro (tính rủi ro thấp) thì chứng khoán có tính sinh lợi thấp (lợi nhuận thu được thấp).'Do đó, trước khi đầu tư vào từng loại chứng khoán cụ thể, nhà đầu tư phải phân tích, xem xét và lựa chọn loại chứng khoán phù hợp

Ngoài các đặc điểm chung, chứng khoán công ty còn có một số đặc điểm riêng khác các loại chứng khoán do các chủ thể khác phát hành như sau:

CHÚNG KHOÁN CÔNG TY ( HÚNG KHOÁN CỦA CHỦTl ỈỂ KI LÚChủ thể Do các công ty phát hành (công ty cổ

phần, công ty TNHH, các tổ chức tín dụng cổ phần, doanh nghiệp Nhà nước,' doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán)

Do Chính phủ, chính quyền địa phương, phát hành

Tính rủi ro Cao hơn (phụ thuộc vào tình hình sản

xuất kinh doanh của công ty)

Thấp hơn

Lãi suất Cao hơn, thường phụ thuộc vào tình

hình sản xuất kinh doanh của công ty, đôi khi phải chịu lỗ

Thấp hơn, ổn định (lãi suất được ấn định trước)

Trang 13

1.1.3 Các loại chứng khoán công ty

Theo khái niệm phổ biến trên thế giới, cổ phiếu là một hình thức chủ yếu của chứng khoán có giá, là chứng nhận cổ phần do công ty cổ phần giao cho nhà đầu tư

và người giữ có quyền được hưởng lợi ích, đồng thời cũng phải gánh chịu trách nhiệm cùng với những rủi ro của công ty Ở Việt Nam, theo Điều 59 Luật Doanh nghiệp 1999, cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi

sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty Và tại điểm 1.1 Chương I Thông tư 01/1998nT-UBCK ngày 13/10/1998 của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về phát hành cổ phiếu,

trái phiếu ra công chúng định nghĩa “C ổ phiếu là một loại chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần".

Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ

do công ty cổ phần được phép phát hành theo quy đinh của pháp luật phát hành nhàm xác nhận quyền sở hữu đối với một hoặc một số cổ phần của công ty đó

Hiện nay, theo quy định của pháp luật V iệt Nam, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá được phép phát hành cổ phiếu Nên cổ phiếu

có thể được định nghĩa như sau: c ổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ do tổ chức được phép phát hành theo quy định của pháp luật phát hành nhằm xác nhận quyền sở hữu đối với một hoặc một số cổ phần của tổ chức đó

Cổ phiếu của công ty có một số đặc điểm sau:

Trang 14

- Là chứng chỉ có giá, phản ánh quan hệ góp vốn vào công ty giữa nhà đầu

tư và công ty phát hành được pháp luật công nhận và bảo hộ c ổ phiếu được phát hành theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

- Là vãn bản ghi nhận sự góp vốn vào công ty, do đó, cổ phiếu là cơ sở xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ góp vốn và là căn cứ quan trọng để các bên thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Là chứng chỉ có giá nên có thể được coi là hàng hoá và được phép mua bán chuyển nhượng trên thị trường (trừ các loại cổ phiếu bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận ghi trong điều lệ công ty)

- Là loại chứng khoán có thời hạn không xác định, nó tồn tại cùng với sự tổn tại của công ty cổ phần

Cổ phiếu được phân thành các loại sau:

- Dựa vào hình thức phát hành, cổ phiếu được chia thành 2 loại: cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu vồ danh

+ Cổ phiếu ghi danh là cổ phiếu có ghi tên chủ sở hữu và khi chuyển nhượng phải tuân theo những quy định riêng, c ổ phiếu loại này thường là cổ phiếu của thành viên Hội đổng quản trị, cổ phiếu bán chịu cho người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá

+ Cổ phiếu vô danh là cổ phiếu không ghi tên chủ sở hữu và được tự do chuyển nhượng trên thị trường

- Dựa vào mục đích huy động vốn, cổ phiếu được chia thành cổ phiếu sơ cấp và

Trang 15

+ c ổ phiếu thường là loại cổ phiếu mà mọi công ty cổ phần đều phải phát hành khi thành lập công ty để xác định quyền sở hữu vốn, quyền quản lý, kiểm soát công ty và hưởng

cổ tức theo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Do đó, cổ phiếu thường có tính rủi ro cao, mức cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh

+ Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu mà người sở hữu được hưởng một hoặc một

số đặc quyền theo quy định của pháp luật hoặc theo điều lộ công ty nhưng đồng thời

bị hạn chế một số quyền nhất định

Cổ phiếu ưu đãi có các loại cơ bản sau:

C ổ phiếu ưu đãi biểu quyết: là loại cổ phiếu cho người sở hữu nó có quyền biểu

quyết nhiều hơn cổ phiếu phổ thông trong Đại hội động cổ đông, trong Hội đồng quản trị và chỉ các cổ đông sáng lập, tổ chức được Chính phủ uỷ quyền được phép nắm giữ Số phiếu biểu quyết của cổ phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ công’ ty quy định Quyền ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chi có hiệu lực trong thời hạn 3 năm kể từ khi công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, c ổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi biểu quyết có toàn bộ quyền như cổ đông sở hữu cổ phiếu thường và không được phép chuyển nhượng cổ phiếu ưu đãi biểu quyết Sau 3 năm, cổ phiếu ưu đãi được chuyển thành cổ phiếu thường

C ổ phiếu lũi đãi cổ tức: là cổ phiếu được trả cổ tức cao hơn cổ phiếu thường hay

theo một mức ổn định hàng năm và được nhận lại tài sản còn lại khi giải thể hoặc phá sản trước cổ phiếu thường Mức cổ tức và phương thức xác định cổ tức cụ thể được ghi tại điều lệ công ty hoặc ghi ngay trên cổ phiếu, c ổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức

cố định và cổ tức thưởng, c ổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Ngoài ra, khi công ty hoạt động kinh doanh có lãi, người sở hữu cổ phiếu ưu đãi cổ tức còn được hưởng thêm phần cổ tức thưởng, c ổ đông sở hữu cổ phiếu

ưu đãi cổ tức không có quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông, không có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

C ổ phiếu ưu đãi hoàn lại: là cổ phiếu mà cổ đông có quyền yêu cầu công ty phái

hành hoàn lại vốn bất kỳ lúc nào hoặc theo những điều kiện ghi trên cổ phiếu và cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi hoàn lại cũng không có quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông, không có quyền đề cử ngưòi vào Hội đồng quản tạ và Ban kiểm soát

Trang 16

c ổ phiếu ưu đãi chuyển đổi: là cổ phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu thường

theo quyết định của Hội đồng quản trị với giá và tỷ lệ chuyển đổi ghi trong hợp đồng giữa cổng ty phát hành và cổ đông

Ngoài ra còn có một số loại cổ phiếu ưu đãi khác như cổ phiếu un đãi tích luỹ,

ưu đãi thu hồi, ưu đãi dự phần

/.7.5.2 Trái phiếu

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhu cầu huy động vốn ngắn hạn và trung hạn để bổ sung vốn lưu động của các công ty là thường xuyên và lặp đi lặp lại theo chu kì sản xuất kinh doanh Và cũng vì tính chu kì của nhu cầu vốn

đó mà các công ty lựa chọn giải pháp đi vay tăng vốn lưu động (phát hành trái phiếu) chứ không huy động tăng vốn điều lộ (phát hành cổ phiếu) Không giống như các hình thức vay khác (vay gián tiếp), phát hành trái phiếu là hình thức vay trực tiếp từ các nhà đầu tư và mang lại lợi ích cho cả nhà đầu tư và tổ chức phát hành: tổ chức phát hành có thể giảm bớt được chi phí đi vay (không phải trả lãi trung gian) còn nhà đầu tư thì có thể chuyển ngay khoản cho vay thành tiền mặt khi cần mà không phải chờ đến thời điểm đáo hạn

Trái phiếu là loại chứng khoán nợ, cho phép người sở hữu trái phiếu được hưởng lãi suất đều đặn theo định kỳ (một tháng, ba tháng, nửa năm, một năm .) hoặc vào thời điểm đáo hạn mà không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành Người sở hữu trái phiếu (chủ nợ) được ưu tiên nhận lại tài sản trước người sở hữu cổ phiếu khi công ty giải thể hoặc phá sản Trái phiếu có độ rủi

ro cao thì có khả năng thu lợi nhuận cao và ngược lại trái phiếu có độ rủi ro thấp thì

có khả năng thu lợi nhuận thấp

Theo qui định của pháp luật Việt Nam, trái phiếu là loại chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái phiếu [40]

Theo đó, trái phiếu công ty có thể được hiểu là loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ của công ty phát hành đối với người sở hữu trái phiếu

Trang 17

Trên thế giới, tuỳ theo mục đích, nhu cầu của nhà đầu tư và công ty phát hành, trái phiếu công ty (corporate bond) bao gồm các loại cơ bản sau:

- Trái phiếu kèm quyền đòi nợ trước hạn (option bond or put bond): là những trái phiếu dài hạn cho phép người sở hữu thanh toán trái phiếu trước hạn theo mệnh giá của trái phiếu vào thời điểm tròn một năm sau ngày phát hành hoặc vào đúng ngày này vào mỗi năm tiếp theo

- Trái phiếu đăng ký vốn gốc (registered as to principal only): là trái phiếu lãi suất

có phần vốn được đăng ký theo tên của người sở hữu trái phiếu còn phần lãi suất đính kèm dưới dạng vô danh Bất kỳ ai cầm phiếu lãi suất đều có thê’ bán lại hoặc được hưởng phần lãi suất ghi trên phiếu, còn phần vốn đã đăng ký thì chỉ có thể do chính người đăng ký trái phiếu chuyển nhượng

- Trái phiếu đăng ký vốn gốc và lãi (Registered as to principal and interest): là trái phiếu không có phần lãi suất đính kèm Cả vốn và lãi suất chỉ trả cho người sở hữu trái phiếu theo một thời hạn nhất định

- Trái phiếu kèm phiếu lãi suất (coupon bond): là trái phiếu có đính kèm theo phiếu lãi suất Các quyền lợi của trái phiếu kèm phiếu lãi suất được chuyển nhượng thông qua việc giao trái phiếu cho người mua

- Trái phiếu chuyển đổi (convertible bond): là trái phiếu mà người sở hữu có thêđcm đổi thành loại chứng khoán khác do cùng một công ty phát hành Các trái phiếu này thường được đổi thành cổ phiếu thường hoặc đôi khi thành cổ phiếu ưu đãi của công ty phát hành Trái phiếu chuyển đổi có thể bị công ty thu hồi trước thời hạn

- Trái phiếu bất động sản (real estate bond): là trái phiếu có lãi suất thôngthường cộng với một tỷ lệ tăng giá trị bất động sản nhất định

- Trái phiếu ổn định (stabilized bond): là trái phiếu có phương thức thanh toán

nợ dựa trên sức mua của đổng USD

- Trái phiếu vàng (gold bond): là trái phiếu thanh toán bằng tiền vàng Hiện nay, ngoài trái phiếu vàng còn có loại trái phiếu tiền tệ (currency bond) là trái phiếu được thanh toán bằng đồng tiền pháp định của từng quốc gia

- Trái phiếu vĩnh viễn (perpetual bond): là trái phiếu không có ngày đáo hạn,

16

Trang 18

thời điểm thanh toán nợ tuỳ thuộc vào cổng ty phát hành.

- Trái phiếu uỷ thác thế chấp (collateral trust bond): là trái phiếu được bảo đảm bằng quyền giữ tài sản thế chấp của một loạt các chứng khoán nợ khác do người nhận uỷ thác hoặc công ty uỷ thác giữ Loại trái phiếu này thường do công ty mẹ phát hành trên cơ sở thế chấp các chứng khoán cua công ty con

- Chứng chỉ người tiếp quản (receivers certificates): là chứng chỉ do người tiếp quản công ty đang trong tình trạng phá sản phát hành nhằm cung cấp vốn cho hoạt động bảo vệ tài sản còn lại của công ty Đây là các giấy nhận nợ ngắn hạn được toà

án chấp thuận

- Trái phiếu mua bất động sản (purchase money bond): là trái phiếu được bảo đám bằng tài sản được sử dụng như tiền mặt mà bên mụa thế chấp cho bên bán nhằm mục đích bảo đám đối ứng với giá trị bất động sản đã bán trên sổ sách kế toán, sỏ' tiền thu được từ bán trái phiếu được dùng để thanh toán tiền mua bất động sản

- Trái phiếu chuyển tiếp (imterim bond): là các chứng chỉ trái phiếu tạm thời và

có thể được chuyển đổi thành trái phiếu có kỳ hạn xác định

- Trái phiếu gia hạn (extended bond): là trái phiếu mà công ty phát hành có quyền kéo dài thời hạn thanh toán trái phiếu

- Trái phiếu chi nhánh (divisional bond): là trái phiếu xác định nghĩa vụ trả nợ thuộc về các chi nhánh hoặc các đơn vị trực thuộc hoặc công ty con

- Trái phiếu dự tính (assumed bond): là trái phiếu được phát hành dựa trên các khoản nợ và tài sản nợ được dự tính trước của công ty đang bị chiếm hữu (bị thôn tính) bằng hình thức trao đổi cổ phần

- Trái phiếu liên kết (joint bond): là trái phiếu được bảo đảm thanh toán bằng các tài sản khác nhau của các công ty liên kết

- Trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu ký hậu (guaranted bond or indorsed bond): là trái phiếu được bảo đảm thanh toán vốn và lãi bởi công ty khác ngoài công

ty phát hành

- Trái phiếu dự phần (participating bond): là trái phiếu cho phép người sở hữu được hưởng một phần lợi nhuận từ hoạt động kinh cỊoanh của công ty phát hành

Trang 19

- Trái phiếu tổng hợp (consolidated bond): là trái phiếu được bảo đảm bằng việc thế chấp tổng hợp một nhóm các tài sản hoặc một nhóm các trái phiếu khác của công ty.

- Trái phiếu mệnh giá đôla (dolar-denominated foreign bond): là trái phiếu do công ty nước ngoài phát hành

- Trái phiếu đám bảo bằng hàng hoá (commoduty-backed bond): là trái phiếu

có mệnh giá tương ứng với giá của một số hàng hoá nhất định

- Trái phiếu có lãi suất thả nổi hoặc điều chỉnh (floating rate or variable rate bond): là trái phiếu có lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ

Ở Việt Nam, thường chỉ phổ biến một số loại trái phiếu cồng ty như trái phiếu

có báo đảm bằng tài sản, trái phiếu không có tài sản bảo đảm, trái phiếu uỷ thác thế chấp, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có thể thu hồi, trái phiếu lãi suất chiết khấu, trái phiếu mệnh giá đôla, trái phiếu vàng

Phát hành trái phiếu là một phương thức huy động vốn trung và ngắn hạn mang lại hiệu quả cao Các loại trái phiếu đa dạng hình thành trên cơ sở nhu cầu, sở thích của nhà đầu tư và nhu cầu huy động, sử dụng vốn của công ty phát hành, tạo cơ hội cho cả nhà đầu tư và tổ chức phát hành đạt được mục đích của mình Việt Nam đang khuyến khích và mở rộng các loại trái phiếu công ty được phép lưu hành để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường vốn trung và ngắn hạn

ỉ l 3.3 Các loại chứng khoán khác

Trên thị trường giao dịch chứng khoán, bên cạnh các giao dịch cổ phiếu và trái phiếu còn có các giao dịch về một số loại chứng từ tài chính như chứng chỉ quỹ đầu

tư, chứng quyền, bảo chứng phiếu

a - Chứng chỉ quỹ đầu tư

Khi trực tiếp đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu công ty không phải lúc nào nhà đầu tư cũng đầu tư được vào những chương trình, dự án có hiệu quả cao và không phải nhà đầu tư nào cũng có đủ điều kiện về thông tin, thời gian, kiến thức để sử dụng vốn của mình có hiệu quả Do đó, quỹ đầu tư ra đời với vai trò trung gian trong quá trình đầu tư vốn - sử dụng vốn là hình thức đảm bảo tốt nhất lợi ích của nhà đầu

Trang 20

tư cũng như công ty nhận đầu tư vì:

(1) Quỹ đầu tư là tổ chức hoạt động chuyên nghiệp nên có đội ngũ nhân viên

có trình độ chuyên môn, có điều kiện thu thập, xử lý thông tin về đầu tư, có khá năng đánh giá chính xác tiềm lực và khả năng của công ty gọi đầu tư;

(2) Thông qua quỹ đầu tư, chi phí đầu tư giảm;

(3) Có thể phân tán rủi ro đầu tư thông qua việc mua chứng khoán của nhiều cổng ty phát hành

Tại Điều 3 Quy chế về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ ban hành kèm theo Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày

13/10/1998 của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước định nghĩa: “Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đẩu tư được uỷ thác cho công tỵ quản lý quỹ và phải đầu tư chứng khoán tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ”.

Chứng chỉ quỹ đầu tư là văn bản xác nhận sự góp vốn của nhà đầu tư vào quỹ đầu

tư do công ty quản lý quỹ phát hành theo quy định của pháp luật Người sở hữu chứng chỉ quỹ đầu tư không phải là thành viên của quỹ mà chỉ được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư của quỹ Tài sản của tổ chức phát hành chứng chỉ với tài sản của quỹ đầu tư độc lập với nhau Việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư chỉ làm tăng vốn của quỹ đầu tư mà không làm tăng vốn của tổ chức phát hành (công ty quản lý quỹ)

Chứng chỉ quỹ đầu tư được chia thành hai loại: chứng chỉ quỹ đầu tư mở (open- end) và chứng chỉ quỹ đầu tư đóng (close-end)

- Chứng chỉ quỹ đầu tư mở là chứng chỉ cho phép người sở hữu bán lại chứng chỉ cho công ty phát hành vào những thời điểm quy định tại điều lệ của quỹ

- Chứng chỉ quỹ đầu tư đóng là chứng chỉ không cho phép người sở hữu bán lại chứng chỉ cho công ty phát hành trước thời hạn kết thúc hoạt động hoặc giải thể Loại chứng chỉ này được tự do chuyển nhượng

b - Chứng quyền

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, khi cần tăng vốn điều lệ, các công ty cổ phần thường phát hành thêm cổ phiếu mới Việc tăng cổ đông mới làm ảnh hưởng đến tỷ lệ tài sản và quyền kiểm soát công ty của các cổ đông cũ Để bảo vệ quyền

Trang 21

lợi của cổ đông hiện hữu, các công ty khi phát hành thêm cổ phiếu mới thường dành cho các cổ đông hiện hữu mua một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu sắp phát hành với một số điều kiện ưu đãi Các cổ đông hiện hữu sẽ được nhận chứng chỉ mua cổ phiếu mới của công ty theo tỷ lệ vốn cổ phần của mình.

Do vậy, chứng quyền chính là văn bản ghi nhận quyền được mua một số lượng xác định cổ phiếu mới của công ty với một số điều kiện ưu đãi trong một thời hạn nhất định Chứng quyền được tự do chuyển nhượng

1.2 PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY

1.2.1 Khái niệm phát hành chứng khoán công ty

Phát hành chứng khoán là khâu khởi đầu trong các hoạt động trên thị trường chứng khoán Thông qua hoạt động phát hành, các chứng khoán lần đầu tiên được đưa ra giao dịch trên thị trường và các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại để sử dụng vào các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội

Phát hành chứng khoán công ty là việc các công ty phát hành các loại giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu) xác nhận sự vay nợ hoặc góp vổn để huy động vốn trực tiếp từ nhà đầu tư cho mục đích phát triển sản xuất kinh doanh nhất định của công ty

Việc phát hành chứng khoán nói chung và phát hành chứng khoán công ty nói riêng đều phải tuần theo những cơ chế nhất định Phát hành chứng khoán công ty thực chất là việc chuyển nhượng quyền sử dụng vốn giữa nhà đầu tư và công ty, là việc thiết lập mối quan hệ ràng buộc (tạo lập quyền và nghĩa vụ) giữa công ty phát hành và nhà đầu tư Công ty phát hành nhận được vốn và nhà đầu tư nhận được khoản lợi tức ngay khi mua hoặc sau một thời gian nhất định

Nói tóm lại, phát hành chứng khoán công ty là hình thức phân phối chứng khoán của công ty phát hành cho nhà đầu tư theo các trình tự, thủ tục luật định

Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các bên liên quan đến quá trình phát hành chứng khoán công ty như phát hành chứng khoán, bảo lãnh phát hành, thanh toán, giải quyết tranh chấp phát sinh nhằm đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động phát hành chứng khoán, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư

Trang 22

1.2.2 Bản chất, ý nghĩa của hoạt động phát hành chứng khoán công ty

Phát hành chứng khoán tạo ra một lượng vốn lớn bổ sung cho vốn điều lệ và vốn lưu động của công ty để công ty triển khai các kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình Đây là hình thức huy động vốn trực tiếp, có đảm bảo và có khả năng sử dung lâu dài Do đó, công ty phát hành giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, không quá lo lắng về thời gian hoàn trả (đối với các khoản vay ngân hàng) và có thể chia sẻ rủi ro trong kinh doanh (đối với trường hợp phát hành cổ phiếu) Đối với nhà đầu tư, thông qua hoạt động phát hành chứng khoán, có thể chuyển các khoản tiền tiết kiệm thành các khoản đầu tư để có cơ hội thu được lợi nhuận cao Hơn lãi suất tiền gửi nhưng khi cần thiết họ vẫn có thể chuyển đổi các chứng khoán công ty thành tiền mặt thông qua các giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán (tập trung và phi tập trung) Đổng thời, khi mua cổ phiếu của công ty, nhà đầu tư còn có cơ hội tham gia vào hoạt động kiểm soát và quản lý công ty (chủ động trong đầu tư)

Trên thực tế, chủ thể của quan hệ phát hành chứng khoán công ty gồm công ty phát hành và nhà đầu tư Công ty cần vốn bổ sung cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào công ty để thu lợi nhuận Do vậy, về bản chất, có thể coi quan hệ phát hành chứng khoán công ty là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vốn Cụ thể, bản chất quan hệ phát hành cổ phiếu là hợp đồng góp vốn, trong đó các cổ đông có vị trí nhất định, được hưởng lợi nhuận và phải gánh chịu các khoản lỗ của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty Còn bản chất quan hệ phát hành trái phiếu công ty là hợp đồng vay nợ, trong đó công ty phát hành là “con nợ” (cam kết nhận nợ) và nhà đầu tư là “chủ nợ”

Trong từng loại quan hệ phát hành chứng khoán khác nhau, quyền, nghĩa vụ của công ty phát hành và nhà đầu tư cũng được xác định khác nhau Tuỳ theo mục đích, nhu cầu, khả năng của mình, công ty phát hành và nhà đầu tư lựa chọn loại quan hệ phát hành chứng khoán cho phù hợp

1.2.3 Các hình thức phát hành

Trong hoạt động phát hành chứng khoán, có rất nhiều yếu tố tác động đến việc lựa chọn hình thức phát hành chứng khoán của công ty phát hành như nhu' cầu về vốn (số lượng vốn cần huy động, thời gian sử dụng vốn, mục đích sử dụng

Trang 23

vốn ), quy mô vốn của công ty (nhỏ, vừa hay lớn), kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty (có hiệu quả cao, hiệu quả thấp hoặc thua lỗ), uy tín của công ty trên thương trường và cả các trình tự, thủ tục điều kiện bất buộc đối với từng hình thức phát hành như yếu tố về mức vốn, kiểm toán, luật sư, tổ chức bảo lãnh phát hành, số lượng cổ đông trong đợt phát hành, thời gian Do đó, trước khi phát hành, công ty phải lựa chọn cho mình hình thức phát hành chứng khoán phù hợp để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc huy động vốn.

Có hai hình thức phát hành chứng khoán là phát hành chứng khoán riêng lẻ và phát hành chứng khoán ra cồng chúng

- Phát hành chứng khoán riêng lẻ hay còn gọi là phát hành chứng khoán nội bộ

là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán trong phạm vi một số nhầ đầu tư nhất định với khối lượng phát hành hạn chế

Hiện nay, ở Việt Nam, không có văn bản quy phạm pháp luật cụ thể điều chỉnh chung các hoạt động phát hành chứng khoán riêng lẻ và hoạt động phát hành chứng khoán riêng lẻ cũng không chịu điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán mà chịu sự điều chỉnh của các luật riêng như Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp

Chứng khoán được phát hành theo hình thức phát hành riêng lẻ không thuộc đối tượng chào bán trên thị trường giao dịch chứng khoán tập trung (Sở giao dịch, trung tâm giao dịch chứng khoán)

- Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán rộng rãi ra công chúng, cho một số lượng lớn các nhà đầu tư (trong tổng số lượng phát hành phải dành một tỷ lệ nhất định bán cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt đến một mức nhất đinh

Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải là công ty đại chúng và chứng khoán được phát hành gồm các loại cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác (chứng quyền, bảo chứng phiếu )

Tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường

chứng khoán xác định “Phát hành ra công chúng là việc chào bán chứng khoán có

th ể chuyển nhượng được theo các quy định tại khoán 5 Điều 6 và khoản 2

Trang 24

Điêu 8 Nghị định này".

Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng được thực hiện theo một trong hai hình thức: phát hành lần đầu ra công chúng (IPOs) và chào bán sơ cấp Trong đó phát hành trái phiếu ra công chúng chỉ được thực hiện theo hình thức chào bán sơ cấp

Phát hành lán đáu ra cống chúng là đợt phát hành trong đó cổ phiếu của công

ty lần đầu tiên được chào bán rộng rãi ra công chúng Hoạt động này thường được tiến hành vào lúc thành lập công ty cổ phần

Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp) là đợt phát hành-chứng khoán bổ sung của công ty đại chúng bán (phân phối) rộng rãi cho công chúng đẩu tư

Việc phát hành chứng khoán phải tuân thủ các quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được cơ quan

có thẩm quyền cấp phép Và đặc biệt đối với việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung phải tuân theo quy định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán và các văn bản khác có liên quan

Việc phân định các phương thức phát hành chứng khoán (riêng lẻ hoặc ra công chúng) là nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư thiểu số (nhà đầu tư nhỏ) nói riêng Thông thường các công ty phát hành ra công chúng là các công ty có vốn lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô lớn, có hiệu quả Còn các công ty vừa và nhỏ, có quy mô vốn

và quy mô sản xuất kinh doanh hạn chế, hiệu quả hoạt động chưa cao, bị hạn chế

về số lượng nhà đầu tư và mức vốn phát hành nên thường thực hiện việc phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng nhưng không niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung

1.2.4 Chủ thể phát hành

Chủ thể phát hành chứng khoán côns ty là các công ty Cône; ty phát hành ở đâv được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ đơn thuần là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hiru hạn mà còn có các các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, tổ chức tín dụng cổ phần

Trang 25

ỉ 2.4.1 Công ty cổ phần

Theo qui định của pháp luật Việt Nam, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:

a - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần;

b - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào doanh nghiệp;

c - Cổ đông có thể tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ quy định tại khoản 3 Điều 55 và khoản 1 Điều 58 Luật Doanh nghiệp;

d - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đống tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa [14]

Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn Vốn của công ty cổ phần được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn góp của các cổ đông (thông qua phát hành cổ phiếu), một phần từ nguồn vốn vay gián tiếp (thông qua các tổ chức tín dụng) và nguồn vốn vay trực tiếp từ nhà đầu tư (thông qua phát hành trái phiếu) đê bổ sung vốn điều lệ Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hàng hoá giao dịch chủ yếu trên thị trường chứng khoán là chứng khoán do các công ty cổ phần phát hành Như vậy, giữa thị trường chứng khoán và công ty cổ phần có mối quan hê mật thiết với nhau Sự phát triển của công ty cổ phần góp phần quan trọng giúp thị trường chứng khoán phái triển và hoạt động có hiệu quả Ngược lại, sự phát triển của thị trường chứng khoán tác động trở lại tới sự phát triển của công ty cổ phần Để chứng khoán của công ty mình có ưu thế trên thị trường chứng khoán các công ty phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ, cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ khoa học công nghệ Đồng thời,- sự phát triển của thị trường chứng khoán giúp các công ty cổ phần huy động được nhiều vốn hơn để đáp ứng các yêu cầu phát triển của công ty

1.2.4.2 Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao

Hiện nay, kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc

Trang 26

dân Trong chủ trương cải cách nền kinh tế, ngoài việc cần phái sắp xếp, tổ chức lại các DNNN còn cần phải tạo vốn cho DNNN Nhưng bên cạnh vốn do Nhà nước đầu

tư, DNNN còn được phép chủ động trong việc huy đỏng vốn từ các khu vực khác trong nền kinh tế Tại điểm c khoản 1 Điều 8 Luật DNNN quy định DNNN được “///

huy động vốn đ ể sản xuất kỉnh doanh nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu; được phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật”.

Các quy định về phát hành chứng khoán DNNN nằm rải rác ở các văn bản khác nhau và chưa đổng bộ Chẳng hạn như tại Điều 2 Quy chế tạm thời về việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu DNNN ban hành kèm theo Nghị định 120/CP ngày

17/9/1994 quy định “cổ p h iếu doanh nghiệp Nhà nước là chứng chỉ thừa nhận vốn của chủ sở hữu cổ phiếu do doanh nghiệp Nhà nước phủi hành nhằm huy động vốn góp vào D N N N đang hoạt động hoặc đóng góp vốn thành lập D N N N mới mà Nhà nước là người sáng lập” Nhưng tại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật DNNN chỉ cho

phép DNNN phát hành trái phiếu Và ngay trong quy định của Luật DNNN cũng chưa có sự thống nhất (từ Điều 51 đến Điều 54 quy định về cổ phần chi phối và cổ phần đặc hiệt do Nhà nước nấm giữ trong DNNN [15])

Như vậy, có thể hiểu DNNN được phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu theo tý lệ nhất định để đám bảo tỷ lệ cổ phần đặc biệt và cổ phần chi phối của Nhà nước trong doanh nghiệp (không làm thay đổi hình thức sở hữu)

1.2.4.3 Doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá

Các DNNN thực hiện cổ phần hoá là các doanh nghiệp do Nhà nước thành lập,

có 100% vốn được cấp từ ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, hệ thống DNNN ở Việt Nam hiện nay quá lớn, chiếm lĩnh những lĩnh vực kinh tế quan trọng, nhưng đa số các DNNN làm ăn khống có hiệu quả Do đó, Nhà nước có chủ trương chuyển đổi

cơ cấu của một số DNNN sang hoạt động như một công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, trong đó có sự liên kết về vốn giữa Nhà nước và tư nhân Việc chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002

Do bản chất là công ty cổ phần, DNNN cổ phần được phép phát hành cổ phiếu,trái phiếu trực tiếp tại doanh nghiệp hoặc thông qua các đại lý là các tổ chức trung

Trang 27

gian tài chính hoặc thông qua các sở, trung tâm giao dịch chứng khoán Các đối tượng được tham gia mua cổ phần tại các doanh nghiệp này là các cá nhân, tổ chức người Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài định cư tại Việt Nam và phải đảm bảo tỷ lệ góp vốn theo quy định của pháp luật.

1.2.4.4 Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán

Theo quy định tại Chương V Nghị định 48/1998/NĐ-CP và Quyết định số 05/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ, để được cấp giấy phép hoạt động, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải đảm bảo các điều kiện sau:

(1) là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) được thành lập theo quy định của pháp luật, có mức vốn pháp định là 5 tỷ đồng;

(2) có đội ngũ nhân viên nghiệp vụ được đầo tạo về chứng khoán, có cơ sở vật chất, kỹ thuật đảm bảo thực hiện hoạt động quản lý quỹ theo quy định;

(3) có người điều hành công ty quản lý quỹ và điều hành quỹ được u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hành nghề kinh doanh chứng khoán

Như vậy, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn nên được phép phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán công ty

1.2.4.5 TỔ chức tín dụng c ổ phần

Tổ chức tín dụng cổ phần, theo quy định tại Quy chế về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ của tổ chức tín dụng cổ phần ban hành kèm theo Quyết định số ngày 7/11/1994 của Ngân hàng Nhà nước, bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần

và công ty tài chính cổ phần

Với tư cách là công ty cổ phần, tổ chức tín dụng cổ phần được phép phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật về công ty cổ phần và tổ chức tín dụng cổ phần

1.2.4.6 Công ty trách nhiệm hữu hạn

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là công ty có không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty (tính TNHH) Thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các

Trang 28

khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cam kết gópvào công ty.

Trước đây, theo Luật Công ty 1990, công ty TNHH không được phát hành chứng khoán Hiện nay, theo Luật doanh nghiệp 1999, công ty TNHH được phép phát hành chứng khoán nhưng chỉ giới hạn ở loại hình trái phiếu công ty (khoản 3 Điều 26 và khoản 3 Điều 46)

Thông qua việc phát hành trái phiếu, công ty TNHH đã vay được vốn trực tiếp

từ nhà đầu tư với số lượng lớn, thời gian sử dụng vốn dài hạn, đáp ứng được nhu cầu

mở rộng sản xuất kinh doanh, đồng thời có thể tránh được các điều kiện, thủ tục phức tạp, lãi suất cao khi vay vốn từ ngân hàng

1.2.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia

1.2.5.1 C ông ty p h á t hành ( khái niệm “công tỵ” ở mục này được hiểu theo

nghĩa rộng - là các chủ thể phát hành chứng khoán công ty)

Công ty phát hành cổ phiếu là công ty lập và ký phát hành chứng khoán để thừa nhận quyền sở hữu vốn của doanh nghiệp tương ứng với phần vốn góp ghi trên

cổ phiếu, đồng thời cam kết thực hiện các nghĩa vụ của công ty theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty

Công ty phát hành chứng khoán có các nghĩa vụ sau:

(1) ghi tên nhà đầu tư vào sổ đăng ký cổ đông của công ty;

(2) bảo đảm các quyền, lợi ích của cổ đông theo quy định của pháp luật và điều,

27

Trang 29

Công ty phát hành chứng khoán có các quyền sau:

(1) chào bán chứng khoán sau khi được UBCKNN cấp giấy phép phát hành chứng khoán;

(2) sử dụng số tiền thu được từ đợt phát hành cho các dự án, kế hoạch phát triển công ty đã ghi trong hồ sơ xin phép phát hành;

(3) khởi kiện tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc đại lý phát hành khi phát hiện các

tổ chức đó vi phạm hợp đồng bảo lãnh hoặc hợp đồng đại lý đã ký kết

1.2.5.2 Nhà đầu tư

Nhà đầu tư là cá nhân hoặc tổ chức góp vốn vào công ty thông qua việc mua chứng khoán công ty và được hưởng lợi từ việc sở hữu chứng khoán đó

Nhà đầu tư có các quyền sau:

(1) yêu cầu được mua đủ số lượng chứng khoán đã đăng ký mua;

(2) chuyển nhượng quyền mua chứng khoán cho nhà đầu tư khác nếu được công ty chấp thuận;

(3) khởi kiện công ty phát hành hoặc các bên có liên quan khi họ vi pham các quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán ra công chúng

Nhà đầu tư có nghĩa vụ thanh toán đúng, đủ tiền mua chứng khoán cho công typhát hành

- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn là phương thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết sẽ mua lại toàn bộ số chứng khoán còn lại của đợt phát hành

Trang 30

- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất là phương thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh chí thoả thuận làm đại lý cho công ty phát hành, sẽ cố gắng cao nhất để bán hết chứng khoán ra thị trường nhưng không cam kết sẽ mua lại số chứng khoán còn lai của đợt phát hành.

- Báo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không bán gì là phương thức bảo lãnh mà nếu tổ chức bảo lãnh phát hành không bán hết được số chứng khoán phát hành thì đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ

Tổ chức báo lãnh phát hành có các nghĩa vụ sau:

(1) thực hiện đúng các cam kết ghi trong hợp đồng bảo lãnh;

(2) không được tiết lộ các thông tin về tổ chức phát hành mà mình được biết ngoài các thông tin trong bản cáo bạch cho bên thứ ba, trừ các trường hợp theo quy định của pháp luật;

(3) chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, đúng đắn của các thông tin trong bản thông báo phát hành

Tổ chức bảo lãnh phát hành có các quyền sau:

(1) nhận thù lao bảo lãnh theo thoả thuận trong hợp đồng bảo lãnh;

(2) khởi kiện công ty phát hành nếu tổ chức phát hành vi phạm các thoả thuận ghi trong hợp đổng bảo lãnh

1.2.5.4 Đ ại lý phát hành

Đại lý Dhát hành là tổ chức nhận bán chứng khoán của công ty phát hành trẽn

cơ sở thoả thuận để được hưởng hoa hổng

Đại lý phát hành có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết ghi trong hạp đồng đại lý.Đại lý phát hành có các quyền sau:

(1) nhận tiền hoa hồng từ công ty phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành theo hợp đồng đại lý:

(2) khởi kiện công ty phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh trong trường hợp công ty phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành vi phạm các thoả thuận ghi tròng hợp đồng bảo lãnh hoặc hợp đồng đại lý

Trang 31

1.3 KINH NGHIỆM ĐIỂU CHỈNH PHÁP LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY Ở MỘT s ố NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Do các đặc điểm riêng biệt về địa lý, lịch sử, văn hoá, cơ cấu chính trị, cơ cấu kinh

tế, tình hình phát triển kinh tế - xã hội nên pháp luật về phát hành chứng khoán công ty

ở mỗi nước có những điểm đặc trưng riêng Tuy nhiên, tính chất riêng biệt đó chỉ biểu hiện chủ yếu về mặt hình thức, về mức độ can thiệp của pháp luật vào các mối quan hệ phát sinh trong quá trình phát hành chứng khoán công ty

Pháp luật của các nước trên thế giới đều quy định nguồn vốn của công ty bao gồm:

(1) vốn điều lệ do các thành viên đóng góp (đối với công ty TNHH) hoặc do các cổ đông đóng góp (đối với công ty cổ phần);

(2) vốn vay ngân hàng (thường là nguồn vốn ngắn hạn);

(3) vốn vay từ nhà đầu tư (thường là nguồn vốn írung và dài hạn);

(4) lợi nhuận giữ lại

Với từng loại vốn nói trên, việc huy động, sử dụng đều phải tuân thủ các điều kiện, trình tự, thủ tục riêng do pháp luật quy định đối với từng loại để (a) quản lý quá trình lưu chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế, trong xã hội, (b) đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp huy động vốn, (c) đảm báo

và khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của quốc gia

1.3.1 Quắn lý Nhà nước vé hoạt động phát hành chứng khoán

Hiện nay, trên thế giới, tồn tại hai dạng mô hình quản lý Nhà nước về hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng là quản lý theo chế độ chất lứợng và quản lý theo chế độ công bố thông tin

- Quản lý Nhà nước theo chế độ chất lượng là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉ cấp giấy phép phát hành chứng khoán sau khi đã xem xét cẩn trọng nội dung của việc phát hành, thậm chí là sau khi xác định giá chứng khoán lần đầu dể đảm bảo độ an toàn cao nhất đối với nhà đầu tư Cơ chế quản lý này thường được áp dụng đối với các thị trường mới nổi, khi các nhà đầu tư chưa có nhiều kinh nghiệm

và các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán chưa đầy đủ, rõ ràng

Trang 32

- Quán lý Nhà nước theo chế độ công bố thông tin là việc công ty phát hành phải cung cấp đầy đủ cho nhà đầu tư các thông tin cần thiết, quan trọng về công ty của mình

để từ đó các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn và họ phái tự chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư đó

Theo cơ chế quán lý dạng này, mức độ can thiệp cua Nhà nước đối với hoạt động phát hành thấp hơn, rủi ro trong đầu tư chứng khoán chuyển từ công ty phát hành sang các nhà đầu tư Vì thế cơ chế này được áp dụng đối với các thị trường mà các nhà đầu tư đã có kinh nghiệm, có chế độ kế toán, kiểm toán, chế độ quản lý, công bố thông tin tốt, hoàn thiện

Trên thực tế, đa số các nước trên thế giới kể cả tại các thị trường mới nổi, đều

áp dụng cơ chế quản lý Nhà nước theo chế độ công bố thông tin

1.3.2 Cơ quan quản lý phát hành

Có hai mô hình cơ quan quản lý phát hành chứng khoán là cơ quan quán lý chuyên trách và cơ quan quản lý kiêm nhiệm

- Cơ quan quản lý chuyên trách là cơ quan được tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán nói chung và phát hành chứng khoán nói riêng Cơ quan quản lý chuyên trách thường được gọi là Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước hoặc Uỷ ban Giám sát chứng khoán như

Mô hình quản lý quản lý chuyên trách có ưu điểm là giải quyết các công việc một cách nhanh chóng, giảm bớt những thủ tục phiền hà, phức tạp đối với nhà đầu tư nhưng đôi khi xuất hiện sự chồng chéo trong quản lý, phân định thẩm quyền quản lý giữa các cơ quan có liên quan Còn mồ hình cơ quan quản lý kiêm nhiệm tạo điều

Trang 33

kiện tận dụng tối đa nguồn nhân lực, điều hoà các chính sách, chiến lược phát triển của ngành, của thị trường chứng khoán một cách dễ dàng nhưng lại tạo ra sự phân tán quản lý nên hiệu quả quản lý không cao, không thích hợp với điều kiện kinh tế hiện đại, xu hướng toàn cầu hoá các thị trường hiện nay.

Bên cạnh hai mô hình cơ quan quản lý chứng khoán nói trên còn tổn tại mô hình tổ chức tự quản ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển như các hiệp hội công ty niêm yết, hiệp hội những người phát hành chứng khoán Các tổ chức tự quản này tự đặt ra các nguyên tắc, quy định (được ƯBCK chuẩn y) đối với các thành viên của tổ chức để đảm bảo tính công bằng, kỷ luật và hiệu quả của thị trường Hình thức tổ chức này tạo ra sự linh hoạt trong hoạt động của thị trường nhưng lại

có thể làm giảm tính trung thực của thị trường vì lợi ích của các thành viên và khách hàng thường mâu thuẫn với nhau, đôi khi còn tạo ra các đặc quyền riêng của các thành viên hiệp hội, hạn chế thành viên gia nhập

Xu hướng quản lý kép, kết hợp hai mô hình quản lý Nhà nước và tự quản, sẽ được

áp dụng trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của thị trường

1.3.3 Điều kiện p h át hành

Mỗi nước quy định điều kiện phát hành chứng khoán riêng phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia mình Việc phát hành chứng khoán thường phải đảm bảo các điều kiện về quy mô vốn, tính liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh, đội ngũ quản lý công ty, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tính khả thi của dự án

sử đụng vốn huy động

Trên thế giới tồn tại hai quan điểm về điều kiện phát hành chứng khoán:

- Theo quan điểm tự do, UBCK không ngăn cản bất kỳ công ty cổ phần nào phát hành chứng khoán ra công chúng, tức là bất kỳ công ty cổ phần nào cũng có thể trở thành công ty cổ phần công cộng (công ty cổ phần đại chúng) không kể đến tình hình phát triển, triển vọng thực hiện các dự án sử dụng vốn huy động của công ty UBCK chỉ yêu cầu các công ty phải cồng khai các thông tin về cồng ty và chứng khoán phát hành theo quy định của pháp luật và của UBCK

- Theo quan điểm hạn chế, UBCK quy định các tiêu chuẩn đối với công ty pháthành để tránh tối đa các rủi ro đối với nhà đầu tư ở giai đoạn đầu của thị

Trang 34

trường vốn khi nhà đầu tư chưa có đủ khả năng tự đánh giá và chưa có nhiều nhà phân tích chứng khoán.

1.3.4 Thủ tục ph át hành

Nhìn chung, ở đa số các nước trên thế giới, công ty phát hành phải lập hổ sơ xin phép phát hành chứng khoán ra công chúng gửi tới cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán Tuy nhiên ở từng nước khác nhau có quy định khác nhau về thủ tục phát hành Có nước quy định việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được

cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán cấp giấy phép phát hành, có nước lại quy định chỉ cần đãng ký việc phát hành với cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán

Ó một số thị trường phát triển, như ở Mỹ, Uỷ ban chứng khoán còn cho phép công

ty phát hành đăng ký dự phòng sẵn một số lượng chứng khoán dự kiến, sau đó công

ty phát hành có thể chọn thời điểm thích hợp để phát hành một hoặc nhiều đợt phát hành trong phạm vi số lượng chứng khoán dự kiến được phép

Trang 35

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỂ PHÁT HÀNH CHÚNG KHOÁN CÔNG TY Ở VIỆT NAM

11.1 CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỂ PHÁT HÀNH CHÚNG KHOÁN CÔNG TY

Việc phát hành chứng khoán ra công chúng ở các nước khác nhau được quy định tại các hình thức văn bản khác nhau Có những nước, như Mỹ, Nhật, Trung Quốc việc phát hành chứng khoán được quy định tập trung tại Luật Chứng khoán

và giao dịch chứng khoán Một số nước khác như Anh, Australia lại quy định trong Luật Công ty Nhưng nhìn chung, các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xây dựng thành lĩnh vực luật riêng Ở Việt Nam, có rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động phát hành chứng khoán Trong đó, trước hết phải kể đến Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ

về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Pháp luật về phát hành chứng khoán ra công chúng có các nội dung về hình thức chứng khoán, điều kiện chủ thể phát hành, điều kiện của nhà đầu tư, chế độ cóng bố thông tin, thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm trong quá trình phát hành, tranh chấp và giải quyết tranh chấp

Trang 36

v é hình thức: Có 3 mẫu chứng chỉ cổ phiếu:

- Cổ phiếu ghi danh (không chuyển nhượng) màu xanh, dùng cho thành viên Hội đồng quản trị, cổ đông mua chịu cổ phiếu của Nhà nước và những người được Nhà nước cấp cổ phiếu hưởng cổ tức, cổ phiếu của Nhà nước

- Cổ phiếu ghi danh màu vàng tím dùng cho cổ đồng thường

- Cổ phiếu vô danh dùng cho tất cả các cổ đông

Giá trị một cổ phần là 100.000 đồng, c ổ phiếu của công ty cổ phần có các loại:

1, 2, 5, 10, 20, 50, 100, 200, 500 và 1.000 cổ phần

Vé nôi dung:

Mặt trước có các nội dung về tên công ty, trụ sở, ngày thành lập công ty, số lượng

cổ phần và loại cổ phần, mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá các cổ phần ghi trên

cổ phiếu, chữ ký của Chủ tịch Hội đồng quản trị và đóng dấu của công ty

Mặt sau có các nội dung về tên của cổ đông (đối với cổ phiếu ghi danh), tên của cá nhân, tổ chức góp vốn; số đăng ký cổ đông và ngày phát hành cổ phiếu và một số nội dung khác đối với các cổ phiếu ưu đãi

Bút toán ghi sổ

Quy định của pháp luật về hình thức và nội dung của cổ phiếu theo hình thức hút toán ghi sổ tương tự như đối với chứng chỉ cổ phiếu Trên thế giới, hình thức bút toán ghi sổ được tồn tại chủ yếu ở dạng quyển sổ (giống như sổ tiết kiệm) để ghi nhận việc góp vốn, quyền và nghĩa vụ của cổ đông Hình thức bút toán ghi sổ là hình thức linh hoạt hơn chứng chỉ, rất thuận tiện trongviệc theo dõi mức vốn góp của cổ đông, thuận tiện hơn khi lưu ký, thanh toán bù trừ chứng khoán

II 1.1.2 Thủ tục, điêu kiện phát hành

Thủ tục, điều kiện phát hành cổ phiếu ở mỗi quốc gia khác nhau có sự khác biệt do đặc điểm về kinh t ế - x ã hội, hệ thống pháp luật, hệ thống chính trị riêng biệt

Ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển, pháp luật không quy định về điều kiện phát hành chứng khoán mà chỉ quy định về thủ tục đăng ký phát hành, tức là chỉ chú trọng đến thủ tục phát hành, còn việc lựa chọn loại hình, chất lượng chứngkhoán thuộc về nhà đầu tư Với cơ chế quản lý chỉ quan tâm đến thủ tục phát

Trang 37

hành chứng khoán đòi hỏi chế độ công khai thông tin hoàn thiện, chế độ kế toán, kiểm toán tốt mới có thể quản ]ý tốt hoạt động phát hành và bảo vệ nhà đầu tư.

Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường non trẻ, kinh nghiệm đầu

tư, trình độ, khả năng phân tích, đánh giá, lựa chọn chứng khoán của nhà đầu tư còn thấp, khả năng rủi ro trong đầu tư chứng khoán đối với nhà đẩu tư rất cao Do vậy, trong giai đoạn mới phát triển thị trường chứng khoán, để bảo vệ nhà đầu tư, pháp luật quy định điều kiện phát hành chứng khoán rất cụ thể, chặt chẽ Các công ty muốn phát hành cổ phiếu phải đảm bảo các điều kiện sau:

(1) là công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá;

(2) có mức vốn điều lệ tối thiểu (tính đến ngày xin phép phát hành) lầ 10 tỷ đổng Việt Nam;

(3) hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi trong hai năm liên tục gần nhất tính từ ngày nộp hồ sơ xin phép phát hành;

(4) có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu được Đại hội cổ đông thông qua;

(5) thành viên Hội đồng quản trị và giám đốc hoặc tổng giám đốc có kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh;

(6) tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành phải được bán cho trên ] 00 nhà đầu tư Trong trường hợp vốn cổ phần từ 100 tỷ đồng trở lên, tỷ lẹ này lù 15% vốn cổ phần của tổ chức phát hành;

(7) cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành vào thời điểm kết thúc đợt phát hành và phải nắm giữ mức này tối thiểu trong 3 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành;

(8) trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt trên 10 t ỷ đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành [8][40]

Do thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trệ, nên việc qui định các công

ty phải đạt mức vốn điều lệ tối thiểu 10 tỷ đồng trong lần đầu phát hành chứng khoán ra công chúng là rất cần thiết để có thể lựa chọn được các công ty có quy mô vốn đủ lớn để phát hành chứng khoán ra công chúng, đồng thời tạo sự tin tưởng cho

Trang 38

nhà đầu tư cũng như đảm bảo chất lượng của cổ phiếu được phát hành Việc qui định điều kiện thành viên Hội đồng quản trị và giám đốc hoặc tổng giám đốc có kinh nghiệm trong quản lý sản xuất kinh doanh và cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành vào thời điểm kết thúc đợt phát hành

và phải giữ mức này ít nhất trong 3 năm khiến cho nhà đầu tư tin tưởng hơn khi đầu

tư vào công ty và tin rằng quyết định đầu tư của mình là đúng đắn, có khả năng thu lợi nhuận cao và khả năng rủi ro không thanh toán thấp Qui định điều kiện về phương án sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành, tối thiểu 20% vốn cổ phần (15% trong trường hợp vốn cổ phần từ 100 tỷ đồng trở lên) của công ty phát hành phải được bán cho trên 100 nhà đầu tư, điều kiện về bảo lãnh phát hành (bắt buộc đối với irường hợp tổng giá trị đợt phát hành vượt quá 10 tỷ đồng) nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trường chứng khoán cũng như bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Điều kiện hoạt động kinh doanh của công ty phải có lãi trong 2 năm liên tục gần nhất cho thấy công ty muốn phát hành chứng khoán ra công chúng thì tối thiểu phải thành lập 2 năm trước thời điểm xin giấy phép phát hành Nhưng tại thời điểm trước đó, công ty không nhất thiết phải là công ty cổ phần mà có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước thực hiện cổ phần hoá

Khi công ty đã phát hành cổ phiếu ra công chúng muốn phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng thì tại thời điểm xin cấp giấy phép phát hành phải đáp ứrig được các điều kiện như phát hành cổ phiếu nêu trên và hai điều kiện sau:

(1) lần phát hành thêm phải cách lần phát hành trước ít nhất 1 năm tính từ thời điểm được cấp giấy phép phát hành;

(2) giá trị cổ phiếu phát hành thêm không lớn hơn tổng giá trị cổ phiếu đang lưu hành

Việc qui định các điều kiện phát hành thêm cổ phiếu trên nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư cũng như nhằm tránh sự lạm dụng vốn góp từ các nhà đầu tư của công ty phát hành

Sau khi đã hội đủ các điều kiện cần thiết đối với đợt phát hành cổ phiếu, 'công ty

Trang 39

phải nộp hồ sơ xin phép phát hành cổ phiếu ra công chúng gồm các loại giấy tờ sau:(1) Đơn xin phát hành;

(2) Bản sao có công chứng giấy phép thành lập công ty hoặc quyết định chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần;

(3) Bản sao có công chứng giấy đăng ký kinh doanh;

(4) Điều lệ công ty;

(5) Nghị quyết của Đại hội cổ đông chấp thuận việc phát hành cổ phiếu;

(6) Bán cáo bạch;

(7) Danh sách, sơ yếu lý lịch thành viên Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc;

(8) Các báo cáo tài chính trong 2 năm liên tục gần nhất, có xác nhận của kiểm toán tính đến ngày nộp hồ sơ xin phép phát hành (Báo cáo tài chính năm gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ xin phép phát hành không quá 90 ngày, trong trường hợp quá 90 ngày thì tổ chức phát hành phải lập báo cáo tình hình tài chính bổ sung theo yêu cầu của UBCKNN Trường hợp tổ chức phát hành sở hữu từ 50% cổ phần của một tổ chức khác thì tổ chức phát hành phải gửi kèm theo báo cáo tài chính của

tổ chức đó);

(9) Quyết định xác định giá trị doanh nghiệp của cơ quan có Ihẩm quyền đối với doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá;

(10) Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có) [8][40]

Việc quy định chi tiết các tài liệu cần có trong hồ sơ xin phép phát hành nhằm ngăn chặn sự gian lận, lừa dối của tổ chức phát hành và bảo vệ nhà đầu tư, bảo đảm tính

ổn định, công bằng, minh bạch của thị trường chứng khoán

(Mối quan hệ của các bên liên quan trong thủ tục xin phép phát hành cổ phiếu ra công chúng ở Việt Nam xem Sơ đồ 1)

II.1.1.3 G iấy ph ép p h á t hành c ổ phiếu

Cấp giấy phép phát hành

Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ xin phép phát hành của tổ chức phát hành, Ưỷ ban chứng khoán Nhà nước kiểm tra, xem xét

Trang 40

cấp hoặc từ chối cấp giấy phép phát hành cổ phiếu ra công chúng cho tổ chức phát hành T rong trường hợp từ chối cấp giấy phép, UBCKNN phải c ó 'ý kiến văn bản về lý do từ chối gửi cho tổ chức phát hành Ở một số nước trên thế giới, việc kiểm tra, xem xét cấp hoặc từ chối cấp giấy phép phát hành được giao cho Hội đồng thẩm định phát hành Chẳng hạn như, pháp luật Trung

Q uốc qui định cơ quan quản lý chứng khoán đặt ra Hội đồng thẩm định phái hành để thẩm định hồ sơ xin phép phát hành cổ phiếu theo pháp luật Thành viên Hội đồng thẩm định phát hành gồm các cán bộ chuyên nghiệp của cơ quan quản lý chứng khoán và các chuyên gia mời từ bên ngoài, tiến hành biểu quyết đối với hồ sơ xin phép phát hành thông qua hình thức bỏ phiếu, từ đó đưa ra ý kiến thẩm định [11]

Sau khi có giấy phép phát hành, tổ chức phát hành tiến hành chào bán (phân phối) cổ phiếu ra công chúng trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày có giấy phép phát hành theo các điều kiện phát hành

Sau khi nhận được giấy phép phát hành và trước khi hoàn thành đợt phân phối cổ phiếu ra công chúng, nếu ƯBCKNN phát hiện nội dung của hổ sơ xin phép phát hành không chính xác hoặc thiếu các thông tin cần thiết nhưng chưa gây thiệt hại cho nhà đầu tư thì tổ chức phát hành phải sửa đổi bổ sung hồ sơ xin phép phát hành theo yêu cầu của UBCKNN và thông báo ngay cho nhà đầu

tư được biết

Ngày đăng: 18/12/2015, 19:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2- Báo cáo chuyên đề về các lĩnh vực khung pháp luật kinh tế tại Việt Nam (tập II), Dự án VIE/94/003, Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam, 1998 Khác
3- Báo cáo tổng kết 2 năm hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam, Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước, 22/7/2002 Khác
4- Nguyễn Ngọc Bích, Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý vốn trong công ty cổ phần, NXBTrẻ, 1999 Khác
5- Nguyễn Ngọc Bích, Toàn cảnh thị trường chứng khoán, NXB Thành phố Hổ Chí Minh, 2000 Khác
6- Cách đọc bản cáo bạch, Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước, NXB Thế giới, 2000 7- Nghị định của Chính phủ về Chứng khoán và thị trường chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc gia Khác
8- Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán Khác
9- Luật Chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hàn Quốc 2000 10- Luật Chứng khoán và giao dịch chứng khoán MỸ Khác
15- Luật Doanh nghiệp Nhà nước, NXB Chính trị Quốc gia, 1995 Khác
16- Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, ] 998 Khác
17- Đại từ điển kinh tế thị trường, Viện Nghiên cứu và phổ biến kiến thức bách khoa, Hà Nội 1998 Khác
18- Bùi Quang Đàm, Vì sao nhà đầu tư nước ngoài chưa tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam, Đầu tư chứng khoán số 85 ngày 23/7/2001 Khác
21- Bùi Nguyên Hoàn, Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999 Khác
22- TS Nguyễn Ngọc Hùng, PGS-TS Lê Văn Tư, Thị trường chứng khoán, NXB Thống kê, 1996 Khác
23- Giáo trình Luật Kinh tế, Khoa Luật, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 199724- Thời báo Kinh tế Khác
25- Vũ Thị Kim Liên, Cơ sở lý luận và phát triển thị trường chứng khoán sơ cấp ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của UBCKNN, Hà Nội 1999 Khác
26- Vũ Thị Lợi, Phát hành chứng chỉ tiền gửi ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính số 8 (4 5 4 )2 0 0 2 Khác
27- Machlup, The economic of Seller's competition, 1952 28- Huy Nam, Thị trường chứng khoán, NXB Trẻ, 2001 Khác
29- Trần Cao Nguyên, Chứng khoán và phân tích chứng khoán - NXB Giáo dục, Hà Nội 1999 Khác
30- Thái Như, Phát hành trái phiếu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Đầu tư chứng khoán số 76 ngày 8/5/2001 Khác
31- Giáo trình Những kiến thức cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, 1999 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  sản  xuất  kinh  doanh  của  công  ty,  đôi khi  phải chịu lỗ - Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở việt nam   luận văn ths  luật  5 05 15 pdf
nh sản xuất kinh doanh của công ty, đôi khi phải chịu lỗ (Trang 12)
Sơ đồ  2  -  Quan  hệ của các  bên  liên  quan  đến  quá  trình  phân  phôi  cổ  phiếu - Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở việt nam   luận văn ths  luật  5 05 15 pdf
2 - Quan hệ của các bên liên quan đến quá trình phân phôi cổ phiếu (Trang 96)
Sơ đồ 4 - Trái phiếu kết họp với giặ chứng khoán - Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở việt nam   luận văn ths  luật  5 05 15 pdf
Sơ đồ 4 Trái phiếu kết họp với giặ chứng khoán (Trang 97)
Sơ đồ 5  - Quy trình  phát  hành  chứng  khoán  ra  công chúng - Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở việt nam   luận văn ths  luật  5 05 15 pdf
Sơ đồ 5 - Quy trình phát hành chứng khoán ra công chúng (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w