1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004

38 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 727 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì mô hình nuôiTCX trên ruộng cho thu nhập cao, góp phần giải quyết việc làm cho dân nghèolàm thuê, bắt ốc bươu vàng bán cho các hộ nuôi tôm và phù hợp với đa dạnghóa sản xuất cũng như s

Trang 1

Chương 1 GIỚI THIỆU

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nông nghiệp trọng điểm của ViệtNam và lúa là cây lương thực truyền thống quan trọng nhất được trồng ở đây Hệthống sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài hơn 5000 km vì thế được đánh giá

là vùng có nhiều thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và thủy sản (Ủy Ban SôngMêKông, 1992) Trong nhiều năm qua lũ thường xuất hiện ở đồng bằng sôngCửu Long, nhất là ở các tỉnh thượng nguồn như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ,

… đã gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cư dân và các hoạt động sản xuất nông

- ngư nghiệp Vì vậy vấn đề kiểm soát lũ đang là một cố gắng lớn của Chính phủnhằm ổn định sản xuất và đời sống người dân sống trong vùng Một trong nhữngbiện pháp quan trọng là phải tạo ra công ăn việc làm cho người dân trong mùa

lũ Do đó, diện tích mặt nước ở dạng đất ruộng ngập lũ có thể được sử dụngtrong quá trình sản xuất đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp Qua phát triển đadạng canh tác sản xuất trong mùa lũ, những mô hình này đã góp phần tạo racông ăn việc làm cho người dân Cho đến nay, một số mô hình nuôi thuỷ sản -đặc biệt là nuôi tôm càng xanh (TCX) trong mùa lũ đã được thực hiện với kếtquả ban đầu rất khả quan, mở ra hướng chủ động sản xuất trong mùa lũ

An Giang phát động mô hình nuôi TCX vào năm 2001 Khi chưa phátđộng mô hình này trên địa bàn tỉnh chỉ có một vài hộ nuôi với diện tích nhỏ hẹp.Nhưng một vài năm sau, khi phong trào này được phát động thì diện tích nuôiTCX trên ruộng lúa đã phát triển rất nhanh Năm 2001 toàn tỉnh có 199,26 haruộng nuôi tôm, đến năm 2004 diện tích tăng lên 566,90 ha Vì mô hình nuôiTCX trên ruộng cho thu nhập cao, góp phần giải quyết việc làm cho dân nghèo(làm thuê, bắt ốc bươu vàng bán cho các hộ nuôi tôm) và phù hợp với đa dạnghóa sản xuất cũng như sự phát triển kinh tế của huyện (Sở Nông nghiệp vàPTNT tỉnh An Giang, 2003)

Một số huyện đã thực hiện triển khai mô hình nuôi tôm trên ruộng lúa cóhiệu quả như Châu Phú, Phú Tân, Châu Thành, Thoại Sơn,… Trong đó ChâuPhú là địa phương có tổng diện tích nuôi TCX đứng thứ hai toàn tỉnh Những

Trang 2

năm gần đây, số hộ cũng như số diện tích nuôi TCX ở huyện không ngừng tănglên: năm 2001 diện tích 26,68 ha với 23 hộ nuôi đến năm 2004 tăng lên 85,65 havới 42 hộ nuôi (tập trung ở các xã Vĩnh Thạnh Trung, Bình Phú, Ô Long Vĩ,…),

và hiện nay xã Vĩnh Thạnh Trung đứng đầu với tổng diện tích 25,3 ha với 15 hộnuôi

Trang 3

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nuôi TCX trên thế giới và trong nước

2.1.1 Thế giới

Thái Lan là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á sớm đẩymạnh việc phát triển nghề nuôi TCX Từ năm 1957 – 1960 Thái Lan đã bắt đầunghiên cứu nuôi và sản xuất giống Năm 1980 Thái Lan đạt trên dưới 2.000 –3.000 kg/ha (Phạm Văn Trang và ctv, 2004)

Một số nước Châu Âu, Châu Mỹ đẫy mạnh nuôi TCX 1980 Pháp đạt4.000 kg/ha, Mỹ đạt trên dưới 3.000 kg/ha Trung Quốc tuy là nước không cóTCX phân bố tự nhiên nhưng đã nhập khẩu và là đối tượng nuôi chính trongnước ngọt, năm 2001 TCX thương phẩm đạt năng suất từ 4.000 - 6.000 kg/ha(Phạm Văn Trang và ctv, 2004)

2.1.2 Trong nước

Ở Việt Nam sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, TCX đượcnhiều ngành quan tâm: năm 1977 - 1979 trường Đại học Cần Thơ tiến hành sảnxuất nhân tạo TCX bước đầu đạt kết quả Tiếp đó, Viện Nghiên cứu Nuôi trồngThuỷ sản II (Viện NCNTTS II) thành phố Hồ Chí Minh cho đẻ nhân tạo TCXthành công Từ đó phong trào nuôi TCX được lan rộng trong cả nước (Phạm VănTrang và ctv, 2004)

Ở miền Nam, dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của Viện NCNTTS II: huyệnGiồng Trôm (Bến Tre) nuôi TCX đạt năng suất 1.100kg/ha/năm Trại 1 - 4 (CửuLong) đạt năng suất 500kg/ha/vụ Trại Cái Bè (Tiền Giang) đạt năng suất330kg/ha/vụ Trong những năm gần đây (1999 - 2000) tại ĐBSCL nông dân đãnhận thấy nuôi TCX hiệu quả gấp 3 lần nuôi cá và gấp 5 lần trồng lúa Nhiều cơ

sở sản xuất giống đang tích cực cho TCX sinh sản nhân tạo để giải quyết congiống cho các nông hộ nuôi tôm (Phạm Văn Trang và ctv, 2004)

TCX là một loài tôm có kích thước lớn nhất trong các loài tôm nướcngọt, dễ nuôi, thịt thơm ngon có giá trị dinh dưỡng cao Dương Văn Chính vàctv (2004) cho biết: áp dụng mô hình lúa TCX sẽ làm cho độ phì nhiêu trong đất

Trang 4

tăng cao Qua kiểm nghiệm 21 mẫu đất tại ruộng nuôi tôm cho thấy các chỉ tiêu

về hữu cơ, đạm, lân, kali tăng từ 36 đến 56% Vì vậy, sau khi nuôi tôm, chi phícho phân bón giảm, lợi nhuận từ lúa cũng tăng lên) Mô hình này góp phần giảm

sử dụng nông dược trên đồng ruộng trong vụ sản xuất lúa, giảm thiểu ô nhiễmmôi trường do nông dược gây ra và tăng tính bền vững, ổn định trong sản xuất

Hiện nay tại ĐBSCL, nuôi TCX phổ biến với nhiều hình thức như nuôitôm trên ruộng lúa (mô hình canh tác lúa Đông - Xuân và TCX, mô hình 2 vụlúa và TCX kết hợp, mô hình 2 vụ lúa và 1 vụ tôm), nuôi trong mương vườn,nuôi ao và nuôi đăng quầng Năng suất tôm nuôi đạt từ 300 - 700 kg/ha/vụ đốivới nuôi tôm kết hợp với trồng lúa, năng suất 500-1.200 kg/ha/vụ đối với nuôi ao

và năng suất 1,2 - 5 tấn/ha/vụ đối với nuôi đăng quầng (Nguyễn Thanh Phương,1999)

Năm 2004, thành phố Cần Thơ có trên 320 ha áp dụng mô hình lúa TCX Phong trào nuôi TCX luân canh trên ruộng lúa khởi phát ở huyện Cờ Đỏ

-từ năm 2001 Tuy nhiên, những năm đầu, diện tích nuôi còn nhỏ, năng suấtkhông cao, chỉ khoảng 300-400 kg/ha Rút kinh nghiệm qua các vụ nuôi cùngvới nắm bắt và ứng dụng tốt kỹ thuật mới từ đó năng suất tăng dần Đến đến năm

2004, năng suất bình quân lên đến 700 kg/ha, cá biệt có hộ thu hoạch đạt 1,8tấn/ha (Sỹ Huyên, 2004) Hai huyện đầu nguồn Ô Môn và Thốt Nốt (Cần Thơ)

đã có hơn 220 ha sản xuất theo mô hình lúa - tôm (vụ lúa Đông - Xuân, vụ TCX

và vụ hè thu) cho thu nhập hơn 50 triệu đồng/ha, người nuôi có được lãi ròngtrên 40% (Vasep, 2003)

Mùa nước nổi năm 2004 tỉnh An Giang có trên 560 ha nuôi tôm Nhờ ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi tôm, nên năng suất thu hoạch đạt

bình quân từ 1 đến 1,2 tấn/ha Hầu hết các mô hình nuôi tôm như nuôi trong chân ruộng và nuôi đăng quầng đều đạt hiệu quả cao Đối với mô hình nuôi tôm

chân ruộng bà con nông dân sau khi thu hoạch trừ tất cả các chi phí còn lãi từ 10

- 25 triệu đồng/ha, các mô hình nuôi tôm đăng quầng cũng đạt lợi nhuận bìnhquân từ 5-10 triệu đồng cho mỗi mô hình Điều này cho thấy bà con nông dân

Trang 5

nuôi TCX mùa nước nổi đều đạt hiệu quả cao (Sở Nông nghiệp và PTNT AnGiang, 2005).

Riêng tại huyện Châu Phú, trong năm 2002, diện tích nuôi chân ruộng16,2 ha với 15 hộ tham gia (năng suất bình quân 1,15 tấn/ha Năm 2003 diện tíchtăng lên 42,30 ha với 26 hộ nhưng năng suất trung bình thấp 0,61tấn/ha Nguyênnhân năng suất thấp và không ổn định do một số nông dân chuẩn bị ruộng nuôikhông triệt để làm ảnh hưởng đến môi trường nuôi và nhiều cá tạp cá dữ xuấthiện trong quá trình nuôi - Nhu cầu con giống sản xuất nhân tạo chưa đáp ứngcho các hộ nuôi, nên một số nông dân thả giống tôm tự nhiên để nuôi, tôm khôngđảm bảo chất lượng (dùng điện để đánh bắt) tôm bị chết và không phát triển(Phòng Nông nghiệp - PTNT huyện Châu Phú năm, 2004)

2.2 Một số đặc điểm sinh học của TCX

Loài : Macrobrachium rosenbergii de Man 1879

Tên tiếng Anh : Giant freshwater prawn

2.2.2 Phân bố

TCX phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng chủ yếu là vùngNam và Đông Nam Châu Á, một phần ở Đại Tây Dương và một vài bán đảo ởThái Bình Dương Ở Việt Nam TCX phân bố từ Nha Trang trở vào, đây là nước

có sản lượng TCX trong tự nhiên nhiều hơn cả Ấn Độ, Campuchia, Thái Lan( Phạm Văn Tình, 2002)

Trang 6

Ánh sáng: tôm thích ánh sáng vừa phải (khoảng400 lux) Ánh sáng cao

sẽ ức chế hoạt động của tôm, do vậy ban ngày khi có ánh sáng nhiều tôm xuốngđáy thuỷ vực trú ẩn, ban đêm hoạt động tìm mồi tích cực Tôm không ưa ánhsáng có cường độ cao nhưng lại có tính hướng quang vào ban đêm, khi có luồngsáng thì tôm sẽ tập trung lại và tôm lớn có tính hướng quang kém hơn tôm nhỏ 2.2.4 Dinh dưỡng và tập tính ăn

TCX thuộc loài ăn tạp, tôm thích sống ở tầng đáy, khi di chuyển trênmặt nước thường vào sát bờ để tìm kiếm thức ăn Tôm kiếm mồi mạnh từ hoànghôn đến rạng đông, ban ngày thường chui rúc vào vật bám, ẩn náo trong hanghốc ở đáy Mỗi con có một vùng định cư và bắt mồi riêng biệt Trong đời sốngTCX phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, có thành phần dinh dưỡng khácnhau Thức ăn của TCX bao gồm thức ăn tự nhiên và thức ăn nhân tạo (PhạmVăn Trang và ctv, 2004)

và ctv, 2001)

Trang 7

2.2.6.1 Thành thục và giao vĩ

Trong tự nhiên, cũng như ao hồ nuôi từ giống nhân tạo, TCX thành thụclần đầu khoảng 3 - 3,5 tháng tuổi kể từ hậu ấu trùng (tôm bột) hoặc với kíchthước từ 10 - 13cm hoặc với trọng lượng nhỏ nhất bắt gặp ngoài tự nhiên là 7,5g.Phần lớn tôm đực trưởng thành lớn hơn tôm cái cùng tuổi (Nguyễn Việt Thắng,1995)

Tôm đực thành thục sinh lý có thể trạng khoẻ mạnh (vỏ cứng không ởtrạng thái mới lột vỏ) có thể tiến hành giao vĩ Trong khi đó con cái chỉ đáp ứngkhi đã hoàn tất lột vỏ gọi là lột vỏ tiền giao vĩ Quá trình giao vĩ có thể chia ra 4giai đoạn: tiếp xúc - ôm giữ tôm cái - trèo lên lưng - lật ngửa và gắn túi tinh(Nguyễn Việt Thắng, 1995)

2.2.6.2 Đẻ trứng

Sau khi giao vĩ từ 6-20 giờ tôm cái bắt đầu đẻ trứng Tôm đẻ trứngthường vào ban đêm, trung bình sức sinh sản dao động từ 500 - 1000 trứng/gtrọng lượng tôm (Nguyễn Việt Thắng, 1995)

Trang 8

2.2.7 Vòng đời TCX

Vòng đời TCX trải qua 5 giai đoạn chủ yếu: trứng - ấu trùng - tôm bột(Postlarvae) - tôm giống (Juvenile) và tôm trưởng thành (Phạm Văn Tình, 2002)

Ở giai đoạn ấu trùng (18 - 35 ngày sau khi nở) tôm phải sống trong nước

lợ, sang giai đoạn tôm bột đến trưởng thành tôm sống chủ yếu ở nước ngọtnhưng tôm vẫn có thể sống và sinh trưởng bình thường trong nước lợ nhẹ(<10o/oo), tôm bột dần dần di chuyển vào vùng nước ngọt để lớn lên và chu kỳsống sẽ lặp lại vào mùa sinh sản tiếp theo ( Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2001)

Trang 9

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu

Phiếu điều tra nông hộ (phụ chương 3)

3.2 Phương pháp điều tra

Tìm hiểu phong trào nuôi TCX ở xã Vĩnh Thạnh Trung qua Phòng Nôngnghiệp – PTNT của huyện Châu Phú

Thu thập một số tài liệu về điều kiện tự nhiên, khí tượng thuỷ văn củakhu vực điều tra, tình hình kinh tế xã hội ở địa phương

Điều tra trực tiếp xuống từng hộ, chủ yếu là phỏng vấn trực tiếp quanông hộ theo phiếu điều tra soạn sẵn

Chọn mẫu điều tra ngẫu nhiên là 22 hộ (trong đó có 7 hộ ở xã lân cận đểđiều tra bổ sung)

3.3 Thời gian và địa điểm điều tra

Thời gian điều tra: từ 9/2004 - 12/2004

Địa điểm : Ấp Bình An Thạnh Lợi, xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện ChâuPhú, tỉnh An Giang

3.4 Nội dung điều tra

- Điều kiện tự nhiên của xã Vĩnh Thạnh trung

- Tình hình nuôi TCX trong mùa lũ

- Kỹ thuật nuôi: Mùa vụ nuôi, cách thiết kế ruộng nuôi, cải tạo ruộngnuôi, nguồn giống, vận chuyển giống, thả giống, mật độ, thức ăn - cách cho ăn,chăm sóc và quản lý môi trường nước, phòng trừ dịch bệnh, thời gian nuôi vàthu hoạch

- Tìm hiểu thị trường tiêu thụ sản phẩm của hộ nuôi, bao gồm: giá cả,đối tượng mua và địa điểm mua bán,…

- Ghi nhận những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nuôi

- Hạch toán kinh tế: ghi nhận chi phí đầu vào (Chi phí cố định và chi phílưu động) và đầu ra của sản phẩm

Trang 10

- Xã hội: ghi nhận trình độ văn hoá, nhân lực lao động, kinh nghiệmcanh tác,…của các hộ nuôi.

3.5 Phân tích số liệu

Tất cả các số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Exel với cáchàm thông dụng và được tính toán trung bình

Trang 11

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của xã Vĩnh Thạnh Trung

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1Đất

Vị trí xã Vĩnh Thạnh Trung, phía Bắc giáp xã Mỹ Phú, phía Nam giápvới xã Bình Long, phía Tây giáp với xã Thạnh Mỹ Tây, phía Đông giáp với sôngHậu (đây là con sông cung cấp nước ngọt rất tốt cho nuôi TCX) Đất thuộc đấtphù sa hằng năm được nước lũ bồi đắp nên đất gần sông khá tốt Tổng diện tíchđất tự nhiên 2.639 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 2.115 ha (Phòng Nôngnghiệp huyện Châu Phú, 2004)

Hình 1: Bản đồ xã Vĩnh Thạnh Trung-huyện Châu Phú-tỉnh An Giang

Trang 12

4.1.1.2 Nước

Nguồn nước chủ yếu do nước sông Hậu cung cấp theo chế độ bán nhậttriều biển Đông mang nhiều phù sa, chảy vào các nhánh sông nhỏ chằng chịt đưanước trực tiếp vào ruộng nông dân Nước ở khu vực xã do sông cái điều tiết,lượng nước phù sa thay đổi theo mùa nhiều nhất vào mùa nước lũ

Mùa mưa (từ tháng 5 - 11) Đây cũng chính là mùa lũ, vào mùa mưathường gây ngập úng, mực nước lũ cao dần tràn vào ruộng (nước chạy đồng)trong tháng 7, mức đỉnh lũ cao nhất vào tháng 10, tháng 11 nước cầm lại và rútdần tháng 12

4.1.2 Điều kiện xã hội của xã

Xã Vĩnh Thạnh trung có 6.278 hộ trong đó 30.201 nhân khẩu, các hộsống chủ yếu bằng làm nông nghiệp chiếm 85 %, còn lại sống bằng nghề thủcông và buôn bán

4.2 Tình hình nuôi TCX trên ruộng lúa tại xã Vĩnh Thạnh Trung

Trước năm 2001 nông dân nuôi TCX từ nguồn giống tự nhiên, nhưnghiệu quả kinh tế thấp thậm chí thua lỗ, từ đó nông dân không sản xuất TCX Đếnnăm 2001 huyện Châu Phú phát động mô hình nuôi TCX - là năm nuôi đầu taycủa người dân ỡ xã mua giống tôm post từ nguồn sản xuất giống nhân tạo, banđầu nông dân nuôi TCX với diện tích nhỏ hẹp Năm 2002 diện tích nuôi 6 ha chosản lượng 3 tấn Năm 2003 diện tích nuôi 15 ha cho sản lượng 15 tấn Đến năm

2004 diện tích 25,3 ha (Phòng Nông nghiệp - PTNT huyện Châu Phú 2001,

2002, 2003) Qua đó cho thấy mô hình nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũtrên địa bàn xã ngày càng phát triển mặc dù chưa mạnh

Trang 13

4.3 Thông tin về các chủ hộ

4.3.1 Độ tuổi và trình độ văn hoá của các chủ hộ

Tuổi các chủ hộ được phỏng vấn có độ tuổi từ 32 đến 64, bình quân là

49 tuổi Trong đó 95,45 % chủ hộ dưới 60 tuổi và 4,55% chủ hộ trên 60 tuổi(bảng 2) Đây là lợi thế về lao động cho việc phát triển mô hình

Bảng 3: Trình độ văn hoá và hoạt động nông nghiệp của 22 hộ

4.3.2 Nhân khẩu trong nông hộ

Kết quả điều tra cho thấy trong 130 người của 22 hộ được điều tra, số

người trong nông hộ ít hơn 5 người chiếm 45,45%, 6 - 8 người chiếm 40,91%,trên 8 người chiếm 13,64% (bảng 4) Bình quân mỗi gia đình là 6 người

Bảng 4: Số người trong nông hộ

Trang 14

Số người/hộ Số hộ (%)

4.3.3 Nguồn nhân lực lao động trong nông hộ

Số người trong độ tuồi lao động (độ tuổi từ 18 - 60) chiếm 74,6%, trêntuổi lao động 1,5% và dưới tuổi lao động 23,8 % Kết quả này cho thấy nguồnnhân lực trong độ tuổi lao động trong nông hộ là đáng kể - đây là một lợi thếcho các hộ nuôi phát triển mô hình nuôi TCX

Hình 2: Nguồn lực lao động trong nông hộ

4.3.4 Kinh nghiệm nuôi của các chủ hộ

Qua điều tra cho thấy nông dân có kinh nghiệm nuôi tối đa 4 năm, tốithiểu 1 năm Trong đó chủ hộ có kinh nghiệm 4 năm tương đối ít 18,18%,13,64% có kinh nghiệm 3 năm, 22,73% có kinh nghiệm 2 năm Đa số người nuôitôm chưa có nhiều kinh nghiệm chiếm 45,45%

Bảng 5: Kinh nghiệm nuôi TCX chân ruộng của các hộ nuôi

Trang 15

4.4 Kỹ thuật nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ

* Mô hình nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ là mô hình canh tác

một vụ lúa (Đông - Xuân) và một vụ TCX, thay lúa vụ 2 (Hè - Thu) và lúa vụ 3(Thu - Đông) có thể thực hiện tốt cho các vùng bị ngập lũ mà lúa vụ 2 bấp bênh

và lúa vụ 3 không thể thực hiện được hay những nơi mà sản xuất lúa vụ 2 không

có hiệu quả cao

4.4.1 Lịch thời vụ

Qua kết quả điều tra có 68,18% hộ nông dân bắt đầu vụ nuôi vào tháng 3

- 4 và 31,82% hộ nông dân bắt đầu nuôi vào tháng 5, hầu hết các hộ nuôi đều cóthời gian nuôi trung bình 7 tháng

Tháng 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3

Vụ nuôi TCX Vụ lúa Đông - Xuân

Trang 16

Qui trình nuôi tôm thịt trên ruộng lúa gồm 2 giai đoạn: ương từ tôm bộtthành tôm giống và tôm giống thành tôm thịt Qua điều tra 100% các hộ nuôiđều ương tôm bột thành tôm giống sau đó mới cho ra ruộng nuôi.

4.4.2 Ương từ tôm bột thành tôm giống

4.3.2.1 Thiết kế vuông ương

Diện tích: Vuông ương có diện tích khác nhau tùy thuộc vào diện tíchsẵn có của ruộng nông hộ Qua số liệu điều tra, 33% nông dân có diện tích1.000m2, 77% nông dân có diện tích 1.500 - 2.000m2 Tuy nhiên có thể quản lýtốt và dễ chăm sóc đối với vuông ương có diện tích từ 500 - 1.000m2 và có dạnghình chữ nhật (Phạm Văn Tình, 2002)

Mương bao và đăng chặn: Phần lớn vuông ương nông dân đều cómương bao xung quanh, đáy ao bằng phẳng, dùng lưới cước bao xung quanh bờ

để không cho những địch hại vào vuông ương, người nuôi dùng cao su tấn xungquanh chân và vách bờ để nước ít bị rò rỉ Vuông ương có cống cấp nước vàcống thoát nước độ dốc thoải về cống thoát

4.4.2.2 Cải tạo vuông ương

Kết quả điều tra cho thấy, thông thường trong vuông ương nông dânkhông trồng lúa vụ Đông - Xuân mà tiến hành phơi đất để diệt tạp, chuẩn bị chokhâu ương giống Họ cải tạo vuông ương rất kỹ, tháo cạn nước, vét bớt bùn đáy,lấp hết hang hốc quanh bờ, tu bổ lại bờ bao cống bọng để không bị rò rỉ Bón vôibột để diệt tạp 8-12 kg/100m2 kết hợp với phơi đáy ao 10-30 ngày để loại bỏ khíđộc và mầm bệnh, sau đó cho nước vào và tháo nước ra làm cho môi trườngương sạch Trường hợp ao không xả hết nước, hay trong ao có cá tạp, cá dữ thì

họ dùng dây thuốc cá liều lượng 1kg/1000m3 nước để diệt trước 2 ngày mới thảtôm

Khi đã chuẩn bị xong, trước khi thả tôm bột các hộ đều kiểm tra lại môitrường nước như đo độ pH bằng giấy quì Ngoài ra còn thiết kế dàn ống hơi đểsục khí nhằm tăng hàm lượng oxy trong nước

Trang 17

Theo khuyến cáo: đối với ao ương sau khi bón vôi thì bón phân hữu cơvới lượng từ 30 kg/1.000 m2 để tạo màu nước Khi nước có màu xanh vỏ đậu thìtốt để thả tôm bột (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2001) Tuy nhiên, qua khảosát thực tế, phần lớn các hộ nuôi không bón phân gây màu nước cho vuông ương

vì sợ bón nhiều gây ô nhiễm nguồn nước, đồng thời họ cho rằng lượng thức ăn

tự nhiên cho tôm ăn không đáng kể

Từ đó cho thấy, tuy các hộ nuôi chuẩn bị và cải tạo vuông ương rất kỹnhưng nông dân chưa hiểu được lợi ích của việc bón phân hữu cơ để tạo nguồnthức ăn tự nhiên mà tôm ưa thích, đồng thời nó còn có tác dụng thúc đẩy nhanhquá trình sinh trưởng và phát triển tôm

4.4.2.3 Nguồn tôm bột ( tôm post)

Qua điều tra các hộ nuôi đều sử dụng nguồn giống nhân tạo, mua ớ cáctrại giống trong tỉnh (Trường Trung học Nông nghiệp, Bình Thạnh, Mỹ Châu,

…) chiếm 70%, trại giống ngoài tỉnh (Cần Thơ) chiếm 30% Do nguồn giốngtrong tỉnh không đủ cung cấp cho các hộ nuôi (bảng 6) nên các nông dân nuôitôm phải mua giống tôm post tại các trại giống ngoài tỉnh

Bảng 6: Nhu cầu giống TCX trong huyện Châu Phú

Năm Nhu cầu của nông dân Khả năng đáp ứng trong

Trang 18

Qua bảng 6 cho thấy nguồn giống mà các hộ nuôi mua ở trại giống CầnThơ chưa đúng tiêu chuẩn post 15, thậm chí post 3 - 5 (trọng lượng khoảng90.000 con/kg), giống kém chất lượng nên trong quá trình ương nuôi tỷ lệ haohụt cao.

Bảng 7: Nguồn cung cấp giống và trọng lượng tôm giống

Nguồn giống Nguồn cung cấp giống Trọng lượng (con/kg)Nhân tạo Trường Trung học Nông nghiệp 70.000

Nhân tạo Tuấn (Vĩnh Thạnh Trung) 60.000

4.4.2.4 Vận chuyển và phương pháp thả giống

* Vận chuyển

Qua điều tra phần lớn các hộ nuôi biết được cách vận chuyển tôm đúng

kỹ thuật, chỉ có 1 hộ bị hao hụt giống do khâu vận chuyển

Theo hướng dẫn kỹ thuật, tôm giống mua về được đựng trong túi nylon(60x90 cm) chứa 1/3 nước, 2/3 oxy, mỗi túi chứa 6.000 - 8.000 con, thời gianvận chuyển 10 - 12 giờ Khi tới ao thời gian thả tốt nhất là 5 - 9 giờ và 16 - 18giờ (Phạm Văn Tình, 2002) Do đó, để đảm bảo đạt được hiệu quả trong sản xuấtngay từ ban đầu, đòi hỏi các hộ nuôi tôm phải nắm vững những kỹ thuật cơ bản

Trang 19

nông dân thu gom - như thế sẽ xác định được lượng tôm thả một cách chính xác,chất lượng tôm tốt, tỉ lệ hao hụt ít trong suốt thời gian nuôi

Đây là một điểm kỹ thuật khá quan trọng mà hầu hết người dân nuôi tômđều nắm bắt được

4.4.2.5 Trọng lượng tôm giống thả và mật độ ương

* Trọng lượng tôm giống thả

Qua điều tra cho thấy số lượng tôm giống người dân thả trung bình67.000 con/kg, thấp nhất là 50.000 con/kg và cao nhất là 90,000 con/kg Trong

đó có 4 hộ thả nuôi con giống có số lượng 90.000 con/kg (lý do mà họ muanguồn giống kích thước nhỏ là do thiếu hụt nguồn giống nên họ phải mua giống

từ các sinh viên thực tập của Đại học Cần Thơ, giống kém chất lượng và kích cỡtôm nhỏ nên tỷ lệ hao hụt rất cao, năng suất nuôi trung bình chỉ đạt 0,562 tấn/ha.Còn các hộ nuôi giống trọng lượng 50 - 70.000 con/m2 thì năng suất nuôi trungbình 1,090 tấn/ha

Qua đó cho thấy kích thước con giống khi thả nuôi rất ảnh hưởng đếnnăng suất Tôm giống thả nuôi có kích thước lớn thì tỷ lệ hao hụt thấp Vì vậyngười nuôi ngoài việc mua nguồn giống có chất lượng còn phải chú trọng đếnkích thước con giống

4.4.2.6 Mật độ ương

Qua kết quả điều tra, chỉ có 13,61% hộ thả tôm với mật độ từ 100 - 300con/m2, còn phần đông nông dân thả nuôi với mật độ dưới 100 con/m2 (86,39%)

vì họ cho rằng mật độ nuôi thấp thì sẽ dễ quản lý, dễ chăm sóc

4.4.2.7 Thức ăn và cho ăn

Qua điều tra 2/3 các hộ nông dân cho tôm ăn bằng nguồn thức ăn côngnghiệp (thức ăn số 1 của Hàn Quốc) và trộn với vitamin C + dầu mực cho ăn chođến giai đoạn nuôi thịt Đây cũng là một khâu phòng bệnh cho tôm vì khi bổ

Ngày đăng: 18/12/2015, 13:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chu kỳ lột xác của TCX - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Bảng 1 Chu kỳ lột xác của TCX (Trang 7)
Hình 1: Bản đồ xã Vĩnh Thạnh Trung-huyện Châu Phú-tỉnh An Giang - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Hình 1 Bản đồ xã Vĩnh Thạnh Trung-huyện Châu Phú-tỉnh An Giang (Trang 11)
Bảng 4: Số người trong nông hộ - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Bảng 4 Số người trong nông hộ (Trang 13)
Bảng 2 : Độ tuổi của các chủ hộ - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Bảng 2 Độ tuổi của các chủ hộ (Trang 13)
Bảng 5: Kinh nghiệm nuôi TCX chân ruộng của các hộ nuôi - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Bảng 5 Kinh nghiệm nuôi TCX chân ruộng của các hộ nuôi (Trang 14)
Hình 3: Mô hình nuôi tôm trên ruộng trong mùa lũ - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Hình 3 Mô hình nuôi tôm trên ruộng trong mùa lũ (Trang 21)
Bảng 11: Hiệu quả kinh tế của 22 hộ nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ năm 2004 - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Bảng 11 Hiệu quả kinh tế của 22 hộ nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ năm 2004 (Trang 27)
Hình 4: Lao động của mô hình nuôi tôm  trên ruộng lúa trong mùa lũ - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Hình 4 Lao động của mô hình nuôi tôm trên ruộng lúa trong mùa lũ (Trang 29)
Bảng 13: Các yếu tố quyết định sự thành công của mô hình - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Bảng 13 Các yếu tố quyết định sự thành công của mô hình (Trang 32)
Hình 5: Biểu đồ thể hiện định hướng canh tác của các hộ nuôi tôm - Điều tra tổng kết kỹ thuật và hiệuquả nuôi TCX trên ruộng lúa trong mùa lũ xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004
Hình 5 Biểu đồ thể hiện định hướng canh tác của các hộ nuôi tôm (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w