rolid khác ít có khả năng xảy ra vì CYP3A4 ít Tính an toàn của tiotropium - Kết luận của cơ quan quàn lý thực phâm và dược phẩm của Mỹ FDA Đỗ Thu Giang dịch Nguồn: The New England Journ
Trang 1Tạp chí NGHIÊN cứu Dược VÀ THÔNG TIN THUỐC So 3 năm 2010
simvastatin hoặc atorvastatin Cả hai statin này hoặc không tham gia vào quá trình chuyển hoá đều bị chuyển hoá bởi cytochrom P450 3A4 - của pravastatin, fluvastatin và rosuvastatin đồng nhóm bị ức chế bởi clarithromycin và erythromy- thời 2 kháng sinh azithromycin và roxithromycin cin Tương tác giữa các statin khác và các mac- không ức chế CYP3A4
rolid khác ít có khả năng xảy ra vì CYP3A4 ít
Tính an toàn của tiotropium - Kết luận của cơ quan quàn lý thực phâm và dược phẩm của Mỹ (FDA)
Đỗ Thu Giang dịch
Nguồn: The New England Journal of Medicine, 2010, 363;12: 1097 -1099
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
là một trong số các nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu trên toàn thế giới
Năm 2004, Cục quản lý thực phẩm và dược
phẩm Mỹ đã thông qua việc sử dụng tiotropium
giải phóng bằng dụng cụ Handihaler - chế phẩm
giãn phế quản kháng cholinergic tác dụng kéo
dài đầu tiên được sử dụng trong điều trị COPD
Tiotropium được chứng minh có tác dụng giãn
phế quản duy trì trong vòng 24 giờ và làm giảm
mức độ nghiêm trọng của COPD Tuy nhiên mối
lo ngại về tính an toàn của tiotropium đang tăng
lên
Khả năng thuốc làm tăng nguy cơ mắc đột
quỵ được Boehringer Ingelheim - nhà sản xuất
tiotropium - báo cáo lần đầu tới FDA tháng 11
năm 2007 Dữ liệu phân tích gộp từ 29 thử
nghiệm đối chứng có kiểm soát cho thấy sự gia
tăng tỷ lệ đột quỵ ở nhóm sử dụng tiotropium
Tháng 9 năm 2008, Singh và cộng sự công
bố một phân tích gộp gồm 17 thử nghiệm lâm
sàng ngẫu nhiên đánh giá nguy cơ tim mạch liên
quan đến các thuốc kháng cholinergic đường khí
dung Kết quả cho thấy nguy cơ tương đối xảy ra
các biến cố tim mạch ở nhóm sử dụng các thuốc
kháng cholinergic (phối hợp tiotropium Handi-
haler và ipratropium) so với nhóm phối hợp pla
cebo và kiểm soát tích cực là 1,60 (khoảng tin
cậy (Cl) 95%: 1,22-2,10)
Boeringer Ingelheim cũng báo cáo nguy cơ
gia tăng tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân bất kỳ
liên quan đến dạng chế phẩm tiotropium khác
giải phóng bằng dụng cụ Respimat (sản phẩm
chưa được phép lưu hành tại Mỹ) Cả 3 thử
nghiệm lâm sàng đối chứng có kiểm soát tiến
hành với dạng chế phẩm tiotropium Respimat
đều cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ tử vong Trong
các thử nghiệm phối hợp, nguy cơ tử vong trong
quá trình điều trị với liều 5ụg tiotropium Respimat
một lần mỗi ngày so với placebo là 1,7 (khoảng
tin cậy 95%: 1,1-2,8)
Trái với những thử nghiệm trên, thử nghiệm UPLIFT đã không ghi nhân sự gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, tử vong do nguyên nhân tim mạch hoặc tử vong do nguyên nhân bất kỳ khi so sánh tiotropium Handihaler với placebo (xem bảng) UPLIFT là một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng lớn kéo dài 4 năm và công bố kết quả vào cuối năm 2008 Trong thử nghiệm này, dữ liệu về tử vong bao gồm cả tình trạng tử vong của bệnh nhân đã rút khỏi nghiên cứu được thu thập về sau và nguyên nhân tử vong được đánh giá bởi một uỷ ban độc lập Với 17.721 “năm đời bệnh nhân” phơi nhiễm, thử nghiệm UPLIFT có
dữ liệu về tính an toàn cho bệnh nhân mắc COPD lớn gấp 4 lần thử nghiệm giả dược có kiểm soát về tiotropium Handihaler và gấp 2 lần
dữ liệu về tính an toàn chung của tiotropium
Do sự khác biệt về kết quả của thử nghiệm UPLIFT và phân tích gộp của Singh và cộng sự, FDA đã triệu tập một cuộc họp của uỷ ban chuyên gia về vấn đề dị ứng thuốc liên quan đến phổi vào ngày 19/11/2009 để thảo luận về các
dữ liệu liên quan đến nguy cơ tim mạch và tử vong
Trong một cuộc bỏ phiếu lấy ý kiến, hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng dữ liệu của U P LIFT đã xác định thoả đáng các dấu hiệu đột quỵ tiềm tàng và dấu hiệu bệnh tim mạch Các thành viên tham gia đều lưu ý rằng những hạn chế về mặt phương pháp của phân tích gộp của Singh
và cộng sự có thể giải thích cho sự khác nhau giữa 2 nghiên cứu này Điều này bao gồm cả việc lựa chọn thử nghiệm có nguy cơ - giới hạn ở những thử nghiệm có báo cáo về các biến cố tim mạch; sự thiếu đánh giá về thời gian theo dõi bệnh nhân, không xét đến tỷ lệ ngừng thuốc khác nhau trong khi tỷ lệ này cao hơn đang kể ở nhóm bệnh nhân sử dụng giả dược;
(Xem tiếp trang 113)
117
Trang 2Tạp chí NGHIÊN cứu Dược VÀ THÔNG TIN THUỔC Sô' 3 năm 2010
buổi sáng, với một lượng nước cần thiết
- Naftidrofuryl 200mg: uống hai lần trong
ngày vào bữa ăn Nếu uống không kèm nước lúc
đi ngủ có thể gây viêm thực quản do đó luôn
phải uống viên thuốc với một cốc nước to
- Plavix 75mg: Dùng vào giờ cố định (buổi
trưa) trong hay ngoài bữa ăn
- Elisor 40mg: một lần một ngày, tốt nhất vào
chiều tối, trong hay ngoài bữa ăn (với một ít
nước)
- Lopressor lOOmg: uống 1 lần/ngày vào buổi
sáng, với các thức ăn giàu lipid (metoprolol có
tính thân lipid lớn nhất trong các thuốc chẹn
beta)
- Novorapid Flexpen 100 u/ml: Dùng insulin
tác dụng nhanh với mục đích đưa đỉnh cực đại
của nồng độ insuiin cần thiết để kiếm soát đường
huyết sau bữa ăn Dùng ngay trước hay sau bữa
ăn Ở đây thuốc được kê đơn dùng ngay sau bữa
ăn buổi tối
- Novomix Flexpen 30U/ml: cùng với lý do
trên, tiêm ngay trước bữa ăn lót dạ buổi sáng
Các lời khuyên kèm thêm
- Chống tăng cân: hoạt động thể lực đều đặn
là cần thiết: xe đạp, bơi lội, đi bộ (với người bị
viêm động mạch, đi bộ làm cho phát triển những
mạch máu phụ và làm giảm nồng độ choles-
terol) Chế độ ăn uống rất quan trọng: không
cần kiêng, không bỏ bữa, nhưng hạn chế dùng chất béo động vật, ưu tiên dầu thực vật Dùng thịt nạc, cá, tăng lượng rau xanh Chú ý cung cấp đủ đạm và chất xơ Ưu tiên các chất bột lâu hấp thu: thay gạo, khoai tây bằng đậu Hạn chế dùng trứng, phủ tạng động vật Không dùng
đồ uống có đường, bánh kẹo khi đói Giảm muối trong khẩu phần,
- Hạn chế uống rượu: một cốc vang một ngày
là chấp nhận được, nhưng phải uống vào bữa ăn RƯỢu làm tác dụng hạ đường huyết của insulin mạnh và kéo dài thêm Hạn chế dùng cà phê và cam thảo (làm tăng huyết áp) Một ngày uống ít nhất 1,5 lít nước
- Cai thuốc lá: Phải thuyết phục ông T cai thuốc lá Nicotin làm thiếu máu cục bộ ở động mạch Ống T phải lựa chọn: hoặc là thuốc lá, hoặc là đôi chân Cần có biện pháp giúp ông T cai thuốc
- Chăm sóc đôi chân: Thực hiện vệ sinh đôi chân thật tốt và phải theo dõi một cách cẩn thận Cần tiêm vacxin phòng uốn ván
- Tự theo dõi bệnh đái tháo đường: Làm cho bệnh nhân đái tháo đường chủ động chịu trách nhiệm về bệnh của mình, và thay đổi cách ăn uống nếu cần thiết Đối với bệnh nhân đái tháo đường mà tình trạng bệnh ổn định, thỉ đo đường huyết lúc đói và lúc no, mỗi xét nghiệm một lần một tuần lễ là đủ
Tính an toàn của tiotropium (tiếp theo trang 119)
Thiếu thông tin về các biến cố có hại xảy ra ở
bệnh nhân rút khỏi các nghiên cứu trong phân
tích gộp; thiếu dữ liệu về bệnh nhân và thực tế là
phân tích này bao gồm các thử nghiệm về cả
thuốc kháng cholinergic tác dụng ngắn và tác
dụng kéo dài
Ngược lại, thử nghiệm UPLIFT có cỡ mẫu
lớn, thời gian theo dõi dài và tiêu chí đầu ra được
xác định trước bao gồm tất cả các biến cố có hại,
biến cố có hại nghiêm trọng, và tử vong do
nguyên nhân bất kỳ Thông tin về tình trạng tử
vong được thu thập từ 97% bệnh nhân cho tới
khi kết thúc 1440 ngày điều trị và 75% bệnh nhân
cho tới khi kết thúc 1470 ngày theo dõi sau điều
trị Các kết quả về đột quỵ, biến cố tim mạch và
tử vong đều nhất quán sau một loạt các phân
tích
Mặc dù chưa thể đánh giá nguy cơ tử vong ghi nhận trong các thử nghiệm về tiotropium Respimat, các thành viên uỷ ban lưu ý rằng các dụng cụ giải phóng thuốc có vai trò quan trọng đốl với các thuốc tác dụng tại chỗ như các thuốc giãn phế quản đường khí dung (inhaled bron- chodilators) Uỷ ban cũng lưu ý rằng nguyên nhân gây tử vong là khác nhau và Boehringer Ingelheim đang tiến hành một nghiên cứu lớn về tính an toàn của tiotropium nhằm đánh giá kỹ hơn về các kết quả trên
Do kết quả đáng tin cậy của thử nghiệm UP LIFT và hạn chế về mặt phương pháp của phân tích gộp của Singh, FDA đã kết luận các tài liệu hiện có không ủng hộ giả thuyết về sự tăng nguy
cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tử vong liên quan đến tiotropium HandiHaler
113