Những vấn đề này cha đợc làm rõ.Cuốn “Dạy văn cho học sinh tiểu học” của tác giả Hoàng Hoà Bình chỉ nói đến cảm thụ văn nói chung còn đi sâu vào cảm thụ thơ cha đợc đề cập đến.Tạp chí “
Trang 1Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Giáo dục tiểu học trờng Đại học S Phạm Hà nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành đề tài.Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Đỗ Huy Quang, ngời đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong việc triển khai, nghiên cứu để đạt kết quả tốt.
Tôi mong muốn tiếp tục nhận đợc sự đóng góp của các thầy cô giáo
và các bạn để đề tài thêm chất lợng và hữu ích.
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hoà, ngày 12 tháng 5 năm 2008
Sinh viên Trơng Thị Hải
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan với hội đồng chấm khoá luận tốt nghiệp, tài liệu này do em tự nghiên cứu, tự tìm hiểu dới sự giúp đỡ chính của thầy giáo Đỗ Huy Quang Kết quả khoá luận không trùng với bất kì
đề tài nào trớc đây.Nếu những lời trên là sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
4 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Giả thuyết nghiên cứu
1.1.Bảng thống kê các bài thơ trong sách giáo khoa tiểu học
1.2.Đặc điểm của thể loại thơ và đặc điểm của những bài thơ trong chơng trình tiểu học
1.2.1Đặc điểm của thể loại thơ
1.2.2.Đặc điểm của thơ trong chơng trình tiểu học
Trang 4Chơng 2: Đọc hiểu văn bản thơ
2.1 Mỗi một bài thơ là tiếng nói của một ngời thân thơng
2.1.1 Lời ông, lời bà nói với các cháu
2.1.2 Lời cha, lời mẹ nói với con
2.1.3 Lời anh, chị nói với nhau và nói với các em
2.1.4 Lời của trẻ em nói với ông, bà, cha, mẹ
2.1.5 Lời bạn bè cùng trang lứa nói với nhau
2.2 Hoàn cảnh diễn ra lời nói
2.3.Nội dung cua lời nói
2.3.1 Tình cảm trong gia đình
2.3.2 Tình cảm đối với trờng lớp, bạn bè
2.3.3 Tìnhcảm đối với Bác Hồ, các anh bộ đội
2.3.3.1 Tình cảm đối với Bác Hồ
2.3.3.2 Tình cảm đối với các anh bộ đội
2.3.4 Tình cảm đối với quê hơng, đất nớc
2.3.5 Thế giới tự nhiên với vô vàn điều hấp dẫn, mới lạ
2.4 Nghệ thuật của bài thơ
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Nhận thức đợc tầm quan trọng trong việc sử dụng văn học vào giáo dục con ngời, từ xa xa ông cha ta đã dùng văn học dân gian một cách tự giác nh một phơng tiện tốt nhất để giáo dục thiếu nhi Khi chữ viết cha ra đời, trẻ em
đã đợc tiếp xúc với văn học thông qua những tiếng hát ru của bà và mẹ, qua những bài đồng dao, những câu chuyện kể đợc truyền miệng từ đời này qua
đời khác Nhờ đó các em hiểu đợc cuộc sống đang diễn ra xung quanh mình,
có đợc tình cảm yêu thơng, gắn bó với quê hơng, đất nớc Đồng thời các em cũng đợc rèn rũa trở thành con ngời có nhân cách, có phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội
Từ khi chữ viết ra đời cùng với nó hệ thống trờng lớp cũng dần dần xuất hiện, trẻ em đợc cắp sách tới trờng để tiếp thu kho tàng văn minh của nhân loại Trong kho tàng ấy phải kể đến bộ phận văn học viết dành cho thiếu nhi.Văn học viết cho thiếu nhi ở Việt Nam thực sụ hình thành với t cách một
bộ phận văn học Từ khi nhà xuất bản Kim Đồng đợc thành lập (17/6/1957).Mặc dù văn học viết cho thiếu nhi ở Việt Nam mới đợc hình thành nhng nó đã đạt đợc những thành tựu đáng kể, đợc các em đón nhận một cách nồng nhiệt vì nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em
Mỗi một loại văn học là một kiểu kết hợp giữa nội dung và hình thức, là một kiểu khám phá và thể hiện đời sống, mỗi loại văn là một kiểu giao tiếp nghệ thuật độc đáo của tác giả Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện t tởng, tình cảm nhng tác phẩm thuộc loại thơ lại biểu hiện tình cảm theo cách riêng.Thơ là sản phẩm sáng tạo của tâm hồn và trí tuệ con ngời.Thởng thức thơ
là một nhu cầu trong đời sống tinh thần của mỗi ngời Do đó các tác phẩm thơ
u tú, các hiện tợng thơ tiêu biểu đều có giá trị lâu dài trong đời sống tình cảm dân tộc và nhân loại
Trang 6Thông qua việc đọc và giảng dạy thơ trong nhà trờng cũng nh hoạt động của phê bình văn học, thơ đi vào các thế hệ ngời đọc và phát huy tác dụng lâu bền, có khi là suốt đời Nh vậy việc đọc thơ, hiểu thơ là nhu cầu không thể thiếu đợc của con ngời.
Trên thực tế, thể loại thơ là một mảng lớn đợc đa vào chơng trình SGK bậc
TH từ lâu Việc dạy và học thơ trong nhà trờng đợc coi nh công cụ hữu hiệu của giáo dục” Vai trò của thể loại thơ quan trọng nh vậy, song việc giảng dạy thơ trong nhà trờng chỉ diễn ra thông qua kinh nghiệm và cảm nhận của giáo viên Vấn đề tiếp nhận thể loại thơ ở TH còn gặp nhiều khó khăn, nhiều điều cha đợc tờng minh Vì vậy khó khăn cho ngời dạy và học sinh khi đọc bài thơ là tất yếu.Mặt khác trong thực tiễn giảng dạy: Trong các giờ tập đọc khi các văn bản
đọc là thơ, ngời dạy chỉ biết làm theo hớng dẫn trong sách giáo viên để thao tác theo Từ đọc văn bản sau đó trả lời các câu hỏi, Nhng trong ý thức của giáo viên không chỉ muốn hớng dẫn học sinh của mình dập khuôn theo sách giáo viên mà còn muốn tìm hiểu, muốn biết con đờng tiếp cận thơ ca phải làm đợc những việc gì để ngời giáo viên có thể làm chủ thể hoạt động dạy học sinh làm chủ thể hoạt
động học
Chính vì vậy nếu giáo viên có biện pháp tích cực giúp học sinh tiếp cận với thể loại thơ thì việc các em hiểu và cảm nhận đợc giá trị nghệ thuật của tác phẩm sẽ dễ dàng hơn Nói cách khác nếu cho học sinh TH cảm thụ bài thơ bằng cách tiếp cận thể loại thơ theo con đờng chung là cách làm khoa học,chắc chắn sẽ đạt đợc kết quả nh mong muốn
Từ các nhận xét trên, tác giả của luận văn nhận thấy hớng khai thác
“Thể loại thơ trong chơng trình tiếng việt tiểu học và cách đọc hiểu” là một việc làm quan trọng , có tính thời sự, cần thiết và thiết thực với bậc TH
Trang 72 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu.
Thơ viết cho thiếu nhi trong và ngoài nhà trờng luôn đợc Đảng, Bác Hồ và nhà nớc ta quan tâm, chăm lo thích đáng Từ những thập kỷ 50 của thế kỷ trớc, trong lúc đất nớc ta còn gặp vô vàn khó khăn, NXB Kim Đồng, một NXB dành riêng cho thiếu nhi đã ra đời Tại đây, nhiều tập thơ và các đầu sách viết cho các
em đợc ấn hành giúp cho thiếu nhi có điều kiện học tập, vui chơi và giải trí.Ngay từ khi có cuốn SGK đầu tiên đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục của nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Các nhà soạn giả đã chú ý đến việc biên soạn thơ thiếu nhi cho chơng trình Từ cuốn sách lớp 1 mang tên “ Sách
Vỡ Lòng” trong chơng trình đã có các bài thơ có nội dung mang tính giáo dục
cao nh các bài: Cây hồng; Chó bảo gì?; Gà cùng ngan vịt (Không đề tên tác…giả), và từ lớp 2 trở đi gọi là sách Tập đọc Cho đến chơng trình sách giáo khoa cải cách, các nhà biên soạn đều rất chú ý đa các tác phẩm thơ hay đợc chọn lọc vào nội dung, chơng trình Với thể loại đa dạng: Thơ hai tiếng, ba tiếng, bốn tiếng, năm tiếng, thơ lục bát Và đ… ợc vận dụng với nhiều chủ điểm phong phú: Gia đình, nhà trờng , măng non, Với sức mạnh hấp dẫn của riêng…mình, các em thiếu nhi với những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi hồn nhiên, trong sáng, vô t, chân thực luôn có những giấc mơ đẹp, trí tởng tợng phong phú đã nồng nhiệt đón nhận, vàđem lại giá trị giáo dục rất tốt đối với các em.Thơ dành cho thiếu nhi cũng có điểm giống thơ ngời lớn, nhng cũng có nhiều yêu cầu khác xa so với ngời lớn Bởi tại yêu cầu về nhận thức của thơ thiếu nhi có những phẩm chất riêng, cần có một con đờng riêng, một cách thức riêng để đi tới đó Để đi từ hiện thực rồi nhận thức đợc, tiến tới gợi mở, sau đó gắn nối các em với một khát vọng sâu xa về cái : Chân , Thiện, Mỹ…Trong cuốn giáo trình phơng pháp dạy họctiếng việt, phần tập đọc thờng chỉ để cập đến quy trình dạy học đối với một tác phẩm nói chung Còn riêng
đối với các văn bản đọc là thơ có thêm phần dạy học thuộc lòng, còn quy trình dạy thể loại thơ, văn xuôi hay truyện đều giống nhau Quy trình đó đợc thể
Trang 8hiện qua các bớc: Luyện đọc đúng, tìm hiểu bài, luyện đọc lại Còn cụ thể các vấn đề luyện đọc ở thơ có khác gì so với truyện không? Tìm hiểu bài ở thơ có gì khác so với truyện không? Những vấn đề này cha đợc làm rõ.
Cuốn “Dạy văn cho học sinh tiểu học” của tác giả Hoàng Hoà Bình chỉ
nói đến cảm thụ văn nói chung còn đi sâu vào cảm thụ thơ cha đợc đề cập đến.Tạp chí “Giáo dục tiểu học”các số đã ra trong suốt một năm 2007 cũng
không thấy đề cập đến vấn đề đọc hiểu thể loại thơ trong chơng trình TH mà chỉ di khái quát những vấn đề trong giảng dạy bộ môn tập đọc nói chung
Chơng trình sách giáo khoa mới hiện nay đợc Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức triển khai vào các trờng TH trên toàn quốc từ năm 2002-2003 và kết thúc vào năm học 2006-2007 đòi hỏi phải thực sự đổi mới cách dạy văn, học văn nói chung và cách tiếp cận các tác phẩm thơ nói riêng trong trờng tiểu học.Từ thực tế đó đã đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới về nội dung, phơng pháp, cách thức để ng… ời dạy và ngời học tiếp cận đợc với các tác phẩm thơ trong nhà trờng
Đứng trớc yêu cầu đó em xin đợc đi sâu nghiên cứu về vấn đề ít đợc đề cập đến trong sách vở và tài liệu “Thể loại thơ trong chơng trình tiếng việt tiểu học và cách đọc hiểu”
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm các bài thơ trong chơng trình TH và cách đọc hiểu các bài thơ đó Từ đó góp phần nâng cao chất lợng, hiệu quả cho phân môn tập đọc theo hớng ngời dạy chủ động trớc thể loại thơ
Góp phần tờng minh các văn bản thể loại thơ để định hớng cho hoạt động
đọc và hiểu văn bản thơ, làm hành trang cho học sinh tiếp tục học lên bậc học trên( Trung học cơ sở, phổ thông trung học)
Trang 94 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tợng nghiên cứu: Các bài thơ trong chơng trình TH
- Phạm vi nghiên cứu: Các bài thơ trong nớc đợc đa vào trong chơng trình SGK hiện nay ở bậc học TH Không đề cập đến các bản dịch thơ nớc ngoài
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm ra đợc đặc điểm của thể loại thơ và con đờng chung để tiếp cận với văn bản thơ
- Tiến hành thống kê các bài thơ từ lớp 1 đến lớp 5, phân loại các thể, dạng của từng đối tợng thơ
- Xác lập các nhân tố giao tiếp trong văn bản thơ, tạo cơ sở cho việc đọc hiểu văn bản thơ
6 Giả thuyết nghiên cứu.
- Nếu đề tài nghiên cứu chỉ ra đợc đặc điểm của thể loại thơ và cách tiếp cận thể loại thơ sẽ góp phần làm cho giờ dạy thơ ở TH thêm hấp dẫn, đem lại hiệu quả cao
Trang 10Phần hai: nội dungChơng I: Những bài thơ trong chơng trình tiểu học
1.1 Bảng thống kê các bài thơ trong sách giáo khoa tiểu học
Trong chơng trình sách giáo khoa mới của bậc tiểu học hiện nay, số lợng các bài thơ khá nhiều, đợc phân bố từ lớp 1 đến lớp 5 Qua khảo sát có thể nhận thấy những bài thơ này viết bằng thể 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ ; bên cạnh đó…một số bài đợc viết theo thể thơ lục bát, thất ngôn tứ tuyệt và thể tự do Có những bài thơ do ngời lớn viết cho thiếu nhi, ngời lớn viết về thiếu nhi, ngời lớn viết về ngơi lớn nhng để cho thiếu nhi Bên cạnh đó còn có những bài thơ của thiếu nhi viết về thiếu nhi Cụ thể:
Lớp 1: ở học kỳ I do đặc điểm là các em học sinh mới học cách đánh
vần,ghép chữ và làm quen với đọc trơn văn bản, nên trong SGK cha có các bài thơ hoàn chỉnh mà chỉ có các đoạn thơ ngắn khi các em đọc phần ứng dụng cho bài mới Đến giữa học kỳ II bắt đầu xuất hiện những bài thơ ngắn Trong tổng
số 20 bài thơ đợc đa vào SGK tiếng việt lớp 1 có 8 bài thơ của ngời lớn viết cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 45%; có 6 bài thơ của ngời lớn viết về các em thiếu nhi chiếm tỷ lệ 30%; 5 bài thơ của thiếu nhi viết cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 25%.Thể thơ 3 chữ, 3 bài:
Ai dậy sớm, Mời vào của Võ Quảng Xỉa cá mè của Phạm Hổ.
Trang 11Gửi lời chào lớp một - Hữu Tởng
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt có 1 bài:
Tặng cháu - Hồ Chí Minh
Lớp 2: trong tổng số 23 bài thơ trong nội dung chơng trình có 11 bài thơ
ngời lớn viết cho các em thiếu nhi chiếm tỷ lệ 48%; có 4 bài thơ ngời lớn viết cho về các em thiếu nhi chiếm tỷ lệ 17,3%; có 1 ài thơ ngời lớn viết về ngời lớn nhng để dành cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 1,12%, có 2 bài thơ thiếu nhi viết
về thiếu nhi chiếm tỷ lệ 2,27%
Thể thơ 4 chữ, 7 bài
Cái trống trờng em - Thanh Hào Thơng ông - Tú Mỡ
Bé nhìn biển - Trần Mạnh Hảo Con Vện - Nguyễn Hoàng Sơn Lợm - Tố Hữu Đàn gà mới nở - Phạm Hổ
Tiếng Võng kêu - Trần Đăng Khoa
Thể thơ 5 chữ, có 8 bài
Ngày hôm qua đâu rồi - Bế Kiến Quốc Gọi Bạn - Định Hải
Cô giáo lớp em - Nguyễn Xuân Sanh Th trung thu - Hồ Chí Minh Dậy sớm - Thanh Hào Hoa Phợng - Lê Huy Hoà
Trang 12Thể thơ 4 Chữ, 14 bài:
Vẽ Quê Hơng - Định Hải Bàn tay cô giáo - Nguyễn Trọng Hoàn
Hai bàn tay em - Huy Cận Thì Thầm - Phùng Ngọc Hùng
Thể thơ 8 chữ, 1 bài:
Cái cầu - Phạm Tiến Duật Thể thơ lục bát: 9 Bài
Chị em - Trần Đắc Trung Tiếng ru - Tố Hữu
Nhớ bé ngoan - Nguyễn Trung Thu Nhớ Việt Bắc - Tố Hữu
Về quê ngoại - Hà Sơn Khói chiều - Hoàng Tá
Suối - Võ Duy Thông Dòng Suối Thức - Quang Huy Nghệ nhân Bát Tràng - Hồ Minh Hà
Lớp 4: Trong tổng số 25 bài thơ trong nội dung chơng trình có 7 bài thơ
của ngời lớn viết cho các em thiếu nhi, chiếm tỷ lệ 28%, 1 bài thơ ngời lớn viết về các em thiếu nhi, chiếm 4 %, còn lại là các bài thơ thiếu nhi viết về thiếu nhi
Trăng ơi từ đâu đến - Trần Đăng Khoa
Lắng nghe lời chim nói - Nguyễn Trọng Tạo
Chuyện cổ tích về loài ngời - Xuân Quỳnh
Trang 13ThÓ th¬ 8 ch÷: 2 bµi
Chî tÕt - §oµn V¨n Cõ Khóc h¸t ru nh÷ng em bÐ lín trªn lng mÑ - NguyÔn Khoa §iÒm ThÓ th¬ lôc b¸t, 6 bµi:
MÑ èm - TrÇn §¨ng Khoa TruyÖn cæ níc m×nh - L©m ThÞ Mü D¹ Ch¸u nghe c©u chuyÖn cña bµ - NguyÔn V¨n Th¾ng C« TÊm cña mÑ - Lª Hång ThiÖn
Dßng s«ng mÆc ¸o - NguyÔn Träng T¹o
ngêi lín viÕt cho c¸c em thiÕu nhi chiÕm tû lÖ 29%, 2 bµi th¬ ngêi lín viÕt vÒ c¸c em thiÕu nhi chiÕm tû lÖ 8,3% cßn l¹i lµ c¸c bµi th¬ ngêi lín viÕt vÒ ngêi lín nhng dµnh cho c¸c em thiÕu nhi, c¸c em thiÕu nhi viÕt cho c¸c em thiÕu nhi
Trêng sa r»m trung thu - Ph¹m §×nh ¢n
Trang 14Dáng hình ngọn gió - Đàm Thị Lam Luyện
Tiếng đàn Ba la lai ca trên sông đà - Quang Huy
Trớc cổng trời - Nguyễn Đình Anh
Tiếng vọng - Nguyễn Quang Thu
Vẽ ngôi nhà đang xây - Đồng Xuân Lan
Những cánh buồm - Hoàng Trung Thông
Qua thống kê trên ta nhận thấy các bài thơ của ngời lớn viết cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ tơng đối cao, gồm 58 bài trong tổng số 129 bài thơ đợc viết trong nội dung chơng trình tiểu học, chiếm tỷ lệ 45%, các bài thơ của ngời lớn viết
về thiếu nhi tỷ lệ còn khiêm tốn, gồm 22 bài trong tổng số 129 bài thơ đợc đa vào nội dung chơng trình tiểu học, chiếm 17% Thơ của ngời lớn viết về ngời lớn nhng để cho thiếu nhi có 5 bài và một số ít bài của thiếu nhi viết cho thiếu nhi Các bài thơ đợc viết theo các thể loại: 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, thất ngôn bát cú, lục bát, tự do nhng số lợng các bài thơ 4 chữ, 5 năm chữ chiếm tỷ lệ cao nhất
Thể thơ 4 chữ có 29 bài/129 bài chiếm 22,48%
Thể thơ 5 chữ có 43 bài/129 bài chiếm 33,33%
Thơ đa vào chơng trình sách giáo khoa tiểu học hiện nay đã xác định đợc nội dung và mục đích giáo dục Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, lời thơ giầu
Trang 15vần điệu, nhạc điệu giúp các em dễ thuộc, dễ nhớ nội dung các bài thơ cơ…bản là phù hợp với tâm lí lứa tuổi các em: Tâm hồn các em ngây thơ, trong sáng Các em dễ xúc cảm, hay bắt chớc và muốn làm theo gơng sáng, các em tin tởng tuyệt đối vào ngời trên và nhất là thầy cô giáo.
Thơ viết về các em, viết cho các em, có trong nội dung chơng trình không những chỉ có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu trớc mắt là giáo dục đi đôi với giải trí mà còn có tính thời đại lâu dài: Thiếu nhi đã đợc cả xã hội chăm sóc,nâng niu, dậy dỗ nh thế nào Thơ dành cho thiếu nhi đã phản ánh đ… ợc
điều đó bằng bút pháp riêng, nghệ thuật riêng Vì vậy thơ trong chơng trình tiểu học hiện nay đã đạt đợc tới những giá trị của văn học
1.2 Đặc điểm của thể loại thơ và đặc điểm của những bài thơ trong chơng trình tiểu học
1.2.1 Đặc điểm của thể loại thơ
1.2.2 Đặc điểm của thơ trong chơng trình tiểu học
1.2.2.1 Ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học: là chất liệu, là phơng tiện mang tính chất đặc trng của văn học, không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học Bởi vì chính ngôn ngữ chứ không phải cái gì khác đã cụ thể hoá và vật chất hoá sự biểu hiện của chủ đề, t tởng, tính cách và cốt truyện Ngôn ngữ là yếu
tố đầu tiên mà nhà văn chuẩn bị trong quá trình sáng tác văn chơng Một sáng tác văn học bao giờ cũng gồm 2 phần: văn bản và tác phẩm Ngời đọc, ngời cảm thụ muốn lĩnh hội đợc tác phẩm phải thông qua văn bản mà chất liệu làm nên văn bản chính là ngôn ngữ Văn bản là cầu nối giữa ngời đọc và tác phẩm trong đó ngôn ngữ góp phần tạo ra văn bản
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học nói chung cũng nh ngôn ngữ trong sáng tác thơ văn nói riêng là thứ ngôn ngữ giầu hình ảnh, giầu cảm xúc, từ ngữ
đợc chọn lọc chính xác, ngôn ngữ giầu tính nhạc
Trang 161.2.2.1.1 Từ ngữ trong văn bản thơ đ ợc chọn lọc chính xác, mang tính chuẩn mực biểu cảm.
Trong bài thơ “Quạt cho bà ngủ” - SGK Tiếng Việt 3 tập 1 tác giả có viết:
Hoa cam, hoa khếChín lặng trong vờn
Bà mơ tay cháuQuạt đầy hơng thơmTại sao tác giả không dùng từ “chín thơm” mà lại dùng “chín lặng”
Thông thờng khi nói tới hoa thì ngời ta thờng hay dùng từ “thơm” nhng trong
bài thơ này tác giả đã không thuận theo cái thờng tình ấy Dụng ý của tác giả khi chọn từ “Chín lặng” làm tăng thêm vẻ tĩnh của không gian vốn rất tĩnh để
nâng giấc ngủ cho bà trong bài thơ Rõ ràng từ ngữ đợc dùng trong trờng hợp này đã có sự chọn lựa rất chính xác, phù hợp với văn cảnh
Trong bài thơ “ Vàm cỏ đông” - Hoài Vũ ( SGK TV3 - Tập 1) có viết:
Đây con sông xuôi dòng sữa mẹBốn mùa soi từng mảnh mây trời
Từng ngọn dừa gió đa phe phẩyBóng lồng trên sóng nớc chơi vơi
Nghệ thuật của ngời viết là làm cho ngời đọc không ngắm cảnh mà thấy cảnh Tác giả Hoài Vũ của bài thơ Vàm Cỏ Đông đã đạt tới nghệ thuật đó
Đọc những dòng thơ của ông ta thấy cảnh sắc nh hiện ra ngay trớc mắt mình Còn có điều đặc biệt hơn bằng cách chọn lọc từ ngữ chính xác tác giả đã làm cho con sông đang miêu tả nh rộng hơn Rõ ràng dòng sông dù lớn đến đâu cũng không thể chứa hết cả bầu trời rộng lớn bao la, nhng trong thơ tác giả lại
có thể làm cho con sông rộng lớn đến nh vậy đấy Nhng bằng từ “ mảnh ”
trong câu thơ “ Bốn mùa soi từng mảnh mây trời , ” nh thế bầu trời rộng lớn đã
Trang 17đợc chia thành nhiều mảnh in bóng xuống dòng sông Dòng sông bỗng rộng lớn nh ôm lấy cả bầu trời.
Trong câu thơ:
Từng ngọn dừa gió đa phe phẩyBóng lồng trên sóng nớc chơi vơiVàm Cỏ Đông còn hiện ra đẹp hơn, chan hoà hơn, tác giả không dùng từ
“in” nh thờng lệ các nhà thơ khác hay dùng để miêu tả bóng cây trên mặt
n-ớc.Nếu nh vậy lối miêu tả đó giản đơn quá, mà ở đây tác giả lại chọn từ
lồng
“ ” để dùng thay cho từ “in” Chính việc sử dụng từ ngữ ấy trong hoàn cảnh này đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên chan hoà, sông nớc, mây trời, cảnh vật hoà quện vào nhau Những sự vật đơn lẻ đã mà hoà làm một, tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp
Trong bài “Gió” của Ngô Văn Phú:
“ Gió ở rất xa, rất rất xaGió thích chơi thân với mọi nhà
Gió cù khe khẽ anh mèo mớp
Rủ đàn ong mật đến thăm hoa
Gió đa những cánh diều bay bổng
Gió ru cái ngủ đến la đà
Hình nh gió cũng thèm ăn quả
Hết trèo cây bởi lại trèo na ”
Đọc bài thơ ấn tợng để lại trong lòng ngời đọc là gió thật hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch, giống hệt nh một đứa trẻ Do đâu mà gió lại trở nên nh vậy?
Do con mắt tinh tế và do ngòi bút tài ba của tác giả Với chúng ta gió từ xa thổi đến mọi nhà, gió làm cho bộ lông của chú mèo mớp động đậy, chú ta buồn chú ta lắc lắc ngời là chuyện không lạ Gió có mặt ở khắp nơi, gió đa h-
ơng thơm của hoa tới ong bớm, ong bớm tới thăm hoa, gió làm cho diều bay cao, gió mát ru em bé ngủ, gió cũng thổi qua các vờn quả làm rung những cây
Trang 18bởi, cây na Những chuyện đó với chúng ta rất bình thờng nhng với con mắt nghệ thuật nhà thơ đã gắn cho gió những hành động nh con ngời bằng cách sử dụng những từ chỉ hoạt động của ngời nh “ gió cù, gió thích, gió rủ, gió đa, gió thèm ăn quả, gió trèo”.Gió trở lên đáng yêu hơn bao nhiêu Bằng cách sử
dụng những từ ngữ chọn lọc đó tác giả đã biến gió thành một đứa trẻ rất đáng yêu, biết đùa với anh mèo mớp, biết trèo cây, và đặc biệt rất yêu cuộc sống của mình, gió thấy ai cũng đáng để kết bạn, mỗi một ngời bạn là một thế giới
có nhiều điều hay để khám phá
Nh vậy bằng những từ ngữ đợc chọn lọc chính xác mà ngời viết đã truyền tải đợc dụng ý của mình tới ngời đọc, làm cho ý thơ sâu sắc hơn, độc đáo hơn.1.2.1.3.2 Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu hình ảnh
Bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện t tởng tình cảm nhng tác phẩm thơ lại biểu hiện t tởng tình cảm theo cách riêng.ở những tác phẩm tự sự,tác giả xây dung bức tranh về cuộc sống trong đó các nhân vật có đờng đi
va số phận riêng.Bằng những đối thoại và độc thoại tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động của con ngời qua những mâu thuẫn xung đột.Còn ở càc tác phẩm thơ có khác, thế giới chủ quan của con ngời:cảm xúc,tâm trạng,ý nghĩ
có khi đợc trình bày trực tiếp cũng có khi đợc trình bày gián tiếp thông qua các hình ảnh.Chính vậy mà ngôn ngữ trong các tác phẩm thơ là ngôn ngữ giàh hình ảnh,giàu cảm xúc.Chính những hình ảnh mà tác giả đa vào trong thơ làm cho những vần thơ giàu cam xúc,góp phần chuyển tải nội dung của bài thơ
Trong bài “ Mặt trời xanh của tôi” SGK Tiếng Việt 3
Đã có ai dậy sớmNhìn lên rừng cọ tơi
Lá xoè từng tia nắng
Giống hệt nh mặt trờiRừng cọ ơi ! rừng cọ !Lá đẹp, lá ngời ngời
Trang 19Tôi yêu thờng vẫy gọi
Mặt trời xanh của tôi
- Nguyễn Viết
Bình-Hình ảnh “ Mặt trời xanh” để miêu tả lá cọ trong bài thơ trên đã đem đến cho rừng cọ một sức sống tràn trề Bằng sự liên tởng về hình dáng bề ngoài: những chiếc lá cọ xoè rộng nh những tia nắng mặt trời tác giả bài thơ đã đa ra một hình ảnh rất táo bạo “ Mặt trời xanh” Bằng hình ảnh đó những chiếc lá cọ
đã trở nên đẹp biết bao nhiêu Đặc biệt ở đây không phải “ Mặt trời hồng” nh
th-ờng lệ mà là “ Mặt trời xanh”, dùng hình ảnh đó vừa thể hiện đợc màu sắc bao
phủ lên rừng cọ là màu xanh tơi tắn, đông thời nó vừa đúng với tâm lý của trẻ thơ, rất ngộ nghĩnh rất tự nhiên
Cũng là hình ảnh “mặt trời” trong ngôn ngữ thơ, nhng “mặt trời” trong
khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ không phải là những chiếc lá xanh rờn nữa mà là những em bé bé bỏng trên lng mẹ Trong khúc hát ru đó Nguyễn Khoa Điềm có viết:
Mặt trời của bắp thì nằm trên núiMặt trời của mẹ con nằm trên lng.
Tác giả đã mợn hình ảnh “mặt trời” thực, mặt trời ngày ngày vẫn đi qua
núi mang ánh sáng, sự sống đến cho muôn loài để so sánh với đứa trẻ nằm trên lng mẹ
Cả bài thơ có hai câu thơ này đọng lại trong lòng ngời đọc nhiều suy t nhất Phải thừa nhận rằng, ngòi bút của tác giả quá thông minh, quá tinh tế khi chỉ cần dùng một hình ảnh “mặt trời của mẹ con nằm trên lng” mà có thể diễn
tả bao điều muốn nói, làm nổi bật tình yêu bao la của mẹ đối với đứa trẻ bé bỏng trên lng Nếu nh vạn vật cần mặt trời ngày ngày vẫn đi qua núi để tồn tại cũng nh mẹ cần con Con chính là sự sống của mẹ,là niềm tin,là tất cả những gì quí giá nhất của mẹ …
Trang 20Thơ có thể diễn đạt những điều mà văn xuôi không thể làm đợc, đó là bởi vì ngôn ngữ thơ giầu hình ảnh nh vậy đấy và việc sử dụng ngôn ngữ giàu hình
ảnh là cách thức tự nhiên đa ngời đọc đến với cái đích của bài thơ
Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận (SGK - TV 4) ngôn ngữ thơ
mới giàu hình ảnh làm sao
Mặt trời xuống biển nh hòn lửaSóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơiCâu hát căng buồm cùng gió khơi
Hát rằng: cá bạc Biển Đông lặng,Cá thu biển đông nh đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sán
Đến dệt lới ta đoàn cá ơi
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trờiMặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi
Đọc bài thơ lên chúng ta không có cảm giác đợc nghe mà thấy nh đợc ngắm cảnh biển vậy Chỉ bằng những dòng thơ rất ngắn ngủi, tác giả đã đa ng-
ời đọc đến với một không khí lao động trên biển sôi động, hứng khởi, một cảnh biển đẹp đến mê hồn Trong bài thơ tác giả đã đa vào rất nhiều hình ảnh
đẹp “ Mặt trời xuống biển nh hòn lửa”, “ Sóng đã cài then đêm sập của”, “
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”, “ Mặt trời đội biển nhô màu mới” Từ
những hiểu biết về cuộc sống lao động của những ngời dân vùng biển, cùng với lối quan sát tinh tế nhà thơ đã dùng trí tởng tợng vẽ nên một cách rất có không khí và đậm đà màu sắc của biển Một bức tranh có sự giao hoà giữa thiên nhiên và con ngời Những cảnh vật chúng ta vẫn thờng gặp hàng ngày
Trang 21nh bớc lên những trang thơ của Huy Cận Nó bỗng trở lên đẹp lạ thờng, một vẻ
đẹp mang đầy nét chấm phá “ Mặt trời nh hòn lửa”, “ đoàn thuyền” lớt trên
sóng nh chạy đua cùng với mặt trời Những hình ảnh đó làm cho biển trở lên đẹp huy hoàng, gợi ra không khí lao động sôi động trên biển, vẽ lên bức tranh mang hơi thở cuộc sống mới
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học nói chung và trong các tác phẩm thơ nói riêng nó nh con đờng đa ta vào thế giới nội tâm của những nhà văn nh vậy Thứ ngôn ngữ giầu hình ảnh ấy mà các nhà thơ đã sử dụng cho những trang thơ của mình khiến ngời đọc thấy đợc cái cụ thể trong cái trừu tợng đồng thời cảm nhận đợc cái trìu tợng trong những hình ảnh cụ thể
1.2.2.1.3 Ngôn ngữ trong thơ giầu nhạc điệu
Những t tởng, tình cảm đợc đa vào tâm hồn bạn đọc một cách hiệu quả nhất, sâu lắng nhất, bền vững nhất phải thông qua hình tợng văn học là ngôn ngữ văn học Đợn vị cơ bản nhất của nó là từ và câu Từ lại gồm hai thành phần không thể tách rời là âm thanh và ngữ nghĩa của từ Cho nên đã nói về nghệ thuật chữ nghĩa không thể không chú ý đến cách sử dụng âm thanh, nói
đến thơ ca không thể không bàn về nhạc điệu Nhạc điệu là đặc trng cơ bản nhất trong mỗi tác phẩm thơ, nó chính là nhịp điệu, âm sắc, thanh sắc, vần vế của câu thơ đó
a) Ngắt nhịp
Mỗi một bài thơ có cách ngắt nhịp riêng ở bài “ Trông Trăng” - Trần
Đăng Khoa, là thơ ngữ ngôn và để phù hợp với tâm trạng nhộn nhịp, rộn ràng, vui vẻ đã ngắt nhịp 3/2 hoặc 2/3:
Em chạy nhảy/ tung tăngMúa hát/ quanh ông trăng
Em nhảy/ Trăng cùng nhảyMái nhà / ớt ánh vàng”
Nhng bỗng nhiên trong bài thơ xuất hiện nhịp 1/ 4
Trang 22Khuya/ không trông trăng nữaNhịp thơ bỗng nhiên thay đổi thể hiện tâm trạng ngời trông trăng đang luyến tiếc một điều gì đó rất thú vị.
Trong bài thơ “ Giếng n ớc Bác Hồ” của Phan Thị Thanh Nhàn Thông
thờng ở các khổ thơ đầu các câu 6 thờng ngắt nhịp đầu đặn 3/3 hoặc 2/2/2, còn các câu thơ 8 đợc ngắt nhịp 4/4 hoặc 3/5 Tạo ra một khung cảnh thanh bình, một cảm giác ấm áp khi kể về Bác
Trang 23Làng con nghèo/ ở ngoại ôMột chiều vui/ đợc Bác Hồ về thămBác xem/ chỗ ở,/ chỗ ăn
Đến bên giếng nớc,/ băn khuăn Bác buồn
- Làng ta ! /rồi phải sạch hơnGiữ cho đôi mắt/ nh gơng trong ngầnNhng bất chợt ở đoạn cuối Giọng thơ trầm hẳn xuống Những câu thơ có cách ngắt nhịp đặc biệt: ngắt nhịp ở cuối câu gợi không khí buồn: giọng thơ nghẹn ngào, xúc động trớc sự thật đau xót:
Bác không còn ?\
Bác ơi!”\\
Qua một số ví dụ ta thấy những trạng thái, cung bậc tình cảm có sự tơng ứng với cách ngắt nhịp trong câu thơ Cách ngắt nhịp đó tạo nên nhạc điệu cho những vần thơ
b)Thanh điệu
Có thể nói thanh điệu tạo ra âm sắc trầm, bổng, tính nhạc cho câu thơ.Trong đó thanh bằng, trắc có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra giai
điệu Đến với bài “Nghe thầy đọc thơ” - Trần Đăng Khoa:
Em nghe thầy đọc bao ngày
B B B T B BTiếng thơ đó nắng xanh cây xanh nhà
T B T T B B B BMái chèo nghiêng mặt sông xa
T B B T B BBâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xa
B B B T T B B B
Trang 24Sự tập trung thanh bằng trong bài thơ có ý nghĩa làm nên sức mạnh của cảm giác đó là đi theo dòng “ hồi tởng” về tiếng thơ của ngời thầy năm xa Quá khứ và thực tại đan xen vào nhau tạo nên một cảm giác man mác Âm t-ởng của bài thơ nh du dơng, êm dịu.
Nh vậy đóng góp vào việc tạo nên nhạc điệu cho ngôn ngữ thơ phải kể
Nh mũi dao gămTôi vót hàng trămNhiều không đếm hếtVần câu trên sẽ hiệp với vần câu dới thành từng cặp sóng đôi Thơ thiếu nhi chủ yếu gieo vần chân ( vần nằm cuối câu) tạo sự móc mối chặt chẽ giữa các câu thơ, làm bài thơ gần giống bài vè, câu hát.Bài “ Bận” của Trinh Đờng
đợc gieo vần theo quy luật này
Trời thu bận xanhSông hồng bận chảyCái xe bận chạyLịch bận tính ngàyCon chim bận bayCái hoa bận đỏ
Trang 25Cờ bận vẫy gióChữ bận thành thơ
Hoặc cũng có khi trong cả khổ thơ dài, đoạn thơ dài tác giả chỉ gieo vần
ở hai hoặc câu nhng vẫn làm cho nhịp thơ biến mạch, dễ nhớ:
Chiều chiều từ mái rạ vàng
Xanh rờn ngọn khói nhẹ nhàng bay lên
Biết là bếp lửa bà nhen chiều chiều
Nghe thơm ngậy bát canh riêu
Với nồi tép ủ cạnh niêu tép đầy…
Thông qua một số bài thơ trên đã khẳng định vai trò của việc gieo vần trong việc góp phần tạo ra nhạc điệu trong thơ Cách gieo vần đó giúp bộc lộ cảm xúc của bài thơ một cách hiệu quả
1.2.2.2 Hình tợng nghệ thuật.
Mỗi một tác phẩm văn học là một chỉnh thể toàn vẹn Một trong những yếu tố quan trọng hình thành nên một tác phẩm văn học đó là hình tợng nghệ thuật Nếu không có hình tợng nghệ thuật sẽ không có sự tồn tại của bất cứ một tác phẩm văn học nào Sức sống của một tác phẩm văn học trong lòng ng-
ời đọc chính là sức sống của hình tợng nghệ thuật mà họ xây dựng Hình tợng nghệ thuật trong một tác phẩm văn học chính là linh hồn của tác phẩm đó và
nó thể hiện t tởng của ngời làm nghệ thuật Tuy nhiên hình tợng nghệ thuật xuất hiện trong từng thể loại văn học khác nhau sẽ có đặc trng khác nhau Kiểu nh trong các tác phẩm văn xuôi, kịch, các tác giả thờng xây dựng hình t-ợng nghệ thuật là những con ngời cụ thể Bằng cách thổi vào hình tợng ấy những tính cách, những số phận trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của xã hội Tác giả đã gián tiếp nói lên nội dung, t tởng của mình, làm nổi bật hiện thực xã hội Nhng trong tác phẩm thơ, hình tợng nghệ thuật có khi không cụ thể nh hình tợng nghệ thuật trong các thể loại văn học khác Đặc biệt hơn trong các tác phẩm thơ viết cho thiếu nhi, hình tợng nghệ thuật rất phong phú
Trang 26và đa dạng, đồng thời nó cũng có những nét riêng biệt Hình tợng nghệ thuật trong thơ viết cho thiếu nhi có khi là con ngời nhng cũng có khi là thiên nhiên,
là cỏ cây, hoa lá hay bất kỳ một con vật, sự vật nào đó
Điều tất yếu là tính phổ biến của các hình tợng nghệ thuật trong thơ là không giống nhau đối với các nhà thơ khác nhau Có nhà thơ tập trung xây dựng những hình tợng về thiên nhiên, nhng cũng có những nhà thơ thờng xuyên cảm thấy cảm hứng trong sáng tác thơ về các con vật, cũng không ít nhà thơ khắc họa thành công chân dung của những ngời nông dân, những ngời lao động…
Để hiểu một cách cặn kẽ cụ thể hơn về hình tợng nghệ thuật trong thơ chúng ta điểm qua một số nhà thơ điển hình viết cho thiếu nhi và những hình tợng thờng trở đi trở lại trong những trang viết của họ
1.2.2.2.1 Hình t ợng nghệ thuật trong thơ Võ Quảng
Có thể nói rằng trong thơ Võ Quảng có cả một thế giới loài vật và cỏ cây hoa lá- có một mảnh vờn bách thú và bách thảo mà những em bé nào có may mắn đợc vào đều say mê, yêu thích Vờn thơ của ông khá giầu các loài chim thú Đó là những con vật gần gũi với con ngời nh mèo, gà, vịt, là…những con chim trời nh chào mào, chim khuyên, cò, vạc, là những con thú…
nh thỏ, nai, cáo, voi, là những con vật quen thuộc khác nh… châu chấu, cóc, ếch nhái, chuột Tất cả họp lại thành một xã hội chim thú rất đông vui, đầy những tiếng hót, tiếng kêu, tiếng vỗ cánh ríu rít, inh ỏi nh thế giới trẻ thơ đầy
ắp tiếng nói, tiếng cời tiếng hát thật nhộn nhịp và đáng yêu Võ Quảng đã thổi vào trong các loài vật ấy một tâm hồn khiến chúng trở thành hình tợng rất
đáng yêu, ngộ nghĩnh nh con ngời vậy Bạn đọc rất thú vị khi gặp trong thơ
ông một con trâu mộng:
Trợn tròn đôi mắt
Nó cứ nhìn nhìnCoi bộ không tin
Trang 27Những ngời lạ mặt( Con Trâu mộng)
Hay trong một bài thơ khác hình tợng chú chẫu chàng nhanh nhẹn và hơi nhát gan giống hệt nh một đứa trẻ tinh nghịch vậy
Bỗng cạc, cạc, cạcChú Chẫu chàng
Nh tia chớpVụt xuống nớcBiến đâu mấtVờn thơ Võ Quảng còn có những bức tranh lộng lẫy của cảnh vật thiên nhiên Cỏ cây bớc vào trong thơ Võ Quảng có một sức sống mãnh liệt Tả mầm non vào mùa xuân tác giả viết:
Mầm non mắt lim dim
Cố nhìn qua kẽ lá
Thấy ma bay hối hả
Thấy lất phất ma phùn
Đây là một thoáng thay đổi của đất trời, khi mùa xuân chợt đến qua sự thức tỉnh kì diệu của chồi biếc Rồi cả đất trời xôn xao, chim muông ríu rít, khe suối rì rào, mầm non cũng bật dậy trong không khí tràn đầy sức sống, hoà thêm một sắc mầu với mùa xuân:
…Vội bật chiếc vỏ rơi
Nó đứng dậy giữa trờiKhoác áo mầu xanh biếc…
( Có một chỗ chơi)Cây cỏ trong thơ Võ Quảng thờng mang một sức sống mãnh liệt Khiêm nhờng nh một mầm non cũng biết “ Bật chiếc vỏ rơi” để “ đứng dậy giữa trời” Có thể nói, Võ Quảng yêu hồn nhiên và thắm thiết thế giới cỏ cây và…vạn vật xung quanh Ông đã thổi vào đó sự sống, chính vì thế dù chỉ là những cây cỏ, những con vật ta vẫn thấy thờng ngày bớc vào thơ ông trở thành hình t-
Trang 28ợng nghệ thuật đợc tô đậm khiến thơ của ông thờng có những sững sờ, đột ngột chất chứa một cái gì đột biến trong bừng tỉnh, trong nảy nở và sinh sôi, vô cùng tơi mới.
1.2.2.2.2 Hình t ợng nghệ thuật trong thơ Phạm Hổ
Thơ viết cho thiếu nhi của nhà thơ Phạm Hổ thờng ngộ ngĩnh, dễ hiểu,
dễ nhớ, giầu tởng tợng, có nhạc điệu, hợp với tâm lý trẻ thơ
Thơ viết cho thiếu nhi ông có 10 tập, điển hình là các tập:
sự xuất hiện của các con vật mà Phạm Hổ vẫn gọi là “Những ngời bạn nhỏ”
trong thơ của ông không giống nh sự xuất hiện các con vật trong thơ của Võ Quảng Mỗi con vật xuất hiện trong thơ của ông đều gắn với một câu chuyện nhỏ xinh, một tiếng cời hóm hỉnh, sảng khoái Những ngời bạn đáng yêu đó
đã đợc nâng lên thành hình tợng nghệ thuật để nhà thơ gửi gắm vào trong nó chiều sâu triết lý, những bài học cụ thể về một vấn đề nào đó trong cuộc sống
Trong bài thơ “Chú bò tìm bạn” tác giả đã giới thiệu một chú bò thật
thà, hơi ngốc một tí, nhng hiền hậu, dễ thơng, nhất là chú ta đang mong muốn
có bạn:
Mặt trời rúc bụi treBuổi chiều về nghe mát
Bò ra sông uống nớcThấy bóng mình ngỡ ai
Bò chào: “Kìa anh bạn!”
Lại gặp anh ở đây
Trang 29Ngoài những ngời bạn nhỏ ngộ nghĩnh đáng yêu các em vẫn thờng gặp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nh: gà, mèo, chó, chim, thỏ, bê, bò, Phạm Hổ còn giới thiệu cho các em nhiều bạn nhỏ khác, hàng ngày vẫn lặng
lẽ quanh ta đóng góp phần nhỏ bé của mình làm đẹp cuộc sống Đó chính là
“Những ngời bạn im lặng” tốt bụng mà khiêm tốn nh một cái đinh, một cái
chổi, một cái kéo, cái thớc kẻ, tất cả cũng vẫn đợc xuất hiện trong câu chuyện nhỏ
“Cái đinh” đã đợc hình dung nh một cậu bé tinh nghịch và tốt bụng, luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi ngời Nhng đọc bài thơ ngời ta vẫn không thể nhầm
nó với một vật khác:
Chân nhọn, đầu tùThân hình thẳng tuộtChôn mình vào cộtChôn mình vào tờngCho chị treo gơngCho em treo ảnhXong rồi, hóm hỉnh
Đinh ta tơi tỉnhNhô đầu nhìn quanh
Nhà thơ còn cho các em làm quen với nhiều bạn khác nữa, đó là
“Những ngời bạn trong vờn” dâng quả ngọt trái sai và màu xanh tơi cho cuộc
sống Nào thị, nào lựu, nào na, chuối, ổi, bởi, roi, dừa, …
Bằng những hình tợng “Những ngời bạn trong vờn” tác giả đã dẫn các
em vào một khu vờn mở sẵn với bao điều lý thú
Vờn quê ta nghìn nămBao đời nay thân thuộcMột màu xanh êm đềmTrăm hơng thơm vị ngọt
Trang 30Ta lớn bằng cơm, cá
Còn bằng quả vờn taTrong tình yêu đất nớc
Có tình của lá hoa
Cây mít ló sau nhàCây chanh ngang trớc ngõCây bởi đứng cuối vờn
Đi xa ai chẳng nhớ?
Cây xin từ quê mẹCây cha tơi, cha trồngNhìn cây cao bóng cả
Càng nhớ ngày còn ông …
…Bạn trong vờn đợi sẵnNóng ruột chờ các emChúc sau cuộc gặp mặt
Bè bạn quý nhau hơn …Tuy nhiên trong thơ của phạm Hổ chúng ta còn bắt gặp những em bé rất ngây thơ, ngộ nghĩnh trong khám phá thế giới xung quanh
Có ai đang khóc nhè
Mà soi gơng không bố?
Một đứa khóc đủ rồiSoi chi thành hai đứa !!!
Có thể nói rằng nội dung bao trùm nhất trong thơ Phạm Hổ là tình bạn Những ngời bạn trong thơ của ông hiện lên chân thực, ngộ nghĩnh, đáng yêu
Trang 31Ông thờng làm vổi bật chúng trong những câu chuyện hóm hỉnh Dới ngòi bút của nhà thơ những ngời bạn ấy dù là thiên nhiên, loài vật hay con ngời đều mang nét tính cách hồn nhiên, ngộ nghĩnh, đáng yêu của một đứa trẻ Đó là cái đích mà nhà thơ đã ra sức làm sống dậy trong những hình tợng thơ của mình Thông qua những hình tợng ngộ nghĩnh và đáng yêu đó nhà thơ muốn gửi tới ngời đọc một thông điệp “Hãy làm bạn với tất cả mọi ngời ta sẽ thấy đ-
ợc từ những ngời bạn ấy cả một thế giới những điều mới mẻ để khám phá”
1.2.2.2.3 Hình t ợng nghệ thuật trong thơ Trần Đăng Khoa
Trần Đăng Khoa có khiếu làm thơ từ rất sớm Bài thơ đầu tiên của Khoa làm lức cha đầy 8 tuổi là bài “Con bớm vàng” Tiếp đó, là những bài anh viết
ở lứa tuổi này nh: “Vờn em ,” “Góc sân và khoảng trời , Trăng ” “ sáng sân nhà em”, “Đánh thức trầu”, Thơ của anh đã làm xôn xao lòng ng… ời đọc, có ngời lớn lẫn trẻ em Thơ Khoa những dòng thơ tơi mát, hồn nhiên, những dòng thơ ấm áp tình ngời đã làm tăng lên trong lòng mỗi ngời đọc tình yêu quê h-
ời lao động bình thờng Dới ngòi bút của nghệ sĩ trẻ tuổi tất cả hình tợng anh
đa vào trong thơ đều mang một nét chấm phá lạ kỳ với đầy phát hiện mới mẻ, nhng vẫn bộc lộ trong đó chất tình dạt dào: tình đời, tình ngời, tình yêu cái
đẹp, tình yêu thiên nhiên đất nớc con ngời
Nhắc đến thơ Trần Đăng Khoa không thể không nhắc đến thế giới nhỏ của anh, đó là góc sân, khoảng trời đã làm nên một “ Nhà thơ mục đồng” Từ
góc sân nhà em, Khoa đã nhìn, đã cảm, đã nghĩ và đa vào thơ những hình ảnh hết sức quen thuộc của làng quê Việt Nam: một mảnh vờn, một khoảng sân, một dòng sông, một cánh đồng quen thuộc, bình dị nh… ng vẫn gây nhiều ngạc
Trang 32nhiên, thú vị cho ngời thởng thức, bởi Khoa nhìn bằng con mắt trẻ thơ non tơi nét yêu đời, bởi Khoa thổi vào chúng nét hồn nhiên, tinh nghịch của tâm hồn những cậu bé con lớn lên cùng những trò chăn trâu, thả diều, bắt cá …
Trong bài “ M a” Khoa viết về một mảnh vờn, một góc sân hả hê đón
nhận cơn ma vô số những tre, bởi, dừa, mía, mồng tơi, cỏ gà Cơn m… a hiện lên trong thơ Khoa giống hệt một cuộc ra quân khổng lồ của vũ trụ trong một câu chuyện cổ hoặc một truyện lịch sử nào đó
Ông trờiMặc áo giáp đen
Ra trậnMuôn nghìn cây míaMúa gơm
KiếnHành quân
Đầy đờngLá khô
Gió cuốnBụi bayCuồn cuộnDới ngòi bút của anh, vũ trụ giống hệt một đoàn quân ra trận, còn cây cối chẳng khác con ngời chút nào, qua những nét sinh hoạt rất đặc trng Cũng một lối nhân hoá nh vậy Khoa đã viết về cây dừa:
Cây dừa xanh toả nhiều tầuGiang tay đón gió gật đầu gọi trăng
…
Đứng cạnh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh nh là đứng chơi
Trang 33Cây dừa thân thiện nh một ngời bạn, vẻ đẹp của cây dừa
đã nâng lên thành vẻ đẹp tợng trng của đất nớc - Một vẻ đẹp gần gũi, thân quen và mang đậm chất sống
Trong thơ Khoa ta còn thấy rộn ràng âm thanh của cuộc sống Hai bài thơ “ ò ó o” và “ Buổi sáng nhà em” đã ghi lại một cảnh sinh hoạt khẩn trơng trong một buổi bình minh của nhà nông, cảnh vật và con ngời vừa bừng tỉnh
đã hối hả lo toan cho một ngày lao động mới Tiếng gà đã quá quen thuộc đối với mỗi ngời dân Việt Nam Nhng Trần Đăng Khoa nhà thơ trong bài “ ò ó o” vẫn phát hiện đợc cái mới: tiếng gà xua tan bóng tối, cho sự sống sáng tơi mở
ra chói lọi Còn trong bài “ Buổi sáng nhà em” lại rất náo nức với không khí
sinh hoạt cộng đồng cổ xa nhng rất hồn nhiên gợi cảm Điều đặc biệt ở đấy cảnh sinh hoạt là cảnh sinh hoạt của các loài vật chứ không phải cảnh sinh hoạt của loài ngời, nhng cũng náo nức nh cảnh sinh hoạt của con ngời vậy
Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay
Bố em xách điếu đi cày
Mẹ em tát nớc nắng đầy trong khauCậu mèo đã dậy từ lâu
Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng
Mụ gà cục tác nh điênLàm thằng gà trống luyên thuyên một hồiCái na đã tỉnh giấc rồi
Đàn chuối đứng vỗ tay cời, vui sao!
Chị tre chải tóc bên aoNàng mây áo trắng ghé vào soi gơngBác nồi đồng hát bùng boong
Bà chổi loẹt quỵet lom khom trong nhà
Trang 34Trong thơ Khoa không chỉ có bức tranh nông thôn Việt Nam, không chỉ
có cảnh vật tràn đầy sức sống mà hình ảnh con ngời đợc khắc hoạ rõ nét Trở thành hình tợng trong những vần thơ ấm áp tình đời, tình ngời ấy Đó là hình
ảnh ngời lính trong kháng chiến; đó là hình ảnh em bé dũng cảm hay đó là hình ảnh ngời lao động chân chính, những ngời nông dân lầm than,
Dế co càng đạp cỏ xanhCất cao giọng gáy một mình ri riDới hào nớc chẳng theo đi
Cá cờ một chiếc đớp ria cánh bèo
Em nhìn đáy nớc trong veoMáy bay một mảnh cắm xiêu vỏ hà …Thảo nào các chú đã xa
Thằng giặc chẳng dám bay qua nơi này
( Trận địa bỏ không)
Hình ảnh ngời lao động trong thơ Khoa đợc nâng lên thành hình tợng với những phẩm chất tốt đẹp Khoa gửi gắm vào hình tợng ấy tình yêu lao
động, tấm lòng trân trọng, ca ngợi những ngời lao động bình dị đồng thời còn
là bài học về giáo dục sâu sắc
Bố em đi cày
Đội sấm
Đội chớp
Trang 35Đội cả trời maHay trong bài “ Hạt gạo làng ta” tác giả viết:
Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có ma tháng baGiọt mồ hôi xaNhững tra tháng sáuNớc nh ai nấu
Chết cả cá cờCua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy…
Chỉ mấy dòng thơ ngắn gọn mà tác giả đã cho thấy ý chí đấu tranh chống lại thiên nhiên của nông dân Kết hợp với chi tiết đội sấm, đội chớp của ngời cha, Khoa đã ca ngợi sức sống bền bỉ của ngời nông dân trong bất cứ thời
đại nào
Trong thơ của Khoa vừa có thiên nhiên, cảnh vật vừa có bức tranh tơi
đẹp của cuộc sống, vừa có hình ảnh của con ngời, nhng trong thơ Khoa có cả những tình cảm ấm nồng Cụ thể đó là tình yêu thiên nhiên đất nớc, tình cảm với các chú bộ đội, tình cảm đối với mẹ cha Đặc biệt tình yêu của Khoa dành cho mẹ đợc thể hiện rõ nét trong thơ Khoa:
Nắng ma từ những ngày xaLặn trong đời mẹ đến giờ cha tan
Trang 36Trong thơ Khoa, những hình tợng hiện lên vừa tự nhên, vừa thân mật nhng cũng có những nét đẹp riêng, những nét đẹp đó đợc tạo dựng lên từ một tâm hồn ấm áp tình đời, tình ngời Chính vì vậy mà thơ Khoa đã đi vào lòng ngời
đọc, chiếm đợc cảm tình của đông đảo ngời đọc xứng danh là một thần đồng thi ca
Chơng hai: Đọc hiểu văn bản thơ
Trang 37Mỗi một bài thơ là một sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ Nó cũng chứa đựng những nhân tố giao tiếp nh: nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp Tiếp nhận một văn bản thơ ở khía cạnh một tác phẩm văn học ngời ta thờng quan tâm tới nhân tố giao tiếp đó một cách cụ thể hơn Nói cách khác mỗi một bài thơ phải xác định đó là lời của ai nói với ai, nói trong hoàn cảnh nào, nói về điều gì, phơng tiện biểu hiện của lời nói Vì vậy vấn đề tiếp nhận một bài thơ là một vấn đề rất khó khăn
Để làm tốt điều đó ta phải đi sâu vào những nội dung chính sau
2.1 Mỗi một bài thơ là tiếng nói của một ngời thân thơng
2.1.1 Lời ông, lời bà nói với các cháu
Hình ảnh ông, bà xuất hiện trong thơ của các em học sinh trong chơng trình đều là những ngời có cách của những con ngời trải nghiệm trớc những lời nói, cử chỉ, hành động: nhờng nhịn, hết mực thơng yêu và trìu mến đối với các cháu nhỏ thơ ngây, ngộ nghĩnh và đáng yêu Vì vậy các bài thơ là lời ông,
bà nói với các cháu thờng xuất hiện ở các lớp đầu cấp và có số lợng không nhiều trong nội dung chơng trình , chỉ là 5 bài trong tổng số 129 bài có trong toàn bộ bậc học, chiếm tỷ lệ 3,9%
Lớp 1: Tặng cháu - Hồ Chí Minh
Lớp 2: Thơng ông - Tú Mỡ
Lớp 3: Ông và cháu - Phạm Cúc
Thỏ thẻ - Hoàng Tá
Lớp 4: Cháu nghe chuyện của bà - Nguyễn Văn Thắng
Nhà thơ Tú Mỡ là ngời đi đầu và đặc biệt thành công khi ông làm thơ về tình ông cháu ở đây cái khó không phải là ở chỗ nói cho hết cái thiết tha của tình ông yêu cháu, mà là tình cảm, qua cách nhìn của ngời ông , những nét mới mẻ, đáng yêu trong tính cách đứa cháu ngoan đợc phát hiện Cử chỉ hồn nhiên đợc xuất phát từ tình cảm thơng mến, quan hệ giữa ông và cháu rất bình
đẳng, có sự cảm thông sâu sắc, vì vậy em Việt rất cảm động thấy ông đau
Trang 38chân, chống gậy đi khập khà, khập khiễng, bớc lên thềm nhà, có vẻ đau đớn, bèn lon ton chạy đến nói “ Ông vịn vai cháu, cháu đỡ ông lên” và phổ biến
cho ông cách làm thế nào để quên đau
Khi nào ông đau
Ông nói mấy câuKhông đau, không đau !
Dù đau đến đâuKhỏi ngay lập tức
Ông chiều ý làm theo và gật đầu nói cho cháu sớng rằng cái mẹo chữa
đau của cháu hiệu nghiệm nh thần
Ông phải phì cời
ừ, ông làm theoThử xem có nghiệm Không đau, không đau!
Văn Thắng ( TV4 - Tập 1) đợc thể hiện qua lời kể của bà có hàm ý thật sâu sắc và đầy xúc động:
Chiều rồi bà mới về nhà
Trang 39Cái gậy đi trớc, chân bà theo sauMọi ngày bà có thế đâuThì ra cái mỏi làm đau lng bà !
Bà rằng: gặp một cụ giàLạc đờng, nên phải nhờ bà dẫn điMột đời, một lối đi vềBỗng nhiên lạc giữa đờng quê, cháu à!
Thông qua lời kể truyền cảm của bà, không cần một lời giáo huấn, nhắc nhở trực tiếp, nhng lời kể đã có tác dụng thật hiệu nghiệm, trớc những trái tim ngây thơ, bé bỏng của cháu:
Cháu nghe câu chuyện của bàHai hàng nớc mắt cứ nhoà rng rng
Bà ơi, thơng mấy là thơngMong đừng ai lạc giữa đờng về quê!
Cung bậc quan hệ giữa ông, bà và các cháu là một khoảng cách đủ để nói là xa( vì cách thế hệ bố, mẹ) nhng cũng đủ để nói là gần, bởi tại chỉ có thế
hệ ông, bà mới có đủ thời gian trải nghiệm cuộc đời, để có thể hiểu và nói với các cháu đợc những điều nh thế
Lời tâm tình của ông, bà đối với các cháu thật mộc mạc, giản dị, nhng lại chứa những giá trị sâu sắc, về tình đời, tình ngời Đối tợng tâm tình thông qua các bài thơ đợc thể hiện rất rõ: Đó là các cháu, lớp mầm non tơng lai của giống nòi, của đất nớc Nhân vật trữ tình đợc xuất hiện là những việc tu dỡng
và rèn luyện đối với các cháu
2.1.2 Lời cha, lời mẹ nói với con
ở lứa tuổi học sinh tiểu học ở mọi nơi, mọi lúc lời chỉ bảo của mẹ, lời dặn của cha cũng luôn cần thiết và luôn sát cánh bên các em trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách Trong chơng trình SGK hiện nay việc đa những bài thơ có nội dung nh vậy là điều cực kỳ quan trọng và cần thiết, và
Trang 40điều này đã đợc các soạn giả SGK tiểu học hiện nay rất chú ý Toàn bộ chơng trình ở năm khối lớp tiểu học loại này đợc hiện diện chiếm 7,8% trong số các bài thơ trong nội dung chơng trình.
Lớp 1: Chuyện lớp mình - Tô Hà
Lớp 2: Ngày hôm qua đâu rồi - Bế Kiến Quốc
Lớp 3 :Quê hơng - Đỗ Trung Quân
Nhớ bé ngoan - Nguyễn Trung Thu
Lớp 4: Tuổi ngựa - Xuân Quỳnh
Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm
Cố tấm của mẹ - Nguyễn Hồng Thiện
Lớp 5: Ê- mi- li, con - Tố Hữu
Sang năm con lên bảy - Vũ Đình Minh
Trẻ em Việt Nam không chỉ lớn lên mới nhận đợc lời khuyên nh của
mẹ, mà ngay từ khi còn nằm trong nôi, các em đã đợc truyền cảm, giáo dỡng những lời du êm dịu, ngọt ngào thấm đẫm vào máu thịt các em Bài thơ
“Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm ( Sách
TV4 - Tập 2) thể hiện một cách nói mới lạ, rất ấn tợng có nhiều hàm nghĩa: mang nghĩa cụ thể của ngời mẹ vùng cao ru con trên lng khi đi nơng, xuống rẫy; mang nghĩa khái quát là hình ảnh em bé lớn lên ở trên lng ngời mẹ trong cả quá trình mẹ tham gia công việc kháng chiến Đoạn thơ mở đầu bằng lời của tác giả kết thúc bằng lời ru của mẹ
Em cu tai ngủ trên lng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lng mẹ
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ độiNhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng
Em bé lớn lên cùng gian lao kháng chiến, giấc ngủ em nghiêng trong tình cảm thiêng liêng của mẹ với bộ đội, với cách thiết tha êm đềm của mẹ
Lng đa nôi và tim hát thành lời