Sự tăng trưởng hình thái, thể lực và sự hoàn thiện các chức năng sống của con người là những vấn đề rất quan trọng đặc biệt trong lứa tuổi học sinh khi mà các đặc điểm này luôn thay đổi
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trường đại học sư phạm hà nội 2
nguyễn thị thanh nga
nghiên cứu sự tăng trưởng hình tháI
và một số chức năng sinh lý của học sinh trường thpt bán công Trần hưng đạo-
Trang 2Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, căn cứ, kết quả nêu trong đề tài là hoàn toàn trung thực Nội dung đề tài chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Nga
Trang 3Mục lục
Trang
1.1 Các vấn đề chung về hình thái – thể lực cơ thể người 10
1.1.1 Nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực trên thế giới 11
1.1.2 Nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực ở Việt Nam 12
1.2.1 Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn máu 21
1.2.2 Các nghiên cứu về chức năng hô hấp phổi 25
Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 27
2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số 28
3.1 Sự tăng trưởng các giá trị hình thái của học sinh trường THPT
bán công Trần Hưng Đạo
33
3.1.1 Chỉ số chiều cao đứng của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 33
3.1.2 Chỉ sổ trọng lượng cơ thể của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 35
3.1.3 Chỉ số vòng ngực trung bình của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 38
3.2 Sự tăng trưởng các giá trị thể lực của học sinh trường THPT bán
công Trần Hưng Đạo
41
3.2.1 Chỉ số BMI của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 41
3.2.2 Chỉ số Pignet của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 43
3.3 Sự tăng trưởng của một số chức năng sống của học sinh trường
THPT bán công Trần Hưng Đạo
46
3.3.1 Chỉ số tuần hoàn máu của học sinh 46
3.3.2 Chỉ số hô hấp của học sinh từ 16 đến 18 tuổi 51
3.4 Mối tương quan giữa các giá trị hình thái và sinh lý của học sinh
Trang 4Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 5Danh mục các bảng
1 Bảng 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi và giới tính 27
2 Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và 33 giới tính (cm)
3 Bảng 3.2 Trọng lượng trung bình của học sinh theo tuổi 36
6 Bảng 3.5 Chỉ số Pignet của hoc sinh theo tuổi và giới tính 46
7 Bảng 3.6 Tần số tim của học sinh theo lớp 46 tuổi và giới tính (X SD)
8 Bảng 3.7 Huyết áp động mạch của học sinh theo lớp 49 tuổi và giới tính (mmHg)
9 Bảng 3.8 Dung tính sống (lít) của học sinh theo 51 lớp tuổi và giới tính
10 Bảng 3.9 Dung tính sống thở mạnh (lít) của học sinh 53 theo lớp tuổi và giới tính
11 Bảng 3.10 Thể tích khí thở ra tối đa trong giây đầu (lit) 54 của học sinh theo lớp tuổi và giới tính
12 Bảng 3.11 Tương quan giữa chiều cao đứng với tần 57
số tim của học sinh theo lớp tuổi
13 Bảng 3.12 Tương quan giữa chiều cao đứng với dung 59 tích sống của học sinh theo lớp tuổi
14 Bảng 3.13 Tương quan giữa cân nặng với tần số tim 61 của học sinh theo lớp tuổi
15 Bảng 3.14 Tương quan giữa trọng lợng cơ thể 63 với dung tích sống của học sinh theo lớp tuổi
16 Bảng 3.15 Tương quan giữa VNTB với tần số tim 65
Trang 6cña häc sinh theo líp tuæi
víi dung tÝch sèng cña häc sinh theo líp tuæi
Trang 7
học Công nghệ “Giáo dục và Đào tạo cùng với Khoa học và Công nghệ phải
thực sự trở thành quốc sách hành đầu Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện, không chỉ về mặt trí tuệ, đạo
đức, lối sống mà còn là con người cường tráng về thể chất ”
Sự tăng trưởng hình thái, thể lực và sự hoàn thiện các chức năng sống của con người là những vấn đề rất quan trọng đặc biệt trong lứa tuổi học sinh khi mà các đặc điểm này luôn thay đổi theo lớp tuổi Do đó, công việc nghiên cứu các chỉ số sinh học trên phải được nghiên cứu một cách thường xuyên Trong tình hình đất nước đang trên đà đổi mới, những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu các chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh Việt Nam Kết quả nghiên cứu được trình bày trong các tạp chí và trong các tài liệu chuyên nghành Đáng chú ý là các nhóm đề tài “Nghiên cứu các chỉ tiêu thể lực và trí tuệ của học sinh” do GS.TS Tạ Thuý Lan chủ nhiệm [32], [33], [34] và các đề tài của TS.Trần Thị Loan [40], [41]
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu trên đối tượng là học sinh THPT ở tỉnh Vĩnh Phúc còn rất ít và chưa có các công trình nghiên cứu cụ thể nào đề cập đến sự tăng trưởng của học sinh qua các lớp tuổi Để tìm hiểu vấn đề này
chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài: "Nghiờn cứu sự tăng trưởng hỡnh
Trang 8thỏi và một chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bỏn cụng Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phỳc”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xỏc định thực trạng tăng trưởng về hỡnh thỏi và cỏc chức năng sinh lý của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phỳc
- Tỡm ra mối liờn hệ giữa sự tăng trưởng về hỡnh thỏi và cỏc chức năng sinh lý để cú thể võn dụng vào quỏ trỡnh đào tạo con người phỏt triển một cỏch toàn diện gúp phần vào việc nõng cao chất lượng nguồn nhõn lực
- Xỏc định mối tương quan giữa tăng trưởng hỡnh thỏi và cỏc chức năng sinh lý
1.3 Nhiệm vụ của đề tài
1 Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số hình thái của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo- Tam Dương- Vĩnh Phúc bao gồm các chỉ số (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình)
2 Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số thể lực của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo- Tam Dương- Vĩnh Phúc bao gồm các chỉ số (Pignet BMI) theo các lớp tuổi
3 Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số chức năng một số cơ quan của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phúc bao gồm các chỉ số (chức năng tuần hoàn, chức năng hô hấp)
4 Nghiên cứu mối tương quan giữa một số chức năng hình thái và sinh
lý của học sinh theo giới tính
Trang 91.4 Những điểm mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu đã:
1 Tìm thấy sự thay đổi về mặt hình thái, thể lực của học sinh trong giai
đoạn từ 16 tuổi đến 18 tuổi
2 Phát hiện được sự khác biệt về gia tốc tăng trưởng các chỉ số sinh học giữa học sinh nam và học sinh nữ
3 Tìm thấy mối liên hệ giữa các chỉ số hình thái và sinh lý của học sinh THPT lớp tuổi từ 16 đến 18
1.5 ý nghĩa khoa học của đề tài
Trang 10Cân nặng cũng được khảo sát thường xuyên trong các nghiên cứu thể lực của con người Cân nặng gồm hai phần: phần cố định chiếm 1/3 trọng lượng cơ thẻ gồm các phần như: xương, da, nội tạng, thần kinh và phần không cố định chiếm 2/3 khối lượng cơ thể, trong đó có cả khối lượng cơ, cả khối lượng mỡ và nước Ở người trưởng thành, sự tăng cõn chủ yếu là tăng phần khụng cố định và cú liờn quan chặt chẽ đến chế độ dinh dưỡng [9] [13]
Vũng ngực cũng được coi là một đặc trưng cơ bản của thể lực những người đầu tiờn lưu ý đến số đo vũng ngực là cỏc bỏc sĩ lõm sàng, ở đầu thế kỉ XIX, khi họ nhận thấy cú sự liờn quan giữa cỏc mức độ phỏt triển của lồng ngực và cỏc bệnh hụ hấp Dần dần cuối thế kỉ XIX, vũng ngực trở thành chỉ tiờu quan trọng trong các cuộc tuyển chọn binh lớnh và nhõn cụng lao động…[1]
Thể lực là thước đo sức khỏe, khả năng lao động, làm việc của con người Chính vì vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu hình thái- thể
Trang 11lực được phổ biến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: tuyển sinh, tuyển quân, tuyển lao động, giám định y khoa….[57]
Thể lực của con người là một chỉ tiêu phức hợp Một trong những biểu hiện cơ bản của thể lực là những số đo kích thước của cơ thể, trong đó chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực của cơ thể là ba chỉ số phản ánh thể lực của con người Từ ba chỉ số này có thể tính thêm một số chỉ số khác thể hiện mối liên quan giữa ba chỉ số đó như chỉ số Pignet, BMI [61]
Cụng trỡnh nghiờn cứu về thể lực cho thấy sự khỏc nhau về thể lực giữa trẻ em thành phố và trẻ em nụng thụn, cú sự khỏc nhau về tốc độ phỏt triển thể lực giữa nam và nữ Trờn thực tế, sự phỏt triển thể lực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và kết quả sự tỏc động qua lại giữa cơ thể và mụi trường [41], [47], [63]
1.1.1 Nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực trên thế giới
Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để
đánh giá thể lực 90 Sau này, các nhà giải phẫu học kiêm hoạ sỹ thời phục hưng như: Leonard de Vinci, Mikenlangielo, Raphael đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa lên những tác phẩm hội hoạ của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng đã được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski
Rudolf Martin, người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua
2 tác phẩm nổi tiếng: "Giáo trình về nhân trắc học" và "Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê " Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn
được sử dụng 62, 85
Trang 12Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P.N Baskirov - "Nhân trắc học ", Evan Dervael- "Nhân trắc học", công trình của Bunak, A.M Uruxon Song song với sự phát triển của các bộ môn Di truyền, Sinh lý học, Toán học việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn Vấn đề này
được thể hiện qua các công trình của X Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tomner, M Sempé, G Pédron, M.P Rog- Pernot [81]
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng
về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng
có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc 64 Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến
25 là luận án tiến sỹ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754 Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross - sectional study) là phương pháp được dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện được trên nhiều đối tượng cùng một lúc
Nghiên cứu dọc của Philibert Guéneau de Montbeilard thực hiện nghiên cứu trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777 Đây là phương pháp rất tốt đã được ứng dụng cho đến ngày nay Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.P Bowditch ở Mỹ; Paul Godin ở Pháp Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã
được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới
1.1.2 Nghiên cứu các chỉ số hình thái - thể lực ở Việt Nam
Hình thái - thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em Vào những năm 30 của
Trang 13thế kỷ 20 tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa
Đông Dương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn
đề này Tác phẩm "Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương " của P Huard, A Bigot và "Hình thái học Người và giải phẫu thẩm
mỹ học " của P Huard và Đỗ Xuân Hợp, Đỗ Xuân Hợp 63 được xem là những công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam Tuy số lượng chưa nhiều, nhưng các tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời
Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một số trường đại học và viện nghiên cứu Các hội nghị về lĩnh vực này đã
được tổ chức nhiều lần, đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình cấp quốc gia và địa phương được thực hiện Đó là công trình “Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 do GS Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên
67 Đây cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực người Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 18 đến 25 Đây mới
là các chỉ số sinh học của ngưòi miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử), song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Namỵ Sau này cũng đã có một số công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh thể con người Việt nam [69], [70]
Qua các công trình này có thể thấy, tầm vóc và thể lực người Việt Nam nhỏ hơn so với các dân tộc Âu, Mỹ [90] Đa số các kích thước về tầm vóc - thể lực của nam lớn hơn của nữ Các kích thước này tăng dần theo tuổi,
đạt giá trị cao nhất ở lớp tuổi 26 - 40 (đối với nam) rồi sau đó giảm dần từ 41
đến 60 tuổi Mức độ giảm mạnh thường thấy ở các lớp tuổi trên 60 Đối với nữ, tầm vóc thể lực cũng tăng dần, đạt đỉnh cao lúc 18 -25 tuổi Từ 26 đến 40 tuổi các chỉ số thể lực ở nữ đã có xu hướng giảm và giảm rõ nhất ở lớp tuổi 41
Trang 14- 55 Từ 56 tuổi trở đi các chỉ số thể lực của phụ nữ ngày càng giảm nhiều hơn
54
Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân tộc thường có một khung chiều cao nhất định, nó được xác định trong quá trình hình thành các đặc điểm sinh thể của dân tộc [45] ở nước ta, chiều cao đứng người trưởng thành lớp tuổi 18 - 25 của nam đạt 159,0 5,0 cm và của nữ là 149,0 4,0 cm [36] Theo đề tài KX07.07 [62] thì chiều cao của nam là 162,4
5,5 cm và ở nữ là 153,3 4,7 cm Như vậy, nam có chiều cao hơn nữ khoảng trên dưới 9 cm, đây cũng là mức chênh lệch phổ biến của nhiều quần thể người trên thế giới 22 Tuy nhiên, không chỉ có sự khác biệt theo chiều cao giữa nam và nữ mà giữa dân cư thuộc các miền khác nhau cũng có sự khác biệt về kích thước này Phải chăng, đây chính là ảnh hưởng của môi trường sống đến sự tăng trưởng và phát triển của con người trong các giai đoạn phát
triển khác nhau, như nhiều tác giả đã nhận định [45], [47], [49], [50], [58]
Các công trình nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, trọng lượng cơ thể cũng thay đổi theo qui luật giống như tăng trưởng chiều cao Cân nặng tăng dần theo tuổi, sau đó, các chỉ số này giảm xuống ở các lớp tuổi cao Giữa dân cư thuộc các miền khác nhau cũng có sự khác biệt về trọng lượng trung bình của cơ thể [45], [58] Người miền Nam Việt Nam thường có trọng lượng
cơ thể lớn hơn người miền Bắc [17], [28]
Chỉ số sinh học khác được nghiên cứu nhiều là vòng ngực Đặc điểm chung của tất cả các đối tượng là kích thước vòng ngực trung bình phát triển cao nhất ở lớp tuổi từ 16 -25 (đối với nữ) và 26 - 40 (đối với nam) ở các lớp tuổi sau đó kích thước vòng ngực giảm dần 54 Các số liệu về vòng ngực trung bình của các tác giả cũng không hoàn toàn giống nhau Theo Dự án ’90
49 vòng ngực trung bình của nam tuổi 25 là 82,03 4,34 cm và của nữ cùng
Trang 15tuổi là 79,82 5,31 cm ở cả nam và nữ vòng ngực trung bình đều giảm dần
khi ở tuổi từ 41 trở đi
Kích thước vòng ngực hít vào hết sức phát triển tỷ lệ thuận với vòng ngực trung bình Do đó, nó cũng có những đặc điểm như vòng ngực trung bình Chỉ số này ở lớp tuổi 18 -25 đối với nam là 80,0 4,0 cm và nữ là 76,0 4,0 cm [67] Theo nghiên cứu của Trịnh Văn Minh và cs 52 với lớp tuổi 24 thì vòng ngực trung bình của nam là 82,44 3,58 cm và của nữ là 74,89 4,06 cm Với vòng ngực trung bình như vậy ở nam giới lớp tuổi từ 18 đến 25
có chỉ số Pignet là 37,0 6,0 và nữ là 33,0 6,0 Theo Trịnh Văn Minh và cs
52, chỉ số Pignet của nam lớp tuổi 24 là 36,38 6,38 và của nữ là 36,50 6,54 Như vậy, so với “Hằng số sinh học năm 75” [67] các nghiên cứu sau này cho thấy, chỉ số Pignet của nam và nữ có sự khác biệt không nhiều Chỉ số BMI cũng được đề cập tới trong nhiều công trình Theo nghiên cứu của Trịnh Văn Minh và cs 52 thì, chỉ số BMI của lớp tuổi 24 ở nam là 18,78 1,50 và
ở nữ là 19,13 1,67
Tiếp đó là công trình của Trịnh Bỉnh Dy và cs [13], [14] nghiên cứu
về các thông số sinh học và đặc điểm chức năng sinh lý người Việt Nam Các tác giả cho rằng, con người sinh học sau khi bộ xương đã hoàn tất quá trình tăng trưởng (khoảng 20 - 25 tuổi), thì hầu hết mọi chức năng đều từ từ giảm dần Đó là quá trình suy thoái chức năng, đặc trưng cho sự già hoá sau 20 - 25 tuổi
“Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do Võ Hưng chủ biên đã trình bày các công trình nghiên cứu nhân trắc người Việt Nam trên cả ba miền của đất nước Qua công trình này, tác giả đã nêu lên
được các qui luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người Việt Nam 25
Trang 16“Các chỉ tiêu nhân trắc hình thái thể lực người miền Bắc Việt Nam trưởng thành trong thập niên 90” do Trịnh Văn Minh và cs 52 thực hiện cho thấy, ở lớp tuổi thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp tục phát triển và đạt đỉnh cao vào lúc 20 - 21 tuổi (ở nữ) và 22 tuổi (ở nam) Nam giới
có chiều cao, cân nặng và các kích thước liên quan đến thể lực, cụ thể là với hoạt động cơ bắp luôn cao hơn so với nữ giới Trong khi đó, các chỉ số khác
có liên quan đến dinh dưỡng, khối mỡ, chỉ số Pignet thì của nữ lại cao hơn so với của nam
Lê Nam Trà và cs 61, 62,63, 64 trong đề tài KX 07-07 đã cho thấy trong giai đoạn từ 18 đến 25 tuổi cơ thể con người vẫn tiếp tục tăng trưởng Tuy nhiên, mức độ thay đổi không nhiều như ở những lớp tuổi trước
đó Đến tuổi 25 ở cả hai giới đều có các chỉ số thể lực ổn định như ở tuổi trưởng thành
Nguyễn Thị Đoàn Hương và cs 28 tiến hành nghiên cứu thể lực của
767 sinh viên thuộc một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy, có sự khác biệt về một số chỉ số thể lực giữa sinh viên miền Nam so với “Hằng số sinh học năm 1975” [67] Các số liệu cũng cho thấy có
sự tăng trưởng vượt trội vào giai đoạn 18 lên 19 tuổi (tương đương với năm thứ nhất lên năm thứ hai bậc đại học) của một số chỉ số thể lực
Phùng Văn Lực và cs 46 về tầm vóc thể lực của 834 sinh viên Đại học khu vực Thái Nguyên cho thấy, chỉ số thể lực của các đối tượng nghiên cứu tốt hơn so với của sinh viên một số trường đại học và thanh niên cùng lứa tuổi thuộc các khu vực khác
Cuối năm 1989, Thẩm Hoàng Điệp và cs 16 đã nghiên cứu về sự phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của trên 8000 người Việt Nam tuổi
từ 1 đến 55 tại cả 3 miền Bắc, Trung và Nam Các tác giả đã nhận xét rằng chiều cao trung bình của nam trưởng thành là 163 cm và của nữ là 158 cm
Trang 17Chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi, còn của nữ tăng nhanh đến14 tuổi Vòng ngực trung bình của nam trưởng thành là 78 - 80 cm, vòng đầu là 55 -
56 cm, còn của nữ tương ứng bằng 79 cm, và 54 - 55 cm Cũng tác giả này (1990) [17] khi nghiên cứu các chỉ tiêu nhân trắc trên học sinh PTCS Hà Nội cho rằng, chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 12 tuổi ở nữ và 13 đến 15 tuổi ở nam, còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam Trịnh Văn Minh và cs 50, [51] đã tiến hành điều tra một số chỉ số nhân trắc trên 1309 người bình thường trưởng thành tại xã Liên Ninh, Hà Nội
và tại phường Thượng Đình và xã Định Công, Hà Nội Kết quả đáng chú ý qua hai cuộc điều tra này là các kích thước nhân trắc cũng như các chỉ số thể lực vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến tuổi 19 - 20 ở nữ và 22 ở nam
Năm 1992, Trần Thiết Sơn và cs 55 chọn ngẫu nhiên 165 sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Hà Nội để nghiên cứu đặc điểm hình thái và thể lực Kết quả cho thấy, thể lực của sinh viên Y Hà Nội thuộc loại trung bình, và có chiều cao trung bình (nam là 162,9 cm và nữ là 155,5 cm) cao hơn so với thanh niên Việt Nam cùng lứa tuổi
Năm 1993, Bùi Văn Đăng và cs 15 tiến hành nghiên cứu thể lực
1221 sinh viên Đại học Y Thái Bình (thuộc 8 tỉnh đồng bằng Bắc bộ) Kết quả cho thấy, các chỉ số thể lực của sinh viên Y Thái Bình tương đương với các số liệu trong Hằng số sinh học người Việt Nam năm 1975 [67]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng 67 nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nóng khô và nóng ẩm lên một số chỉ số sinh lý ở người đã cho thấy, khí hậu khắc nghiệt vùng Nghệ Tĩnh bước đầu làm phát sinh những biến
đổi về cấu trúc hình thái Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng
đầu chỉ số Pignet, Broca, Skelíe của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này ở người Việt Nam Tác giả cho rằng đây là điểm đặc trưng cho sự thích nghi với khí hậu nóng khô và nóng ẩm
Trang 18Năm 1994, Nguyễn Hữu Choáng và cs 6 đã nghiên cứu thể lực của nam thanh niên quận Hồng Bàng, Hải Phòng qua đợt khám nghĩa vụ quân sự Các tác giả cho thấy, từ 18 đến 25 tuổi, sự phát triển chiều cao, cận nặng, vòng ngực trung bình của nam thanh niên quận Hồng Bàng đã chững lại hay vẫn còn tăng nhưng với mức độ không đáng kể
Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng 22 đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc người Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoạn 1981 - 1985” trên
13223 người thuộc cả 3 miền đất nước Kết luận của công trình nghiên cứu này là người Việt Nam trong lứa tuổi lao động có chiều cao (trung bình là 163
cm ở nam và 153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp của thế giới, nhẹ cân, có phần trên của thân thuộc loại trung bình hơi dài Một số chỉ số nhân trắc hình thái có số đo trung bình tăng dần từ Bắc vào Nam
Năm 1996, Trần Đình Long và cs [43], 44 qua nghiên cứu đặc
điểm sự phát triển cơ thể học sinh phổ thông tại một số trường học ở Hà Nội
đã cho thấy, từ 17 đến 18 tuổi sự phát triển cơ thể của cả hai giới đều chậm lại
rõ rệt hoặc chững lại Điều này cũng có thể thấy trong công trình nghiên cứu trên học sinh đến 18 tuổi của Nguyễn Kim Minh [48]
Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng và cs [23] trên sinh viên Đại học
y Hải Phòng cho thấy, thể lực của nam sinh viên từ 18 đến 25 tuổi phát triển mạnh hơn nữ cùng lớp tuổi
Năm 1998, Nguyễn Kỳ Anh và cs 1, sau khi đối chiếu so sánh các kết quả nghiên cứu của mình với của một số tác giả khác đã đưa ra nhận xét rằng, thanh niên Việt Nam lớp tuổi 14 - 18 ở nữ và 16 - 18 ở nam lớn chậm hơn so với các lớp tuổi trước đó
Theo Nguyễn Hữu Chỉnh và cs [5], ở sinh viên lớp tuổi từ 18 đến 25 khu vực Kiến An, Hải Phòng vẫn có sự tăng trưởng, song sự khác biệt theo các
Trang 19chỉ số nghiên cứu giữa các lớp tuổi kế tiếp nhau không có ý nghĩa thống kê Cũng theo Nguyễn Hữu Chỉnh và cs [5], ở dân cư khu vực Kiến An Hải Phòng
có các chỉ số nhân trắc tốt hơn so với “Hằng số sinh học , 1975” So sánh giữa nam và nữ tác giả cho rằng từ 10 đến 11 tuổi, nữ phát triển nhanh hơn nam nhưng từ 14 đến 15 tuổi, các kích thước của nam bắt kịp và vượt trội nữ Sau tuổi 25 chiều cao không tăng nữa, cân nặng tăng đến 30 – 39 tuổi sau đó ổn
định rồi suy giảm, trong đó nam giảm chậm hơn nữ
Năm 1998, Vũ Thị Thanh Bình 4 nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực và chức năng sinh lý của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục
TW 1 (CĐSPTDTW1) đã nhận thấy, sinh viên CĐSPTDTW1 có thể lực tốt hơn sinh viên các trường đại học khác và thuộc loại tốt so với thanh niên Việt Nam nói chung Có thể coi những khác biệt này là do đặc trưng thể lực của sinh viên năng khiếu và tác động của việc rèn luyện thể chất ở cường độ cao Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây về thể lực của sinh viên và thanh niên Việt Nam đều cho thấy có sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ nhiều năm trước Đặc biệt là từ sau 1975 đến nay khi tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khoẻ của con nười Việt Nam [17] Thanh niên thành phố thường có các chỉ số nhân trắc tốt hơn thanh niên nông thôn [7], [8] Để giải thích sự khác biệt này, có tác giả [37] cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống Do điều kiện sống ở thành phố
được cải thiện nhiều hơn nên thanh niên thành phố thường có chiều cao, cân nặng tốt hơn thanh niên nông thôn cùng lứa tuổi
Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống, quá trình rèn luyện thân thể cũng là những yếu tố tác động đến thể lực của sinh viên và thanh niên [54] Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cs 47 đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người và cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao, cân nặng trung bình
Trang 20của nữ sinh các dân tộc thiểu số thấp hơn nữ sinh các vùng đồng bằng và thành thị Tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, môi trường, chủng tộc, điều kiện kinh tế
Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan [47] nghiên cứu trên nam, nữ học sinh từ 9 – 18 tuổi thuộc các dân tộc ít người ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ cho thấy, chiều cao và cân nặng của các em tăng dần theo tuổi, chiều cao tăng nhanh lúc 14 – 15 tuổi còn cân nặng tăng nhanh lúc 15 – 16 tuổi Các chỉ số chiều cao và cân nặng của học sinh nam, nữ trong nhóm nghiên cứu của các tác giả này lớn hơn so với số liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [ 67], nhưng lại nhỏ hơn kết quả nghiên cứu trên học sinh Hà Nội [40], Thái Bình [64] và Hà Tây [30] Thời điểm tăng nhanh chiều cao và cân nặng của các nữ sinh dân tộc ít người đến sớm hơn so với dẫn liệu trong cuốn “ Hằng số sinh học người Việt Nam”, nhưng muộn hơn so với học sinh Hà Nội
và học sinh Thái Bình từ 1 đến 2 năm
Một số công trình nghiên cứu trong những năm gần đây của nhiều tác giả [34], [26], [38] trên học sinh ở các tỉnh Nam Định, Thanh Hoá, Quy Nhơn, Lạng Sơn cho thấy, sự biến đổi các chỉ số hình thái của học sinh cũng có những đặc điểm chung như đã trình bày ở trên
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái của học sinh Việt Nam khá phong phú Tuy kết quả nghiên cứu về các chỉ số này trong các công trình có khác nhau ít nhiều nhưng đều xác định được là chúng biến
đổi theo lứa tuổi và mang đặc điểm giới tính Trong quá trình phát triển của trẻ
em có giai đoạn nhảy vọt tăng trưởng Mốc đánh dấu lứa tuổi nhay vọt ở các công trình tương đối thống nhất, chiều cao tăng nhanh nhất từ 13 – 15 tuổi ở nam và 11 – 13 tuổi ở nữ Có sự khác biệt về các chỉ số này giữa nam và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, cũng như giữa các vùng khí hậu khác nhau, giữa các nhóm dân tộc khác nhau
Trang 21Năm 2000, trong luận án tiến sỹ nghiên cứu thể lực của người Êđê và người Kinh định cư ở Đăk lăk Đào Mai Luyến 45 đã cho thấy, thể lực của người Êđê tốt hơn của người Kinh định cư Tác giả cho rằng đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống có ảnh hưởng nhất định đến khả năng tăng trưởng đối với các chỉ số hình thái Đoàn Văn Huyền và cs 22 cũng cho rằng giữa cơ thể và môi trường có mối liên quan chặt chẽ với nhau môi trường sống đã ảnh hưởng tới trao đổi chất và điều hoà thân nhiệt nên đã tác động lên các chỉ số thể lực của cá thể Ngoài ra sự rèn luyện thể lực cũng
có tác động tốt lên chiều cao, cân nặng và một số vòng của cơ thể 53, các yếu tố xã hội cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể đặc biệt là tuổi dậy thì [73]
1.2 Nghiên cứu về các chức năng sinh lý
1.2.1 Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn máu
Chức năng cơ bản đảm bảo cung cấp ụxy và cỏc chất dinh dưỡng cho toàn bộ cơ thể là hoạt động của hệ tuần hoàn Trong đú tần số tim và huyết ỏp động mạch là những chỉ số cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn [66]
Tim cú chức năng vừa hỳt màu vừa đẩy mỏu, là động lực chớnh của hệ tuần hoàn Cụng xuất của tim phụ thuộc tần số tim và thể tớch cơ tim Bởi vậy, tần số tim là một trong cỏc chỉ số dựng để đỏnh giỏ hoạt động của hệ tuần hoàn và tỡnh trạng sức khỏe của con người
Tim co búp tạo lờn lực đẩy mỏu trong động mạch lại chịu lực cản của mạch mỏu Tuần hoàn mỏu cú thể coi là kết quả của hai loại lực đối lập nhau: lực đẩy mỏu của tim và lực cản của động mạch, trong đú lực đẩy của tim đó thắng nờn mỏu chảy trong động mạch với một ỏp suất nhất định gọi là huyết
ỏp và một tốc độ nhất định Núi cỏch khỏc huyết ỏp là ỏp lực của mỏu tỏc động lờn thành mạch mỏu
Trang 22Huyết ỏp khi tim co và khi tim gión khụng giống nhau Huyết ỏp khi huyết ỏp tối thiểu hay huyết ỏp tậm trương vỡ: ỏp suất đẩy mỏu đi trong mạch được tăng cao khi tõm thất co và giảm khi tõm thất gión, do khi tõm thất co búp tống mỏu từ tõm thất vào động mạch Lỳc này lực của mỏu rất lớn nờn huyết ỏp trong giai đoạn tim co cú trị số lớn nhất nờn gọi là huyết ỏp tối đa Ngược lại, khi tim gión khụng cú sức đẩy của tim nhưng do cú tớnh đàn hồi của thành động mạch gõy ỏp lực đẩy mỏu đi Vỡ vậy huyết ỏp trong giai đoạn tim gión cú trị số thấp nhất nờn gọi là huyết ỏp tối thiểu
Huyết áp động mạch đã được nghiên cứu từ thế kỷ 19 do nhiều tác giả tiến hành 77, 78 Huyết áp đã được Korotkow xác định bằng phương pháp
đo gián tiếp, phương pháp này hiện vẫn được dùng phổ biến Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, huyết áp của nam và nữ từ 5 tuổi trở lên có sự khác biệt rõ, trong đó huyết áp của nam thường cao hơn của nữ và huyết áp còn chịu ảnh hưởng của môi trường con người đang sinh sống
Mức độ chờnh lệch giữa huyết ỏp tối đa và huyết ỏp tối thiểu là huyết
ỏp hiệu số Đú là điều kiện cần thiết cho sự tuần hoàn của mỏu Khi huyết ỏp hiệu số giảm xuống thấp thỡ tuần hoàn mỏu bị ứ trệ huyết ỏp trị số lớn nhất ở cỏc động mạch chủ động và động mạch lớn
Tần số tim và huyết áp động mạch được nghiên cứu từ khá sớm trên nhiều đối tượng khác nhau Trong số các công trình đáng chú ý hơn cả là
“Hằng số sinh học năm 1975” 67 Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần số tim của nam trưởng thành trung bình là 70 - 80 lần/phút và của nữ trưởng thành trung bình là 75 - 85 lần/phút
Các kết quả nghiên cứu về huyết áp động mạch trên người Việt Nam của Trịnh Bỉnh Dy trình bày trong cuốn “Về những thông số sinh học người Việt Nam” cho thấy, huyết áp của người Việt Nam không những thấp mà còn
Trang 23tăng chậm theo tuổi 11 Trong “Hằng số sinh học1975” huyết áp tâm thu ở người trưởng thành dao động từ 90 - 140 mmHg và huyết áp tâm trương là từ
50 - 90 mmHg
Theo tác giả Phạm Thị Minh Đức [62], huyết áp tâm thu bình thường
có trị số là 90 - 110 mmHg, nếu trên 140 mmHg được coi là tăng huyết áp và dưới 90 là hạ huyết áp Huyết áp tâm trương bình thường có trị số là từ 50 - 70 mmHg, nếu vượt quá 90 mmHg được coi là tăng huyết áp và dưới 50 mmHg là hạ huyết áp
Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh 65 cũng cho thấy các chỉ số huyết áp
động mạch nằm trong giới hạn kể trên, chỉ số huyết áp tâm thu trung bình cho cả nam và nữ ở là 120,06 16,25 mmHg và huyết áp tâm trương là 75,28
10,74 mmHg
Các công trình nghiên cứu trên học sinh phổ thông 41 cho thấy, huyết áp động mạch tăng dần theo lớp tuổi Nghiên cứu trên những người trưởng thành khác nhau về chủng tộc 45, cũng cho thấy, huyết áp động mạch của nữ người Êđê cao hơn của nữ người Kinh
Năm 1993, Đoàn Yên và cs [73] dựa vào kết quả nghiên cứu tần số tim
và huyết áp của người Việt Nam đã cho rằng, sau khi sinh, tần số tim và huyết
áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng lên Tần số tim giảm dần đến tuổi
25 và ổn định đến tuổi 69 So với người Âu, Mỹ huyết áp người Việt Nam thường thấp hơn
Nghiêm Xuân Thăng 56 khi nghiên cứu thể lực của người Nghệ Tĩnh lớp tuổi 18 - 25 đã nhận thấy, tần số tim, huyết áp động mạch chịu sự tác động của môi trường sống, đặc biệt là tác động của khí hậu trong khu vực Tần số tim tăng khi nhiệt độ môi trường tăng Nó biến đổi theo ngày, mùa và phụ
Trang 24thuộc vào mức độ bức xạ, tần số co bóp của tim về mùa hè cao hơn về mùa
đông Ngoài ra, chỉ số này còn chịu sự chi phối của các yếu tố khác như lao
động, trạng thái tâm lý v.v
Năm 1996 Trần Đỗ Trinh 65 nghiên cứu trên 36.7843 người thuộc 7 vùng địa lý khác nhau đã cho thấy chỉ số huyết áp trung bình của người Việt Nam là 120/75 mmHg Theo tác giả, huyết áp tăng theo tuổi, ở lớp tuổi từ 18
- 25 mức tăng chậm lại rồi tương đối ổn định ở tuổi trung niên Về già, huyết
áp lại tăng lên Huyết áp của nam thường cao hơn của nữ, tuy sự chênh lệch không nhiều, chỉ khoảng từ 1 - 3 mmHg
Qua nghiên cứu huyết áp của các dân tộc Tây Nguyên, Đào Mai Luyến
45 nhận thấy, dân tộc Êđê, Bana, Giarai có tần số tim và trị số huyết áp động mạch khác nhau, song các chỉ số này vẫn trong giới hạn sinh lý bình thường Trong số các dân tộc này thì dân tộc Êđê có các chỉ số huyết áp tốt hơn cả Cũng giống như ở người Kinh ở cả 3 dân tộc huyết áp đều tăng dần theo tuổi Nghiên cứu của Trần Thị Loan [41] cho thấy ở lớp tuổi học sinh phổ thông tần số tim giảm dần theo lớp tuổi, sự biến đổi nhịp tim của nam và nữ khác nhau
Năm 2002, Nguyễn Văn Mùi và cs 53 đã nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch trên 182 vận động viên (VĐV) một số môn thể thao ở Hải Phòng Các kết quả cho thấy, huyết áp tâm thu và tâm trương của các vận
động viên, cả nam và nữ, đều thấp hơn so với ngưòi bình thường cùng lứa tuổi
và nằm trong giới hạn bình thường Trong số này nhóm VĐV bơi lội có huyết
áp thấp hơn cả
Tần số co bóp của tim ở các VĐV đều thấp hơn so với của thanh niên cùng lứa tuổi, và nhóm VĐV bắn súng có tần số thấp nhất Điều này cho thấy, việc rèn luyện thể chất có ý nghĩa rất lớn đối với chức năng của hệ tim - mạch
Trang 25Nghiên cứu về điện tim được thực hiện từ thế kỉ XIX 66, 83,.Năm
1885 Einthoven đã đặt tên cho các sóng trên điện tâm đồ và đưa ra cách tính trục điện tim 86, 78, 79 Goldberger năm 1947 đã cải tiến cách mắc các chuyển đạo đơn cực chi làm cho điện thế ở các chuyển đạo này tăng lên 1,5 lần mà không làm thay đổi hình dạng sóng 86 Điều này đã giúp các nhà nghiên cứu dễ dàng hơn trong việc đọc điện tâm đồ 86, 88, 89 Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, tần số tim thay đổi theo tuổi và theo trạng thái chức năng của cơ thể 88, 89 Những thay đổi này có liên quan đến sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của dây thần kinh ngoài tim 89,
90
1.2.2 Các nghiên cứu về chức năng hô hấp phổi
Theo các số liệu được công bố trong “Hằng số sinh học năm 1975” [67], dung tích sống của người Việt Nam có xu hướng giảm theo tuổi, tăng theo chiều cao và dung tích sống của nam cao hơn so với của nữ Dung tích sống trung bình của người Việt Nam như sau: đối với nam (từ 16 đến 60 tuổi) cao 160 - 164 cm dung tích sống bằng 2,5 ữ 3,5 lít, dung tích sống cao nhất xác định được lúc 18 - 20 tuổi và thấp nhất - từ 59 tuổi trở lên; đối với nữ (từ
16 đến 60) cao 150 - 154 cm dung tích sống bằng 1,65 ữ 2,35 lít, dung tích
sống cao nhất lúc 18 - 23 tuổi và thấp nhất là từ 59 tuổi trở lên Trong cuốn
sách này các tác giả cũng đã nêu lên một loạt các chỉ số cơ bản như tần số thở, dung tích sống gắng sức, thể tích khí lưu thông và mối liên quan của chúng với giới tính, chiều cao đứng của cơ thể
Công trình của Đoàn Yên cs [74] nghiên cứu nhịp thở, dung tích sống, thể tích khí lưu thông, thể tích phút của người Việt Nam từ 6 đến 79 tuổi Các tác giả đã cho thấy, dung tích sống tăng nhanh đến 19 tuổi sau đó ổn định, từ
30 tuổi trở đi nó bắt đầu giảm Dung tích sống của người Việt Nam nhỏ hơn
so với người Âu, Mỹ
Trang 26Theo Nghiêm Xuân Thăng [56], khí hậu có ảnh hưởng lên chức năng hô hấp của cư dân Nghệ Tĩnh, trong đó tần số hô hấp và dung tích sống chịu
ảnh hưởng nhiều nhất của khí hậu
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tường và cs [69], cho thấy, dung tích sống trung bình của lớp tuổi thanh niên đối với nam là 3,4 lít và đối với nữ là 2,5 lít Chỉ số hô hấp tăng dần theo tuổi và đạt giá trị cao nhất ở lớp tuổi từ 20
đến 29, sau giai đoạn này nó giảm dần Theo nghiên cứu của Đào Mai Luyến [45] trên người Êđê và người Kinh định cư ở Đăk Lăk, thì dung tích sống của nam cao nhất bằng 4,11 lít và của nữ cao nhất là 2,94 lít Tác giả cho rằng, các chỉ số hô hấp tương quan thuận với chiều cao và tương quan nghịch với tuổi Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Hường và cs [69] trên người Hà Nội Từ kết quả của nghiên cứu này đã xây dựng được các phương trình tính giá trị bình thường của một số chỉ số, đồng thời khẳng định các chức năng thông khí phổi trên người Việt Nam thấp hơn so với người Châu Âu
Nghiên cứu của Trần Thị Loan [78] trên học sinh từ 6 đến 17 tuổi cho thấy, dung tích sống của học sinh tăng dần theo lớp tuổi và ở nam tăng nhanh hơn ở nữ Theo tác giả, thời điểm tăng nhanh dung tích sống diễn ra cùng một lúc với thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao
Trang 27Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 884 học sinh (trong đó có 433 học sinh nam và 451 học sinh nữ) trường THPT bán công Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phỳc, độ tuổi từ 16-18 (đang học từ lớp 10 đến lớp 12) cú trạng thỏi tõm lý và sức khỏe bỡnh thường, không có các dị tật bẩm sinh và bệnh mãn tính Các chỉ số nghiên cứu được xác định trên cùng một đối tượng, nên khi trình bày kết quả và bàn luận, chúng tôi không nhắc lại số đối tượng nghiên cứu trong từng bảng số liệu Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi và giới tính
Trang 28Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số thể lực của học sinh
Nghiên cứu mối tương quan giữa một số chức năng hình thái và sinh lí
- Chiều cao đứng với tần số tim
- Chiều cao đứng với dung tích sống
2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số
2.2.2.1 Phương pháp xác định các chỉ số hình thái, thể lực
- Chiều cao đứng: được xác định bằng thước đo chiều cao gắn trên cân
y học Trung Quốc, có vạch chia đến 0,1cm Khi đo, học sinh ở tư thế đứng thẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm là chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo Tư thế đứng thẳng được xác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân Chiều cao đứng được tính theo đơn vị centimet(cm)
- Trọng lượng cơ thể: được xác định bằng cân đồng hồ của Nhật có độ
chính xác đến 0,1kg Đo xa bữa ăn Khi cân, mỗi đối tượng chỉ mặc một bộ quần áo mỏng, không mang giày, dép, đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn chân sát nhau Trước khi cân bất kì một học sinh nào, cân đều được chỉnh để
đảm bảo độ chính xác Đơn vị tính trọng lượng cơ thể là kilogam(kg)
- Vòng ngực trung bình: được xác dịnh bằng số trung bình cộng của số
đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra cố sức Vòng ngực được đo ở tư
Trang 29thế đứng thẳng bằng thước dây vòng quanh ngực vuông góc với cột số xương bả vai, phía trước quá mũi ức Như vậy chu vi đo thước tạo thành nằm trên mặt phẳng ngang song song với mặt đất Trước khi đo hướng dẫn đối tượng hít vào tận lực và thở ra cố sức để đo Dụng cụ đo là thước dây bằng vải của Trung Quốc không co giãn, có chia số tới mm Đơn vị đo vòng ngực trung bình là centimet (cm)
Để đánh giá thể lực của học sinh Chúng tôi dùng các loại chỉ số sau:
- Chỉ số BMI (Bocly Mass Index) còn gọi là chỉ số khối cơ thể, được
tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg)/ [Chiều cao đứng (m)] 2
Đơn vị của chỉ số BMI là kg/m2
- Chỉ số Pignet được tính theo công thức chung là:
Pignet = Chiều cao đứng(cm)-[Cân nặng(kg)+Vòng ngực trung bình(cm)]
Đánh giá chỉ số Pignet theo Nguyễn Quang Quyền
Pignet = 27,5 - 33,9 : trung bình
Pignet = 0 - 20,8: cường tráng Pignet = 34 - 37,2: yếu
Pignet = 20,9 - 24,1: rất khoẻ Pignet = 37,3 - 40,5: rất yếu Pignet = 24,2 - 27,4: khoẻ Pignet 40,6 : yếu kém
2.2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số chức năng
- Các chỉ số về chức năng hệ tim, mạch
+ Nhịp tim: được xác định bằng ống nghe, khi đo đối tượng ngồi ở tư thế thoải mái, người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong vòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếu thấy kết quả 3 lần đo khác nhau nhiều thì cho đối tượng
ngồi nghỉ 15 phút rồi đo lại :
+ Huyết áp động mạch
Được xác định bằng phương pháp của Korotkov (theo 41), dụng cụ
đo là huyết áp kế đồng hồ
Trang 30Chuẩn bị đo: đặt cánh tay trái ngang tim trong tư thế nằm thoải mái,
người đo quấn bao cao su của huyết áp kế quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa
phải, đặt ống nghe trên động mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để
nghe mạch đập và đặt đồng hồ của huyết áp kế trước mặt
Cách đo: vặn chặt ốc ở bóp cao su rồi từ từ bơm cho đến khi kim đồng
hồ chỉ vào số 150 - 160 mmHg Sau đó mở nhẹ ốc cho hơi thoát ra từ từ, đồng
thời lắng nghe Trị số trên đồng hồ lúc nghe tiếng đập đầu tiên là chỉ số huyết
áp tâm thu và tiếng cuối cùng là chỉ số huyết áp tâm trương Trong trường hợp
bất thường cần phải đo lại Đo ba lần và lấy trị số trung bình của ba lần đo
+ Các chỉ số về chức năng hệ hô hấp
Các chỉ số hô hấp được nghiên cứu gồm: dung tích sống (VC), dung
tích sống gắng sức (FVC) và thể tích khí thở ra tối đa trong giây đầu (FVC1) Dụng cụ đo là phế dung kế do Liên Xô chế tạo được đưa về điều kiện
tiêu chuẩn Đối tượng nghiên cứu được đo ở tư thế đứng hít vào tận lực sau đó
kẹp mũi và ngậm miệng vào ống thổi, thở ra bằng miệng hết sức để toàn bộ
khí đi vào máy đo, trong quá trình đo người thực nghiệm động viên đối tượng
thở hết sức Mỗi đối tượng được đo 3 lần lấy kết quả có trị số cao nhất
Số liệu được chia theo các lớp tuổi và trường học sau đó xử lý thống kê
trên máy vi tính với phương trình Cstat để tìm ra phương trình hồi qui [58] có
dạng:
y = aH + bA + c trong đó y : là thông số về thể tích hay lưu lượng tính bằng lít
H: là chiều cao tính bằng mét
A: là tuổi tính bằng năm
a, b: là hệ số của H và c: là hằng số
Trang 312.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi sử dụng chương trình Microsoft Excel 97 và nhập kết quả thu
được trong phiếu điều tra vào máy tính
Sau đó chúng tôi tiến hành xử lý số liệu Đếm số lượng, trính giá trị trung bình (X ); độ lệch chuẩn (S) và hệ số biến thiên (CV%); hệ số tương quan Pearson (r) của các dụ liệu đã chọn
+ Độ lệch chuẩn:
2 1
n
i
Xi X S
n
i
Xi X S
Trong đú: + CV: Hệ số biến thiờn (%)
+ S : Độ lệch chuẩn + X : Giỏ trị trung bỡnh
CV (%) càng lớn thỡ độ chớnh xỏc càng thấp
+ Hệ số tương quan Pearson:
Trang 33Chương 3 KếT QUả NGHIÊN CứU và bàn luận
3.1 Sự tăng trưởng các giá trị hình thái của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo
3.1.1 Chỉ số chiều cao đứng của học sinh từ 16 đến 18 tuổi
Chiều cao đứng là một trong những giá trị sinh học cơ bản nhất phản
ánh sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể người qua các lớp tuổi Các nghiên cứu về lĩnh vực này cho thấy ở lớp tuổi học sinh, chiều cao đứng thay đổi theo lứa tuổi, giới tính và chịu ảnh hưởng của môi trường sống
Kết quả nghiên cứu thực trạng chiều cao đứng của học sinh nam và nữ của trường THPT bán công Trần Hưng Đạo-Tam Dương-Vĩnh Phúc được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính (cm)
Trang 34Các số liệu trên bảng 3.1 cho thấy, từ 16 - 18 tuổi, chiều cao của học sinh vẫn tiếp tục tăng Cụ thể là: chiều cao của học sinh nam tăng từ 157,76
cm lúc 16 tuổi lên 159,34 cm lúc 17 tuổi và đạt 160,47 cm lúc 18 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 1,35 cm Chiều cao của học sinh nữ tăng từ 152.16 cm lúc 16 tuổi lên 153,34 cm lúc 17 và đạt 154.23 cm lúc 18 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 1.03 cm
Tốc độ tăng trưởng về chiều cao đứng theo lớp tuổi của học sinh không
đều Cụ thể là ở giai đoạn 16 lên 17 tuổi, chiều cao của học sinh tăng nhanh hơn so với giai đoạn từ 17 lên 18 tuổi, nhất là ở nam Nguyên nhân của hiện tượng tăng trưởng mạnh ở thời kì này là do các em vẫn đang trong lớp tuổi dậy thì có thể coi đây là giai đoạn sau của dậy thì vì thế tốc độ tăng trưởng chiều cao vẫn còn tăng mạnh tuy có chậm hơn so với giai đoạn trước đó
So sánh về sự tăng trưởng chiều cao theo giới tính được biểu diễn bằng biểu đồ hình 3.1 Quan sát trên biểu đồ cho thấy ở cùng độ tuổi, chiều cao trung bình của nam và nữ không giống nhau
Chiều cao của nam luôn cao hơn so với nữ Cụ thể là: ở tuổi 16 chiều cao trung bình của nam là 157,76 cm và của nữ là 152,16 cm, hơn nhau 5.60 cm; ở tuổi 17 chiều cao trung bình của nam là 159,34 cm, của nữ là 153,34 cm hơn nhau 6.00 cm; ở tuổi 18 chiều cao trung bình của nam là 160,47 cm và của nữ
là 154.23 cm hơn nhau 6.24 cm Sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p<0.05) Một đặc điểm cần lưu ý đó là độ chênh lệch giữa nam và nữ ngày càng tăng theo lớp tuổi; điều này chứng tỏ ở nam sự tăng trưởng vẫn còn khá mạnh trong khi đó sự tăng trưởng về chiều cao đứng của nữ đã giảm đi nhanh chóng và đạt giá trị ổn định
Các kết quả nghiên cứu khác 6, 16, 32, 49 cũng cho thấy kết quả tương tự Một số nghiên cứu về người Việt Nam trưởng thành đã khẳng định chiều cao đứng đạt mức cao nhất vào lúc 23 - 25 tuổi (đối với nam) và 20- 21 (đối với nữ) [50], [51] Như vậy, lớp tuổi từ 16 đến 18, chiều cao ở cả hai giới
Trang 35tăng tương đối mạnh và ít ổn định Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của
Lê Nam Trà và cs 61
Hình 3.1 Biểu đồ chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các đặc điểm tăng trưởng về hình thái sinh lý của cơ thể người đang trong giai đoạn hoàn thiện dần về kích thước cơ thể dưới tác động của các nguyên nhân quan trọng như di truyền, hocmon và các yếu tố môi trường sống
3.1.2 Chỉ số trọng lượng cơ thể của học sinh từ 16 đến 18 tuổi
Trọng lượng cơ thể là một trong những chỉ số quan trọng có mặt trong tất cả các công trình điều tra cơ bản về hình thái người nói chung và hình thái, thể lực của học sinh nói riêng Trọng lượng cơ thể liên quan đến nhiều chỉ tiêu khác nên thường được dùng để đánh giá sự tăng trưởng và phát triển cơ thể
Trang 36Đối với một cơ thể bình thường, trong giai đoạn tăng trưởng trọng lượng cơ thể thường xuyên tăng lên, nhưng không đồng đều
Có nhiều nguyên nhân làm thay đổi trọng lượng cơ thể, trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện đo trọng lượng của học sinh trong độ tuổi từ 16
đến 18 nhằm xác định thực trạng việc tăng trưởng trọng lượng cơ thể trong
điều kiện bình thường và những yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng đó
Các kết quả nghiên cứu về trọng lượng cơ thể của học sinh nam và nữ
Trang 37Trong giai đoạn từ 16 – 17 tuổi, tốc độ tăng trọng lượng không đều theo lứa tuổi và giới tính Cân nặng của học sinh nam tăng nhanh từ 17 đến 18 tuổi, ở giai đoạn này, cân nặng của nam tăng 1.18kg/năm và chậm hơn ở giai
đoạn 16 lên 17 tuổi (0,83 kg/năm) Trong khi đó cân năng của nữ tăng nhanh trong giai đoạn từ 16 lên 17 (1.03 kg) và giảm trong giai đoạn từ 17 lên 18 tuổi (0,77 kg)
Hình 3.2 Biểu đồ trọng lượng trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính
Trong cùng độ tuổi, cân nặng trung bình của học sinh nam luôn cao hơn
so với học sinh nữ Cụ thể là: ở tuổi 16 trọng lượng trung bình của học sinh nam là 46.54kg, của học sinh nữ là 44.19kg, hơn trung bình là 2.35kg; ở tuổi
17 trọng lượng trung bình của nam là 47.37kg, của nữ là 45.22kg, trung bình của nam hơn là 2.15 kg; ở tuổi 18 trọng lượng trung bình của nam là 48.55 kg, của nữ là 45.98 kg, trung bình của nam hơn là 2.57kg Mức chênh lệch trọng lượng trung bình giữa học sinh nam và học sinh nữ có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Trang 38So với các nghiên cứu gần đây như trong Atlat 1985 hay kết quả nghiên cứu của dự án KX07.07 năm 1994 22 chúng tôi thấy, sự gia tăng trọng lượng của học sinh trong cùng độ tuổi tại trường THPT bán công Trần Hưng
Đạo cho thấy cân nặng ở cả nam và nữ đều tăng trong đó nam tăng mạnh hơn nữ Điều đáng chú ý là có sự tăng trưởng nhanh từ lớp tuổi 17 lên 18 ở nam và
16 lên 17 ở nữ Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Đoàn Hương và cs [28] trên các đối tượng khác cùng độ tuổi Xét trên bình diện rộng có thể thấy kết quả trên chứng tỏ có sự dậy thì của nữ sớm hơn so với nam, chính điều này đã làm cho sự tăng trưởng hình thái của nữ xảy ra sớm hơn so với nam Nếu so với các kết quả nghiên cứu khác có thể thấy rõ mức tăng trưởng trọng lượng cơ thể của học sinh ngày nay tốt hơn so với nhiều thập
kỉ trước 4, 15, 22], cũng có nghĩa là chỉ số này có sự tăng dần theo thời gian
3.1.3 Chỉ số vòng ngực trung bình của học sinh 16-18 tuổi
Cũng như trọng lượng cơ thể và chiều cao đứng, vòng ngực trung bình
được coi là một chỉ tiêu đặc trưng cho thể lực của mỗi người Nhìn chung một người có kích thước vòng ngực rộng thì có thể lực tốt Qua các nghiên cứu đã cho thấy, sự phát triển của vòng ngực song song với sự phát triển chiều cao Quy luật phát triển vòng ngực cũng gần giống với quy luật phát triển của trọng lượng cơ thể Đặc biệt vòng ngực còn thể hiện sự khoẻ mạnh của các chức năng hô hấp trong cơ thể người Các nghiên cứu về lĩnh vực này đã cho thấy các chỉ số hô hấp có liên quan chặt chẽ tới kích thước của vòng ngực trung bình, vòng ngực lúc thở ra, và vòng ngực khi hít vào,
Trang 39B¶ng 3.3 Vßng ngùc trung b×nh cña häc sinh theo
Trang 40Hình 3.3 Biểu đồ vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và giới tínhBiểu đồ hình 3.3 cho thấy, trong cùng lứa tuổi, vòng ngực trung bình của nam luôn cao hơn so với nữ ở tuổi 16 vòng ngực trung bình của nam cao hơn so với nữ là 4,57 cm; ở tuổi 17 là 4,36 cm và ở tuổi 18 là 4,38 cm Mức chênh lệch này đều có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trong lớp tuổi 16- 18 VNTB
của cả nam và nữ đều tăng, tuy không đều nhau đặc biệt các kết quả chỉ rõ sự tăng trưởng VNTB của học sinh nữ xảy ra nhanh hơn so với nam ở lớp tuổi từ
16 lên 17 tuổi điều này có liên quan đến tuổi dậy thì của hai giới có nhiều đặc
điểm khác nhau Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác 28 Nhìn chung, VNTB của học sinh trường THPT bán công Trần Hưng Đạo tương đương với các kết quả nghiên cứu từ sau năm 1975 đến nay
4, 15, 22, 26, 30] trên cùng đối tượng