1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các thuốc chống nấm dùng đường toàn thân (bài dịch)

4 513 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 419,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2/ Các azol: như ketoconazol, fluconazol là những dẫn chất imidazol, itraconazol, varicona- zol, voriconazol, posaconazol là những dẫn chất của triazol, đều được dùng đường toàn thân.. N

Trang 1

THÒNG TIN THUỐC

CÁC THUỐC CHÔNG NẤM DÙNG ĐƯỜNG TOÀN THÂN

Actualités Pharmaceutiques 2009, 48(483): 49-52

Đàm Trung Bảo lược dịch

Bệnh nấm nguyên nhân do vi nấm gây ra,

gặp ở ngoài da, ở tóc, móng, ở niêm mạc bộ

phận sinh dục, nhưng cũng có thể ở mức độ toàn

thân

ở những bệnh nhân không suy giảm miễn

dịch, có bệnh nấm khu trú, ngoài da, thì một liệu

pháp điều trị tại chỗ thường là đủ Nhưng với

một bệnh nhân suy giảm miễn dịch (ghép tạng,

nhiễm HIV/AIDS, nghiện ma túy, dùng corticos­

teroid lâu ngày, hay đái tháo đường, có bệnh về

huyết học ) nhiều khi bệnh nấm rất nghiêm

trọng: gây nhiễm nấm sâu trong cơ thể, nhiễm

toàn thân, đòi hỏi phải dùng một liệu pháp điều

trị toàn thân (tiêm hay uống)

Kê’ từ sau khi xuất hiện amphotericin B

(1955), các nhà sản xuất đã đưa ra thị trường

nhiều thuốc mới, có mối tương quan lợi ích /

nguy cơ ngày càng được cải thiện rõ rệt

Các họ thuốc chống nấm dùng đường

toàn thân

1/ Họ polyen: gồm có amphotericin B và nys­

tatin Hai chất này là những kháng sinh macrolid,

trong phân tử có phần mang các dây nối đôi liên

hợp (phần kị nước) và một vòng lacton (phần

thân nước) Chính cực thân nước này mang lại

hoạt tính chống nấm Khi dùng theo đường

uống, amphotericin B được hấp thu rất ít ở dạ

dày và ruột, do đó không có tác dụng trong điều

trị nấm toàn thân Muốn có tác dụng toàn thân,

cần phải dùng theo đường tiêm Dạng thuốc tiêm

bình thưởng giá rẻ, nhưng có độc tính cao, đặc

biệt với thận Dạng liposom của amphotericin B

được dung nạp tốt hơn, nhưng giá thành khá

cao

2/ Các azol: như ketoconazol, fluconazol là

những dẫn chất imidazol, itraconazol, varicona-

zol, voriconazol, posaconazol là những dẫn chất

của triazol, đều được dùng đường toàn thân

3/ Các allylamin: như terbinafin

Cơ chế tác dụng của 3 họ thuốc này đều giống nhau thông qua ức chế sự sinh tổng hợp ergosterol, một thành phần cấu thành màng tế bào nấm với tế bào động vật, cholesterol là một thành phần của màng tế bào, được hình thành từ acetyl CoA qua một chuỗi phản ứng, thì thành phần tương tự với cholesterol trong màng tế bào nấm là ergosterol cũng được tạo nên từ acetyl CoA

Sơ đồ bên thể hiện sơ lược chuỗi phản ứng (sinh cholesterol ở động vật và ergosterol ở nấm)

và các đích tác dụng của mỗi họ trong 3 họ thuốc nói trên

Ngoài các chất trong 3 họ thuốc nói trên, còn

có caspofungin (họ Echinocandin) không có tác dụng trên chuỗi phản ứng tổng hợp ergosterol từ acetyl-CoA, mà có tác dụng ức chế enzym beta (1-3)D glucan synthetase, là enzym tham gia hỗn hỢp beta (1-3)D glucan, một trong những thành phần chủ yếu của lớp vỏ ngoài của nhiều loại nấm

Phổ kháng nấm

Đa số các thuốc kháng nấm dùng đường toàn

thân có tác dụng trong những bệnh nhiễm Can­ dida Amphotericin B có phổ tác dụng rộng, đặc

biệt trên những nấm men và những loại nấm sợi

như Candida, Blastomyces, Histoplasma capsula­

tum và Aspergillus, còn griseofulvin tác dụng chỉ

hạn chẽ ở các nãm da (như microsorum, epider- mophyton và trichophyton) Terbinafin cũng có tác dụng trên nấm da và cũng tác dụng trên nấm

men loại Candida hay Pityrosporum, và một số

nấm sỢi và nấm lưỡng hình Chất 5-fluorocytosin

đặc biệt có tác dụng trên các loại nấm men Can­

dida, Aspergillus, Blastomyces, Histoplasma, Coc- cidioides, Trichophyton, Cry'ptococcus neofor- mans Trong đó mỗi dẫn chất lại đặc biệt tác

dụng mạnh vào một chủng, như posaconazol tác

Trang 2

Tạp chí Nghiên cứu dược và Thông tin thuốc I 1/2010

Acetyl CoA I Hydroxy methyl glutaryl CoA Acid mevalonic Squalen Squalen epoxidase ^ <—

2,3 -oxydosqualen

I

La nosterol Demethylase (Syt Puso) ^

•*-Demethyl lanosterol

Các allylamin (terbinofin)

Các allylamin (terbinofin)

Desmosterol

Cholesterol

Màng tế bào động vật

dụng mạnh trên loại nấm fusariose Chất caspo-

fungin tác dụng trên nấm Candida (bao gồm cả

c krusei và glabrata) và một số nấm sỢi

(,Aspergillus), nhưng không tác dụng trên Crypto-

coccus.

Kháng thuốc và cơ chế kháng thuốc

Đối với amphotericin B, nấm sẽ kháng thuốc

thông qua việc giảm, thậm chí làm mất đi ergos-

terol trong màng tế bào, và có thể có sự thay thế

ergosterol bằng các sterol khác Đối với các azol

thì sự kháng thuốc do tăng cường tạo enzym 14-

alpha demethylase có cấu trúc thay đối ở một

điểm, không làm giảm hoạt tính enzym, nhưng

làm giảm ái lực cúa các azol với enzym này Đối

với một số nấm, đặc biệt các nấm men, sự kháng

các azol là do các chất vận chuyển azol từ trong

tế bào ra bên ngoài (còn gọi là bơm azol CRD

hay MRD) được hoạt hóa Còn sự kháng 5- fluro-

cytosin là do giảm tính thấm của màng, không

cho thuốc xâm nhập vào trong tế bào, hoặc do

có sự thay đổi trong quá trình chuyển hóa thuốc

bên trong tế bào

Chì định

Amphotericin B được chỉ định trong những

bệnh nhiễm nấm sâu như nhiễm Candida (đường

tiêu hóa), nhiễm Cryptococcus, Aspergillus, các

Các polyen (amphotericin B)

Fecosterol

ị"*”

Ergosterol

Màng tế bào nấm bệnh nhiễm nấm men, nhiễm nấm sợi xâm nhập

(như các loại nấm Mucorales, nấm Fusarium

v.v )

Amphotericin B dạng phức hợp với lipid được

Ưu tiên sử dụng cho những bệnh nấm sâu, khi bệnh nhân bị suy thận, hoặc khi không dung nạp với dạng bào chế thông thường, hoặc khi các dạng bào chế bình thường không có tác dụng Dạng phức hợp với lipid cũng còn cần thiết khi kết hợp với các thuốc có tác dụng độc với thận khác nhưciclosporin, kháng sinh aminosid 5-fluorocytosin bao giờ cũng phải dùng phối hợp với amphotericin B hoặc với fluconazol trong

nhiễm nấm Candida toàn thân, đặc biệt khi

nhỉễm nấm xương khớp, màng não, trong những

bệnh nhiễm nấm Cryptococcus ở thần kinh,

màng não

Griseofulvin đưực giới hạn chỉ định trong những bệnh nấm ngoài da, nấm tóc hay nấm ở móng chân, móng tay

Terbinafin chỉ dùng trong bệnh nấm móng chân, tay, nấm da vùng không có lông, tóc, trong bệnh dày lớp sừng bàn tay - bàn chân, hăm ở kẽ

(ngón tay, ngón chân), trong bệnh Candida ngoài

da

Trang 3

Tạp chí Nghiên cứu dược và Thông tin thuôc I Số 1/2010

Fluconazol dùng trong nhiễm nấm Candida ở

tai, họng, thực quản, ở sâu toàn thân và nhiễm

Cryptococcus.

Caspofungin được khuyến cáo dùng trong

nhiễm Candida, Aspergillus nặng ở những bệnh

nhân kháng với amphotericin B, itraconazol

Chống chỉ định

Trừ amphotericin B và nystatin do ít hấp thu

qua đường tiêu hóa nên ít gây các tác dụng phụ

toàn thân khi dùng qua đường uống, các thuốc

khác đều có những chống chỉ định quan trọng

Griseofulvin bị chống chỉ định khi quá mẫn với

thuốc, hay trong trường hợp lupus ban đỏ, bệnh

nhân rối loạn chuyển hóa porphyrin

Terbinafin chống chỉ định khi quá mẫn với

thuốc hoặc khi suy gan hay suy thận nặng

Phụ nữ mang thai và cho con bú

Chỉ dùng amphotericin B cho phụ nữ mang

thai khi thật cần thiết Các thuốc azol có tiềm

năng gây quái thai, nên chống chỉ định đối với

phụ nữ mang thai Cũng như vậy, griseofulvin dễ

dàng qua nhau thai và có khả năng gây dị tật,

nên không dùng cho phụ nữ mang thai Các phụ

nữ đang ở tuổi sinh sản phải có biện pháp tránh

thai có hiệu quả khi dùng thuốc này

Terbinafin dễ bài tiết qua sữa, nên không

dùng cho phụ nữ đang cho con bú

Tác dụng không mong muốn

Có thể xảy ra những biến cổ không dung nạp

(quá mẫn cảm) nặng ngay sau khi dùng thuốc,

biểu hiện: mày đay kích thước lớn, phù Quincke,

sốc phản vệ kèm tụt huyết áp, khó thở, khó chịu,

tím tái các đầu chi, sốt, rùng mình, có thể gặp ở

đa số các thuốc chống nấm

Có thể xảy ra những biến cố do độc tính của

các thuốc chống nấm Độc tính trên đường tiêu

hóa có thể gặp với các thuốc griseofulvin, các

azol, terbinafin, 5-fluorocytosin và caspofungine

là: buồn nôn, nôn, ỉa chảy, chán ăn, mất vị giác

Độc tính thần kinh: thần kinh thị giác (30%),

lú lẫn, quang độc tính, chóng mặt, nhức đầu:

thấy ở griseofulvin và các azol

Độc tính với gan: tăng men gan, đặc biệt ở

các azol

Độc tính với máu: đặc biệt hay gặp với fluoro- cytosin và terbinafin

Độc tính với thận (phụ thuộc liều): giảm lọc qua tiểu cầu thận, hạ kali máu thấy ở ampho­ tericin B Dạng bào chế phức hdp với lipid của amphotericin B làm giảm các tác dụng phụ, đặc biệt là độc tính với thận

Tương tác thuốc

Các azol dùng đường toàn thân, đặc biệt là ketoconazol và itraconazol gây ức chẽ CYP 3A4,

do đó làm giảm chuyến hóa của nhiều thuốc và làm tăng độc tính của chúng: các statin (làm tăng nguy cơ tiêu cơ vân), các thuốc chõng đông kháng vitamin K, digoxin, ciclosporin, tacrolimus, các sulfamid hạ đường huyết, các alkaloid của cựa lõa mạch, rifampicin Các thuốc kháng acid làm giảm hấp thu của ketoconazol

Terbinafin gây ức chế CYP 2D6, do đó làm tăng độc tính của các thuốc là cơ chất của enzym này như tramadol, codein, lidocain

Ngược lại, griseofulvin lại gây cảm ứng CYP 3A4, do đó không nên phổi hợp cùng với các thuốc kháng histamin HI không có tác dụng an thần (astemizol, terfenadin), các statin, một số thuốc kháng virus (zidovudin)

Amphotericin B dùng đường tiêm không được dùng cùng với các thuốc hạ kali máu như các thuốc lợi tiểu hạ kali, các thuốc nhuận tràng kích thích, các corticosteroid, tetracosactid , cũng như với các thuốc độc với thận như các thuốc cản quang có chứa iod, các kháng sinh aminosid, các hóa trị liệu dẫn chất của platin hữu cơ, meth- otrexat ở liều cao, một số thuốc kháng virus (như pentamidin) foscarnet, các "ciclovir", ciclosporin, tacrolimus

Một sô' điểm cần chú ỷ trong thực hành

- Amphotericin B là thuốc chống nấm tiêu

chuẩn, có phổ hoạt tính rộng (CandidaAspergil­

lus, Cryptococcus); chỉ dùng theo đường tiêm, có

tác dụng toàn thân, giá rẻ; nhưng có độc tính - đặc biệt quan trọng với thận Thuốc bào chế dưới dạng liposom giúp dung nạp tốt hơn, nhưng

bị hạn chế về giá thành

Trang 4

Tạp chí Nghiên cứu dược và Thông tin thuốc I Số 1/2010

- Fluconazol: tác dụng trên các nấm men

(Candida; Cryptococcus), nhưng không tác dụng

trên các nấm sợi; có thế dùng đường uống hay

đường tiêm, ít độc, giá vừa phải; có vấn đề

kháng thuốc ở một số chủng nấm men (c

glabrata, c krusci).

- Itraconazol tác dụng trên Aspergillus, giá

vừa phải, được dùng qua đường uống, có sự dao

động về hấp thu giữa các cá thế; có tác dụng ức

chế CYP 3A4 nên gây nhiều tương tác thuốc

Voriconazol và posaconazol là các azol chống

viêm có hoạt phô’ rộng, đặc biệt có tác dụng trên

Candida, Aspergillus và các nấm sỢi khác Thuốc

có thể được dùng theo đường tiêm hay uống và

có độc tính thấp Tuy nhiên, cần cảnh giác khi dùng phối hợp với các thuốc khác, do tác dụng

ức chẽ enzym chuyển hóa thuốc, gây nhiều tương tác thuốc bất lợi

- Caspofungin là thuốc kháng nấm có hoạt

phổ rộng, có tác dụng mạnh trên Candida, As-

pergillus và các nấm sợi khác; rất dễ dung nạp,

nhưng lại không có dạng thuốc dùng đường uống và giá cũng khá đắt nên việc sử dụng thuốc này bị hạn chế

HIỆU QUẢ CỦA GLUCOSAMIN TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU XƯƠNG KHỚP

Nguyễn Phương Thúy, Nguyễn Hoàng Anh

1 Nguồn gốc

Glucosamin là một amino - mono - saccharid

có nguồn gốc nội sinh, là một thành phần giúp

tổng hợp glycosaminoglycan cẩu tạo nên mô sụn

trong cơ thể Glucosamin được tổng hợp bởi cơ

thể nhưng khả năng đó giảm đi theo tuổi tác

Glucosamin trên thị trường có nguồn gốc từ vỏ

tôm cua, động vật biến và có 3 dạng glucosamin

dùng trong điều trị là glucosamin Sulfat, glucosa-

min hydrochorid và N-Acetylglucosamin, trong đó

dạng muối Sulfat được cho là có hiệu quả nhất

DƯỢc điển Mỹ 32 có chuyên luận glucosamin Sul­

fat natri clorid [1]

Chondroitin Sulfat là hợp chất hữu cơ thuộc

nhóm mucopolysaccharid hay còn gọi là nhóm

proteoglycan, được cấu tạo bởi chuỗi dài gồm

nhiều đơn vị kết hợp đường và protein Trong cơ

thể, chondroitin sunfat là thành phần tìm thấy ở

sụn khớp, xương, da, giác mạc mắt và thành các

động mạch Đê’ dùng làm thuốc, chondroitin Sul­

fat được lấy từ sụn súc vật là lợn, bò, sụn cá

mập (shark cartilage)

2 Tính hiệu quả trong điêu trị viêm

xương khớp của glucosamin

Glucosamin và các muối của nó được dùng

khá rộng rãi như là các sản phẩm được cấp phép

hoặc chất hỗ trỢ sức khoẻ (health Supplemente)

trong các bệnh viêm xương khớp Trên thị

trường có nhiều chế phẩm kết hợp glucosamin với các thành phần khác như chondroitin, các vitamin, khoáng chất và các dược liệu

Việc glucosamin và các chế phẩm kễt hợp của

nó được sử dụng khá rộng rãi là do trước đây đã

có những nghiên cứu cho rằng sử dụng glucosa- min an toàn và có hiệu quả làm giảm đau và cải thiện chức năng trong bệnh viêm khớp xương mãn tính Tuy vậy, qua các phân tích gộp (phân tích meta) về các nghiên cứu có đối chứng pla- cebo (giả dược) ngẫu nhiên đã kết luận: sở dĩ có nhận định về tác dụng của glucosamin như trên

là do có thiếu sót về phương pháp thiết kế nghiên cứu và đôi khi là sự thiên vị trong công

bố kết quả đã dẫn đến sự thổi phồng về những lợi ích tiềm năng của glucosamin [3], [4]

Từ trước đến nay có nhiều nghiên cứu đưa ra những kết luận trái chiều nhau về tính hiệu quả trong điều trị viêm xương khớp của glucosamin Năm 2007, các nhà khoa học của Đại học Y khoa Boston (Mỹ) đã tiến hành một nghiên cứu để tỉm

lý do khiến cho kết quả của các nghiên cứu về glucosamin lại khác biệt nhau như vậy [5] và họ nhận ra rằng phần lớn các nghiên cứu đưa ra kết quả tích cực về glucosamin được tài trợ bởi các nhà sản xuất các chế phẩm glucosamin, trong khi

đa số các nghiên cứu được các nhà khoa học trung lập tiến hành thì đều không tỉm thấy hiệu quả chữa bệnh của hoạt chất này

Ngày đăng: 17/12/2015, 07:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w