Trong những năm qua, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ACB luôn nỗ lực trong việc xây dựng quy trình thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp.. Xuất
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN LÊ THANH LOAN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG
NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
Á CHÂU, CHI NHÁNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ NHƯ LIÊM
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Lê Thanh Loan
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Câu hỏi nghiên cứu 1
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 7
1.1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp 8
1.1.3 Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp 14
1.2 CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 16
1.2.1 Khái niệm và bản chất của xếp hạng tín dụng nội bộ 16
1.2.2 Các mô hình xếp hạng tín dụng 22
1.2.3 Nội dung công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 24
1.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 29
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 30
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH QUẢNG NGÃI 35
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH QUẢNG NGÃI 35
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 36
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và quản lý 37
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phẩn Á Châu Chi nhánh Quảng Ngãi 37
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH 39
2.2.1 Tình hình và đặc điểm khách hàng doanh nghiệp 39
2.2.2 Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 41
2.2.3 Nội dung công tác xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh 47
2.2.4 Đánh giá kết quả công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh 57
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI CHI NHÁNH 60
2.3.1 Kết quả đạt được 60
2.3.2 Hạn chế của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ doanh nghiệp tại Chi nhánh 61
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH QUẢNG NGÃI 67
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH 673.1.1 Định hướng phát triển tín dụng doanh nghiệp 673.1.2 Định hướng công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 683.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI
BỘ DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH QUẢNG NGÃI 703.2.1 Hoàn thiện về tổ chức thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp 703.2.2 Cải thiện chất lượng của nguồn thông tin được sử dụng để xếp hạng tín dụng nội bộ 713.2.3 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát đối với công tác xếp hạng tín dụng nội bộ 743.2.4 Sử dụng có hiệu quả kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ 763.2.5 Nâng cao chất lượng cán bộ phụ trách công tác xếp hạng tín dụng nội bộ 783.2.6 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp 813.3 KIẾN NGHỊ 82
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87 KẾT LUẬN 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7STT Tên đầy đủ Tên viết tắt
nhánh Quảng Ngãi
ACB Quảng Ngãi
Trang 82.4 Số lƣợng khách hàng doanh nghiệp theo loại hình
2.5 Trọng số của chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài
2.7 Tổng hợp kết quả xếp hạng doanh nghiệp tính đến hết
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khách hàng doanh nghiệp và quản trị rủi ro Trong những năm qua, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) luôn nỗ lực trong việc xây dựng quy trình thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt hạn chế tồn tại, một trong số đó là việc thực hiện công tác này tại các chi nhánh của ACB
Thực tiễn cho thấy, rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Quảng Ngãi (ACB Quảng Ngãi) chưa có sự kiểm soát tốt Mặc dù, ACB Quảng Ngãi đã sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để đo lường, cảnh báo rủi ro Nhưng trong quá trình sử dụng, công tác xếp hạng tín dụng nội bộ doanh nghiệp tại ACB Quảng Ngãi
có hiệu quả chưa cao Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, chi Nhánh Quảng Ngãi” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại NHTM
- Phân tích thực trạng công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại ACB Quảng Ngãi
- Kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại ACB Quảng Ngãi
3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc trả lời các câu hỏi sau:
- Nội dung công tác XHTD nội bộ KHDN tại NHTM là gì?
Trang 11- Tiêu chí đánh giá công tác XHTD nội bộ KHDN là gì?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác XHTD nội bộ KHDN?
- Thực trạng công tác XHTD nội bộ KHDN tại ACB Quảng Ngãi diễn ra như thế nào?
- Ưu điểm và hạn chế trong công tác XHTD nội bộ KHDN tại ACB Quảng Ngãi là gì?
- Cần làm gì để hoàn thiện công tác XHTD nội bộ KHDN tại ACB Quảng Ngãi?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại ACB Quảng Ngãi
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: phạm vi nghiên cứu là công tác XHTD nội bộ đối với KHDN, công tác XHTD nội bộ bao gồm cả việc xem xét hệ thống XHTD nội
bộ lẫn việc thực hiện XHTD nội bộ trong thực tế
+ Về không gian: xem xét công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại ACB Quảng Ngãi
+ Về thời gian: khảo sát thực trạng công tác XHTD nội bộ được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng những nghiên cứu của những đề tài trước, kết hợp với các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích… đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ các vấn đề trong việc hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại ACB Quảng Ngãi
Trang 126 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về XHTD và công tác
XHTD nội bộ đối với KHDN
- Thứ hai, trên cơ sở phân tích, đánh giá để đưa ra các nhận xét và kết
luận về thực trạng công tác XHTD nội bộ KHDN tại ACB Quảng Ngãi Từ
đó, tìm ra những nguyên nhân của sự hạn chế
- Thứ ba, từ việc đánh giá thực trạng của công tác XHTD nội bộ KHDN
đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác XHTD nội bộ KHDN tại ACB Quảng Ngãi, đồng thời kiến nghị với ACB cũng như Ngân hàng nhà nước về các vấn đề có liên quan nhằm hỗ trợ công tác XHTD nội bộ KHDN
7 Tổng quan tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện công tác XHTDNB đối với KHDN tại ACB Quảng Ngãi, tôi đã tham khảo một số công trình nghiên cứu
về cơ sở lý luận cũng như ứng dụng thực tế sau:
a Phan Văn Thiết (2011), Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum (Vietcombank Kon Tum), Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng
Luận văn đã đề cập sâu về các vấn đề lý luận liên quan đến hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ về bản chất, vai trò, tiêu chí đánh giá hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, đồng thời rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Để đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc vận dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Vietcombank Kon Tum, luận văn đã nêu ra những tiêu chí như: mức độ chính xác của hệ thống xếp hạng tín dụng, tính khoa học của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, tính thực tiễn của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, sự tương quan giữa chi phí sử dụng và kết quả
Trang 13Từ đó, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho Vietcombank Kon Tum, đồng thời luận văn đưa
ra một số kiến nghị với Vietcombank Kon Tum cũng như Vietcombank
Cách tiếp cận của luận văn là hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ nên nhiều nội dung luận văn đề cập vượt qua khuôn khổ của một chi nhánh Trong khi đó, đề tài của luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tại chi nhánh Vietcombank Kon Tum Đây là một trong những điểm bất cập của luận văn
Luận văn cũng chỉ nghiên cứu về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của Vietcombank chứ chưa đi sâu vào các nội dung cụ thể của từng bước công tác xếp hạng tín dụng nội bộ một cách toàn diện
b Nguyễn Hoàng Anh (2012), Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội
bộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Kon Tum, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng
Luận văn đã hệ thống hóa các nội dung lý luận cơ bản có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, nhất là các vấn đề về các chỉ tiêu phản ánh kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ của ngân hàng thương mại Đồng thời phân tích, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại Chi nhánh Agribank Kon Tum về các mặt như: công tác tổ chức, kiểm soát nội bộ, thành công và hạn chế của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại chi nhánh này Luận văn cũng đưa ra các đề xuất có tính thực tiễn và khả thi
Tuy nhiên, một số vấn đề về lý luận được đề cập chưa đủ độ sâu cần thiết, các vấn đề cơ bản của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ vẫn chưa được làm rõ, một số giải pháp chưa lý giải hết các khía cạnh khác nhau
Về cơ bản, cách tiếp cận của Luận văn là phù hợp với cách tiếp cận của
để tài nghiên cứu Tuy nhiên, do có sự khác biệt trong phạm vi nghiên cứu với
Trang 14nhiều nét đặc thù của đối tượng nghiên cứu nên có nhiều nội dung có thể kế thừa nhưng không hoàn toàn đồng nhất
c Trần Thị Hoàng Vy (2013), Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội
bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu – Chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác XHTDNB KHDN của NHTM Luận văn phân tích thực tế quá trình thực hiện công tác XHTDNB KHDN tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đà Nẵng Từ
đó, đưa ra những mặt đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở
lý luận và thực tế, luận văn đưa ra những giải pháp thiết thực và kiến nghị: đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức nhân sự cho công tác XHTDNB KHDN, hoàn thiện phương pháp XHTDNB, giám sát việc triển khai và ứng dụng; đối với Ngân hàng Nhà nước, tác giả có ý kiến đề xuất nâng cao chất lượng của trung tâm thông tin tín dụng cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát công tác XHTDNB KHDN tại các NHTM
Tuy nhiên, ở phần đánh giá kết quả công tác XHTDNB đối với KHDN, luận văn chỉ nêu ra những đánh giá chung chung, chưa đưa ra những dẫn chứng, số liệu cụ thể
d Nguyễn Thị Việt (2013), Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng
Luận văn đã hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan đến xếp hạng tín dụng nói chung, xếp hạng tín dụng nội bộ của các Ngân hàng thương mại nói riêng Luận văn cũng giới thiệu chi tiết thực trạng công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện, các kiến nghị đối với Ngân
Trang 15hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước
và các bộ ngành liên quan
Tuy nhiên, tác giả chỉ đi sâu vào phân tích các chỉ tiêu tài chính, ít đề cập đến các yếu tố phi tài chính
* Nhận xét chung:
Các tác giả đã hệ thống cơ sở lý luận về hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ khách hàng doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu chấm điểm và cách tính của hệ thống Đối với phân tích, đánh giá thực tế đã khái quát được cơ bản tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện khá hợp lý và mang tính thực tiễn cao
Tuy nhiên, chủ yếu các tác giả đi sâu về mô hình xếp hạng tín dụng nội
bộ, những giải pháp cho mô hình, còn công tác xếp hạng tín dụng nội bộ chỉ nói chung chung, không nêu rõ những ưu, nhược điểm cũng như giải pháp cụ thể cho từng bước công việc
Qua thực tế hoạt động của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi Nhánh Quảng Ngãi, yêu cầu công tác xếp hạng tín dụng nội bộ nói chung và đối với khách hàng doanh nghiệp nói riêng phải được hoàn thiện hơn để đảm bảo kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ luôn chính xác, phục vụ tốt công tác quản trị rủi ro tín dụng Vì vậy, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu thực trạng công tác này tại ACB Chi Nhánh Quảng Ngãi Từ việc kế thừa những nghiên cứu có tính thực tiễn cao của các tác giả đi trước, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh ACB Quảng Ngãi
Trang 161.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Đối với ngân hàng, hoạt động tín dụng là vấn đề sống còn, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng trên thị trường Nếu xem xét tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì có thể hiếu:
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) Trong
đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán [2]
Tín dụng ngân hàng còn được hiểu “là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định” [6]
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua thì hoạt động Cấp tín dụng của
ngân hàng là “việc thỏa thuận để tổ chức, các nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả
Trang 17bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”
Từ các khái niệm nêu trên ta có thể nhận thấy tín dụng ngân hàng có các đặc trưng như sau:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng phải dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa bên
cho vay và bên đi vay Chỉ khi nào người cho vay thực sự tin tưởng vào sự sẵn lòng cùng khả năng trả nợ của người đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới được thiết lập Đây chính là điều kiện tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng Mặt khác, người vay cũng tin vào hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình
Thứ hai, tín dụng ngân hàng có tính thời hạn Tín dụng là sự chuyển
nhượng tạm thời một lượng tài sản của người sở hữu cho ngườI đi vay nhưng phải trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi
Thứ ba, sau một thời gian như đã thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả
cho người vay một lượng giá trị cả gốc và lãi Phần chênh lệch này là giá của việc được quyền sử dụng vốn của người khác
Thứ tư, hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro Đó là do sự mất
cân xứng về thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng Rủi
ro đó ngoài các nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng và khác hàng, còn có các nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị trường, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi của chính sách, nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh,…
1.1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
a Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của
Trang 18người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của người chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội
Tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng thương mại với mọi chủ thể là doanh nghiệp
b Đặc điểm tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
- Tín dụng doanh nghiệp có giá trị lớn hơn tín dụng cá nhân
Đối với khách hàng cá nhân, nhu cầu tín dụng chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng nên giá trị của khoản vay thường nhỏ Trong khi đó, DN là một tổ chức kinh tế nên thông thường nhu cầu TD có giá trị lớn, nhất là nhu cầu TD để đầu tư tài sản cố định Do vậy, trong cơ cấu dư nợ TD của các NHTM, dư nợ khách hàng DN thường chiếm tỷ trọng lớn Tuy nhiên, rủi ro đi kèm với việc cấp TD cho DN cũng cao hơn KH cá nhân khi khoản TD của DN bị chuyển sang nhóm nợ xấu, đặc biệt là các DN được cấp TD với chính sách ưu đãi về tài sản bảo đảm nợ vay
- Tín dụng doanh nghiệp yêu cầu công tác thẩm định phức tạp hơn TD
TD cũng qua nhiều cấp thẩm quyền hơn Do đó, việc thẩm định và quyết định cấp TD cho khách hàng DN bao giờ cũng mất nhiều thời gian hơn
Trang 19- Tín dụng DN yêu cầu thông tin nhiều hơn TD cá nhân
Từ yêu cầu của công tác thẩm định tín dụng DN và khoản vay là cần thực hiện trên nhiều nội dung, phân tích và đánh giá qua nhiều năm, nên NH cần sử dụng một lượng thông tin khá lớn, liên quan đến quá trình hoạt động của DN Các thông tin chủ yếu DN cung cấp cho NH như: Thông tin về tư cách pháp nhân của DN; thông tin về tình hình tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh; thông tin về lịch sử tín dụng; thông tin về tài sản bảo đảm,…
c Phân loại tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp được thực hiện dưới nhiều hình thức, được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Trên thực tế, người
ta thường đề cập đến các hình thức tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp theo các tiêu thức phân chia sau:
- Căn cứ vào thời gian cấp tín dụng:
+ Tín dụng có kỳ hạn: là khoảng tín dụng có thời hạn xác định về ngày
trả nợ, bao gồm: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng cùng với quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì:
+ Cho vay ngắn hạn: tối đa đến 12 tháng, được xác định phù hợp với chu
kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng
+ Cho vay trung và dài hạn: thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi của vốn đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn vay của ngân hàng
* Thời hạn cho vay trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng
* Thời hạn cho vay dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối
Trang 20với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống
+ Tín dụng không kỳ hạn: là khoản tín dụng được ứng dụng đối với
khoản vay không xác định rõ thời hạn trả nợ
- Căn cứ vào tính chất bảo đảm của các khoản cho vay:
+ Tín dụng có tài sản bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho
vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm
cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh
+ Tín dụng không có tài sản bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các
khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và uy tín với ngân hàng
- Căn cứ vào đối tượng đầu tư:
+ Tín dụng vốn cố định: Các khoản cho vay để hình thành vốn cố định
trong các doanh nghiệp
+ Tín dụng vốn lưu động: Các khoản cho vay để hình thành vốn lưu
động trong các doanh nghiệp
Vốn cố định và vốn lưu động là hai loại vốn cơ bản trong một doanh nghiệp Chúng có đặc điểm luân chuyển khác nhau, vì vậy việc hình thành chúng bằng nguồn vốn tín dụng cũng rất khác nhau Phân loại tín dụng theo đối tượng đầu tư giúp ngân hàng xây dựng phương pháp cho vay, thu nợ, tính toán thời hạn nợ, kiểm tra đảm bảo nợ vay phù hợp
Trang 21- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
Tùy theo mục đích sử dụng vốn vay của doanh nghiệp mà có thể phân loại tín dụng ngân hàng như sau:
+ Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng nhà ở, đất đai hay bất động sản trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp, dịch vụ
+ Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp, dịch vụ
+ Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để doanh nghiệp trang trải các
chi phí sản xuất như giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu
+ Cho các định chế tài chính vay: như cho các ngân hàng, công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác vay
+ Cho thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm thuê vận hành
và thuê tài chính Tài sản cho thuê thường là bất động sản và động sản chủ yếu là máy móc, thiết bị
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
Trong tín dụng ngân hàng, hiện nay có nhiều cách cho vay, có thể cho vay trực tiếp hoặc cho vay gián tiếp như sau:
+ Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho doanh nghiệp có
nhu cầu và doanh nghiệp trực tiếp trả nợ vay ngân hàng
+ Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước, chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng, máy móc công nghiệp, trả góp hay mua nợ
Trang 22d Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp chỉ sử dụng vốn tự có để hoạt động kinh doanh thì sẽ không những hạn chế khả năng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp mà còn làm gia tăng giá vốn của doanh nghiệp đó Do vậy, để sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn, doanh nghiệp thực hiện vay vốn ngân hàng Đối với doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng có các vai trò sau:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn khác để sản xuất kinh doanh
Tín dụng ngân hàng là hình thức tốt nhất để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động hoặc sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp bởi tính linh hoạt của nó Tín dụng ngân hàng không chỉ là nguồn vốn bổ sung mà đã dần trở thành một nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Tín dụng ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp không bỏ lỡ thời vụ làm ăn, đáp ứng nhu cầu vốn cho việc mở rộng đầu tư, sản xuất kinh doanh, giúp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên liên tục và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn
xã hội
Thứ hai, TDNH giúp cho DN nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
Bản chất của tín dụng ngân hàng không phải là hình thức cấp phát vốn
mà là hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn quy định Do đó, các doanh nghiệp sau khi sử dụng vốn vay trong sản xuất kinh doanh không chỉ cần thu hồi vốn là đủ mà còn phải tìm ra nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng thì doanh nghiệp mới có thể trả được nợ và thu lãi
Thêm vào đó, trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng, ngân hàng
sẽ thực hiện quy trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát trong và sau khi cho vay Thông qua việc làm đó, ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn của
Trang 23doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện đúng những điều khoản như đã thỏa thuận trong hợp đồng, sử dụng vốn đúng mục đích để đem lại hiệu quả cao nhất
Một yếu tố khác là do quyền lợi của ngân hàng luôn gắn chặt với quyền lợi của khách hàng nên ngân hàng sẽ sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp để tháo gỡ những khó khăn trong phạm vi cho phép, tư vấn cho doanh nghiệp về các vấn đề liên quan, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Thứ ba, tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn vay tối ưu của doanh nghiệp
Thông thường các doanh nghiệp lợi dụng hiệu quả của đòn bẩy tài chính
để tạo hiệu quả trong việc sử dụng vốn Một trong các nguồn vốn được sử dụng nhiều nhất và hiệu quả nhất là nguồn vốn vay ngân hàng
1.1.3 Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp
a Rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp
Rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp là rủi ro
về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc do doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp thường gặp là:
+ Rủi ro lựa chọn: rủi ro này thường xảy ra do thông tin bất cân xứng Khi thẩm định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp về nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo thì thông tin của khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng quyết định cho vay
Tuy nhiên, thông tin được lấy từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp (nhất là những doanh nghiệp không qua kiểm toán) đôi khi không chính xác, làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả đánh giá tình hình tài chính hiện tại
Trang 24của doanh nghiệp Thông tin về người quản lý doanh nghiệp thì thường khó đầy đủ và rõ ràng Nguồn trả nợ của doanh nghiệp là thu nhập trong tương lai, nhưng nếu xảy ra những sự cố bất ngờ làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp rất khó có thể hoàn trả nợ được cho ngân hàng
+ Rủi ro nghiệp vụ: Do đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp là quy
mô khoản vay thường lớn nên quá trình thẩm định đòi hỏi sự chuyên nghiệp cũng như sự thận trọng của người làm công tác tín dụng Tuy nhiên, trên thực
tế, người làm công tác tín dụng còn thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức chuyên môn hoặc vì lợi ích cá nhân mà thông đồng với khách hàng nên đã thẩm định không chính xác tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp cũng như khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và do đó gây ra những tổn thất cho ngân hàng
Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín là tốt hay xấu mà không có tài sản bảo đảm + Rủi ro tập trung: xảy ra trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một doanh nghiệp, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế
+ Rủi ro nội tại: Rủi ro này xảy ra khi một số doanh nghiệp biểu hiện đặc điểm quy mô nhỏ, phân tán đi kèm với thủ công lạc hậu; khả năng lập dự án, thuyết minh phương án kinh doanh chưa tốt; khả năng tài chính và quản lý kinh doanh còn thấp
+ Rủi ro của các khoản vay dài hạn: Hoạt động của doanh nghiệp thường lâu dài, các khoản vay dài hạn của doanh nghiệp sẽ phát sinh rủi ro do sự tác động của nhiều yếu tố như: sự thay đổi xu hướng kinh doanh ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động, sự thay đổi người quản lý công ty, môi trường kinh doanh,…
Trang 25b Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp
Hoạt động tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong những năm gần đây có nhiều biến động Sau thời kỳ tăng trưởng nóng lại đến thời kỳ suy giảm, đi kèm theo đó là chất lượng tín dụng bị giảm sút mà biểu hiện của nó là nợ xấu không ngừng gia tăng Nợ xấu trước hết làm xấu đi hình ảnh của Ngân hàng, qua đó làm giảm lòng tin của người gửi tiền, đồng thời về mặt kinh tế đã làm cho lợi nhuận của ngân hàng và lợi ích của cổ đông
bị giảm đi nhanh chóng Ở phạm vi nền kinh tế quốc gia, nợ xấu làm cho các doanh nghiệp ngày càng khó tiếp cận vốn vay, nền kinh tế kém phát triển Nguyên nhân của vấn đề trên không những xuất phát từ cả các yếu tố bên ngoài ngân hàng (do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do sự biến động của kinh tế vĩ mô) mà còn xuất phát cả từ chính bên trong ngân hàng Đa số nợ xấu phát sinh là do công tác quản trị rủi ro tín dụng chưa được thực hiện tốt
Do vậy, ngân hàng cần phải có những giải pháp hữu hiệu để quản trị rủi
ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nói riêng Trong
đó, một giải pháp quan trọng, mang nhiều lợi ích cho hoạt động đánh giá doanh nghiệp và quản trị rủi ro là công tác XHTDNB khách hàng doanh
Trang 26tín nhiệm của một công ty, một chứng khoán hay một nghĩa vụ” Trong khi
đó, theo tổ chức quốc tế của các hội đồng chứng khoán (IOSCO) và Ủy ban của các nhà lập pháp về chứng khoán Châu Âu (CESR), “Xếp hạng tín dụng
là ý kiến về mức độ tín nhiệm đối với một tổ chức, một cam kết tín dụng, một chứng khoán nợ hoặc một chứng khoán giống như chứng khoán nợ hoặc về các tổ chức phát hành các khoản nợ vừa kể, được biểu hiệu bằng một hệ thống xếp hạng thống nhất và có trật tự xếp hạng tín dụng không phải là những khuyến cáo của tổ chức xếp hạng về việc mua, bán hoặc nắm giữ các chứng khoán”
Trong khi các định nghĩa trên đưa ra một bức tranh toàn diện về xếp hạng tín dụng, có một số định nghĩa khác về xếp hạng tín dụng do chính các
tổ chức xếp hạng đưa ra Chẳng hạn, Standard and Poor’s cho rằng “Xếp hạng tín dụng của Standard and Poor’s là ý kiến về mức độ tín nhiệm tổng quát của một tổ chức phát hành nợ, hoặc là mức độ tín nhiệm của tổ chức phát hành nợ liên quan đến một chứng khoán nợ cụ thể hoặc các khoản cam kết tài chính khác, dựa trên các yếu tố rủi ro liên quan” Trong khi đó, theo công ty Moody,
“Xếp hạng tín dụng của Moody là những ý kiến đánh giá độc lập về RRTD
Đó là đánh giá về khả năng và sự thiện chí của một tổ chức phát hành các trái phiếu có thu nhập cố định về việc thực hiện đầy đủ và dúng hạn các khoản thanh toán gắn liền với chứng khoán phát hành.” Còn theo Fitch, “Các xếp hạng tín dụng cung cấp một ý kiến về khả năng tương đối về khả năng thực hiện các cam kết tài chính của một tổ chức… Chúng được các nhà đầu tư sử dụng như là những dấu hiệu về khả năng thu hồi các khoản theo các thỏa thuận khi đầu tư… Tùy theo cách sử dụng, các xếp hạng tín dụng đưa ra các
“thước đo tham chiếu” về xác suất RRTD cũng như kỳ vọng tương đối về tổn thất do vỡ nợ (Loss given default)
Trang 27Mặc dù có nhiều điểm khác nhau, tất cả các định nghĩa của ba tổ chức xếp hạng lớn đều có một điểm chung là xếp hạng tín dụng là một ý kiến về việc liệu một bên đi vay sẽ thanh toán các nghĩa vụ tài chính đúng hạn và đầy
đủ Sợi chỉ xuyên suốt các khái niệm trên là xếp hạng tín dụng liên quan đến RRTD và đặt tổ chức hoặc các chứng khoán được xếp hạng lên một hệ thống các thang đo, từ mức có khả năng vỡ nợ thấp nhất đến mức có khả năng vỡ nợ cao nhất
Bên cạnh việc xếp hạng tín dụng thường do các tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp, có uy tín thực hiện, việc xếp hạng tín dụng cũng có thể do chính bên cho vay tiến hành, gọi là xếp hạng tín dụng nội bộ Trong bối cảnh này xếp hạng tín dụng được hiểu là đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng có thể thanh toán gốc và lãi vay đúng hạn của tổ chức, DN được xếp hạng Khác với kết quả xếp hạng của các tổ chức xếp hạng tín dụng chuyên nghiệp, kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ được đơn vị xếp hạng sử dụng riêng, không được công bố công khai và không thể so sánh ngang tầm về chất lượng với kết quả của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập
Tuy khác nhau về khái niệm, chất lượng của kết quả xếp hạng, bản chất xếp hạng tín dụng nội bộ là đo lường mức độ RRTD Từ đó, giúp cho các NHTM chủ động trong việc ngăn ngừa, kiểm soát rủi ro có thể phát sinh và đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp
b Mục đích xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại
- Đo lường rủi ro tín dụng:
+ Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro Có thể nói rủi ro được xem như là yếu tố không tách rời với quá trình hoạt động của NHTM trên thị trường Rủi ro
Trang 28trong hoạt động tín dụng còn được nhân lên gấp đôi, bởi vì ngân hàng không những phải hứng chịu các rủi ro do các nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra
+ Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động cho vay của ngân hàng Việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm của ngân hàng Các ngân hàng luôn tìm cực đại lợi nhuận qua việc tìm kiếm những lợi tức cao nhất có thể có ở các món cho vay, đồng thời cố gắng giảm thiểu rủi ro liên quan đến các hoạt động cho vay như: sàng lọc và giám sát khách hàng vay, thiết lập mối quan hệ khách hàng lâu dài, quy định các hạn mức tín dụng, tài sản thế chấp
+ Hoạt động kinh doanh tiền tệ ngày càng khó khăn, rủi ro của nó ngày một lớn, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế các rủi ro để bảo đảm an toàn cho toàn hệ thống NHTM Trong xu thế đó, XHTDNB là một kỹ thuật ngày càng được chú ý rộng rãi trong hoạt động tín dụng ngân hàng Vì kết quả XHTDNB đã cho thấy phần nào mức độ rủi ro của khách hàng vay, kết quả xếp hạng càng thấp thì rủi ro cho vay càng lớn
- Lựa chọn khách hàng cho vay: Lựa chọn khách hàng cho vay luôn là
một quyết định quan trọng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Khi đưa
ra quyết định lựa chọn không phù hợp có thể dẫn đến rủi ro rất lớn do khách hàng không trả được nợ Do đó, hầu hết các NHTM căn cứ vào kết quả XHTDNB để lựa chọn khách hàng đặt quan hệ Chỉ những khách hàng có kết quả xếp hạng từ một mức rủi ro nào đó ngân hàng mới xem xét cho vay
- Hỗ trợ phân loại nợ và trích lập dự phòng xử lỷ rủi ro: Theo quy định
của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì các tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống XHTDNB để hỗ trợ cho việc phân loại nợ, quản lý chất lượng tín dụng phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế của tổ chức tín dụng Việc
hỗ trợ của hệ thống tín dụng nội bộ được thể hiện ở chỗ kết quả XHTDNB
Trang 29khách hàng của hệ thống XHTDNB sẽ làm căn cứ để tính toán và trích lập dự phòng rủi ro
- Xây dựng và thực thi chính sách khách hàng có phân biệt: Chính sách
khách hàng của ngân hàng sẽ được áp dụng cho từng nhóm khách hàng dựa trên kết quả xếp hạng Chính sách khách hàng bao gồm:
+ Chính sách cấp tín dụng: Đảm bảo cam kết cho vay theo mức độ xếp hạng và cung cấp dịch vụ khách hàng hoặc cho vay có tài sản bảo đảm hoặc không bảo đảm
+ Chính sách lãi suất: Áp dụng nhiều mức khác nhau dựa trên mức xếp hạng của doanh nghiệp
+ Chính sách tài sản bảo đảm tiền vay: Hệ số cho vay trên tài sản bảo đảm theo loại xếp hạng
+ Chính sách các loại phí: Những khách hàng có mức độ rủi ro thấp sẽ được ngân hàng áp dụng các loại phí thấp hơn so với các khách hàng có độ rủi
ro cao hơn
+ Thiết lập các điều khoản hạn chế trong hợp đồng tín dụng
c Nguyên tắc xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại
Chất lượng của quyết định tín dụng phụ thuộc vào từng đối tượng vay hoặc từng giao dịch, đối tượng xếp hạng có thể là từng đối tượng khách hàng hoặc từng khoản vay hoặc kết hợp cả hai
Việc xếp hạng tín dụng có thể là theo phương thức từng thời điểm (point – in-time) hoặc thông qua phương pháp toàn bộ chu kỳ (through the Cycle)
Về cơ bản phương pháp từng thời điểm dùng để xếp hạng đối tượng đi vay căn cứ vào các điều kiện hiện hành tại thời điểm xếp hạng Ngược lại nếu dùng phương pháp chu kỳ người ta chủ yếu tính đến khả năng xuất hiện sự
Trang 30kiện xấu vì các điều kiện dài hạn và các chiến lược tài chính có thể làm thay đổi hạng tín dụng
Trong quá trình xếp hạng, có rất nhiều nhân tố rủi ro được xem xét và đánh giá bao gồm: rủi ro tài chính, rủi ro công nghiệp (hay rủi ro kinh doanh), rủi ro quản trị và các yếu tố rủi ro khác Rủi ro tài chính được thể hiện bằng nhiều thước đo dưới dạng các hệ số tài chính, được tính toán từ các báo cáo tài chính của đối tượng được xếp hạng Rủi ro công nghiệp ám chỉ những nhân tố rủi ro gắn với ngành công nghệp mà các DN hoạt động trong ngành
đó bị tác động như: mức độ cạnh tranh, công nghệ, nhãn hiệu… Rủi ro quản trị là loại rủi ro gắn liền với kinh nghiệm chuyên môn của quản lý, các nguyên tắc tài chính của bên đi vay
Hầu hết các mô hình xếp hạng tín dụng đều được sử dụng cả thông tin định tính, thông tin định lượng và đều có tiêu chuẩn để so sánh Trong khi hầu hết các thông tin định lượng là số liệu trên các báo cáo tài chính, thông tin định tính có thể là các yếu tố thuộc về quản lý, ngành công nghiệp hoặc thông tin về các giải trình tài chính… Trên thực tế quyết định xếp hạng cuối cùng không dựa vào một mô hình cứng nhắc nào mà còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và nhiều yếu tố khác
Việc xếp hạng tín dụng cần có các thang đo cụ thể, chia thành nhiều cấp
độ để phân loại rủi ro từ thấp đến cao vì đây là công cụ hữu hiệu để phản ánh
sự khác nhau về mức độ rủi ro của toàn bộ danh mục tín dụng, giúp ngân hàng định giá các khoản cho vay, tạo điều kiện quản trị RRTD và giúp mô hình hóa rủi ro của mỗi danh mục
Kết quả xếp hạng tín dụng cần phải được đánh giá lại định kỳ và trong suốt quá trình cho vay Việc giám sát được thực hiện trên nhiều khía cạnh: người giám sát là người cấp tín dụng, cấp mới các khoản vay, định kỳ hoặc
Trang 31bất thường… Trong một số trường hợp, kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ được đối chiếu với kết quả xếp hạng của các tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp
1.2.2 Các mô hình xếp hạng tín dụng
Về lý thuyết, có nhiều mô hình đo lường rủi ro tín dụng Các mô hình được phân loại thành các mô hình định tính và mô hình định lượng Các mô hình định tính đo lường rủi ro tín dụng bao gồm các mô hình phổ biến 6Cs (Character; Capacity; Cash; Collateral; Condition; Control) hoặc mô hình PARSE Các mô hình định lượng như: mô hình điểm số tín dụng (Credit Score Models), trong đó, hai mô hình phổ biến là mô hình xác suất tuyến tính
và mô hình trọng số tuyến tính Ngoài những mô hình đã được áp dụng phổ biến ở Việt Nam, trên thế giới đã xuất hiện nhiều mô hình đo lường rủi ro tín dụng hướng tới các cách tiếp cận mới hơn như:
- Mô hình cấu trúc kỳ hạn của rủi ro (The term structure of credit risk approach)
- Mô hình tỷ lệ vỡ nợ quá khứ (Mortality rate derivation of credit risk)
- Mô hình tỷ lệ sinh lời trên vốn điều chỉnh theo mức rủi ro (RAROC Models)
- Mô hình quyền chọn của rủi ro vỡ nợ (Option models of default risk)
Đối chiếu với các mô hình đo lường rủi ro tín dụng với thực tế XHTDNB tại Việt Nam, có thể thấy các hệ thống XHTDNB ở Việt Nam đều
sử dụng hệ thống chấm điểm các tiêu chí, tức là về bản chất sử dụng mô hình
điểm số tín dụng để đo lường rủi ro tín dụng
Đặc trưng chủ yếu của các mô hình điểm số tín dụng là “sử dụng các đặc điểm quan sát được của người vay để tính ra một mức điểm biểu hiện được xác suất vỡ nợ của người vay hoặc để sắp xếp người vay thành các hạng với mức rủi ro vỡ nợ khác nhau”
Trang 32Có hai mô hình điểm số tín dụng cơ bản là mô hình xác suất tuyến tính
và mô hình trọng số tuyến tính của Altman
- Mô hình xác suất tuyến tính (Linear Probability Model) được sử dụng trong đo lường rủi ro tín dụng là mô hình dựa trên các dữ liệu quá khứ, tính hệ
số tương quan ( j) giữa các biến nguyên nhân j với rủi ro vỡ nợ của khoản cho vay I (Xij) Mô hình này được biểu hiện như sau:
Gọi Zi là xác suất vỡ nợ của người vay thứ i, ta có:
Zi = j xX ij + error
- Mô hình trọng số tuyến tính (Linear Discriminant Models) có mục đích
là phân chia người vay thành nhóm có rủi ro vỡ nợ cao và nhóm có rủi ro vỡ
nợ thấp Trong các mô hình trọng số tuyến tính, hàm trọng số của Altman được sử dụng phổ biến
Hàm trọng số của Altman có dạng như sau:
X3: Tỷ lệ lợi nhuận trước khi trả lãi vay và thuế/Tổng tài sản (Earnings before interest and taxes/total assets ratio)
X4: Tỷ lệ giá trị thị trường của vốn cổ phần/giá trị sổ sách của các khoản
nợ dài hạn (Market value of equity/book value of long term debt ratio)
Các hệ số 1;2 1;4 3;3;… là các trọng số thể hiện tầm quan trọng của các
tỷ lệ X1; X2; X3;… Các trọng số này được xác định trên cơ sở quan sát quá
Trang 33khứ về các khoản cho vay vỡ nợ và những khoản cho vay không có rủi ro Các tỷ lệ Xi được xác định dựa trên các dữ liệu của các thời kỳ gần đây
Về lý thuyết, các mô hình này có mục đích:
- Thiết lập về mặt số lượng các nhân tố quan trọng đối với việc giải thích rủi ro vỡ nợ
- Đánh giá cấp độ hoặc tầm quan trọng tương đối của các nhân tố này
- Hoàn thiện việc định giá rủi ro vỡ nợ
- Cơ sở cho việc sàng lọc người vay
- Tính toán nhu cầu dự trữ cần thiết cho các thiệt hại tín dụng trong tương lai
1.2.3 Nội dung công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là một quá trình được thực hiện từ khâu tổ chức công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp; thu thập và xử lý thông tin; tiến hành xếp hạng và đưa ra kết quả; sử dụng kết quả; đến khâu kiểm soát, đánh giá và điều chỉnh
Nội dung công tác xếp hạng tín dụng ở các ngân hàng thương mại khác nhau là có khác nhau đôi chút Nhưng tựu chung lại gồm các bước cơ bản như sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện công tác XHTDNB KHDN
a Tổ chức thực hiện công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Nội dung đầu tiên và quan trọng nhất đối với công tác XHTD nội bộ khách hàng doanh nghiệp là việc tổ chức thực hiện công tác xếp hạng, bao gồm ban hành các quy định, quy trình thực hiện theo từng công đoạn, phân
DN
Kiểm soát, đánh giá và điều chỉnh
Tiến hành xếp hạng
và đưa ra kết quả
Thu thập
và xử lý thông tin
Trang 34công thực hiện công tác xếp hạng cho từng cá nhân, đơn vị gắn với từng công đoạn Để thực hiện tốt việc này, ngân hàng phải thực hiện tốt một số nội dung
+ Quy định về quy trình, trình tự thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp Trong đó, quy định rõ trách nhiệm thực hiện cho từng cá nhân, tập thể thực hiện công tác này theo từng khâu, từng bước, từng công đoạn thực hiện
+ Quy định về định kỳ, tần suất thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ + Xây dựng, ban hành hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp với những chỉ tiêu chấm điểm được thiếp lập sẵn có, dùng
để thực hiện chấm điểm, xếp hạng tự động phục vụ khâu chấm điểm, xếp hạng của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp được thực hiện tự động, nhanh chóng, chính xác
+ Rà soát, kiểm tra, đánh giá, cập nhật công tác xếp hạng tín dụng nội bộ: định kỳ tiến hành rà soát, kiểm tra kết quả thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ qua các khâu của quá trình thực hiện các nội dung công tác xếp hạng tín dụng nội bộ
- Đối với các cá nhân, đơn vị được phân công theo từng công đoạn thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ, phải triển khai thực hiện tốt công tác xếp hạng theo từng quy định, quy trình đã được ngân hàng xây dựng và ban hành
Trang 35b Thu thập, sàng lọc và lưu trữ thông tin
Thông thường, các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam thực hiện công tác này định kỳ một quý/lần CBTD tiến hành thu thập thông tin, trong đó các thông tin chủ yếu cần thu thập để phục vụ công tác XHTD nội bộ, gồm:
- Thông tin tài chính:
Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
- Thông tin phi tài chính:
Hồ sơ pháp lý và ngành nghề kinh doanh của khách hàng Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp liên quan đến hoạt động kinh doanh, tài chính, tài sản, khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết của khách hàng Mức độ tín nhiệm của khách hàng trong các giao dịch với ngân hàng và với các ngân hàng khác (bao gồm thời điểm hiện tại và lịch sử) Các nhân tố như: môi trường nội bộ bên trong, môi trường bên ngoài, xu hướng phát triển của khách hàng, triển vọng ngành,… có ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của khách hàng
Để việc thu thập thông tin được khoa học, nhanh, gọn, chính xác, cán bộ ngân hàng cần nắm rõ các chỉ tiêu chấm điểm trong hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với doanh nghiệp mà ngân hàng đang áp dụng, để từ đó hạn chế tối đa việc thu thập dư thừa các thông tin không cần thiết hoặc thiếu thông tin cần thu thập
Sau khi thu thập được thông tin, ngân hàng tiến hành xử lý, sàng lọc, hoàn thiện thông tin sẵn sàng cho việc tính điểm, xếp hạng:
- Thông tin sau khi thu thập, sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá một cách cẩn thận, khoa học để đảm bảo thông tin xác thực, có độ tin cậy cao Chẳng hạn, đối với các thông tin tài chính cần xem xét các khoản mục trên báo cáo tài chính của khách hàng xem có phản ánh đúng tình hình tài chính của khách hàng hay không, Đối với các thông tin phi tài chính phải đảm bảo được cập
Trang 36nhật chính xác và thời điểm thu thập thông tin là gần, sát với thời điểm thực hiện xếp hạng khách hàng
- Sau khi sàng lọc tất cả các thông tin, lựa chọn thông tin, cán bộ ngân hàng tiến hành loại bỏ những thông tin không cần thiết, hoặc thêm vào các thông tin cần bổ sung để đảm bảo cho việc nhập thông tin, dữ liệu vào hệ thống xếp hạng để chấm điểm, xếp hạng khách hàng được nhanh gọn và chính xác
- Sau khi sàng lọc và hoàn thiện, cần đưa thông tin vào lưu trữ khoa học
để làm cơ sở là dữ liệu lịch sử, phục vụ cho các kỳ xếp hạng tiếp theo trong tương lai
so sánh chúng với những tiêu chuẩn đã được xây dựng trong hệ thống xếp hạng cho mỗi loại khách hàng, tương ứng với từng ngành nghề kinh doanh và quy mô của doanh nghiệp để cho điểm từng chỉ tiêu Sau khi tính điểm tổng hợp, xác định được kết quả xếp hạng, sẽ trình duyệt cho người kiểm soát (phụ trách bộ phận phòng tín dụng) để xem xét phê duyệt
- Phê duyệt kết quả xếp hạng: người kiểm soát được phân công căn cứ vào kết quả xếp hạng khách hàng của cán bộ (thông thường là cán bộ tín dụng) được phân công căn cứ vào kết quả xếp hạng khách hàng của cán bộ trình duyệt, sẽ quyết định:
+Phê duyệt kết quả xếp hạng khách hàng (nếu đồng ý)
Trang 37+Từ chối phê duyệt kết quả xếp hạng khách hàng (nếu không đồng ý) và yêu cầu cán bộ chấm điểm, xếp hạng thực hiện lại việc xếp hạng khách hàng đảm bảo chính xác, đúng
d) Sử dụng kết quả xếp hạng
Xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với công tác cấp tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng đối với ngân hàng Do vậy, kết quả xếp hạng sẽ được ngân hàng sử dụng, cụ thể:
- Phục vụ thực hiện chính sách khách hàng, quản lý chất lượng tín dụng:
+ Kết quả xếp hạng khách hàng được sử dụng là một trong các căn cứ để đưa ra quyết định cấp tín dụng và áp dụng các chính sách khách hàng đối với từng nhóm khách hàng tương ứng với từng mức điểm xếp hạng Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ giúp cho ngân hàng trong việc kiểm soát và đo lường được mức độ rủi ro của danh mục tín dụng
+ Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ giúp cho ngân hàng xác định một cách hợp lý, chính xác nhất chất lượng tín dụng và mức độ rủi ro (tổn thất) theo từng dòng sản phẩm hoặc lĩnh vực hay ngành kinh tế Phân tích được lợi nhuận của các dòng sản phẩm và đây là điều kiện quan trọng để xây dựng chiến lược trong hoạt động tín dụng đạt chất lượng cao
+ Căn cứ vào kết quả xếp hạng khách hàng, các quy trình tín dụng và chính sách khách hàng (xác định lãi suất, thủ tục tín dụng,….) sẽ được xây dựng một cách đồng bộ, rõ ràng, chi tiết, cụ thể, nhờ đó mà chi phí quản lý cũng sẽ được tiết kiệm hơn
- Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:
+ Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ là căn cứ để ngân hàng thực hiện phân loại nợ (tài sản tín dụng) theo quy định
+ Ngân hàng căn cứ vào kết quả phân loại nợ để tính toán và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Trang 38+ Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ cũng sẽ trợ giúp cho ngân hàng tính toán trích lập dự phòng rủi ro theo chuẩn mực kế toán quốc tế, phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
- Căn cứ để đánh giá, khen thưởng: công tác khen thưởng đối với từng
cán bộ ngân hàng, các bộ phận làm công tác tín dụng nói chung sẽ được ngân hàng ghi nhận chính xác hơn thông qua việc phân tích, đánh giá chất lượng tín dụng của từng khách hàng do từng cán bộ quản lý cho vay
e) Kiểm tra đánh giá, cập nhật công tác xếp hạng
Công tác xếp hạng sẽ được thường xuyên kiểm tra và đánh giá trên phạm
vi toàn ngân hàng đối với toàn bộ khách hàng được xếp hạng, để có những phát hiện và đề xuất chỉnh sửa kịp thời những điểm không phù hợp, chưa phù hợp của công tác xếp hạng, hệ thống xếp hạng, đảm bảo tính khách quan và chính xác của công tác xếp hạng Các nội dung kiểm tra và đánh giá bao gồm: Phân tích đánh giá toàn danh mục tín dụng để đưa ra các nhận định về những vấn đề không hợp lý của kết quả xếp hạng
Thường xuyên có những kiểm tra trên cơ sở chọn mẫu khách quan để đánh giá, đo lường chất lượng xếp hạng Những phân tích này dựa trên những thông tin tổng hợp toàn ngân hàng, cũng như những thông tin phân tích về các
Trang 39a Khối lượng công tác xếp hạng tín dụng nội bộ
Kết quả về khối lượng có thể được đánh giá qua các tiêu chí sau:
- Số doanh nghiệp được xếp hạng
- Tỷ lệ số doanh nghiệp được xếp hạng/Tổng số khách hàng doanh nghiệp
- Kỳ xếp hạng/số lần xếp hạng doanh nghiệp trong một năm
b Chất lượng của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ
Được đánh giá qua mức độ chính xác của kết quả xếp hạng Để đánh giá mức độ chính xác của kết quả XHTDNB phải so sánh, đối chiếu kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ của từng nhóm khách hàng được xếp hạng với mức độ rủi ro cụ thể trong thực tế của từng nhóm khách hàng được xếp hạng
c Mức độ sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ phục vụ cho hoạt động quản trị tín dụng tại ngân hàng thương mại
Tiêu chí này đánh giá ngân hàng đã sử dụng kết quả XHTDNB của ngân hàng như thế nào? Ngân hàng đã sử dụng kết quả XHTDNB cho những nội dung gì? Mức độ thiết thực của kết quả XHTDNB đối với hoạt động quản trị tín dụng của ngân hàng như thế nào?
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
1.3.1 Nhân tố bên trong ngân hàng
- Hệ thống chỉ tiêu xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Hệ thống chỉ tiêu xếp hạng tín dụng doanh nghiệp có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả xếp hạng doanh nghiệp Trong việc xây dựng và lựa chọn hệ thống chỉ tiêu xếp hạng, các ngân hàng phải cân nhắc giữa chi phí về thời gian, nguồn lực, nguồn số liệu với mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu này đối với kết quả xếp hạng tín dụng
Trang 40- Các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Kết quả xếp hạng tín dụng doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng tín dụng Nếu các tiêu chuẩn đánh giá càng rõ ràng,
có hướng dẫn chi tiết, cụ thể thì kết quả xếp hạng tín dụng doanh nghiệp càng chính xác Khi xác định các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng tín dụng, các ngân hàng cũng nên cân nhắc mức độ hợp lý giữa các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng tín dụng và mục đích sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng doanh nghiệp mà ngân hàng theo đuổi
- Các quy định và chính sách của ngân hàng liên quan đến công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Để thực hiện tốt công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp thì ngân hàng cần phải có các quy định và chính sách liên quan đến công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp đồng bộ, thông suốt, phù hợp với thực tiễn và với những quy định do Nhà nước ban hành Một hệ thống cơ chế chính sách thông suốt, đồng bộ sẽ giúp cho việc thực hiện công tác xếp hạng tín dụng tại các chi nhánh dễ dàng hơn
- Năng lực và trình độ của CBTD
CBTD là người trực tiếp thực hiện XHTD nội bộ, do đó trình độ CBTD
là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác này Nếu CBTD có trình độ chuyên môn vững, khả năng hiểu biết về các chỉ tiêu tài chính cũng như phi tài chính để đánh giá doanh nghiệp chính xác, kinh nghiệm trong phân tích số liệu từ doanh nghiệp,… thì kết quả xếp hạng sẽ rất đáng tin cậy Bên cạnh đó, ngoài đòi hỏi chuyên môn vững, CBTD còn cần phải có cả đạo đức nghề nghiệp để có được kết quả XHTD tốt nhất
- Mức độ hiện đại hóa công nghệ của NHTM
Công nghệ sử dụng hiện đại, đồng bộ và đạt tiêu chuẩn hay không, rõ ràng sẽ góp phần quyết định đến chất lượng công tác xếp hạng tín dụng nội