Theo ông, “vì viết cho sướng ngòi bút, cho thỏa mãn ego của mình, Nguyễn Việt Hà không thể kết thúc được câu chuyện … không hiểu tác giả rồi sẽ đi về đâu trong cái mớ bòng bong những câu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Hà Nội - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, luận văn Cốt truyện và người
kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà đã được hoàn thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành với lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, PGS TS Đoàn Đức Phương đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin cảm ơn Hội đồng bảo vệ, các thầy cô phản biện, các thầy cô giáo
đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu và tạo điều kiện cho chúng tôi được bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Học viên
Đào Ánh Điệp
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan mọi
trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Đào Ánh Điệp
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề……… 2
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu……… 9
4 Phương pháp nghiên cứu……… 9
5 Cấu trúc luận văn……… 10
6 Đóng góp của luận văn……… 10
NỘI DUNG……… 11
Chương 1: Khái lược về cốt truyện, người kể chuyện và sáng tác của Nguyễn Việt Hà ……… 11
1.1.Khái lược về cốt truyện và người kể chuyện ……… 11
1.1.1 Cốt truyện ……… 11
1.1.2 Người kể chuyện ……… 21
1.2 Sáng tác của Nguyễn Việt Hà ……… 29
1.2.1 Sự nghiệp sáng tác ……… 29
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật ……… 33
Chương 2: Cốt truyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà ……… 37
2.1 Các loại cốt truyện trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà ………… 37
2.1.1 Kiểu cốt truyện phân mảnh ……… 37
2.1.2 Kiểu cốt truyện lồng ghép ……… 41
2.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện ……… 43
2.2.1 Các bước diễn biến ……… 43
2.2.2 Tính chất mờ hóa, dang dở ……… 49
2.2.2.1 Tính chất mờ hóa ……… 49
2.2.2.2 Tính chất dang dở ……… 52
Trang 5Chương 3: Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà … 54
3.1 Ngôi kể và điểm nhìn ……… 54
3.1.1 Ngôi kể ……… 54
3.1.2 Điểm nhìn ……… 59
3.2 Ngôn ngữ trần thuật ……… 67
3.2.1 Ngôn ngữ đời thường ……… 68
3.2.2 Ngôn ngữ mang tính triết lý ……… 73
3.2.3 Biệt ngữ ……… 77
3.2.3.1 Thuật ngữ tôn giáo ……… 77
3.2.3.2 Ngôn ngữ vay mượn ……… 82
KẾT LUẬN ……… 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 87
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Việt Hà là một nhà văn đương đại có ít nhiều tiếng tăm, những tác phẩm trong thời gian gần đây của ông đã thu hút được sự chú ý của bạn đọc cũng như giới chuyên môn, phê bình Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà đề cập đến những vấn đề không mới, nhưng lại luôn là những đề tài nóng bỏng về con người đặt trong bối cảnh xã hội đang có những thay đổi hết sức mạnh mẽ
Sự giao thoa không dứt điểm giữa cái cũ và cái mới đã làm nảy sinh nhiều vấn đề, nhiều số phận mà dường như tất cả đều rất bấp bênh, vô cùng hỗn loạn và càng không thể đoán định bất cứ điều gì
Cùng với các tên tuổi Chu Lai, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, … sự xuất hiện của Nguyễn Việt Hà góp phần khẳng định vị thế của tiểu thuyết trên văn đàn Việt Nam Sau cuốn tiểu thuyết gây khá nhiều tranh cãi
là Cơ hội của Chúa, Nguyễn Việt Hà tiếp tục cho ra đời cuốn Khải huyền
muộn cũng tạo nên nhiều xôn xao dư luận Cách viết của nhà văn này dường
như đang đánh đố người đọc Người chê thì chê hết lời, người khen thì vẫn e dè hoài nghi Nguyễn Việt Hà với hai cuốn tiểu thuyết của mình đã trở thành một hiện tượng trong nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại Hai cuốn tiểu thuyết này
là một cặp song trùng cho phong cách văn chương Nguyễn Việt Hà, bởi dường như đã có sự thống nhất trong lối hành văn và một số thủ pháp nghệ thuật tự
sự
Mặc dù vẫn còn những hạn chế, nhưng không thể không ghi nhận những cố gắng, nỗ lực của Nguyễn Việt Hà trong sáng tạo nghệ thuật Đặc biệt, hai cuốn tiểu thuyết này có nghệ thuật trần thuật khá độc đáo, thể hiện được những nét riêng trong sáng tác của tác giả này Với mong muốn góp một
tiếng nói vào việc nghiên cứu tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà qua Cơ hội của
Trang 7Chúa và Khải huyền muộn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Cốt truyện
và người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
2 Lịch sử vấn đề
Ra mắt bạn đọc vào đầu năm 1999, gần như ngay lập tức Cơ hội của
Chúa đã gây được rất nhiều sự chú ý đối với độc giả bởi một văn phong mới
mẻ, lôi cuốn Giới phê bình cũng thể hiện sự quan tâm của mình với tác phẩm
lạ này Khuynh hướng chung của các bài viết là phê phán, phủ định hoặc chất vấn tác giả
Cơ hội của Chúa là cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Nguyễn Việt
Hà, cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh xã hội những năm đầu đổi mới, trong đó số phận con người là tiêu điểm phản ánh Tác phẩm gây xôn xao dư luận bởi một văn phong đặc biệt, lạ lẫm, tưng tửng, bất cần, nhưng đầy day dứt, ám ảnh Tác giả đã miêu tả hiện thực đời sống một cách trần trụi, không ngần ngại đề cập đến mọi vấn đề của cuộc sống dù là gai góc, phức tạp hay gồ ghề, tế nhị nhất Mọi tầng lớp trong xã hội đều bị “đụng chạm” và bị xới tung đến những góc khuất nhất của tâm hồn Từ quan chức đến dân thường, từ giới trí thức đến dân buôn bán, làm ăn, … từ người nông dân cho đến giới nghệ sĩ, tất cả đều hiện lên trong tác phẩm với đầy đủ những đa dạng phức tạp của bản thể người
Ngay sau khi xuất hiện một tháng, Cơ hội của Chúa đã nhận được sự
quan tâm của nhiều độc giả và giới phê bình Khuynh hướng chung của các bài viết này là phê phán, phủ định và chất vấn tác giả
Theo một số nhà phê bình thì “Con người và sự việc trong Cơ hội của
Chúa không có gì mới Vẫn là những xung đột gia đình, những cuộc tình tay
ba, những chuyện mánh mung, những trò lừa tình, lừa tiền với kẻ thất tình, người thất thế …” [14]; “xét về chất liệu đời sống mà tác giả dùng làm cơ sở cho trí tưởng tượng, cho tổ chức tác phẩm, cho việc tìm hình thức diễn đạt và
Trang 8cả ngôn từ phù hợp thực ra không có gì mới” [33] … Về nhân vật Hoàng, tác
giả Bùi Việt Thắng cho rằng: Hoàng là “một kẻ nát rượu, chìm đắm trong ái
tình và là một triết gia nửa mùa” Theo ông, “quảng cáo cho một loại người quái dị như thế quả là không có lợi cho nhiệm vụ giáo dưỡng tinh thần thanh niên thời đại Hoàng thuộc loại người “không yêu ai ngoài bản thân mình”
[34]
Nguyễn Hòa nhận xét: “Dù tác giả có khéo léo cài đặt, viện dẫn tới
kinh thánh, huy động một vốn sống phong phú, thổi vào tác phẩm một không khí hiện sinh thì vẫn chưa đưa ra được một lí giải về tình trạng mà chỉ là sự miêu tả về tình trạng trong một mớ bòng bong các sự kiện và chi tiết” Ông
cũng tỏ ra không thích cách Nguyễn Việt Hà thể hiện mình trong tác phẩm:
“Nguyễn Việt Hà đã phóng chiếu những gì anh có vào trong tác phẩm với một
tần số cao đến mức đọc nhiều trang lại ngỡ tác phẩm là nơi tác giả giới thiệu mình chứ không phải làm văn chương” [14]
Trong bài viết Về một hướng khai thác yếu tố tình dục trong những tác
phẩm văn học, Dương Kiều Linh đã gay gắt phê phán Cơ hội của Chúa có
cách mô tả tình dục rất thô tục “Cách yêu đương quan hệ xác thịt, quan niệm,
suy nghĩ về người phụ nữ cũng như cách cư xử với họ trong tình yêu rất đỗi thấp hèn (…) cũng thật xứng đáng là cuốn sách có đủ các pha giật gân câu khách rẻ tiền” Tác giả này còn cho rằng tác phẩm “khiến cho người đọc cảm thấy bị coi thường Người đọc là phái nữ cảm thấy bị xúc phạm” và “gây ra một cú sốc lớn” [21]
Nguyễn Thanh Sơn có vẻ bình tĩnh hơn khi cho rằng tác phẩm của
Nguyễn Việt Hà không phản ánh được nhiều những biến đổi của thời kì đất
nước chuyển từ thời bao cấp sang cơ chế thị trường Nhưng ông lại tỏ ra khó
chịu với ngôn ngữ trong Cơ hội của Chúa: “Nhân vật pha trộn tiếng mẹ đẻ
với tiếng Anh hoàn toàn không cần thiết và sai chính tả, văn phạm một cách
Trang 9cẩu thả” Theo ông, “vì viết cho sướng ngòi bút, cho thỏa mãn ego của mình, Nguyễn Việt Hà không thể kết thúc được câu chuyện … không hiểu tác giả rồi
sẽ đi về đâu trong cái mớ bòng bong những câu chuyện vụn vặt này” [30]
Phạm Xuân Nguyên lại có nhận định rằng: “Cuộc tranh cãi quanh Cơ
hội của Chúa nhanh chóng bị chuyển từ văn chương sang thái độ do một lối
đọc văn như đọc vấn đề Bị phê phán: tác phẩm hiện ra như một bức tranh
ảm đạm, bi quan về thực tại cuộc sống Nhân vật hóa thành tác giả từ hành vi đến phát ngôn, từ chuyện quen dùng rượu Tây đến chuyện sính tiếng Tây To chuyện đến mức cả người và sách, cả người viết sách và người in sách khéo
mà bị mất cơ hội” Tác giả này cũng khẳng định “tác phẩm có giá trị” một
khi “níu kéo được người đọc đến với mình hẳn anh ta có một cái gì đó Và Cơ
hội của Chúa cũng như nhà văn Nguyễn Việt Hà đã không mất hết cơ hội Tác phẩm của anh vẫn đến được với người đọc Dù có không ít lời chê nhưng nó cũng vẫn nhận được khá nhiều lời khen Đặc biệt nó xuất hiện như một hiện tượng lạ khiến nhiều người chú ý” [26]
Trong bài viết Tự sự trong Cơ hội của Chúa – Những cách tân và giới
hạn, tác giả Trần Văn Toàn cho rằng: “Về cơ bản, Cơ hội của Chúa là mô
hình tiểu thuyết quen thuộc, nghĩa là nó cố gắng phản ánh hiện thực bằng những chi tiết xác thực của sự kiện và tính cách nhân vật” … “Điểm nhìn
trần thuật trong Cơ hội của Chúa có nhiều xáo trộn Điểm nhìn của người kể
chuyện giấu mặt truyền thống (do tác giả đảm nhiệm) liên tục được chuyển giao cho các nhân vật khác trong truyện” Nhưng theo tác giả “cách viết tân
kì của Nguyễn Việt Hà rất tiếc, chưa có sức nặng và được bảo hiểm bởi nội dung biểu đạt mới” Cuối cùng, tác giả bài viết này kết luận: “Mệt mỏi và day
dứt là giọng điệu trần thuật chủ đạo trong Cơ hội của Chúa Cuốn tiểu thuyết
cho người đọc chứng kiến sự đổ vỡ của những giá trị truyền thống, nhưng những giá trị mới không đem đến cho con người sự thanh thản (…) Tuy
Trang 10nhiên, khách quan nhìn lại, dù cồn cào và đầy ắp những dự tính cách tân, song những điều mà Nguyễn Việt Hà làm chưa được nhiều Phần lớn chúng còn là những đề án cho tương lai” [39]
Với tiêu đề Về cuốn tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, báo Thể thao và văn
hóa số 55 ngày 09/07/1999 đã dẫn lời phê bình, nhận xét của những người thuộc nhiều giới về cuốn tiểu thuyết Họ đều tỏ ra rất hứng thú với cuốn tiểu
thuyết này Nhật Minh (phóng viên) cho rằng đây là “một cuốn tiểu thuyết
tâm lý xã hội đúng nghĩa” Hoàng Hưng (nhà thơ) lại nhận xét “Cơ hội của
Chúa đặt nghiêm túc lên bàn những băn khoăn về cứu cánh của sự sống mà
mỗi con người trung thực hướng thiện của hôm nay đang phải đặt ra cho bản thân mình nếu không bị trôi tuột xuống địa ngục hư vô” Theo Lê Hoàng (đạo
diễn) thì “Cơ hội của Chúa là một món nộm Ăn lạ miệng, hấp dẫn nhưng vài
kẻ ăn xong để một lúc lâu lâu nghe ngóng bụng mình và bụng các bạn cùng mâm” Tác phẩm đã khiến anh kinh ngạc bởi “lâu lắm rồi mới có một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn đến thế, châm biếm đến thế … và lạy chúa, trơ tráo đến thế” [28]
Cũng có rất nhiều người tỏ ra thích thú với giọng văn của tác giả Thu
Hồng, Nguyễn Quyến nhận xét: “Cay nghiệt, bùi bụi nhưng duyên và sang là
giọng của Nguyễn Việt Hà trong Cơ hội của Chúa Văn phong của anh là sự
kết hợp hài hòa giữa những bức biếm họa đời sống của Phạm Thị Hoài (nhưng ấm áp, đôn hậu hơn) và lời rủ rỉ triết lý nhân sinh của Nguyễn Khải”
Với Thu Hà thì giọng văn trong Cơ hội của Chúa “rất lạ … Có cái gì thâm
trầm đầy chất phương Đông kiểu Nguyễn Huy Thiệp, nhưng cũng có tinh thần học trò rất thanh lịch kiểu Hà Nội Trên hết là một cái nhìn vừa hài hước, vừa giễu cợt; vừa nồng hậu, ấm áp” [18]
Đặc biệt, có hai bài viết khá sâu sắc về Cơ hội của Chúa, có sự phân tích tỉ mỉ và đánh giá khách quan: Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà
Trang 11(Hoàng Ngọc Hiến, năm 2000) và bài viết Cơ hội của Chúa: từ nhật kí đến
hậu trường văn học (Đoàn Cầm Thi, năm 2004) Hoàng Ngọc Hiến đã phân
tích khá nhiều khía cạnh của tác phẩm Theo ông, những khái quát “xanh rờn”
trong tác phẩm cho thấy “tác giả khá am hiểu, có sự cảm nhận tinh tế, có cả
sự vô tư của một triết gia tiểu thuyết, vô tư theo cách hiểu rất bác học và cũng rất bình dân của người Hà Nội” Hoàng Ngọc Hiến cũng rất khách quan khi
bày tỏ ý kiến của mình về những khái quát này: “Chớ cả tin nhưng rất đáng
suy nghĩ” Ông cũng phân tích khá kĩ về các nhân vật trong Cơ hội của Chúa,
vừa chú ý đến đặc điểm, tính cách riêng của từng nhân vật, vừa đặt trong sự
đối sánh từng cặp: “Tâm và Bình là hai mẫu người kinh doanh rất khác
nhau”; “Lâm và Sáng là hai con đường lập thân của trí thức rất khác nhau”;
“Hoàng và Nhã là “đôi bạn” của Nguyễn Việt Hà, thêm một “đôi bạn” rất lý thú cho văn xuôi thời kì đổi mới” [13]
Bài viết của Đoàn Cầm Thi rất chú ý đến nghệ thuật của cuốn tiểu
thuyết Theo tác giả này, đây là “tiểu thuyết của những cái tôi” Các nhân vật
không ngừng chiếm lĩnh sân khấu gạt người kể chuyện sang bên để tự bày tỏ
“cái tôi” của mình Đoàn Cầm Thi đánh giá cao cái cách Nguyễn Việt Hà để cho nhân vật, sự việc được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau khiến cho thế
giới trong Cơ hội của Chúa hiện ra “không thuần nhất mà muôn hình vạn
trạng, không khép mà mở, không xác thực mà đầy bí hiểm, bất ổn, hoài nghi”
và theo Đoàn cầm Thi, khi xây dựng nhân vật là nhà văn thì Nguyễn Việt Hà
cũng như một số nhà văn khác đã thể hiện “viết là một cuộc chơi, một trò ảo
thuật, đôi khi là một màn hài kịch” [38] Những nhận xét đó khá sắc sảo,
khách quan và phù hợp với lý thuyết tiếp nhận đương đại
Sáu năm sau, năm 2005, Nguyễn Việt Hà trình làng cuốn tiểu thuyết
thứ hai: Khải huyền muộn Tác phẩm này được người đọc đón nhận bình tĩnh
hơn và cũng được nhiều sự quan tâm của độc giả lẫn giới phê bình
Trang 12Giới thiệu về cuốn Khải huyền muộn, tác giả Thanh Huyền đã có
những nhận định, đánh giá khá sắc sảo: “Sau những thể nghiệm thành công
với Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn là một tác phẩm mới nối tiếp những
sáng tạo của Nguyễn Việt Hà trên nhiều phương diện: Nghệ thuật kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, nhân vật, cấu trúc tiểu thuyết,…” [19] Thanh Huyền
đánh giá cao kiểu cấu trúc: truyện lồng trong truyện, hư cấu lồng vào hư cấu
và sự thay đổi liên tục điểm nhìn trần thuật Tác giả này cũng nhận thấy tác
phẩm “đôi lúc, đôi chỗ bề bộn, thiếu chọn lọc, rườm rà” khiến cho “độc giả
như lạc vào một ma trận ngập tràn chi tiết không phải lúc nào có sự móc xích vào nhau” [19]
Nhà phê bình Nguyễn Hòa trong bài viết Văn chương 2005 – tín hiệu
vui và giấc mộng bất thành lại tỏ ra không thích lối viết của Nguyễn Việt Hà
trong Khải huyền muộn: “So với Cơ hội của Chúa, văn của Nguyễn Việt Hà
trong Khải huyền muộn chưa có gì nhúc nhích”, thậm chí ông còn cho rằng
“đây là một bước thụt lùi của văn Nguyễn Việt Hà” [15]
Trong bài Khải huyền muộn và những lời bình, Trung Trung Đỉnh cho rằng: với tiểu thuyết Khải huyền muộn, Nguyễn Việt Hà đã “tự bứt mình ra
khỏi lối mòn của cấu trúc tiểu thuyết và cách kể chuyện truyền thống” [27]
Theo họa sĩ Lê Thiết Cương thì “Giá như Khải huyền muộn có kết cấu bớt
mạch lạc đi nữa Thừa thiếu chấm phẩy, câu chữ xô bồ chút nữa, không giống chút nữa cũng chả sao, mỗi người viết cầm có chính tả của mình” [27] Còn
Tạ Duy Anh thì nhận xét: “Văn trong Khải huyền muộn hơn đứt Cơ hội của
Chúa Những trang văn rất đẹp, có chiều sâu, có sức lan tỏa và nó cũng cho
thấy tác giả là người nghiêm túc, có bản lĩnh, có trách nhiệm nghề nghiệp”
Theo ông, nhược điểm lớn nhất của Khải huyền muộn là “tác giả còn lộ ra
mình phải cố, tức là có chỗ đuối sức” Cuối cùng, Tạ Duy Anh khẳng định
“đây thực sự vẫn là một trong những cuốn sách đáng đọc trong năm 2005”
Trang 13Nhà báo Nguyễn Mạnh Hùng thì cho rằng lối viết của Nguyễn Việt Hà rất
cuốn hút người đọc: với “cấu trúc đa ngôi thứ như thể khối vuông ru-bích,
Nguyễn Việt Hà tạo cho mình ưu thế thoải mái để quan sát và kể chuyện, thỏa cơn khát tìm tòi và đồng cảm với các nhân vật cuộc sống (…) và những điều thú vị, cũng là đóng góp riêng của Nguyễn Việt Hà chính là vẽ nên tâm trạng người đương thời” [27]
Nguyễn Huy Thiệp cũng rất ủng hộ và đánh giá cao tài năng văn học
của Nguyễn Việt Hà trong bài viết Về chiêu pháp “túy quyền” văn học của
một nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cho rằng: “Với Nguyễn Việt Hà, tôi nghĩ rằng chỉ riêng “lối viết túy quyền” đã đủ xác định đẳng cấp của anh: Anh xứng đáng đứng vào hàng ngũ “top ten” trong văn học Việt Nam hiện đại”
Nhưng theo Nguyễn Huy Thiệp: “Sự trung thành quá đáng với một đề tài
(thân phận của người trí thức đô thị và một quan niệm thẩm mỹ (cái đẹp đạo đức)) làm anh không “bay lên” để trở thành một “nghệ sĩ viết văn” được Chính điều đó làm cho tác phẩm của Nguyễn Việt Hà có vẻ như đơn điệu, khiến độc giả đọc anh rất mệt” [36] Trong một bài viết khác, Nguyễn Huy
Thiệp nhận thấy “ở đây chứa ẩn những cảm hứng và dấu hiệu của một cuốn
tiểu thuyết theo dòng nghệ thuật đương đại (…) Nguyễn Việt Hà đang thí
nghiệm một lối viết khác Tôi không cho Khải huyền muộn là một thí nghiệm
thành công nhưng rõ ràng không thể không tôn trọng nó Cuốn sách không thể đọc được này lại là một cuốn sách đáng phải xem, nhất là với những người đắc ý tự coi mình là “nhà văn” nhất” [37]
Trong bài viết Khải huyền muộn – cuốn tiểu thuyết về chính nó,
Nguyễn Chí Hoan đã trình bày, phân tích khá kỹ lưỡng về cấu trúc của cuốn
tiểu thuyết Theo ông, “cuốn tiểu thuyết này được cấu tạo bằng một loạt
những chi tiết dở dang, kết nối vào nhau hết sức chặt chẽ để bày tỏ sự dở dang của chính nó” [17] Nguyễn Chí Hoan rất chú ý đến việc tác giả để cho
Trang 14các nhân vật và kí ức hiện lên ngang bằng nhau Trong câu chuyện này có một câu chuyện khác, trong nhân vật này có một nhân vật khác và mỗi người đều là chứng nhân cho sự tha hóa của chính mình, đồng thời còn là chứng nhân cho sự tha hóa của người khác và cuộc sống xung quanh
Như vậy, về Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn của Nguyễn Việt
Hà, bên cạnh những người tỏ ra không thích thú với hai tiểu thuyết đó cũng có không ít người thấy thú vị, hào hứng
Ngoài ra, chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự đi sâu vào
phân tích, tìm hiểu vấn đề cốt truyện và người kể chuyện trong tiểu thuyết Cơ
hội của Chúa và Khải huyền muộn, mới chỉ có những bài viết mang tính
bình luận về “hiện tượng lạ” mà tác giả đem đến cho độc giả
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào vấn đề cốt truyện và người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà Ngoài ra, chúng tôi cũng chú ý tới một số tiểu thuyết của một số nhà văn đương đại khác như Chu Lai, Bảo Ninh, …
Với việc nghiên cứu đề tài Cốt truyện và người kể chuyện trong tiểu
thuyết Nguyễn Việt Hà, chúng tôi xác lập mục đích nghiên cứu của luận văn
như sau: phân tích tìm tòi những sáng tạo về nghệ thuật xây dựng cốt truyện
và người kể chuyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà, từ đó thấy được những nỗ lực của tác giả trong việc cố gắng thể hiện cách cảm cách nghĩ của tác giả với con người, với cuộc sống trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu
hai tiểu thuyết Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, ngoài phương pháp phân tích, tổng hợp, chúng tôi sử dụng phương pháp loại hình để làm sáng rõ những vấn đề mà
Trang 15luận văn đề cập đến Đồng thời chúng tôi còn sử dụng cả phương pháp so sánh Việc so sánh đối chiếu nhằm tìm ra những nét mới lạ và đặc biệt trong phong cách sáng tạo của Nguyễn Việt Hà Ngoài ra còn có cả phương pháp tiếp cận thi pháp học
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Khái lược về cốt truyện, người kể chuyện và sáng tác của
Nguyễn Việt Hà
Chương 2: Cốt truyện trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
Chương 3: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
6 Đóng góp mới của luận văn
Với luận văn này chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ ý kiến của bản thân vào việc tìm hiểu thêm về cốt truyện và người kể chuyện Nhất là trong nền văn học hậu hiện đại đang từng bước đạt những thành tựu xuất sắc
Trang 16Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CỐT TRUYỆN, NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ
1.1 Khái lược về cốt truyện và người kể chuyện
1.1.1.Cốt truyện
Lý thuyết tự sự từ trước đến nay luôn đề cao vai trò của cốt truyện Thực tế cho thấy một tác phẩm hay là tác phẩm được xây dựng với cốt truyện độc đáo
Cốt truyện không phải yếu tố của mọi loại tác phẩm văn học Ở các tác phẩm trữ tình, cốt truyện không tồn tại Có rất nhiều công trình nghiên cứu
về cốt truyện như Vấn đề cốt truyện in trong Cấu trúc văn bản nghệ thuật của IU.M.Lotman, Cốt truyện (Những yếu tố của lối viết hư cấu) của A.Dibell,
Sự giải thích về cốt truyện: cách sắp xếp và mục đích kể chuyện của
P.Brooks … hay trong một số công trình về tự sự học như Tự sự học (Narrative) của P.Cobbley, Thi pháp cấu trúc (Structuralist Poetics) của
J.Culler, … Nhìn chung, cốt truyện trong văn học luôn là một yếu tố được quan tâm hàng đầu và cần được khảo sát bởi nó là một yếu tố cơ bản để tìm
ra cấu trúc đích thực của tác phẩm văn xuôi, là một mắt xích quan trọng để tạo nên một tác phẩm thực sự
Aristotle là nhà lí luận đầu tiên nghiên cứu về cốt truyện Ông chủ yếu nghiên cứu cốt truyện chủ yếu dựa trên tác phẩm kịch chứ không phải trên văn bản thơ Với quan niệm “nghệ thuật là sự mô phỏng”, Aristotle cho rằng cốt truyện là “linh hồn và cơ sở của bi kịch”, là cái quan trọng nhất làm thành mục đích của bi kịch Bởi bi kịch mô phỏng hành động, hành động gắn liền với tính cách là yếu tố quyết định số phận nhân vật Tuy vậy, sức mạnh lôi
Trang 17cuốn lòng người lại nằm ở “sự diễn biến và nhận biết” những yếu tố của cốt
truyện Việc sắp xếp các hành động mới là điểm cốt yếu Trong cuốn Nghệ
thuật thơ ca, Aristotle dùng thuật ngữ cốt truyện với ý nghĩa là một hệ thống
các sự kiện, xung đột hay sự phát triển những sự kiện ấy theo trình tự tự nhiên của thời gian và “cốt truyện phải được sắp xếp như thế nào để bất kỳ ai, dù không được xem biểu diễn mà chỉ nghe qua cũng phải rùng mình và cảm thấy xót thương theo trình tự phát triển của các sự kiện trong truyện” Bàn về việc sắp xếp các hành động của truyện, Aristotle rất chú ý đến vấn đề “quy mô và chỉnh thể” của các yếu tố cốt truyện Ông quan niệm “cái đẹp là ở trong kích thước và trật tự”, vì thế quy mô lớn nhỏ của cốt truyện chính là một “hạn độ” đầy đủ mà trong đó các sự kiện tiếp diễn theo “quy luật xác suất” trên cở thống nhất hữu cơ giữa các bộ phận
L.J.Timofiep chỉ ra rằng việc sắp xếp các thành phần cốt truyện bao giờ cũng là dụng ý của nhà văn, việc bố trí các thành phần cốt truyện phụ thuộc vào chỗ nhà văn hiểu cuộc sống trong sự phát triển của nó như thế nào và muốn biểu hiện nó ra sao
G.N.Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học cũng cho rằng cốt
truyện hình thành chủ yếu nhờ hành động của nhân vật Hành động là sự thể hiện các cảm xúc, ý nghĩ, ý định của con người Trong công trình này, Pospelov không chỉ chú ý đến những hành động tạo ra những biến động bất ngờ gay gắt trong số phận nhân vật mà ông còn quan tâm đến “sự vận động của hành động chủ yếu chỉ xảy ra bên trong” mà cơ sở là sự vận động của trạng thái tinh thần nhân vật Theo Pospelov, chức năng quan trọng nhất của cốt truyện là bộc lộ các mâu thuẫn của đời sống và mặc dù quan niệm cốt truyện là những sự kiện liên hệ với nhau có tính chất trung gian và nhân quả song ông cũng nhận ra “trật tự thời gian” của sự kiện Tính liên tục của các tình tiết cốt truyện tức là kết cấu cốt truyện theo quan niệm của ông lại có ý
Trang 18nghĩa và chức năng quan trọng hơn Nó cho phép ta không chỉ hiểu mối quan
hệ qua lại của các nhân vật mà còn có khả năng thâm nhập vào mạch logic của việc liên kết các phần, các chương, giúp người đọc tiếp cận với những mối liên hệ bên trong mang ý nghĩa và cảm xúc
Các nhà nghiên cứu như Tomachevski hay V.Shklovski, … lại tập trung nghiên cứu các thủ pháp của cốt truyện Các ông chỉ ra rằng mỗi thời đại, mỗi trào lưu, mỗi thể loại văn học có một hệ thống thủ pháp đặc trưng, thể hiện phong cách của thời đại, trào lưu hay thể loại đó
Lotman trong công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật coi cốt truyện là
một trong những yếu tố cơ bản tạo nên kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
Và trên nguyên tắc đối lập nhị phân ngữ nghĩa của tổ chức nội tại các yếu tố của văn bản, ông đã xác lập cấu trúc cốt truyện trên cơ sở của một loạt những cặp phạm trù có tính chất đối lập, liên kết với nhau theo từng cấp độ của văn bản nghệ thuật: văn bản phi cốt truyện / văn bản có cốt truyện; không có biến
cố / biến cố; nhân vật bất động / nhân vật hành động; … ông cũng nghiên cứu cốt truyện trong sự tương quan chặt chẽ với những yếu tố khác của của kết cấu tác phẩm như không gian nghệ thuật, điểm nhìn, …
Những nét chính trong quan điểm của các nhà lí luận văn học trên thế giới về việc nghiên cứu cốt truyện, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của cốt truyện và thấy được sự phức tạp của vấn đề Điều này có lẽ bắt nguồn từ việc hiểu khái niệm cốt truyện
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ
thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản và quan trọng nhất trong hình thức hoạt động của các tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch”
Theo cuốn Lý luận văn học, “cốt truyện là hệ thống các sự kiện phản
ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách
Trang 19nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm” [9]
Thuật ngữ cốt truyện ở các thời kì khác nhau và ở những trường phái
nghiên cứu khác nhau cũng khác nhau Còn trong tiếng Việt, do có yếu tố
“cốt” nên dễ bị hiểu như cái lõi, bộ xương, cái sườn của truyện chứ không phải truyện Thêm nữa, tính chất có thể tóm tắt được của truyện càng củng cố
cách hiểu trên về cốt truyện Cần phân biệt rõ các khái niệm cốt truyện, câu
chuyện và sườn truyện Câu chuyện là khái niệm được dùng trong trường hợp
có yêu cầu kể lại một sự việc nào đó đã xảy ra trong đời sống mà người kể là người trực tiếp chứng kiến hay đã nghe kể lại Và do yêu cầu nhận thức của người nghe, trong câu chuyện trình tự các sự việc thường được sắp xếp trước
sau đúng như trình tự trong đời sống của chúng Còn ở trong cốt truyện, trình
tự các sự kiện có thể bị đảo lộn chứ không tuân theo diễn biến các sự kiện xảy
ra Việc thay đổi này gây ấn tượng mạnh với người đọc hoặc để nêu bật chủ
đề tư tưởng của tác phẩm Còn sườn truyện thường được hiểu với một phạm
vi hẹp hơn khái niệm cốt truyện rất nhiều Nó chỉ là cái khung bao gồm các
biến cố chính, cắm mốc cho sự phát triển của cốt truyện chứ không bao gồm các tình tiết cụ thể như cốt truyện
Về phân loại các kiểu cốt truyện, GS Hà Minh Đức đã trình bày những loại cốt truyện chung nhất trong loại hình tự sự Việc phân loại này chỉ có tính chất tương đối vì bản chất một cốt truyện bao giờ cũng có sự dung hòa của nhiều loại cốt truyện Chẳng hạn, cốt truyện của Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) có thể xếp vào loại truyện phân đoạn, phiêu lưu nhưng vẫn mang đặc điểm liền mạch theo tính biên niên
Sau đây là bảng phân loại cốt truyện của công trình này: [9]
Trang 20TT Tiêu
chí
Các loại cốt truyện
Các sự kiện quan hệ theo mạch nhân quả, được triển khai liên tục, đầy kịch tính cho đến hết truyện, ra đời từ thời
cổ đại
Chiếc lá cuối cùng – O.Henri; Tiếng gọi nơi
J.London Cốt truyện
ghép mảnh
Được ghép từ nhiều mảnh nhỏ lại với nhau thông qua một đề tài, tư tưởng chủ đề, cốt truyện này bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ XX
D.Barthelme
Cốt truyện siêu văn bản
Dựa vào công nghệ tạo file của vi tính, nhà văn kết cấu văn bản thành những file nhỏ, thường được đánh số, người đọc có thể tự do gép các file này với nhau để tạo thành các văn bản khác nhau, cốt truyện này bắt đầu xuất hiện vào cuối thế khỉ XX
Người trông trẻ
- Robert Coove
Trang 212 Thời
gian
Cốt truyện tuyến tính
Tự sự theo mạch thời gian, chuyện gì trước kể trước, quan
hệ nhân quả được duy trì, kịch tính được chú trọng Ra đời từ thời cổ đại
Được kể theo lối truyện lồng trong truyện, người kể đóng vai trò là người kể lại một câu chuyện của người khác, như thế sẽ có hai người kể, tính khách quan được chú trọng, bắt đầu xuất hiện từ thời trung đại
Nghìn lẻ một
trong bao – A.Sêkhôp
Cốt truyện gấp khúc
Thời gian bị đảo ngược và nhảy cóc trong mạch tự sự, nhiều đoạn hồi cố được đan xen tạo nên tính đồng hiện ngẫu nhiên và lỏng lẻo của cốt truyện Xuất hiện đầu thế kỷ
Cốt truyện chỉ có một nhân vật chính đặt trong mối quan hệ với tất cả các nhân vật khác, thường hướng về một chủ đề,
dễ đọc, dễ theo dõi mạch nội dung tư tưởng (thế kỷ XIX trở
Ông già và biển
Trang 22về trước), khó nắm bắt hết các tầng bậc ý nghĩa của văn bản (xuất hiện từ thế khỉ XX)
Không miêu tả tâm lí nhân vật Ra đời từ rất sớm trong lịch sử tự sự Đặc trưng của cốt truyện thần thoại, sử thi,
cổ tích
Thánh Gióng; Iliat; Odyseus
Cốt truyện tâm lý
Truyện triển khai trên tâm lý của nhân vật với những bức xúc, dằn vặt nội tâm Đó là cơ
sở thúc đẩy cốt truyện phát triển Xuất hiện cuối thế kỷ XIX
Người đẹp say
J.Kawabata;
Tuyết trên đỉnh Kilimanjarô – E.Hêmingway
Trang 23Ngoài những tiếu chí trên, các nhà nghiên cứu còn đề xuất nhiều cách phân loại khác như dựa trên tiêu chí nội dung (cốt truyện triết học; cốt truyện luận đề; …), tiêu chí kết cấu (cốt truyện mở; cốt truyện đóng; cốt truyện kết thúc bất ngờ; …), trường phái (cốt truyện lãng mạn; cốt truyện hiện thực; …)
Aristotle chia cốt truyện thành ba phần: phần đầu, phần giữa, phần kết Phần đầu giới thiệu hành động chính theo cách nào đó để người đọc háo hức chờ đợi diễn biến tiếp theo Phần giữa kết thúc sự kiện trước đó và gợi dẫn đến sự kiện tiếp theo Phần kết tiếp nối những gì đã xảy ra, không gợi dẫn đến những điều sắp đến và tạo ra cái kết nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá nghệ thuật của người đọc Các thành phần của cốt truyện thường được nêu theo tiến trình của các sự kiện được miêu tả trong đó từ lúc hình thành đến khi kết thúc Ngày nay người ta thường chia cốt truyện thành năm phần: trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút) Tất nhiên không phải bất cứ cốt truyện nào cũng bao gồm đầy đủ các thành phần như vậy Nhiều tác phẩm không có mở nút, nhất là những tác phẩm dựa trên các tình trạng xung đột bền vững Nhiều tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực cũng không có mở nút hay mở nút cũng chỉ có vai trò nhỏ bé Vì vậy cần tránh thái độ máy móc khi phân tích thành phần của cốt truyện
Nhìn lại quá trình phát triển của văn học nói chung, có thể thấy vai trò
và cấu trúc cốt truyện thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, tùy thuộc vào khuynh hướng sáng tác và quan niệm thẩm mỹ của người nghệ sĩ Trong một
số tiểu thuyết trước đây, người ta có thể kể lại cốt truyện, chỉ chú ý đến cốt truyện mà ít để ý đến cách viết của nhà văn Theo các tiểu thuyết gia của trào lưu tiểu thuyết mới ở Pháp, càng ngày vai trò của cốt truyện càng giảm
“Cái làm nên sức mạnh cho các tiểu thuyết gia chính là ở chỗ anh ta sáng tạo, anh ta hoàn toàn tự do sáng tạo, không có mô hình mẫu” Thực chất
Trang 24trong tác phẩm tự sự, cốt truyện là sợi dây liên kết các mối quan hệ của nhân vật, tổ chức, sắp xếp các sự việc diễn ra trong đó, bộc lộ chủ đề tư tưởng của tác phẩm Nói chung có hai giai đoạn trong cách hiểu về cốt truyện
Theo cách hiểu truyền thống thì cốt truyện như là tiến trình của các sự kiện liên hệ với nhau có tính chất thời gian (A xảy ra sau B) hay nhân quả (B xảy ra vì A), tức là theo tuyến tính Cách hiểu này đã có từ thời Aristotle đến A.N.Veselovski và sau này được L.I.Timofiep, G.N.Pospelov tiếp thu
Giai đoạn hiện đại hiểu cốt truyện là hành trình nhân vật chính di chuyển qua các không gian khác nhau (cái thế giới mà trong đó nhân vật bị quy chiếu, là sự “tổng hợp” của các đối tượng cùng loại: những hiện tượng, những trạng thái, chức năng, hình thể, những ý nghĩa của chuyển động với các mối liên hệ y như các quan hệ không gian thông thường) Cách hiểu này được đề xuất bởi các nhà nghiên cứu thuộc trường phái cấu trúc Nó cho phép xây dựng những mô hình cốt truyện theo trình tự các sự kiện của cấu trúc nội tại văn bản tác phẩm, sự kiện của cấu trúc được tạo nên “biến cố” vượt qua những ranh giới của nhân vật hành động Trong cấu trúc ấy, một sự kiện đời sống phải trở thành một sự kiện thẩm mỹ Mô hình văn bản cốt truyện có thể được hình thành dựa trên nhiều cấp độ khác nhau và quan hệ qua lại giữa các cấp độ này sẽ thay đổi do việc chúng ta sắp đặt sự đối lập cấu trúc văn bản vào chỗ nào Tuy nhiên, để biến những thông tin, sự kiện mang ý nghĩa tiêu dùng thành những thông tin hay sự kiện thẩm mỹ, việc sử dụng thủ pháp là vô cùng cần thiết, nhưng quan trọng hơn chúng ta phải lí giải được mối quan hệ giữa các yếu tố trong tác phẩm Một mô hình tác phẩm như vậy sẽ giúp chúng
ta đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật trần thuật của tác phẩm văn xuôi, chỉ ra sự khác biệt lớn lao về giá trị giữa hai tác phẩm có “cốt truyện” khác nhau ở các thời đại khác nhau mà hiện nay mới chỉ được giải thích như là “bản chất tự sinh của cốt truyện” trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau (Timofiep)
Trang 25Hiện nay chúng ta đang tiếp thu rất nhiều trường phái lý thuyết khác nhau trên thế giới, việc nghiê cứu cốt truyện cũng đã sáng tỏ Tuy nhiên khi nói đến cốt truyện, với cách hiểu theo nội hàm khái niệm mà trên thế giới sử dụng từ thế
kỉ XIX, chúng ta sẽ không lý giải được rất nhiều trường hợp vẫn được gọi là
“vay mượn cốt truyện” từ hệ thống trung cổ hay từ các nước khác
Ở Việt Nam, sự thay đổi cấu trúc cốt truyện cũng được biểu hiện khá rõ nét qua các thời kỳ
Văn học 1932 – 1945: Cốt truyện đóng vai trò đáng kể trong tiểu thuyết, tiêu biểu cho loại tiểu thuyết có cốt truyện rõ ràng với những xung đột
căng thẳng, diễn biến hành động tuần tự theo thi pháp truyền thống Đến Sống
mòn (Nam Cao), cốt truyện tiểu thuyết có sự thay đổi vượt ra ngoài khuôn
khổ, không có tình huống, sự kiện gì đặc biệt mà chỉ là một chuỗi tâm trạng
và suy nghĩ của nhân vật
Ở giai đoạn cách mạng và kháng chiến, cốt truyện trong tiểu thuyết là phương tiện để thể hiện cuộc sống và tính cách con người đã chịu “áp lực sử thi” Để phản ánh những vấn đề lớn lao của lịch sử dân tộc, cốt truyện tiểu thuyết thường dựa trên hai tuyến đối lập: địch – ta, tốt – xấu Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm giai đoạn này là ngợi ca, khẳng định
Từ sau 1975, nhất là trong thời kì đổi mới, tiểu thuyết đã theo sự chi phối chung của quy luật thời bình, nghiêng về đề tài đời tư – thế sự Trong tác phẩm văn học không phải cốt truyện nào cũng chứa những xung đột xã hội gay gắt mà có những câu chuyện về cái bình thường, nhỏ nhặt, tạo cảm giác như là không có chuyện Chính những bước ngoặt của trạng thái tâm linh, những xung đột cá nhân đã trở thành những yếu tố thúc đẩy sự hình thành cốt truyện Bên cạnh những cốt truyện giàu kịch tính là những cốt truyện giàu tâm trạng Bên cạnh những tiểu thuyết tuân thủ cốt truyện truyền thống là cốt truyện dựa trên thi pháp hiện đại Cốt truyện đã vận động trong sự phát triển
Trang 26của thể loại Tất cả những dạng thức trên đều nhằm phân tích, lí giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người và cuộc sống đương đại
Cốt truyện từ những năm đổi mới đến nay một mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác đã tiếp cận với tiểu thuyết hiện đại thế giới ở những nét tinh túy: nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, … là những vấn đề còn mới
mẻ trong văn xuôi hiện đại Việt Nam đã được vận dụng, biến hóa linh hoạt, uyển chuyển trên tinh thần dân tộc hiện đại
1.1.2 Người kể chuyện
Vấn đề người kể chuyện là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại Mặc dù trong suốt thế kỷ qua các nhà lý luận, phê bình từ nhiều khuynh hướng tiếp cân khác nhau đã nghiên cứu vấn đề này nhưng cho đến nay, nó vẫn còn là một vấn đề đòi hỏi phải tiếp tục xem xét, tìm hiểu
Từ đầu thế kỉ XX vấn đề người kể chuyện đã được các nhà hình thức chủ nghĩa Nga (A.Veksler, I.Gruzdev, V.Shklovski, B.Eikhenbaum, …) và nhóm các nhà nghiên cứu Bắc Âu viết bằng tiếng Đức (W.Dibelius, K.Friedeman, K.Forstreuter, …) đặc biệt quan tâm đến Tuy nhiên, phải thông qua công trình nghiên cứu của các thế hệ sau, những người đặt nền móng cho
“trần thuật học” (narratology) như P.Lubbock, N.Friedman, E.Leibfried, L.Dolezel, Iu.Lotman, B.Uspenki, Tz.Todorov, M.Bal, P.VandeHeuvel, …
“phương pháp hình thức” kết hợp với “mỹ học tiếp nhận” mới đưa ra được quan điểm tương đối rõ ràng về người kể chuyện
Tz.Todorov khẳng định: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc
kiến tạo thế giới tưởng tượng… Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân
Trang 27vật mà nhân danh nó, cuốn sách được kể có vị thế hoàn toàn đặc biệt…” Trên
cơ sở lý thuyết giao tiếp, lý thuyết “giọng” và “lời người khác” của M.Bakhtin, qua thực tế nghiên cứu cấu trúc và chức năng diễn ngôn, vấn đề người kể chuyện được đặt ra trong mối quan hệ với người đọc giả định, với vấn đề “điểm nhìn”, các loại hình, cấp độ và tình huống trần thuật được các nhà trần thuật học cho đến cuối những năm 60 xác định một cách tỉ mỉ, cụ
thể Đó là những cống hiến lớn lao của Trần thuật học [31]
Có thể sử dụng định nghĩa sau đây về người kể chuyện: “Một người kể
chuyện là người nói hoặc bày tỏ diễn ngôn trần thuật (Genett) Anh/cô ta là
tác nhân thiết lập mối liên hệ tiếp xúc với người nhận (người được nghe kể);
người xử lý cách trình bày, người quyết định nói cái gì và nói như thế nào (đặc biệt là từ điểm nhìn nào, và cái gì kế tiếp) và cái gì bị bỏ đi Nếu cần
người kể chuyện sẽ bảo vệ “khả năng kể được” của câu chuyện và bình luận
về bài học, mục đích và thông điệp của nó” [40]
Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm tác giả trong tác phẩm Song quan điểm tác giả chỉ có thể được thể hiện qua
“điểm nhìn”, “tầm nhận thức” của người kể chuyện như một hình tượng ít nhiều tồn tại độc lập Người kể chuyện cũng có thể có tính cách như nội dung của hình tượng Khác với hình tượng nhân vật khác, tính cách của người kể chuyện bộc lộ không phải chỉ qua việc trực tiếp tham gia vào hành động trong tác phẩm, hay qua những lời giãi bày tâm sự về chính mình, mà chủ yếu qua thái độ đối với thế giới câu chuyện được kể lại Phần nào đây là một “hình tượng – thái độ”
Thái độ của người kể chuyện đối với thế giới câu chuyện được kể lại có thể phần nào trùng với quan điểm tác giả, nhưng không bao giờ trùng khít hoàn toàn Thứ nhất, bởi vì quan điểm của tác giả bao giờ cũng rộng hơn, nó không thể được thể hiện một cách toàn diện qua bất kỳ một chủ thể lời nói
Trang 28riêng biệt nào trong tác phẩm, dù chủ thể lời nói ấy có gần gũi với tác giả đến đâu, mà chỉ có thể được thể hiện qua toàn bộ tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật Thứ hai, bởi vì ngoài phần thái độ chủ quan được thừa hưởng của tác giả, người kể chuyện mang trong mình cả một phần nội dung khách quan của thế giới được phản ánh vào tác phẩm; phần nội dung khách quan đó thường được thể hiện một loại hình thái độ phản ứng với thực tại điển hình cho thời đại của nhà văn mà nhà văn tái hiện và miêu tả lại trong tác phẩm của mình Loại hình thái độ phản ứng với thực tại ấy được miêu tả dường như
để đón trước phản ứng của người đọc giả định với câu chuyện được kể, đồng thời được điều chỉnh để đi tới sự thống nhất với quan điểm của tác giả, bởi bất
kỳ người kể chuyện nào về nguyên tắc là một “cái tôi – được sáng tạo nên”, là
sự thống nhất cái thuộc về tác giả với cái khách quan ngoài tác giả, cái “người khác” để tạo nên cái “chúng ta” chung Nhà văn Nga M.Prisvin từng rút ra
kinh nghiệm qua thực tế sáng tác: “Vào khoảnh khắc khi tôi đặt bút lên giấy –
đó đã là “cái tôi” … thực thà mà nói, đó là „cái tôi – được sáng tạo nên”, đó chính là “chúng ta” … bây giờ tôi hiểu rõ ràng sự biến hóa của “cái tôi” thành “chúng ta” thể hiện qua bản chất của cả quá trình sáng tác” [31]
Để xác định kiểu “quan hệ” của trần thuật hay người kể chuyện, người
ta phải kiểm tra sự hiện diện hay vắng mặt của một “cái tôi trải nghiệm”
trong những câu chỉ hành động đơn giản của truyện, nghĩa là những câu kể về một sự kiện có liên quan đến nhân vật trong truyện Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng văn bản trần thuật sử dụng rất nhiều loại câu không phải là câu hành động đơn giản: những câu miêu tả, trích dẫn, bình luận, …
Việc gắn kết vấn đề “điểm nhìn” với vấn đề “người kể chuyện” là vô cùng cần thiết, bởi điểm nhìn chính là cơ sở để người đọc đánh giá vị trí, vai trò của người kể chuyện trong câu chuyện được kể lại
Trang 29Điểm nhìn trần thuật là một trong những khái niệm then chốt của Phê
bình mới, lần đầu tiên được Henry James trình bày trong tiểu luận Nghệ thuật văn xuôi (1844) và được Gerard Genette chính thức đề xuất trong công trình
nghiên cứu năm 1972
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, điểm nhìn trần thuật là “vị trí từ đó
người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn bởi nó thể hiện sự chú ý quan tâm và đặc điểm chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống Sự đổi thay của nghệ thuật bắt đầu từ thay đổi điểm nhìn” Đó
là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm
thụ thế giới của tác giả và “người ta không thể miêu tả nếu không có người
miêu tả và không bắt đầu từ một điểm nhìn nào đó” [12, tr.120]
Về mặt chức năng, “điểm nhìn mang ý nghĩa của sự lựa chọn và giới
hạn thông tin trần thuật, của việc nhìn các sự kiện và cấu trúc của sự kiện từ điểm nhìn của một người nào đó và của việc tạo ra cái nhìn đồng cảm hoặc mỉa mai ở người quan sát” [40, tr.50]
Trong tác phẩm, mọi sự biểu hiện, miêu tả đều từ tác giả mà ra, song để tạo nên hình tượng nghệ thuật, tác giả thường tạo ra những kẻ môi giới đứng
ra kể chuyện, quan sát, miêu tả Đó là cơ sở để Genette phân biệt ba kiểu điểm nhìn: Điểm nhìn Zéro, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn Zéro (Genette dùng là thuật ngữ Phi tụ điểm: focalisation zéro): “Chỉ nhân vật trần thuật đứng ngoài nhưng có vai trò như thượng đế biết hết mọi chuyện nhân sinh, vũ trụ, hiện tại, tương lai” [31, tr.115 ]
Thường thấy ở các tác phẩm tự sự truyền thống (kiểu Tam quốc, Thủy hử, …
và các tác phẩm sử thi Hy Lạp) với người kể chuyện ngôi thứ ba, “biết tuốt” tất cả các hành động và biến cố thậm chí cả diễn biến tâm lý nhân vật
Trang 30Điểm nhìn bên trong (Genette dùng là thuật ngữ Nội tụ điểm: internal focalisation )với ba dạng cụ thể: Cố định (một nhân vật kể mọi việc); bất định
(nhiều nhân vật kể lại những câu chuyện khác nhau); đa thức (nhiều nhân vật cùng nhau kể một sự việc) Với điểm nhìn này, câu chuyện được kể thông qua hình thức tự quan sát của nhân vật hoặc hình thức người trần thuật dựa vào tâm hồn, giác quan nhân vật để biểu hiện cảm nhận về thế giới Theo đó, người đọc đánh giá, chia sẻ với nhân vật và đứng cùng một điểm nhìn với anh
ta Do đó, câu chuyện được kể mang tính chất hiện thực, thuyết phục hơn
Điểm nhìn bên ngoài (Genette gọi là ngoại tụ điểm: external focalisation): Những biến cố được kể thông qua một người chứng kiến bên
ngoài theo cách thức trung tính, khách quan Tính giới hạn của thông báo khiến độc giả không biết về suy nghĩ, tình cảm cùng những diễn biến tâm lý bên trong nhân vật
Qua đây có thể chia vấn đề người kể chuyện thành ba dạng: người kể chuyện ngôi thứ nhất, người kể chuyện ngôi thứ hai và người kể chuyện ngôi thứ ba Trên thực tế đa phần các tác phẩm tự sự được xây dựng với người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và thứ ba, hai tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà cũng được xây dựng ở hai điểm nhìn phổ biến này Cho nên chúng tôi chỉ đi sâu vào tìm hiểu, phân tích vấn đề người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba này
Trần thuật ngôi thứ nhất: Vị trí của người kể chuyện được xác định dựa
trên tiêu chí “quan hệ với câu chuyện”, đó là mối quan hệ được xác lập giữa người kể chuyện và truyện kể Do đó, theo thuật ngữ đã được Genette nêu ra (1972) có thể khái quát như sau: Trong trần thuật ngôi thứ nhất (homodiegetic) câu chuyện được kể bởi một người kể chuyện hiện diện như một nhân vật trong truyện Tiền tố “homo” chỉ một thực tế rằng người đóng vai trò là người kể chuyện cũng là một nhân vật trong cấp độ hành động Một
Trang 31cấp độ đặc biệt của trần thuật ngôi thứ nhất là tự truyện (autodiegetic narration), trong đó người kể chuyện là vai chính trong câu chuyện của chính mình
Trần thuật ngôi thứ nhất là một câu chuyện về những sự kiện mà bản thân anh/cô ta tự trải nghiệm, một câu chuyện về trải nghiệm cá nhân Cá nhân hành động như là một người kể chuyện – cái “tôi” kể chuyện, đồng thời cũng chính là nhân vật – cái “tôi” trải nghiệm Trong trần thuật ngôi thứ nhất, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất chỉ cả người kể chuyện (cái “tôi” kể chuyện hoặc người tự kể chuyện) và một nhân vật trong câu chuyện (cái “tôi” trải nghiệm) Nếu người kể chuyện là một nhân vật chính trong câu chuyện thì anh/cô ta là cái “tôi” vai chính, nếu anh/cô ta là nhân vật phụ thì anh/cô ta là cái “tôi” – chứng nhân
Trong Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, cái “tôi” kể chuyện cũng chính là
cái “tôi” trải nghiệm – Hai Hùng Toàn bộ câu chuyện được chính Hai Hùng
kể lại Đó chính là câu chuyện của anh, câu chuyện về chính anh, về dòng ký
ức đã qua, về những trăn trở thực tại, về cuộc hành trình đi tìm “thời gian đã mất”, những con người, những kỷ niệm vĩnh viễn bị bụi thời gian khỏa lấp Bằng việc kể lại câu chuyện của chính mình, hơn ai hết người kể chuyện – Hai Hùng ý thức được rất rõ cuộc hành trình của anh là vì cái gì, vì sự bình yên thanh thản cho tâm hồn, vì sự thật đáng được tôn vinh, cho dù nó bị che giấu dưới bất kỳ lớp vỏ bọc nào Và đằng sau cuộc hành trình ấy, những trải nghiệm mà bản thân anh đã rút ra được, chính là những cảm nhận sâu xa nhất,
mà chỉ có thể có ở người trong cuộc, người đã trực tiếp trải qua, trực tiếp
tham dự vào Còn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, cái “tôi” kể
chuyện lại là cái “tôi” chứng nhân Câu chuyện được trần thuật qua điểm nhìn của người con trai kể về cha mình, kể lại những năm tháng chiến đấu của ông,
kể về sự “nhập cuộc” đầy khó khăn và lạc lõng của ông với đời thường,
Trang 32những day dứt của người tướng già trước những giá trị của thời đại mới, những tiếc nuối một thời của ông, … Ở hình thức trần thuật này, người kể chuyện chỉ là “người quan sát”, vì thế có đôi nét hạn chế, bởi anh ta không bao giờ biết được chính xác những gì đang diễn ra trong tâm tư của nhân vật chính, có chăng chỉ là những suy đoán, cảm nhận của người kể chuyện mà thôi
Liên quan đến điểm nhìn, trần thuật ngôi thứ nhất có thể được kể từ
nhận thức về cái tôi kể chuyện (quan điểm diễn ngôn điển hình: Tôi biết khi
đó tôi biết gì) hoặc từ cấp độ giản đơn và giới hạn của cái tôi trải nghiệm
(thực hiện chức năng như là một người quan sát bên trong) Về mặt nhận thức luận, những người kể chuyện ngôi thứ nhất bị giới hạn bởi những giới hạn thuộc về con người: họ không thể ở hai nơi cùng lúc, không biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, họ (trong hoàn cảnh bình thường) không thể kể lại câu chuyện về cái chết của chính mình và họ có thể không bao giờ biết chắc chắn những nhân vật khác nghĩ hoặc tưởng tượng những gì (vấn đề “ý nghĩ của người khác”) Trần thuật ngôi thứ nhất, hiểu theo một cách khác là trần thuật của nhân vật, bởi trong trường hợp này, người kể chuyện chính là một nhân vật trực tiếp tham dự vào câu chuyện được kể Bằng trần thuật ngôi thứ nhất,
đã giảm bớt sự hiện diện tràn lan của người kể chuyện, mà thông qua cái “tôi” trải nghiệm đã mở ra cánh cửa dẫn tới sự tiếp cận trực tiếp suy nghĩ của nhân vật và qua “lăng kính”, “màng lọc” này mà tiếp cận những sự kiện của truyện, tái tạo toàn bộ giọng điệu của người kể chuyện diễn ra khi văn bản không trình bày một điều gì mà trích dẫn trực tiếp những suy nghĩ của người phản ánh ở dạng “độc thoại nội tâm”, kỹ thuật trần thuật này xuất phát từ điểm nhìn bên trong của người kể chuyện – nhân vật
Trần thuật ngôi thứ ba: Cùng với thuật ngữ mà Genette đã nêu (1972),
có thể khái quát như sau: “Trần thuật ngôi thứ ba (heterodiegetic) là câu
Trang 33chuyện được kể bởi người thứ ba, không phải là nhân vật trong truyện Tiền
tố “hetero” chỉ sự khác nhau tự nhiên giữa thế giới người kể chuyện và thế giới hành động”
Trái ngược với trần thuật ngôi thứ nhất, người kể chuyện ngôi thứ ba là người kể chuyện ẩn tàng, là một người không bày tỏ những đặc điểm công khai như người kể chuyện ngôi thứ nhất Cụ thể, anh/cô ta là người không hướng đến chính mình hay người nhận, người nghe; một người có giọng điệu
và phong cách ít nhiều trung tính (không có đặc tính rõ rệt); một người mơ hồ
về giới tính; một người không sẵn sàng bộc lộ dù rất cần thiết; một người không xâm nhập hay can thiệp; một người để cho các sự kiện của câu chuyện trải ra theo dòng chảy và nhịp điệu tự nhiên; một người mà trần thuật của anh
ta không có chức năng bộc lộ ý muốn hay thuyết phục: “Chẳng biết có phải
là do hư cấu thêm không mà người ta kể rằng khi vốc xương mủn và cây đàn vừa được đưa lên từ đáy huyệt thì tất cả những ai có mặt đều nghe thấy vang lên trong rừng những âm điệu bi tráng của bài ca ấy Sau đó thì vĩnh viến tắt bặt Bài ca chắc chắn là đã mãi mãi lìa bỏ khu rừng” [29, tr.99]
Một người kể chuyện dùng ngôi thứ ba là người không và chưa từng là một nhân vật trong câu chuyện Thực tế là người kể chuyện đứng ngoài câu chuyện khiến chúng ta sẽ dễ chấp nhận những gì chúng ta không bao giờ chấp nhận ngoài đời, một người có kiến thức và quyền lực vô hạn Người kể chuyện ngôi thứ ba đặc biệt mang quyền lực “toàn tri” của Chúa cứ như thể đây là một điều tự nhiên nhất trên đời Khi có xu hướng nói trực tiếp, người
kể chuyện ngôi thứ ba có thể nói trực tiếp với người đọc và họ có thể tự do bình luận về bản thân hành động, nhân vật và người kể chuyện
Theo Stanzel, chúng ta sẽ gọi loại truyện kể dùng ngôi thứ ba công khai
và những điều kiện đi kèm là tình huống trần thuật theo điểm nhìn tác giả Tất nhiên, cách nhìn thế giới bao quát của tác giả người kể chuyện đặc biệt phù
Trang 34hợp với việc phát hiện sức mạnh tinh thần cũng như những khiếm khuyết của nhân vật và thể hiện một trần thuật có cốt truyện chặt chẽ
Người kể chuyện ở ngôi thứ ba đôi khi không hẳn là một người hoàn toàn đứng ngoài câu chuyện được kể Người kể chuyện ngôi thứ ba, trong một vài trường hợp cũng chính là người mang tiêu điểm trần thuật, nhưng không
lộ diện Ở trường hợp này, người kể chuyện ẩn, anh ta mượn điểm nhìn của nhân vật để kể chuyện Và anh ta hòa vào với nhân vật đến mức ta khó phân biệt được giọng kể của anh ta với giọng kể của nhân vật Ở đây, các sự kiện, diễn biến của câu chuyện được nhìn dưới con mắt của một người phản ánh bên trong ở ngôi thứ ba Trần thuật trong điều kiện này mang điểm nhìn bên trong, người kể chuyện ở ngôi thứ ba ẩn tàng, giấu mình sau sự hiện diện của
ý thức, đặc biệt là sau những suy nghĩ của người phản ánh bên trong Bởi diễn ngôn của người kể chuyện gần giống với giọng điệu của người quan sát nên chất giọng của nó không khu biệt rõ nét Một trong những hiệu quả chính của điểm nhìn bên trong là thu hút sự chú ý tới ý nghĩ của nhân vật – người phản ánh và bỏ qua người kể chuyện và quá trình sắp xếp trần thuật
Như vậy, có thể tổng kết lại, người kể chuyện ngôi thứ ba là người trần thuật theo tác giả, được kể bởi một người kể chuyện vắng mặt trong câu chuyện, vì vậy người kể chuyện không xuất hiện như là một nhân vật trong câu chuyện Người kể chuyện – tác giả kể về một câu chuyện liên quan đến người khác Một người kể chuyện – tác giả chứng kiến một câu chuyện từ một
vị trí bên ngoài, thường là một vị trí có quyền lực tuyệt đối cho phép anh/cô ta
có thể biết mọi thứ về thế giới và những nhân vật của câu chuyện
1.2 Sáng tác của Nguyễn Việt Hà
1.2.1 Sự nghiệp sáng tác
Trang 35Là một người viết trẻ, Nguyễn Việt Hà xuất hiện vào khoảng thời gian
“hậu đổi mới” của nước ta Đó là giai đoạn mà nhiều giá trị sống bị đảo lộn Ngay cả trong văn học, các giá trị tưởng như “cổ điển” cũng đòi phải xem xét lại Trong bối cảnh đó, một cây bút trẻ mới xuất hiện dễ dàng bị mờ nhạt, lãng
quên “Cố gắng để khỏi bị chìm đi của Nguyễn Việt Hà là một cố gắng khác
thường của một cây bút có tài và thực sự bản lĩnh” [Nguyễn Huy Thiệp] Sự
ra đời nối tiếp nhau của hai cuốn tiểu thuyết Cơ hội của Chúa và Khải huyền
muộn làm xôn xao dư luận một thời và được coi là một hiện tượng của văn
học Việt Nam đương đại
Nguyễn Việt Hà có số lượng sáng tác khá nhiều, ông cho ra đời hai
cuốn tiểu thuyết: Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn; bảy tập truyện ngắn: Thật Bồ Đoàn, Những trang báo ma quái, Người thi hộ, Mưa vào
ngày cưới, Mối tình đầu, Của rơi, Biển lạ; và cả tạp văn: Mặt của đàn ông, Nhà văn thì chơi với ai …
Luôn luôn kiếm tìm một lối viết mới, Nguyễn Việt Hà nổi tiếng với
cuốn tiểu thuyết đầu tay gây nhiều tranh cãi: Cơ hội của Chúa do nhà xuất
bản Văn học phát hành năm 1999 Tác phẩm này có thể coi là thành công và thu hút được nhiều sự chú ý nhất của Nguyễn Việt Hà Theo nhà văn, tác phẩm được viết trong suốt chiều dài tám năm (3/1989 – 2/1997) Theo nhiều
người nhận định, con người và sự việc trong Cơ hội của Chúa không có gì
mới, nhưng cuốn tiểu thuyết đầu tay này đã khiến cho tác giả của nó phải lao
đao vì dư luận Cuộc tranh cãi quanh Cơ hội của Chúa nhanh chóng bị
chuyển từ văn chương sang thái độ chính trị Khi tiểu thuyết Việt Nam vẫn
chưa thoát khỏi tư duy truyền thống thì sự xuất hiện Cơ hội của Chúa khiến
dư luận chú ý là điều dễ hiểu Cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Việt Hà sau đó bị đình chỉ xuất bản và lưu hành Phải đến gần mười năm sau khi người ta đã quen dần với cái mới của tư duy tiểu thuyết hiện đại và dư luận
Trang 36cũng tạm lắng xuống, Cơ hội của Chúa mới được xuất bản trở lại, lúc này dư
luận cũng đón nhận tác phẩm này với sự công bằng, khách quan hơn Độc giả cũng đã nhận thấy được những đóng góp đáng kể của Nguyễn Việt Hà cho việc đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Về cơ bản, Cơ hội của Chúa là mô hình tiểu thuyết quen thuộc, nghĩa
là nó cố gắng phản ánh hiện thực bằng những chi tiết xác thực của sự kiện và tính cách nhân vật Đi theo hướng này, nhà văn luôn có ý thức nhắc nhở người đọc về khoảng thời gian lịch sử mà cuốn tiểu thuyết nhắc đến Tất cả đều là những sinh hoạt thời thượng của xã hội Việt Nam những năm cuối thập
kỷ 80, đầu thập kỷ 90 Đây chính là mốc thời gian đã diễn ra công cuộc cải cách mở cửa mà chúng ta vẫn gọi là thời kỳ đổi mới Tác phẩm có thể được xem như bức tranh chung cho sự nhộn nhạo, nhiễu nhương ở các thành phố, khu đô thị đầu kinh tế thị trường.Chính trong thời buổi giao tranh gay gắt giữa cái mới và cái cũ, khi mà cái mới chưa kịp hình thành, cái cũ chưa mất đi hẳn, thời buổi mà nhà nước non trẻ phải chèo chống con thuyền đất nước ra khỏi cuộc chiến tranh dai dẳng và tàn khốc, những thiết chế nhà nước về mọi mặt chưa được xây dựng một cách chặt chẽ, tất cả đều còn rất tạm bợ, tất cả đều còn rất lỏng lẻo … đấy chính là môi trường, là lý do để làm nảy sinh những vấn nạn về con người, những thực trạng dở khóc dở cười trong xã hội Những
khái quát, nhận định trong Cơ hội của Chúa có thể đánh giá tùy theo cách
nhìn: dám nhìn thẳng vào sự thật hoặc phóng đại, bôi đen Những đánh giá này được biểu đạt qua điểm nhìn của nhiều nhân vật, nhiều tính cách Mỗi một tính cách lại có một chiêm nghiệm cuộc sống khác nhau Qua đó chúng ta
có thể thấy được cái nhìn đa chiều của con người trong thời đại ấy với xã hội của mình Bức tranh cuộc sống được vẽ nên từ nhiều màu sắc khác nhau, có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng cũng lột tả được phần nào hiện thực cuộc sống trong hoàn cảnh đổi mới ấy
Trang 37Tuyển tập truyện ngắn Của rơi mới ra mắt - Nhà xuất bản Phụ nữ năm
2004, lại một lần nữa mang đến sự hứng thú và lôi cuốn người đọc Chắc hẳn đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, các tác phẩm của ông có cái nhìn sắc sảo đến vậy về cuộc sống thành thị, thanh niên và giới trí thức, đó là không ngừng làm phong phú kỹ thuật kể chuyện, để từ đó vượt lên trên cả nội
dung, đạt đến lối viết như là chủ đề văn học
Truyện ngắn Mãi không tới núi, trích trong tập truyện ngắn Của rơi
của ông đã được dịch ra tiếng Pháp và được đọc bằng song ngữ cho cả Việt Nam và nước ngoài tại trung tâm văn hóa Pháp L’Espace, trong buổi giao lưu văn học tại đây
Sáu năm sau cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Nguyễn Việt Hà trình làng cuốn
tiểu thuyết thứ hai: Khải huyền muộn.Tác phẩm này cũng tạo được sự chú ý
đối với giới phê bình và độc giả Sau những thành công với tác phẩm tiểu thuyết đầu tay, thì đây là một tác phẩm mới nối tiếp những sáng tạo của Nguyễn Việt Hà trên nhiều phương diện Lần này, nhân vật chính là một cuốn
tiểu thuyết đang viết dở So với Cơ hội của Chúa thì Khải huyền muộn tương
đối khó đọc và khó hiểu hơn Với quan niệm coi lối viết của người cầm bút như
là một chủ đề văn học, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà dường như là
sự nối dài của cảm hứng văn học viết về chính nó đã xuất hiện trong các tác phẩm của ông nói riêng và của tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói chung
Qua Khải huyền muộn, tác giả đã bộc lộ rất thằng thắn những quan
niệm về nhà văn – nghề văn và công việc sáng tạo của người cầm bút Kiên
trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) có một thôi thúc: “Phải viết thôi Viết
để quên đi, viết để nhớ lại Viết để có một cứu cánh, một niềm cứu rỗi, để mà chịu đựng, để giữu lòng tin, để mà còn muốn sống” [29 ]; viết để giúp con
người không quên quá khứ và hiểu được tương lai; nghĩa là viết để lưu giữ lại
một thời hiện thực khắc nghiệt mà anh đã trải qua Còn Bạch trong Khải huyền
Trang 38muộn, viết thực sự là một sân khấu của sáng tạo, tác phẩm không chỉ đơn
thuần là hiện thực mà còn phải có một cấu trúc độc đáo, mới lạ
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật
Nguyễn Việt Hà hiện đang sống, làm việc tại Hà Nội Ông viết tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp văn, … và được đông đảo độc giả ái mộ Đọc Nguyễn Việt Hà có cảm giác như ông đang ở ngay gần chúng ta, nghe được từng hơi thở, đọc được từng ý nghĩ, bóc mẽ đến tận cùng cái khốn nạn của thằng người đang bập bềnh giữa dòng đời ô tạp, tha hóa, trơ lỳ đến không thể trơ lỳ hơn được nữa Độc giả có thể bị ám ảnh trước những chi tiết tưởng chừng như vô tình thoáng qua, đầy rẫy trong cuộc sống hàng ngày trong tác phẩm của ông nhưng thực ra đầy ma lực, day dứt Với văn chương của Nguyễn Việt Hà, chúng ta cảm thấy được an ủi, bị lục vấn, “bị hắt nước vào mặt”, luôn phải trang bị cho mình một “tâm lý tự vấn”, buộc chúng ta phải ngồi dậy, cởi bỏ mặt nạ, soi gương để nhận diện chính mình, thèm cười vang, thèm thét lớn trong những cảm xúc thật đến trần trụi Dù Nguyễn Việt Hà có quan niệm truyện ngắn là bài tập, bản nháp của tiểu thuyết, nhưng những trang viết của ông là những quan niệm thẩm mỹ riêng biệt, những trải nghiệm đời sống chỉ ông mới có, không cố tình răn dạy hay áp đặt
Tạp văn bây giờ khá nhiều người viết, nhưng cũng như thơ lục bát, rất nhiều người làm nhưng ít bài hay, tạp văn tưởng dễ viết nhưng lại khó thành bởi tạp văn rất quan trọng ở cái giọng Nếu xét trên tiêu chí này thì Nguyễn Việt Hà là một tay cứng ở thể loại báo chí pha văn học này Đọc tạp văn của ông, ta không thể dửng dưng được, người đọc bị cuốn theo những chi tiết bất chợt, những kiến thức đầy bất ngờ và những lý giải thú vị Và cười, có thể là cười phá lên hoặc tủm tỉm Và thú, như uống trà xong còn đọng lại dư vị ở đầu lưỡi Gom lại những cuốn sách, tạp văn của Nguyễn Việt Hà cho ta thấy cái nghe, cái nhìn, cái cảm, cái nghĩ của ông vừa nhanh nhạy sắc bén lại vừa
Trang 39tinh nghịch dí dỏm, mà có những bài tạp văn lại cho ta thấy Nguyễn Việt Hà
hẳn ra là một nhà phê bình có chất (Bốn sáu tám, Một thoáng văn học đương
đại Trung Quốc)
Trong tiểu thuyết, truyện ngắn hay kịch bản của ông đều có một nhân vật là trí thức có tài, trong sáng nhưng bất cần, lập dị, lúc nào cũng tự coi mình là hiền sĩ và uống rượu rất giỏi Ông đã lý giải cho điều này: những nhân vật đó của ông có sự buồn chán, có sự khát khao của chính ông, nhưng không hẳn là ông Khi con người, đặc biệt là người trí thức buồn chán, thì họ phải làm một cái gì đó “giải chán” như yêu đương, uống rượu hay tệ hơn là cờ bạc Nhân vật của ông chọn rượu vì nó hợp với họ Có thể coi tác phẩm của ông nhắc đến các loại rượu nhiều nhất trong số các sáng tác trong thời kỳ đổi mới
Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Việt Hà luôn hướng tới hy vọng hoặc đi vào những nghịch cảnh của sự tha hóa Bởi theo ông, đó là những mặt thật trái chiều của cuộc sống Trong con người có tính thiện Nhưng khi phải đối mặt với hiện thực nghiệt ngã của xã hội, không ít người đã đánh mất mình Nhân vật của ông dù có trượt ngã đến thế nào, vẫn sẽ thấy một chút gì
đó day dứt, trăn trở Sự tha hóa ấy trong các tác phẩm của ông phần lớn chỉ xảy ra với giới trí thức, hơn ai hết, ông hiểu những suy nghĩ trong giới mình Trong vòng quay chóng mặt của cuộc sống, nhiều khi họ đánh mất bản thân Nhiều người vẫn ôm trong mình nhiều khát vọng nhưng khi va chạm với cuộc sống, vô tình nó bị tầm thường hóa Những trang viết đầy gai góc và khắc nghiệt của Nguyễn Việt Hà biết đâu sẽ giúp cho nhiều người nhận ra chính bản thân mình
Nguyễn Việt Hà đã thể hiện những quan điểm sâu sắc của bản thân về
nhà văn Trong Cơ hội của Chúa, ông cho nhân vật Hoàng đi xa nhất Bởi
không chỉ độc thoại, Hoàng còn là nhà văn Tác phẩm này còn dành nhiều
Trang 40trang để đăng lại bản thảo hai truyện ngắn Bằng giọng điệu lúc thì hài hước châm chọc, lúc lại dịu dàng và có hậu, Hoàng phác thảo chân dung các triết gia: Trang Tử, Huệ Tử, Tuệ Trung Thượng Sĩ Qua Nhã, Lâm, Thủy, chúng ta được biết thêm về số phận những sáng tác của anh Hoàng thường viết – và
viết tay – vào những lúc chán, buồn đến nỗi không uống được cả rượu, sau đó
bỏ hoặc đốt đi, nhưng đôi khi gửi đăng ở các tuần báo văn chương Nhã lại là
người đánh máy lại các truyện ngắn của Hoàng Và theo Sáng thì Hoàng khó
mà nổi tiếng Nhưng sự nổi tiếng không phải là khát vọng của Hoàng Với
anh, viết có lẽ là một sự giải thoát Hoàng đến với văn chương vì đơn giản là anh muốn viết, muốn bày tỏ những tâm sự sâu kín của lòng mình những lúc không biết ngỏ cùng ai Sau khi chia tay với Thủy, mọi thứ đổ vỡ thì Hoàng cũng không bao giờ viết nữa Cách đây đúng hai mươi bảy ngày, Hoàng bẻ bút và đốt tất cả những gì anh cặm cụi viết suốt ba năm Nếu ở tiểu thuyết đầu
tay, chủ đề văn học mới chỉ được thể hiện rất mờ nhạt thì đến Khải huyền
muộn, chủ đề văn học được Nguyễn Việt Hà khai thác triệt để với nhân vật
chính là một cuốn tiểu thuyết đang viết dở Trước hết là quan niệm về nhà
văn “Muốn hiểu một nhà văn tốt nhất nên đọc sách họ”[ 11, tr.28] Như vậy
có nghĩa cũng như nhiều người khác, Nguyễn Việt Hà quan niệm văn là
người, tác phẩm văn học thể hiện con người của tác giả Theo tác giả, giữa
nhà văn và nhà thơ có sự khác nhau rõ rệt, đó chính là sự tỉnh táo “So với cái
tỉnh táo của văn xuôi, phàm những người làm thơ thường điên điên hơn Họ uống cũng nhiều, say cũng nhanh nhưng đến khi tỉnh táo thì đến quá nửa số người trong bọn họ sẽ đi làm quan” [ 11, tr.158] Nhà văn là viết về hiện thực,
cũng cần có cảm xúc nhưng không hoàn toàn là những phút giây hoàn toàn thăng hoa Muốn viết được, họ phải là người biết quan sát và có sự chiêm
nghiệm tỉnh táo về cuộc đời “Nghề văn là nghề ngồi nghĩ Nó chưa hẳn đòi
hỏi sự cô đơn nhưng tuyệt nhiên không cần sự ấn chứng của đám đông (…)