1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk nông) luận văn ths luật 60 38 01 04 pdf

126 647 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này xuất phát từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó một trong những nguyên nhân quan trọng là quy định của pháp luật hình sự chưa đảm bảo để xử lí triệt để, có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI DANH ĐẠI

CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN

GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI DANH ĐẠI

CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN

GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC HẢI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Bùi Danh Đại

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 8

1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 8

1.1.1 Khái niệm các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ 8

1.1.2 Đặc điểm của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ 11

1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 19

1.2.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 19

1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 26

1.3 CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 32

1.3.1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức 32

1.3.2 Bộ luật hình sự Liên bang Nga 37

1.3.3 Bộ luật hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 42

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ

CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG 45

2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC

TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 45 2.1.1 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự) 45 2.1.2 Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203 Bộ luật hình sự) 52 2.1.3 Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông không bảo đảm

an toàn giao thông đường bộ (Điều 204 Bộ luật hình sự) 54 2.1.4 Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển

các phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205 Bộ luật hình sự) 57 2.1.5 Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206 Bộ luật hình sự) 60 2.1.6 Tội đua xe trái phép (Điều 207 Bộ luật hình sự) 62 2.2 TÌNH HÌNH XÉT XỬ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO

THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG 64 2.3 MỘT SỐ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN XÉT

XỬ VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN 71

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ

BẢO ĐẢM THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 82

3.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN BỘ LUẬT

HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 82

Trang 6

3.1.1 Sự thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội dẫn đến sự cần thiết

phải sửa đổi bổ sung các quy định các tội phạm xâm phạm trật

tự an toàn giao thông 82 3.1.2 Sự cần thiết phải sửa đổi các quy định hiện hành của Luật hình

sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ 85 3.1.3 Những định hướng cơ bản sửa đổi, bổ sung các quy định của

Bộ luật hình sự về các tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ 86 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA

BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ

AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 88 3.2.1 Những đánh giá chung 88 3.2.2 Nội dung kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định của Bộ luật

hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ 95 3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH CÁC QUY

ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 100 3.3.1 Tăng cường hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật hình

sự về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ và hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ 101 3.3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật,

nâng cao ý thức pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ 104 3.3.3 Tổ chức có hệ thống điều khiển hoạt động giao thông đường bộ,

quản lý phương tiện giao thông, đăng ký phương tiện giao thông đường bộ, cấp giấy phép lái xe 105

Trang 7

3.3.4 Tăng cường công tác tuần tra, giám sát và xử lý kịp thời mọi vi

phạm an toàn giao thông đường bộ, xét xử nghiêm minh và kịp thời các vụ án trong lĩnh vực này 107 3.3.5 Tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho các cán bộ làm

công tác trong các cơ quan bảo vệ pháp luật liên quan đến xử

lý các vụ xâm phạm trật tự an toàn giao thông 109

KẾT LUẬN 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự HĐXX: Hội đồng xét xử VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 9

Bảng 2.2 Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình

phạt, nhân thân người phạm tội về tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) trên địa bàn tỉnh Đắk Nông 68 Bảng 2.3 Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình

phạt, nhân thân người phạm tội về tội cản trở giao thông đường bộ trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) trên địa

Bảng 2.4 Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình

phạt, nhân thân người phạm tội về tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn trong thời gian 05 năm (2010 - 2014)

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển hoạt động giao thông vận tải thì tình hình các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ và tình hình tai nạn giao thông đường

bộ trong những năm gần đây trên cả nước nói chung và tại địa bàn tỉnh Đắk Nông nói riêng cũng tăng rất nhanh về cả số lượng vụ việc và mức độ nghiêm trọng đã gây ra những hậu quả lớn về người và tài sản, làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự, an toàn xã hội

Trước thực trạng này, Nhà nước, xã hội và các cơ quan chức năng trong

cả nước nói chung, tỉnh Đắk Nông nói riêng đã tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt và liên tục để ngăn chặn và phòng, chống vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân phát sinh là sự gia tăng tính chất và mức độ của hành vi

vi phạm nói chung, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói riêng như: phóng nhanh, vượt ẩu, cẩu thả khi thực hiện các quy định khác về an toàn trong điều khiển phương tiện nhưng không có giấy phép hoặc không có bằng lái theo quy định, trong khi say rượu hoặc không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển giao thông gây ra hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản cho người khác Ngoài ra lý do về mặt địa lý và địa hình cũng góp phần nào tạo ra thực trạng trên bởi Đắk Nông là một tỉnh nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Vương Quốc Campuchia Mạng lưới giao thông của tỉnh Đắk Nông chủ yếu là đường bộ, với 3 tuyến quốc lộ có tổng chiều dài là 310 km, phần lớn đã được trải nhựa, còn 89,5km là đường cấp phối

Trang 11

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của tai nạn giao thông đường bộ hiện nay, các cấp, các ngành đã nghiên cứu, xác định các nguyên nhân dẫn đến tình trạng tai nạn giao thông ngày càng nghiêm trọng, phức tạp Một trong các nguyên nhân được xác định đó là do việc xử lý hành vi vi phạm các quy định

về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng chưa được xử lý nghiêm minh triệt để Điều này xuất phát từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó một trong những nguyên nhân quan trọng là quy định của pháp luật hình sự chưa đảm bảo để xử lí triệt để, có hiệu quả và quan điểm

xử lý đối với loại tội phạm này chưa rõ ràng dẫn đến tỉ lệ truy tố, xét xử các tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ còn thấp

Vì vậy, để góp phần ngăn chặn, phòng ngừa và giảm bớt vi phạm pháp luật và các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ khái niệm và những dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, nghiên cứu so sánh với

Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới và đánh giá thực tiễn xét xử các tội phạm này trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

để thực hiện mục đích trên có ý nghĩa chính trị - xã hội và lý luận - thực tiễn

quan trọng Đây cũng là lý do để tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Các tội

xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)” làm đề tài luận văn

thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp đã có một số công trình nghiên cứu được công bố, đồng thời

thể hiện trên ba bình diện - luận văn, luận án, sách chuyên khảo, tham khảo,

Trang 12

bình luận, cũng như giáo trình dành cho hệ đại học và một số bài viết bình luận án như:

* Nhóm thứ nhất (các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học) bao gồm: 1) Bùi Kiến Quốc, Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Thủ đô Hà Nội,

Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001; 2) Ngô Huy

Ngọc, Những biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996; 3) Phan Huy Thái, Điều tra các vụ án vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1998; 4) Nguyễn Đắc Dũng, Tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam (trên

cơ sở thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh), Luận văn thạc sĩ luật học,

2011 và; 5) Nguyễn Ngọc Anh, Tội đua xe trái phép trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012; Trần Văn Thảo, Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo Luật hình

sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bình Phước) Luận

văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 v.v

* Nhóm thứ hai (các sách chuyên khảo, tham khảo) bao gồm: 1) ThS Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự - Phần các tội phạm, Tập VI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2005; 2) ThS Hoàng Đình Ban, Hoạt động phòng ngừa tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008; 3) TS Trần Minh Hưởng, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002; 4) TS Nguyễn Đức Mai, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn

Trang 13

công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự

Việt Nam năm 1999, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; v.v

* Nhóm thứ ba (giáo trình, đề tài, bài viết) bao gồm: 1) GS.TS Đỗ Ngọc Quang, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng,

Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), GS TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 (tái bản năm

2007); 2) GS TS Võ Khánh Vinh, Chương X - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam

(Phần các tội phạm), GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội, 2001; 3) GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương XXV - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật hình

sự Việt Nam (Tập II) do GS TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an

nhân dân, Hà Nội, 2010; 4) TS Phạm Văn Beo, Bài 10 - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Luật hình sự Việt Nam (Quyển

2 - Phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; 5) TS Cao Thị

Oanh (chủ biên), Chương X - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010; v.v

Ngoài ra, năm 2004 có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường (Đại học

Luật Hà Nội) của TS Trương Quang Vinh (chủ trì): Tội tổ chức đua xe trái phép, tội đua xe trái phép và đấu tranh phòng, chống các tội này trên địa bàn thành phố Hà Nội Tiếp đến là một số bài viết đi sâu vào tranh luận tội danh

cụ thể, xác định lỗi của tội phạm này như: 1) ThS Lê Văn Luật, Xác định lỗi trong các vụ án tai nạn giao thông, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2005; 2) ThS Huỳnh Quốc Hùng, Một số vấn đề về định tội và định khung tăng nặng trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007; v.v

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy một số công

Trang 14

trình có phạm vi nghiên cứu rộng, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ chỉ được đề cập riêng rẽ từng tội bằng bình luận những dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt hoặc chỉ xem xét dưới góc độ tội phạm học - phòng ngừa cả nhóm tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, trong khi đó, chưa có công

trình khoa học nào ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học đề cập đến cả nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên một địa bàn cụ thể là tỉnh Đắk Nông Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của

Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng luôn có ý nghĩa về

lý luận và thực tiễn, đặc biệt phục vụ trực tiếp yêu cầu chính trị - xã hội và đấu tranh phòng, chống các tội phạm đã nêu trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Mục đích của luận văn là nghiên cứu bổ sung góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật mà đặc biệt là Bộ luật hình sự và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong xử lý các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung vào những đối tượng nghiên cứu cụ thể như sau:

+ Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

+ Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các tội xâm phạm trật

tự an toàn giao thông đường bộ trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ

+ Nghiên cứu cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong Bộ luật hình sự hiện hành

Trang 15

+ Nghiên cứu so sánh với Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ giai đoạn 2010-2014 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối, chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như trong việc bảo vệ an toàn, trật tự xã hội

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình

sự như: phân tích, tổng hợp, so sánh, phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn, điều tra án điển hình để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình

sự và luận chứng các vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn này

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lí luận

Luận văn được hình thành trên cơ sở khái quát lí luận và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đương bộ trong thời gian qua, nên kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện

cơ sở pháp lý và làm rõ các nội dung của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đương bộ trong giai đoạn hiện nay Luận văn là một tài liệu tham khảo dùng cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy học tập chuyên ngành luật hình

sự trong các cơ sở đào tạo pháp luật

Trang 16

- Ý nghĩa thực tiễn

Các giải pháp nêu trong luận văn là một kênh tham khảo hữu ích cho các cơ quan tiến hành tố tụng, mà đặc biệt là tòa án, áp dụng trong thực tiễn

xử lý các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Bên cạnh đó, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục

vụ nghiên cứu và học tập môn học Luật hình sự Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này hiện nay và sắp tới ở địa bàn tỉnh Đắk Nông nói riêng và cả nước nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được chia thành 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm trật tự an toàn

giao thông đường bộ

Chương 2: Thực trạng pháp luật hình sự Việt Namvà thực tiễn xét xử

các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bản tỉnh Đắk Nông

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thi hành

các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Trang 17

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ

AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1.1 Khái niệm các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Trật tự an toàn giao thông đường bộ là trạng thái trật tự, an toàn, thông suốt, thuận lợi trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh nhằm hạn chế thấp nhất tai nạn giao thôn đường bộ, gây thiệt hại về người và tài sản Về mặt bản chất, thì vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ chính là những hành vi làm cho trật

tự giao thông bị biến dạng, bị phá vỡ, đặt tính mạng, sức khỏe của con người

và tải sản vào tình trạng bị thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại Về hình thức, vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là trái với qui định trong Luật giao thông đường bộ năm 2008 và các văn bản pháp luật khác về giao thông vận tải đường bộ Các hành vi vi phạm này rất đa dạng, bao gồm các hành vi sau: 1) Các hành vi vi phạm qui tắc giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; 2) Các hành vi vi phạm qui định về phương tiện tham gia giao thông đường bộ; 3) Các hành vi vi phạm qui định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; 4) Các hành vi vi phạm qui định

về vận tải đường bộ; 5) Các hành vi vi phạm khác có liên quan đến giao thông đường bộ Những hành vi này xâm phạm đến an toàn công cộng – an toàn về tính mạng và tài sản của công dân và xã hội tai những khu vực hoạt động, sinh hoạt đông người Sự an toàn này là nhu cầu cần thiết của xã hội và là tiền

đề quan trọng cho việc xây dựng xã hội văn minh [18, tr.196]

Trang 18

Ngay từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng bằng việc ra một số văn bản như: Điều lệ tạm thời số 329-CP ngày 17/9/1954 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý các loại vũ khí; Nghị định số 23-CP ngày 24/02/1973 của Hội đồng Chính phủ về việc tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ góp phần tạo ra môi trường xã hội lành mạnh, ổn định, bảo đảm nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định cuộc sống của nhân dân Vì vậy, hiện nay, để tiếp tục bảo đảm tốt công tác giữ gìn an toàn công cộng, trật

tự công cộng ở nước ta, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải không ngừng đầu

tư cơ sở, vật chất kỹ thuật, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn Quá trình giữ gìn bảo đảm an toàn công cộng, trật

tự công cộng cũng chính là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản và nhiều quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân

Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là những hành vi vi phạm pháp luật, những hành vi vi phạm đó có nhiều loại khác nhau, gây ra thiệt hại ở những mức độ khác nhau Theo Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ và Bộ luật hình sự (BLHS) năm

1999 thì các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ có thể bị

xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Những hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ cho dù người thực hiện có lỗi vô ý hay

cố ý, song nếu nó đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội đến mức

"đáng kể" thì người thực hiện hành vi đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự

về một trong các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ được quy định từ Điều 202 đến 207 trong BLHS 1999

Tuy nhiên, không phải mọi hành vi xâm phạm an toàn công cộng, trật

tự công cộng đều bị xử lý hình sự, việc xử lý phải trên cơ sở giáo dục, thuyết phục mọi công dân có ý thức chấp hành, nhắc nhở, cảnh cáo, xử lý hành

Trang 19

chính, chúng ta chỉ xử lý hình sự đối với những trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể hay gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Vì vậy, ranh giới xác định vấn đề trách nhiệm hình sự với các trách nhiệm pháp lý khác (dân sự, hành chính ) được phân định rõ ràng trên cơ

sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả tác hại mối quan hệ xã hội bị xâm hại, cũng như thái độ của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Thực tế cho thấy các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung và các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ đã gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài sản và tính mạng, sức khỏe của công dân, ảnh hưởng đến trật tự ở những nơi công cộng, đến hoạt động chung của xã hội

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh:

Nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời xử

lý nghiêm các vi phạm pháp luật giao thông Tăng cường hạ tầng kỹ thuật, phương tiện giao thông công cộng, năng lực tổ chức giao thông; thực hiện phương án điều tiết hợp lý cơ cấu và quản lý chất lượng các phương tiện giao thông để giảm tới mức thấp nhất tai nạn giao thông [19, tr.223-233]; v.v

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc giữ gìn an toàn, trật tự công cộng trong đời sống xã hội, trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, hệ thống văn

bản pháp luật, Bộ luật hình sự đã quy định Chương "Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng" để bảo vệ các lợi ích trên, xử lý các hành

vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ cao, qua đó bảo đảm mọi sinh hoạt, vui chơi, giải trí, hoạt động công cộng được an toàn, ổn định và tuân thủ các quy

tắc xã hội và quy tắc của pháp luật Vì vậy, tôn trọng và bảo vệ "an toàn công cộng, trật tự công cộng" là “một trong những thước đo, tiêu chí để đánh giá

sự ổn định của xã hội, đánh giá sức mạnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật,

Trang 20

khả năng quản lý của các cơ quan, tổ chức, đồng thời nó cũng đánh giá được

ý thức pháp luật, văn minh pháp lý của công dân” [20, tr.439]

Những quan hệ xã hội luật hình sự bảo vệ mà các tội xâm phạm trật tự

an toàn giao thông đường bộ xâm phạm đến, cùng với các khách thể khác, là một trong những khách thể quan trọng được Bộ luật hình sự Việt Nam bảo vệ, tôn trọng và bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến nhóm khách thể này đều bị xử

lý theo các quy định về những tội phạm tương ứng của Bộ luật hình sự

Do vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm các tội phạm đang đề cập có thể định nghĩa như sau:

Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước

về trật tự an toàn giao thông đường bộ, an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại đáng kể về tính mạng, sức khỏe của con người, thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, của công dân, và qua

đó xâm phạm đến sự ổn định nơi công cộng và xã hội, được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý bởi những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1.1.2 Đặc điểm của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Theo khái niệm ở trên, mặc dù tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là một nhóm tội phạm cụ thể có sự khác nhau về hành vi, về đối tượng xâm hại, về lỗi song về cơ bản chúng có cấu thành chung như sau:

Trang 21

đường bộ, tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong nhiều trường hợp còn trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe con người; tài sản của nhà nước, của tổ chức và công dân Vì vậy, việc quy định các tội xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ trong BLHS không chỉ nhằm bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng, an toàn giao thông, an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung mà còn nhằm mục đích bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, tài sản của nhà nước, của các tổ chức và của công dân Giữ gìn trật tự an toàn công cộng (trong đó có trật tự an toàn giao thông đường bộ) là một bộ phận quan trọng của hoạt động quản lý xã hội, là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời cũng là nghĩa vụ của công dân Để giữ gìn trật tự an toàn công cộng cần phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, thuyết phục, giáo dục và cưỡng chế trong đó luật hình sự giữ vai trò hết sức quan trọng Việc BLHS qui định các tội xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ tại các Điều 202, 203, 204,

205, 206, 207 trước hết là nhằm bảo vệ trật tự an toàn giao thông, đảm bảo cho hoạt động giao thông đường bộ diễn ra an toàn, thông suốt, thuận lợi phục vụ tốt cho việc xây dựng phát triển kinh tế, mở rộng sản xuất; xây dựng phát triển văn hóa; củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan

hệ hợp tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ cũng chính là bảo đảm sự an toàn về tính mạng, sức khỏe không phải chỉ của một người mà là của tất cả mọi người, sự an toàn về tài sản của nhà nước, các tổ chức và công dân nói chung Vì vậy có thể khẳng định rằng, khách thể cùng loại của nhóm tội phạm xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ là các quan hệ xã hội hết sức quan trọng: đó là trật tự an toàn giao thông đường bộ, tính mạng, sức khỏe của công dân, tài sản của nhà nước, của tổ chức và sự phát triển của

Trang 22

đất nước nói chung Căn cứ vào khách thể bị xâm hại và các đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ thì khách thể loại của nhóm tội phạm này xâm phạm đến những quy định về an toàn công cộng Những quy định về an toàn công cộng rất đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm những quy định, điều lệ, nội quy… (những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa) v.v… ở những nơi công cộng trên các lĩnh vực giao thông đường bộ… những quy định này nhằm đảm bảo an toàn tài sản của Nhà nước, của tổ chức, an toàn về tính mạng và tài sản của công dân [21, tr.433]

• Về mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của nhóm tội phạm này là các hành vi vi phạm các qui định của nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ Các hành

vi vi phạm này được thể hiện cả dưới dạng hành động phạm tội và không hành động phạm tội nhưng chủ yếu là hành động phạm tội Trong đó một

số tội chỉ có thể thực hiện dưới dạng hành động phạm tội, như tội đưa vào

sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn, tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ

Các dạng vi phạm cụ thể của nhóm tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ bao gồm:

+ Vi phạm các qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

là những hành vi vi phạm các qui định nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ: chở hàng hóa cồng kềnh, chằng buộc hàng hóa không đúng qui định, quay xe, rẽ phải, rẽ trái, tránh vượt sai

qui định, chạy quá tốc độ

+ Vi phạm các quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông liên quan đến kết cấu hạ tầng đường bộ gồm các hành vi cản trở giao thông:

Trang 23

đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ, đặt trái phép chướng ngại vật cản trở giao thông đường bộ Tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, các thiết bị trật

tự an toàn giao thông đường bộ

+ Vi phạm các qui định về tiêu chuẩn kỹ thuật phương tiện giao thông đường bộ thể hiện bằng việc đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không đủ điều kiện an toàn như hỏng bộ phận chuyển động, hỏng tay lái, hỏng phanh, hỏng gầm, lốp xe đã mòn quá quy định, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn báo hãm, đèn báo hiệu các loại không đạt tiêu chuẩn, hệ thống chuyển hướng không có hiệu lực, bánh lốp không đúng kích cỡ, tiêu chuẩn kỹ thuật và áp lực hơi theo quy định cho từng loại xe Cho phép các chủ phương tiện sử dụng các phương tiện giao thông vận tải đường bộ không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết, hành vi này thường là của những người

có thẩm quyền cho phép các chủ phương tiện sử dụng các phương tiện giao thông vận tải, như cán bộ cơ quan đăng kiểm Điều động các phương tiện giao thông vận tải đường bộ không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật tham gia vào các hoạt động giao thông

+ Hành vi vi phạm điều kiện của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Hành vi được biểu hiện ở việc điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không có đủ điều kiện khác như điều kiện về sức khoẻ, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn.v.v vào điều khiển phương tiện giao thông hoặc điều động người say rượu hoặc dùng các chất kích thích khác điều khiển các phương tiện giao thông vận tải đường bộ

+ Hành vi gây rối trật tự an toàn giao thông đường bộ bằng phương tiện giao thông cơ giới thể hiện bằng các hành vi: tổ chức đua xe hoặc đua xe mô

tô, ô tô hoặc các loại xe có gắn động cơ khác (công nông, máy cày, máy kéo ) trái phép

Trang 24

Về hậu quả tác hại: Hầu hết các tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn giao thông đều có cấu thành vật chất vì vậy, hậu quả tác hại cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm Các tội phạm quy định tại các Điều 202, Điều 203, Điều 204, Điều 205 điều là gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác

Đối với tội đua xe trái phép quy định tại Điều 206 thì hậu quả là gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác Nếu chưa gây ra thiệt hại nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích

Các thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng sức khỏe hoặc tài sản thiệt hại sức khỏe hoặc tài sản phải có mối quan hệ nhân quả với các hành vi

vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ Điều này đổi hỏi phải xác định được những thiết hại đó có nguyên nhân trực tiếp từ việc vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Đối với tội tổ chức đua xe trái phép quy định tại Điều 207 là tội có cấu thành hình thức nên chỉ cần có hành vi tổ chức đua xe như khởi xướng việc đua xe, xúi giục, kích động, lôi kéo, tập hợp các tay đua, tuyển chọn các tay đua; đưa ra một số các qui định về tính chất, hình thức đua cũng như giải thưởng; bố trí thời gian, địa điểm tập kết, đường đua; chuẩn bị chương trình,

kế hoạch đua xe cũng như để đối phó với các cơ quan chức năng.v.v là tội phạm hoàn thành mà không cần gây ra hậu quả, tác hại cho xã hội

• Về mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ thường được thực hiện với lỗi vô ý thể hiện dưới cả hai dạng là vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra, tin rằng hậu quả không xảy ra hoặc xảy ra nhưng có thể ngăn ngừa được Chính

vì do tự tin hoặc do cẩu thả trong khi thực hiện hành vi mà đã để xảy ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội [22, tr.497]

Trang 25

Vô ý vì quá tự tin thể hiện ở chỗ: về lý trí, người phạm tội nhân thức được hành vi của mình vi phạm các quy đinh về trật tự an toàn giao thông đường bộ, những hành vi đó là nguy hiểm và có thể gây ra hậu quả cho xã hội Nhưng họ tin vào khả năng điều khiển, xử lý của mình và các điều kiện khách quan khác nên cho rằng hậu quả sẽ không xảy ta Về ý chí, họ không mong muốn cho hậu quả xảy ra, cũng không bỏ mặc cho hậu quả xảy ra Nhưng kết quả là hậu quả đã xảy ra ngoài ý muốn của họ

Vô ý vì cẩu thả thể hiện ở chỗ, khi thực hiện các hành vi vi phạm trật tự

an toàn giao thông, họ không biết là mình vi phạm do không quan sát, không chú ý, thực hiện các hành vi không đúng quy tắc an toàn thể hiện sự bất cẩn, cẩu thả, mặc dù khi tham gia giao thông, khi thực hiện các hành vi liên quan đến giao thông đường bộ, họ buộc phải biết và phải thực hiện các quy tắc an toàn giao thông nên đã gây thiệt hại về tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng

về sức khỏe, tài sản của người khác

Riêng hai tội: Đua xe trái phép và tổ chức đua xe trái phép quy định tại Điều 206 và Điều 207 được thực hiện bằng lỗi cố ý mà cụ thể là cố ý trực tiếp thẻ hiện ở chỗ, những người thực hiện hành vi tổ chức đua xe hoặc đua xe trái phép đều nhận thức được rằng hành vi đua xe không được cho phép của cơ quan có thẩm quyền bị pháp luật cấm Họ biết được cuộc đua xe do họ tổ chức hay tham gia không có giấy phép nhưng họ vẫn mong muốn thực hiện

Về động cơ phạm tội, đối với tội tổ chức đua xe trái phép, và đua xe trái phép có nhiều động cơ, mục đích khác nhau như vụ lợi, lấy số má, danh tiếng giang hồ, quy tụ băng nhóm nhưng không là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm

• Về chủ thể tội phạm

Chủ thể của đa số các tội phạm cùng nhóm xâm phạm quy định về trật

tự an toàn giao thông đường bộ phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình

Trang 26

sự và từ đủ 16 tuổi trở lên vì các tội phạm quy định tại các điều 202, 203, 204,

205 đều có mức cao nhất của khung hình phạt ở tất cả các khoản tối đa là 15 năm tù (tức đều là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng và đều có lỗi do vô ý) Theo qui định của Luật hình sự Việt Nam những người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Có hai tội phạm của nhóm này cần có chủ thể đặc biệt đó là tội đưa vào

sử dụng phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn (Điều 204)

và tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205) Chủ thể của tội phạm ở đây phải là những người có thẩm quyền đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ hoặc người có thẩm quyền điều động người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ: thủ trưởng đơn vị vận tải, cán bộ kiểm định kỹ thuật

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể là chủ thể của tội tổ chức đua xe trái phép quy định tại Điều 206 khi hành vi của họ có các tình tiết tăng năng tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 là:

+ Tổ chức đua xe có qui mô lớn: Tập hợp nhiều người, nhiều phương tiện tham gia cuộc đua

+ Tổ chức cá cược: dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để cá cược được thua về người đua xe thắng hoặc thua

+ Tổ chức việc chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép: dùng sức mạnh vật chất chống lại hoặc đe doạ uy hiếp người có trách nhiệm như cảnh sát giao thông, tự vệ, dân phòng đập phá phương tiện của người làm nhiệm vụ

+ Tổ chức đua xe nơi tập trung đông dân cư như tổ chức đua xe trong nội thành, nội thị hoặc những nơi đông dân cư khác

Trang 27

+ Tháo dỡ các thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua: tháo phanh, còi, đèn, xi nhan

+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác: gây chết người hoặc thương tích, tổn hại cho sức khoẻ của người khác từ 11% trở lên hoặc gây thiệt hại lớn về tài sản

+ Tái phạm về tội này hoặc tội đua xe trái phép: đã bị kết án về tội này hoặc tội đua xe trái phép, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm

+ Tái phạm nguy hiểm hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Đối với tội đua xe trái phép quy định tại Điều 207 khi có các tình tiết tăng năng quy định tại khoản 3 và khoản 4 là tái phạm nguy hiểm hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Đường lối xử lý và chính sách hình sự của Nhà nước ta thể hiện qua việc áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ nhìn chung đã cho thấy thái độ xử lý kiên quyết kết hợp với các biện pháp quản lý giáo dục của Nhà nước đối với các hành vi mang tính nguy hiểm cao hoặc đã gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội

BLHS năm 1999 đã qui định các loại hình phạt chính áp dụng đối với các tội xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ: phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân Hình phạt bổ sung: phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định )

Phạm vi áp dụng hình phạt tiền với quy định là hình phạt chính được

mở rộng ở tất cả 4 tội có lỗi vô ý Mức phạt tiền cao nhất là 50 triệu đồng, thấp nhất là 5 triệu đồng

Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng rộng rãi ở tất cả các tội thuộc nhóm tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ mức cao

Trang 28

nhất là 3 năm, mức thấp nhất là 1 năm Điều này chứng tỏ nhà nước ta đánh giá nhân thân của loại tội phạm này có mức nguy hiểm tương đối, có thể giáo dục cải tạo ngay cả khi không cần cách ly xã hội

Hình phạt tù có thời hạn được áp dụng ở tất cả các tội nhưng phổ biến

là ở mức từ 3 tháng đến 20 năm

Hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định cũng được áp dụng phổ biến (3/6 tội) với mức từ 1-5 năm

1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.2.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan chế độ thực dân phong kiến, đồng thời thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để bảo vệ thành quả cách mạnh, ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành nhiều các văn bản pháp luật hình sự quy định các tội chống chính quyền dân chủ nhân dân như: tội âm mưu lật đổ chính quyền, tội gián điệp, tội bạo loạn, tội hoạt động phỉ trong Sắc lệnh số

21 ngày 14/2/1946 Tuy nhiên, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường

bộ nằm trong hệ thống luật hình sự Việt Nam được quy định muộn hơn nhiều

so với các loại tội khác và chưa được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự trong thời kỳ này Như vậy, các tội chống lại chính quyền dân chủ nhân dân ra đời rất sớm, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong khi đó, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường

bộ có lịch sử ra đời muộn hơn và quy phạm pháp luật quy định các tội phạm này là những quy phạm viện dẫn, nên một số tội trong nhóm các tội này chỉ ra đời khi có các quy định về an toàn giao thông vận tải - đường bộ tức là khi có Luật về giao thông đường bộ

Trang 29

Sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta tiến hành xây dựng hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật để quản lý xã hội, trong đó

có các văn bản pháp luật bảo đảm an toàn giao thông vận tải đường bộ Ngày 03/10/1955 [24, tr.73], Luật đi đường bộ mới được ra đời kèm theo Nghị định

số 348/NĐ của Bộ Giao thông Bưu điện Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta về an toàn giao thông vận tải, tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ Tiếp theo Nghị định 348/NĐ nói trên, hàng loạt các văn bản pháp lý khác về an toàn giao thông vận tải đã ra đời như: Nghị định số 139/NĐ ngày 19/12/1956; Nghị định số 44/NĐ ngày 27/5/1958 của Bộ Giao thông Bưu điện; Nghị định Liên bộ Giao thông Bưu điện - Công an số 09/NĐLB ngày 07/3/1956 ban hành thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ; Nghị định số 10 ngày 11/01/1968 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về kỷ luật an toàn giao thông vận tải trong thời chiến; Nghị định số 36/CP ngày 29/5/1995 về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ và trật tự đô thị và đến nay là Nghị định số 36/CP ngày 10/7/2001 về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật

tự an toàn giao thông đô thị Đáng chú ý là ngày 29/6/2001, Quốc hội đã thông qua Luật giao thông đường bộ đầu tiên của Việt Nam Luật này bắt đầu

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2002

Các văn bản chuyên ngành nói trên đã tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sự quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ Tuy nhiên, phần lớn các văn bản chỉ tập trung vào tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông vận tải (ghép các hành vi xâm phạm đến các lĩnh vực giao thông vào làm một nhóm)

Văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta điều chỉnh tội vi phạm quy định về nhóm tội phạm này là Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, Điểm 4 của Thông tư nói trên

Trang 30

quy định: "Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà làm người khác

bị thương sẽ bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến mười năm" [25, tr.356] Như vậy, qua nghiên

cứu Thông tư này, thấy rõ những nội dung chủ yếu sau đây:

- Chỉ những vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường

bộ gây thương tích, gây chết người mới bị coi là tội phạm và bị xử phạt Nếu chỉ gây thiệt hại thuần túy về vật chất không bị coi là tội phạm và không bị xử

lý về hình sự;

- Điều luật này quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với hai khung hình phạt khác nhau; khung 1 quy định - phạt tù từ ba tháng đến ba năm (cấu thành tội phạm cơ bản) được áp dụng cho trường hợp chỉ gây thương tích Còn khung 2 quy định - phạt tù đến mười năm (cấu thành tội phạm tăng nặng) được áp dụng cho trường hợp gây chết người

Sau hơn một năm thực hiện Thông tư 442/TTg, ngày 29/6/1956, theo

đề nghị của Ban Nội chính Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư

số 556/TTg bổ khuyết điểm 4 của Thông tư này Điểm 4 của Thông tư 556 quy định: Không cẩn thận hay không theo Luật đi đường mà làm người khác

bị thương thì sẽ phạt tù từ ba tháng đến ba năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến mười năm Trong trường hợp gây tai nạn lớn làm chết nhiều người và gây thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân thì có thể

bị phạt đến tù chung thân hay tử hình [23, tr.73]

Như vậy, trước ngày giải phóng miền Nam, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đều được điều tra, truy tố, xét xử theo Thông tư 442/TTg và Thông tư 556/TTg của Thủ tướng Chính phủ Qua xem xét quy định nói trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Việc quy định tội phạm này trong pháp luật hình sự ở một chừng mực

Trang 31

nhất định thời đó còn nhiều hạn chế, thể hiện ở chỗ: trật tự ban hành các loại văn bản cũng như nội dung của văn bản không đúng thẩm quyền (Thông tư của Thủ tướng Chính phủ ban hành những nội dung đáng lẽ phải do luật quy định; Bộ trưởng ban hành nghị định ); điều luật quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ còn đơn giản, chưa thể hiện sự phân hóa cao trách nhiệm hình sự (chỉ có 2 khung hình phạt và khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa của các khung hình phạt quá xa nhau; các tình tiết định khung tăng nặng còn bó hẹp trong giới hạn mức độ hậu quả, mà không có các loại tình tiết khác như tình tiết phạm tội trong tình trạng say rượu, gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn nên không đáp ứng được tính đa dạng, phức tạp của hành vi phạm tội)

- Việc ban hành Thông tư số 556/TTg ngày 29/6/1955 bổ sung cho Thông tư 442/TTg ngày 29/6/1956 có hạn chế lớn về mặt lập pháp và không có hiệu quả Trong Thông tư này, các nhà lập pháp đã quá nhấn mạnh tới mặt khách quan của tội phạm (dấu hiệu hậu quả của tội phạm), mà không chú ý tới lỗi vô ý của người phạm tội nên chế tài cho tội này quá nghiêm khắc, không phù hợp với bản chất của loại tội có lỗi vô ý và với yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm Ví dụ: Thông tư 556/TTg ngày 29/6/1956 quy định gây chết 01 người có thể bị phạt tù đến 10 năm (khung 2), gây chết nhiều người và gây thiệt hại lớn về tài sản có thể phạt tù chung thân hoặc tử hình (khung 3) Thực tiễn xét xử từ trước tới nay chưa có bị cáo nào bị phạt tù chung thân hoặc

tử hình về tội này Những bị cáo làm chết 1 người thông thường bị xử tù 3 năm hoặc nhẹ hơn, chưa có trường hợp nào xử phạt đến 10 năm Điều đó chứng tỏ luật pháp quá xa rời thực tiễn, cần phải được sửa đổi, bổ sung

Như vậy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, việc xử lý hành

vi phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

Trang 32

bộ được thực hiện theo hướng dẫn tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xử

lý tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn (Công văn số 949/NCPL ngày 25/11/1968 của Tòa án nhân dân tối cao) Theo Bản sơ kết này, thì tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn xâm phạm nền an toàn giao thông - một bộ phận của nền trật tự, trị an - vốn thuộc loại tội khinh xuất Đối với loại tội này, cần xác định chắc chắn là có hành vi phạm luật lệ giao thông, có hậu quả tác hại cụ thể do hành vi phạm tội gây nên Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn thường xảy ra trong phạm vi hoạt động nghề nghiệp của người lái và nói chung

là hoạt động của người điều khiển phương tiện vận chuyển

Ngoài ra, đường lối xử lý đối với người phạm tội vi phạm luật lệ giao

thông gây tai nạn là “trừng trị thích đáng đối với những vi phạm nghiêm trọng, nghiêm trị đúng mức đối với những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời kết hợp với thận trọng để xem xét đầy đủ mọi tình tiết một cách toàn diện”, cụ thể:

- Vi phạm nghiêm trọng về luật lệ giao thông vận tải luôn thể hiện trên hai mặt: 1) Người lái xe thiếu tinh thần trách nhiệm không chú ý kiểm tra an toàn của phương tiện vận chuyển, phóng bừa, vượt ẩu, không tuân thủ luật lệ giao thông vận tải; 2) Tai nạn làm thiệt hại đến tài sản của xã hội hoặc tính mạng của nhân dân

Về mức án, nếu không có tình tiết đáng châm chước, thông thường có thể phạt tới hai năm tù giam, nhưng cá biệt cũng có vụ có thể xử phạt tới ba năm tù giam Châm chước đối với những vi phạm tuy nghiêm trọng nhưng xảy ra trong những hoàn cảnh đặc biệt của thời kỳ chiến tranh, như: đường sá, cầu, phà xấu vì bị phá hoại, xe chạy ban đêm không được bật đèn, lái xe mới được đào tạo, tay lái non, có ít kinh nghiệm do thời gian phục vụ còn ngắn, chưa kịp xử lý nhiều khó khăn, phức tạp đặc biệt, có khi lại bị mệt mỏi vì phải tăng cường độ lao động do yêu cầu cấp thiết của kế hoạch vận chuyển; địch

Trang 33

uy hiếp và bắn phá, người lái xe mất bình tĩnh, do tinh thần bị căng thẳng mà gây ra tai nạn; v.v [8, tr.135] Về mức hình phạt, trong trường hợp này có thể áp dụng hình phạt và biện pháp nhẹ như: cảnh cáo, án treo; trường hợp thật cần thiết giam giữ, không nên phạt quá một năm tù

- Phạm tội vi phạm đặc biệt nghiêm trọng về luật lệ giao thông, vận tải

là những vi phạm thể hiện đầy đủ trên các mặt sau đây:

+ Vi phạm có mức độ khinh xuất cao như: lái xe biết rõ ràng là phương tiện vận chuyển không an toàn, có thể dễ gây tai nạn mà không quan tâm sửa chữa hoặc đề nghị sửa chữa, cứ sử dụng phương tiện một cách tắc trách, không có biện pháp tối cần thiết phòng ngừa tai nạn; phóng bừa, vượt ẩu một cách quá mức, không tuân thủ luật lệ một cách trắng trợn; có biểu hiện rõ ràng

là ỷ lại vào tình hình thời chiến mà vi phạm luật lệ giao thông, trong trường hợp không có gì là ảnh hưởng trực tiếp do địch gây nên

+ Tai nạn gây nên tác hại lớn, như: chết nhiều người, tài sản bị thiệt hại

có giá trị lớn làm trở ngại cho sự thực hiện chủ trương và kế hoạch của Đảng

và Nhà nước; v.v

+ Nhân thân của bị cáo xấu, hoàn cảnh và điều kiện phạm tội nghiêm trọng, như: lái xe có phẩm chất chính trị xấu, sinh hoạt bê tha, đã có tiền án, tiền sự về vi phạm luật lệ giao thông vận tải, đang lợi dụng nhiệm vụ công tác

để có những hành vi phạm pháp khác (như thông đồng với gian thương, với những phần tử xấu chở hàng lậu thuê, đầu cơ, chở hàng thuê lấy tiền tiêu riêng; v.v )

Về mức án, nếu không có tình tiết gì đáng châm trước và chưa xét đến những hành vi phạm tội khác với ý nghĩa là phạm tội độc lập, có thể áp dụng mức án đến năm năm tù giam; cá biệt có thể phạt tới bảy năm tù giam

Mục IV - Đường lối xử lý đối với một số trường hợp cụ thể cũng đã nêu: 1) Việc định tội và việc phân định mức độ trách nhiệm hình sự giữa người lái chính với lái phụ hoặc người nào khác cầm tay lái;

Trang 34

2) Vấn đề thu hồi bằng cầm lái (với tính chất là một biện pháp hành chính, vừa là một hình phạt phụ về hình sự)

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Chỉ thị số 138-TTg ngày 15/8/1970 về việc cấm dùng xe ôtô vận tải trái phép Theo đó, các lái xe ôtô vận tải tuyệt đối không được mang xe ô tô của Nhà nước đi vận chuyển trái phép; nếu vi phạm sẽ bị thi hành kỷ luật nặng, phạt tiền, thu bằng lái, truy

tố trước Tòa án Tuy nhiên, cũng chưa khẳng định rõ, nếu ở mức độ nặng, thì

bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm gì

Đến năm 1976, Chính phủ mới ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân Tại Điều 9 Sắc luật này quy định về tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và

sức khỏe của nhân dân như sau: "Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng với các khung hình phạt tù từ ba tháng đến năm năm, trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến mười lăm năm Trong mọi trường hợp có thể bị phạt tiền đến 1000 đồng ngân hàng"

Qua trên cho thấy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, các hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa được quy định là một tội phạm độc lập Đường lối xử lý hành vi phạm tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn được thực hiện theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xét xử tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn Đến năm 1976, Nhà nước mới ban hành một văn bản dưới dạng Sắc luật quy định tội phạm và hình phạt đối với tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng chỉ là một trong số các tội xâm phạm đến trật

tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân; được quy định tại một

điều luật có tên tội danh là tội "xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân"

Trang 35

Như vậy, mặc dù Nhà nước đã ban hành một số văn bản khác nhau, tuy nhiên, phần lớn các văn bản chỉ tập trung chủ yếu vào xử lý và hướng dẫn về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng mà Bộ luật hình sự năm 1985 ghi nhận một cách đầy đủ và có hệ thống sau này

1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

Tháng 6 năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, được công bố bởi Lệnh của Chủ tịch nước ngày 09/7/1985 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986

Về nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, Bộ luật hình sự

đã quy định cụ thể các tội sau:

- Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải (Điều 186)

Trong Bộ luật này, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa có tên riêng, mà được quy định chung trong tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải thuộc bốn lĩnh vực - đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không Quy phạm pháp luật quy định tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải của Bộ luật hình sự năm 1985 (Điều 186, Chương VIII - Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính) có nội dung như sau:

1 Người nào điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

a) Đi quá tốc độ, chở quá trọng tải, tránh, vượt trái phép;

b) Không đi đúng tuyến đường, phần đường, luồn lách, đường bay và

độ cao quy định;

Trang 36

c) Vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông vận tải

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Điều khiển phương tiện an toàn giao thông vận tải mà không có bằng lái; trong khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác;

b) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn

3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm

4 Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị xử phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 so với nội dung trong Điều 9 Sắc luật 03-SL/76 đã có một bước tiến bộ rất lớn cả về nội dung và

kỹ thuật lập pháp, cụ thể tên của tội đã được xác định rõ là "Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng" Đây là

điều mà các văn bản pháp luật trước đó đều chưa thể hiện được Ngoài ra, Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 không chỉ nêu tội danh mà đã mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm cũng như quy định các khung hình phạt tương ứng với các loại trường hợp phạm tội khác nhau, khắc phục được hạn chế của Sắc luật 03-SL/76 (chỉ nêu tội danh và hình phạt) Đặc biệt, đường lối xử lý tội phạm theo Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 cũng có

sự thay đổi so với Sắc luật 03-SL/76, Thông tư 442/TTg và Thông tư 556/TTg Về hình phạt tù, Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 đã nâng mức phạt tù tối đa từ 15 năm lên 20 năm cho phù hợp với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của tội này

Trang 37

- Tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 187)

Theo đó, Điều luật này quy định:

1 Người nào có một trong những hành vi sau đây cản trở giao thông vận tải gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Đào, phá các công trình giao thông, đặt vật chướng ngại cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không;

b) Di chuyển, phá hủy biển báo hiệu hoặc các thiết bị giao thông;

c) Có hành vi khác cản trở giao thông vận tải

2 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

Tội phạm được quy định nhằm xử lý các hành vi cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng như: đào, phá các công trình giao thông, đặt vật chướng ngại cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không; di chuyển, phá hủy biển báo hiệu hoặc các thiết bị giao thông; v.v xâm phạm đến an toàn công cộng, qua đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác

- Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông vận tải không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không có đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 188) Theo đó:

1 Người nào có một trong những hành vi sau đây thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

a) Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của các phương tiện giao thông vận tải mà cho đưa vào sử dụng các phương tiện rõ ràng không bảo đảm an toàn gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản;

Trang 38

b) Điều động người không có bằng lái hoặc không đủ những điều kiện khác, điều động người say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nói trên

2 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm

Tương tự, tội phạm được quy định nhằm xử lý các hành vi đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông vận tải không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không có đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng, qua đó xâm phạm đến an toàn công cộng, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác

Như vậy, sau hơn 10 năm thực hiện, Bộ luật hình sự năm 1985 nói chung, cũng như quy phạm pháp luật quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói riêng đã phát huy tác dụng to lớn trong việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Tuy nhiên, quy định của Bộ luật hình

sự năm 1985 về các tội phạm này cũng bộc lộ một số hạn chế Chẳng hạn,

trong đó nổi bật là việc quy định cả bốn loại hành vi phạm tội trong bốn lĩnh

vực an toàn giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không) có đặc điểm kỹ thuật và yêu cầu bảo đảm an toàn rất khác nhau vào cùng một điều luật hoặc tương tự, hành vi cản trở giao thông cũng gộp vào

trong cùng một điều luật trong cả bốn lĩnh vực an toàn giao thông vận tải

(đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không); v.v Điều này đã hạn chế nhiều đến việc quy định cụ thể hành vi phạm tội, cũng như việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội

Tóm lại, qua bốn lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1985 vào

các năm 1989, 1991, 1992 và 1997, nội dung của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ về cơ bản nội dung không có gì thay đổi so với chính các tội phạm này, mà chỉ có sự thay đổi về tên tội (được sửa đổi năm 1991),

Trang 39

từ tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng thành tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải Việc bỏ cụm

từ "gây hậu quả nghiêm trọng" nhằm cho tên tội phù hợp với tất cả các trường

hợp bị coi là phạm tội này theo nội dung của điều luật (khoản 4 Điều 186 quy định trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cũng là trường hợp phạm tội này, mặc dù chưa gây ra hậu quả nguy hiểm cho

xã hội) Ngoài ra, các tội phạm khác vẫn giữ nguyên

Bên cạnh đó, song song với nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành, hành vi đua xe trái phép không được quy định thành một tội danh riêng để xử lý độc lập Hành vi này

có những biểu hiện rõ rệt của một tội danh được Bộ luật hình sự năm 1985 quy định là tội gây rối trật tự công cộng Vì vậy, quy định của điều luật này được sử dụng để xử lý về hình sự hành vi đua xe trái phép Thời gian sau, tình trạng đua xe trái phép, đặc biệt là đua xe máy, diễn ra phức tạp, gây mất trật

tự công cộng, vi phạm các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ đe dọa tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc Nhà nước Việc xử lý về hình sự của các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đối với loại vi phạm pháp luật này còn chưa thống nhất, dẫn đến hạn chế hiệu quả của việc ngăn chặn loại vi phạm pháp luật này Do đó, Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/TTLT ngày 31/12/1996 để hướng dẫn xử lý hành vi đua xe trái phép như sau:

Một là, mọi trường hợp đua xe trái phép có từ 2 xe tham gia trở lên

đều bị coi là hành vi gây rối trật tự công cộng và người đua xe trái phép phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng, theo khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 Người tổ chức cuộc đua xe trái phép, người xúi giục người khác đua xe trái phép thì bị truy cứu trách

Trang 40

nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 (tội gây rối trật tự công cộng)

Hai là, người đua xe trái phép nếu gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe

của người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, mà thiệt hại xảy ra

là do lỗi vô ý, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều

198 Bộ luật hình sự (nếu có hành vi tổ chức, xúi giục thì bị truy cứu trách

nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 - tội gây rối trật

tự công cộng) còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 186 Bộ luật hình

sự năm 1985

Ba là, người đua xe trái phép nếu gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe

của người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, mà thiệt hại xảy

ra là do lỗi cố ý, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 198

Bộ luật hình sự năm 1985 (tội gây rối trật tự công cộng), còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1985 (Điều 101, Điều 109, Điều 138 hoặc Điều 160)

Bốn là, người đua xe trái phép vì mục đích được thua bằng tiền hoặc

hiện vật thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự (tội gây rối trật tự công cộng) còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1985

Năm là, người đua xe trái phép có hành vi chống lại người thi hành

công vụ ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 (tội gây rối trật tự công cộng) còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ theo Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985

Sáu là, người đua xe trái phép có hành vi chống lại người thi hành công

vụ làm cho người thi hành công vụ bị thương hoặc chết thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 (tội gây

Ngày đăng: 18/12/2015, 17:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật hình sự Liên bang Nga (2011), Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.498-506, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Luật Hà Nội
Tác giả: Bộ luật hình sự Liên bang Nga
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
3. Lê Cảm - Trịnh Quốc Toản (2011), Định tội danh (Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập), tr.35, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh (Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập)
Tác giả: Lê Cảm - Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
4. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), sách chuyên khảo sau đại học, tr.190, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), sách chuyên khảo sau đại học
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
5. Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), tr. 497, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
6. Chính phủ (1998), Quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ - đô thị, đường sắt, đường thủy và xử lý hành chính, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ - đô thị, đường sắt, đường thủy và xử lý hành chính
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Công an Tỉnh Đắk Nông (2010-2014), Báo cáo Tổng kết công tác năm 2010-2014. PC67, Đắk Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác năm 2010-2014. PC67
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr.223-233, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
12. Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tr.83-93, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Đinh Bích Hà
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2007
13. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
Tác giả: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003
14. Trần Minh Hưởng (Chủ biên) (2009), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đó được sửa đổi bổ sung năm 2009 (tập 1), tr. 433áNxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đó được sửa đổi bổ sung năm 2009
Tác giả: Trần Minh Hưởng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009
15. Trần Minh Hưởng (chủ biên) (2010), Tìm hiểu Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những văn bản hướng dẫn thi hành, tr.439, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Trần Minh Hưởng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010
17. Đinh Văn Quế (2012), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Tập V - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
20. Quốc hội (1997), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật hình sự năm 1985, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật hình sự năm 1985
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1997
22. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
23. Quốc hội (2008), Luật giao thông đường bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giao thông đường bộ
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2008
24. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
27. Trần Văn Thảo (2013), Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bình Phước), Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bình Phước)
Tác giả: Trần Văn Thảo
Năm: 2013
28. Ngô Ngọc Thủy (2005), "Chương XXV - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng", Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, do Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương XXV - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng
Tác giả: Ngô Ngọc Thủy
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
30. Tòa án nhân dân huyện Cƣ Jut (2014), Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2014/HSST ngày 15/07/2014, Cƣ Jut Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2014/HSST ngày 15/07/2014
Tác giả: Tòa án nhân dân huyện Cƣ Jut
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Tổng số vụ án, tổng số bị  cáo đƣa ra xét xử và hình - Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk nông)   luận văn ths  luật  60 38 01 04 pdf
Bảng 2.1. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đƣa ra xét xử và hình (Trang 9)
Bảng 2.1. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân   người phạm tội về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông   đường bộ trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) trên địa bàn tỉnh Đắk Nông - Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk nông)   luận văn ths  luật  60 38 01 04 pdf
Bảng 2.1. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân người phạm tội về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (Trang 74)
Bảng 2.2. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân  người phạm tội về tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều  khiển các phương tiện giao thông đường bộ trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) - Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk nông)   luận văn ths  luật  60 38 01 04 pdf
Bảng 2.2. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân người phạm tội về tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) (Trang 77)
Bảng 2.3. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân người  phạm tội về tội cản trở giao thông đường bộ trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) - Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk nông)   luận văn ths  luật  60 38 01 04 pdf
Bảng 2.3. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân người phạm tội về tội cản trở giao thông đường bộ trong thời gian 05 năm (2010 - 2014) (Trang 78)
Bảng 2.4. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân  người phạm tội về tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ - Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk nông)   luận văn ths  luật  60 38 01 04 pdf
Bảng 2.4. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân người phạm tội về tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w