1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất nấm rơm tại phường trung kiên quận thốt nốt – thành phố cần thơ

82 583 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, cần có những biện phápthích họp để phát huy những thế mạnh của mô hình sản xuất nấm rơm, bố trí sảnxuất ở các khu vực thích họp để phát huy được thế mạnh của từng vùng, thườngxuyê

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÀN THƠKHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ

MÔ HÌNH SẢN XUẤT NẤM RƠM

TẠI PHƯỜNG TRUNG KIÊN QUẶN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn:

ThS Ngô Mỹ Trân

Sinh viên thưc hiên:

Lê Thu AnMSSV:4066179

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan là đề tài do chính tôi thực hiện, không trùng với

đề tài khoa học nào, số liệu phân tích trong bài chủ yếu thu thập từ thực

tế của năm 2010 và các số liệu thứ cấp lấy phòng kinh tế của huyện

Ngày 09 tháng 05 năm 2010Sinh viên thực hiện

LÊ THU AN

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Trong suốt bốn năm học đại học, bây giờ sắp tốt nghiệp ra trường hànhtrang bước vào đời của em là những kiến thức đã được các thầy cô tận tình truyềnđạt để em vững vàng tự tin bước vào đời Những gì em có được ngày hôm nay đãphải trải qua bao khó khăn vất vả của những người đã dìu dắt em

Trước hết, em xin cám ơn quý thầy cô Trường Đai học cần Thơ, quý thầy

cô khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh đã giúp đỡ, rèn luyện em trong 4 năm

đại học

Trong thời gian thực tập, được sự hướng dẫn tận tình của cô Ngô Mỹ Trân, cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú ở phòng Kinh Tế, UBND quận ThốtNốt, TP Cần Thơ Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn lớp Kinh Tế Học

đã giúp đỡ trong suốt quá trình thu thập và xử lý số liệu để hoàn thành luận văntốt nghiệp này

Thay lời cảm tạ, em xin kính gởi đến quý thầy cô, các cô chú và các bạnlời chúc tốt đẹp và chân thành nhất

Ngày 09 tháng 05.năm 2010Sinh viên thực hiện

LÊ THU AN

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA Cơ QUAN THựC TẬP

ì^Cũl.êS'

ngày tháng năm Thủ trưởng đơn vị

(ký tên và đóng dấu)

Trang 5

NHÂN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Ngày tháng năm 2010Giáo viên hướng dẫn

Trang 6

MỤC LỤC

'S.CŨI^S'

Trang

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 8

1.1 Sự CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 9

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 10

1.2.1 Mục tiêu chung 10

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 10

1.3 PHẠM VI NGHIÊN cứu 10

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 10

1.3.2 Không gian 10

1.3.3 Thời gian 10

1.3.4 Nội dung đề tài 11

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN cứu 11

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN 11

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 14

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 14

2.1.1 Lý thuyết về nông hộ 14

2.1.1.1 Khái niệm 14

2.1.1.2 Đặc điểm 14

2.1.1.3 Vai trò kinh tế hộ 15

2.1.1.4 Các chính sách của nhà nước đối với kinh tế hộ 17

2.1.2 Lý thuyết về hiệu quả sản xuất 18

2.1.3 Các chỉ tiêu kinh tế 19

2.1.3.1 Chi phí 19

2.1.3.2 Thu nhập 19

2.1.3.3 Thu nhập ròng 19

2.1.3.4 Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu 19

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 20

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 20

2.2.2 Phương pháp phân tích 21

Trang 7

3.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN 24

3.2 GIỚI THIỆU VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NẤM RƠM 25

3.2.1 Giới thiệu về cây nấm rơm và quá trình phát triển sản xuất nấm rơm 25

3.2.2 Giới thiệu về mô hình sản xuất nấm rơm 25

3.2.3 Tình hình chung diện tích sản xuất nấm rơm trong thời gian qua 27

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NẤM RƠM TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRUNG KIÊN QUẬN THỐT NỐT TP CẦN THƠ 4.1 MÔ TẢ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT MẪU ĐIỀU TRA 28

4.1.1 Tình hình chung của nông hộ 28

4.1.2 Tình hình sản xuất nấm rơm của nông hộ 29

4.1.2.1 Tình hình lao động 31

4.1.2.2 Vốn sản xuất 33

4.1.2.3 về nguyên liệu sản xuất 34

4.2 PHÂN TÍCH Sơ LƯỢC TÌNH HÌNH TIÊU THỤ NẤM RƠM TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN cúư 36

4.2.1 Bán cho thương lái 37

4.2.2 Bán trực tiếp tại chợ 38

4.2.3 Bán cho thương lái và bán tại chợ 38

4.3 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NẤM RƠM THEO VỤ 39

4.3.1 Phân tích chi phí sản xuất 39

4.3.1.1 Vụ sản xuất thứ nhất từ tháng 02 đến tháng 03 năm 2009 39

4.3.1.2 Vụ sản xuất thứ hai từ tháng 07 đến tháng 08 năm 2009 42

4.3.1.3 Vụ sản xuất thứ ba thứ tháng 11 đến tháng 12 năm 2009 44

4.3.2 Phân tích kết quả sản xuất 45

4.3.2.1 Vụ sản xuất thứ nhất từ tháng 02 đến tháng 03 năm 2009 45

4.3.2.2 Vụ sản xuất thứ hai từ tháng 07 đến tháng 08 năm 2009 46

Trang 8

4.4.2 Vụ sản

xuất thứ hai tháng 11 đến tháng 12 năm 2009 53

4.4.2.1 Các yếu tố làm giảm thu nhập ròng 53

4.4.2.2 Các yếu tố làm tăng thu nhập ròng 54

4.4.3 Vụ sản xuất thứ ba tháng 11 đến tháng 12 năm 2009 55

4.4.3.1 Các yếu tố làm giảm thu nhập ròng 56

4.4.3.2 Các yếu tố làm tăng thu nhập ròng 57

CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NẤM RƠM TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRUNG KIÊN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ 59

5.1 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG SẢN XUẤT NẤM RƠM TẠI PHƯỜNG TRUNG KIÊN QUẬN THỐT NỐT TP CẦN THƠ 59

5.1.1 về kĩ thuật canh tác 59

5.1.2 về lao động 60

5.1.3 về vốn sản xuất 60

5.1.4 về phân phối nấm rom 61

5.2 MỘT SỐ GIẢ PHÁP CỤ THÊ Được ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NẤM RƠM TẠI PHƯỜNG TRUNG KIÊN QUẬN THỐT NỐT TP CẦN THƠ 61

5.2.1 về kĩ thuật canh tác 61

5.2.2 về lao động 63

5.2.3 về vốn sản xuất 63

Trang 9

TÓM TẮT NỘI DUNG

Thốt Nốt là một quận ven biển thuộc tỉnh cần Thơ, diện tích đất của quận phầnlớn thuộc khu vực nông thôn và được sử dụng để phát triển sản xuất nông nghiệp.Hiện nay, quận đang tiến hành quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thúcđẩy nông lâm ngư nghiệp phát triển Vì vậy vấn đề áp dụng các mô hình sản xuâtcủa nông hộ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân nói riêng và tình hìnhphát triển kinh tế của quận nói chung Do đó, đề tài “ Phân tích hiệu quả mô hìnhsản xuất nấm rơm” đã phân tích tính hiệu quả của mô hình sản xuất nấm rơm qua 3

vụ mùa tiêu biểu trong năm, các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ròng của mô hình.Qua phân tích, ta thấy sản xuất mô hình nấm rơm mang lại thu nhập cho bà con rấtcao, trong khi thòi gian kéo dài 1 vụ ngắn, khoảng 30 ngày, quay vòng, luân chuyểnvốn nhanh Tuy nhiên, việc sản xuất mô hình nấm rơm cũng gặp nhiều khó khăn dotrình độ kỹ thuật của người nông dân còn thấp kém Từ đó, cần có những biện phápthích họp để phát huy những thế mạnh của mô hình sản xuất nấm rơm, bố trí sảnxuất ở các khu vực thích họp để phát huy được thế mạnh của từng vùng, thườngxuyên tổ chức các buổi tập huấn về kỹ thuật sản xuất, chuyển các mô hình sản xuấtkhông hiệu quả sang các mô hình sản xuất có hiệu quả, học hỏi kĩ thuật sản xuấtnấm rơm mới, nhằm đem lại lợi nhuận cao hơn cho người nông dân

Luận văn được bố cục theo 6 chương bao gồm:

- Chương 1: Sự cần thiết của đề tài

- Chương 2: Giới thiệu một số các khái niệm

- Chương3: Giới thiệu tổng quan về địa bàn của quận

- Chương 4: Phân tích hiệu quả mô hình sản xuất nấm rơm theo 3 vụ sảnxuất, các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ròng của mô hình sản xuất nấm rơm theo

3 vụ sản xuất chính

- Chương 5: Từ việc phân tích trên, đưa ra những thuận lợi và khó khăn đốivới mô hình sản xuất nấm rơm Các biện pháp để phát triển hiệu quả

- Chương 6: Kết luận và kiến nghị

Trang 10

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU

1.1 Sự CẦN THIẾT CỦA ĐÈ TÀI

Trồng nấm rơm được xem là một nghề truyền thống đối với nông dân phườngTrung Kiên quận Thốt Nốt thành phố (TP) cần Thơ Trong nhiều năm qua, việc sảnxuất nấm rơm đã góp phần cải thiện đời sống của rất nhiều người dân nơi đây, đồngthời tạo ra công ăn việc làm cho rất nhiều lao động nhàn rỗi ở địa phương Tuynhiên, hiện nay các hộ trồng nấm rơm ở phường Trung Kiên quận Thốt Nốt thànhphố Cần Thơ vẫn mang nặng tập quán sản xuất truyền thống, chủ yếu sản xuất vớiqui mô đơn lẻ, mang tính cá thể hộ gia đình Điều này đã làm hạn chế rất nhiều việcphát triển sản xuất và phát triển sản phẩm nấm rơm ở địa phương

Bên cạnh đó, mối liên kết giữa nông hộ sản xuất và các nơi tiêu thụ chưa thật

sự ổn định và bền vững Việc tiêu thụ nấm rơm chủ yếu lệ thuộc vào thương lái, giá

cả không ổn định và có thể bị các thương lái ép giá Vì thế tình trạng nấm rơm đượcmùa mất giá vẫn thường xuyên tiếp diễn, gây trở ngại không nhỏ cho việc phát triểnsản xuất nấm rơm của địa phương

Mặt khác, chất lượng giống đầu vào vẫn còn nhiều yếu kém Người nông dân

ở địa phương chủ yếu mua meo cấy nấm từ những người dân sản xuất meo nấm ởđịa phương Chính vì thế, nhiều vụ sản xuất nấm rơm gần đây của nông dân nơi đây,nấm sản xuất ra có chất lượng chưa cao Bà con sử dụng 1 loại meo giống và cả việctrộn lẫn 2 loại meo giống lại với nhau

Ngoài ra, kỹ thuật sản xuất của người nông dân trên địa bàn dù có nhiều thayđổi nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Việc học tập, trao dồi kinh nghiệm sản xuất vẫnchưa được tổ chức thường xuyên và cũng chưa được người dân quan tâm nhiều

Với những thực trạng kể trên, việc nghiên cứu hiệu quả của mô hình sản xuấtnấm rơm để từ đó đưa ra những giải pháp và hướng phát triển mới là yêu cầu bứcthiết đối với người nông dân sản xuất nấm rơm trên địa bàn phường Trung Kiênquận Thốt Nốt TP cần Thơ Do đó, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu cho bài nghiên cứu

Trang 11

nhóm của mình là: “Phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất nấm rơm tại

phường Trung Kiên - quận Thốt Nốt - Thành phổ cần Thơ”.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu

1.2.1 Mục tiêu chung:

Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất nấm rơm ở phường TrungKiên, quận Thốt Nốt, thành phố cần Thơ để từ đó đề ra một số biện pháp nhằmnâng cao hiệu quả sản xuất của mô hình sản xuất nấm rơm tại địa phương này

1.2.2 Muc tiêu cu thể:

• •

Để đạt được mục tiêu chung nói trên, nội dung đề tài sẽ lần lượt giải quyếtcác mục tiêu cụ thể sau:

- Giới thiệu tổng quan về mẫu điều tra

- Đánh giá hiệu quả kinh tế (chi phí (CP), thu nhập (TN), thu nhập ròng(TNR) của việc sản xuất nấm rơm của bà con nông dân ở phường Trung Kiên, quậnThốt Nốt, thành phố cần Thơ trong thời gian qua

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nấm rơm ở phườngTrung Kiên, quận Thốt Nốt, thành phố cần Thơ, bằng phương pháp chạy phươngtrình hồi quy tuyến tính SPSS

- Phân tích khái quát tình hình tiêu thụ nấm rơm

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của mô hình sảnxuất nấm rơm ở phường Trung Kiên, quận Thốt Nốt, TP cần Thơ

1.3 PHẠM VI NGHIÊN cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Bài nghiên cứu chọn đối tượng nghiên cứu là mô hình sản xuất nấm rơm ởphường Trung Kiên, quận Thốt Nốt, TP cần Thơ

Trang 12

- Vụ thứ nhất: từ tháng 02 đến tháng 03 năm 2009.

- Vụ thứ hai: từ tháng 07 đến tháng 08 năm 2009

- Vụ thứ ba: từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2009

Luận văn thực hiện từ ngày 22/02/2010 đến ngày 24/04/2010

1.3.4 Nội dung đề tài

Luận văn đề cập đến các nội dung sau:

- Phân tích hiệu quả của các vụ sản xuất mô hình nấm rơm

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các vụ sản xuất của mô hình

- Phân tích tình hình tiêu thụ của nấm rơm trên địa bàn

- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình sản xuất nấm rơm

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN cứu

- Tình hình chung của nông hộ

- Tình hình sản xuất nấm rơm của nông hộ

- Chi phí sản xuất nấm rơm theo vụ của nông hộ

- Kết quả sản xuất và tình hình tiêu thụ nấn rơm của nông hộ

- Kiến nghị và đề xuất của nông hộ

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Nguyễn Thị Ngọc Thắm (2008), “ phân tích hiệu quả hai mô hình sản xuấtlúa đơn và tôm lúa của nông hộ ở huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre” Nghiên cứu này

sử dụng kiểm định Mann - Whitney so sánh hiệu quả của mô hình sản xuất được sửdụng trong nghiên cứu; và kết quả phân tích tính hiệu quả của hai mô hình, sử dụngphương trình hồi quy tuyến tính để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuậncủa hai mô hình Qua phân tích, tác giả cho thấy được việc kết họp sản xuất môhình tôm lúa ở huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre mang lại lợi nhuận cao gấp 1,72lần khi hộ áp dụng mô hình lúa đơn Cả hai mô hình chi phí lao động, chi phí thuốc,phân bón cho lúa và thức ăn cho tôm có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận Yếu tốtác động tích cực đến lợi nhuận vẫn là năng suất, sản lượng và giá bán ra Giải phápphát huy mặt tích cực và hạn chế tắc động tiêu cực là nông dân nên sản xuất theo cáckhuyến cáo của các nhà khoa học, nên luân canh theo đổi cây trồng để cải tạo đất,chính quyền địa phương và các cán bộ trạm khuyến nông nên tích cực hỗ trợ bà con

Trang 13

nông dân về kĩ thuật canh tác, vốn Đề tài phấn tích được các yếu tố ảnh hưởng đến

2 mô hình sản xuất nhưng do đề tài thực hiện trong thời gian ngắn, chưa tìm hiểu vềtình hình tiêu thụ sản phẩm, mà có nơi tiêu thụ đầu ra cho nông sản, thủy sản đối vớinông dân là điều vô cùng quan trọng

Từ lâu đời, cây lúa là cây lương thực rất quan trọng đối với nước ta, Nênđảm bảo điều kiện phát riển cây lúa như đề trên là điều cần làm Vì cây lúa khôngnhững cung cấp gạo mà khi thu hoạch lúa, rơm chúng ta còn sử dụng để sản xuấtnấm rơm, nấm rơm thu hoạch xong phần rơm mục bà con nông dân còn tận dụngbón cho cây trồng khác Trong những năm qua, cây nấm rơm của Việt Nam còn xuấtkhẩu sang nước ngoài Như Trong tháng 2/08, đơn giá mặt hàng nấm rơm đóng hộpxuất khẩu sang Mỹ đạt 0,8 USD/kg Trong khi đó, các đơn hàng nấm rơm muối xuấtkhẩu lại đang được giá Mặt hàng nấm rơm muối xuất khẩu sang Nhật đạt mức1309USD/tấn Trong những mặt hàng rau xuất khẩu năm 2009 thì kim ngạch xuấtkhẩu nấm luôn đạt cao nhất Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kimngạch xuất khẩu nấm 11 tháng năm 2009 đạt 17 triệu USD, tăng 26,7% so với cùng

kỳ 2008 Dự báo trong năm 2010 nhu cầu về mặt hàng nấm sẽ tiếp tục tăng cao, đặcbiệt là mặt hàng nấm rơm muối Nguồn cung nấm trong nước sẽ đủ đáp ứng nhu cầucho các nhà máy chế biến bởi hiên nay đã có khá nhiều vùng chuyên canh đượcthành lập như Sóc Chăng, một số tỉnh tại ĐBSCL như cần Thơ, An Giang, tiềngiang, trái nấm Cát tiên

Thấy đựợc lợi ích của nấm rơm mang về lợi ích kinh tế cho bà connông dân, nên tôi chọn “phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất nấm rơm”,nhưng không có sự so sánh giữa các mô hình sản xuất với nhau, mà thông qua sốliệu 3 vụ sản xuất nấm trong năm để tìm hiểu về: hiệu quả kinh tế giữa các vụ, yếu

tố dầu vào ảnh hưởng đến kết quả sản xuất Tôi cũng tiến hành thu thập số liệu sơcấp bằng cách phỏng vấn 60 hộ sản xuất nấm rơm theo phương pháp phân tầng vàlấy mẫu tự nhiên tại phường Trung Kiên, quận Thốt Nốt, TP cần Thơ để tổng hợp

số liệu về đặc điểm sản xuất của các hộ, từ đó phân tích về mô hình sản xuất nấmrơm

Trang 14

Đề tài luận văn của tôi cũng phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuấtthông qua phương pháp phân tích chi phí, thu nhập bằng phần mềm Excel Sử dụnghàm lợi nhuận để phân tích kết quả sản xuất nấm rơm theo 3 vụ sản xuất trong năm,

và sử dụng phương pháp phương trình hồi quy tuyến tính để tìm hiểu xem yếu tốđầu vào nào ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của nấm rơm ở địa phương

Ngoài ra đề tài còn tìm hiểu về tình hình tiêu thụ nấm rơm của địa phươngnghiên cứu Và từ đó đề ra một số biện pháp nhàm nâng cao hiệu quả sản xuất của

mô hình sản xuất nấm rơm tại địa phương

Trang 15

2.1.1.2 Đăc điểm

Kinh tế hộ có những đặc trưng riêng biệt với quá trình tiến triển của hộ quacác giai đoạn lịch sử Cũng do những đặc trưng riêng này của nó mà có thể cho rằng

hộ là đơn vị kinh tế xã hội đặc biệt

Hộ mang tính huyết tộc Các thành viên huyết tộc của hộ là chủ thể đích thựccủa hộ, điều đó tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụngcác yếu tố sản xuất

Hộ dựa trên cơ sở kinh tế chung, mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và tráchnhiệm như nhau, đều có ý thức tự giác đóng góp làm tăng quỹ TN của hộ, đảm bảo

sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên

Đặc trưng nổi bật của các hộ ở nước ta hiện nay là có quy mô đất canh tác rấtnhỏ bé và quy mô canh tác của nông hộ có xu hướng giảm dần do việc tăng dân số,

và xu hướng lấy đất đai nông nghiệp đển phát triển các ngành công nghiệp, giaothông, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp, bản thân nông nghiệp muốn phát triểncũng phải lấy đất để xây dựng các kết cấu hạ tầng của nông nghiệp

Quá trình tổ chức lao động là do hộ tự tổ chức, công việc đồng án hộ sử dụngnhân công gia đình là chủ yếu Lao động gia đình này không được xem là hình tháihàng hóa Hiện nạy, tình trạng thuê mướn nhân công lao động đã xuất hiện ở mức độkhác nhau của sản xuất hàng hóa Thị trường lao động nông thôn cũng ra đời Cónhững vùng một bộ phận lao động coi là làm thuê như một phương thức kiếm sống

Trang 16

Cơ cấu lao động nông hộ bao gồm: lao động nông nghiệp, lao động bán nôngnghiệp và lao động phi nông nghiệp Cơ cấu này khác nhau giữa các hộ, các địa bàn,các vùng, tùy theo điều kiện cụ thể của chúng Một đặc điểm khác nữa là khả năngtích tụ tập trung vốn của đại bộ phận nông dân là thấp Các hộ sản xuất trong điềukiện thiếu vốn nghiêm trọng Thêm vào đó, chu kỳ sản xuất nông nghiệp kéo dài nênvốn luân chuyển chậm, bởi thế tạo nên sự căng thẳng về vốn, trong khi nền nôngnghiệp còn yếu ớt, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống, quy mô canh tác nhỏ

đã dẫn đến tình trạng TN của đại bộ phận là thấp

2.I.I.3 Vai trò kinh tế hô

Kinh tế hộ gia đình có vai trò và ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nềnkinh tế thị trường với gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn với xuất phátđiểm thấp, kinh tế hộ gia đình đang là một đơn vị sản xuất phổ biến Đây là mô hìnhkinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô,nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại đạihoá đất nước

Hiện nay, kinh tế hộ gia đình không phải là một thành phần kinh tế, nhưng làmột loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Một trong cácthành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt động kinh tế, giađình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ hộđiều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn vềmọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nôngthôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, ở thành thị thì gọi là các hộ tiểuthủ công nghiệp

Kinh tế hộ gia đình hiện đang phát triển và hoạt động trong nhiều lĩnh vựckhác nhau như nông nghiệp, vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh Theo kết quả Tổng điều tra nông nghịêpnông thôn năm 2001 do Tổng cục Thống kê thực hiện, thì kinh tế hộ gia đình hiệnđang chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nôngthôn, giải quyết việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhiều địa phương trên

Trang 17

cả nước Hiện khu vực nông thôn có 13,07 triệu hộ, chiếm 73% dân số cả nước vàthu hút 2/3 lực lượng lao động toàn xã hội Trong đó, tỷ trọng nhóm hộ công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp và xây dựng từ 1,6% năm 1994 tăng lên 5,8% năm 2001, nhóm

hộ dịch vụ tăng từ 6,4% tăng lên 10,6%, nhóm hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sảngiảm từ 89,33% xuống còn 80,93% Cơ cấu lao động nông thôn cũng có chuyểndịch theo hướng tiến bộ Năm 2001: 79,6% lao động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản,7,4% lao động công nghiệp và xây dựng, 11,5% lao động dịch vụ Theo tổng điềutra lao động và việc làm năm 2006, cả nước có trên 43 triệu lao động, trong đó laođộng nông nghiệp chiếm 56% Lao động nông thôn bước đầu chuyển dịch theohướng đa ngành nghề, hiện có 77,4% lao động nông nghiệp làm nông nghiệp thuầntuý, 22,6% lao động nông nghiệp kiêm các ngành nghề khác

Hộ gia đình có nhiều ưu thế, nhưng cũng có nhiều khó khăn, hạn chế vềnhiều mặt, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, và lợi thế vốn có Kinh tế hộphần lớn sản xuất với qui mô nhỏ, tự cấp, tự túc, do ruộng đất giao cho các hộ manhmún, bình quân ruộng đất trên đầu người thấp Thêm vào đó, trình độ học vấn, trình

độ tay nghề của người lao động thấp, việc tổ chức sản xuất, kinh doanh của các hộgia đình chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên chất lượng sản xuất, kinh doanh chưa cao

và thiếu bền vững Do đó, để kinh tế hộ gia đình tiếp tục phát triển bền vững, đónggóp nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế hộ gia đình nông nghiệp ởnông thôn cần được quyền tự chủ và được quan tâm, khuyến khích phát triển dướihình thức họp tác xã và các hình thức liên kết khác Vì vậy, chính sách khuyến khíchphát triển kinh tế hộ gia đình cần hướng vào việc phát triển một cách họp lý các hìnhthức sản xuất và kinh doanh trong nông nghiệp, ngành cung cấp nguyên liệu nội địa

để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho xã hội.Phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua đẩy mạnh sản xuất, chế biến, dịch vụ sảnphẩm nông nghiệp gắn liền với phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn và cảithiện đời sống dân cư nông thôn là bước đi chiến lược trong đường lối xây dựngcông nghiệp hoá, hiện đai hoá đất nước Ngoài các chính sách bảo hộ quyền vànghĩa vụ, Nhà nước cần có các chính sách khác hướng tới việc đào tạo, bồi dưỡngnâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật; phổ biến, ứng dụng công

Trang 18

nghệ mới cho sản xuất, chế biến; cung cấp dịch vụ vật tư; hỗ trợ tìm kiếm và mởrộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình.

2.1.1.4 Chính sách của nhà nước đối với kinh tế hộ

a Chính sách ruộng đất

- Hoàn thành công tác đo đạt đất của hộ nông dân, cấp giấy chủ quyền sửdụng đất để từ đó người nông dân an tâm đầu tư sản xuất cũng như thuận lợi trongviệc vay vốn sản xuất

- Giải quyết nhanh các vấn đề tranh chấp đất đai giữa nhân dân với nhân dân,giữa nhà nước với nhân dân

- Khi sử dụng đất cho công trình phúc lợi cần có chính sách đền bù thỏa đángđúng theo quy định

b Chính sách thuế

Ngành thuế cần quan tâm các vấn đề :

- Phân hạng đất một cách hợp lý, khách quan và khoa học

- Có chính sách miễn, giảm thuế phù họp với vùng chuyển dịch cơ cấu sửdụng đất, các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, trong quá trình kiến thiết xây dựng

cơ bản và việc trồng cây lâu năm theo quy định

c Chính sách về vốn

- Cần tranh thủ việc huy động vốn tự có trong dân

- Các ngân hàng tạo điều kiện cho người dân được vay vốn thỏa đáng, đảmbảo cho sản xuất kịp thời

- Tranh thủ các nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế, phía đối tác đầu tư, vốnngân sách nhà nước

d Chính sách thương mại

- Khi có sản phẩm nên chú trọng thị trường trong nước

- Mở rộng phạm vi tiêu thụ sang các thị trường nước ngoài

- Ngành thương mại xem xét tùy điều kiện để cải tiến chính sách xuất nhậpkhẩu

- Ngành bảo hiểm cần có chính sách bảo hiểm cây trồng, bảo hiểm giá nôngsản để nông dân yên tâm sản xuất

Trang 19

e Những chính sách khác

Ngoài ra, Nhà nước cần quan tâm đến công tác như:

- Xóa đói giảm nghèo cho người dân nông thôn

- Nâng cao trình độ dân trí để từ đó người dân có thể tham gia tốt chủtrưomg,

chính sách của Nhà nước, tiếp thu khoa học kỹ thuật, nâng cao tay nghề, đáp ứngnhu cầu sản xuất

- Củng cố và tăng cường lực lượng cán bộ kỹ thuật ở địa phương

- Tăng cường và duy trì mối quan hệ với các đơn vị: Trạm, Trại Trung tâmnghiên cứu để có những thông tin nhanh và chính xác Điều quyết định là phải có sựthống nhất và phối họp điều hành chặt chẽ về chủ trương, chính sách, tiến độ vàphương pháp thực hiện giữa Tỉnh và các ngành có liên quan đến huyện, thị

2.1.2 Lý thuyết về hiệu quả sản xuất

Ngày này, người ta thường nhắc đến sự khan hiểm của tài nguyên thiên nhiên,nguồn lực con người Vì tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người thì có hạn, mànhu cầu của con người thì đa dạng và vô hạn Chính vì vậy chúng ta cần có sự lựachọn giữa những cách sử dụng nguồn lực khác nhau sao cho cho có hiệu quả.Nói vềhiệu quả thì kinh tế học đưa ra nhiều lý thuyết về hiệu quả như: hiệu quả kĩ thuật,hiệu quả xã hội, hiệu quả sản xuất, Nhưng trong bài luận, tôi chỉ giới hạn trongkhái niệm hiệu quả sản xuất

Xét góc độ thuật ngữ chuyên môn, “hiệu quả sản xuất đạt được khi không còncách nào để phân bổ lại các yếu tố đầu vào, làm cho có thể tăng sản lượng của bất kì

một hàng hóa nào mà không phải giảm sản lượng của hàng hóa khác” (trang

27,giáo trình kinh tể công cộng, chủ biên: TS Đặng Văn Du, ThS Hoàng Thị Thủy Nguyệt, NXB Tài chính, năm 2005).

Định nghĩa trên nhắc ta rằng để đạt được hiệu quả sản xuất thì chúng ta cần sửdụng đầu vào một cách hiệu quả, càng hiệu quả càng tốt

Trang 20

2.1.3 Các chỉ tiêu kỉnh tế

2.1.3.1 Chi phí

- Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinhdoanh YỚi mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kếtquả

kinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất của chủ cơ sởnhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và LN

- Tổng CP bằng tiền là toàn bộ CP đầu tư gồm CP lao động thuê, CP vật chất

và CP khác (không tính CP lao động gia đình)

Tổng CP bằng tiền = CP lao động thuê + CP vật chất + CP khác

- Thu nhập ròng là kết quả tài chính cuối cùng của việc sản xuất, đó chính làphần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí (gồm chi phí lao động gia đình).Tổng thu nhập ròng= Tổng thu nhập - Tổng chi phí - CP lao động gia đình - CP khác

2.1.3.4 Các chỉ tiêu tàỉ chính chủ yếu

Thu nhập/Chi phỉ: là chỉ số được tính bằng cách lấy tổng thu nhập chia cho

tổng CP Tỉ số này cho biết một đồng chi phí bỏ ra, nông hộ sẽ thu lại được bao

nhiêu đồng TN Chỉ số này được tính như sau:

Thu nhập/Chi phí = Tổng thu nhập/ Tổng chi phí

Trang 21

Thu nhập ròng/Chỉ phí: là tỉ số được tính bằng cách lấy tổng TNR chia cho

tổng CP Tỉ số này nói lên một đồng CP bỏ ra, thì nông hộ sẽ thu lại được bao nhiêuđồng TNR Chỉ số này được tính như sau:

Thu nhập ròng/Chi phí = Tổng thu nhập ròng/Tổng Chi phí

Thu nhập ròng/Thu nhập: là tỉ số được tính bằng cách lấy tổng TNR chia

cho tổng TN Tỉ số này thể hiện một đồng TN có bao nhiêu đồng TNR, nó phản ánh

TN của nông hộ sau mùa vụ khi trừ đi tất cả các CP so với tổng CP Chỉ số này

được tính như sau:

Thu nhập ròng/Thu nhập = Tổng thu nhập ròng/Tổng Thu nhập

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu:

Số liệu thứ cấp:

Đề tài sử dụng nguồn số liệu thứ cấp bao gồm:

- Số liệu thống kê về nhân khẩu, diện tích canh tác của phường Trung Kiên,phòng Kinh Tế quận Thốt Nốt để trình bày về đặc điểm sản xuất nông nghiệp nóichung và sản xuất nấm rơm nói riêng của địa bàn nghiên cứu

- Số liệu từ sách, báo chí, internet về các vấn đề có liên quan đến bài nghiêncứu luận văn

Sổ liệu sơ cấp:

Sử dụng số liệu sơ cấp để phục vụ các mục tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, phântích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập ròng của nông hộ

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là phương pháp ngẫu nhiên Cở mẫu n

= 60, bài nghiên cứu thực hiện phỏng vấn 60 nông hộ sản xuất nấm rơm trên địa bànphường Trung Kiên, quận Thốt Nốt, thành phố cần Thơ Để đảm bảo phỏng vấnđúng bà con sản xuất nấm rơm, tôi và cán bộ khu vực chọn cách phỏng vấn trực tiếpngoài ruộng nấm Mỗi khu vực tôi tiến hành phóng vấn 20 hộ nông dân, thời gianphỏng vấn từ 45 - 60 phút/hộ

Chọn vùng nghiên cứu theo phương pháp phân tầng để chọn các địa điểmkhảo sát Khu vực Bích Giàm: khu vực Qui Thạnh 1, khu vực Qui Thạnh 2, khu vựcQui Thạnh 3, phường Trung Kiên, quận Thốt Nốt, TP cần Thơ có tập quán sản xuất

Trang 22

nấm rơm lâu đời, và đặt nấm rơm quanh năm, là một trong những khu vực cung cấpnấm nhiều nhất trong địa bàn, nên được chọn phỏng vấn Mỗi khu vực tiến hànhphóng vấn 20 hộ trồng nấm Cuộc khải sát được tiến hành trong tháng 4 năm 2010.

Phỏng vấn trực tiếp người sản xuất nấm rơm qua bảng câu hỏi được thiết lậpsẵn với các nội dung về: chi phí đầu tư, sản lượng thu được, giá bán, những thuận lợi

và khó khăn, tác động đến môi trường trong việc sản xuất nấm rơm năm 2009.Cuộc phỏng vấn tiến hành tại ruộng nấm, trong lúc bà con nghỉ giữa buổi Tôi hỏitrực tiếp bà con và ghi số liệu vào bảng câu hỏi hộ bà con vì bà con cũng ngại ghichép Bà con nông hộ thường không ghi lại thông tin về quá trình sản xuất, nên sốliệu thu thập được thường là sự ước lượng ngắm chùng của bàn con, nên đề tài cũngcòn hạn chế

Các công cụ thống kê được sử dụng để phân tích số liệu:

- Phương pháp phân tích hồi quy tương quan để phân tích các yếu tố ảnhhưởng đến lợi nhuận kinh tế

- Bảng thống kê: là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đãthu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết quả đãnghiên cứu

Đe đạt được mục tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế (chi phí, thu nhập, thu nhậpròng) của việc sản xuất nấm rơm của bà con nông dân ở phường Trung Kiên, quậnThốt Nốt, thành phố cần Thơ trong thời gian qua, tôi sử dụng phương pháp thống kê

mô tả thông qua số liệu thu thập được tổng họp thành bảng thống kê để phân tích

Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính:

Phương trình hồi quy tuyến tỉnh: Mục đích của việc thiết lập phương trình

hồi quy là tìm các nhân tố ảnh hưởng đến một chỉ tiêu quan trọng nào đó (chẳng hạn

Trang 23

như thu nhập/ha) chọn những nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa, từ đó phát huy nhân tốảnh hưởng tốt, khắc phục nhân tố ảnh hưởng xấu.

Tôi sử dụng hàm LN sau:

Y = a0 + at L DGD + a2 rom + a3 dien + a4 Mb + a5 Ldthue + a6 thuoc +

a7 Nsuat + ag meo +a9gia

Trong đó:

Y = Thu nhập ròng

LDGD = chi phí lao động gia đình

Meo = chi phí meo giống

Rơm = chi phí rơm rạ

Thuốc = chi phí thuốc hóa học

Ns = năng suất

Mb = chi phí thuê đất

dien = chi phí điện

Ldthue = Chi phí thuê lao động

Gia = Giá bán

a0, a3, a2, a3, a4, a5, a6, a7, ag, a9 = các hệ số hồi quy chỉ mức ảnh hưởng

của mỗi biến độc lập trên biến phụ thuộc, lợi nhuận

mà chúng ta chưa nghiên cứu R2 càng lớn càng tốt

Trang 24

+ Thông thường dùng để kiểm định mức ý nghĩa của mô hình hồi quy F càng

lớn càng có ý nghĩa vì khi đó Sig F càng nhỏ

+ Dùng để so sánh với F trong bảng phân phối F ở mức ý nghĩa a

+ F là cơ sở để bác bỏ hay chấp nhận giã thuyết H0

H0: tất cả các tham số hồi quy đều bằng 0 (/?!= /?2 = = /?k = 0)

Hay các Xi không liên quan tuyến tính với Y

Hi: y0, tức là các Xi có liên quan tuyến tính với Y+ F càng lớn thì khả năng bác bỏ Ho càng cao Bác bỏ khi F >Ftra

bảng

- Signiíicace F: mức ý nghĩa FSig.F nói lên ý nghĩa của phương trình hồi quy, Sig.F càng nhỏ càng tốt, độ tincậy càng cao Thay vì tra bảng F, Sig.F cho ta kết quả ngay mô hình hồi quy có ýnghĩa khi Sig.F < mức ý nghĩa a nào đó

Giá trị xác suất p: là mức ý nghĩa a nhỏ nhất mà ở đó giả thuyết Ho bị bác bỏ.Trong quá trình phân tích, bài nghiên cứu sử dụng các chỉ số tài chính chủ yếunhư là: Thu nhập/Chi phí, Thu nhập ròng/Chi phí, Thu nhập ròng/Thu nhập

Trang 25

CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN cứu VÀ ĐỐI TƯỢNG

NGHIÊN CỨU

3.1 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Thốt Nốt hiện nay là một quận ngoại thành của TP cần Thơ Trước đây, thờiPháp thuộc, Thốt Nốt là huyện thuộc tỉnh Long Xuyên Từ năm 1954 đến 1975,Thốt Nốt là quận của tỉnh An Giang Sau năm 1975 Thốt Nốt là huyện của tỉnh HậuGiang, và sau đó là huyện thuộc tỉnh cần Thơ (do Tỉnh Hậu Giang tách thành 2 tỉnhCần Thơ và Sóc Trăng kể từ năm 1991)

Từ ngày 01/01/2004, Tỉnh cần Thơ tách thành TP cần Thơ và Tỉnh Hậu Giangthì huyện Thốt Nốt cũng được tách thành hai huyện là Thốt Nốt và Vĩnh Thạnhthuộc ngoại ô của TP cần Thơ Ngày 23 tháng 12 năm 2008, Chính phủ ra Nghịđịnh số 12/NĐ-CP đổi huyện Thốt Nốt thành quận Thốt Nốt Hiện tại quận Thốt Nốtgồm có các phường Thới Thuận, Thuận An, Thốt Nốt, Thạnh Hòa, Trung Nhứt,Trung Kiên, Thuận Hưng, Tân Hưng và Tân Lộc

về địa giới hành chính, quận Thốt Nốt tiếp giáp với các quận, huyện khác của

TP Cần Thơ và với 2 tỉnh An Giang, Đồng Tháp, cụ thể: phía Đông là sông Hậungăn cách với tỉnh Đồng Tháp; phía Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và huyện Cờ Đỏ;phía Nam giáp huyện Cờ Đỏ và quận Ô Môn; phía Bắc giáp tỉnh An Giang, ĐồngTháp

Hình 1: Bản đồ hành chính quận Thốt Nốt, TP cần Thơ

Trang 26

Tính đến cuối năm 2008, quận Thốt Nốt có 11.780,74 ha diện tích tự nhiên và160.580 nhân khẩu.

3.2 GIỚI THIỆU VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NẤM ROM 3.2.1 Giới thiệu về cây nấm rơm và quá trình phát triển sản xuất nấm rơm

Nấm rơm, còn gọi là bình cô, lan hoa cô, ma cô , là một trong những loạinấm ăn được sử dụng rất rộng rãi, có giá trị dinh dưỡng khá cao

Trước đây, khi nghề trồng nấm rơm chưa phát triển, rơm rạ sau thu hoạch bị bỏphí trên đồng ruộng, gây ách tắc các dòng chảy và làm ô nhiễm môi trường.Việc khuyến khích nông dân tận dụng phế phẩm từ cây lúa để trồng nấm cũng đãđược các địa phương, ngành chức năng tỉnh khuyến khích, chuyển giao khoa học kỹthuật Qua đó không chỉ giải quyết được bài toán ô nhiễm môi trường nước do rơmthải xuống kênh rạch, đốt đồng khói bụi mà còn mở ra mô hình bền vững giúp cho

hộ nghèo không đất, ít đất sản xuất có điều kiện nâng cao đời sống

Việc trồng nấm rơm còn kéo theo các dịch vụ thu mua, sơ chế nấm, nuôi trồngmeo nấm, mua bán rơm Theo viện Rau quả Việt Nam , nấm rơm muối xuất khẩuđạt kim ngạch 8,4 triệu USD, tăng 86,7% so với 2008, sang tháng 1 năm 2010 vớikim ngạch đạt lần lượt 1,2 triệu USD và 24,5 nghìn USD, tăng 220% và 27,8 lần sovới cùng thời điểm 2009, tiếp đến là mặt hàng nấm rơm đóng lon với kim ngạch đạt

250 nghìn USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ 2009 Vì thế nghề sản xuất nấm rơm đãtạo ra nhiều công ăn, việc làm cho nông dân Sản phẩm dư thừa sau khi thu hoạch lànguồn phân bón hữu cơ rất tốt cho các loại cây trồng khác

3.2.2 Giới thiêu về mô hình sản xuất nấm rơm

Thời vụ: nấm rơm có thể trồng quanh năm, nhưng để có năng suất cao và thuậnlợi thì nên trồng ngay sau khi thu hoạch lúa đông xuân (tháng 2 dương lịch) và từđầu đến giữa mùa mưa, là lúc thời tiết thích hợp, chất lượng nước sông tốt Trồngnấm vào những tháng nắng hạn và mưa nhiều đều không tốt cho nấm

Nguyên liệu: Nguyên liệu sản xuất nấm chủ yếu là rơm rạ và những thành phầnloại thải trong chế biến lâm sản như mạt cưa do đó nguyên liệu trồng nấm thường

dễ tìm và nguồn cung cấp khá dồi dào

Trang 27

Chọn giống: Chọn meo giống là khâu quan trọng nhất có ảnh hưởng rất lớnđến năng suất trồng nấm Chọn meo giống tốt, đúng tuổi, không nhiễm tạp khuẩn sẽcho năng suất cao và chất lượng nấm tốt Bịch meo tốt là bịch meo có sợi tơ nấmmàu trắng trong, mở nắp bịch có mùi tương tự như nấm rơm.

Cách chất mô nấm khi trồng: Rãi một lớp rơm đã ủ dày khoảng 20 cm lên mặtliếp, rồi tưới nước, đè nhẹ Rãi meo giống dọc hai bên luống, cách mép luống 5-7

cm Tiếp tục lặp lại thao tác trên cho lớp rơm thứ 2, thứ 3 Nếu ủ ba lớp thì phíatrên không rãi meo giống, chỉ rãi rơm khô dày 4-5 cm Vuốt mặt ngoài cho mô láng,gọn để khi thu hoạch nấm sẽ không làm hư các nụ nấm nhỏ gây ảnh hưởng đến năngsuất

Chăm sóc: Đối với nấm rơm, không cần dùng phân bón, vì rơm rạ khi phânhủy đủ cung cấp dinh dưỡng cho nấm phát triển Theo dõi nhiệt độ và ẩm độ là khâuquan trọng nhất trong quá trình sản xuất Mùa mưa phải làm mái che sau khi dỡ áo

mô, cần dùng nylon màu đen đậy lên để mô nấm giữ nhiệt, tăng nhiệt độ bên trong.Khi kiểm tra mô nấm, thấy nhiệt độ tăng, rơm ủ thiếu nước thì dùng thùng tưới cóvòi hoa sen tưới cho mô nấm, tránh dùng vòi nước mạnh sẽ làm hư những sợi tơ vànấm nhỏ Nếu chỉ tăng nhiệt độ mà không thiếu nước, phải giảm rơm áo bị ướt thaybằng rơm khô để giảm sức nóng và thoát bớt nhiệt Nếu khi kiểm tra mô nấm màthấy nhiệt độ giảm, mô bị lạnh thì dừng tưới nước, dỡ bớt áo mô, mái che nắng đểgiúp mô hấp thu được nhiều nắng

Thu hoạch nấm: sau khi trồng 1 2 - 1 3 ngày thì thăm dò xem kích thước củanấm có đủ cỡ thì mới thu hoạch: dỡ rơm từ từ, không bới lung tung, nhặt những quảnấm đạt kích thước, để nguyên nấm nhỏ và phủ lại rơm rạ như cũ và tưới tiếp để thuhoạch đợt sau

3.2.3 Tình hình chung diện tích sản xuất nấm rơm trong thời gian qua.

Kinh tế của Quận Thốt Nốt chủ yếu là nông nghiệp với các cây trồng chính làlúa, hoa màu và cây án trái Trong số các cây hoa màu được trồng ở Quận Thốt Nốtthì cây nấm từ lâu đã là một loài cây hoa màu chủ yếu của người dân nơi đây Trong

số các làng trồng nấm rơm nổi tiếng ở quận Thốt Nốt, làng trồng nấm rơm BíchGiàm thuộc Phường Trung Kiên đã tồn tại rất lâu đời Đó là một làng quê yên ả với

Trang 28

những khu vườn xanh mượt mà, hai bên đường rợp bóng tre xanh, với những luốngnấm rơm vàng trong nắng Người dân nơi đây chân chất thật thà, quanh năm chủ yếulàm bạn với ruộng đồng, mà đặc biệt là với cây nấm rơm nặng nghĩa nặng tình.

Nói về diện tích trồng nấm rơm, Thốt Nốt là một trong những huyện ngoại thànhcủa TP Cần Thơ có diện tích trồng nấm rơm khá cao, trên 25ha mỗi năm Trong đó,diện tích trồng nhiều nhất là ở xã Trung Kiên và xã Thuận Hưng Hiện tại, 2 địaphương trên cung cấp ra thị trường 2-3 tấn nấm rơm/ngày Mỗi hộ nông dân trồng

chắt ở đất đó rồi thì một năm sau trồng lại nấm mới đạt năng suất Nên thường bàcon trồng nấm rơm truyền thống thuê đất, và tận dụng cả đất gò, đất lộ, đất khô cằn

để sản xuất

Trang 29

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NẤM RƠM TRÊN ĐỊA BÀN

PHƯỜNG TRUNG KIÊN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẰN THƠ

4.1 MÔ TẢ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT MẪU ĐIÈU TRA

Qua khảo sát thực tế 60 hộ trồng nấm rơm trên địa bàn phường Trung Kiên,quận Thốt Nốt, có thể nhận thấy tình hình sản xuất nấm rơm của các hộ gia đình trênđịa bàn như sau:

4.1.1 Tình hình chung của nông hộ

Các gia đình đã sinh sống tại địa phương từ rất lâu, tổ tiên ông bà của họ vốn làngười của địa phương hay của các xã, phường lân cận, theo bảng 1 thống kê thì các

hộ nông dân bình quân cư trú tại địa phương 34 năm trở lên Nên nghề trồng nấmrơm được xem là nghề truyền thống “cha truyền con nối“, là nghề sản xuất mang lạithu nhập chính của các gia đình Ngoài sản xuất nấm rơm, công việc phụ mà cácthành viên trong gia đình tham gia cũng liên quan đến sản xuất nấm rơm, đó là làmthuê cho những người sản xuất nấm rơm khác khi không trực tiếp sản xuất Nói vềnăm kinh nghiệm các hộ nơi đây không nhớ mình đã làm bao lâu, nhưng ngay từ khi

có thể giúp gia đình làm việc đồng án thì họ đã biết làm nấm rơm, chính vì vậy sốnăm kinh nghiệm trồng nấm của nông hộ trung bình cũng cao, từ 19,51 năm Cóngười ngay từ nhỏ đã tham gia trồng nấm rơm, có người cũng đã trở nên giàu cócũng từ nấm rơm Bởi vậy, kinh nghiệm sản xuất nấm rơm của các thành viên trụ cộttrong gia đình là rất lớn Tuổi đời trung bình của các hộ được phỏng vấn là 42 tuổi,

đó là độ tuổi đủ chính chắn trong việc quyết định kinh doanh

Số nhân khẩu bình quân trong một hộ là 5 người, trong đó nữ chiếm gần 50%trong tổng số nhân khẩu Nhưng giới tính không có ý nghĩa trong việc ai ra quyếtđịnh ssản xuất kinh tế hộ gia đình

Trang 30

• Trung bình

\ - 7 - 7 - 7 - 1

-(Nguôn: sô liệu thông kê từ bảng câu hỏi phỏng vân, tháng 04/2010)

4.1.2 Tình hình sản xuất nấm rơm của nông hộ

Hầu hết các gia đình đều không có hoặc có rất ít diện tích đất nông nghiệpphục vụ trồng trọt, theo thống kê từ phỏng vấn (bảng 2) thì đất sử dụng canh tác củachính hộ chỉ chiếm 8,3%, tương đương 5/60 hộ có đất canh tác Còn lại binh quânkhỏang 91,7% hộ là thuê đất canh tác Mặt khác, do đặc điểm của việc trồng nấmrơm là phải thường xuyên thay đổi đất canh tác, hạn chế đến mức thấp nhất việc sửdụng lại đất đã trồng nấm, vì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng thu hoạch, nên cácgia đình đều thực hiện việc đi thuê đất để trồng nấm và thay đổi nơi trồng liên tục.Nhìn chung, đất thuê để trồng là thích họp với việc trồng cây nấm rơm Hàng năm,mỗi gia đình trồng nấm rơm từ 5 đến 6 vụ tùy theo điều kiện về khí hậu, đất đai và

số vốn có được của gia đình

Do việc thuê đất đòi hỏi các gia đình phải trả tiền thuê trước, khoảng trên 1triệu đồng cho lOOOm2 đất canh tác, nên khả năng trồng nấm rơm trên diện tích lớncủa các gia đình là rất khó Mỗi vụ bình quân các gia đình chỉ trồng trên diện tích từlOOOm2 đến 3000m2 Thời gian trồng mỗi vụ là từ 30 đến 40 ngày

Trong số các vụ trồng nấm của các hộ, hầu hết đều tập trung sản xuất ở 3 vụchính yếu, đó là:

Trang 31

- Vụ thứ nhất: bình quân diện tích trồng nấm là 1748,3m2

- Vụ thứ hai: bình quân diện tích trồng nấm là 1353,3m2

- Vụ thứ ba: bình quân diện tích trồng nấm là 2220,Om2

Bảng 3: Diện tích trồng nấm rơm của 3 vụ chính trong năm 2009 của các hộ

Đơn vị tỉnh: m 2

-* -7 -7 -7 -(Nguôn: sô liệu thông kê từ bảng câu hỏi phỏng vân, tháng 04/2010)

Từ bảng 3, ta thấy là bà con tập trung sản xuất nấm rơm từ tháng 11 đến tháng

12 Theo bà con thì vào những ngày cuối năm nhu cầu tiêu thụ nấm rơm tăng, và giá

cả cũng tăng Từ tháng 07 đến tháng 08 thì bà con giảm diện tích sản xuất, bìnhquân diện tích sản xuất chỉ còn 1353,3m2 lý do chính là do thời tiết không thuận lợi

Và mùa này mưa nhiều ảnh hưởng đến năng suất nấm rơm

Trang 32

Hầu hết các gia đình đều có đông thành viên, và trình độ học vấn chỉ ở lớp 6nhu bảng thống kê số 1 Hầu như thành viên nào nếu có thể lao động được đều thamgia trồng nấm Việc ra quyết định trồng nấm rơm ở đâu, diện tích trồng bao nhiêu không có sự ảnh hưởng của giới tính và tuổi tác Do trong quá trình sản xuất mọithành viên đều tìm cách nắm bắt thông tin về điều kiện của việc trồng nấm rơm vànếu nhận thấy có đủ khả năng thì tiến hành tham gia.

4.1.2.1 Tình hình lao động

Việc thuê mướn lao động bên ngoài tham gia sản xuất cùng với các thành viêntrong gia đình chủ yếu là ở các khâu cần thực hiện đồng loạt và nhanh chóng như:phủ rơm, cấy meo, thu hoạch nấm Lao động thuê bên ngoài như đã nói cũng làngười dân ở địa phương vốn am hiểu về nghề trồng nấm nhưng do những điều kiệnnào đó mà không thực hiện việc gieo trồng, họ đi làm thuê một mặt kiếm thêm thunhập một mặt tích lũy kinh nghiệm và cũng là để tìm hiểu thông tin về điều kiện sảnxuất, thị trường, nơi thuê đất nhằm thực hiện sản xuất trực tiếp khi xét thấy có điềukiện thuận lợi Lao động khi cần thuê mướn cũng tương đối dễ dàng Chi phí trả chongười lao động là theo buổi , khoảng 50 ngàn đồng/người/buổi, vì công việc tướitiêu, thu hoạch, diễn ra vào buổi sáng Nhưng do chỉ sử dụng lao động trongnhững lúc cao điểm của thời vụ, thông thường thuê bình quân từ 3 đến 5 lao động,nên chi phí trả cho lao động cũng không nhiều

Từ bảng 5, ta thấy vào vụ 3 là vụ cận tết cổ truyền nên chi phí thuê lao độngcũng tăng, tăng mỗi lao động là lO.OOOđ/người/buổi Và tổng chi phí thuê lao độngtrên một vụ của bà con cũng thay đổi, vụ thứ nhất tổng chi phí bình quân là3.271.000 đ/vụ, vụ thứ ba ta thấy cao hơn là 5157,8 đ/vụ, chi phí thấp nhất là vụ thứhai là 1.327.000đ/vụ Sự chênh lêch chi phí thuê lao động thứ nhất là do số buổi thuêlao động, vụ 1 là 19 ngày, vụ 2 là 14,5 ngày, vụ 3 là 20,8 ngày; thứ hai là do sốlượng lao động thuê cho mỗi vụ cũng khác nhau, vụ 1 là 3,93 người, vụ 2 là 2,3người, vụ 3 là 4,3 người

Trang 33

Số lao động (người) 3,93 2,3 4,3

(Nguồn: số liệu thống kê từ bảng câu hỏi phỏng vẩn, tháng 04/2010)

Chi phí thuê lao động của các hộ ở mức cao, đó chính là do cơ cấu chuyển dịchlao động trong thời gian hiện nay Theo báo cáo cuối năm 2009 của UBND phường

Trung Kiên thì: số lao động hiện làm việc thời vụ tại địa phương chiếm 26,25% trên

tổng số lao động tại địa phương, con số này tính trong đó còn số lao động làm việccho chính gia đình của mình, nên tính ra số lao động đi làm thuê là rất thấp Đó cũngchính là lý do thuê mướn lao động vào vụ của các nông hộ lại cao

Bảng 5: Cơ cấu lao động tại phường Trung Kiên, quận Thốt Nốt,

TP Cần Thơ

-(Sô liệu báo cáo cuôỉ năm 2009 của UBND phường Trung Kiên)

Bên cạnh đó, khi được hỏi về công lao động gia đình tự làm tính toán như thếnào thì các gia đình đều cho rằng sẽ trả công cho lao động gia đình với giá cao hơnkhoảng 20 ngàn đồng so với lao động làm thuê, vì mức độ nhiệt tình và chu đáo củacác thành viên trong gia đình là cao hơn so với lao động thuê bên ngoài Tuy nhiên,một hạn chế là nhiều khâu lao động mà gia đình tự làm thường không được quy ra

Trang 34

tiền để tính vào chi phí, vì họ cho rằng chủ yếu là "lấy công làm lời" Mặt khác, docác thành viên trong gia đình thực hiện lao động luân phiên nên mỗi thành viên đónggóp công sức một ít Do đó, các hộ gia đình ước lượng chi phí lao động mà thànhviên của gia đình tham gia trồng nấm ở mức thấp hơn lao động thuê bên ngoài.

4.1.2.2 Vốn sản xuất

Theo như các gia đình, việc trồng nấm có thời gian thu hồi vốn và tạo thunhập rất nhanh nhưng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất cao, bình quân mỗi vụ sản xuấtvốn cần có để gieo trồng lOOOm2 là xấp xỉ 15 triệu đồng Trong khi đó, việc vay tiền

để trồng nấm dường như còn bỏ ngỏ, theo bảng thống kê số 6 thì không có hộ nàovay ngân hàng, vay bên ngoài lại chiếm tỷ trọng cao 80% trong 60 hộ được phỏngvấn, có tới 48/60 hộ vay nóng từ bên ngoài, vốn tự có của các hộ thì hạn hẹp, chỉ có9/60 là sản xuất từ vốn sẵn có của gia đình, và 3/60 hộ mượn của người quen khônglãi suất, con số này là rất nhỏ Nên nếu muốn mở rộng sản xuất các gia đình chỉ cònbiết đi vay nóng từ bên ngoài với lãi suất rất cao và nhiều rủi ro Theo bàn con nôngdân vay ngân hàng lãi suất thấp, nhưng thủ tục gờm gà, chi phí giao dịch cao, đã đẩylãi suất cho vay tăng và làm tăng gánh nặng nợ nần của nông dân Mạng lưới tàichính còn chưa vươn tới vùng sâu vùng xa Đa số người nghèo ở đây chưa được cán

bộ tín dụng tiếp cận Hơn nữa, lượng vốn cũng chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vay củangười dân nông thôn có mức sống trung bình Và theo anh Lưu Hồng Lưu, nhânviên ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn, tín dụng ở nông thôn lấy 64%đến 75% thu nhập để bù đắp cho chi phí hoạt động ở địa phương Chi phí giao dịchcao đã hạn chế sự tăng trưởng của ngân hàng và nguồn vốn mở rộng cho vay Nên tổchức tín dụng cũng hạn chế cho vay ở khu vực nông thôn Ngân hàng Nông nghiệp

và Ngân hàng Chính sách đều dựa vào thông tin của lãnh đạo địa phương cung cấp.Tuy nhiên, lãnh đạo địa phương không có thông tin đầy đủ về các hoạt động tíndụng trong địa bàn của mình phụ trách, và cũng không thể khẳng định tất cả hộ giađình của địa phương đều được tiếp cận thông tin Đôi khi những người có phương

án đầu tư hiệu quả không được tiếp cận với các chương trình cho vay vốn; trong khi

họ hàng, bạn bè của các nhà chức trách địa phương lại thường có tên trong danhsách được hưởng những chương trình vay vốn ưu đãi

Trang 35

Vốn gia đình 9 15 0

\ -> f ' - 1 7 -

(Nguôn: sô liệu thông kê từ bảng câu hỏi phỏng vân, tháng 04/2010)

4.1.2.3 về nguyên liệu sản xuất

Đối với nghề trồng nấm rơm của người dân phường Trung Kiên, quận ThốtNốt việc sử dựng rơm rạ là yếu tố đòi hỏi nhiều vốn nhất Do nguồn cung rơmnguyên liệu ở địa phương không đủ đáp ứng về số lượng Mặt khác, theo người dânnơi đây, để việc trồng nấm rơm đạt sản lượng tốt thì rơm phải có độ mặn nhất định,

do đó, chủ yếu nguồn rơm cung cấp cho việc trồng nấm được các ghe, thuyền chở từcác tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau là chủ yếu Theo như kinh nghiệm của cácgia đình mỗi công đất trồng nấm (lOOOm2) đòi hỏi trung bình gần 10 tấn rơmnguyên liệu Giá mỗi tấn rơm được các chủ thuyền bán với giá bình quân 1 triệu

đất trồng rơm

Do có truyền thống lâu đời về trồng nấm rơm nên nghề sản xuất meo nấmgiống ở đây cũng đã hình thành khá lâu Hiện nay, nguồn meo giống dùng để sảnxuất được các hộ mua dễ dàng từ các trại sản xuất meo giống trên địa bàn Tuy

Trang 36

nhiên, chất lượng meo nấm giống vẫn được xem là không cao và đang có xu hướnggiảm dần Đây là một hạn chế cho việc sản xuất nấm rơm của địa phương Bình

đồng/kg thì tổng chi phí cho meo giống vào khoảng 1 triệu đồng

Việc sản xuất nấm rơm theo các gia đình không đòi hỏi kỹ thuật cao mà chủyếu là kinh nghiệm sản xuất kết hợp với sự cần cù chăm sóc Hầu như, các gia đìnhđều sản xuất nấm rơm theo cách truyền thống Bên cạnh đó, các hộ cũng không biếtđến và cũng không quan tâm đến kỹ thuật sản xuất mới Điều này là do, các cơ quanquản lý ở địa phương chưa có buổi trình diễn hay tập huấn về kỹ thuật trồng nấmrơm cho người dân Các phương tiện truyền thông cũng ít khi đề cập đến việc trồngnấm rơm để phổ biến mà chủ yếu là người dân sản xuất theo kinh nghiệm Trongnhiều năm trở lại đây, việc sử dụng các loại thuốc cung cấp dinh dưỡng cho nấmphát triển ngày càng được sử dụng nên sản lượng nấm cũng đã được gia tăng đáng

kể Bình quân lOOOm2 đất trồng cho sản lượng 1000 - 1200kg, thậm chí có lúc đạt

1500 - 2000 kg

Ngoài ra, các gia đình đều cho rằng điều kiện về cơ sở hạ tầng như: điện,nước, thủy lợi, giao thông, chợ phân phối đều tương đối tốt và đáp ứng được yêucầu của việc trồng nấm rơm

Tình hình tiêu thụ nấm rơm trong một vài năm trở lại đây diễn ra khá sôi nổinhất là vào các thời điểm như ngày tết, ngày rằm, thương lái từ các tỉnh đổ về tấpnập Nhiều điểm thu mua nấm rơm dần trở nên nổi tiếng như cầu sắt Thơm Rơm, tại

xã Tân Hưng Tuy nhiên, tình trạng nông dân bị ép giá bởi các thương lái vẫn là kháphổ biến nhất là trong những vụ sản xuất cao điểm

Trang 38

(Nguồn: www.rauhoaauavieừiam.vn/default.aspx?tabID=5&1D=11 &LangID=l &NewsID=4567)

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu nấmtháng 1/2010 đạt 2,1 triệu USD, tăng 192% so với cùng kỳ 2009 Ước tính trongtháng 2/2010, kim ngạch xuất khẩu nấm các loại đạt 1,5 triệu USD, nâng tổng kimngạch của cả 2 tháng đầu năm 2010 lên 3,6 triệu USD, tăng 176,9% so với cùng kỳ2009

Nhìn chung thị trường tiêu thụ nấm rơm trong cả nước đang phát triển theohướng tích cực Nhưng bà con trồng nấm rơm ở quận Thốt Nốt và vùng lân cận chủyếu phân phối nấm rơm qua 2 kênh chính là bán cho thương lái và bán tại các chợtrong vùng, chưa tiếp cận được với các cơ sở chế biến nấm xuất khẩu

4.2.1 Bán cho thương lái

Quận Thốt Nốt có một điểm thu mua nấm rơm với quy mô lớn, điểm thu muanấm rơm này ở đoạn cầu sắt Thơm Rơm, xã Thuận Hung, huyện Thốt Nốt- TP cầnThơ, gọi là chợ phiên nấm rơm Chợ họp vào khoảng 8h - lOh mỗi ngày Sáng bàcon ra đồng sớm thu hoạch nấm mẫu đem lại chợ bán đấu giá Tại đây, các thươnglái xem nấm và ra giá, ai ra giá cao thì bà con nông dân đồng ý bán, và hẹn giờ giaonấm Ở đây có gần 50 bạn hàng thu mua bình quân khoảng 2-3 tấn nấm rơmtươi/ngày Nguồn hàng do nông dân và thương lái từ các huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ

và Thốt Nốt chở đến bán Phần lớn nấm rơm thu mua tại đây được các bạn hàngchuyên chở đi các chợ ở TP Hồ Chí Minh tiêu thụ Hiện nay, bạn hàng chỉ dựa vàonguồn hàng của nông dân huyện Thốt Nốt và Nông trường Sông Hậu Huyện VĩnhThạnh và Cờ Đỏ cũng có rất ít nông dân trồng nấm rơm, do không còn nguyên liệurơm

Vì nguồn cung ít, tại điểm thu mua nấm rơm ở cầu sắt Thơm Rơm, bạn hàng

đã tranh nhau mua nấm rơm tươi bằng cách đấu giá và nông dân sẽ chọn bán chongười ra giá cao nhất Chị Trần Thị Bích Thủy, bạn hàng thu mua nấm rơm tươi tạiđây, cho biết: “Ngày nào lượng hàng về ít, tôi ra giá đến 16.000-17.000 đồng/kgnấm tươi Nếu ra giá thấp hơn sẽ không mua được hàng Để có hàng chở đi TP HồChí Minh buộc tôi phải thu mua nấm rơm với giá cao và mức lời rất thấp Dĩ nhiên

là ngày nào nguồn hàng nhiều, bạn hàng chúng tôi sẽ ra giá thấp hơn” Chợ nấm rơmchính là kênh phân phối nấm rơm chính ở địa phương và những vùng lân cận

Kênh tiêu thụ này đảm bảo tiêu thụ số lượng lớn nấm rơm cho bà con nông

hộ Theo bảng 7 thống kê thì có 89% bà con bán cho th ương lái Từ đó ta thấy kênhtiêu thụ này được bà con trồng nấm rơm quan tâm nhiều nhất, bởi không phải lođược mùa mà không nơi tiêu thụ sản phẩm

Trang 39

Bán trực tiếp tại chợ 11

4.2.3 Bán cho thương lái và bán tại chợ

Số nông hộ bán nấm rom qua 2 kênh tiêu thụ chime bình quân tới 35% (bảng6) Hình thức bán qua 2 kênh tiêu thụ cũng chiếm đại đa số Vì tiêu thụ nấm theokênh sẽ giúp bà con bán được tất cả các loại nấm Nấm đúng lứa, đúng độ lớn thìchủ yếu bà con bán cho thương lái phân phối các nơi khác trong khu vực ĐBSCL.Còn nấm dạt, nấm dù thì các nông hộ bán cho các con buôn tại các chợ trên địa bànquận Hình thức này giúp các nông hộ có them thu nhập từ việc bán nấm khôngđúng tiêu chuẩn

Nhìn chung bà con nông dân tại địa phương có nguồn tiêu thụ nấm ổn định,không phải lo cảnh được mùa mà phải neo hàng tại nhà vì không có nguồn tiêu thụđầu ra

Nên kênh phân phối nấm rơm của bà con quận Thốt Nốt có thể tóm lược theo

sơ đồ sau:

Trang 40

Hình 2: Sơ đồ kênh phân phối nấm rơm tại phường Trung Kiên, Quận

Thốt Nốt, TP Cần Thơ

Ghi chú: -► Kênh phâp phối nấm rơm

Theo hình 2 ta thấy một vấn đề quan trọng là các nông hộ không trực tiếp cungcấp cho cơ sở chế biến Cơ sở chế biến là nơi tiêu thụ số lượng lớn, và ổn định cho

bà con về số lượng và giá Điều này cho thấy giữa nông hộ và cơ sở chế biến chưa

có mối liên kết trực tiếp

4.2 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NẤM RƠM THEO yụ

4.3.1 Phân tích chỉ phí sản xuất

4.3.1.1 Vụ sản xuất thứ nhất từ tháng 02 đến tháng 03 năm 2009.

Đối với vụ trồng nấm rơm thứ nhất từ tháng 02 đến tháng 03 năm 2009 các chiphí mà các hộ gia đình bỏ ra là:

Chi phỉ thuê đất: Thời điểm sau tết Nguyên Đán là thời điểm rất thích hợp cho

việc trồng nấm rơm Vào vụ trồng này, rất nhiều gia đình có nhu cầu trồng nấm rơm

để tạo thu nhập Lợi dụng thời điểm này, nhiều chủ cho thuê đất trồng nấm rơmnâng giá thuê đất lên khiến nhiều nông dân bị khó khăn về vốn lại càng khó khăn

trọng

của chi phí thuê đất trong tổng chi phí tăng cao, chiếm 7,45%

Ngày đăng: 18/12/2015, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Trần Văn Hiến (11/05/2009), Kinh nghiệm trồng nấm rơm của anh Ba Dương,http://www.kinhtenongthon.com. vn/Story/khoahoccn/khuyennong/2009/5/18282.html Link
6. Theo Vietnamgateway (04/11/2008), Kỹ thuật trồng nấm rơm, 7. http://www.khuyennongvn.gov.vn/e-khcn/ky-thuat-trong-nam-rom8.Tổng quan về Quận Thốt Nốt Link
10. Thái Sơn, Người nghèo, những doanh nhân tiềm năng, Nông dân Ấn Độ với tín dụng nhỏ,http://www.kinhtenongthon.com. vn/Story/VandeSukien/2009/8/19633.html11.Tổng cục thống kê, www.gso.gov.vn Link
1. Chu Vãn Vũ (2002). Kinh tế hộ trong nông thôn hiện nay, NXB khoa học xã hội Khác
2. TS. Đặng Văn Du, ThS. Hoàng Thị Thúy Nguyệt (2005). Giáo trình kinh tế công cộng, NXB Tài chính Khác
3. Hoàng Trọng, Võ Văn Huy, Võ Thị Lan (2001). ứng dụng SPSS for windows để xử lý và phân tích số liệu, NXB khoa học và kỹ thuật Khác
4. Nguyễn Phú Son, Huỳnh Trường Huy và Trần Thụy Ái Đông (2006). Giáo trình kinh tế sản xuất, Khoa kinh tế và quản trị kinh doanh Trường Đại họcCần Thơ Khác
2. Gia đình đã sống ở địa phương được bao lâu:.......................năm 3. Tổng số người trong gia đình:..........................người Khác
4. Chi tiêu bình quân hàng tháng của gia đình:...............................triệu đồng Khác
5. Ngoài sản xuất nấm rơm, gia đình còn tham gia sản xuất gì để tạo thêm thu nhập:B. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NẤM RƠM CỦA NÔNG HỘ 1. Tình hình sản xuất nấm rơm chung của gia đình 1.1. Gia đình sản xuất nấm rơm mấy vụ/năm:...........vụ/năm Khác
1.3. Kinh nghiệm sản xuất nấm rơm của gia đình:...............năm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 7: Giá nấm xuất khẩu trung bình sang một số thị trường tuần từ 5/11 đến - phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất nấm rơm tại phường trung kiên quận thốt nốt – thành phố cần thơ
Bảng 7 Giá nấm xuất khẩu trung bình sang một số thị trường tuần từ 5/11 đến (Trang 31)
Hình 2: Sơ đồ kênh phân phối nấm rơm tại phường Trung Kiên, Quận - phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất nấm rơm tại phường trung kiên quận thốt nốt – thành phố cần thơ
Hình 2 Sơ đồ kênh phân phối nấm rơm tại phường Trung Kiên, Quận (Trang 33)
Bảng 10: Bảng chỉ tiết các khoản mục chi phí sản xuất của vụ trồng nấm từ - phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất nấm rơm tại phường trung kiên quận thốt nốt – thành phố cần thơ
Bảng 10 Bảng chỉ tiết các khoản mục chi phí sản xuất của vụ trồng nấm từ (Trang 35)
Bảng 16: Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ròng yụ thứ hai - phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất nấm rơm tại phường trung kiên quận thốt nốt – thành phố cần thơ
Bảng 16 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ròng yụ thứ hai (Trang 40)
Bảng 17: Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ròng yụ thứ ba - phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất nấm rơm tại phường trung kiên quận thốt nốt – thành phố cần thơ
Bảng 17 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ròng yụ thứ ba (Trang 42)
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi điều tra về hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất nấm rơm tại phường Trung Kiên - Quận Thốt Nốt - TP - phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất nấm rơm tại phường trung kiên quận thốt nốt – thành phố cần thơ
h ụ lục 1: Bảng câu hỏi điều tra về hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất nấm rơm tại phường Trung Kiên - Quận Thốt Nốt - TP (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w