1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo tam dư

84 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tăng trưởng hình thái, thể lực và sự hoàn thiện các chức năng sống của con người là những vấn đề rất quan trọng đặc biệt trong lứa tuổi học sinh khi mà các đặc điểm này luôn thay đổi

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đại học sư phạm hà nội 2

nguyễn thị thanh nga

nghiên cứu sự tăng trưởng hình tháI

và một số chức năng sinh lý của học sinh trường thpt bán công Trần hưng đạo-

Trang 2

Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, căn cứ, kết quả nêu trong đề tài là hoàn toàn trung thực Nội dung đề tài chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Nga

Trang 3

Mục lục

Trang

1.1 Các vấn đề chung về hình thái – thể lực cơ thể người 10

1.1.1 Nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực trên thế giới 11

1.1.2 Nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực ở Việt Nam 12

1.2.1 Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn máu 21

1.2.2 Các nghiên cứu về chức năng hô hấp phổi 25

Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 27

2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số 28

3.1 Sự tăng trưởng các giá trị hình thái của học sinh trường THPT

bán công Trần Hưng Đạo

33

3.1.1 Chỉ số chiều cao đứng của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 33

3.1.2 Chỉ sổ trọng lượng cơ thể của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 35

3.1.3 Chỉ số vòng ngực trung bình của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 38

3.2 Sự tăng trưởng các giá trị thể lực của học sinh trường THPT bán

công Trần Hưng Đạo

41

3.2.1 Chỉ số BMI của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 41

3.2.2 Chỉ số Pignet của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 43

3.3 Sự tăng trưởng của một số chức năng sống của học sinh trường

THPT bán công Trần Hưng Đạo

46

3.3.1 Chỉ số tuần hoàn máu của học sinh 46

3.3.2 Chỉ số hô hấp của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 51

3.4 Mối tương quan giữa các giá trị hình thái và sinh lý của học sinh

Trang 4

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 5

Danh mục các bảng

1 Bảng 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi và giới tính 27

2 Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và 33 giới tính (cm)

3 Bảng 3.2 Trọng lượng trung bình của học sinh theo tuổi 36

6 Bảng 3.5 Chỉ số Pignet của hoc sinh theo tuổi và giới tính 46

7 Bảng 3.6 Tần số tim của học sinh theo lớp 46 tuổi và giới tính (X  SD)

8 Bảng 3.7 Huyết áp động mạch của học sinh theo lớp 49 tuổi và giới tính (mmHg)

9 Bảng 3.8 Dung tính sống (lít) của học sinh theo 51 lớp tuổi và giới tính

10 Bảng 3.9 Dung tính sống thở mạnh (lít) của học sinh 53 theo lớp tuổi và giới tính

11 Bảng 3.10 Thể tích khí thở ra tối đa trong giây đầu (lit) 54 của học sinh theo lớp tuổi và giới tính

12 Bảng 3.11 Tương quan giữa chiều cao đứng với tần 57

số tim của học sinh theo lớp tuổi

13 Bảng 3.12 Tương quan giữa chiều cao đứng với dung 59 tích sống của học sinh theo lớp tuổi

14 Bảng 3.13 Tương quan giữa cân nặng với tần số tim 61 của học sinh theo lớp tuổi

15 Bảng 3.14 Tương quan giữa trọng lợng cơ thể 63 với dung tích sống của học sinh theo lớp tuổi

16 Bảng 3.15 Tương quan giữa VNTB với tần số tim 65

Trang 6

cña häc sinh theo líp tuæi

víi dung tÝch sèng cña häc sinh theo líp tuæi

Trang 7

học Công nghệ “Giáo dục và Đào tạo cùng với Khoa học và Công nghệ phải

thực sự trở thành quốc sách hành đầu Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện, không chỉ về mặt trí tuệ, đạo

đức, lối sống mà còn là con người cường tráng về thể chất

Sự tăng trưởng hình thái, thể lực và sự hoàn thiện các chức năng sống của con người là những vấn đề rất quan trọng đặc biệt trong lứa tuổi học sinh khi mà các đặc điểm này luôn thay đổi theo lớp tuổi Do đó, công việc nghiên cứu các chỉ số sinh học trên phải được nghiên cứu một cách thường xuyên Trong tình hình đất nước đang trên đà đổi mới, những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu các chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh Việt Nam Kết quả nghiên cứu được trình bày trong các tạp chí và trong các tài liệu chuyên nghành Đáng chú ý là các nhóm đề tài “Nghiên cứu các chỉ tiêu thể lực và trí tuệ của học sinh” do GS.TS Tạ Thuý Lan chủ nhiệm [32], [33], [34] và các đề tài của TS.Trần Thị Loan [40], [41]

Từ trước đến nay, việc nghiên cứu trên đối tượng là học sinh THPT ở tỉnh Vĩnh Phúc còn rất ít và chưa có các công trình nghiên cứu cụ thể nào đề cập đến sự tăng trưởng của học sinh qua các lớp tuổi Để tìm hiểu vấn đề này

chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài: "Nghiờn cứu sự tăng trưởng hỡnh

Trang 8

thỏi và một chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bỏn cụng Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phỳc”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Xỏc định thực trạng tăng trưởng về hỡnh thỏi và cỏc chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phỳc

- Tỡm ra mối liờn hệ giữa sự tăng trưởng về hỡnh thỏi và cỏc chức năng sinh lý để cú thể võn dụng vào quỏ trỡnh đào tạo con người phỏt triển một cỏch toàn diện gúp phần vào việc nõng cao chất lượng nguồn nhõn lực

- Xỏc định mối tương quan giữa tăng trưởng hỡnh thỏi và cỏc chức năng sinh lý

1.3 Nhiệm vụ của đề tài

1 Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số hình thái của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo- Tam Dương- Vĩnh Phúc bao gồm các chỉ số (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình)

2 Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số thể lực của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo- Tam Dương- Vĩnh Phúc bao gồm các chỉ số (Pignet BMI) theo các lớp tuổi

3 Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số chức năng một số cơ quan của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phúc bao gồm các chỉ số (chức năng tuần hoàn, chức năng hô hấp)

4 Nghiên cứu mối tương quan giữa một số chức năng hình thái và sinh

lý của học sinh theo giới tính

Trang 9

1.4 Những điểm mới của đề tài

Kết quả nghiên cứu đã:

1 Tìm thấy sự thay đổi về mặt hình thái, thể lực của học sinh trong giai

đoạn từ 16 tuổi đến 18 tuổi

2 Phát hiện được sự khác biệt về gia tốc tăng trưởng các chỉ số sinh học giữa học sinh nam và học sinh nữ

3 Tìm thấy mối liên hệ giữa các chỉ số hình thái và sinh lý của học sinh THPT lớp tuổi từ 16 đến 18

1.5 ý nghĩa khoa học của đề tài

Trang 10

Cân nặng cũng được khảo sát thường xuyên trong các nghiên cứu thể lực của con người Cân nặng gồm hai phần: phần cố định chiếm 1/3 trọng lượng cơ thẻ gồm các phần như: xương, da, nội tạng, thần kinh và phần không cố định chiếm 2/3 khối lượng cơ thể, trong đó có cả khối lượng cơ, cả khối lượng mỡ và nước Ở người trưởng thành, sự tăng cõn chủ yếu là tăng phần khụng cố định và cú liờn quan chặt chẽ đến chế độ dinh dưỡng [9] [13]

Vũng ngực cũng được coi là một đặc trưng cơ bản của thể lực những người đầu tiờn lưu ý đến số đo vũng ngực là cỏc bỏc sĩ lõm sàng, ở đầu thế kỉ XIX, khi họ nhận thấy cú sự liờn quan giữa cỏc mức độ phỏt triển của lồng ngực và cỏc bệnh hụ hấp Dần dần cuối thế kỉ XIX, vũng ngực trở thành chỉ tiờu quan trọng trong các cuộc tuyển chọn binh lớnh và nhõn cụng lao động…[1]

Thể lực là thước đo sức khỏe, khả năng lao động, làm việc của con người Chính vì vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu hình thái- thể

Trang 11

lực được phổ biến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: tuyển sinh, tuyển quân, tuyển lao động, giám định y khoa….[57]

Thể lực của con người là một chỉ tiêu phức hợp Một trong những biểu hiện cơ bản của thể lực là những số đo kích thước của cơ thể, trong đó chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực của cơ thể là ba chỉ số phản ánh thể lực của con người Từ ba chỉ số này có thể tính thêm một số chỉ số khác thể hiện mối liên quan giữa ba chỉ số đó như chỉ số Pignet, BMI [61]

Cụng trỡnh nghiờn cứu về thể lực cho thấy sự khỏc nhau về thể lực giữa trẻ em thành phố và trẻ em nụng thụn, cú sự khỏc nhau về tốc độ phỏt triển thể lực giữa nam và nữ Trờn thực tế, sự phỏt triển thể lực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và kết quả sự tỏc động qua lại giữa cơ thể và mụi trường [41], [47], [63]

1.1.1 Nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực trên thế giới

Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để

đánh giá thể lực 90 Sau này, các nhà giải phẫu học kiêm hoạ sỹ thời phục hưng như: Leonard de Vinci, Mikenlangielo, Raphael đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa lên những tác phẩm hội hoạ của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng đã được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski

Rudolf Martin, người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua

2 tác phẩm nổi tiếng: "Giáo trình về nhân trắc học" và "Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê " Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn

được sử dụng 62, 85

Trang 12

Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P.N Baskirov - "Nhân trắc học ", Evan Dervael- "Nhân trắc học", công trình của Bunak, A.M Uruxon Song song với sự phát triển của các bộ môn Di truyền, Sinh lý học, Toán học việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn Vấn đề này

được thể hiện qua các công trình của X Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tomner, M Sempé, G Pédron, M.P Rog- Pernot [81]

Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng

về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng

có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc 64 Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến

25 là luận án tiến sỹ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754 Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross - sectional study) là phương pháp được dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện được trên nhiều đối tượng cùng một lúc

Nghiên cứu dọc của Philibert Guéneau de Montbeilard thực hiện nghiên cứu trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777 Đây là phương pháp rất tốt đã được ứng dụng cho đến ngày nay Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.P Bowditch ở Mỹ; Paul Godin ở Pháp Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã

được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới

1.1.2 Nghiên cứu các chỉ số hình thái - thể lực ở Việt Nam

Hình thái - thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em Vào những năm 30 của

Trang 13

thế kỷ 20 tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa

Đông Dương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn

đề này Tác phẩm "Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương " của P Huard, A Bigot và "Hình thái học Người và giải phẫu thẩm

mỹ học " của P Huard và Đỗ Xuân Hợp, Đỗ Xuân Hợp 63 được xem là những công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam Tuy số lượng chưa nhiều, nhưng các tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời

Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một số trường đại học và viện nghiên cứu Các hội nghị về lĩnh vực này đã

được tổ chức nhiều lần, đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình cấp quốc gia và địa phương được thực hiện Đó là công trình “Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 do GS Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên

67 Đây cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực người Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 18 đến 25 Đây mới

là các chỉ số sinh học của ngưòi miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử), song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Namỵ Sau này cũng đã có một số công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh thể con người Việt nam [69], [70]

Qua các công trình này có thể thấy, tầm vóc và thể lực người Việt Nam nhỏ hơn so với các dân tộc Âu, Mỹ [90] Đa số các kích thước về tầm vóc - thể lực của nam lớn hơn của nữ Các kích thước này tăng dần theo tuổi,

đạt giá trị cao nhất ở lớp tuổi 26 - 40 (đối với nam) rồi sau đó giảm dần từ 41

đến 60 tuổi Mức độ giảm mạnh thường thấy ở các lớp tuổi trên 60 Đối với nữ, tầm vóc thể lực cũng tăng dần, đạt đỉnh cao lúc 18 -25 tuổi Từ 26 đến 40 tuổi các chỉ số thể lực ở nữ đã có xu hướng giảm và giảm rõ nhất ở lớp tuổi 41

Trang 14

- 55 Từ 56 tuổi trở đi các chỉ số thể lực của phụ nữ ngày càng giảm nhiều hơn

54

Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân tộc thường có một khung chiều cao nhất định, nó được xác định trong quá trình hình thành các đặc điểm sinh thể của dân tộc [45] ở nước ta, chiều cao đứng người trưởng thành lớp tuổi 18 - 25 của nam đạt 159,0 5,0 cm và của nữ là 149,0  4,0 cm [36] Theo đề tài KX07.07 [62] thì chiều cao của nam là 162,4

 5,5 cm và ở nữ là 153,3  4,7 cm Như vậy, nam có chiều cao hơn nữ khoảng trên dưới 9 cm, đây cũng là mức chênh lệch phổ biến của nhiều quần thể người trên thế giới 22 Tuy nhiên, không chỉ có sự khác biệt theo chiều cao giữa nam và nữ mà giữa dân cư thuộc các miền khác nhau cũng có sự khác biệt về kích thước này Phải chăng, đây chính là ảnh hưởng của môi trường sống đến sự tăng trưởng và phát triển của con người trong các giai đoạn phát

triển khác nhau, như nhiều tác giả đã nhận định [45], [47], [49], [50], [58]

Các công trình nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, trọng lượng cơ thể cũng thay đổi theo qui luật giống như tăng trưởng chiều cao Cân nặng tăng dần theo tuổi, sau đó, các chỉ số này giảm xuống ở các lớp tuổi cao Giữa dân cư thuộc các miền khác nhau cũng có sự khác biệt về trọng lượng trung bình của cơ thể [45], [58] Người miền Nam Việt Nam thường có trọng lượng

cơ thể lớn hơn người miền Bắc [17], [28]

Chỉ số sinh học khác được nghiên cứu nhiều là vòng ngực Đặc điểm chung của tất cả các đối tượng là kích thước vòng ngực trung bình phát triển cao nhất ở lớp tuổi từ 16 -25 (đối với nữ) và 26 - 40 (đối với nam) ở các lớp tuổi sau đó kích thước vòng ngực giảm dần 54 Các số liệu về vòng ngực trung bình của các tác giả cũng không hoàn toàn giống nhau Theo Dự án ’90

49 vòng ngực trung bình của nam tuổi 25 là 82,03  4,34 cm và của nữ cùng

Trang 15

tuổi là 79,82  5,31 cm ở cả nam và nữ vòng ngực trung bình đều giảm dần

khi ở tuổi từ 41 trở đi

Kích thước vòng ngực hít vào hết sức phát triển tỷ lệ thuận với vòng ngực trung bình Do đó, nó cũng có những đặc điểm như vòng ngực trung bình Chỉ số này ở lớp tuổi 18 -25 đối với nam là 80,0  4,0 cm và nữ là 76,0  4,0 cm [67] Theo nghiên cứu của Trịnh Văn Minh và cs 52 với lớp tuổi 24 thì vòng ngực trung bình của nam là 82,44 3,58 cm và của nữ là 74,89  4,06 cm Với vòng ngực trung bình như vậy ở nam giới lớp tuổi từ 18 đến 25

có chỉ số Pignet là 37,0  6,0 và nữ là 33,0  6,0 Theo Trịnh Văn Minh và cs

52, chỉ số Pignet của nam lớp tuổi 24 là 36,38  6,38 và của nữ là 36,50  6,54 Như vậy, so với “Hằng số sinh học năm 75” [67] các nghiên cứu sau này cho thấy, chỉ số Pignet của nam và nữ có sự khác biệt không nhiều Chỉ số BMI cũng được đề cập tới trong nhiều công trình Theo nghiên cứu của Trịnh Văn Minh và cs 52 thì, chỉ số BMI của lớp tuổi 24 ở nam là 18,78  1,50 và

ở nữ là 19,13 1,67

Tiếp đó là công trình của Trịnh Bỉnh Dy và cs [13], [14] nghiên cứu

về các thông số sinh học và đặc điểm chức năng sinh lý người Việt Nam Các tác giả cho rằng, con người sinh học sau khi bộ xương đã hoàn tất quá trình tăng trưởng (khoảng 20 - 25 tuổi), thì hầu hết mọi chức năng đều từ từ giảm dần Đó là quá trình suy thoái chức năng, đặc trưng cho sự già hoá sau 20 - 25 tuổi

“Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do Võ Hưng chủ biên đã trình bày các công trình nghiên cứu nhân trắc người Việt Nam trên cả ba miền của đất nước Qua công trình này, tác giả đã nêu lên

được các qui luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người Việt Nam 25

Trang 16

“Các chỉ tiêu nhân trắc hình thái thể lực người miền Bắc Việt Nam trưởng thành trong thập niên 90” do Trịnh Văn Minh và cs 52 thực hiện cho thấy, ở lớp tuổi thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp tục phát triển và đạt đỉnh cao vào lúc 20 - 21 tuổi (ở nữ) và 22 tuổi (ở nam) Nam giới

có chiều cao, cân nặng và các kích thước liên quan đến thể lực, cụ thể là với hoạt động cơ bắp luôn cao hơn so với nữ giới Trong khi đó, các chỉ số khác

có liên quan đến dinh dưỡng, khối mỡ, chỉ số Pignet thì của nữ lại cao hơn so với của nam

Lê Nam Trà và cs 61, 62,63, 64 trong đề tài KX 07-07 đã cho thấy trong giai đoạn từ 18 đến 25 tuổi cơ thể con người vẫn tiếp tục tăng trưởng Tuy nhiên, mức độ thay đổi không nhiều như ở những lớp tuổi trước

đó Đến tuổi 25 ở cả hai giới đều có các chỉ số thể lực ổn định như ở tuổi trưởng thành

Nguyễn Thị Đoàn Hương và cs 28 tiến hành nghiên cứu thể lực của

767 sinh viên thuộc một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy, có sự khác biệt về một số chỉ số thể lực giữa sinh viên miền Nam so với “Hằng số sinh học năm 1975” [67] Các số liệu cũng cho thấy có

sự tăng trưởng vượt trội vào giai đoạn 18 lên 19 tuổi (tương đương với năm thứ nhất lên năm thứ hai bậc đại học) của một số chỉ số thể lực

Phùng Văn Lực và cs 46 về tầm vóc thể lực của 834 sinh viên Đại học khu vực Thái Nguyên cho thấy, chỉ số thể lực của các đối tượng nghiên cứu tốt hơn so với của sinh viên một số trường đại học và thanh niên cùng lứa tuổi thuộc các khu vực khác

Cuối năm 1989, Thẩm Hoàng Điệp và cs 16 đã nghiên cứu về sự phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của trên 8000 người Việt Nam tuổi

từ 1 đến 55 tại cả 3 miền Bắc, Trung và Nam Các tác giả đã nhận xét rằng chiều cao trung bình của nam trưởng thành là 163 cm và của nữ là 158 cm

Trang 17

Chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi, còn của nữ tăng nhanh đến14 tuổi Vòng ngực trung bình của nam trưởng thành là 78 - 80 cm, vòng đầu là 55 -

56 cm, còn của nữ tương ứng bằng 79 cm, và 54 - 55 cm Cũng tác giả này (1990) [17] khi nghiên cứu các chỉ tiêu nhân trắc trên học sinh PTCS Hà Nội cho rằng, chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 12 tuổi ở nữ và 13 đến 15 tuổi ở nam, còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam Trịnh Văn Minh và cs 50, [51] đã tiến hành điều tra một số chỉ số nhân trắc trên 1309 người bình thường trưởng thành tại xã Liên Ninh, Hà Nội

và tại phường Thượng Đình và xã Định Công, Hà Nội Kết quả đáng chú ý qua hai cuộc điều tra này là các kích thước nhân trắc cũng như các chỉ số thể lực vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến tuổi 19 - 20 ở nữ và 22 ở nam

Năm 1992, Trần Thiết Sơn và cs 55 chọn ngẫu nhiên 165 sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Hà Nội để nghiên cứu đặc điểm hình thái và thể lực Kết quả cho thấy, thể lực của sinh viên Y Hà Nội thuộc loại trung bình, và có chiều cao trung bình (nam là 162,9 cm và nữ là 155,5 cm) cao hơn so với thanh niên Việt Nam cùng lứa tuổi

Năm 1993, Bùi Văn Đăng và cs 15 tiến hành nghiên cứu thể lực

1221 sinh viên Đại học Y Thái Bình (thuộc 8 tỉnh đồng bằng Bắc bộ) Kết quả cho thấy, các chỉ số thể lực của sinh viên Y Thái Bình tương đương với các số liệu trong Hằng số sinh học người Việt Nam năm 1975 [67]

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng 67 nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nóng khô và nóng ẩm lên một số chỉ số sinh lý ở người đã cho thấy, khí hậu khắc nghiệt vùng Nghệ Tĩnh bước đầu làm phát sinh những biến

đổi về cấu trúc hình thái Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng

đầu chỉ số Pignet, Broca, Skelíe của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này ở người Việt Nam Tác giả cho rằng đây là điểm đặc trưng cho sự thích nghi với khí hậu nóng khô và nóng ẩm

Trang 18

Năm 1994, Nguyễn Hữu Choáng và cs 6 đã nghiên cứu thể lực của nam thanh niên quận Hồng Bàng, Hải Phòng qua đợt khám nghĩa vụ quân sự Các tác giả cho thấy, từ 18 đến 25 tuổi, sự phát triển chiều cao, cận nặng, vòng ngực trung bình của nam thanh niên quận Hồng Bàng đã chững lại hay vẫn còn tăng nhưng với mức độ không đáng kể

Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng 22 đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc người Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoạn 1981 - 1985” trên

13223 người thuộc cả 3 miền đất nước Kết luận của công trình nghiên cứu này là người Việt Nam trong lứa tuổi lao động có chiều cao (trung bình là 163

cm ở nam và 153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp của thế giới, nhẹ cân, có phần trên của thân thuộc loại trung bình hơi dài Một số chỉ số nhân trắc hình thái có số đo trung bình tăng dần từ Bắc vào Nam

Năm 1996, Trần Đình Long và cs [43], 44 qua nghiên cứu đặc

điểm sự phát triển cơ thể học sinh phổ thông tại một số trường học ở Hà Nội

đã cho thấy, từ 17 đến 18 tuổi sự phát triển cơ thể của cả hai giới đều chậm lại

rõ rệt hoặc chững lại Điều này cũng có thể thấy trong công trình nghiên cứu trên học sinh đến 18 tuổi của Nguyễn Kim Minh [48]

Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng và cs [23] trên sinh viên Đại học

y Hải Phòng cho thấy, thể lực của nam sinh viên từ 18 đến 25 tuổi phát triển mạnh hơn nữ cùng lớp tuổi

Năm 1998, Nguyễn Kỳ Anh và cs 1, sau khi đối chiếu so sánh các kết quả nghiên cứu của mình với của một số tác giả khác đã đưa ra nhận xét rằng, thanh niên Việt Nam lớp tuổi 14 - 18 ở nữ và 16 - 18 ở nam lớn chậm hơn so với các lớp tuổi trước đó

Theo Nguyễn Hữu Chỉnh và cs [5], ở sinh viên lớp tuổi từ 18 đến 25 khu vực Kiến An, Hải Phòng vẫn có sự tăng trưởng, song sự khác biệt theo các

Trang 19

chỉ số nghiên cứu giữa các lớp tuổi kế tiếp nhau không có ý nghĩa thống kê Cũng theo Nguyễn Hữu Chỉnh và cs [5], ở dân cư khu vực Kiến An Hải Phòng

có các chỉ số nhân trắc tốt hơn so với “Hằng số sinh học , 1975” So sánh giữa nam và nữ tác giả cho rằng từ 10 đến 11 tuổi, nữ phát triển nhanh hơn nam nhưng từ 14 đến 15 tuổi, các kích thước của nam bắt kịp và vượt trội nữ Sau tuổi 25 chiều cao không tăng nữa, cân nặng tăng đến 30 – 39 tuổi sau đó ổn

định rồi suy giảm, trong đó nam giảm chậm hơn nữ

Năm 1998, Vũ Thị Thanh Bình 4 nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực và chức năng sinh lý của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục

TW 1 (CĐSPTDTW1) đã nhận thấy, sinh viên CĐSPTDTW1 có thể lực tốt hơn sinh viên các trường đại học khác và thuộc loại tốt so với thanh niên Việt Nam nói chung Có thể coi những khác biệt này là do đặc trưng thể lực của sinh viên năng khiếu và tác động của việc rèn luyện thể chất ở cường độ cao Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây về thể lực của sinh viên và thanh niên Việt Nam đều cho thấy có sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ nhiều năm trước Đặc biệt là từ sau 1975 đến nay khi tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khoẻ của con nười Việt Nam [17] Thanh niên thành phố thường có các chỉ số nhân trắc tốt hơn thanh niên nông thôn [7], [8] Để giải thích sự khác biệt này, có tác giả [37] cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống Do điều kiện sống ở thành phố

được cải thiện nhiều hơn nên thanh niên thành phố thường có chiều cao, cân nặng tốt hơn thanh niên nông thôn cùng lứa tuổi

Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống, quá trình rèn luyện thân thể cũng là những yếu tố tác động đến thể lực của sinh viên và thanh niên [54] Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cs 47 đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người và cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao, cân nặng trung bình

Trang 20

của nữ sinh các dân tộc thiểu số thấp hơn nữ sinh các vùng đồng bằng và thành thị Tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, môi trường, chủng tộc, điều kiện kinh tế

Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan [47] nghiên cứu trên nam, nữ học sinh từ 9 – 18 tuổi thuộc các dân tộc ít người ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ cho thấy, chiều cao và cân nặng của các em tăng dần theo tuổi, chiều cao tăng nhanh lúc 14 – 15 tuổi còn cân nặng tăng nhanh lúc 15 – 16 tuổi Các chỉ số chiều cao và cân nặng của học sinh nam, nữ trong nhóm nghiên cứu của các tác giả này lớn hơn so với số liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [ 67], nhưng lại nhỏ hơn kết quả nghiên cứu trên học sinh Hà Nội [40], Thái Bình [64] và Hà Tây [30] Thời điểm tăng nhanh chiều cao và cân nặng của các nữ sinh dân tộc ít người đến sớm hơn so với dẫn liệu trong cuốn “ Hằng số sinh học người Việt Nam”, nhưng muộn hơn so với học sinh Hà Nội

và học sinh Thái Bình từ 1 đến 2 năm

Một số công trình nghiên cứu trong những năm gần đây của nhiều tác giả [34], [26], [38] trên học sinh ở các tỉnh Nam Định, Thanh Hoá, Quy Nhơn, Lạng Sơn cho thấy, sự biến đổi các chỉ số hình thái của học sinh cũng có những đặc điểm chung như đã trình bày ở trên

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái của học sinh Việt Nam khá phong phú Tuy kết quả nghiên cứu về các chỉ số này trong các công trình có khác nhau ít nhiều nhưng đều xác định được là chúng biến

đổi theo lứa tuổi và mang đặc điểm giới tính Trong quá trình phát triển của trẻ

em có giai đoạn nhảy vọt tăng trưởng Mốc đánh dấu lứa tuổi nhay vọt ở các công trình tương đối thống nhất, chiều cao tăng nhanh nhất từ 13 – 15 tuổi ở nam và 11 – 13 tuổi ở nữ Có sự khác biệt về các chỉ số này giữa nam và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, cũng như giữa các vùng khí hậu khác nhau, giữa các nhóm dân tộc khác nhau

Trang 21

Năm 2000, trong luận án tiến sỹ nghiên cứu thể lực của người Êđê và người Kinh định cư ở Đăk lăk Đào Mai Luyến 45 đã cho thấy, thể lực của người Êđê tốt hơn của người Kinh định cư Tác giả cho rằng đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống có ảnh hưởng nhất định đến khả năng tăng trưởng đối với các chỉ số hình thái Đoàn Văn Huyền và cs 22 cũng cho rằng giữa cơ thể và môi trường có mối liên quan chặt chẽ với nhau môi trường sống đã ảnh hưởng tới trao đổi chất và điều hoà thân nhiệt nên đã tác động lên các chỉ số thể lực của cá thể Ngoài ra sự rèn luyện thể lực cũng

có tác động tốt lên chiều cao, cân nặng và một số vòng của cơ thể 53, các yếu tố xã hội cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể đặc biệt là tuổi dậy thì [73]

1.2 Nghiên cứu về các chức năng sinh lý

1.2.1 Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn máu

Chức năng cơ bản đảm bảo cung cấp ụxy và cỏc chất dinh dưỡng cho toàn bộ cơ thể là hoạt động của hệ tuần hoàn Trong đú tần số tim và huyết ỏp động mạch là những chỉ số cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn [66]

Tim cú chức năng vừa hỳt màu vừa đẩy mỏu, là động lực chớnh của hệ tuần hoàn Cụng xuất của tim phụ thuộc tần số tim và thể tớch cơ tim Bởi vậy, tần số tim là một trong cỏc chỉ số dựng để đỏnh giỏ hoạt động của hệ tuần hoàn và tỡnh trạng sức khỏe của con người

Tim co búp tạo lờn lực đẩy mỏu trong động mạch lại chịu lực cản của mạch mỏu Tuần hoàn mỏu cú thể coi là kết quả của hai loại lực đối lập nhau: lực đẩy mỏu của tim và lực cản của động mạch, trong đú lực đẩy của tim đó thắng nờn mỏu chảy trong động mạch với một ỏp suất nhất định gọi là huyết

ỏp và một tốc độ nhất định Núi cỏch khỏc huyết ỏp là ỏp lực của mỏu tỏc động lờn thành mạch mỏu

Trang 22

Huyết ỏp khi tim co và khi tim gión khụng giống nhau Huyết ỏp khi huyết ỏp tối thiểu hay huyết ỏp tậm trương vỡ: ỏp suất đẩy mỏu đi trong mạch được tăng cao khi tõm thất co và giảm khi tõm thất gión, do khi tõm thất co búp tống mỏu từ tõm thất vào động mạch Lỳc này lực của mỏu rất lớn nờn huyết ỏp trong giai đoạn tim co cú trị số lớn nhất nờn gọi là huyết ỏp tối đa Ngược lại, khi tim gión khụng cú sức đẩy của tim nhưng do cú tớnh đàn hồi của thành động mạch gõy ỏp lực đẩy mỏu đi Vỡ vậy huyết ỏp trong giai đoạn tim gión cú trị số thấp nhất nờn gọi là huyết ỏp tối thiểu

Huyết áp động mạch đã được nghiên cứu từ thế kỷ 19 do nhiều tác giả tiến hành 77, 78 Huyết áp đã được Korotkow xác định bằng phương pháp

đo gián tiếp, phương pháp này hiện vẫn được dùng phổ biến Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, huyết áp của nam và nữ từ 5 tuổi trở lên có sự khác biệt rõ, trong đó huyết áp của nam thường cao hơn của nữ và huyết áp còn chịu ảnh hưởng của môi trường con người đang sinh sống

Mức độ chờnh lệch giữa huyết ỏp tối đa và huyết ỏp tối thiểu là huyết

ỏp hiệu số Đú là điều kiện cần thiết cho sự tuần hoàn của mỏu Khi huyết ỏp hiệu số giảm xuống thấp thỡ tuần hoàn mỏu bị ứ trệ huyết ỏp trị số lớn nhất ở cỏc động mạch chủ động và động mạch lớn

Tần số tim và huyết áp động mạch được nghiên cứu từ khá sớm trên nhiều đối tượng khác nhau Trong số các công trình đáng chú ý hơn cả là

“Hằng số sinh học năm 1975” 67 Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần số tim của nam trưởng thành trung bình là 70 - 80 lần/phút và của nữ trưởng thành trung bình là 75 - 85 lần/phút

Các kết quả nghiên cứu về huyết áp động mạch trên người Việt Nam của Trịnh Bỉnh Dy trình bày trong cuốn “Về những thông số sinh học người Việt Nam” cho thấy, huyết áp của người Việt Nam không những thấp mà còn

Trang 23

tăng chậm theo tuổi 11 Trong “Hằng số sinh học1975” huyết áp tâm thu ở người trưởng thành dao động từ 90 - 140 mmHg và huyết áp tâm trương là từ

50 - 90 mmHg

Theo tác giả Phạm Thị Minh Đức [62], huyết áp tâm thu bình thường

có trị số là 90 - 110 mmHg, nếu trên 140 mmHg được coi là tăng huyết áp và dưới 90 là hạ huyết áp Huyết áp tâm trương bình thường có trị số là từ 50 - 70 mmHg, nếu vượt quá 90 mmHg được coi là tăng huyết áp và dưới 50 mmHg là hạ huyết áp

Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh 65 cũng cho thấy các chỉ số huyết áp

động mạch nằm trong giới hạn kể trên, chỉ số huyết áp tâm thu trung bình cho cả nam và nữ ở là 120,06 16,25 mmHg và huyết áp tâm trương là 75,28

10,74 mmHg

Các công trình nghiên cứu trên học sinh phổ thông 41 cho thấy, huyết áp động mạch tăng dần theo lớp tuổi Nghiên cứu trên những người trưởng thành khác nhau về chủng tộc 45, cũng cho thấy, huyết áp động mạch của nữ người Êđê cao hơn của nữ người Kinh

Năm 1993, Đoàn Yên và cs [73] dựa vào kết quả nghiên cứu tần số tim

và huyết áp của người Việt Nam đã cho rằng, sau khi sinh, tần số tim và huyết

áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng lên Tần số tim giảm dần đến tuổi

25 và ổn định đến tuổi 69 So với người Âu, Mỹ huyết áp người Việt Nam thường thấp hơn

Nghiêm Xuân Thăng 56 khi nghiên cứu thể lực của người Nghệ Tĩnh lớp tuổi 18 - 25 đã nhận thấy, tần số tim, huyết áp động mạch chịu sự tác động của môi trường sống, đặc biệt là tác động của khí hậu trong khu vực Tần số tim tăng khi nhiệt độ môi trường tăng Nó biến đổi theo ngày, mùa và phụ

Trang 24

thuộc vào mức độ bức xạ, tần số co bóp của tim về mùa hè cao hơn về mùa

đông Ngoài ra, chỉ số này còn chịu sự chi phối của các yếu tố khác như lao

động, trạng thái tâm lý v.v

Năm 1996 Trần Đỗ Trinh 65 nghiên cứu trên 36.7843 người thuộc 7 vùng địa lý khác nhau đã cho thấy chỉ số huyết áp trung bình của người Việt Nam là 120/75 mmHg Theo tác giả, huyết áp tăng theo tuổi, ở lớp tuổi từ 18

- 25 mức tăng chậm lại rồi tương đối ổn định ở tuổi trung niên Về già, huyết

áp lại tăng lên Huyết áp của nam thường cao hơn của nữ, tuy sự chênh lệch không nhiều, chỉ khoảng từ 1 - 3 mmHg

Qua nghiên cứu huyết áp của các dân tộc Tây Nguyên, Đào Mai Luyến

45 nhận thấy, dân tộc Êđê, Bana, Giarai có tần số tim và trị số huyết áp động mạch khác nhau, song các chỉ số này vẫn trong giới hạn sinh lý bình thường Trong số các dân tộc này thì dân tộc Êđê có các chỉ số huyết áp tốt hơn cả Cũng giống như ở người Kinh ở cả 3 dân tộc huyết áp đều tăng dần theo tuổi Nghiên cứu của Trần Thị Loan [41] cho thấy ở lớp tuổi học sinh phổ thông tần số tim giảm dần theo lớp tuổi, sự biến đổi nhịp tim của nam và nữ khác nhau

Năm 2002, Nguyễn Văn Mùi và cs 53 đã nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch trên 182 vận động viên (VĐV) một số môn thể thao ở Hải Phòng Các kết quả cho thấy, huyết áp tâm thu và tâm trương của các vận

động viên, cả nam và nữ, đều thấp hơn so với ngưòi bình thường cùng lứa tuổi

và nằm trong giới hạn bình thường Trong số này nhóm VĐV bơi lội có huyết

áp thấp hơn cả

Tần số co bóp của tim ở các VĐV đều thấp hơn so với của thanh niên cùng lứa tuổi, và nhóm VĐV bắn súng có tần số thấp nhất Điều này cho thấy, việc rèn luyện thể chất có ý nghĩa rất lớn đối với chức năng của hệ tim - mạch

Trang 25

Nghiên cứu về điện tim được thực hiện từ thế kỉ XIX 66, 83,.Năm

1885 Einthoven đã đặt tên cho các sóng trên điện tâm đồ và đưa ra cách tính trục điện tim 86, 78, 79 Goldberger năm 1947 đã cải tiến cách mắc các chuyển đạo đơn cực chi làm cho điện thế ở các chuyển đạo này tăng lên 1,5 lần mà không làm thay đổi hình dạng sóng 86 Điều này đã giúp các nhà nghiên cứu dễ dàng hơn trong việc đọc điện tâm đồ 86, 88, 89 Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, tần số tim thay đổi theo tuổi và theo trạng thái chức năng của cơ thể 88, 89 Những thay đổi này có liên quan đến sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của dây thần kinh ngoài tim 89,

90

1.2.2 Các nghiên cứu về chức năng hô hấp phổi

Theo các số liệu được công bố trong “Hằng số sinh học năm 1975” [67], dung tích sống của người Việt Nam có xu hướng giảm theo tuổi, tăng theo chiều cao và dung tích sống của nam cao hơn so với của nữ Dung tích sống trung bình của người Việt Nam như sau: đối với nam (từ 16 đến 60 tuổi) cao 160 - 164 cm dung tích sống bằng 2,5 ữ 3,5 lít, dung tích sống cao nhất xác định được lúc 18 - 20 tuổi và thấp nhất - từ 59 tuổi trở lên; đối với nữ (từ

16 đến 60) cao 150 - 154 cm dung tích sống bằng 1,65 ữ 2,35 lít, dung tích

sống cao nhất lúc 18 - 23 tuổi và thấp nhất là từ 59 tuổi trở lên Trong cuốn

sách này các tác giả cũng đã nêu lên một loạt các chỉ số cơ bản như tần số thở, dung tích sống gắng sức, thể tích khí lưu thông và mối liên quan của chúng với giới tính, chiều cao đứng của cơ thể

Công trình của Đoàn Yên cs [74] nghiên cứu nhịp thở, dung tích sống, thể tích khí lưu thông, thể tích phút của người Việt Nam từ 6 đến 79 tuổi Các tác giả đã cho thấy, dung tích sống tăng nhanh đến 19 tuổi sau đó ổn định, từ

30 tuổi trở đi nó bắt đầu giảm Dung tích sống của người Việt Nam nhỏ hơn

so với người Âu, Mỹ

Trang 26

Theo Nghiêm Xuân Thăng [56], khí hậu có ảnh hưởng lên chức năng hô hấp của cư dân Nghệ Tĩnh, trong đó tần số hô hấp và dung tích sống chịu

ảnh hưởng nhiều nhất của khí hậu

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tường và cs [69], cho thấy, dung tích sống trung bình của lớp tuổi thanh niên đối với nam là 3,4 lít và đối với nữ là 2,5 lít Chỉ số hô hấp tăng dần theo tuổi và đạt giá trị cao nhất ở lớp tuổi từ 20

đến 29, sau giai đoạn này nó giảm dần Theo nghiên cứu của Đào Mai Luyến [45] trên người Êđê và người Kinh định cư ở Đăk Lăk, thì dung tích sống của nam cao nhất bằng 4,11 lít và của nữ cao nhất là 2,94 lít Tác giả cho rằng, các chỉ số hô hấp tương quan thuận với chiều cao và tương quan nghịch với tuổi Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Hường và cs [69] trên người Hà Nội Từ kết quả của nghiên cứu này đã xây dựng được các phương trình tính giá trị bình thường của một số chỉ số, đồng thời khẳng định các chức năng thông khí phổi trên người Việt Nam thấp hơn so với người Châu Âu

Nghiên cứu của Trần Thị Loan [78] trên học sinh từ 6 đến 17 tuổi cho thấy, dung tích sống của học sinh tăng dần theo lớp tuổi và ở nam tăng nhanh hơn ở nữ Theo tác giả, thời điểm tăng nhanh dung tích sống diễn ra cùng một lúc với thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao

Trang 27

Chương 2

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 884 học sinh (trong đó có 433 học sinh nam và 451 học sinh nữ) trường THPT bán công Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phỳc, độ tuổi từ 16-18 (đang học từ lớp 10 đến lớp 12) cú trạng thỏi tõm lý và sức khỏe bỡnh thường, không có các dị tật bẩm sinh và bệnh mãn tính Các chỉ số nghiên cứu được xác định trên cùng một đối tượng, nên khi trình bày kết quả và bàn luận, chúng tôi không nhắc lại số đối tượng nghiên cứu trong từng bảng số liệu Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi và giới tính

Trang 28

Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số thể lực của học sinh

Nghiên cứu mối tương quan giữa một số chức năng hình thái và sinh lí

- Chiều cao đứng với tần số tim

- Chiều cao đứng với dung tích sống

2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số

2.2.2.1 Phương pháp xác định các chỉ số hình thái, thể lực

- Chiều cao đứng: được xác định bằng thước đo chiều cao gắn trên cân

y học Trung Quốc, có vạch chia đến 0,1cm Khi đo, học sinh ở tư thế đứng thẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm là chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo Tư thế đứng thẳng được xác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân Chiều cao đứng được tính theo đơn vị centimet(cm)

- Trọng lượng cơ thể: được xác định bằng cân đồng hồ của Nhật có độ

chính xác đến 0,1kg Đo xa bữa ăn Khi cân, mỗi đối tượng chỉ mặc một bộ quần áo mỏng, không mang giày, dép, đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn chân sát nhau Trước khi cân bất kì một học sinh nào, cân đều được chỉnh để

đảm bảo độ chính xác Đơn vị tính trọng lượng cơ thể là kilogam(kg)

- Vòng ngực trung bình: được xác dịnh bằng số trung bình cộng của số

đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra cố sức Vòng ngực được đo ở tư

Trang 29

thế đứng thẳng bằng thước dây vòng quanh ngực vuông góc với cột số xương bả vai, phía trước quá mũi ức Như vậy chu vi đo thước tạo thành nằm trên mặt phẳng ngang song song với mặt đất Trước khi đo hướng dẫn đối tượng hít vào tận lực và thở ra cố sức để đo Dụng cụ đo là thước dây bằng vải của Trung Quốc không co giãn, có chia số tới mm Đơn vị đo vòng ngực trung bình là centimet (cm)

Để đánh giá thể lực của học sinh Chúng tôi dùng các loại chỉ số sau:

- Chỉ số BMI (Bocly Mass Index) còn gọi là chỉ số khối cơ thể, được

tính theo công thức:

BMI = Cân nặng (kg)/ [Chiều cao đứng (m)] 2

Đơn vị của chỉ số BMI là kg/m2

- Chỉ số Pignet được tính theo công thức chung là:

Pignet = Chiều cao đứng(cm)-[Cân nặng(kg)+Vòng ngực trung bình(cm)]

Đánh giá chỉ số Pignet theo Nguyễn Quang Quyền

Pignet = 27,5 - 33,9 : trung bình

Pignet = 0 - 20,8: cường tráng Pignet = 34 - 37,2: yếu

Pignet = 20,9 - 24,1: rất khoẻ Pignet = 37,3 - 40,5: rất yếu Pignet = 24,2 - 27,4: khoẻ Pignet  40,6 : yếu kém

2.2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số chức năng

- Các chỉ số về chức năng hệ tim, mạch

+ Nhịp tim: được xác định bằng ống nghe, khi đo đối tượng ngồi ở tư thế thoải mái, người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong vòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếu thấy kết quả 3 lần đo khác nhau nhiều thì cho đối tượng

ngồi nghỉ 15 phút rồi đo lại :

+ Huyết áp động mạch

Được xác định bằng phương pháp của Korotkov (theo 41), dụng cụ

đo là huyết áp kế đồng hồ

Trang 30

Chuẩn bị đo: đặt cánh tay trái ngang tim trong tư thế nằm thoải mái,

người đo quấn bao cao su của huyết áp kế quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa

phải, đặt ống nghe trên động mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để

nghe mạch đập và đặt đồng hồ của huyết áp kế trước mặt

Cách đo: vặn chặt ốc ở bóp cao su rồi từ từ bơm cho đến khi kim đồng

hồ chỉ vào số 150 - 160 mmHg Sau đó mở nhẹ ốc cho hơi thoát ra từ từ, đồng

thời lắng nghe Trị số trên đồng hồ lúc nghe tiếng đập đầu tiên là chỉ số huyết

áp tâm thu và tiếng cuối cùng là chỉ số huyết áp tâm trương Trong trường hợp

bất thường cần phải đo lại Đo ba lần và lấy trị số trung bình của ba lần đo

+ Các chỉ số về chức năng hệ hô hấp

Các chỉ số hô hấp được nghiên cứu gồm: dung tích sống (VC), dung

tích sống gắng sức (FVC) và thể tích khí thở ra tối đa trong giây đầu (FVC1) Dụng cụ đo là phế dung kế do Liên Xô chế tạo được đưa về điều kiện

tiêu chuẩn Đối tượng nghiên cứu được đo ở tư thế đứng hít vào tận lực sau đó

kẹp mũi và ngậm miệng vào ống thổi, thở ra bằng miệng hết sức để toàn bộ

khí đi vào máy đo, trong quá trình đo người thực nghiệm động viên đối tượng

thở hết sức Mỗi đối tượng được đo 3 lần lấy kết quả có trị số cao nhất

Số liệu được chia theo các lớp tuổi và trường học sau đó xử lý thống kê

trên máy vi tính với phương trình Cstat để tìm ra phương trình hồi qui [58] có

dạng:

y = aH + bA + c trong đó y : là thông số về thể tích hay lưu lượng tính bằng lít

H: là chiều cao tính bằng mét

A: là tuổi tính bằng năm

a, b: là hệ số của H và c: là hằng số

Trang 31

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Chúng tôi sử dụng chương trình Microsoft Excel 97 và nhập kết quả thu

được trong phiếu điều tra vào máy tính

Sau đó chúng tôi tiến hành xử lý số liệu Đếm số lượng, trính giá trị trung bình (X ); độ lệch chuẩn (S) và hệ số biến thiên (CV%); hệ số tương quan Pearson (r) của các dụ liệu đã chọn

+ Độ lệch chuẩn:

2 1

n

i

Xi X S

n

i

Xi X S

Trong đú: + CV: Hệ số biến thiờn (%)

+ S : Độ lệch chuẩn + X : Giỏ trị trung bỡnh

CV (%) càng lớn thỡ độ chớnh xỏc càng thấp

+ Hệ số tương quan Pearson:

Trang 33

Chương 3 KếT QUả NGHIÊN CứU và bàn luận

3.1 Sự tăng trưởng các giá trị hình thái của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo

3.1.1 Chỉ số chiều cao đứng của học sinh từ 16 đến 18 tuổi

Chiều cao đứng là một trong những giá trị sinh học cơ bản nhất phản

ánh sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể người qua các lớp tuổi Các nghiên cứu về lĩnh vực này cho thấy ở lớp tuổi học sinh, chiều cao đứng thay đổi theo lứa tuổi, giới tính và chịu ảnh hưởng của môi trường sống

Kết quả nghiên cứu thực trạng chiều cao đứng của học sinh nam và nữ của trường THPT bán công Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phúc được trình bày trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính (cm)

Trang 34

Các số liệu trên bảng 3.1 cho thấy, từ 16 - 18 tuổi, chiều cao của học sinh vẫn tiếp tục tăng Cụ thể là: chiều cao của học sinh nam tăng từ 157,76

cm lúc 16 tuổi lên 159,34 cm lúc 17 tuổi và đạt 160,47 cm lúc 18 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 1,35 cm Chiều cao của học sinh nữ tăng từ 152.16 cm lúc 16 tuổi lên 153,34 cm lúc 17 và đạt 154.23 cm lúc 18 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 1.03 cm

Tốc độ tăng trưởng về chiều cao đứng theo lớp tuổi của học sinh không

đều Cụ thể là ở giai đoạn 16 lên 17 tuổi, chiều cao của học sinh tăng nhanh hơn so với giai đoạn từ 17 lên 18 tuổi, nhất là ở nam Nguyên nhân của hiện tượng tăng trưởng mạnh ở thời kì này là do các em vẫn đang trong lớp tuổi dậy thì có thể coi đây là giai đoạn sau của dậy thì vì thế tốc độ tăng trưởng chiều cao vẫn còn tăng mạnh tuy có chậm hơn so với giai đoạn trước đó

So sánh về sự tăng trưởng chiều cao theo giới tính được biểu diễn bằng biểu đồ hình 3.1 Quan sát trên biểu đồ cho thấy ở cùng độ tuổi, chiều cao trung bình của nam và nữ không giống nhau

Chiều cao của nam luôn cao hơn so với nữ Cụ thể là: ở tuổi 16 chiều cao trung bình của nam là 157,76 cm và của nữ là 152,16 cm, hơn nhau 5.60 cm; ở tuổi 17 chiều cao trung bình của nam là 159,34 cm, của nữ là 153,34 cm hơn nhau 6.00 cm; ở tuổi 18 chiều cao trung bình của nam là 160,47 cm và của nữ

là 154.23 cm hơn nhau 6.24 cm Sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p<0.05) Một đặc điểm cần lưu ý đó là độ chênh lệch giữa nam và nữ ngày càng tăng theo lớp tuổi; điều này chứng tỏ ở nam sự tăng trưởng vẫn còn khá mạnh trong khi đó sự tăng trưởng về chiều cao đứng của nữ đã giảm đi nhanh chóng và đạt giá trị ổn định

Các kết quả nghiên cứu khác 6, 16, 32, 49 cũng cho thấy kết quả tương tự Một số nghiên cứu về người Việt Nam trưởng thành đã khẳng định chiều cao đứng đạt mức cao nhất vào lúc 23 - 25 tuổi (đối với nam) và 20- 21 (đối với nữ) [50], [51] Như vậy, lớp tuổi từ 16 đến 18, chiều cao ở cả hai giới

Trang 35

tăng tương đối mạnh và ít ổn định Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của

Lê Nam Trà và cs 61

Hình 3.1 Biểu đồ chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính

Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các đặc điểm tăng trưởng về hình thái sinh lý của cơ thể người đang trong giai đoạn hoàn thiện dần về kích thước cơ thể dưới tác động của các nguyên nhân quan trọng như di truyền, hocmon và các yếu tố môi trường sống

3.1.2 Chỉ số trọng lượng cơ thể của học sinh từ 16 đến 18 tuổi

Trọng lượng cơ thể là một trong những chỉ số quan trọng có mặt trong tất cả các công trình điều tra cơ bản về hình thái người nói chung và hình thái, thể lực của học sinh nói riêng Trọng lượng cơ thể liên quan đến nhiều chỉ tiêu khác nên thường được dùng để đánh giá sự tăng trưởng và phát triển cơ thể

Trang 36

Đối với một cơ thể bình thường, trong giai đoạn tăng trưởng trọng lượng cơ thể thường xuyên tăng lên, nhưng không đồng đều

Có nhiều nguyên nhân làm thay đổi trọng lượng cơ thể, trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện đo trọng lượng của học sinh trong độ tuổi từ 16

đến 18 nhằm xác định thực trạng việc tăng trưởng trọng lượng cơ thể trong

điều kiện bình thường và những yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng đó

Các kết quả nghiên cứu về trọng lượng cơ thể của học sinh nam và nữ

Trang 37

Trong giai đoạn từ 16 – 17 tuổi, tốc độ tăng trọng lượng không đều theo lứa tuổi và giới tính Cân nặng của học sinh nam tăng nhanh từ 17 đến 18 tuổi, ở giai đoạn này, cân nặng của nam tăng 1.18kg/năm và chậm hơn ở giai

đoạn 16 lên 17 tuổi (0,83 kg/năm) Trong khi đó cân năng của nữ tăng nhanh trong giai đoạn từ 16 lên 17 (1.03 kg) và giảm trong giai đoạn từ 17 lên 18 tuổi (0,77 kg)

Hình 3.2 Biểu đồ trọng lượng trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính

Trong cùng độ tuổi, cân nặng trung bình của học sinh nam luôn cao hơn

so với học sinh nữ Cụ thể là: ở tuổi 16 trọng lượng trung bình của học sinh nam là 46.54kg, của học sinh nữ là 44.19kg, hơn trung bình là 2.35kg; ở tuổi

17 trọng lượng trung bình của nam là 47.37kg, của nữ là 45.22kg, trung bình của nam hơn là 2.15 kg; ở tuổi 18 trọng lượng trung bình của nam là 48.55 kg, của nữ là 45.98 kg, trung bình của nam hơn là 2.57kg Mức chênh lệch trọng lượng trung bình giữa học sinh nam và học sinh nữ có ý nghĩa thống kê (p<0.05)

Trang 38

So với các nghiên cứu gần đây như trong Atlat 1985 hay kết quả nghiên cứu của dự án KX07.07 năm 1994 22 chúng tôi thấy, sự gia tăng trọng lượng của học sinh trong cùng độ tuổi tại trường THPT bán công Trần Hưng

Đạo cho thấy cân nặng ở cả nam và nữ đều tăng trong đó nam tăng mạnh hơn nữ Điều đáng chú ý là có sự tăng trưởng nhanh từ lớp tuổi 17 lên 18 ở nam và

16 lên 17 ở nữ Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Đoàn Hương và cs [28] trên các đối tượng khác cùng độ tuổi Xét trên bình diện rộng có thể thấy kết quả trên chứng tỏ có sự dậy thì của nữ sớm hơn so với nam, chính điều này đã làm cho sự tăng trưởng hình thái của nữ xảy ra sớm hơn so với nam Nếu so với các kết quả nghiên cứu khác có thể thấy rõ mức tăng trưởng trọng lượng cơ thể của học sinh ngày nay tốt hơn so với nhiều thập

kỉ trước 4, 15, 22], cũng có nghĩa là chỉ số này có sự tăng dần theo thời gian

3.1.3 Chỉ số vòng ngực trung bình của học sinh 16-18 tuổi

Cũng như trọng lượng cơ thể và chiều cao đứng, vòng ngực trung bình

được coi là một chỉ tiêu đặc trưng cho thể lực của mỗi người Nhìn chung một người có kích thước vòng ngực rộng thì có thể lực tốt Qua các nghiên cứu đã cho thấy, sự phát triển của vòng ngực song song với sự phát triển chiều cao Quy luật phát triển vòng ngực cũng gần giống với quy luật phát triển của trọng lượng cơ thể Đặc biệt vòng ngực còn thể hiện sự khoẻ mạnh của các chức năng hô hấp trong cơ thể người Các nghiên cứu về lĩnh vực này đã cho thấy các chỉ số hô hấp có liên quan chặt chẽ tới kích thước của vòng ngực trung bình, vòng ngực lúc thở ra, và vòng ngực khi hít vào,

Trang 39

B¶ng 3.3 Vßng ngùc trung b×nh cña häc sinh theo

Trang 40

Hình 3.3 Biểu đồ vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và giới tínhBiểu đồ hình 3.3 cho thấy, trong cùng lứa tuổi, vòng ngực trung bình của nam luôn cao hơn so với nữ ở tuổi 16 vòng ngực trung bình của nam cao hơn so với nữ là 4,57 cm; ở tuổi 17 là 4,36 cm và ở tuổi 18 là 4,38 cm Mức chênh lệch này đều có ý nghĩa thống kê (p<0.05)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trong lớp tuổi 16- 18 VNTB

của cả nam và nữ đều tăng, tuy không đều nhau đặc biệt các kết quả chỉ rõ sự tăng trưởng VNTB của học sinh nữ xảy ra nhanh hơn so với nam ở lớp tuổi từ

16 lên 17 tuổi điều này có liên quan đến tuổi dậy thì của hai giới có nhiều đặc

điểm khác nhau Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác 28 Nhìn chung, VNTB của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo tương đương với các kết quả nghiên cứu từ sau năm 1975 đến nay

4, 15, 22, 26, 30] trên cùng đối tượng

Ngày đăng: 17/12/2015, 06:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Kỳ Anh (1998), “Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, cân nặng của học sinh phổ thông Việt Nam trong những năm qua”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáo dục thể chất, sức khoẻ trong trường học các cấp , Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, tr.184 - 187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, cân nặng của học sinh phổ thông Việt Nam trong những năm qua
Tác giả: Nguyễn Kỳ Anh
Nhà XB: Nxb Thể dục thể thao
Năm: 1998
[2]. Trịnh Văn Bảo (1994), Nghiên cứu thăm dò một số chỉ số di truyền và chỉ số sinh học có liên quan ở một số học sinh năng khiếu, Đề tài KX-07-07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thăm dò một số chỉ số di truyền và chỉ số sinh học có liên quan ở một số học sinh năng khiếu
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Năm: 1994
[3]. Trịnh Văn Bảo (1997), “Vấn đề di truyền với tăng trưởng”, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Đề tài KX- 07-07, Hà Nội, Tr. 150 -161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1997
[4]. Vũ Thị Thanh Bình, Đào Ngọc Dũng và cs (1998), “Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái thể lực và chức năng sinh lý của sinh viên K30 trường Caođẳng Sư phạm thể dục TW 1”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáo dục thể chất, sức khoẻ trong trường học các cấp, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, tr.115 - 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái thể lực và chức năng sinh lý của sinh viên K30 trường Caođẳng Sư phạm thể dục TW 1
Tác giả: Vũ Thị Thanh Bình, Đào Ngọc Dũng, cs
Nhà XB: Nxb Thể dục thể thao
Năm: 1998
[5]. Nguyễn Hữu Chỉnh và cs (1996), “Báo cáo thực hiện điều tra một số chỉ tiêu nhân trắc ở người Việt Nam trên 7 tuổi ở Hải Phòng” Chương trìnhđiều tra cơ bản đặc điểm người Việt Nam thập kỷ 90, Trường Đại học Y khoa Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện điều tra một số chỉ tiêu nhân trắc ở người Việt Nam trên 7 tuổi ở Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Hữu Chỉnh, cs
Nhà XB: Trường Đại học Y khoa Hà Nội
Năm: 1996
[6]. Nguyễn Hữu Choáng, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Hữu Chỉnh (1996), “Một số nhận xét về thể lực của nam thanh niên Hồng Bàng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về thể lực của nam thanh niên Hồng Bàng, Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Hữu Choáng, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Hữu Chỉnh
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Trọng lượng trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính (kg) - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Bảng 3.2. Trọng lượng trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính (kg) (Trang 36)
Hình 3.2. Biểu đồ trọng lượng trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Hình 3.2. Biểu đồ trọng lượng trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính (Trang 37)
Bảng 3.3.  Vòng ngực trung bình của học sinh theo - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Bảng 3.3. Vòng ngực trung bình của học sinh theo (Trang 39)
Hình 3.5. Biểu đồ chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi và giới tính - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Hình 3.5. Biểu đồ chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi và giới tính (Trang 45)
Bảng 3.6. Tần số tim của học sinh theo lớp - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Bảng 3.6. Tần số tim của học sinh theo lớp (Trang 46)
Hình 3.6. Tần số tim của học sinh nam và nữ - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Hình 3.6. Tần số tim của học sinh nam và nữ (Trang 47)
Bảng 3.7.  Huyết áp động mạch của học sinh theo lớp tuổi và giới tính - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Bảng 3.7. Huyết áp động mạch của học sinh theo lớp tuổi và giới tính (Trang 49)
Hình 3.9. Dung tích sống của nam, nữ học sinh theo lớp tuổi - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Hình 3.9. Dung tích sống của nam, nữ học sinh theo lớp tuổi (Trang 52)
Hình 3.12. Tương quan giữa chiều cao đứng với tần số tim của nam - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Hình 3.12. Tương quan giữa chiều cao đứng với tần số tim của nam (Trang 58)
Hình 3.14. Tương quan giữa chiều cao đứng với dung tích sống của nam - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Hình 3.14. Tương quan giữa chiều cao đứng với dung tích sống của nam (Trang 60)
Bảng 3.13. Tương quan giữa cân nặng với tần số tim - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Bảng 3.13. Tương quan giữa cân nặng với tần số tim (Trang 62)
Bảng 3.14. Tương quan giữa trọng lượng cơ thể   với dung tích sống của học sinh theo lớp tuổi - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Bảng 3.14. Tương quan giữa trọng lượng cơ thể với dung tích sống của học sinh theo lớp tuổi (Trang 63)
Hình 3.18. Tương quan giữa cân nặng với dung tích sống của nam - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Hình 3.18. Tương quan giữa cân nặng với dung tích sống của nam (Trang 65)
Hình 3.20. Tương quan giữa VNTB với tần số tim của nam - Nghiên cứu sự tăng trưởng hình thái và một số chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công trần hưng đạo   tam dư
Hình 3.20. Tương quan giữa VNTB với tần số tim của nam (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w