1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời hạn tố tụng dân sự luận văn ths luật 60 38 30 pdf

85 488 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xác định thời hạn tố tụng có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể, là căn cứ để Tòa án giải quyết vụ việc dân sự được nhanh ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Trí Tuyển

Trang 4

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của thời hạn tố tụng dân sự 7

1.1.2 Ý nghĩa của thời hạn tố tụng dân sự 10 1.2 Cơ sở của việc pháp luật quy định về thời hạn tố tụng dân sự 13 1.2.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định về thời hạn tố tụng

1.3 Sơ lược sự hình thành và phát triển các quy định của pháp

luật Việt Nam về thời hạn tố tụng dân sự

18

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 18 1.3.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 20

Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT

25

2.1 Thời hạn tố tụng dân sự trong thủ tục sơ thẩm 25

2.1.1 Thời hạn thụ lý đơn khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự 25

2.1.2 Thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa, phiên họp 29

2.1.3 Thời hạn tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng 34

Trang 5

2.2 Thời hạn tố tụng dân sự trong thủ tục phúc thẩm 39

2.2.1 Thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định 39 2.2.2 Thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa, phiên họp 46 2.2.3 Thời hạn tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng 49

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP

53

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về thời hạn tố

tụng dân sự

53

3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định

của pháp luật về thời hạn tố tụng dân sự

53

3.1.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập

trong việc thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về

thời hạn tố tụng dân sự

55

3.2 Một số kiến nghị về hoàn thiện và thực hiện pháp luật Việt

Nam về thời hạn tố tụng dân sự

68

3.2.1 Kiến nghị về việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt

Nam về thời hạn tố tụng dân sự

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật dân sự BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời Bác Hồ có dạy mỗi cán bộ, công chức của ngành Tòa án phải thực sự là người "phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư", phải "hiểu dân, gần dân, giúp dân và học dân" Hưởng ứng lời dạy đó ngày nay cả nước, đặc biệt là các cán bộ công chức ngành Tòa án đang tích cực tham gia vào cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Mặc dù còn nhiều khó khăn thách thức nhưng với những nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân

và toàn quân, nền kinh tế của đất nước ta trong những năm qua không ngừng phát triển, đạt được những thành tựu quan trọng: an ninh chính trị, trật tự xã hội cũng không ngừng được giữ vững; văn hóa nghệ thuật được duy trì, bảo tồn và phát huy…tất cả đã tạo nên một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", một nước Việt Nam có uy tín và vị thế cao trong khu vực và trên trường quốc tế Có thể khẳng định với những thành tựu quan trọng này đáng để nhân dân ta tự hào và tin tưởng vào đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và sự phát triển của đất nước ta

Trong những năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đội ngũ cán bộ còn thiếu, cơ sở vật chất và phương tiện còn nghèo nàn, trong khi

số lượng các vụ án phải giải quyết ngày một gia tăng, ngành Tòa án đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu công tác đề ra, đồng thời tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp như nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, khẩn trương hoàn thành việc giao thẩm quyền xét xử mới cho Tòa án cấp huyện, tăng cường công tác giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân… Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đang gia tăng không ngừng với tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp, trong khi đó, vì nhiều

Trang 8

nguyên nhân khác nhau mà việc xây dựng, củng cố và kiện toàn đội ngũ cán

bộ, công chức Tòa án chưa đáp ứng được yêu cầu xét xử trong tình hình mới của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế Mặt khác, nhiều quy định của pháp luật tố tụng dân sự còn mang tính chung chung, thậm chí xa rời với đời sống thực tiễn…chính điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng xét xử

vụ án, gây ra tình trạng các bản án, quyết định của Tòa án không khách quan,

án tồn đọng còn nhiều, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của các chủ thể, gây mất lòng tin của nhân dân Đứng trước tình hình đó, vấn đề cấp bách đặt ra là phải hoàn thiện và xây dựng hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân

sự nói riêng sao cho thống nhất, đồng bộ và khả thi trong thực tế mà một trong số đó là các quy định về thời hạn tố tụng trong tố tụng dân sự

Việc xác định thời hạn tố tụng có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể, là căn cứ để Tòa

án giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, kịp thời, chính xác mà việc xác định thời hạn tố tụng còn có ý nghĩa trong việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

và những người liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng Tuy nhiên, một số quy định về thời hạn tố tụng trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu, xem xét sửa đổi một cách tổng thể cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn Chính vì những lý do nêu trên, tác

giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài "Thời hạn tố tụng dân sự" làm đề tài luận

văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về tố tụng dân

sự ít nhiều đề cập đến thời hạn tố tụng dân sự ở các mức độ khác nhau Về đề

tài nghiên cứu khoa học có công trình nghiên cứu cấp Bộ "Một số vấn đề về

Trang 9

cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự" do Tòa

án nhân dân tối cao (TANDTC) thực hiện năm 1996; công trình nghiên cứu

cấp Bộ "Những quan điểm cơ bản về Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam" do

Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn

Quốc gia thực hiện năm 2001 Về giáo trình, có Giáo trình Luật Tố tụng dân

sự Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân,

2011; Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 2011; Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Học viện Tư pháp, Nhà xuất bản Công

an nhân dân, 2007 Về luận văn cao học có Hoàn thiện chế định khởi kiện và

thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc

sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội của Nguyễn Thu Hiền,

2012 Trong quá trình xây dựng và sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS được ban hành, đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức có các

bài tham luận liên quan như "Hội thảo về Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố

tụng dân sự" do TANDTC tổ chức tại Sa Pa ngày 29 và 30/01/2010; bài

"Những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự" của Phạm Quý Tỵ, đăng trên tạp chí Kiểm sát số

12/2011 Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả nêu trên chỉ nghiên cứu, đề cập đến một hoặc một số vấn đề của thời hạn tố tụng dân sự Cho đến nay, nhất là từ sau khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy

đủ, toàn diện các vấn đề về lý luận và thực tiễn về thời hạn tố tụng trong tố

tụng dân sự Việt Nam

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về thời hạn tố tụng dân sự, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thời hạn tố tụng dân sự và thực hiện các quy định này tại các Tòa án Việt Nam

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu đề tài: "Thời hạn tố tụng dân sự" là một đề tài

có nội dung rất rộng Tuy nhiên do giới hạn của luận văn thạc sĩ và điều kiện thời gian nghiên cứu nên việc nghiên cứu chỉ tập trung vào một số vấn đề lý luận cơ bản về thời hạn tố tụng dân sự như khái niệm và ý nghĩa của thời hạn

tố tụng dân sự, các quy định của BLTTDS, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành về thời hạn tố tụng dân sự ở Tòa án nhân dân (TAND) cấp sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn áp dụng các quy định này trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại các Tòa án đó trong những năm gần đây

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về thời hạn tố tụng dân sự; nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thời hạn tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện các quy định này tại Tòa án Qua việc nghiên cứu nhận diện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thời hạn tố tụng từ

đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục để góp phần nâng cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khi bị xâm phạm

Xuất phát từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề lý luận về thời hạn tố tụng dân sự, nhất là thời hạn

tố tụng dân sự ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm, các quy định của pháp luật hiện hành về thời hạn tố tụng và khảo sát việc thực hiện các quy định này tại các Tòa án

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trang 11

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực tiễn để kiểm chứng lý luận Quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp thống kê, phân tích, khảo sát, tổng hợp, so sánh để thực hiện đề tài Để chứng minh cho các luận điểm của mình, tác giả cũng đã sử dụng các số liệu thống kê của ngành TAND và lựa chọn một số vụ án đã được các Tòa án cấp huyện xét xử làm ví dụ minh họa

6 Những điểm mới về khoa học của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý có tính hệ thống về những vấn đề liên quan đến thời hạn tố tụng dân sự (ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm) giúp các độc giả, đặc biệt là những người đang làm công tác thực tiễn hiểu biết sâu sắc hơn về thời hạn tố tụng Những điểm mới về khoa học của luận văn thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

- Hoàn thiện khái niệm thời hạn tố tụng dân sự và phân tích khoa học

ý nghĩa của thời hạn tố tụng dân sự

- Phân tích làm rõ nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thời hạn tố tụng dân sự

- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thời hạn tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án

- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thời hạn tố tụng dân sự

Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, trong một chừng mực nhất định có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu chuyên sâu về tố tụng dân sự và cho các cán bộ làm công tác thực tiễn (Thẩm phán, Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý ) trong việc hiểu biết một cách sâu sắc, đầy đủ và vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật khi áp dụng chế định thời hạn tố tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam

Trang 12

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thời hạn tố tụng dân sự

Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

về thời hạn tố tụng dân sự

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về thời hạn

tố tụng dân sự và kiến nghị

Trang 13

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA THỜI HẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1.1 Khái niệm thời hạn tố tụng dân sự

Pháp luật là một hệ thống các quan hệ đa dạng và phức tạp, khi tham gia vào các quan hệ xã hội đó, các chủ thể phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Việc một chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình mà luật đã định

có thể sẽ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và điều này sẽ dẫn đến tranh chấp quyền và lợi ích giữa các chủ thể trong một hoặc nhiều quan hệ pháp luật dân sự

Để duy trì, bảo đảm trật tự pháp luật, Nhà nước thiết lập một cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong trường hợp quyền của

họ bị các chủ thể pháp luật dân sự khác xâm phạm Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức hay các chủ thể khác của pháp luật có quyền, lợi ích hợp pháp

bị xâm phạm thì có quyền sử dụng các biện pháp luật định để bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình Do vậy, khi chủ thể yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích dân sự hợp pháp của mình thì Tòa án phải xem xét thụ lý giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu Tuy nhiên, việc giải quyết các vụ việc dân sự này phải tuân theo trình tự, thủ tục pháp luật nhất định Trong khoa học pháp lý chúng ta gọi trình tự, thủ tục luật định đó là tố tụng dân sự

và những hoạt động của các chủ thể nêu trên trong quá trình tiến hành giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật được gọi là hoạt động tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS thì tố tụng dân sự bao gồm việc khởi kiện, thụ lý, hòa giải, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Trang 14

Trước đây, khi BLTTDS chưa được ban hành, trong tất cả các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự hầu như chưa có khái niệm về vụ việc dân sự mà chỉ có khái niệm về vụ án dân sự Khái niệm vụ án dân sự được hiểu là tất cả những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, không phân biệt đó

là vụ án thuộc loại gì và thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật nội dung nào Điều này được thể hiện ngay tại Điều 1 Luật Tổ chức TAND năm 2002, theo đó: "Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật" Ngay Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 cũng đều xác định gọi tên chung của những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là các vụ án, không có sự phân biệt vụ việc có tranh chấp hay không có tranh chấp Khi BLTTDS được ban hành, tại Điều 1 Bộ luật này đã có sự phân biệt giữa các vụ việc có tranh chấp và vụ việc không có tranh chấp Theo đó, vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự Vụ án dân sự là việc có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại hoặc lao động giữa các bên Việc dân sự là việc không có tranh chấp giữa các bên nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ để làm phát sinh hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự hoặc yêu cầu Tòa án công nhận cho mình một quyền dân sự

Việc giải quyết các vụ việc dân sự tiến hành nhanh chóng sẽ giải quyết được tranh chấp, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể

Để thực hiện được điều này thì mỗi hành vi của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đều phải tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý thì: "Thời hạn là khoảng thời gian quy định để làm xong hoặc chấm dứt việc nào đó" [33, tr 1530]; theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ, Viện Khoa học - Xã hội - Nhân

Trang 15

văn thì: "Thời hạn là khoảng ngày giờ có giới hạn, có định trước, không được quá" [32, tr 962]; trong khi đó cuốn Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của

GS Nguyễn Lân lại giải thích thời hạn là "khoảng thời gian có giới hạn nhất định để làm việc gì" [10, tr 1764] Như vậy có thể thấy về mặt nội hàm thì các từ điển đều giải thích thời hạn là một khoảng thời gian để làm hoặc chấm dứt một công việc nhất định

Dưới góc độ pháp lý, Điều 149 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 quy định, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, tuần, ngày, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra Xác định thời hạn nhằm mục đích xác định một công việc, một hành vi nhất định được thực hiện như thế nào về mặt thời gian

Là một loại thời hạn, trước hết thời hạn tố tụng dân sự cũng có những nội dung của thời hạn nói chung [8, tr 232] Khoản 1 Điều 157 BLTTDS quy định thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc

cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện hành vi tố tụng do BLTTDS quy định

Trong tố tụng dân sự, thời hạn tố tụng là khoảng thời gian được xác định gắn liền với toàn bộ trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, bắt đầu từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và kết thúc khi vụ việc được giải quyết xong Toàn bộ trình tự giải quyết vụ việc dân

sự lại bao gồm nhiều thủ tục tố tụng, nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau Mỗi thủ tục, mỗi giai đoạn tố tụng lại có quy định thời hạn tố tụng cụ thể (ví dụ giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án có quy định riêng về thời hạn thực hiện Trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý lại quy định thời hạn để thực hiện từng thủ tục, như từ lúc nhận đơn đến khi thông báo cho đương sự bổ sung các chứng cứ, tài liệu theo quy định của pháp luật tố tụng phải thực hiện trong bao

Trang 16

lâu Hoặc từ khi đương sự hoàn tất thủ tục khởi kiện đến khi Tòa án thụ lý vụ việc thì thời gian được quy định như thế nào)

Thời hạn trong tố tụng dân sự có điểm khác biệt với thời hạn trong luật dân sự [27, tr 211] Thời hạn dân sự có thể do pháp luật quy định hoặc được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận của các đương sự trong khi đó thời hạn

tố tụng dân sự chỉ do pháp luật quy định hoặc do người có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng ấn định theo quy định của pháp luật, các đương

sự và những người khác nói chung không có quyền thỏa thuận xác lập thời hạn tố tụng Điểm khác biệt nữa là nếu thời hạn dân sự theo thời gian liên tục thì thời hạn tố tụng dân sự có thể bị gián đoạn bởi các ngày nghỉ của các cán

bộ, công chức viên chức như ngày thứ bảy, chủ nhật hoặc các ngày lễ, tết Lý

do là bởi các hoạt động tố tụng được thực hiện phải thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng Hơn nữa hoạt động tố tụng dân sự thường diễn ra ban ngày

để đảm bảo tính công khai, minh bạch của việc giải quyết vụ việc dân sự nên thời hạn tố tụng được tính bằng ngày, tháng, năm là chủ yếu, ít khi thời hạn tố tụng được tính bằng giờ như thời hạn dân sự

Từ những vấn đề nêu trên, có thể kết luận: Thời hạn tố tụng dân sự là

một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện hành vi theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

1.1.2 Ý nghĩa của thời hạn tố tụng dân sự

Pháp luật quy định thời hạn tố tụng dân sự không chỉ xác định thời gian giải quyết xong một vụ việc dân sự mà còn xác định từng công việc phải làm trong từng khoảng thời gian nhất định Bởi thế thời hạn tố tụng dân sự không chỉ có ý nghĩa đơn thuần về mặt thời gian mà còn là những mốc để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến quá trình tố tụng xác định những công việc mà các chủ thể này phải làm đã được thực hiện và thực hiện xong hay chưa Thời hạn tố

Trang 17

tụng dân sự được xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra

Ví dụ 1: Khoản 1 Điều 172 BLTTDS quy định trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án [18]

Ví dụ 2: Khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định thời hạn hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn

phiên tòa [18]

Từ đó cho thấy thời hạn tố tụng dân sự có những ý nghĩa cơ bản sau:

Thứ nhất, xác định từng công việc phải làm trong từng khoảng thời

gian nhất định

Ví dụ: Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn

khởi kiện, Tòa án phải xem xét và ra một trong số các quyết định sau: tiến

hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền của mình hoặc chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án khác hoặc trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Điều 167 BLTTDS); Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công

phụ trách giải quyết vụ án bắt buộc phải tiến hành hòa giải, trừ các vụ án

không được hòa giải (Điều 181 BLTTDS) hoặc không tiến hành hòa giải được (Điều 182 BLTTDS)

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Thụ lý vụ án và giải quyết vụ án là trách nhiệm của Tòa án khi đương

sự khởi kiện; cấp, tống đạt, thông báo các văn bản, quyết định tố tụng là trách

Trang 18

nhiệm của Tòa án, của Thẩm phán phụ trách BLTTDS đã có những quy định

cụ thể về thời hạn để Tòa án, Thẩm phán tiến hành các hoạt động này tại các giai đoạn tố tụng khác nhau Việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, chính xác không chỉ có ý nghĩa đối với riêng đương sự (tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc, bảo vệ được quyền lợi chính đáng), mà còn rất có ý nghĩa với chính Tòa án, đặc biệt niềm tin của người dân đối với ngành Tòa án được củng cố Trong những năm gần đây, tình trạng án bị hủy, bị sửa, án quá hạn có xu hướng giảm nhẹ hoặc không tăng thể hiện sự cố gắng, nỗ lực rất lớn của ngành Tòa án Để duy trì được tỷ lệ này và xa hơn nữa là giảm tỷ lệ

án bị hủy, sửa, quá hạn thì nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là một trong những yếu tố then chốt

Ví dụ: Điều 174 BLTTDS quy định trong thời hạn ba ngày làm việc

kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ

án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án [18] BLTTDS quy định là trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án có nghĩa

là Tòa án có thể gửi thông báo ngay khi ra quyết định thụ lý vụ án; Tòa án cũng có thể gửi vào ngày hôm sau hoặc ngày cuối cùng của thời hạn ba ngày đều không sai luật Tuy nhiên, khi đã nhận thức được trách nhiệm của mình, nhận thức được ý nghĩa của việc giải quyết vụ án nhanh chóng… như đã phân tích ở trên thì Tòa án sẽ phải thông báo trong khoảng thời gian ngắn nhất trong thời hạn ba ngày

Thứ ba, xác định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan trong trường hợp họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ và quyền hạn của họ trong thời hạn tố tụng cụ thể

Ví dụ: Nhận đơn khởi kiện là hành vi tố tụng có ý nghĩa bắt đầu xác định trách nhiệm giải quyết yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Về

Trang 19

nguyên tắc, người khởi kiện gửi đơn khởi kiện thì Tòa án phải có trách nhiệm nhận đơn Còn việc đơn có hợp pháp hay không, có đủ tài liệu chứng cứ kèm theo hay không thì luật đã quy định thời hạn để xem xét vấn đề này là năm ngày kể từ ngày nhận đơn Mặt khác, chỉ khi nhận đơn (vào sổ) mới phát sinh trách nhiệm xem xét tính hợp pháp của đơn của người khởi kiện Vì vậy, cán

bộ Tòa án có nhiệm vụ nhận đơn không thể từ chối nhận đơn của người khởi kiện khi chưa nhận và vào sổ nhận đơn

Người khởi kiện có quyền khởi kiện tuy nhiên người khởi kiện cũng

có trách nhiệm là phải đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp Khoản 4 Điều 79 BLTTDS quy định:

"Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó" [18]

1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ THỜI HẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.2.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định về thời hạn tố tụng dân sự

Quyền và lợi ích của các chủ thể là một vấn đề rất quan trọng, đảm bảo tốt được quyền và lợi ích của các chủ thể sẽ là động lực to lớn để các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội, các giao dịch dân sự Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, các chủ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp trong đó khởi kiện vụ án dân sự hoặc làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự là công cụ pháp lý hữu hiệu nhất

Việc giải quyết các vụ việc dân sự tiến hành nhanh chóng sẽ sớm giải quyết được tranh chấp, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Để thực hiện được điều này thì mỗi hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đều phải tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định, khoảng thời gian này

Trang 20

được gọi là thời hạn tố tụng Thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện hành vi theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Các loại thời hạn tố tụng gồm có: thời hạn giao nộp chứng cứ; thời hạn xem xét đơn khởi kiện; thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; thời hạn cấp, tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng; thời hạn khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong

vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; yêu cầu bồi thường thiệt hại Tuy nhiên khi các biện pháp nêu trên không phát huy hiệu quả thì các chủ thể quyền chỉ còn sự lựa chọn tối ưu nhất là khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Lúc này các quy định của pháp luật tố tụng nói chung và các quy định về thời hạn tố tụng dân sự nói riêng sẽ chính là công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể có thể bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng của mình Các chủ thể sẽ biết được thời hạn chuẩn bị xét xử tranh chấp, giải quyết yêu cầu của mình là bao lâu; nếu không đồng ý với bản án quyết định của Tòa án thì thời hạn kháng cáo bản án là như thế nào; thời hạn được cấp, nhận tống đạt và được thông báo văn bản tố tụng là bao nhiêu ngày…Khi quyền lợi chính đáng của các chủ thể được giải quyết thỏa đáng, niềm tin của nhân dân vào pháp luật, vào bộ máy nhà nước sẽ được nâng cao, xã hội sẽ ổn định, trật tự và các giao dịch dân sự sẽ ngày một phát triển

Trang 21

- Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan khi tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng đều phải xác định rõ được trách nhiệm của mình Trách nhiệm ở đây sẽ tương ứng với mỗi chủ thể Mỗi chủ thể đều phải hiểu rằng mình phải có trách nhiệm trong việc tuân thủ và thực hiện các quy định của pháp luật về thời hạn

tố tụng dân sự Nếu chỉ một hoặc một số chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không tốt các quy định về thời hạn tố tụng dân sự thì chắc chắn các chủ thể còn lại sẽ không thể thực hiện tốt được công việc của mình (ví dụ: việc đương sự chậm giao nộp chứng cứ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án… sẽ ảnh hưởng tới thời gian và kết quả của việc giải quyết vụ việc dân sự) Như vậy, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm của mình sẽ làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, kịp thời, chính xác

- Pháp luật tố tụng dân sự quy định: trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, tương ứng với mỗi khoảng thời gian nhất định, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan đều phải thực hiện những hành vi tố tụng nhất định Đây chính là cơ sở

để xác định trách nhiệm của mỗi chủ thể tố tụng Chủ thể nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ và quyền hạn của họ trong thời hạn tố tụng cụ thể sẽ phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng đó

Ví dụ 1: Khoản 2 Điều 171 BLTTDS quy định trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng

án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí [18] Như vậy, trách nhiệm của người khởi kiện là phải nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời gian luật định, nếu người khởi kiện không nộp hoặc nộp sau mười lăm ngày thì sẽ là căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 168 BLTTDS

Trang 22

Ví dụ 2: Điều 179 BLTTDS quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử như sau: đối với các vụ án về dân sự, hôn nhân và gia đình thì thời hạn chuẩn bị xét xử là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; đối với các vụ án về kinh doanh, thương mại, lao động thì thời hạn chuẩn bị xét xử là hai tháng, kể từ ngày thụ

lý vụ án Đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với các vụ án về dân sự, hôn nhân và gia đình và không quá một tháng đối với các vụ án về kinh doanh, thương mại, lao động Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp, Tòa án phải ra một trong số các quyết định (công nhận sự thỏa thuận của đương sự, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ giải quyết vụ án, đưa vụ án ra xét xử) [18]

Việc xác định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan trong trường hợp họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ và quyền hạn của họ trong thời hạn tố tụng cụ thể cũng chính là xác định được nguyên nhân của vấn đề, trên cơ sở đó tìm ra phương hướng khắc phục, sửa chữa hoặc tránh lặp lại những sai lầm nêu trên

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về thời hạn tố tụng dân sự

Quyền và lợi ích của các chủ thể là một vấn đề rất quan trọng, là động lực thúc đẩy các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội Trong lĩnh vực dân

sự, lợi ích của các bên được xem như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự và khi các chủ thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải tiến hành thụ lý giải quyết trong phạm vi thẩm quyền của mình

Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều cần phải có những khoảng thời gian nhất định để thực hiện các hành vi tố tụng, những khoảng thời gian này chính là thời hạn tố tụng

Trang 23

Thời hạn tố tụng cần phải được quy định cụ thể, chi tiết trong pháp luật tố tụng dân sự nói chung và trong BLTTDS nói riêng Thời hạn tố tụng không thể do các bên tự thỏa thuận (không giống với thời hạn trong luật dân sự) bởi lẽ nếu các bên thỏa thuận được với nhau thì đã không cần phải yêu cầu Tòa án đứng ra giải quyết tranh chấp Lẽ đương nhiên trước khi quy định

cụ thể về thời hạn tố tụng trong luật, nhà làm luật phải căn cứ vào tính chất của các vụ việc dân sự cũng như thời gian để có thể giải quyết các vụ việc này trong thực tế Việc quy định thời hạn tố tụng phải vừa đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự lại phải vừa giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc dân sự theo đúng trách nhiệm của mình được nhanh chóng, kịp thời, chính xác

Như vậy, thực tiễn đặt ra là pháp luật tố tụng dân sự phải có quy định

về thời hạn tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý, Tòa án phải xem xét thụ lý, ra quyết định thụ lý, thông báo về việc thụ lý, thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí… tương ứng với những thời hạn nhất định; đương sự nếu có yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí… thì cũng phải thực hiện những công việc này trong những thời hạn nhất định Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án phải ra một trong số các quyết định (ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ

án, đưa vụ án ra xét xử) trong thời hạn tối đa từ ba đến sáu tháng (Điều 179 BLTTDS) Cũng trong giai đoạn này, đương sự phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, nếu vắng mặt không có lý do chính đáng đến lần thứ hai thì đương

sự phải chịu trách nhiệm về sự vắng mặt đó; đương sự có quyền thay đổi ý kiến

về sự thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành của mình trong thời hạn bảy ngày, hết thời hạn đó Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự… Tương tự thì ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo như xét xử thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng sẽ phải thực hiện các hành vi tố tụng trong những khoảng thời gian nhất định

Trang 24

1.3 SƠ LƢỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỜI HẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ

Chế định thời hạn tố tụng là một chế định quan trọng trong pháp luật

tố tụng dân sự, vì vậy lược sử hình thành và phát triển của chế định này gắn liền với lược sử hình thành và phát triển của của luật tố tụng dân sự Đó là mối liên hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng trên cơ sở những điểm tương đồng cũng như những điểm khác biệt mà không thể tách rời nhau Vì vậy, việc nghiên cứu lược sử hình thành và phát triển của chế định thời hạn tố tụng được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu lược sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự nói chung

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

Cách mạng tháng tám thành công đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch

sử dân tộc Việt Nam, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á Ngày 02/09/1945 tại Quảng trường

Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Bản tuyên ngôn không chỉ khẳng định độc lập dân tộc, khẳng định các quyền cơ bản của con người mà từ đây, bộ máy nhà nước cách mạng cũng được khẩn trương xây dựng Ngay sau khi giành được chính quyền, để xây dựng, củng cố chính quyền cũng như để đáp ứng đòi hỏi mới của đời sống dân sự, bên cạnh việc ban hành Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ

"cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi Việt Nam", nếu "không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa", Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật mới Trong đó, các văn bản về xây dựng hệ thống tư pháp mới và thủ tục tố tụng được đặc biệt chú trọng như Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946

về tổ chức Tòa án và quy định các ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định về việc kiện, khởi tố và thụ lý vụ án; Sắc lệnh số 97/SL

Trang 25

ngày 22/5/1950 được ban hành để bãi bỏ việc áp dụng luật lệ của chế độ cũ; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng Trong các Sắc lệnh nêu trên thì có thể nói Sắc lệnh số 13/SL đã đặt cơ sở đại cương đầu tiên cho việc tổ chức nền tư pháp nói chung và pháp luật tố tụng dân sự của nước ta nói riêng

Ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 01/LCT công

bố Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức TAND ngày 14/7/1960 và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức TAND và tổ chức của các TAND địa phương ngày 23/3/1961 Nếu như ở những năm trước 1960, hoạt động tố tụng giải quyết vụ án dân sự của hệ thống Tòa án chủ yếu dựa trên những sắc lệnh của Chủ tịch nước thì từ những năm 1960 trở đi, sau khi TANDTC được thành lập, các văn bản tố tụng là cơ sở cho hoạt động giải quyết vụ án dân sự

là các công văn, chỉ thị, điều lệ và đặc biệt là các thông tư do TANDTC ban hành, đáng chú ý nhất là các thông tư như Thông tư số 01-UB ngày 3/3/1969 của TANDTC hướng dẫn việc viết bản án sơ thẩm và phúc thẩm hình sự; Thông tư số 39-NCPL ngày 21/7/1972 của TANDTC hướng dẫn việc thụ lý,

di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình và tranh chấp

về dân sự; Thông tư số 06-TATC ngày 25/2/1982 của TANDTC về công tác điều tra trong tố tụng dân sự; Thông tư số 25-TATC ngày 30/11/1974 của TANDTC về công tác hòa giải trong tố tụng dân sự; Thông tư số 01/TTLB ngày 01/02/1982 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục giám đốc thẩm; Thông tư số 02/TTLB ngày 01/02/1982 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục tái thẩm…

Trên cơ sở nội dung của những văn bản trên, có thể nhận thấy trong giai đoạn này chưa có những quy định riêng về thời hạn tố tụng như một chương riêng hoặc là một chế định của pháp luật tố tụng dân sự

Trang 26

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004

Ngày 29/11/1989 Hội đồng nhà nước đã thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1990 Đây là văn bản pháp luật đầu tiên pháp điển hóa những nội dung căn bản của thủ tục giải quyết vụ án dân sự Việc lần đầu tiên tập hợp được thủ tục giải quyết vụ án dân sự trong văn bản với hình thức pháp lệnh không chỉ thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, của xã hội đối với việc bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các chủ thể mà còn thể hiện sự phát triển của luật tố tụng dân sự đã bước sang một giai đoạn mới Tuy nhiên cũng giống như trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng không quy định thời hạn tố tụng thành một chương riêng mà các quy định về thời hạn nằm rải rác

ở một số điều luật như [28]:

- Những trường hợp trả lại đơn khởi kiện (Điều 36);

- Thời hạn thụ lý và nộp tiền tạm ứng án phí: "Trong thời hạn một tháng,

kể từ ngày nộp đơn, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí" [28, Điều 37];

- Thời hạn trong thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành ngay Các đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án của Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định này Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Tòa án phải xem xét và trả lời [28, Điều 42];

- Thời hạn hòa giải:

Nếu trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến hoặc Viện kiểm sát,

tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung phản đối sự thỏa thuận đó, thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử; nếu trong thời hạn đó không có sự thay đổi ý kiến hoặc phản đối thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự [28, Điều 44];

Trang 27

- Thời hạn chuẩn bị xét xử: "Trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày thụ lý

vụ án, tùy trường hợp, Tòa án ra một trong những quyết định…" [28, Điều 47];

- Cấp trích lục, bản sao bản án hoặc quyết định của Tòa án (Điều 57);

- Thời hạn kháng cáo, kháng nghị:

Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc niêm yết tại trụ

sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc

ra quyết định Nếu kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định [28, Điều 59];

- Thời hạn thông báo việc kháng cáo, kháng nghị; thời hạn gửi hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm (Điều 61);

- Thời hạn xét xử phúc thẩm:

Tòa án cấp tỉnh xét xử phúc thẩm bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn ba tháng; Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được

hồ sơ vụ án Thời hạn xét xử phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp

sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là một tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án [28, Điều 64];

- Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm; thông báo việc kháng nghị Giám đốc thẩm (Điều 73);

- Thời hạn xét xử giám đốc thẩm: "Phiên tòa giám đốc thẩm phải được

tiến hành trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị" [28, Điều 75];

- Thời hạn kháng nghị tái thẩm (Điều 79);

- Thời hạn xét xử tái thẩm (Điều 81);

Trang 28

Trong giai đoạn này, bên cạnh Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Nhà nước ta còn ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh

tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động Hai pháp lệnh này cũng có các quy định về thời hạn đối với các vụ án kinh tế và các tranh chấp lao động Ví dụ: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế có các quy định về thời hạn tố tụng như Điều 33 về thời hạn thụ lý vụ án, Điều 34 về thời hạn chuẩn bị xét xử, Điều 61 về thời hạn kháng cáo, kháng nghị; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động có các quy định về thời hạn tố tụng như Điều 32 về thời hạn khởi kiện vụ án, Điều 35 về thời hạn thụ lý vụ án, Điều 32 về thời hạn chuẩn bị xét xử…

Tựu trung lại, mặc dù so với các giai đoạn trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đã đánh dấu sự chuyển biến lớn trong các quy định về tố tụng dân sự nói chung và về thời hạn nói riêng tuy nhiên các quy định này không chỉ thiếu về số lượng mà còn chưa đầy đủ về nội dung dẫn đến việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn xét xử còn nhiều hạn chế

1.3.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế, đòi hỏi pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng phải từng bước tương thích với pháp luật quốc tế Hơn nữa các quan hệ pháp luật trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động là những vấn đề liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày của người dân cũng như đến sự phát triển của xã hội nên việc áp dụng các thủ tục khác nhau để giải quyết tranh chấp là rất phức tạp Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, đồng thời

cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, ngày 15 tháng 06 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS gồm 36 chương với 418 điều BLTTDS đã thống nhất một thủ tục giải quyết các vụ án về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao

Trang 29

động, thay thế cho cả ba pháp lệnh trước đây là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

Sau bảy năm thi hành BLTTDS đã đóng góp lớn vào sự ổn định và phát triển của các giao lưu dân sự, thúc đẩy và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên…Tuy nhiên BLTTDS cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế cần phải được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn và tình hình mới Trên

cơ sở Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị và trước yêu cầu của thực tế, ngày 29/03/2011, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ chín đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2012

Đây là những mốc quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự nói chung cũng như các quy định về thời hạn tố tụng nói riêng Đây là lần đầu tiên, ngoài việc được quy định chi tiết tại nhiều điều khoản khác nhau trong BLTTDS thì thời hạn tố tụng còn được quy định thành một chương riêng (Chương XI) của BLTTDS Và cũng là lần đầu tiên thời hạn tố tụng dân sự được quy định trong một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý và tính pháp điển hóa cao là Bộ luật

Cùng với việc ban hành BLTTDS và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS, Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này như Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 hướng dẫn Quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" của BLTTDS, Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về "Chứng cứ và chứng minh" trong tố tụng dân sự, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của HĐTP TANDTC về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của BLTTDS, Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012

Trang 30

của HĐTPTANDTC về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm" của BLTTDS

Về cơ bản, quy định về thời hạn tố tụng trong BLTTDS sửa đổi không

có nhiều điểm khác biệt so với quy định về thời hạn tố tụng trong BLTTDS 2004, trong cả hai bộ luật, thời hạn đều được quy định tại Chương XI (từ Điều 157 đến Điều 160), điểm khác biệt nhỏ là có sự sửa đổi, bổ sung tại Điều 159 quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu

Với việc BLTTDS dành hẳn một chương quy định về thời hạn tố tụng (chưa kể đến các quy định cụ thể về thời hạn tố tụng tại các chương, mục khác) và các hướng dẫn trong các nghị quyết của HĐTP TANDTC, các vấn

đề về thời hạn tố tụng dân sự đã được quy định tương đối đầy đủ, chặt chẽ, khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết trong các văn bản pháp luật tố tụng trước đây

và những người liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng

Để làm rõ và vận dụng các quy định về thời hạn tố tụng thì trước hết phải khái quát được những vấn đề lý luận về thời hạn tố tụng như: khái niệm thời hạn tố tụng; ý nghĩa thời hạn tố tụng; cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về thời hạn tố tụng; sự hình thành và phát triển của các quy định

về thời hạn tố tụng trong các giai đoạn lịch sử khác nhau Làm rõ được những vấn đề lý luận về thời hạn tố tụng sẽ là tiền đề để nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thời hạn tố tụng dân sự, từ

đó có thể chỉ ra được những tồn tại, bất cập của pháp luật về thời hạn tố tụng

Trang 31

Chương 2

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

VỀ THỜI HẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1 THỜI HẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ TRONG THỦ TỤC SƠ THẨM

2.1.1 Thời hạn thụ lý đơn khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự

Thời hạn thụ lý đơn khởi kiện, thời hạn yêu cầu giải quyết việc dân sự

là những khoảng thời gian đầu tiên của toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc dân sự Đây chính là khoảng thời gian quan trọng nhất bởi nếu không có việc thụ lý đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu thì sẽ không làm phát sinh các giai đoạn kế tiếp của quá trình giải quyết vụ việc dân sự

2.1.1.1 Thời hạn thụ lý đơn khởi kiện

Thụ có nghĩa là nhận lấy, lý có nghĩa là giải quyết Do vậy thụ lý có nghĩa là Tòa án nhận yêu cầu của đương sự và giải quyết yêu cầu đó

Trong tiến trình tố tụng, thụ lý vụ án là công việc đầu tiên của hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án, nếu không thụ lý vụ án thì sẽ không có các bước tiếp theo của quá trình thực hiện tố tụng, thụ lý chính là quá trình nhận đơn và xem xét các điều kiện để Tòa án tiến hành giải quyết vụ án hay trả lại đơn khởi kiện cho đương sự Thời điểm Tòa án thụ lý vụ án là thời điểm xác định trách nhiệm pháp lý của Tòa án, đồng thời là thời điểm bắt đầu tính thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của BLTTDS

Để Tòa án xem xét việc thụ lý đơn khởi kiện, trước hết người khởi kiện phải gửi đơn khởi kiện đến Tòa án Theo quy định tại Điều 166 BLTTDS, người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo đến Tòa

án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng phương thức nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi đến Tòa án qua con đường bưu điện, ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi [18]

Đơn khởi kiện là văn bản của người khởi kiện chủ động đưa tranh chấp

ra Tòa án giải quyết Tòa án có trách nhiệm nhận đơn khởi kiện của các đương

Trang 32

sự nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện và xem xét giải quyết chúng Theo Điều 167 BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP

ngày 03/21/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về việc hướng dẫn thi

hành một số quy định trong Phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của BLTTDS thì khi nhận đơn do đương sự trực tiếp đến nộp, Tòa án phải ghi vào góc trái của đơn ngày tháng năm nhận đơn để xác định ngày tháng năm khởi kiện chính là ngày Tòa án nhận đơn Cán bộ Tòa án phải ghi việc nhận đơn và chứng cứ kèm theo vào sổ nhận đơn và phải lập biên bản

về việc giao nhận chứng cứ, biên bản về việc giao nhận chứng cứ phải được người có thẩm quyền ký tên xác nhận và đóng dấu của Tòa án Đối với trường hợp đương sự gửi đơn qua đường bưu điện, Tòa án ghi ngày tháng năm nhận đơn vào góc trái của đơn, đồng thời xác định ngày khởi kiện chính là ngày trên dấu bưu điện nơi gửi Phong bì có dấu bưu điện nơi gửi phải đính kèm với đơn Trường hợp "không xác định được ngày tháng năm theo dấu bưu điện" thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn do bưu điện chuyển đến, cán bộ Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn đồng thời đối chiếu những tài liệu gửi kèm với bảng kê tài liệu gửi, nếu thấy chứng cứ nào còn thiếu thì phải thông báo ngay cho đương sự để họ bổ sung Trong sổ nhận đơn ghi rõ ngày tháng năm nhận đơn khởi kiện, ngày tháng năm viết đơn, tóm tắt nội dung đơn Sau đó Tòa án phải cấp giấy báo nhận đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu nhận đơn qua đường bưu điện thì Tòa án phải gửi giấy báo qua đường bưu điện [24] Quy định này nhằm tránh tình trạng Tòa án không vào sổ để giải quyết ngay dẫn đến sự việc không được xử lý gây bức xúc cho người dân

Điều 167 BLTTDS quy định, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây [18]:

+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

Trang 33

+ Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện biết, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

+ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Như vậy, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét và ra quyết định tiến hành thủ tục thụ lý vụ án, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình Tuy nhiên điều này không

đồng nghĩa với việc Tòa án đã thụ lý vụ án, đây mới chỉ là tiến hành thủ tục

thụ lý vụ án mà thôi Tòa án chỉ thực sự thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp

cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án phải thụ

lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo Do đó

thời hạn thụ lý vụ án có thể là trong vòng 5 ngày, cũng có thể là 5 ngày cộng thêm 15 ngày (là thời hạn đương sự phải nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí

cho Tòa án sau khi Tòa án đã tạm tính và thông báo cho đương sự số tiền tạm ứng án phí phải nộp)

Sau khi đã thụ lý vụ án, có một việc rất quan trọng mà Tòa án phải tiến hành, đó là việc phân công Thẩm phán phụ trách giải quyết Khoản 1

Điều 172 BLTTDS quy định: trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ

lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án Như

vậy, mặc dù thời hạn phân công thẩm phán giải quyết vụ án độc lập với thời hạn thụ lý vụ án nhưng có thể thấy rằng nếu chưa có quyết định phân công thẩm phán phụ trách giải quyết thì trên thực tế việc thụ lý vụ án vẫn chưa được coi là hoàn thành

2.1.1.2 Thời hạn yêu cầu giải quyết việc dân sự

Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp

lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh

Trang 34

doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

Sau khi người yêu cầu giải quyết việc dân sự có đơn yêu cầu gửi đến Tòa án có thẩm quyền, Tòa án kiểm tra đơn yêu cầu, hướng dẫn cho người có yêu cầu nộp đơn đúng nội dung và hình thức quy định của pháp luật; nộp lệ phí đúng quy định

Bộ luật Tố tụng dân sự không có quy định cụ thể về thủ tục thụ lý việc dân sự cũng như không quy định về phương thức gửi đơn yêu cầu, thủ tục nhận đơn yêu cầu, trả lại đơn, yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu, khiếu nại

và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn yêu cầu, thụ lý, phân công thẩm phán giải quyết việc dân sự Tuy nhiên áp dụng Điều 311 BLTTDS Tòa án có thể vận dụng các quy định tương tự về thủ tục thụ lý vụ án dân sự để thụ lý

giải quyết yêu cầu

Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu (Điều 311, Điều 167 BLTTDS), Tòa án phải xem xét để có một trong các quyết định sau [18]:

+ Thụ lý việc dân sự, nếu việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình;

+ Chuyển đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền

và báo cho người gửi đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự biết, nếu việc dân sự

đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác (Điều 311, Điều 167 BLTTDS);

+ Trả lại đơn yêu cầu cho người yêu cầu, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Sau khi nhận được đơn yêu cầu do người yêu cầu nộp trực tiếp tại Tòa hoặc gửi qua đường bưu điện, Tòa án phải xem xét đơn yêu cầu và kiểm tra các điều kiện để thụ lý: điều kiện về năng lực hành vi tố tụng dân sự của

Trang 35

người yêu cầu; điều kiện về thời hiệu giải quyết việc dân sự; điều kiện về thẩm quyền của Tòa án; điều kiện về hình thức và nội dung đơn yêu cầu; điều kiện về nộp biên lai nộp tiền tạm ứng lệ phí…

Sau khi kiểm tra, nhận thấy đơn yêu cầu đã đúng và đầy đủ các điều kiện về nội dung và hình thức, Tòa án sẽ xác định tiền tạm ứng lệ phí và thông báo cho người có yêu cầu nộp tiền tạm ứng lệ phí tại cơ quan thi hành

án cùng cấp trừ trường hợp được miễn lệ phí hoặc miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí (khoản 2 Điều 130 BLTTDS) Trong thời hạn 15 ngày (Điều 171, Điều 311 BLTTDS) kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, người nộp đơn yêu cầu phải nộp tiền lệ phí Khi người yêu cầu xuất trình biên lai nộp tạm ứng lệ phí, Tòa án sẽ ra quyết định thụ lý đơn yêu cầu Nếu người yêu cầu được được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí hoặc miễn nộp lệ phí, Tòa án sẽ thụ lý đơn yêu cầu, kể từ ngày chấp nhận đơn yêu cầu

Như vậy, cũng giống như thời hạn thụ lý vụ án dân sự, thời hạn thụ lý

việc dân sự cũng có thể là trong vòng 5 ngày làm việc, mà cũng có thể là trong thời hạn 5 ngày cộng 15 ngày làm việc

2.1.2 Thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa, phiên họp

2.1.2.1 Thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa

Thời hạn chuẩn bị phiên tòa hay nói cách khác chính là thời hạn chuẩn

bị xét xử Thời hạn chuẩn bị xét xử được hiểu là một giai đoạn tố tụng trong

quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án, trong thời hạn này, những người

tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tiến hành các công việc cần thiết nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án (ví dụ: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải tiến hành các công việc cần thiết để xây dựng hồ

sơ vụ án, đối chất các bên đương sự trong trường hợp cần thiết, tiến hành hòa giải các bên đương sự, ra các quyết định tố tụng phù hợp với diễn biến của vụ án; đương sự phải cung cấp chứng cứ, làm bản tự khai, tham gia hòa giải, yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích

Trang 36

hợp pháp của mình…) để trong trường hợp các bên đương sự không hòa giải được với nhau thì Tòa án có thể ra phán quyết về vụ việc nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các bên Với cách hiểu này, thời hạn chuẩn bị xét xử

vụ án dân sự bắt đầu từ ngay sau khi Tòa án thụ lý vụ án và kết thúc bằng một trong các quyết định tố tụng tương ứng như: quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử

Thời hạn chuẩn bị xét xử có vai trò quan trọng trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thể hiện dưới các khía cạnh sau đây:

+ Đối với người tiến hành tố tụng, khoảng thời gian này giúp Tòa án thu thập, xác minh chứng cứ cần thiết để làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ

án từ đó có phán quyết chính xác, đúng pháp luật để giải quyết vụ án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội

+ Đối với các đương sự, khoảng thời gian này tạo điều kiện cho các bên đương sự cung cấp chứng cứ cần thiết để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc phản bác yêu cầu của phía bên kia Khoảng thời gian này còn tạo điều kiện cho các bên đương sự tiến hành hòa giải với nhau để chấm dứt tranh chấp bằng con đường hòa bình, qua đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các bên

Theo quy định của Điều 179 BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được chia làm hai nhóm Nhóm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 4 tháng (gia hạn 2 tháng); Nhóm các tranh chấp về kinh doanh, thương mại và lao động thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 2 tháng (gia hạn 1 tháng) Khi áp dụng các quy định của pháp luật để xác định thời hạn chuẩn bị xét xử cần lưu ý đến các vấn đề sau đây:

+ Cách tính thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn áp dụng theo quy định của BLDS năm 2005 (các Điều 152, 153 BLDS)

Trang 37

+ Tòa án chỉ được quyền gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử đối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan làm cho Tòa

án không giải quyết được vụ án trong thời gian quy định Được coi là vụ án

có tính chất phức tạp thông thường là vụ án có nhiều đương sự; đương sự đang ở nước ngoài hoặc tranh chấp liên quan đến tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài hoặc cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài; tranh chấp phát sinh từ những quan hệ pháp luật phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau; các chứng cứ mâu thuẫn nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; quy định về thời hạn tố tụng, thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc thời hạn tố tụng trong Bộ luật này được

áp dụng theo các quy định tương ứng của BLDS Trở ngại khách quan là những trở ngại do yếu tố ngoại cảnh (thiên tai, địch họa, phải thực hiện theo lệnh điều động khẩn cấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) làm cho Tòa

án không thể giải quyết được vụ án

+ Đối với các vụ án Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ thì thời hạn chuẩn bị xét xử kết thúc vào ngày ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Thời hạn chuẩn bị xét xử được bắt đầu lại kể từ ngày Tòa án tiếp tục giải quyết vụ

án khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa Ví dụ: Ngày 15/4/2014, Tòa án thụ

lý vụ án về dân sự Đến ngày 15/5/2014 Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự để chờ kết quả giải quyết vụ án hình sự Ngày 15/9/2014, Tòa án tiếp tục giải quyết tranh chấp dân sự Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án về dân sự được tính lại kể từ ngày 15/9/2014 và trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày 15/9/2014, Tòa án phải hoàn tất các công việc chuẩn bị xét xử nếu không có lý do để gia hạn thời hạn này

Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử (thời hạn mở phiên tòa) là khoảng thời gian tối đa mà pháp luật quy định để Tòa án tiến hành các hoạt động tố

Trang 38

tụng cần thiết nhằm giải quyết tranh chấp chính xác, đúng pháp luật, phù hợp với sự thật khách quan Đối với những vụ án đơn giản; các tình tiết, sự kiện

có liên quan đã được làm rõ; đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể sớm ra quyết định tương ứng để rút ngắn quá trình giải quyết vụ án Đối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc trở ngại khách quan thì mới phải gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử

2.1.2.2 Thời hạn chuẩn bị mở phiên họp

Do BLTTDS trong phần những quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự không quy định cụ thể về thời hạn chuẩn bị mở phiên họp để xét đơn yêu cầu nên về nguyên tắc, từ tính chất của thủ tục giải quyết việc dân sự, thời hạn chuẩn bị mở phiên họp để xét đơn yêu cầu, thời hạn mở phiên họp đối với việc giải quyết việc dân sự ngắn hơn nhiều so với thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa đối với việc giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 311 BLTTDS:

Tòa án áp dụng những quy định của Chương này, đồng thời

áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này để giải quyết những việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7 và 8 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28, khoản 1 và khoản 4 Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Bộ luật này [18]

thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu có thể được áp dụng theo quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 179 BLTTDS trừ những việc dân

sự có quy định riêng như [18]:

+ Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn đó, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 320 BLTTDS)

Trang 39

Như vậy, quy định thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngắn hơn nhiều so với thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự Đây là khoảng thời gian để Tòa án xem xét việc có mở phiên họp xét đơn yêu cầu hay không Khi hết thời hạn ba mươi ngày Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu Trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự có nhiệm vụ lập hồ sơ việc dân sự, xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ

và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 173 BLTTDS như: thông báo thụ lý việc dân sự; yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết việc dân sự; thực hiện một hoặc một số biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTDS [18]

+ Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là hai mươi ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn đó, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 325 BLTTDS)

+ Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên

bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích (khoản 1 Điều 331 BLTTDS)

Khác với thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích bắt buộc phải thực hiện trước khi mở phiên họp xét đơn yêu cầu Trong thời gian hai mươi ngày

kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án phải ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích Thời hạn này được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 151 và khoản 2 Điều 152 BLDS

Khác với những yêu cầu khác, khi một người nào đó bị yêu cầu tuyên

bố mất tích, mặc dù trước đó đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm hoặc đã được Tòa án ra thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, thì khi có yêu cầu tuyên

bố người này mất tích, Tòa án vẫn tiếp tục ra quyết định thông báo tìm kiếm

Trang 40

người này Điều 331 BLTTDS quy định như vậy bởi tính chất quan trọng của việc một người bị tuyên bố mất tích, nó sẽ làm phát sinh các quan hệ pháp luật khác, do đó nhà làm luật xét thấy cần phải có sự thận trọng trong việc giải quyết yêu cầu này

+ Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn

đó, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 336 BLTTDS) [18]

Khác với thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích, đối với thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, BLTTDS không quy định Tòa án phải thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Lý do của việc Tòa án không phải thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm là bởi trong thực tế, người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết thường là vợ (hoặc chồng) hoặc người đồng thừa kế của người này và theo người yêu cầu thì việc tuyên bố người kia

là đã chết sẽ giải quyết và bảo vệ được quyền, lợi ích liên quan của họ có thể

đã, đang và sẽ bị ảnh hưởng nên họ làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố người

đó là đã chết Khi gửi đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, người yêu cầu phải gửi kèm theo đơn yêu cầu cho Tòa án các chứng cứ chứng minh một người bị mất tích hoặc biệt tích thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 BLDS hiện hành

2.1.3 Thời hạn tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng

2.1.3.1 Thời hạn tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự

Thời hạn tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự được bắt đầu khi Tòa án nhận được đơn khởi kiện hoặc sau khi nhận được đơn khởi kiện Điều 169 BLTTDS quy định:

+ Trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định

tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật này thì Tòa án thông báo cho người khởi

Ngày đăng: 18/12/2015, 14:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Công Bình (2010), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2010
2. Bộ Tư pháp - Bộ Ngoại giao - Tòa án nhân dân tối cao (2011), Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật tương trợ tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật tương trợ tư pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp - Bộ Ngoại giao - Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2011
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2003
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
7. Nguyễn Thu Hiền (2012), Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Hiền
Năm: 2012
8. Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Học viện Tư pháp
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
9. Bùi Thị Huyền (2011), Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Thị Huyền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
10. Nguyễn Lân (2013), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2013
11. Nguyễn Thị Việt Nga (2012), Thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Nga
Năm: 2012
13. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2001
14. Quốc hội (2002), Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002
15. Quốc hội (2002), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội 16. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân", Hà Nội 16. Quốc hội (2004), "Bộ luật tố tụng dân sự
Tác giả: Quốc hội (2002), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội 16. Quốc hội
Năm: 2004
18. Quốc hội (2011), Bộ luật Tố dân sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố dân sự (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2011
20. Tòa án nhân dân tối cao (2010), Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2011 của ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2011 của ngành Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2010
21. Tòa án nhân dân tối cao (2011), Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012 của ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012 của ngành Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2011
22. Tòa án nhân dân tối cao (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2012 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2013 của ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2012 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2013 của ngành Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2012
23. Tòa án nhân dân tối cao (2012), Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định chung
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2012
26. Tòa án nhân dân tối cao (2013), Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2014 của ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2014 của ngành Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm