Nếu chủ thể nhận là cơ sở y tế và nó sẽ tiếp tục giao cho người thứ ba để thực hiện mục đích của người hiến trên một hợp đồng mẫu vì lợi ích của người thứ ba là đơn đăng ký hiến thì khôn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY
QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY
QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ ĐÌNH NGHỊ
Trang 3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thúy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI 7
1.1 KHÁI NIỆM 7
1.1.1 Quyền con người 7
1.1.2 Bộ phận cơ thể người 7
1.1.3 Hiến bộ phận cơ thể người 10
1.2 NGUYÊN TẮC TRONG VẤN ĐỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI 13
1.2.1 Nguyên tắc tự nguyện đối với người hiến, người được ghép 13
1.2.2 Nguyên tắc vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học 15
1.2.3 Nguyên tắc không nhằm mục đích thương mại 17
1.2.4 Nguyên tắc giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác 19
1.2.5 Tôn trọng cơ thể con người 20
1.2.6 Quyền được thông tin của người hiến 21
1.3 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ 22
1.3.1 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 22
1.3.2 Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991 24
1.3.3 Bộ luật dân sự năm 1995 25
1.3.4 Bộ luật dân sự năm 2005 26
Trang 51.3.5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006 27
1.4 QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 28
1.4.1 Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Âu 29
1.4.2 Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Á 31
1.4.3 Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở Châu Mỹ 33
1.4.4 Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở Châu Đại Dương 33
Chương 2: HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THEO LUẬT THỰC ĐỊNH CỦA VIỆT NAM 34
2.1 CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC HỖ TRỢ VIỆC HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI 34
2.1.1 Cơ sở y tế 34
2.1.2 Ngân hàng mô/tế bào 36
2.1.3 Trung tâm điều phối quốc gia 37
2.2 NỘI DUNG QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI 39
2.2.1 Hiến bộ phận cơ thể khi còn sống 39
2.2.2 Hiến bộ phận cơ thể sau khi chết 54
2.3 HẬU QUẢ CỦA VIỆC HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI 69
Chương 3: THỰC TIẾN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI 71
3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI 71
3.1.1 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiến bộ phận cơ thể người 71
3.1.2 Tình hình và nhu cầu ghép bộ phận cơ thể người ở Việt Nam 77
3.2 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI 88
3.2.1 Về chính sách chung 89
3.2.2 Về các giải pháp cụ thể 90
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự BPCT : Bộ phận cơ thể NLHV : Năng lực hành vi TTĐPQG : Trung tâm Điều phối Quốc gia
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển bùng nổ của công nghệ y sinh học những năm gần đây
đã làm thế giới phải ngỡ ngàng, nhất là trong lĩnh vực tìm kiếm, khám phá ra các phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể con người, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người Tuy nhiên, công nghệ phát triển càng cao càng đẩy chúng ta đến nguy cơ phá vỡ mọi quy luật tự nhiên, mọi quy tắc, quan điểm về con người đã tồn tại cùng chúng ta trong suốt chiều dài lịch sử Để kiểm soát nó, những quy tắc về đạo đức sinh học, đặc biệt là các quy tắc hành xử liên quan đến cơ thể người được đặt ra và nhanh chóng được luật hóa tạo thành động lực định hướng phát triển một công nghệ y sinh học mang tính nhân bản Ngành y học của Việt Nam đã tiếp thu sáng tạo những thành tựu khoa học của các nước phát triển Trong đó, thành công từ việc cho - nhận, cấy ghép các bộ phận cơ thể (BPCT) là một kết quả đáng tự hào Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển nhiều lĩnh vực để ngày càng hoàn thiện mình hơn
và đáp ứng nhu cầu phát triển của nhân loại Muốn đạt được nhiều thành tựu hơn, pháp luật cần phải bảo hộ tốt hơn nữa quyền của mỗi cá nhân trong xã hội Pháp luật Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đã ban hành luật riêng để điều chỉnh vấn đề này Đầu tiên, nó được quy định trong Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 và cụ thể nhất là quy định trong Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ việc áp dụng những kỹ thuật y học tiến bộ này trong đời sống xã hội Pháp luật ban hành luật điều chỉnh lĩnh vực này vừa phù hợp với truyền thống, đạo đức, văn hóa người Việt vừa đảm bảo quyền của cá nhân được Nhà nước bảo hộ Bởi quyền hiến BPCT của cá nhân là quyền nhân thân thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với các bộ phận trên cơ thể của mình Việc hiến BPCT người được thực hiện một
Trang 8cách đúng đắn sẽ có ý nghĩa to lớn và nhân đạo sâu sắc góp phần vào sự phát triển của y học và khoa học vì con người
Để những quy định điều chỉnh về vấn đề này ngày càng phù hợp hơn
với đời sống xã hội, em đã lựa chọn đề tài: "Quyền hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam hiện hành" Đồng thời, tác giả cũng tìm hiểu thực trạng
hiến BPCT của cá nhân ở Việt Nam từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp
để hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật Việt Nam trong hoạt động hiến, lấy, ghép BPCT người
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền hiến BPCT của cá nhân đã được rất nhiều nước trên thế giới ghi nhận thành Luật riêng và quy định cụ thể trong pháp luật chuyên ngành như: Pháp, Hoa kỳ, Nhật, Singapore, Trung Quốc… và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều cuộc hội thảo luận bàn về vấn đề này
Ở Việt Nam mặc dù pháp luật đã ghi nhận thành một luật riêng nhưng đây vẫn là một vấn đề khá mới, có tính nhạy cảm cao và liên quan đến phong tục, tập quán của người Á Đông Cho nên, các đề tài nghiên cứu khoa học còn rất ít Một số công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học về vấn đề
ghép mô, thận, tạng… như: "Nghiên cứu một số vấn đề về ghép gan để tiến hành ghép gan trên người tại Việt Nam", đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của Học
viện Quân y năm 2005 hay bài giảng tại Học viện Quân y của Đỗ Tất Cường
và cộng sự: "Ghép tạng, ghép thận và hồi sức điều trị sau ghép" năm 2002
Trong lĩnh vực luật học, quyền hiến BPCT được quy định mang tính nguyên tắc trong BLDS năm 2005 và được cụ thể hóa trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006 nên vẫn chưa có nhiều người tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề này Một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
- Cuốn sách của PGS.TS Phùng Trung Tập (chủ biên): "Quyền hiến, lấy xác và bộ phận cơ thể người", Nhà xuất bản Hà Nội, 2013
Trang 9- Luận văn thạc sĩ: "Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân theo quy định trong Bộ luật dân sự 2005", của Lê Thị Hoa, 2006
- Luận văn thạc sĩ: "Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2005", của Nguyễn Trà My, 2008
- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Minh Du: "Quyền hiến bộ phận cơ thể theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005", Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2006
Ngoài ra còn có một số cuộc tọa đàm về Pháp lệnh hiến, lấy, ghép mô, BPCT và khám nghiệm tử thi do Nhà pháp luật Việt - Pháp tổ chức năm 2004 Các công trình nghiên cứu trên diễn ra trong các thời điểm khác nhau trong khi tình hình thực tiễn lại luôn luôn biến đổi Hơn nữa, Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến xác năm 2006 ra đời là một bước ngoặt lớn Cho nên, các công trình nghiên cứu trên vẫn chưa được toàn diện và hoàn thiện về mặt pháp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra Chính
vì những lí do trên, tác giả đã mạnh dạn nghiên cứu vấn đề về "Quyền hiến
bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam hiện hành" để những quy định của
pháp luật được hoàn thiện hơn và phù hợp hơn với thực tiễn cuộc sống
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Quyền hiến, lấy, ghép BPCT của cá nhân đã phát triển từ rất lâu trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay nhu cầu được ghép là rất lớn và ngày càng gia tăng Tuy nhiên, nguồn cung cấp BPCT người lại rất khan hiếm và hơn nữa chi phí chữa bệnh lại rất cao Vì vậy, mục đích nghiên cứu của luận văn
là làm rõ các quy định hiện hành của pháp luật về hiến BPCT, tìm hiểu hoạt động hiến bộ BPCT của cá nhân theo pháp luật hiện hành Đồng thời, luận văn cũng tìm hiểu về thực trạng hiến BPCT của cá nhân hiện nay tại Việt Nam như thế nào? Qua đó, tác giả đề ra một số giải pháp cụ thể trong việc xây dựng và hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả các quy định của pháp luật
Trang 10trong quyền hiến BPCT của cá nhân sao cho phù hợp hơn với đời sống và xu hướng phát triển của y học Việt Nam
* Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn phải làm những nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Nghiên cứu các khái niệm BPCT người và hiến BPCT người
- Tìm hiểu quy định của một số trên thế giới về quyền hiến BPCT
- Tiến trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến BPCT
- Hiến BPCT người theo Luật thực định của Việt Nam
- Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến BPCT
- Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền hiến BPCT của cá nhân
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài về "Quyền hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam hiện hành" là:
- Một số vấn đề khái quát chung và tiến trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến BPCT
- Quy định của một số trên thế giới về quyền hiến BPCT
- Nêu những điểm cơ bản trong hoạt động Hiến BPCT người theo Luật thực định của Việt Nam
- Tổng kết tình hình thực hiện hoạt động hiến BPCT trong cộng đồng, nêu ra những điểm bất cập, hạn chế và nguyên nhân của nó
- Xây dựng các khuyến nghị cần thiết để sửa đổi và hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền hiến BPCT của cá nhân
Hiến, lấy, ghép BPCT của cá nhân là một lĩnh vực rất rộng và liên quan đến nhiều ngành khoa học như: Y học, luật học… Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu đến khía cạnh pháp
lý về quyền hiến, lấy, ghép BPCT của cá nhân theo quy định của pháp luật
Trang 11Việt Nam hiện hành Để các quy định của pháp luật về vấn đề này phù hợp với thực tiễn, luận văn đã nghiên cứu, phân tích những hạn chế của các quy định pháp luật và đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền hiến BPCT của cá nhân
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật, trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp truyền thống như:
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Quyền hiến BPCT của cá nhân được pháp luật quy định trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 Tuy nhiên, việc nghiên cứu những quy định này một cách cụ thể, chi tiết để đạt hiệu quả cao trong thực tiễn là một việc làm rất cần thiết Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật về quyền hiến BPCT của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tác giả đã làm nổi bật tính hiện đại và độc lập của pháp luật Việt Nam; làm rõ các nguyên tắc pháp luật trong việc thực hiện quyền hiến BPCT của cá nhân… Đồng thời qua đó, tác giả cũng đánh giá được thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến BPCT của cá nhân Từ đó, tác giả cũng mạnh dạn đưa ra một số giải pháp khắc phục để Luật ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với đời sống xã hội Khi pháp luật về quyền hiến BPCT của cá nhân được hoàn thiện và thống nhất sẽ có nhiều nguồn hiến cứu sống được nhiều người bệnh và giải quyết được tình trạng khan hiếm nguồn cung cấp BPCT người ở nước ta hiện nay
Trang 127 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản về hiến bộ phận cơ thể người Chương 2: Hiến bộ phận cơ thể người theo luật thực định của Việt Nam Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
hiến bộ phận cơ thể người
Trang 13Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI
1.1 KHÁI NIỆM
1.1.1 Quyền con người
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm
Các quyền con người, quyền của cá nhân trong đó có quyền nhân thân ngày càng được tôn trọng và bảo vệ bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau Đáp ứng những yêu cầu khách quan những mong muốn của các
cá nhân trong xã hội, pháp luật hiện hành ngày càng ghi nhận và bảo vệ rộng rãi các quyền nhân thân của cá nhân, trong đó có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người
Con người khi sinh ra đã có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc… Con người có quyền quyết định những gì thuộc về mình và pháp luật luôn tôn trọng quyền tự định đoạt ý chí của cá nhân đối với thân thể của mình Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người là quyền của cá nhân nhằm hiến
mô, bộ phận cơ thể của mình nhằm mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học Quyền hiến mô, bộ phận
cơ thể người là quyền con người và được pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nhiều nước trên thế giới ghi nhận và bảo vệ
1.1.2 Bộ phận cơ thể người
Hiến BPCT người là một khái niệm không còn xa lạ với nhiều quốc gia trên thế giới nhưng lại khá mới với người dân Việt Nam Theo quan điểm của một số nước trên thế giới như Cộng hòa Pháp thì trong pháp luật y sinh
Trang 14Cộng hòa Pháp ban hành ngày 30/1/2003 đã quy định BPCT người là: Một phần của cơ thể người, riêng biệt và có khả năng sống, được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau và có khả năng duy trì cấu trúc, sự phân bố mạch và thực hiện các chức năng sinh lý một cách hoàn toàn độc lập Còn thuật ngữ
"bộ phận" được Từ điển tiếng Việt của Việt Nam giải thích "Là từng phần của một chỉnh thể" BPCT người là cụm từ được sử dụng tương đối phổ biến trong đời sống với một cách hiểu đơn nhất theo kiểu định nghĩa thống kê: "Bộ phận cơ thể người bao gồm chân, tay, máu, xương, gan, tụy, mật…" Khái niệm này trở lên phức tạp từ khi có sự xuất hiện của BLDS năm 2005 lần đầu tiên ghi nhận quyền hiến và nhận BPCT của cá nhân với tư cách là quyền nhân thân không thể phủ nhận mà không hề giải thích thuật ngữ
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật hiến, lấy ghép mô, BPCT
người và hiến, lấy xác thì BPCT người được hiểu là: "Một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh
lý nhất định" [29] Mặt khác, PGS.TS Phùng Trung Tập - Giảng viên môn
Luật Dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng thống nhất với cách hiểu
trên khi cho rằng: "Bộ phận cơ thể người là những thành tố cấu thành cơ thể sống hoàn chỉnh và nó thực hiện chức năng trao đổi chất giúp cơ thể tồn tại
và phát triển bình thường theo quy luật tự nhiên" [30, tr 11]
Như vậy, BPCT người được hiểu là: Một thể thống nhất được hình thành từ các loại mô khác nhau tạo thành một cơ thể sống hoàn chỉnh mà mỗi một BPCT thực hiện một chức năng trao đổi chất khác nhau Vậy thì mô là
gì? Theo thuật ngữ pháp lý thì "mô" là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể người Tuy nhiên, theo cách hiểu trong sinh học thì "mô" là một hệ thống các tế bào
và chất bào có cùng nguồn gốc, cấu tạo và chức năng, hình thành trong quá trình tiến hóa sinh học và xuất hiện ở một cơ chế đa bào do quá trình biệt hóa
Trang 15Bộ phận cơ thể con người có hai dạng là BPCT tái sinh và BPCT không tái sinh Đối với mỗi dạng BPCT khi hiến cho người khác được pháp luật quy định khác nhau Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác thì BPCT không tái sinh là bộ phận sau khi lấy ra khỏi cơ thể con người không thể sản sinh hoặc phát triển thêm một bộ phận khác thay thế bộ phận đã lấy đi như: Thận, phổi, tim… Khác với BPCT không tái sinh thì BPCT tái sinh là những bộ phận mà sau khi lấy ra khỏi cơ thể vẫn sản sinh hoặc phát triển thêm bộ phận khác thay thế Như vậy,
dù là BPCT tái sinh hay không tái sinh thì vẫn có thể được tách ra khỏi cơ thể của một cá nhân để ghép vào BPCT của một cá nhân khác để thực hiện nhiều mục đích khác nhau Tuy nhiên, Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác của Việt Nam năm 2006 chỉ quy định về việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác còn việc truyền máu, ghép tủy không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này
Một vấn đề được đặt ra là BPCT người có bao gồm cả những bộ phận
bị cắt bỏ ra khỏi cơ thể do không cần thiết (nhau thai) hoặc bị nhiễm bệnh (khối u) gây hại cho sức khỏe con người hay không? Có ý kiến cho rằng những bộ phận này vẫn được coi là BPCT vì nó vẫn xuất phát từ cơ thể của một người cụ thể, trước khi bị cắt bỏ nó vẫn là thành tố cấu tạo nên cơ thể đó
về mặt khoa học muốn cắt bỏ nó vẫn phải thực hiện các thủ thuật y học để tác động vào Theo tác giả để được coi là một BPCT và là đối tượng của quyền hiến BPCT thì bộ phận đó phải có khả năng thực hiện được các chức năng sinh lý bình thường vốn có của nó Trong khi những bộ phận nói trên không
có khả năng thực hiện chức năng sinh lý, thậm chí cần phải cắt bỏ nó thì mới
có thể duy trì được sự sống cho cơ thể
Như vậy, BPCT người được hiểu là một thể thống nhất được hình thành từ các loại mô khác nhau tạo thành một cơ thể sống hoàn chỉnh mà mỗi một BPCT thực hiện một chức năng trao đổi chất khác nhau
Trang 161.1.3 Hiến bộ phận cơ thể người
Theo từ điển, "hiến" là một động từ chỉ "hành động dâng hay tự nguyện cho của một chủ thể", là hành vi mang tính chủ động "cho cái quý giá của mình một cách tự nguyện, trang trọng" Như vậy, hiểu một cách đơn thuần thì hiến BPCT người có nghĩa là cá nhân tự nguyện tặng/cho một phần cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi chết vì mục đích chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học và hoàn toàn vô điều kiện Theo quy định của BLDS năm 2005 thì "quyền hiến bộ phận cơ thể người" là quyền nhân thân của cá nhân, thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với BPCT của mình Đây là một quyền năng mới được bổ sung vào BLDS năm 2005 do nhu cầu hiến, lấy ghép BPCT ngày càng tăng
Tuy nhiên, đối tượng được đem tặng này lại rất đặc biệt - BPCT- món quà sự sống cho nên kéo theo đó là cả một hệ thống các quy chế pháp lý cho
ta có cách hiểu về cụm từ trên phức tạp hơn Dưới góc độ pháp luật, hiến BPCT người được hiểu "là việc cá nhân tự nguyện hiến… bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi chết" Mặc dù định nghĩa này không thực sự
rõ ràng khi sử dụng mệnh đề: "hiến…là hiến" nhưng nó đã chỉ ra một điểm hết sức quan trọng đó là: nguồn gốc của đối tượng hiến BPCT phải xuất phát
từ chính cơ thể của chủ thể thực hiện hành vi hay hành vi, hiến phải là hành vi trực tiếp (tự mình thực hiện, không đại diện) của cá nhân, ngay cả trường hợp không có thẻ đăng ký hiến sau khi chết phải có sự đồng ý của cha, mẹ/người giám hộ/vợ, chồng/đại diện các con đã thành niên của họ Đây là trường hợp
sự đồng ý của người thân được hiểu là chứng cứ chứng minh người chết đã không từ chối và có thể đồng ý hiến trước đó Ngoài ra, định nghĩa trên còn đặc biệt nhấn mạnh tính tự nguyện của chủ thể thực hiện hành vi để nêu bật lên tính nhân văn cao đẹp của nó cho dù bản thân từ "hiến" đã bao hàm sự tự
nguyện Như vậy, có thể hiểu: hiến BPCT người là hành vi trực tiếp, tự nguyện của cá nhân theo quy định của pháp luật nhằm tặng/cho một phần cơ
Trang 17thể của chính mình vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học và hoàn toàn vô điều kiện
Dưới góc độ pháp lý, bản chất của hiến BPCT không phải là hợp đồng
mà là hành vi đơn phương của chủ thể hiến Thực vậy, nó thể hiện duy nhất ý chí tự nguyện của chủ thể hiến mà không phải là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự trong hoạt động hiến BPCT Nó không thỏa mãn khái niệm hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 388 của BLDS năm 2005 Khi người hiến ký tên vào đơn đăng ký hiến và cơ sở y tế hoàn tất thủ tục đăng ký cho người hiến không phải
là hợp đồng tặng cho được ký kết Nó chỉ đơn giản là một thủ tục ghi nhận ý chí tự nguyện của người hiến, còn cơ sở y tế chỉ là một chỉ là một chủ thể có nhiệm vụ trợ giúp người hiến thực hiện quyền của họ (tiếp nhận, đăng ký đơn hiến; kiểm tra, tư vấn sức khỏe; thực hiện lấy, xử lý an toàn và phân phối BPCT) mà thôi Ở đây, chủ thể nhận không cần phải xác định cụ thể, thậm chí một số trường hợp không thể xác định (hầu hết ở hiến vì mục đích ghép trị liệu) Việc hiến và nhận về mặt pháp lý hoàn toàn độc lập với nhau, không có mối liên hệ quyền, nghĩa vụ giữa người hiến và nhận (cá nhân nhận ghép trị liệu, cơ sở y tế, cơ sở lưu trữ mô, tế bào), chủ thể nhận sẽ chính thức được xác định trong khâu phân phối Vì thế không trách nhiệm nào phát sinh giữa họ khi hiến - nhận Có chăng chỉ là trách nhiệm của các cơ sở y tế đối với người hiến theo Luật khi người hiến thực hiện các thủ tục hiến BPCT mình với tư cách là một phần, một mắt xích của hệ thống hiến BPCT người chứ không phải là một bên của hợp đồng Ngược lại, chủ thể hiến không phải chịu ràng buộc bất cứ trách nhiệm nào Do đó, người nhận, cơ sở y tế, cơ sở lưu trữ không thể kiện người hiến về việc không chuyển giao BPCT hay chất lượng BPCT không đảm bảo
Nếu cho rằng việc hiến là hợp đồng tặng cho thì vẫn có nhưng tranh cãi khi người ta không thống nhất được về chủ thể bên kia (người nhận) là ai
Trang 18khi mục đích hiến là ghép trị liệu Nếu chủ thể nhận là cơ sở y tế và nó sẽ tiếp tục giao cho người thứ ba để thực hiện mục đích của người hiến trên một hợp đồng mẫu vì lợi ích của người thứ ba là đơn đăng ký hiến thì không phù hợp với quy định về hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba (khoản 5 Điều 406
BLDS năm 2005): "là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ mà người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó" [28], bởi vì người hiến luôn luôn có quyền hủy bỏ quyết định hiến bất cứ
lúc nào mà không chịu bất cứ áp lực nào về trách nhiệm thực hiện cam kết trước "bên nhận" cũng như "người thứ ba" kia Nếu bên nhận là bệnh nhân được phẫu thuật ghép thay thế và hợp đồng sẽ được ký kết gián tiếp thông qua
cơ sở y tế với tư cách là người đại diện thì lại không thể trả lời cho những trường hợp không xác định trước người nhận ghép, tức bản thân "người đại diện" cũng không thể xác định được người mà mình đại diện là ai Ngay cả trường hợp đã xác định được người nhận ghép thì việc đại diện này cũng không thuộc bất cứ trường hợp nào được quy định tại chương VII BLDS năm 2005 Mặc dù tại Điều 11 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2013 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học nhà làm Luật lại coi hiến phôi (dư) là hợp đồng tặng cho giữa một cặp vợ - chồng và cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng rõ ràng cái được gọi là "hợp đồng tặng cho" này không phản ánh đúng bản chất của chính cụm từ mà nó mang lại Bởi:
Thứ nhất, bên nhận là cơ sở y tế không có quyền sở hữu số lượng phôi
trên vì họ không thể tự định đoạt chúng bằng bất cứ hành vi nào để chuyển giao hay từ bỏ quyền sở hữu cho dù giả thiết rằng đây là loại tài sản hạn chế lưu thông (không mua bán, không chuyển giao cho người nước ngoài, sử dụng cho mục đích hỗ trợ sinh sản, người nhận phôi phải là người vợ trong cặp vợ - chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do cả vợ và chồng, từ đủ 20 tuổi đến 45 tuổi, có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh
Trang 19tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác) Việc phân phối số
phôi này đều phải trên cơ sở nguyên tắc phân phối Luật định: Luôn phải cung
cấp phôi (nếu có) cho người có nhu cầu khi không chứng minh được họ
không thỏa mãn điều kiện luật định
Thứ hai, cơ sở y tế không thể chủ động trong mối quan hệ cho - nhận
này với tư cách là một bên tự nguyện của hợp đồng để từ chối không tiếp
nhận phôi dư được "tặng cho" mà luôn phải tiếp nhận nếu nó đảm bảo an toàn
y tế với tư cách là một mắt xích của hệ thống hiến BPCT người
Như vậy, trong hoạt động tặng cho phôi dư của một cặp vợ - chồng cụ
thể, cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhận số phôi dư dù là một
bên chủ thể của hợp đồng nhưng vai trò thực chất của nó chính là cầu nối
trung gian thực hiện phân phối số phôi dư được tặng cho Dù sao đây cũng là
quy định mở đường cho khuynh hướng công cụ hóa cơ thể người và nguy cơ
thương mại hóa là điều rất dễ xảy ra Hơn nữa, việc kiểm soát nó là một câu
hỏi rất lớn vì như chúng ta biết, hệ thống thanh kiểm tra của ta rất yếu kém từ
trình độ cán bộ đến cơ chế vận hành
1.2 NGUYÊN TẮC TRONG VẤN ĐỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI
Bộ nguyên tắc về hiến BPCT người nhằm vào mục tiêu bảo vệ con
người Những nguyên tắc pháp lý này được hiểu như tư tưởng chỉ đạo trong
việc điều chỉnh quan hệ hiến và nhận BPCT người pháp luật của mỗi nước
khác nhau thì bộ nguyên tắc này có những cách thể hiện rất khác nhau nhưng
tựu chung mấu chốt vẫn xoay quanh những nguyên tắc cơ bản được thừa nhận
trên toàn thế giới Ở Việt Nam, tại Điều 4 Luật Hiến, lấy ghép mô, BPCT
người và hiến lấy xác năm 2006 đã ghi nhận 4 nguyên tắc
1.2.1 Nguyên tắc tự nguyện đối với người hiến, người được ghép
Đây luôn là nguyên tắc được đặt ở vị trí đầu tiên trong pháp luật của
tất cả các nước, được đòi hỏi như là điều kiện cần cho hoạt động hiến BPCT
người, được BLDS quy định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ Nó mang tính chỉ
Comment [YUN1]:
Comment [YUN2]: Cách diễn đạt trùng lặp
Trang 20đạo và định hướng khi áp dụng pháp luật dân sự Hoạt động hiến này nhất thiết phải có sự đồng ý của chủ thể hiến, không thể đề cập tới nguyên tắc nào khác nếu không nhắc tới sự tự nguyện Tự nguyện ở đây được hiểu là sự tự nguyện hoàn toàn Điều này có nghĩa là quyết định hiến BPCT của cá nhân phải được đưa ra trong trạng thái hoàn toàn bình thường, minh mẫn, sáng suốt
và quyết định này phải dựa trên việc họ được thông tin Không thể có bất cứ
sự hiểu nhầm nào, người hiến phải nắm được một số thông tin liên quan đến việc BPCT của họ có thể được lấy đi khi họ thực hiện quyền hiến của mình, đặc biệt là những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động này cho phép họ có những cân nhắc cần thiết trước khi đưa ra quyết định Hiến và nhận BPCT là vấn đề nhạy cảm Nó liên quan đến sức khỏe của các chủ thể, phong tục tập quán của người Á Đông và tính nhân đạo của con người Việt Nam Vì vậy, việc lấy BPCT của một người nào đó chỉ thực sự được tiến hành khi chắc chắn về sự đồng ý của họ, thậm chí đó là các bộ phận được lấy trong quá trình phẫu thuật nhằm đảm bảo lợi ích của người được phẫu thuật ví dụ: nhau thai, khối u… Tự nguyện hiến và nhận BPCT của cá nhân phải thể hiện thông qua
sự việc bày tỏ nguyện vọng hiến mô, BPCT của mình với cơ sở y tế và đăng
ký hiến thông qua mẫu đơn hoặc có đơn tự nguyện xin phép
Nguyên tắc tự nguyện cho phép chủ thể có quyền thay đổi, hủy bỏ việc hiến BPCT bất cứ thời điểm nào họ muốn mà không cần đưa ra lý do hay sự giải thích Họ có quyền tự do quyết định việc hiến hay không hiến BPCT của mình Không ít những trường hợp người hiến BPCT là do bị ép buộc, dụ dỗ… hoặc do những người thân trong gia đình tạo áp lực, gây cho
họ một sức ép về tâm lý buộc họ phải thực hiện việc hiến BPCT Điều này trái với ý chí tự nguyện của họ và trái với pháp luật Bên cạnh đó, việc sử dụng bộ phận hiến khác với mục đích đã xác định ban đầu của người hiến thì phải có sự đồng ý của người đó Ở đây, mọi lựa chọn của người hiến đều được tôn trọng; không một cá nhân, tổ chức hay quyền lực nào có thể can
Trang 21thiệp vào sự định đoạt ấy của họ Đây là nguyên tắc phổ biến được áp dụng chung trên toàn thế giới Đối với người được ghép cũng phải có sự đồng ý của họ Trong trường hợp nguy hiểm đến tính mạng, người được ghép không thể tự quyết định ghép hay không ghép BPCT thì những người thân của họ phải đồng ý cho họ được ghép trên cơ sở vì lợi ích của người được ghép, đảm bảo sự sống cho người được ghép
Nguyên tắc "Tự nguyện" được thể hiện trong pháp luật các nước ở mức độ khác nhau Sự đồng ý trong trường hợp này được vận hành theo hai
cơ chế: suy đoán và chủ động Với cơ chế suy đoán người ta luôn có quyền lấy đi BPCT người quá cố nếu lúc còn sống họ không phản đối Cơ chế này
đã tự động bỏ qua khả năng "không lựa chọn" của người dân Thực tế cho thấy, tại Pháp người dân đăng kí từ chối rất thấp Điều này chứng minh tính khả thi và hiệu quả của cơ chế này Đối với cơ chế chủ động, người ta chỉ được phép lấy BPCT của một người khi có sự đồng ý rõ ràng, minh bạch của người đó Cơ chế này thể hiện sự thận trọng từ phía cơ sở y tế để đảm bảo khả năng chủ động cho người dân tham gia đồng thời đảm bảo tính minh bạch, dân chủ công khai trong hoạt động mang đậm tính nhân văn này Đa phần các nước đều theo cơ chế này trong đó có Việt Nam Nhìn chung, quy định nguyên tắc tự nguyện đối với người hiến và nhận BPCT người của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định của các nước trên thế giới
1.2.2 Nguyên tắc vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học
Xuất phát từ nhận thức con người là giá trị cao quý nhất, là trung tâm của mọi chính sách, pháp luật, tất cả là vì con người và cho con người, trong
đó, quyền sống là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, là cơ sở để thực hiện các quyền con người khác Một trong số các biện pháp bảo đảm quyền sống cho con người chính là tạo điều kiện cả về mặt kĩ thuật, cả về mặt pháp lý
để y học có thể cứu sống được ngày càng nhiều bệnh nhân hiểm nghèo Vì vậy,
Trang 22mục đích chữa bệnh của việc hiến BPCT cần được đặt lên hàng đầu Bên cạnh
đó, hiến BPCT còn nhằm mục đích giảng dạy, nghiên cứu khoa học để tìm ra
các phương thức chữa bệnh hiệu quả hơn và suy cho cùng cũng là vì con người
Ở nước ta, nhu cầu được ghép mô, BPCT người ngày càng gia tăng
Chỉ tính đến năm 2008, cả nước có khoảng 5.000 - 6.000 người suy thận mãn
cần được ghép thận Tại Hà Nội đã có gần 1.500 người được chỉ định ghép
gan nhưng không có nguồn cho nên số bệnh nhân này đang trong tình trạng
nguy hiểm đến tính mạng Do không có nguồn hiến nên cho đến nay Việt
Nam đã có hơn 200 người phải sang Trung Quốc và một số nước khác để
ghép gan, thận Con số này chắc chắn sẽ không chỉ dừng lại ở đó [22] Về nhu
cầu ghép mô, đặc biệt là ghép giác mạc, đến nay, cả nước có khoảng 5.000
người bệnh đang chờ được ghép giác mạc Riêng tại Viện Mắt Trung ương,
mỗi năm nhu cầu ghép giác mạc từ 500 ca/năm trở lên Nhưng từ năm 1985
đến nay, Viện mới chỉ ghép được 1.500 ca, riêng năm 2004 ghép được 103 ca,
năm 2005 ghép được 150 ca [6] Số giác mạc được ghép chủ yếu lấy từ nguồn
viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ do không có nguồn của người cho giác
mạc Mặt khác, nhu cầu về giảng dạy, nghiên cứu khoa học trên xác chết rất
lớn Vào khoảng thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ trước, cứ 6 - 7 sinh viên thì có 1
xác chết để học tập, nghiên cứu giải phẫu Nhưng đến nay, cả khóa trên dưới
400 sinh viên mới chỉ có 1 xác chết, thậm chí phải dùng lại nhiều lần do
không có xác Theo báo cáo của Trường Đại học Y Hà Nội, cả trường hiện có
22 xác chết, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có 173 xác
chết Do đó, hiến mô, BPCT người không những là việc làm nhân đạo mà còn
giúp cho những người cần BPCT để giảng dạy có cơ sở thực tế hơn, hiểu rõ
hơn về cơ thể người hay những người cần BPCT để nghiên cứu cũng có điều
kiện để tiến hành thực nghiệm trên BPCT người đem lại hiệu quả cao trong
giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Comment [YUN3]: Nguồn lấy số liệu?
Trang 23Tuy nhiên, việc cho, tặng mô, BPCT người là cả một việc làm không
hề đơn giản Do đó, để bổ sung nguồn cung ứng chất liệu đặc biệt luôn khan hiếm này người cần có công tác vận động tuyên truyền thật tốt để người dân Việt Nam hiểu được việc làm mang ý nghĩa hết sức nhân đạo, tương thân, tương ái này
1.2.3 Nguyên tắc không nhằm mục đích thương mại
Đây là một nguyên tắc cũng rất quan trọng được Luật hiến, lấy, ghép
mô, BPCT năm 2006 quy định nhằm điều chỉnh và kiểm soát đặc biệt mọi hoạt động về vấn đề này chống những hành vi thương mại hóa
Nguyên tắc phi lợi nhuận được áp dụng với tư cách là điều kiện đủ trong hoạt động hiến BPCT người so với điều kiện cần là nguyên tắc tự nguyện và mục đích hiến luật định ở trên Nguyên tắc này được kỳ vọng như
là thành trì bảo vệ chống lại mọi hành vi vi phạm có tổ chức với cơ thể và nhất là việc buôn bán các BPCT Và vì thế mà nó trở thành nguyên tắc quan trọng bao trùm lên toàn bộ hệ thống các quy định của pháp luật về vấn đề hiến BPCT người Nguyên tắc phi lợi nhuận bao gồm hai nội dung chính sau:
Thứ nhất, không trả tiền cho việc hiến BPCT người Theo nội dung
này, không có việc đền bù tài chính trực tiếp cho người hiến; họ không có quyền đòi hỏi bất kỳ sự trả giá nào cũng như được phép nhận thù lao dưới bất
kỳ hình thức nào từ hành vi hiến BPCT của mình Người nhận cấy, ghép, sử dụng giảng dạy, nghiên cứu không phải trả bất kỳ khoản phí nào do việc có được BPCT người Đối với các bác sĩ thực hiện kỹ thuật lấy cũng không được trả thêm tiền vì tiến hành phẫu thuật Đây được coi là một nhiệm vụ của các bác sĩ làm việc hưởng lương tại các cơ sở y tế Toàn bộ các chi phí phát sinh
do việc lấy BPCT người do cơ sở y tế thực hiện lấy chi trả Bao gồm: chi phí trực tiếp liên quan đến hoạt động phẫu thuật, chi phí điều trị, đi lại, ăn ở, những khoản tiền mà người hiến mất trong thời gian thực hiện việc hiến (nếu
Trang 24có) Việc "không trả tiền" được áp dụng trên cả 4 đối tượng: người hiến, nhận, bác sĩ, cơ sở y tế nhằm ngăn chặn những biến tướng thương mại hóa cơ thể người từ bất cứ nguồn, hướng nào trong hệ thống hoạt động hiến BPCT Đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, trình độ dân trí thấp, đời sống của người dân còn nghèo thì việc kinh doanh BPCT người là một vấn nạn xã hội Bởi người bán luôn là người nghèo, bất chấp sức khỏe của mình để lấy tiền còn người mua là người giàu sẵn sàng bỏ tiền mua mà không quan tâm tới sức khỏe của người hiến Do đó, nảy sinh nhiều nguy cơ:
vì tiền người ta sẵn sàng đánh bạc với sức khỏe của mình bán đi một phần cơ thể thậm chí cả trong điều kiện phẫu thuật không đảm bảo vệ sinh an toàn; nguy hiểm hơn có thể nảy sinh hiện tượng cưỡng đoạt BPCT người với đường dây bắt cóc, giết người làm ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ xã hội
Vì thế, pháp luật của nước ta đã nghiêm cấm việc mua bán BPCT hoặc ép buộc người khác phải hiến BPCT không vì mục đích thương mại nhằm ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực và hành vi trái pháp luật có thể phát sinh gây
ra hậu quả xấu, vi phạm đạo đức xã hội
Thứ hai, cấm quảng cáo cho một người hoặc cho một tổ chức cụ thể
Điều này có nghĩa là: mọi hoạt động cung cấp thông tin, giới thiệu, môi giới
về nhu cầu hiến, nhận BPCT cho một người, một tổ chức cụ thể mang tính thương mại đều bị cấm Các biến tướng thương mại hóa rất tinh vi nên mọi hoạt động cũng như nội dung của các chiến dịch truyền thông đến nhân dân phải được Bộ Y tế cho phép
Thực hiện tốt nguyên tắc "Phi thương mại" nói trên là một biện pháp đảm bảo sự bình đẳng về quyền nhận BPCT bởi nếu cho phép mua bán, sử dụng BPCT người nhằm mục đích lợi nhuận tức là đã không tạo cơ hội chữa bệnh bình đẳng giữa những bệnh nhân nghèo và bệnh nhân giàu, những người nghèo sẽ hiếm có cơ hội được ghép mô, BPCT người để chữa trị bệnh
Trang 251.2.4 Nguyên tắc giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác quy định cụ thể nguyên tắc này tại Điều 38 nhằm đảm bảo trật tự các quan hệ xã hội, ngăn chặn hiện tượng thương mại hóa BPCT người đồng thời bảo vệ người hiến, nhận về mặt riêng tư cá nhân Nguyên tắc này rất quan trọng, nó cho phép tránh mọi áp lực không cần thiết về tinh thần cũng như vật chất từ phía người hiến, nhận và gia đình họ đối với nhau; qua đó ngăn chặn khả năng thương mại hóa do quan hệ trực tiếp giữa các đối tượng này "Bí mật thông tin" ở đây
có nghĩa là mọi thông tin về danh tính cá nhân đều không thể được biết đến Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu: mọi thông tin về người hiến, nhận đều phải được mã hóa và bảo mật, người hiến không được biết căn cước người nhận và ngược lại; cấm tiết lộ bất cứ thông tin nào cho phép xác định người hiến, nhận Bảo mật thông tin là nghĩa vụ bắt buộc của các nhân viên hoạt động trong mạng lưới hiến tặng Hồ sơ người hiến, nhận sẽ được lưu giữ trong một thời hạn xác định trước khi công bố Nhưng khi công bố thì vẫn phải đảm bảo khuyết danh Thời hạn lưu giữ tùy thuộc vào quy định của các nước, thường
là 30 năm (Việt Nam có áp dụng) Nhưng nguyên tắc này bị tranh cãi nhiều đối với trường hợp hiến giao tử, phôi Người ta lo ngại việc áp dụng nguyên tắc "bí mật" có nghĩa là pháp luật đã tước đi quyền được biết nguồn gốc của đứa trẻ sinh ra theo phương pháp khoa học vì quan hệ huyết thống giữa đứa trẻ và cha mẹ nó về mặt pháp lý và sinh học là không trùng nhau Nguyên tắc
vô danh này áp dụng tương đối phổ biến ở các quốc gia và khi áp dụng cũng không gặp vấn đề gì
Ở Việt Nam, về mặt lý thuyết, nguyên tắc này áp dụng cho tất cả trường hợp hiến BPCT, không phân biệt hiến khi còn sống hay đã chết Tuy nhiên như các nước, Việt Nam thừa nhận trong phạm vi áp dụng của nguyên
Trang 26tắc này có những ngoại lệ - nó có thể bị tương đối hóa trong một số trường hợp đặc biệt Đó là trường hợp cần thiết vì mục đích chữa bệnh (điều trị cho một số cá nhân cụ thể hoặc nghiên cứu bệnh học) thì theo yêu cầu của cơ quan/người có thẩm quyền hồ sơ người hiến sẽ được mở nhưng vẫn phải đảm bảo khuyết danh, trừ trường hợp không thể xác định được danh tính hồ sơ Những người được tiếp cận hồ sơ khi chưa được phép công bố phải tuân thủ nghĩa vụ bí mật thông tin Ngoài ra, khoản 4, Luật 75/06, Việt Nam còn quy định thêm trường hợp loại trừ của nguyên tắc này đối với người hiến, ghép có cùng dòng máu trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời mà đối tượng hiến không phải là giao tử, phôi (khoản 7, Điều 11) và trường hợp "các bên có thỏa thuận khác" Sự thỏa thuận khác ở đây hiểu theo tinh thần của luật là trường hợp cả người hiến, nhận đều mong muốn được biết về danh tính của nhau, pháp luật sẽ tôn trọng sự lựa chọn này của họ Ngoài 4 nguyên tắc cơ bản trên đây, tuy không được luật Việt Nam trực tiếp quy định nhưng trên tinh thần của luật, khi tiếp cận vấn đề hiến BPCT người cần tuyệt đối tôn trọng các nguyên tắc sau đây
1.2.5 Tôn trọng cơ thể con người
Tôn trọng cơ thể người (hay không công cụ hóa cơ thể người) là nguyên tắc cội rễ của cả 4 nguyên tắc trên Nói cách khác, 4 nguyên tắc đã được Việt Nam luật hóa là sự cụ thể nguyên tắc tôn trọng cơ thể con người Nguyên tắc tôn trọng cơ thể người vô cùng quan trọng, có sức bao quát tất cả các trường hợp có thể phát sinh trong đời sống dân sự liên quan đến công nghệ y sinh học vốn rất đa dạng và vô cùng nhạy cảm, phức tạp Chính vì thế
mà nó có tác dụng định hướng tương lai, tìm kiếm sự đồng thuận giữa các quan điểm khác nhau và có giá trị tuyên truyền trong cộng đồng
Tôn trọng cơ thể là quyền của mọi cá nhân, nó là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người Sự tôn trọng cơ thể con người tạo nên tính bất khả xâm phạm của nó; mỗi cá nhân có quyền được toàn vẹn về thân thể,
Trang 27được bảo vệ chống lại mọi sự xâm phạm của người khác, ngay cả khi đã chết Điều này đòi hỏi trách nhiệm của các cơ sở y tế phải khôi phục về mặt thẩm
mỹ thi thể sau khi lấy BPCT của người đó hoặc khi không còn nhu cầu sử dụng cho mục đích nghiên cứu, giảng dạy thì mọi BPCT người được tiêu hủy, thi thể được mai táng, tất cả đều phải tổ chức với sự trang trọng, kính cẩn Nội dung này của nguyên tắc tôn trọng cơ thể con người đã được Việt Nam ghi nhận trong các văn bản luật Việc tôn trọng cơ thể người không chỉ ở chỗ được bảo vệ bởi cơ chế bất khả xâm phạm mà còn ở chỗ ngăn chặn mọi khả năng công cụ hóa với quy chế phi tài sản cơ thể người Cơ thể và bộ phận cấu thành không thể là đối tượng của quyền phi tài sản Nguyên tắc tôn trọng cơ thể người nhằm ngăn chặn khuynh hướng biến BPCT người thành một thứ nguyên liệu sinh học Vì vậy, việc quy định nguyên tắc này trong các văn bản luật là một việc làm thực sự cần thiết
1.2.6 Quyền được thông tin của người hiến
Được thông tin là quyền cơ bản và quan trọng của cả người hiến và người nhận Đối với người hiến, đặc biệt là hiến khi còn sống quyền này càng
có ý nghĩa quan trọng hơn Đây là nội dung quyền không thể thiếu cũng là quyền đầu tiên của họ Việt Nam không quy định đây là nguyên tắc hay một quyền cụ thể trong các văn bản pháp luật mà chỉ thể hiện nội dung quyền này trong rải rác các quy định về thủ tục hiến
Thông tin được cung cấp ở đây phải đáp ứng hai thuộc tính là đúng và
đủ Đó phải là tất cả những thông tin cần thiết, trung thực, đầy đủ về bản chất
và những hệ quả của các phương tiện, liệu pháp, thủ thuật y học sẽ được áp dụng trên cơ thể của người được cung cấp thông tin, đặc biệt lưu ý đến thông tin về những rủi ro có thể xảy ra như: những rủi ro về vệ sinh y tế, về phẫu thuật hoặc những rủi ro sau khi tiến hành lấy BPCT của người hiến sống Nội dung thông tin thuộc quyền của người hiến không phải là những thông tin cho phép xác định danh tính người nhận nên không bị mâu thuẫn với nguyên tắc
Trang 28bí mật thông tin người hiến - nhận Nguyên tắc này chính là thể hiện sự thận trọng, minh bạch từ phía ngành y tế và cũng là tạo niềm tin cho nhân dân đối với hoạt động hiến BPCT người vô cùng cao cả và nhạy cảm này
1.3 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ
Trên thế giới, quyền hiến mô, BPCT người được quy định và triển khai thực hiện từ rất sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành phẫu thuật ghép mô, BPCT người phát triển một cách mạnh mẽ: Pháp năm 1952, Anh năm 1961,
Na Uy năm 1973, Thụy Điển năm 1975… Tại các quốc gia châu Á như: Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Philippine, Singapore, Indonesia [20]… đều đã ban hành Luật quy định về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người Ở nước ta vì một
số lý do nên quyền này được thừa nhận khá muộn, chỉ đến khi BLDS năm
2005 sửa đổi, bổ sung ra đời quyền này mới chính thức được ghi nhận và được cụ thể tại Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người năm 2006
Từ năm 1945 đến cuối thập niên 80 hệ thống pháp luật nước Việt Nam trong thời kỳ này chưa có quy định pháp luật nào về cấy, ghép mô, BPCT người Việc hiến, cấy, ghép mô, BPCT đã được pháp luật nhắc đến lần đầu năm 1989 nhưng việc quy định này chỉ mang tính nguyên tắc không cụ thể trong khi vấn đề hiến, ghép BPCT là vấn đề rất nhạy cảm liên quan đến yếu tố tâm sinh lý xã hội, yếu tố tâm linh, tôn giáo, phong tục tập quán
1.3.1 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989
Do nhu cầu về cấy, ghép mô, BPCT người tăng cao trong khi đó Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh hoạt động hiến, cấy, ghép mô, BPCT người đến năm 1989, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân là văn bản pháp luật đầu tiên của nước ta đã có quy định cụ thể về lấy và ghép mô, BPCT con người tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện quyền hiến BPCT của cá nhân Luật quy định như sau:
Thầy thuốc chỉ tiến hành lấy mô hoặc bộ phận cơ thể người
Trang 29sống hay người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại
Việc ghép mô hoặc một bộ phận cơ thể cho người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hay thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên
Bộ Y tế quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người cho mô hoặc một bộ phận cơ thể [24]
Quy định này chỉ rõ rằng việc lấy mô hoặc BPCT chỉ phục vụ cho mục đích y tế, và việc lấy mô hoặc BPCT phải được sự đồng ý của người cho trong trường hợp người cho bình thường và có đầy đủ năng lực pháp luật dân
sự và năng lực hành vi (NLHV) dân sự Pháp luật tôn trọng sự tự định đoạt của người hiến trong trường hợp này Luật đã không hạn chế độ tuổi của người cho, với quy định này thì tất cả mọi người đều có quyền hiến BPCT của mình vì mục đích y tế, như vậy đối tượng hiến BPCT rất rộng
Luật này cũng quy định các nguyên tắc trong việc hiến BPCT tại Điều 4, tất cả các chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT đều phải tuân thủ các nguyên tắc này bởi đây là những nguyên tắc nền tảng cho việc thực hiện Luật trong thực tế Để hoạt động hiến, lấy, ghép mô, BPCT người được thực hiện nghiêm túc thì bắt buộc hoạt động này phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Đó là:
Thứ nhất, phải đảm bảo sự tự nguyện của người hiến;
Thứ hai, việc hiến BPCT phải được thực hiện nhằm mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc vì mục đích khoa học;
Thứ ba, không nhằm mục đích thương mại;
Thứ tư, giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến và
người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật
có quy định khác
Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác đã xây dựng
Trang 30riêng Chương II để quy định về hiến, lấy mô, BPCT ở người sống, trong đó quy định về các thủ tục đăng ký hiến mô và BPCT ở người sống; thủ tục thay đổi, hủy bỏ đơn đăng ký hiến mô, BPCT ở người sống; điều kiện, thủ tục lấy
mô, BPCT ở người sống; điều kiện, thủ tục lấy BPCT không tái sinh ở người sống; điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, BPCT người và quyền lợi của người đã hiến mô, BPCT người Ngoài những quy định đối với người hiến BPCT luật còn các quy định liên quan đến người nhận BPCT
Đây là một đạo luật quan trọng, mang tính nhân đạo nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của việc chữa bệnh cứu người, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho việc tiến hành lấy, ghép mô, BPCT, giúp chăm sóc tốt hơn người bệnh và nhiều người có cơ hội được cứu chữa
Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng đã rất tôn trọng sự tự nguyện của người bệnh khi chữa bệnh bằng phương pháp cấy, ghép mô, BPCT Khi tiến hành cấy, ghép BPCT phải được sự đồng ý của họ
Tuy nhiên, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân đã không quy định rõ trình tự, thủ tục hiến BPCT cũng như quyền lợi mà người hiến được hưởng hay trách nhiệm pháp lý của những người hiến hay sử dụng BPCT không vì mục đích y tế như thế nào? Việc quy định như trên chỉ mang tính nguyên tắc chứ chưa tạo được hành lang pháp lý cho người thầy thuốc tiến hành thực hiện lấy, ghép mô, BPCT người
1.3.2 Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991
Ngay sau khi sự ra đời của Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong Điều
lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991, tại
Điều 10 đã có quy định chi tiết như sau:
Việc lấy mô hoặc một bộ phận cơ thể của người sống phải được người đó tự nguyện và viết thành văn bản
Trang 31…
Cơ sở y tế tiến hành lấy mô hoặc một bộ phận cơ thể của người cho có trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho họ trước, trong và sau khi lấy [14]
Nhưng thực chất quy định về hiến BPCT của cá nhân mới chỉ quy định chi tiết hơn quy định "đồng ý" của Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân ở hai điểm, đó là phải được người đó tự nguyện và viết thành văn bản Quy định này rất có ý nghĩa trong khía cạnh pháp lý cũng như trong thực tiễn đời sống
Về mặt pháp lý: "đồng ý" trong Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân diễn đạt rất chung chung, khó kiểm soát; trái lại, "tự nguyện" trong Nghị định số 23-HĐBT lại mang ý nghĩa sâu xa hơn, chặt chẽ hơn Bản thân sự tự nguyện của cho đã là đồng ý, nhưng là đồng ý tự thân, do chính người đó quyết định chứ không phải đồng ý do ép buộc, bị lừa dối… sự tự nguyện thể hiện rõ mức
độ hiểu biết về y tế, xã hội, pháp luật… cũng như khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người đó
Việc quy định phải viết thành văn bản cũng là một sự tiến bộ nhằm quy định rõ hơn việc thực thi quyền này Nó đảm bảo có bằng chứng xác thực cho sự tự nguyện, tự quyết của người hiến Về mặt thực tiễn thì chính quy định này nhằm đảm bảo cho các chủ thể cho, hiến BPCT được có cơ hội thể hiện ý chí là cơ sở đảm bảo cho các chuyên gia y tế tiến hành các hoạt động chuyên môn của mình
Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (Khóa VII) về "Những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân" cũng tỏ rõ quyết tâm trong việc triển khai Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân và các văn bản dưới luật
1.3.3 Bộ luật dân sự năm 1995
Quá trình phát triển của đất nước, của xã hội, của loài người đã làm
Trang 32phát sinh nhiều mối quan hệ xã hội cần được pháp luật điều chỉnh, vì vậy BLDS năm 1995 đã ra đời, theo quy định của BLDS năm 1995 việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người được quy định cụ thể hơn:
Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của thân thể phải được sự đồng ý của người đó, nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được sự đồng ý của cha mẹ, người giám hộ hoặc người thân thích của người
đó thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở chữa bệnh [26] Như vậy, ta thấy pháp luật luôn đảm bảo tính bất khả xâm phạm và cơ thể của một cá nhân không bị định đoạt trái với những quy định của pháp luật Theo quy định của BLDS năm 1995 ta thấy pháp luật đã cho phép được áp dụng các phương pháp chữa bệnh mới, đồng thời cũng cho phép lấy, ghép BPCT người nhưng phải được sự đồng ý của người đó Tuy nhiên những quy định này vẫn còn chung chung chưa gắn liền với thực tiễn nên việc áp dụng quy định của luật để thực hiện trên thực tế là rất khó
1.3.4 Bộ luật dân sự năm 2005
Dưới góc độ pháp lý thì quyền hiến BPCT là một quyền nhân thân mà chỉ những người có đầy đủ NLHV dân sự mới có Điều 33 BLDS 2005 quy
định: "Cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể của mình vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học việc hiến và sử dụng bộ phận cơ thể được thực hiện theo quy định của pháp luật" [28]
Với tư cách là Luật chung, BLDS năm 2005 đã ghi nhận quyền hiến BPCT của cá nhân Cá nhân theo cách hiểu của BLDS năm 2005 phải là người
từ đủ 18 tuổi trở lên và có đầy đủ NLHV dân sự Chính vì vậy, chỉ những người từ đủ 18 tuổi trở lên và có đầy đủ NLHV dân sự mới có quyền hiến BPCT Qua nghiên cứu cho thấy rằng đa số luật pháp các nước khác đều quy định người hiến BPCT phải là người đã thành niên Hơn nữa, Tổ chức Y tế
Trang 33Thế giới (WTO) cũng khuyến cáo không được lấy mô và BPCT của người dưới 18 tuổi
Quy định này của BLDS là các quy định mang tính nguyên tắc liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân; còn nội dung, đặc điểm, cách thức tiến hành cũng như các quy định về quản lý nhà nước nhằm thực thi quyền này của cá nhân cần phải được quy định trong các đạo luật chuyên ngành Điều 33 BLDS năm 2005 cũng đồng thời quy định việc hiến BPCT chỉ được chấp nhận với hai mục đích là chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học, loại trừ hoàn toàn mục đích thương mại, kinh doanh Đây là những quy định rất mới và tiến bộ của BLDS năm 2005, nó cho thấy luật ngày càng gắn liền với thực tiễn, ngày càng thể hiện quan điểm, tư duy của các nhà làm luật muốn đổi mới đất nước, hướng đất nước phát triển gần hơn với các nước trên thế giới, đáp ứng yêu cầu khi đất nước hội nhập kinh tế, quốc tế, hoàn thiện hơn nữa quyền nhân thân của con người Việc thừa nhận quyền hiến BPCT của cá nhân trong BLDS năm 2005 đã là cơ sở pháp lý vững chắc để Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác ra đời để điều chỉnh toàn diện hơn, cụ thể hơn lĩnh vực này
1.3.5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006
Hiện nay, Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khóa XI ngày 29 tháng 11 năm 2006 và bắt đầu có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2007 quy định như sau:
Điều 5: Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác: Người nào từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác [29]
Theo quy định này của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác thì tất cả mọi người từ đủ 18 tuổi trở lên, không phân biệt người đó là người Việt Nam hay không nếu có đầy đủ NLHV dân sự đều có quyền hiến
Trang 34mô, BPCT mình Luật chỉ quy định chung chung người hiến và người nhận đều phải làm những thủ tục để kiểm tra sức khỏe, nhưng Luật không quy định kiểm tra sức khỏe bao gồm những gì Nghiên cứu các quy định cụ thể trong Quyết định số 43/2006/QĐ-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng
Bộ Y tế năm 2006 về việc ban hành quy trình kỹ thuật ghép thận từ người cho sống và quy trình kỹ thuật ghép gan từ người cho sống có quy định điều kiện
để người hiến được tuyển sử dụng là không bị ung thư, xơ gan, nhiễm HIV dương tính… điều đó cho thấy những quy định cụ thể về sức khỏe với người hiến thận hoặc gan ở Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản dưới luật và có thể thấy các quy định về vấn đề này là tương đối chặt chẽ nhằm đảm bảo sức khỏe cho cả người hiến và người nhận
1.4 QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Từ thế kỷ XX việc hiến BPCT và ghép BPCT người được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Công tác ghép BPCT người được khởi đầu bằng việc ghép thận thực nghiệm và ghép thận tử thi vào người Ở Áo năm 1902 có Emecrich Ulman thực hiện việc ghép thận trên chó và ghép thận lợn cho người Năm 1912 ở nước Pháp có ông Elexis Carel đã đạt giải thưởng Nobel
từ việc ghép thận trên chó, kỹ thuật nối các mạch máu rửa thận bằng dung dịch Locke Đồng thời thực hiện ghép nối chi, ghép tim phổi, ruột, lách, giáp rạng, buồng trứng, tinh hoàn trên động vật Việc ghép thận tử thi cho người, ghép thận tử tù cho người, ghép thận lấy từ người bệnh đột tử trên bàn mổ ghép cho người đều được các nhà khoa học của các nước như Ukraina, Hoa
Kỳ, Pháp thực hiện nhưng đều thất bại Việc cấy ghép BPCT đã thành công thực sự từ những năm 1954 ở Pháp và Hoa Kỳ [19]
Các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện thành công việc ghép BPCT trên người và động vật là một thành tựu lớn trong ngành y học thế giới Vì vậy, ghép tạng là một trong mười phát minh lớn của thế kỷ XX Khi bước
Trang 35sang thế kỷ XXI các nhà khoa học trên thế giới đã nhất trí nêu mười phát minh lớn tiêu biểu trong thế kỷ XX trong đó có ghép tạng đó là: máy bay, truyền hình, máy tính, năng lượng hạt nhân, laser, internet, du hành vũ trụ, kháng sinh, cấu trúc AND và ghép tạng
Các thành tựu về kỹ thuật ghép mô, BPCT người trên thế giới đã trải qua gần nửa thế kỷ thực hiện và đã có những bước tiến rất đáng kể Vì thế, ngày nay việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hiến, lấy, ghép mô, BPCT người một số nước trên thế giới đã có đạo luật điều chỉnh quan hệ trong việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người như Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Bỉ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan…
1.4.1 Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Âu
Ở các nước Châu Âu, các quy định pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người đã được triển khai thực hiện từ rất sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành phẫu thuật ghép mô, BPCT người phát triển một cách mạnh mẽ vào những thập kỷ gần đây như Pháp năm 1952, Vương Quốc Anh năm 1961, Đan Mạch, Italia năm 1967, Na-Uy năm 1973, Thụy Điển năm 1975, Hy Lạp năm 1983… Các nước này đều quy định việc lấy mô, BPCT của người sống phải tự nguyện, vì mục đích chữa bệnh, điều trị, nghiên cứu khoa học hoặc vì mục đích chuyên biệt Pháp luật của các nước này đều quy định các nguyên tắc, điều kiện cho và sử dụng bộ phận lấy từ cơ thể người Điều này thể hiện trong Chỉ thị của Nghị Viện Châu Âu và Hội đồng Châu Âu về việc xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng và tính an toàn trong hoạt động cho, nhận, kiểm soát, xử lý, lưu giữ, cung cấp mô và tế bào người Việc lấy BPCT người trong mọi trường hợp phải có sự đồng ý của người cho, sự đồng ý được thể hiện trước một thẩm phán và mọi người đều có quyền hiến tặng BPCT của mình trong lúc còn sống với điều kiện đã đến tuổi thành niên, đủ NLHV dân sự, có quan hệ huyết thống với người nhận hoặc chứng minh được rằng đã sống
Trang 36chung ít nhất 2 năm với người nhận Chỉ thị cũng quy định để tránh trình trạng thương mại hóa cơ thể người, mọi phát minh có mục đích để tránh tình trạng thương mại hóa cơ thể, mọi phát minh có mục đích sử dụng trái với nhân phẩm con người, trật tự công và thuần phong mỹ tục cũng như việc giải
mã một phần hoặc toàn bộ gen người sẽ không được cấp bằng sang chế Trong BLDS và pháp luật y sinh Cộng hòa Pháp ngày 30/1/2003 có những quy định nghiêm cấm mọi hành vi xúc phạm đến nhân phẩm và bảo đảm cho con người được tôn trọng ngay từ khi bắt đầu sự sống Pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định cơ thể người là bất khả xâm phạm theo đó cơ thể, các BPCT và sản phẩm từ cơ thể người không thể trở thành đối tượng của quyền tài sản Theo những nguyên tắc đó, BLDS Cộng hòa Pháp quy định tại Điều 16-2 chương II: "Tòa án có thể quyết định mọi biện pháp nhằm ngăn chặn hoặc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm trái phép đến cơ thể người hoặc hành vi bất chính nhằm vào bộ phận cơ thể người hoặc sản phẩm từ cơ thể người" [21]
Ở Cộng hòa Pháp dân quyền được coi trọng, do vậy pháp luật Pháp có những quy định bảo vệ con người và tất cả những vấn đề liên quan đến con người Tại Điều 16-5, 16-6 chương II BLDS Cộng hòa Pháp quy định:
Mọi thỏa thuận được giao kết nhằm mục đích sử dụng cơ thể người, các bộ phận cơ thể người hoặc sản phẩm từ cơ thể người như một tài sản đều vô hiệu; nghiêm cấm trả thù lao cho người tự nguyện cho người khác tiến hành thì nghiệm trên cơ thể của mình, lấy bộ phận cơ thể của mình hoặc thu thập sản phẩm từ cơ thể mình [21] Pháp luật còn quy định không ai được phép công bố bất kỳ thông tin nào cho phép xác định người cho, người nhận BPCT người hoặc sản phẩm từ
cơ thể và ngược lại Trong trường hợp cần thiết vì mục đích chữa bệnh, chỉ các bác sỹ của người nhận mới được phép tiếp cận những thông tin cho phép xác định danh tính của họ
Trang 371.4.2 Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Á
Tại các nước Châu Á, từ năm 1959 đến nay, nhiều nước như Thái Lan, Nhật Bản, Philippin, Singapore, Malaysia, Indonesia…đều đã có luật quy định về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT của Singapore năm 2004, Luật về phẫu thuật ghép tạng của Nhật Bản năm 1997 Việc ban hành các quy định về hiến, lấy ghép mô, BPCT người sớm tạo thành hành lang pháp lý cho ngành y học có thể tiến hành nghiên cứu để cứu sống người bệnh và quyền của người hiến BPCT được bảo đảm một cách chính đáng Chính vì những lí do trên mà số bệnh nhân được ghép mô, BPCT người
ở các nước này ngày càng tăng lên nhanh chóng
Luật về phẫu thuật ghép tạng của Nhật Bản quy định nghiêm cấm việc mua bán nội tạng, hiến nội tạng phải nhằm mục đích ghép tạng phải tự nguyện, nội tạng dùng được ghép phải dựa trên tinh thần nhân đạo, phải xem xét trao đổi với người dân cần ghép nội tạng
Theo pháp luật Singapore thì bất cứ người nào có trạng thái tinh thần khỏe mạnh và từ đủ 18 tuổi trở lên có thể cho bất cứ phần nào của cơ thể người đó Đạo luật cũng quy định cho những người không muốn hiến bộ phận của họ phải đăng ký sự phản đối của họ Người Hồi giáo và những người trên
60 tuổi không áp dụng quy định của đạo luật Người dưới 21 tuổi là những người mất trí không áp dụng quy định của đạo luật này trừ trường hợp bố, mẹ hoặc người giám hộ của họ đồng ý việc lấy tạng đó Những quy định này đã giúp cho ngành cấy ghép của Singapore phát triển nhanh chóng
Trung Quốc được xem là nơi lý tưởng cho việc hiến, cấy, ghép mô, BPCT người vì kĩ thuật ghép tạng khá tốt và giá lại rẻ (chỉ bằng một nửa các nước phương Tây) Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã thu hút được rất nhiều bệnh nhân châu Á, trong đó có bệnh nhân Việt Nam đến ghép tạng Những quy định liên quan đến vấn đề này cũng được pháp luật Trung Quốc quy định rất chặt chẽ như các vấn đề về thủ tục, về ngoại ngữ, về thời gian, về kinh phí cho việc cấy, ghép BPCT người
Trang 38* Vấn đề thủ tục: Bệnh nhân muốn đến cấy ghép cơ thể người tại
Trung Quốc cần có:
- Hộ chiếu và 02 ảnh 4x6
- Visa (theo dạng đi chữa bệnh)
Thông thường nếu là bệnh nhân Việt Nam đi chữa bệnh tại Trung Quốc xin cấp Visa thì Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam sẽ cấp visa trong thời hạn 1 tháng Nếu có nhu cầu gia hạn visa, người nhà bệnh nhân có thể đem giấy giới thiệu của Bệnh viện và visa đến phòng Quản lý Xuất nhập cảnh
ở tỉnh có bệnh nhân đang điều trị để xin gia hạn
* Vấn đề ngoại ngữ: Những bệnh viện lớn ở Trung Quốc thường có
người phiên dịch bằng tiếng Anh cho khách nước ngoài Nhưng phần lớn y bác sĩ lại nói tiếng bản địa Nên nếu muốn thuận tiện hơn, bệnh nhân nên tìm người có khả năng nói tiếng Trung giúp đỡ khi cần trao đổi Họ sẽ truyền đạt chính xác những thuật ngữ chuyên môn hơn
* Vấn đề thời gian, kinh phí: Thời gian cho một ca ghép tạng thông
thường diễn ra trong một tháng Tuy nhiên, nhiều khi lại tùy thuộc vào phần nội tạng mà bệnh nhân cần có sẵn hay không Nếu sau khi thử máu và thực hiện các xét nghiệm khác, phần nội tạng bệnh nhân cần có sẵn trong "ngân hàng" nội tạng thì cuộc đại phẫu thuật có thể được tiến hành ngay Nhưng nếu
"ngân hàng" không có sẵn, bệnh nhân sẽ phải chờ đợi Nhưng sự chờ đợi cũng không quá lâu, vì "nguồn"nội tạng của Trung Quốc nổi tiếng là rất dồi dào Chi phí cho một ca ghép tạng tùy thuộc vào từng bệnh viện Nếu thực hiện ở những bệnh viện lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải giá sẽ cao hơn Nhưng thông thường sự chênh lệch không quá nhiều Chi phí từ 20.000USD/ca trở lên Bệnh nhân có thế chọn các bệnh viện như: Bệnh viện Quân đội, thị trấn Hổ Môn, huyện Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông; Bệnh viện Tứ Xuyên, Vũ Hán, Bắc Kinh, Thượng Hải… để thực hiện phẫu thuật ghép tạng [32]
Trang 391.4.3 Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở Châu Mỹ
Hiến, cấy, ghép mô, BPCT người đã phát triển từ rất sớm và đạt được rất nhiều thành công tại Hoa Kỳ Đạo luật năm 1987 quy định về cho tạng Đạo luật quy định một cá nhân ít nhất phải là người từ 18 tuổi mới có thể thực hiện việc cho tạng với mục đích chữa trị, ghép tạng, giáo dục hoặc nghiên cứu khoa học Việc cho tạng được thực hiện chỉ với văn kiện cho tạng được ký bởi người cho Người cho có thể tuyên bố sửa đổi hoặc hủy bỏ việc cho tạng Việc cho tạng có thể được in trên bằng lái xe
1.4.4 Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở Châu Đại Dương
Việc hiến lấy, ghép mô, BPCT người được quy định trong đạo luật về người của bang New South Wales của Ôtrâylia năm 1983 quy định việc hiến BPCT của người lớn và trẻ con Một người nếu không phải là trẻ em có thể viết cam kết cho lấy đi từ cơ thể họ BPCT nhằm mục đích ghép cho cơ thể người sống khác, dùng cho mục đích điều trị, mục đích y khoa hay mục đích chuyên biệt, bác sỹ là người chứng nhận cho cam kết đó Đối với người hiến
là trẻ em thì cha mẹ của đứa trẻ có thể ký cam kết viết tay để ghép vào cơ thể cha, mẹ hay anh chị của trẻ và bác sỹ cũng là người chứng nhận vào cam kết với điều kiện cha mẹ trẻ là người bình thường, cha mẹ trẻ hiểu được bản chất
và ảnh hưởng của việc lấy đi BPCT của trẻ em Cam kết được ký tự nguyện
và trẻ đồng ý việc lấy và ghép mô, BPCT
Nhìn chung pháp luật của các nước trên thế giới tập trung quy định về: các nguyên tắc, điều kiện hiến, lấy, ghép mô, BPCT người, thẩm quyền, trình
tự, thủ tục hiến mô, BPCT người… cũng như các quyền, lợi ích người hiến được hưởng khi tham gia hiến Bên cạnh những nguyên tắc tương đồng như các nước thì pháp luật Việt Nam không quy định rõ cẩn trọng và bảo đảm an toàn cho người hiến người ghép thành một nguyên tắc riêng như pháp luật Pháp… Pháp luật Việt Nam bên cạnh việc học tập những tinh hoa của pháp luật các nước trên thế giới thì luật thực định Việt Nam có những nét riêng biệt trong việc quy định về hiến mô, BPCT người
Trang 402.1.1 Cơ sở y tế
Tất cả các cơ sở y tế dù được phép hay không thì bắt buộc phải có trách nhiệm tham gia mạng lưới hoạt động hệ thống Các cơ sở y tế trong mạng lưới chia thành 3 loại: không có giấy phép lấy BPCT, chỉ khám lâm sàng, có giấy phép lấy BPCT, tham gia hoạt động lấy và chuyển giao cho cơ
sở được phép ghép có nhu cầu; có giấy phép ghép BPCT, được phép lấy và có thể phải chuyển cho cơ sở khác nếu bệnh nhân của họ không thuộc trường hợp ưu tiên ghép Việc lấy BPCT chỉ được thực hiện tại cơ sở y tế thỏa mãn