Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu như sau: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH
CHIẾM ĐOẠT THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA NGÀNH TÕA ÁN HÀ NỘI GIAI
ĐOẠN 2007 - 2012)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH QUỐC TOẢN
Trang 2HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ minh hoa và các trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thúy Hồng
Trang 4SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY
ĐỊNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu không có
tính chiếm đoạt 7 1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định các tội phạm xâm phạm sở hữu không
có tính chiếm đoạt 14 1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 16 1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 16 1.2.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 23 1.3 QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ
TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC 34
Trang 51.3.1 Bộ luật hình sự của Trung Quốc 34
1.3.2 Bộ luật hình sự của Liên bang Nga 39
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 46
2.1 CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ ĐẶC TRƯNG CHUNG CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 46
2.1.1 Khách thể của tội phạm 47
2.1.2 Mặt khách quan của tội phạm 50
2.1.3 Mặt chủ quan của tội phạm 54
2.1.4 Chủ thể của tội phạm 56
2.2 PHÂN BIỆT CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 56
2.3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 60
2.4 NHỮNG TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ 64
2.4.1 Những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt theo Bộ luật hình sự năm 1999 trên địa bàn thành phố Hà Nội 64
Trang 62.4.2 Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định
của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm sở hữu
không có tính chiếm đoạt 82
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 90
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 90
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 93
3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 96
3.3.1 Nhóm giải pháp về tổ chức cán bộ và chuyên môn nghiệp vụ 96
3.3.2 Nhóm giải pháp về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 98
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt Số hiệu
tính chiếm đoạt của ngành Tòa án nhân dân thành phố
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển loài người, vấn đề lợi ích vật chất luôn là căn nguyên của mọi xung đột trong xã hội Bởi vậy, việc đảm bảo quyền sở hữu các lợi ích vật chất luôn được các nhà nước trên thế giới quan tâm, bảo hộ Ở nước ta, quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản, bất khả xâm phạm của công dân, được ghi nhận tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013 – Đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam Quyền đó còn được ghi nhận cụ thể hơn trong các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật trên mọi lĩnh vực như: hình sự, dân sự, kinh tế…
Trong pháp luật dân sự, tài sản và quyền sở hữu tài sản là một trong số những vấn đề quan trọng, được quy định cụ thể tại Phần thứ hai “Tài sản và quyền sở hữu” với 7 Chương và 118 điều của Bộ luật dân sự năm 2005
Trong pháp luật hình sự, quyền sở hữu được bảo hộ thông qua 13 điều luật (từ Điều 133 đến Điều 145) thuộc Chương XIV “Các tội phạm xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự, là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân Cùng với tiến trình xây dựng đất nước và trưởng thành, pháp luật hình sự về vấn đề sở hữu từng bước được thiết lập và ngày càng hoàn thiện, đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng của nó Tuy nhiên, sự phát triển của nó không thể tách rời với
sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa và chịu sự chi phối bởi đặc điểm lịch
sử của đất nước và thế giới Bởi vì pháp luật của mỗi nước phản ánh sự phát triển của đất nước đó
Trong bối cảnh hiện tại, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới
và hội nhập quốc tế bước đầu có những chuyển biến và đạt được những thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của
Trang 9người dân từng bước được nâng cao Bên cạnh đó, mặt trái của nền kinh thị trường mang lại, đó là tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện như tội phạm công nghệ cao, một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng như tội phạm về ma túy; tội phạm về môi trường, tội phạm xâm phạm sở hữu… gây thiệt hại lớn về người, tài sản cho Nhà nước, tổ chức và công dân
Thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy, các tội phạm xâm phạm sở hữu luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số các vụ án hình sự Đối với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt thường xảy ra ít hơn so với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, nhưng đang ngày càng xảy ra phổ biến hơn, tính chất và thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội Song trên thực tế, do từ trước đến nay, loại tội phạm này ít xảy ra, thậm chí có tội chưa xảy ra nên chưa có sự tổng kết kinh nghiệm xét xử và văn bản hướng dẫn hầu như rất ít nên các cơ quan tiến hành tố tụng tỏ ra lúng túng, khó khăn khi giải quyết vụ án, không đánh gia đúng bản chất hành vi phạm tội dẫn đến việc xác định sai tội danh hoặc xử oan, bỏ lọt tội phạm Để khắc phục tình trạng trên thì vấn cốt lõi được đặt ra là phải năm vững các quy định của pháp luật về tội phạm, nhận thức đúng bản chất của hành vi phạm tội, từ
đó đưa ra đường lối xử lý đúng đắn, bảo đảm sự khách quan, công bằng và nghiêm minh của pháp luật
Nhận thức được điều đó, tôi chọn đề tài: “Các tội xâm phạm sở hữu
không có tính chiếm đoạt theo Bộ luật hình sự năm 1999 (trên cơ sở số liệu xét xử ngành Tòa án Hà Nội giai đoạn 2007 - 2012)".
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu các tội xâm phạm sở hữu nói chung có ý nghĩa to lớn không những về mặt khoa học mà còn cả về hình thức nên đã có nhiều
Trang 10công trình nghiên cứu xung quanh về vấn đề này như: “Một số vấn đề lý
luận về định tội danh và hướng dẫn phương pháp định tội danh”, - PGS
TS Trịnh Quốc Toản; “Vấn đề định tội danh trong các tội xâm phạm sở
hữu” - TS Nguyễn Ngọc Chí; “Nghiên cứu hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm sở hữu” – Đại tá, PGS, TS Trần Vi Dân ;
“Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu” - TS Nguyễn Ngọc Chí; “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa,
tài sản công dân”- Tác giả Vũ Thiện Kim; “Tìm hiểu khái niệm và những đặc trưng cơ bản của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam” - TS Đào Trí Öc;
“Xung đột quan điểm trong việc xác định tội danh” - TS Phạm Văn Beo;
“Tìm hiểu việc định tội và quyết định hình phạt từ phương diện là những hoạt
động áp dụng pháp luật hình sự cơ bản của Tòa án” - ThS Chu Thị Trang
Vân; “Vấn đề xác định và chuyển hóa tội danh nặng hơn, nhẹ hơn và ngược
lại” - ThS Nguyễn Hữu Hậu; “Định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2006- 2010” - ThS Trần Thị
Phương; Tạp chí Tòa án số 01- 2009; Tạp chí khoa học pháp luật số 2/2001
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu nói trên đã khái quát được một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề “Các tội xâm phạm sở hữu không có tình chất chiếm đoạt theo bộ luật hình sự năm 1999” trên cơ sở số liệu xét xử ngành Tòa án Hà Nội giai đoan 2007 - 2012
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trang 11có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội Từ đó chỉ ra các tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét
xử với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt theo Luật hình sự Việt Nam Như: Khái niệm, đặc điểm của các tội phạm xâm phạm sở hữu; Đặc điểm các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt; Cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt
- Phân tích, đánh giá sâu sắc thực trạng xét xử các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Chỉ ra được những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cũng như các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình
sự, vấn đề cải cách tư pháp theo Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 26/5/2005 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ chính trị
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: Phương pháp thống kê; phương pháp phân tích và tổng hợp các số liệu dưa trên bản án, quyết định và số liệu thống
Trang 12kê hàng năm của các cấp Tòa án; phương pháp so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật nhằm tìm ra những điểm mới trong quá trình nghiên cứu.
5 Những điểm mới của luận văn và đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa vô cùng quan trọng
cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn Bởi lẽ đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến việc với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó giải quyết các vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn xoay quanh đề tài tài này trên cơ sở những bản án, quyết định, số liệu báo cáo thống kê của ngành Tòa án Hà Nội
Những điểm mới của luận văn là:
- Nghiên cứu nhằm làm rõ khía cạnh pháp lý về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt, góp phần hoàn thiện lý thuyết định tội danh trong khoa học pháp lý hình sự
- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ thực trạng xét xử các tội xâm phạm
sở hữu không có tính chất chiếm đoạt của Tòa án cá cấp trong ngành Tòa án
Hà Nội, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử với các tội xâm phạm sở hữu không
có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Trên cơ sở những phân tích, đánh giá khoa học các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt trên phương diện lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu nói chung và các tội xâm phạm
sở hữu không có tính chiếm đoạt nói riêng
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một trong những tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà lập pháp cũng như các nhà nghiên cứu luật học và đặc biệt là các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc định tội
Trang 13danh làm cơ sở ho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn
cứ và đúng pháp luật
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm sở hữu không có
tính chất chiếm đoạt trong Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm
phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện các quy định các tội xâm phạm sở
hữu không có tính chiếm đoạt trong Bộ luật hình sự năm 1999 và nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu không
có tính chiếm đoạt
Ở bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại những cách thức nhất định để chiếm giữ, làm chủ của cải vật chất và trong quá trình thực hiện những cách thức đó xuất hiện quan hệ giữa người với người đối với những của cải vật chất đó Mối quan hệ đó là quan hệ sở hữu
Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội xuất hiện, tồn tại và phát triển như một tất yếu khách quan trong đời sống xã hội loại người, là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải vật chất Nó được luật hoá hành quyền sở hữu
Theo Điều 164 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì “quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” [27, tr.83] Đây là ba quyền năng cơ bản hợp thành quyền sở hữu
Quyền chiếm hữu tài sản là quyền của chủ tài sản tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình Thông thường quyền chiếm hữu được thực hiện bởi chủ sở hữu tài sản Nhưng người người không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định được nắm giữ, quản lý tài sản (Điều 182 BLDS)
Trang 15Quyền sử dụng tài sản là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trong đó hoa lợi là sản vật do tự nhiên mang lại và lợi tức là các khoản thu lời được từ việc khai thác tài sản Người không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền sử dụng tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu giao quyền sử dụng tài sản thông qua hợp đồng hay do pháp luật quy định (Điều 192 BLDS)
Quyền định đoạt tài sản là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác hoặc chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu tài sản của mình thông qua các hình thức chuyển giao quyền sở hữu như bán, chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế…
Trong quá trình thực hiện các quyền nêu trên, chủ sở hữu có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện các quyền chiếm hữu,
sử dụng và quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo ý chí của chủ
sở hữu nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng và quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Quyền sở hữu tài sản được ghi nhận trong Hiến pháp, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ thông qua các quy định pháp luật trên các lĩnh vực như dân sự, hình sự, kinh doanh thương mại
Trong pháp luật hình sự, quyền sở hữu tài sản được bảo hộ thông qua các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam tại chương “Các tội phạm xâm phạm sở hữu” Và quyền sở hữu ở đây là quyền sở hữu về tài sản mà không phải quyền sở hữu công nghiệp hay sở hữu trí tuệ Vì vậy mọi hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là những hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ sở hữu Tuy nhiên, hành vi phạm tội về sở hữu có thể xâm phạm cả ba quyền năng thuộc quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu như tội cướp tài sản, trộm cắp tài sản… nhưng cũng có tội phạm chỉ xâm hại một trong các quyền năng
Trang 16thuộc quyền sở hữu như tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản…
Đối với một số tội, tuy có hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhưng không phải là tội xâm phạm sở hữu và không được các nhà làm luật quy định
ở chương “Các tội xâm phạm sở hữu” Điều này xuất phát từ bản chất của hành vi phạm tội là ngoài việc xâm phạm quan hệ sở hữu, hành vi này còn đồng thời xâm phạm quan hệ xã hội khác và sự xâm phạm này mới thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì trong trường hợp đó khách thể của tội phạm không phải là quan hệ sở hữu Ví dụ như hành
vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức qua đó xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức đó
Như vậy, hành vi như thế nào bị coi là tội phạm xâm phạm sở hữu? Hiện có rất nhiều quan điểm xung quanh vấn đề này như:
Theo PGS TS Nguyễn Văn Huyên: Các tội xâm phạm sở hữu là hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XIV Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân
Theo Thạc sỹ Đinh Văn Quế: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi
có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện đầy đủ bản nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Theo Thông tư 02/2001/TTLN ngày 25/12/2001 của liên ngành TANDTC- VKSNDTC - BTP - BCA hướng dẫn áp dụng các tội xâm phạm sở hữu: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi xâm phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt về tài sản của người khác
Trang 17Theo quan điểm của tác giả, khái niệm tội phạm nói chung hay khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu nói riêng phải có tính tổng quát, phản ánh được bản chất pháp lý và bản chất xã hội của tội phạm, từ đó phân biệt các tội này với tội phạm khác
Nhìn chung, định nghĩa về khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nêu trên
đã đề cập tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản – mặt khách quan, tính trái pháp luật hình sự - mặt pháp lý và mặt chủ quan, đó là tội phạm xâm phạm sở hữu do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý
Tuy nhiên các khái niệm nêu trên chưa đề cập đến một dấu hiệu quan trọng của tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng, đó là
“đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự” của người thực hiện tội phạm Đặc điểm này là một trong ba đặc điểm thuộc mặt chủ quan của tội phạm, có ý nghĩa trong việc xác định một hành vi xâm phạm quyền sở hữu có phải là tội phạm hay không Đặc điểm “tuổi chịu trách nhiệm hình sự” có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực trách nhiệm hình sự và lỗi Bởi lẽ, một người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì thông thường sẽ có năng lực trách nhiệm hình sự (trừ trường hợp bị bệnh tâm thần hoặc bệnh lý khác làm mất khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi), nghĩa là người đó có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi theo quy định của pháp luật hình sự, và khi người đó thực hiện tội phạm thì mới có lỗi Nếu tại thời điểm chủ thể của hành vi thực hiện hành
vi ngây thiệt hại về tài sản cho người khác mà người đó chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc không có năng lực trách nhiệm hình sự thì chủ thể của hành vi không có lỗi, vì thế không phải là tội phạm Vì vậy không thể thiếu đặc điểm này trong khái niệm tội phạm nói chung cũng như trong khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nói riêng
Trang 18Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu như sau:
Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và của công dân
Căn cứ vào tính chất của hành vi khách quan xâm hại đến các quyền năng trong quyền sở hữu đối với tài sản, các tội xâm phạm sở hữu được chia làm 2 nhóm:
+ Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được quy định từ Điều
Trong đó, “chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình” [48, tr.366] Khái niệm này đã thể hiện được bản chất của khái niệm chiếm đoạt nhưng đã đồng nhất dấu hiệu chiếm đoạt với hành vi chiếm đoạt
Có quan điểm khác lại cho rằng, chiếm đoạt là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình Chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội
Xung quanh khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
và hành vi chiếm đoạt còn rất nhiều tranh cãi Nhưng cho đến nay, chưa có một học giả nào đưa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt Song căn cứ vào khái niệm các tội xâm phạm sở hữu cũng
Trang 19như khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nêu trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt như sau:
Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
có lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản mà chỉ gây thiệt hại về tài sản bằng hành vi hủy hoại, làm
hư hỏng, sử dụng, chiếm giữ trái phép hoặc thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Căn cứ vào tính chất của hành vi khách quan xâm phạm quyền sở hữu tài sản nên có sự phân chia các tội xâm phạm sở hữu thành hai nhóm là các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt nhưng dù thuộc nhóm tội nào thì hành vi phạm tội đối với các tội này đều có chung bản chất đó là xâm phạm sở hữu nên đều được quy định trong chương “Các tội xâm phạm sở hữu” Do đó, các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt cũng có các đặc điểm chung của các tội xâm phạm
sở hữu và có đặc điểm đặc trưng riêng của nhóm tội này Cụ thể như sau:
Một là, khách thể của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm
đoạt là quan hệ sở hữu tài sản (chỉ xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản mà không xâm phạm đến quan hệ nhân thân như một số tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là tội cướp tài sản, cướp giật tài sản hay bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản…)
Theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 thì quyền sở hữu tài sản được hợp thành bởi quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Trong khi các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt có hành vi xâm phạm cả ba quyền năng đối với tài sản của chủ sở hữu tài sản gồm quyền sử dụng, quyền
Trang 20chiếm hữu và quyền định đoạt tài sản như tội cướp tài sản, tôi trộm cắp tài sản
… thì đối với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt, có ba tội là tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là hành vi phạm tội xâm phạm cả ba quyền năng của chủ sở hữu, còn lại hai tội là tội chiếm giữ trái phép tài sản và tội sử dụng trái phép tài sản, hanh vi phạm tội chỉ xâm phạm quyền chiếm hữu hay quyền sử dụng là một trong ba quyền năng đối với tài sản của chủ sở hữu
Hai là, đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung
và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt nói riêng là tài sản
Tài sản, theo Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005, bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Nhưng trong các điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm sở hữu và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy, đối tượng tác động chủ yếu của loại tội phạm này là các loại tài sản hữu hình như vật, tiền, các giấy tờ có giá, còn tài sản thuộc loại vô hình (quyền tài sản) thì ít là đối tượng tác động của hành vi phạm tội này
Ba là, về hành vi khách quan, các tội xâm phạm sở hữu không có tính
chiếm đoạt được thực hiện thông qua các hành vi chiếm giữ, sử dụng, hủy hoại hoặc làm hư hỏng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhưng những hành vi này không có dấu hiệu chiếm đoạt và cũng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản
Bốn là, hậu quả của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt
phần lớn gây ra là thiệt hại về tài sản Đối với các tội này, thì thiệt hại về tài sản là thước đo đánh giá tích chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội và giá trị tài sản bị thiệt hại còn là căn cứ để phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm khác, bởi vì thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra chưa đến mức quy định của Bộ luật hình sự thì chưa bị coi là tội phạm Ví dụ như
Trang 21chiếm giữ tài sản dưới 5.000.000 đồng nhưng không phải là cổ vật hoặc vật
có giá trị lịch sử, văn hóa thì chưa bị coi là tội phạm Bên cạnh thiệt hại về tài sản, thì tội sử dụng trái phép tài sản hay tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản… còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức
Năm là, chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt
là chủ thể thường và chủ thể đặc biệt Tuy nhiên phần lớn thì chủ thể của các tội này là chủ thể thường, chỉ có một tội phạm có chủ thể đặc biệt (tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước - Điều 144)
Sáu là, cấu thành tội phạm của các tội này là cấu thành vật chất nên
ngoài dấu hiệu hành vi thì dấu hiệu hậu quả cũng như mối quan hệ nhân quả
là những dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này Bởi lẽ, nếu người thực hiện hành vi gây ra thiệt hại chưa đến mức Bộ luật hình sự quy định đối với tội phạm cụ thể thì hành vi đó chưa bị coi là tội phạm Mặt khác, người có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những thiệt hại về tài sản do chính hành vi của mình gây ra Nếu người có hành vi không gây thiệt hại về tài sản, nghĩa là giữa hành vi và hậu quả không có mối quan hệ nhân quả thì người thực hiện hành
vi không phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại đó Vì vậy việc xác định quan hệ nhân quả là rất cần thiết, là cơ sở để quy trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định các tội phạm xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt
Cũng như các chế định tội phạm khác, việc quy định các tội xâm phạm
sở hữu không có tính chiếm đoạt trong Bộ luật hình sự Việt Nam là cần thiết
và có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay Ý nghĩa của nó được thể hiện dưới các khía cạnh sau:
Trang 22Thứ nhất, quyền sở hữu tài sản được ghi nhận trong Hiến pháp, thể hiện
rõ đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo vệ cũng như không phân biệt các hình thức sở hữu Việc quy định các tội phạm xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt trong bộ luật hình sự là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp trong pháp luật hình sự, là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền sở hữu về tài sản của Nhà nước, của cơ quan, của tổ chức và công dân khỏi sự xâm hại của tội phạm Do đó, tất cả các hành vi xâm phạm một trong ba quyền năng hoặc xâm phạm đồng thời ba quyền năng hợp thành quyền sở hữu tài sản gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người không phải là chủ sở hữu tài sản nhưng được chủ sở hữu tài sản giao quyền theo quy định của pháp luật gây thiệt hại về tài sản mà thỏa mãn các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự đều bị coi là tội phạm và bị xử lý bằng chế tài hình sự nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân
Thứ hai, xuất phát từ việc đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội cũng như
hậu quả do tội phạm gây ra nghiêm trọng hơn so với bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào khác nên người phạm tội bị đe dọa xử lý bằng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước
là hình phạt Do đó việc quy định các tội này trong Bộ luật hình sự là căn cứ
để phân biệt tội phạm xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt với hành vi
vi phạm pháp luật liên quan đến quyền tài sản, từ đó áp dụng quy phạm pháp luật nội dung phù hợp để điều chỉnh quan hệ nêu trên như luật dân sự, luật hình sư, luật kinh tế…
Thứ ba, việc quy định các tội này trong Bộ luật hình sự là một trong
căn cứ quan trọng để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người thực hiện tội phạm trong từng trường hợp cụ thể
Trang 23Thứ tư, mỗi một chế độ xã hội, khi ban hành luật hình sự không chỉ
nhằm mục đích trừng trị người phạm tội mà Nhà nước muốn sử dụng luật hình sự như một công cụ để phòng ngừa tội phạm hiệu quả, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội Vì vậy việc quy định về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt góp phần tăng cường hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực này, từng bước hạn chế, đẩy lùi
và tiến tới loại bỏ tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội
Thứ năm, bên cạnh những ý nghĩa nêu trên, việc quy định các tội
phạm này còn có ý nghĩa trong việc giáo dụng ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật về quyền sở hữu tài sản nhằm nâng cao ý thức pháp luật và ý thức chống và phòng ngừa tội phạm nói trên Để làm được điều này, cần phải tăng cường phổ biến, giao dục pháp luật một cách sâu rộng về loại tội phạm này để người dân hiểu, tự giác tuân thủ pháp luật và có ý thức trong việc đấu tranh chống tội phạm
1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM
1999 QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT
1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến với ách đô hộ của thực dân Pháp và triều đình Nhà Nguyễn theo chính thể quân chủ chuyên chế - bộ máy tay sai của thực dân Pháp Bởi vậy, nước ta là một thuộc địa không có hiến pháp
Sau khi đất nước được thành lập, trong phiên họp Chính phủ ngày
3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trước ta đã bị chế độ quân chủ
chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên
Trang 24nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ” Tuy nhiên, trong tình thế nhà
nước cộng hoà vừa mới được thành lập lại phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, nền kinh tế kiệt quệ, trong khi đó kinh nghiệm lập pháp còn non kém, các chuyên gia pháp luật hầu như không có, việc duy trì áp dụng pháp luật của chế độ cũ là giải pháp hợp lý và tối ưu nhất, đảm bảo cho mọi hoạt động của chính quyền và người dân trong khuôn khổ của pháp luật, không phải áp dụng những biện pháp ngoài luật
Có thể nói, Luật hình sự ở thời kỳ đầu của giai đoạn này chủ yếu là các văn bản pháp luật được ban hành dưới dạng sắc lệnh, trên cơ sở kế thừa những quy định về hình sự của chế độ cũ nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ đất nước như Sắc lệnh số 47- SL ngày 10-10-1946 quy định về việc tạm thời giữ lại các luật lệ cũ, trong đó có Bộ “Luật hình an nam”, Bộ “Hoàng Việt hình luật” và Bộ “Luật hình An Nam” cho đến khi ban hành các văn bản pháp luật thống nhất trong cả nước
Điều 1 của Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 quy định: “Cho đến
khi ban hành những bộ pháp luật duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này”[12, tr.1]
Những quy định này còn được thể hiện trong Điều 42 Sắc lệnh số
51/SL ngày 17/4/1946: “Những luật lệ hiện hành vẫn giữ nguyên như cũ, trừ
những điều khoản trái với sắc lệnh này cùng trái với chủ quyền và chính thể dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam” [13, tr.8]
Việc ban hành sắc lệnh số 47 đã kịp thời giải quyết các vụ án hình sự, hạn chế tới mức thấp nhất sự xáo trộn trong đời sống, sinh hoạt của nhân dân, góp phần ổn định trật tự xã hội
Trang 25Cùng với việc duy trì pháp luật của chế độ cũ như một giải pháp tình thế, chính quyền cách mạng cũng từng bước xây dựng pháp luật của chế độ mới nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến cứu nước như ban hành các Sắc lệnh trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Đây là nguồn luật hình sự chủ yếu của thời kỳ này
Đến ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tại Điều 12 - Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” Việc qui định như vậy, đã tạo nên cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, là điều kiện ổn định sinh hoạt vật chất của mỗi con người
Năm 1955, Thủ tướng chính phủ ban hành Thông tư 442/TTg ngày 19/01/1955 hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội xâm phạm sở hữu như trộm cắp, cướp của, lừa đảo, bội tín Tuy nhiên, ở đó, các tội phạm xâm phạm xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt (tội hủy hoại tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản …) chưa được quy định thành từng điều luật cụ thể
Cũng trong giai đoạn này, Nhà nước cũng còn ban hành Sắc lệnh số 267/SL ngày 15-6-1958 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách kế hoạch của Nhà nước về xây dựng kinh tế và văn hoá Điều 2
Sắc lệnh 267 quy định: “Người phạm các tội trộm cắp, lãng phí, làm hỏng,
huỷ hoại, cướp bóc tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân với mục đích phá hoại sẽ bị xử phạt từ 5 năm đến 20 năm tù” [14, Điều 2]
Bên cạnh đó, Điều 10 Sắc lệnh 267 cũng quy định:
Kẻ nào vì thiếu tinh thần trách nhiệm mà trong công tác mình phụ trách đã để lãng phí, để hư hỏng máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, để lộ bí mật nhà nước, để xảy ra tai nạn, v v
Trang 26làm thiệt hại một cách nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của nhà nước, sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù Nếu bị can là người phụ trách thì có thể bị phạt tới 5 năm tù Nếu gây ra thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng, bị can có thể bị phạt tới 20 năm tù hoặc chung thân, và phải bồi thường thiệt hại” [14, Điều 10]
Sắc lệnh này đã bước đầu quy định về các tội xâm phạm sở hữu không
có tính chiếm đoạt với tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Các quy định này thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc nghiêm trị những người phạm tội vì mục đích phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, cản trở đến việc thực hiện kế hoạch chính sách của Nhà nước về kinh tế, văn hóa trong thời kỳ đó
Cũng trong giai đoạn này còn có sự xuất hiện và phát triển của hệ thống
án lệ mới Tại Thông tư 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ
đã khẳng định, sau khi Chính quyền cách mạng được thành lập, Toà án cách mạng Việt Nam đã xét xử dựa trên các văn bản pháp luật do Chính phủ ban hành, đồng thời vận dụng sáng tạo các quy định pháp luật của chế độ cũ để đúc kết kinh nghiệm xét xử và kinh nhiệm xét xử đó đã trở thành án lệ Song Thủ tướng Chính phủ cũng nhận định, các án lệ này mặc dù đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự nhưng về đường lối áp dụng có sự khác biệt, không thống nhất, rõ ràng, thậm chí chưa đúng giữa các địa phương Điều này chứng tỏ án
lệ được áp dụng một cách phổ biến ở nhiều địa phương trong giai đoạn này Tuy nhiên do đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên hiện không còn lưu giữ được những bản án của Tòa án mang tích án lệ nhưng tồn tại của các
án lệ mới là một thực tế không thể phủ nhận
Đến năm 1959, nhiệm vụ cách mạng được đặt ra trong giai đoạn này là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà
Trang 27Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Hiến pháp năm 1946 đã bộc lộ những hạn chế nhất định cần được bổ sung và thay đổi Ngày 31-12-1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp
Hiếp pháp năm 1959 ra đời có ý nghĩa vô cùng to lớn và là nguồn của Luật hình sự Việt Nam Bởi lẽ Hiến pháp năm 1959 đã củng cố một bước hệ thống các cơ quan nhà nước trong đó có hệ thống cơ quan tư pháp; tăng cường vai trò lập pháp và tách tư pháp ra khỏi hành chính; thành lập Toà án nhân dân tối cao Đó là cơ sở quan trọng, là tiền đề cho việc phát triển nguồn luật hình sự Bên cạnh đó, Hiếp pháp năm 1959 còn quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, đặt nền tảng cho các quan hệ xã hội được bảo vệ bằng pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó định hướng cho việc thiết lập các quy phạm pháp luật hình sự để bảo hộ các quan hệ xã hội Tại Điều 40 - Hiến pháp 1959: “Tài sản công cộng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thiêng liêng không thể xâm phạm Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng”
Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành hai bản Pháp lệnh năm 1970 đó là Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân được Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội thông qua ngày 21-10-1970 Pháp lệnh quy định:
Tài sản xã hội chủ nghĩa bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước (tức là sở hữu của toàn dân) và tài sản thuộc quyền
sở hữu của hợp tác xã và các tổ chức hợp pháp khác của nhân dân (tức là sở hữu của tập thể) [53, tr.2]; Còn Tài sản riêng của công dân được Nhà nước bảo hộ gồm có của cải do sức lao động của công dân làm ra, của cải thu nhập một cách hợp pháp hoặc để dành được, như tiền bạc, lương thực, quần áo, nhà ở, gia súc, xe cộ, tư trang, văn hóa phẩm và đồ dùng riêng khác [54, tr.2]
Trang 28Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt được quy định
trong các Pháp lệnh này bao gồm: Tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản
xã hội chủ nghĩa (Điều 6); Tội thiếu tinh thần trách nhiệm, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 14); Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 15); Tội chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 16) – Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ
nghĩa và các tội: Tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản riêng của công
dân (Điều 5), tội chiếm giữ trái phép tài sản riêng của công dân (Điều 12), tội
vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản riêng của công dân (Điều 15) -
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân
Nội dung của hai pháp lệnh đã thể hiện đầy đủ và toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với các tội phạm về sở hữu nói chung và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt nói riêng Đó là Nhà nước kiên quyết bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, coi tài sản xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, Nhà nước cũng bảo hộ tài sản riêng của công dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân Đồng thời Pháp lệnh cũng thể hiện đường lối xử lý người phạm tội của Đảng và Nhà nước là nghiêm trị những hành vi phạm tội có tích chất chuyên nghiệm, phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, phạm tội gây thiệt hại lớn… Đối với người phạm tội tự thú, người phạm tội có hành động ngăn chặn làm giảm bới hậu quả của tội phạm, khắc phục hậu quả, gây thiệt hại không đáng kể… thì được hưởng sự khoan hồng, được
“xử nhẹ hoặc miễn hình phạt”
Có thể nói, mặc dù các quy định còn chung chung, chưa đầy đủ, nhưng đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt được quy định chính thức bằng các điều luật cụ thể, có cấu thành tội phạm tương đối đầy đủ, đã quy định về các khung hình phạt với
Trang 29khung cơ bản và khung tăng nặng tương xứng với tính chất hành vi phạm tội trong một số điều luật của Pháp lệnh nhưng có sự phân biệt giữa tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân Ví dụ tội chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa - Điều 16 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa quy định:
1 Kẻ nào cố tình chiếm giữ tài sản xã hội chủ nghĩa bị giao lầm hoặc cố tình chiếm giữ tài sản do mình tìm được, bắt được, đào được mà biết đó là tài sản xã hội chủ nghĩa, nhưng không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm 2 Kẻ nào cố tình chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa
có giá trị đặc biệt thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm 3 Kẻ nào cố tình chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa có giá trị đặc biệt
mà đem cho hoặc trao đổi, buôn bán thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm [53, tr.8];
và tội chiếm giữ trái phép tài sản riêng của công dân - Điều 12 Pháp
lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài riêng của công dân quy định:
Kẻ nào cố tình chiếm giữ tài sản riêng của công dân bị giao lầm hoặc do mình tìm được, bắt được, đào được mà không nộp cho
cơ quan có trách nhiệm hoặc không trả lại cho người có của thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm [54, tr.6]
Tiếp đó là Sắc Luật số 03/SL ngày 15/03/1976 do Hội đồng Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ban hành ngay sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng qui định các tội phạm và hình phạt làm cơ sở pháp lý để
xử lý các hành vi xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, thân thể, tài sản
và quyền lợi khác của công dân
Như vậy, sau khi Chính quyền cách mạng non trẻ được thành lập (gia đoạn 1945 – 1959), văn bản pháp luật hình sự Việt Nam chủ yếu là Sắc lệnh,
Trang 30nhưng đến giai đoạn tiếp theo (giai đoạn 1959 – 1985) thì Pháp lệnh và Sắc luật giữ vai trò quan trọng hơn trong việc điều chỉnh quan hệ pháp luật hình
sự Bên cạnh, các vụ án hình sự còn được xét xử theo án lệ thông qua công tác tổng kết và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Cũng nằm trong tiến trình phát triển đó, các tội xâm phạm nói chung và các tội xâm phạm sở hữu nói riêng mới chỉ được quy định bởi các văn bản dưới luật như Sắc Lệnh, sau đó
là Pháp Lệnh và Sắc Luật Vì vậy, giá trị pháp lý của các văn bản này chưa cao, quy định chưa cụ thể, chưa rõ ràng, không có tính hệ thống nên việc áp dụng pháp luật không thống nhất, có nhiều vướng mắc, gây khó khăn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
Với những đặc điểm như nêu trên thì yêu cầu cấp bách được đặt ra là cần có một văn bản pháp luật có tính hệ thống, toàn diện và chính xác các các văn bản pháp luật hình sự nói chung và các quy định về các tội xâm phạm sở hữu nói riêng là cơ sở để bảo vệ các quan hệ xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, an toàn xã hội và xây dựng đất nước phù hợp với tiến trình phát triển của thế giới Văn bản pháp luật đó chính là Bộ luật hình sự năm 1985
1.2.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Trong giai đoạn này, đất nước có những chuyển biến đáng kể về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội như về chính trị: công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, đặc biệt là cải cách tư pháp được thúc đẩy mạnh mẽ, bước đầu
đã đạt được một số thành quả nhất định; về kinh tế: có sự chuyển hướng của phương thức quản lý nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa; về xã hội: Vấn đề dân chủ hoá,
mở rộng dân chủ cũng như vấn đề nhân quyền ngày càng được quan tâm, trú trọng Tất cả những thay đổi đó đã tác động mạnh mẽ và làm phát các quan hệ pháp luật mới, phức tạp cần được điều chỉnh bằng một văn bản pháp luật
Trang 31thống nhất, có giá trị pháp lý cao để đảo bảo sự phát triển ổn định của đất nước Vì vậy, sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1985 (27/06/1985) là một tất yếu khách quan
Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội khoá VII thông qua ngày 6-1985, thể hiện dưới hình thức bộ luật - một hình thức lập pháp cao, đã trình bày có hệ thống, toàn diện phần chung cũng như phần các tội phạm, có tính bao quát về tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội, là cơ sở để bảo vệ thành quả cách mạng, an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân
27-Bộ luật hình sự năm 1985 quy định tội phạm và hình phạt trên cơ sở nền kinh tế bao cấp và tình hình tội phạm của thời kì đó Vì vậy, ngay khi được ban hành, Bộ luật hình sự năm 1985 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, không phù hợp với chủ trương đổi mới của đất nước và những đòi hỏi của thời kỳ mới Tuy vậy với tư cách là Bộ luật hình sư Việt Nam đầu tiên, là nguồn duy nhất, là công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản, Bộ luật hình sự năm 1985 đã góp phần rất lớn trong việc bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp phát triển của xã hội
Trong Bộ luật hình sự 1985, những quy định về các tội xâm phạm sở hữu chịu ảnh hưởng sâu sắc, tiêu biểu cho thời kì quá độ xây dựng nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung với việc đề cao sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, hạn chế sở hữu cá nhân, theo đó có hai loại hành vi xâm phạm sở hữu là hành vi xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và hành vi xâm phạm sở hữu của công dân Hai loại hành vi này được quy định ở hai chương là chương IV “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa với 14 Điều (từ Điều 129 đến Điều 142)
Trang 32và chương VI “Các tội xâm phạm sở hữu công dân” với 13 Điều (từ Điều 151 đến Điều 163)
Cũng giống như các tội phạm xâm phạm sở hữu khác, thì các tội phạm xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt cũng được Bộ luật hình sự năm
1985 quy định trong hai chương, chương “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa” với 5 Điều (từ Điều 136 đến Điều 140) và chương “Các tội xâm phạm
sở hữu của công dân” với 4 Điều (từ Điều 159 đến Điều 161) gồm các tội sau:
Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa:
- Tội chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 136)
- Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 137)
- Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 137)
- Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 139)
- Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 140)
Và chương VI: Các tội xâm phạm sở hữu của công dân quy định các tội:
- Tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân (Điều 159)
- Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân (Điều 160)
- Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của công dân (Điều 161) Trong các tội nêu trên, có tội chiếm giữ trái phép tài sản và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản được quy định thành hai cặp tội tương ứng ở hai chương khác nhau Còn tội sử dụng trái phép tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước chỉ được quy định tại chương “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa Cụ thể như:
Tội chiếm giữ trái phép tài sản được quy định thành hai tội là Tội
chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa được qui định tại Điều 136 với
Trang 33nội dung “Người nào không trả lại tài sản xã hội chủ nghĩa bị giao nhầm hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản do mình tìm được, bắt được mà biết là tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm” và Tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân được qui định tại Điều 159 với nội dung:
“Người nào cố ý không trả lại tài sản cho người có tài sản hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị lớn của người khác bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm”
Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản cũng được quy định thành
hai tội là tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 138) và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân (Điều 160) với nội dung “Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 79 và Điều 94, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm” – Điều 138 và “Người nào hủy hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” – Điều 160
Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản cũng được quy định
thành hai tội là Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ
nghĩa (Điều 140) và Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của công dân (Điều 161) với nội dung “Người nào vô ý gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm” – Điều 140 và
“Người nào vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đế tài sản của người khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm” – Điều 161
Tuy nhiên tội sử dụng trái phép tài sản chỉ được quy định tại Điều 137,
Trang 34chương IV với tên tội là Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa:
“Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến
hai năm” Hay Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nước cũng chỉ được quy định tại điều 140, chương IV với tên gọi là
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa:
“Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”
Xét về nội dung, các cặp tội tương ứng này có dấu hiệu pháp lí tương tự nhau về mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm và chỉ khác nhau về dấu hiệu khách thể của tội phạm là quan hệ sở hữu tài sản xã hội chủ nghĩa và quan hệ sở hữu tài sản của công dân Việc Bộ luật hình sự năm 1985 qui định hai cặp tội tương ứng này thành hai tội danh cụ thể tại hai chương khác nhau xuất phát từ tính chất quan hệ sở hữu được luật hình sự bảo vệ khác nhau, do vị trí của hai loại quan hệ sở hữu có tầm quan trọng khác nhau
đó là sở hữu Nhà nước và sở hữu cá nhân, trong đó coi trọng sở hữu Nhà nước hơn sở hữu cá nhân Vì vậy, Bộ luật hình sự năm 1985 xác định hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa có tính nguy hiểm hơn hơn so với hành vi phạm tội xâm phạm tài sản của công dân, theo đó, Bộ luật hình sự năm 1985 quy định khung hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa nặng hơn mức hình phạt đối với các tội xâm phạm tài sản của công dân Chính những quy định như vậy đã bộ lộ những bất cập trong thực tiễn xét xử của nhiều năm trước, đó là trường hợp hành vi xâm phạm tài sản của các đơn vị kinh tế thuộc sở hữu chung của nhiều thành phần kinh tế như công
ty cổ phần, công ty có vốn liên doanh, liên kết thì không thể xác định người
Trang 35phạm tội xâm phạm tài sản thuộc hình thức sở hữu của thành phần kinh tế nào
đã dẫn đến việc định tội và quyết định hình phạt không chính xác Mặt khác, trong giai đoạn này, đất nước đang tiến hành công cuộc cải cách, đặc biệt là
sự chuyển hướng từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về mặt pháp lý là không có sự phân biệt đối với các thành phần kinh tế trong xã hội Vì vậy những bất cập nêu trên được sửa đổi trong Bộ luật hình sự năn 1999 cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế và tình hình mới của đất nước
Về hình phạt: Bộ luật hình sự năm 1985 quy định các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt trong hai chương “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa” và “Các tội phạm xâm phạm sở hữu của công dân” thì đa số các tội phạm đều có nhiều khung hình phạt khác nhau, nhưng vẫn còn một số
tội phạm chỉ có một khung hình phạt duy nhất như Tội vô ý gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa – Điều 140, Tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân – Điều 159 hay Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của công dân – Điều 161 Điều này dẫn đến tình trạng quyết định
hình phạt thiếu chính xác, vì trên thực tế tội phạm xảy ra với tích chất, mức
độ nguy hiểm khác nhau, thiệt hại xảy ra khác nhau, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác nhau cần áp dụng khung hình phạt tương ứng, phù hợp với từng trường hợp phạm tội, đảm bảo
sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật
Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự năm 1985 quy định nhiều loại hình phạt khác nhau đối với loại tội này theo thứ tự từ nhẹ đến nặng như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình Hai loại hình phạt cao nhất là tù chung thân và tử hình duy nhất được quy định trong khung tăng nặng thứ 2 (khoản 3) của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã
Trang 36hội chủ nghĩa Mức hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt quy định trong chương “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa” về cơ bản cao hơn so với mức hình phạt của các tội này được quy định trong chương “Các tội xâm phạm sở hữu của công dân”
Về hình phạt bổ sung: Bộ luật hình sự năm 1985 quy định ở mỗi chương IV và VI một hình phạt bổ sung chung đối với các tội này gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, phạt tiền (đến 1.000.000đ), tịch thu một phần hay toàn
bộ tài sản, quản chế hoặc bị cấm cư trú từ một năm đến năm năm Riêng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản có thể áp dụng đồng thời cả hai hình phạt bổ sung hoặc áp dụng một trong hai hình phạt
bổ sung đó
Trong 14 năm thi hành, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 và có trên 100 lượt điều luật được sửa đổi hoặc bổ sung nhưng vẫn bộc lộ một số bất cập trong nhiều quy định và đòi hỏi phải có sự sử đổi, bổ sung cho phù hợp với thời kỳ mới
Vì vậy Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của xã hội, phù hợp với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, từng bước đi vào cuộc sống và phát huy được vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội, đồng thời đánh dấu sự thay đổi tương đối toàn diện của luật hình sự Việt Nam
Bộ luật hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng có kế thừa những nội dung hợp lí, tích cực của Bộ luật hình sự năm 1985 qua bốn lần sửa đổi, bổ sung Vì vậy Bộ luật hình sự năm 1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam Theo đó các tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và các tội phạm
Trang 37xâm hạm sở hữu không có tính chiếm đoạt nói riêng cũng có những thay đổi đáng kể như:
Về kết cấu chương: Bộ luật hình sự năm 1985 có hai chương quy định
hai nhóm tội phạm – nhóm tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và nhóm tội xâm phạm sở hữu của công dân Nhưng xuất phát từ đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế đều là bộ phận hợp thành của nền kinh tế, hoạt động theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo hộ như nhau nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời trách sự phức tạp trong áp dụng pháp luật do phải xác định tích chất của tài sản thuộc sở hữu nào Vì vậy việc sáp nhập hai chương này thành một chương, theo đó từng cặp tội tương ứng của hai chương cũng được sáp nhập với nhau là một đòi hỏi khách quan
Do đó Bộ luật hình sự 1999 đã nhập 2 chương “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa” và “Các tội xâm phạm tài sản của công dân” vào thành một chương “Các tội xâm phạm sở hữu" với 13 điều luật, phản ảnh đúng bản chất của tên chương Các điều luật được quy định trong chương này hầu hết được xây dựng từ việc nhập từ hai hoặc ba điều luật trong Chương IV và Chương VI của Bộ luật hình sự năm 1985, trong đó có các tội phạm xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt như: Tội chiếm giữ trái phép tài sản, Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
sản được nhập thành từ hai cặp tội tương ứng ở hai chương khác nhau là
chương Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và các tội xâm phạm sở hữu riêng của công dân, việc sát nhập này có ý nghĩa vô cùng quan trọng:
Trước hết, nó thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các thành phần kinh tế tương ứng với đa dạng các hình thức sở hữu gồm 7 chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Do đó, ý nghĩa
Trang 38của tài sản không phụ thuộc vào việc nó thuộc sở hữu nào mà ở giá trị và giá trị sử dụng của tài sản
Thứ hai, nó thể hiện trình độ, kỳ thuật lập pháp, Điều 136 với Điều 159
và Điều 138 với Điều 160 trong Bộ luật hình sự năm 1985 về cơ bản có dấu hiệu pháp lý (về mặt khách quan, về mặt chủ quan, về chủ thể) giống nhau nên việc quy định thành hai tội ở 2 chương riêng biệt là không khoa học
Thứ ba, có nhiều trường hợp người phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm giữ trái phép tài sản hay hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản họ không quan tâm hoặc không thể biết tài sản đó thuộc về quyền sở hữu nào (bị giao nhẩm, nhặt được) Hơn nữa có một số trường hợp việc xác định đâu là tài sản xã hội chủ nghĩa và đâu là tài sản của công dân là rất khó, tâm chí không thể xác định do các hình thức sở hữu đan xen nhau (sở hữu hỗn hợp) thông qua việc liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, do đó khó khăn trong việc áp dụng pháp luật
Riêng đối với hai tội: Tội sử dụng trái phép tài sản (Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 137, chương IV, Bộ luật hình
sự năm 1985) và Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nước (Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã
hội chủ nghĩa quy định tại Điều 139, chương IV, Bộ luật hình sự năm 1985) được sửa đổi tên và nội điều luật và cũng được quy định vào chương “Các tội phạm sở hữu” trong Bộ luật hình sự năm 1999
Dấu hiệu định lượng tài sản được quy định cụ thể trong các tội xâm
phạm sở hữu không có tình chiếm đoạt cũng là một trong các thay đổi đáng
kể khác của Bộ luật hình sự năm 1999 so với Bộ luật hình sự năm 1985 Nếu như Bộ luật hình sự năm 1985 không quy định về dấu hiệu định lượng tài sản, thì Bộ luật hình sự năm 1999 quy định rất rõ định lượng tài sản của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt như “…tài sản có giá trị từ 50
Trang 39triệu đồng trở lên…” (Điều 142, Điều 144, Điều 145) hay “…tài sản có giá trị
từ 5 triệu đồng trở lên…” (Điều 141) hoặc “…tài sản có giá trị từ 500.000 đồng trở lên…” (Điều 143) Đồng thời dấu hiệu định lượng tài sản còn được quy định trong một số định khung tăng nặng trong cùng một điều luật như “tài sản… có giá trị 200 triệu đồng trở lên” (Điều 141), “tài sản… có giá trị 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng… ” (Điều 143), “tài sản… có giá trị từ
500 triệu đồng trở lên” v.v… Việc định lượng tài sản có ý nghĩa qua trọng nhằm phân biệt tội với hành vi hành chính, vi phạm kỷ luật và phân biệt khung hình phạt trong cùng một điều luật
Sự phân hóa trách nhiệm hình sự: Trên cơ sở kế thừa kết quả của Bộ
luật năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 có sự phân hóa trách nhiệm hình
sự ở mức độ cao hơn Biểu hiện của việc phân hoá trách nhiệm hình sự trong luật bao gồm:
Thứ nhất: Khắc phục tình trạng điều luật chỉ có một khung hình phạt duy nhất Trong Bộ luật hình sự năm 1985 quy định các tội phạm xâm phạm
sở hữu xã hội chủ nghĩa và các tội phạm xâm phạm sở hữu công dân thì đa số các tội phạm đều có nhiều khung hình phạt khác nhau, nhưng vẫn còn một số
tội phạm chỉ có một khung hình phạt duy nhất như Tội vô ý gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa – Điều 140, Tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân – Điều 159 hay Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của công dân – Điều 161 Đây là một trong những hạn chế của Bộ
luật hình sự năm 1985 đã được bộc lộ trong thực tiễn áp dụng Khắc phục hạn chế đó, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội xâm phạm sở hữu không
có tính chiếm đoạt đã được xây dựng từ hai đến bốn khung hình phạt khác
nhau như Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 142) được xây dựng với ba
khung hình phạt gồm khung cơ bản và hai khung tăng nặng Trong khi đó Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về các tội này từ một đến ba khung hình phạt
Trang 40Thứ hai: Cụ thể hoá ở mức tối đa các tình tiết định khung của từng tội phạm Trong bộ luật hình sự năm 1999, các tình tiết định khung hình phạt đã được qui định cụ thể hơn, một số tình tiết định khung hình phạt mới như “giá trị tài sản”, “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” đã được quy định trong luật, đó là những tình tiết định khung tăng nặng hình phạt Những tình tiết này có thể được quy định ở một tội danh hoặc
ở nhiều tội danh khác nhau Ví dụ: Tình tiết có tổ chức, dùng chất nổ, chất
cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác, để che giấu tội phạm khác, gây hậu quả nghiêm trọng, tái phạm nguy hiểm (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản – Điều 143) v.v…
Thứ ba: Về hình phạt: So với Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình
sự năm 1999 quy định hình phạt của các tội xâm phạm sở hữu nhẹ hơn hình phạt của các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và nặng hơn hình phạt trong các tội xâm phạm tài sản của công dân Hình phạt bổ sung được quy định thành một phần cụ thể ngay trong cùng một điều luật
Thứ tư: Bộ luật hình sự năm 1999 quy định khoảng cách giữa mức hình phạt tối đa và mức hình phạt tối thiểu trong một khung hình phạt của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt cũng ngắn hơn so với Bộ luật hình
sự năm 1985 ví dụ như Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công
dân quy định Điều 160 Bộ luật hình sự năm 1985 khoảng cách giữa mức hình
phạt tối đa và mức hình phạt tối thiểu trong khung tăng nặng thứ nhất là 9 năm (… “bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm…”); khung trăng nặng thứ hai là
10 năm (… “bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm…”) Trong khi đó Điều
143 Bộ luật hình sự năm 1999 duy định về tội này thì khoảng cách giữa mức hình phạt tối đa và mức hình phạt tối thiểu trong khung tăng nặng thứ nhất là 5 năm (… “bị phạt tù từ hai năm đến bảy hai năm…”); khung trăng nặng thứ hai
là 8 năm (… “bị phạt tù từ bảy năm đến mười năm năm…”)