Các nhà nghiên cứu đã nỗ lực không ngừng để đưa thơ hai-cư đến gần chúng ta hơn như các cuốn sách, giáo trình, chuyên luận, chuyên khảo của một số nhà nghiên cứu, dịch giả tiêu biểu như:
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BẾ LAN DUNG
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM
ĐỂ DẠY HỌC THƠ HAI-CƯ TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 10 NÂNG CAO Ở THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BẾ LAN DUNG
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM
ĐỂ DẠY HỌC THƠ HAI-CƯ TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 10 NÂNG CAO Ở THPT Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Thanh Hùng
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN i http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Bế Lan Dung XÁC NHẬN CỦA
KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ii http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Để luận văn hoàn thành và được phép bảo vệ, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và đơn vị Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành, sâu sắc đến:
- Giảng viên hướng dẫn GS.TS Nguyễn Thanh Hùng - người đã dành nhiều thời gian quý báu để hướng dẫn, góp ý, chia sẻ giúp tôi có định hướng đúng trong suốt thời gian thực hiện luận văn
- Thầy, cô phản biện - những người đã góp ý chân thành, thẳng thắn để tôi hoàn thiện luận văn hơn
- Các thầy cô giảng dạy lớp Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt K21 - đã giúp tôi có nền tảng kiến thức để thực hiện luận văn
- Trường trung học phổ thông Chuyên - Tuyên Quang đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình khảo sát, thực nghiệm
- Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân luôn động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp chúng tôi hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Bế Lan Dung
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iii http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp mới của luận văn 9
7 Cấu trúc luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Khái quát về thơ hai-cư 11
1.1.2 Thơ hai-cư của nhà thơ Ma-su-ô Ba-sô và nhà thơ Yô-sa Bu-son 31
1.2 Cơ sở thực tiễn 33
1.2.1 Thơ hai-cư trong chương trình THPT và sách giáo khoa Việt Nam hiện nay 33
1.2.2 Thực trạng việc dạy học thơ hai-cư ở trường THPT 35
1.2.3 Hứng thú nhận thức thơ hai-cư của học sinh và khả năng dạy học thơ hai-cư của giáo viên ở trường THPT Chuyên - Tuyên Quang 36
Chương 2: ĐỊNH HƯỚNG HỌC SINH ĐỌC HIỂU THƠ HAI-CƯ TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO BẰNG PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM 49
2.1 Dạy học tác phẩm văn chương là quá trình định hướng cho HS cách thức đọc hiểu tác phẩm 49
2.1.1 Khái quát về vấn đề đọc hiểu 49
2.1.2 Hoạt động đọc hiểu văn chương là một quá trình nhận thức chủ động, tích cực và sáng tạo để chiếm lĩnh giá trị nhân sinh và giá trị nghệ thuật của tác phẩm 51
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.1.3 Phương pháp đọc hiểu tác phẩm văn chương 52
2.2 Định hướng học sinh cách thức đọc hiểu tác phẩm văn học nước ngoài 56
2.2.1 Đọc hiểu văn bản VHNN qua bản dịch (dịch nghĩa, dịch thơ) nhưng phải đảm bảo tinh thần, giá trị nguyên tác 56
2.2.2 Đọc hiểu văn bản VHNN đảm bảo đặc trưng văn hóa, hướng tới tính dân tộc và tính nhân loại 57
2.2.3 Đọc hiểu VHNN theo đúng đặc trưng thể loại 57
2.2.4 Đọc hiểu tác phẩm VHNN theo tinh thần tích hợp 58
2.3 Định hướng học sinh đọc hiểu thơ Hai-cư theo phương pháp hoạt động nhóm 60
2.3.1 Khái quát về phương pháp hoạt động nhóm 60
2.3.2 Định hướng đọc hiểu thơ hai-cư theo phương pháp hoạt động nhóm 66
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72
3.1 Mục đích thực nghiệm 72
3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 73
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 73
3.2.2 Thời gian thực nghiệm 73
3.2.3 Địa bàn thực nghiệm 73
3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 73
3.4 Dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 89
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 90
3.5.1 Lập bảng so sánh đối chiếu kết quả dạy thực nghiệm theo đề tài và dạy đối chứng 90
3.5.2 Thu thập kết quả kiểm tra đánh giá học sinh sau khi dạy thực nghiệm 91
3.5.3 Đánh giá những ưu điểm và tồn tại sau khi thực nghiệm đề tài 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thơ hai-cư của Nhật Bản là một phần tài sản trong kho tàng văn hóa Á Đông vĩ đại và giàu sang Ra đời từ khoảng thế kỉ XIII, đến thế kỷ XVII thì nó phát triển rực rỡ, lên đến đỉnh cao trở thành một nghệ thuật quan trọng của Nhật Cho đến tận bây giờ, thơ hai-cư vẫn không hề lạc hậu mà còn được xem
là một nghệ thuật rất hiện đại, là thứ thơ cổ điển có ảnh hưởng đáng kể đối với
thơ ca hiện đại thế giới
Thơ hai-cư dung hợp và kết tinh nhiều giá trị trong những dòng văn hóa thấm sâu của phương Đông từ Ấn đến Nhật Vì vậy ta thấy trong thể thơ có dạng nhỏ nhắn ít lời này tinh thần Phật giáo, hơi thở Thiền mà ta vẫn bắt gặp trong thơ văn Lý Trần của ta Ngoài ra, hai-cư còn phảng phất hương sắc của nghệ thuật cắm hoa ikebana và không khí trà đạo chanoyu phát triển từ thế kỷ XIV với tinh thần căn bản là chân phương, hòa điệu và thanh tịnh Hai-cư chừng như cũng giấu trong nó vẻ u huyền của kịch mặt nạ Nô
Hai-cư là thể thơ Thiền độc đáo, giàu tính trí tuệ và tinh thần nhân văn
Vì lẽ đó, thể thơ này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và trở nên gần gũi với bạn đọc khắp nơi trên thế giới Ở Việt Nam, thơ hai-cư đã được đưa vào chương trình học lớp 10 THPT nhằm giúp học sinh có cái nhìn phong phú hơn về văn học Nhật nói riêng và văn học thế giới nói chung Trong bộ sách giáo khoa lớp
10 chương trình cơ bản, học sinh được đọc thêm sáu bài thơ hai-cư của nhà thơ Ma-su-ô Ba-sô Còn trong bộ sách giáo khoa lớp 10 chương trình Nâng cao, học sinh được đọc hiểu 6 bài thơ hai-cư của hai tác giả tiêu biểu là Ma-su-ô Ba-sô và Yô-sa Bu-son Đối với học sinh, đây là một thể thơ mới, lạ, không dễ cảm nhận Mỗi bài thơ là một tình huống, một khung cảnh, một tâm trạng mà nếu ta không
có những kiến thức cơ bản về thể thơ, về hoàn cảnh ra đời và điển tích làm nền cho bài thơ ấy ta không thể cảm nhận hết được cái hay, cái đẹp, sự vi diệu của tác phẩm Hơn nữa, thời lượng dành cho việc đọc hiểu mảng thơ này không
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhiều Ở chương trình nâng cao, chỉ trong hai tiết học, giáo viên phải định hướng làm sao để học sinh hiểu được giá trị của sáu bài thơ hai-cư nói riêng và từ đó cảm nhận được vẻ đẹp của thơ hai-cư nói chung Đó quả là một việc làm khó khăn Nếu giáo viên chỉ sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là giảng cho học sinh hiểu từng bài thì trước hết, giáo viên sẽ gặp khó khăn trong việc phân
bố thời gian để cung cấp kiến thức cho học sinh Không những thế, phương pháp dạy như vậy cũng khó có thể giúp học sinh phát huy khả năng tìm tòi mở mang kiến thức và phát huy tính chủ động của bản thân trong việc chiếm lĩnh kiến thức bài học Lựa chọn một phương pháp phù hợp để giúp học sinh tích cực tự học, chủ động chiếm lĩnh kiến thức bài học không phải là điều dễ dàng
Với những lí do như trên, tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề nghiên cứu: "Vận
dụng phương pháp hoạt động nhóm để dạy học thơ hai-cư trong chương trình Ngữ Văn 10 Nâng cao ở THPT"
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu thơ hai-cư ở Việt Nam
Nền văn học Nhật Bản nói chung, thơ hai-cư nói riêng từ lâu đã được nhiều dịch giả, giới nghiên cứu và bạn đọc trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam Do nhu cầu tìm hiểu tinh hoa của nền văn học Nhật Bản đã phát sinh
từ nhà trường và xã hội mà nó được đón nhận một cách nồng nhiệt
Thơ hai-cư đến với người Việt bước đầu là từ dịch thơ rồi đi đến khám phá nguyên lý thơ và sau cùng là sáng tác thơ theo thể hai-cư bằng tiếng Việt Các nhà nghiên cứu đã nỗ lực không ngừng để đưa thơ hai-cư đến gần chúng ta hơn như các cuốn sách, giáo trình, chuyên luận, chuyên khảo của một số nhà nghiên cứu, dịch giả tiêu biểu như: Phan Nhật Chiêu, Lê Thiện Dũng, Đoàn Lê Giang, Lưu Đức Trung Nhật Chiêu là người có đóng góp to lớn trong việc chuyển tải tâm hồn Nhật đến người Việt với nhiều công trình nghiên cứu về văn
học văn hoá Nhật Bản như: Thơ ca Nhật Bản [7], Văn học Nhật Bản từ khởi
thuỷ đến 1868 [8], Ba nghìn thế giới thơm [9], Nhật Bản trong chiếc gương
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
soi [10]…Ngoài ra còn một số nhà nghiên cứu khác như: Lê Từ Hiển và Lưu
Đức Trung với tác phẩm: Hai-cư - Hoa thời gian [17]
Hai công trình đáng chú ý mang tính chuyên sâu về thơ hai-cư là hai
cuốn sách Ba nghìn thế giới thơm [9] , Hai-cư - hoa thời gian [17] Cuốn sách Ba nghìn thế giới thơm của Nhật Chiêu đã tập hợp gần như đầy đủ các
bài báo, tạp chí mà ông đã từng viết và đăng tải liên quan đến thơ hai-cư và thơ
Nhật Bản Còn cuốn Hai-cư - Hoa thời gian của Lê Từ Hiển và Lưu Đức
Trung thì cung cấp một số kiến thức cơ bản về thơ hai-cư (nguồn gốc, cảm thức thẩm mỹ, cấu trúc, thiên nhiên…) và một vài định hướng tiếp cận mang tính gợi ý (tích hợp - so sánh về mặt thể loại, tri thức cửa sổ văn hóa) cho việc tiếp cận thể loại thơ này trong chương trình THPT Cuốn sách được chia làm ba phần với những nội dung chính: Vài định hướng tiếp cận thơ hai-cư trong chương trình THPT; Hương sắc hai-cư - những nẻo đường góp nhặt và Dạo bước vườn thơ Có thể nói, hai cuốn sách là những tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai yêu và muốn tìm hiểu về thể thơ độc đáo này
Và gần đây vào tháng 11 năm 2013, chúng ta còn thấy có bài viết Thơ
hai-cư, một sáng tạo nhỏ nhắn mang tầm vóc lớn lao của GS.TS Nguyễn
Thanh Hùng đăng trên Tạp chí Thơ của Hội nhà văn Việt Nam Bài viết đã đi
sâu nghiên cứu nguồn gốc ra đời và những đặc sắc của thơ hai-cư trong mối liên hệ chặt chẽ với văn hóa Thiền Nhật Bản Bài viết còn tập trung nghiên cứu chiều sâu triết học của thơ hai-cư tương dung với tư tưởng và tư duy nhân loại Đồng thời, tác giả cũng đặt vấn đề về cách đọc hiểu thơ hai-cư hiệu quả Đó thực sự là một nghiên cứu mới mẻ và toàn diện về lí thuyết thơ hai-cư
Ngoài ra, còn có những bài báo đăng trên các tạp chí trong nước cũng
nghiên cứu về thơ hai-cư trên nhiều khía cạnh như: “Phác thảo những nét tương đồng và dị biệt của ba thể thơ: Tuyệt cú, hai-cư và lục bát” trong cuốn
Văn học so sánh, nghiên cứu và triển vọng [24], Nguyễn Thị Thanh Chung
với So sánh chất Thiền trong thơ hai-cư Nhật Bản và thơ mang màu sắc
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thiền tông ở Việt Nam [11]; Hà Văn Lưỡng với Sự biểu hiện của cái “tĩnh”
và “động” trong thơ Trần Nhân Tông và thơ Hai-cư của M.Ba-sô [21],
Nguyễn Thị Thanh Xuân với Hai-cư - Lục bát, một vài ghi nhận [34] Nhìn
chung, các bài báo đều thông qua so sánh đối chiếu một số thể thơ để hướng đến những khám phá mới trong quá trình tìm hiểu mối liên quan và ảnh hưởng
của các nền văn học dân tộc trên thế giới trên nhiều bình diện Đó là các bình
diện: thi pháp lịch sử, hệ thống chủ đề - đề tài, ngôn ngữ, hệ thống hình tượng trung tâm, hệ thống quan niệm văn học, hệ thống thể loại, dịch thuật…; Và cũng qua đó để đi đến khẳng định những khám phá mới về thể thơ hai-cư, đặc biệt là về phương diện nghệ thuật như: tính ngắn gọn, kiệm lời, kết cấu bỏ lửng
tạo khoảng trống Trong bài Cấu trúc nghệ thuật thơ hai-cư [18], tác giả
Nguyễn Tuấn Khanh cũng trình bày khái quát về nguồn gốc, đặc điểm thể loại
và nhận xét về cấu trúc thơ hai-cư như sau: “Vì thơ hai-cư ngắn hơn tất cả các thể thơ khác nên nó phải tập trung tất cả năng lực của mình vào việc gợi cảm
có khi còn hơn các thể loại khác rất nhiều Hai-cư rất giống loại tranh thủy mặc mà người Nhật ưa chuộng” [tr62] Ngoài ra, hàng loạt các bài viết như:
Tìm hiểu thơ hai-cư Nhật Bản [5], Cảm nhận về thơ hai-cư [29], Thế giới trong thơ hai-cư [22], Một số đặc điểm của thơ hai-cư Nhận Bản [20], cũng
đã góp phần cung cấp thêm cho người đọc nhiều tri thức về thơ hai-cư
Cũng không thể không kể đến những đóng góp của một số nhà nghiên cứu
đã dịch các tác phẩm, các công trình, cuốn sách về thơ hai-cư của các tác giả nước ngoài, giúp độc giả có thêm nhiều tài liệu quý để nghiên cứu tham khảo, bổ sung hiểu biết về thể thơ độc đáo này Phan Nhật Chiêu và Lưu Đức Trung là hai
tác giả có công đầu trong việc dịch những tác phẩm thơ hai-cư như: Ba-sô và thơ
hai-cư [6] bản dịch Hài cú nhập môn [36] ,
Nhìn nhận một cách khách quan, có thể thấy lịch sử nghiên cứu thơ
hai-cư ở Việt Nam đang dừng lại ở một mức độ khiêm tốn với lượng sách ít ỏi
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Những công trình nghiên cứu, viết sách, viết báo và dịch thuật của các tác giả
kể trên đã cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện về thơ hai-cư trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Nhưng cũng cho thấy những công trình nghiên cứu về việc phương pháp dạy học thơ hai-cư như thế nào trong nhà trường phổ thông quả thực còn rất thiếu Điều này gây khó khăn rất lớn cho giáo viên THPT vì thiếu những định hướng tiếp nhận và phương pháp dạy học hiệu quả cho một nội dung vừa mới vừa khó như thơ hai-cư
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề giảng dạy thơ hai-cư ở Việt Nam
Thơ hai-cư là một trong những thể loại văn học độc đáo của Nhật Bản, là
“tâm hồn Nhật Bản” bởi nó thể hiện tính xuyên suốt truyền thống trong văn hóa Nhật Từ những năm 50 của thế kỉ XX, thể thơ này đã vượt ra ngoài biên giới Nhật Bản và hiện nay đã trở thành một thể thơ quốc tế Nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa thơ hai-cư vào chương trình giảng dạy trong nhà trường (kể cả Mĩ
và các nước Hồi giáo) Bởi thế, việc dạy và học thơ hai-cư hiện nay đang rất được quan tâm
Ở nước ta, dù nằm trong cùng vùng văn hóa với Nhật (văn hóa phương Đông), nhưng do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, việc giao lưu văn hóa với Nhật (nhất là về văn học) vẫn còn rất hạn chế Phải đến những năm gần đây, trong xu thế hội nhập, mối quan hệ giao lưu này mới thật
sự được chú ý Theo đó, thơ hai-cư của Nhật mới bắt đầu được chúng ta biết đến và trong lần thay sách giáo khoa gần đây nhất (năm 2006) đã được chính thức đưa vào chương trình ở cấp Trung học phổ thông Tuy nhiên, thơ hai-cư chỉ chiếm một tỉ lệ rất khiêm nhường (hai tiết cho SGK Ngữ Văn 10 chương trình nâng cao với sáu bài thơ của hai tác giả Ba-sô và Bu-son; một tiết cho SGK Ngữ văn 10 chương trình cơ bản Và đến năm 2011, theo chương trình giảm tải kiến thức của Bộ GD&ĐT, tiết học chính khóa về thơ hai-cư ở chương trình cơ bản chuyển thành tiết đọc thêm) bởi nó thuộc phần những nội dung mới và khó, không chỉ đối với học sinh mà ngay cả đối với giáo viên Chính vì
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thế, đòi hỏi một sự nỗ lực, đầu tư khá lớn của giáo viên trong việc tìm kiếm những tài liệu định hướng về cách tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, bình giá thơ hai-cư đồng thời định hướng về cách dạy học đọc hiểu phần thơ hai-cư này
Hai-cư - Hoa thời gian [17], cuốn sách của Lê Từ Hiển (Giảng viên
Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Quy Nhơn) và PGS Lưu Đức Trung (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh) là một tài liệu cần thiết đối với cả GV và HS Mục tiêu đầu tiên của cuốn sách là cung cấp một số kiến thức
cơ bản về thơ hai-cư (nguồn gốc, cảm thức thẩm mỹ, cấu trúc, thiên nhiên…)
và một vài định hướng tiếp cận mang tính gợi ý (tích hợp - so sánh về mặt thể loại, tri thức cửa sổ văn hóa) cho việc tiếp cận thể loại thơ này trong chương trình trung học phổ thông Bản thân mục tiêu này là đáng quý, bởi có một thực
tế cho thấy tuy thơ hai-cư đã được đưa vào chương trình ngữ văn THPT và nằm trong phần “những nội dung mới và khó trong sách Ngữ văn 10” nhưng số đầu sách tham khảo mang tính quy phạm về thể loại thơ này, cho cả giáo viên, sinh viên sư phạm và học sinh rất ít Lâu nay, những cuốn sách viết về thơ hai-cư như
Nhật Bản trong chiếc gương soi [10], Tìm hiểu thơ hai-cư Nhật Bản [5], Cảm nhận về thơ hai-cư [29] vẫn dừng ở mức độ giới thiệu hoặc thiên về cảm nhận
thơ hai-cư trong dòng chảy chung văn học Nhật Bản Bên cạnh đó, cũng có những tác phẩm thơ hai-cư đã được dịch, nhưng mức độ phổ biến hạn chế
Trên báo “Văn học và tuổi trẻ” (Số tháng 4/2009), tác giả Lưu Đức Trung tiếp tục đưa ra một số định hướng tiếp cận thơ hai-cư trong chương trình Ngữ Văn THPT theo bốn bước: Tích hợp văn hóa, tiếp cận văn bản, so sánh đối chiếu, vận dụng - thực hành
Một số ít luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học Văn cũng đã chọn thơ hai-cư làm đề tài nghiên cứu như:
Định hướng dạy học thơ hai-cư ở lớp 10 THPT từ góc nhìn văn hóa [1], Dạy học thơ hai-cư trong quan hệ so sánh với thơ Thiền Việt Nam [32], Dạy học thơ hai-cư theo thể loại ở trường THPT [2] Trong đó, các tác giả đều khẳng
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
định thơ hai-cư là một thể thơ độc đáo, thấm đẫm tinh thần Thiền tông và tinh thần văn hóa phương Đông nhưng cũng là thể thơ rất khó đối với khả năng nhận thức của học sinh THPT vì nhiều nguyên nhân Bởi thế, mỗi tác giả đã đưa ra những định hướng riêng về dạy học thơ hai-cư cho học sinh: từ góc nhìn văn hóa, trong quan hệ với thơ Thiền Việt Nam, từ góc độ đặc trưng thể loại
Ta còn có thể kể đến cuốn Ba-sô và thơ hai-cư của nhà nghiên cứu Nhật
Chiêu Cuốn sách đã gợi ý phương hướng cảm thụ thơ hai-cư: “Muốn cảm thụ được một bài thơ hai-cư, muốn biết được cái hay, cái đẹp khác thường của nó, cần tới một nỗ lực cảm thụ bằng trí tưởng tượng phong phú và phóng khoáng, bằng sự suy tưởng gắn liền với việc khai thác các hình ảnh thị giác, thính giác, kết hợp với sự hiểu biết về văn hóa Nhật Bản”[6]
Có nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những ý kiến của mình về giảng
dạy thơ hai-cư Tác giả Hoàng Hữu Bội trong cuốn Thiết kế dạy học Ngữ văn
10 [4] đã đề cập đến phương pháp giảng dạy các bài thơ hai-cư trong chương
trình theo đặc trưng thể loại của nó, có kết hợp với các phương pháp giảng dạy truyền thống (diễn giảng, giảng bình) với các phương pháp dạy học hiện đại (đọc sáng tạo, tái hiện, gợi tìm)
Điểm qua các công trình, tài liệu nghiên cứu về thơ hai-cư, ta thấy các tác giả trên khi định hướng tìm hiểu về thơ hai-cư trên đây chủ yếu thiên về góc độ
đi từ đặc trưng thể loại thơ hai-cư hay cách cảm cách hiểu thơ hai-cư trên cơ sở
so sánh với những thể thơ khác mà chưa có nhiều công trình đề cập đến vấn đề lựa chọn phương pháp tối ưu để dạy một số lượng khá nhiều bài thơ hai-cư trong một thời lượng giới hạn trên lớp (4 bài thơ hai-cư của Ba-sô ở SGK Văn 10 cơ bản học trong một tiết Đọc thêm theo chương trình giảm tải của Bộ GD&ĐT và
3 bài thơ hai-cư của Ba-sô, 3 bài thơ hai-cư của Bu-son ở SGK Ngữ văn 10 nâng cao trong 2 tiết) Bởi thế, trên cương vị là một giáo viên THPT, chúng tôi muốn giúp học sinh có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về một thể thơ độc đáo nhất thế giới, từ đó hiểu thêm về văn hóa Nhật Bản và văn hóa phương Đông qua việc góp thêm một cách dạy thơ hai-cư phù hợp với nội dung và thời lượng chương
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trình Đó là định hướng học sinh đọc hiểu các bài thơ hai-cư trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 Nâng cao bằng phương pháp hoạt động nhóm
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài này, chúng tôi hướng tới mục đích tìm ra một phương pháp dạy học hiệu quả giúp các em hiểu các bài thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 10 (chương trình nâng cao) Không những thế, chúng tôi còn hi vọng giúp các em hình thành năng lực tự tìm hiểu để có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về một thể thơ độc đáo nhất thế giới, từ đó hiểu thêm về văn hóa Nhật
Bản và văn hóa phương Đông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề thuộc về lí thuyết liên quan đến thơ hai-cư và việc dạy học đọc hiểu thơ hai-cư ở nhà trường phổ thông
Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học đọc hiểu thơ hai-cư ở nhà trường phổ thông hiện nay
Đề xuất cách tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, bình giá thơ hai-cư trong chương trình, kết hợp với việc vận dụng phù hợp phương pháp hoạt động nhóm
để giờ học có hiệu quả hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ hai-cư hiệu quả trên cơ sở vận dụng phương pháp hoạt động nhóm trong quá trình dạy học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tổng hợp khái quát cơ sở lí luận về thi pháp thơ hai-cư qua các tài liệu tham khảo và khảo sát vấn đề dạy học phần thơ hai-cư trong SGK Ngữ văn lớp 10 chương trình nâng cao
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng phương pháp này để tập hợp - khảo sát tư liệu để tổng hợp lí luận nhằm đưa ra những cơ sở lí luận về thơ hai-cư, đặc trưng của thơ hai-cư;
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
những phương pháp biện pháp dạy học tích cực hiện nay để tìm ra phương pháp dạy học đạt hiệu quả tối ưu cho các văn bản thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình nâng cao
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát
Sử dụng để khảo sát chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 10 về phần thơ hai-cư; thực trạng việc dạy học thơ hai-cư ở trường phổ thông hiện nay Từ
đó, đưa ra những đề xuất dạy học phần thơ hai-cư hiệu quả
5.2.2 Phương pháp thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp này để thống kê và xử lí số liệu thu thập được trong quá trình khảo sát, điều tra
5.2.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Sử dụng phương pháp này trong dạy học đọc hiểu thơ hai-cư nói chung
và từng bài thơ hai-cư nói riêng trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 nâng cao
Tổ chức dạy thực nghiệm và dạy đối chứng các phương pháp khác nhau
Từ đó so sánh đối chiếu để rút ra kết luận: phương pháp dạy học đã lựa chọn để dạy thơ hai-cư có thể đem lại hiệu quả cao hơn so với việc sử dụng những phương pháp khác Đồng thời xem xét phương pháp dạy học đó có giúp nâng cao khả năng tư duy, giao tiếp và năng động, sáng tạo hơn hay không
5.2.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Thông qua hệ thống bài kiểm tra, bài tập nhóm, cùng với những số liệu thống kê, chúng tôi tiến hành phân tích những mặt tích cực và tồn tại của giờ học để đánh giá phương pháp dạy của giáo viên, hoạt động học tập của học sinh; những kết quả đạt được, những khó khăn hạn chế khi sử dụng phương pháp hoạt động nhóm để tìm hiểu thơ hai-cư và giải pháp nâng cao chất lượng dạy học
6 Đóng góp mới của luận văn
- Khảo sát và nhận định thực trạng dạy học thơ hai-cư ở trường THPT
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Nêu bật những đặc điểm chủ yếu của thi pháp thơ hai-cư gắn bó với văn hóa Thiền và cảm thức mĩ học Thiền
- Đưa ra phương án hoạt động nhóm trong dạy học đọc hiểu thơ hai-cư
cụ thể, thích hợp
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung luận văn gồm ba chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Định hướng học sinh đọc hiểu thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình nâng cao bằng phương pháp hoạt động nhóm
Chương 3: Thực nghiệm
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái quát về thơ hai-cư
1.1.1.1 Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển thơ hai-cư
Thơ hai-cư bắt đầu hình thành vào thế kỉ XIII và chủ yếu bắt nguồn từ
thể thơ liên ca (renga) gồm 31 âm tiết (onji): 5 - 7 - 5 - 7 - 7, mỗi đoạn có hai
vế, vế đầu có 17 âm tiết (5 - 7 - 5), gồm 3 câu do một người khởi xướng, vế sau hai câu, 14 âm tiết (7 - 7), do người khác họa theo, những người sau đó lại nối tiếp, cứ thế mà kéo dài đến hàng chục hàng trăm câu Liên ca trở thành một thể thơ xướng họa, trước hết trong cung đình của vương gia quý tộc Nội dung thơ ban đầu thường mang tính giải trí mua vui, trào lộng, dung tục tầm thường Đến thời Edo (1603-1867) thơ hai-cư phát triển mạnh Người đầu tiên thổi vào thể thơ hai-cư luồng sinh khí thiên tài, sáng tạo cho nó một vẻ đẹp vinh quang là một thiền sư có dòng máu võ sĩ Samurai: Ma-su-ô Ba-sô (1644 - 1694) Ma-su-
ô Ba-sô đã rút vế đầu 17 âm tiết xây dựng thành một bài thơ độc lập, mang đậm chất suy tư, trữ tình Lúc đầu, Ba-sô gọi đó là hokku hay haikai, về sau ghép lại thành haiku (hai-cư) Mỗi bài thơ cực ngắn ấy đòi hỏi ý phải hàm súc cô đọng, câu chữ đa nghĩa, chứa nhiều ẩn ý bên trong
Như vậy, trong khoảng bốn trăm năm kể từ khi hình thành cho đến khi phát triển đến đỉnh cao, ta nhận thấy có những thay đổi, biến chuyển lớn của thể loại thơ hai-cư Từ bài thơ liên ca kéo dài hàng trăm câu đã có sự rút ngắn đáng kể chỉ còn là 3 dòng thơ với 17 âm tiết Từ nội dung giải trí mua vui, dung tục tầm thường của một thể thơ dân dã trở thành một thể thơ trữ tình đậm chất triết lí và tinh thần tôn giáo Từ hai đến một, từ động đến tĩnh, từ dân dã đến những niệm suy thế sự, đó là sự phát triển đến mức cực kì sâu sắc, thâm diệu của thơ hai-cư Vậy nên muốn cảm thụ sâu sắc thơ hai-cư buộc người đọc phải
“mở mắt mà nhìn, lắng tai mà nghe, trải lòng mà nhận biết”[25]
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tóm lại, thơ hai-cư có một quá trình ra đời và phát triển mạnh mẽ, lâu dài Bắt đầu được định hình với tư cách là một thể thơ độc lập tách khỏi bài liên
ca (renga) từ thế kỉ XVI, được hoàn thiện bởi Ma-su-ô Ba-sô vào thế kỉ XVII Sau Ba-sô còn có rất nhiều nhà thơ chọn hai-cư làm “con đường” đến với thế giới diệu kì của văn chương nghệ thuật, bước vào “đạo” với những triết lí sống sâu sắc gọi là “hài cú đạo” (“Haikudo” hay “Haiku no michi”) Tiêu biểu phải
kể đến các nhà thơ Bu-son (1716-1784) -Thi sĩ của mùa xuân; Issa (1762-1826)
- Nhà thơ của nhân tình; Shiki (1867-1902) - “Kẻ đại ngu” Họ đã góp phần làm phong phú và rạng rỡ thêm diện mạo của nền văn học Nhật Bản nói riêng
và nền văn học của cả nhân loại nói chung
Thơ hai-cư đã trải qua chặng đường sáu thế kỉ vận động, phát triển và đạt tới đỉnh cao Và từ Nhật Bản, thơ hai-cư lan ra thế giới thành một thể thơ được
quốc tế đón nhận Từ những năm đầu thế kỉ XIX, thơ hai-cư đã có mặt ở phương
Tây Người ta dịch thơ cư rồi nghiên cứu, khám phá những gì linh hồn thơ
hai-cư chất chứa Thơ ca phương Tây trong những tìm kiếm và thể nghiệm sự sáng tạo
đã nhiều lần đi theo phong thái hai-cư Giới yêu thơ đã sáng tác thơ hai-cư bằng tiếng dân tộc mình Và nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã khẳng định: “Nói một cách chừng mực hơn, thơ hai-cư mà Ba-sô đã hoàn thiện bằng thiên tài của mình, trở nên thể thơ quốc tế trong thế kỉ XX Bên ngoài Nhật Bản, hai-cư chẳng những được nghiên cứu rộng rãi mà còn được các nhà thơ ở nhiều xứ khác nhau sáng tác bằng tiếng mẻ đẻ của mình, trong đó có cả Paul Eluard của Pháp, Octavio Paz của Tây Ban Nha và George Sefris của Hi Lạp” [8, tr 274] Sở dĩ nó trở thành một thể thơ
quốc tế là bởi vẻ đẹp độc đáo riêng hấp dẫn người ta khám phá để biết, để hiểu, để đồng sáng tạo
Ở Việt Nam, thơ hai-cư được biết đến khá muộn màng Từ khoảng những năm 1945 đến những năm 1975, có một số nhà thơ lớn Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên bắt đầu tiếp cận thơ hai-cư Sau năm 1975, Nhật Chiêu là người có nhiều công trình nghiên cứu về thơ hai-cư nhất Tiếp đó phải kể đến PGS
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Lưu Đức Trung, một trong số ít chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam về văn học phương Đông Không chỉ miệt mài nghiên cứu về thể thơ Nhật Bản cực kì độc đáo này, PGS Lưu Đức Trung còn là một trong những người khởi xướng và thành lập câu lạc bộ sáng tác thơ hai-cư Việt
Cho đến nay, thơ hai-cư đã lan truyền đến khoảng hơn 50 nước với khoảng hơn 30 ngôn ngữ khác nhau Xóa bỏ mọi khoảng cách, vượt qua rào cản của ngôn ngữ, thơ hai-cư trở thành loại hình văn học nghệ thuật đại chúng hiếm có trên thế giới
1.1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của thơ hai-cư
Về đời sống văn hóa, người Nhật rất yêu thích thiên nhiên và luôn hướng
về vẻ đẹp của thiên nhiên bởi họ quan niệm thiên nhiên - vũ trụ sinh tạo sự sống Và sống hài hòa, quyến luyến với thiên nhiên là một tiêu chuẩn của cái đẹp Thiên nhiên cho họ bản thể sống và phương tiện sống trong sạch, vô tư nơi trần lụy Đó là sự gắn kết sinh tồn và sáng tạo của con người (nhân thế) với bà
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 14 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mẹ “thiên nhiên” Nhà nghiên cứu người Mĩ P.I.Smeeth trong cuốn “Thiên
nhiên Nhật” đã nhận xét: “Bất cứ người nông dân Nhật Bản bình thường nào cũng là một nhà mĩ học, một nghệ sĩ biết cảm thụ cái đẹp từ trong thiên nhiên”
Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã từng nói rằng: “Có một thể thơ mà khi để
nó lướt qua tâm hồn ta, ta có cảm giác như đang chạm vào thiên nhiên, chạm vào từng mùa…Hai-cư? Đọc hai-cư là chạm vào hơi thở của mùa Là chạm vào hoa đào, đom đóm, lá phong, tuyết trắng,…” Thật vậy, thơ hai-cư là tiếng
hát của bốn mùa, là những rung động xao xuyến của các thi sĩ trước thiên nhiên nên thơ và trữ tình Bài thơ nào cũng có tín hiệu về mùa (được thể hiện qua từ chỉ mùa (còn gọi là quý ngữ) và thời tiết hay những hiện tượng thiên nhiên xã hội liên quan đến mùa Những tín hiệu về mùa vô cùng phong phú trong thế giới hai-cư Từ ấy gọi là từ mùa: Kigo
Trong tâm thức văn hóa Nhật, hoa là sự kết tinh của không gian và thời gian thành vẻ đẹp, là sự bùng nổ của sự sống Và hoa anh đào là biểu tượng của
vẻ đẹp tâm hồn Nhật, là hoa của các loài hoa và cũng là biểu tượng đẹp của mùa xuân, mùa phơi phới hi vọng và ngập tràn sức sống Bởi thế, trong thơ hai-
cư, ta bắt gặp vẻ đẹp tuyệt diệu của mùa xuân được dệt bởi những cánh hoa mỏng manh mà chứa chan sức sống mãnh liệt:
Từ bốn phương trời xa cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Bi-oa
(Ba-sô) Yô-sa Bu-son - thi sĩ của mùa xuân- cũng có bài thơ tuyệt diệu:
Đồng cải nở hoa vàng phương tây mặt trời lặn phương đông vầng trăng lên
Trên cánh đồng vàng rực mùa xuân của con người lao động, ở hai phương trời của thiên thể đẹp đẽ diễn ra sự vận động vô thường theo quy luật của tạo hóa Song tất cả vẫn là mùa xuân phong nhiêu, là tháng ngày bắt đầu
vòng quay mới
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 15 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Vạn vật tràn ngập sức sống trong những ngày đẹp trời của mùa xuân đi vào thơ Sô-đô:
Trong túp lều xuân Chẳng có gì thật Chỉ có vạn vật
Mùa hạ về với mẫu đơn, diên vĩ, hoa kì, hoa sen với tiếng chim cu hát vang giữa trưa hè oi ả Nhiều bài thơ hai-cư miêu tả cảnh sắc mùa hè bằng tiếng cu gáy:
Ôi chim cu Bay lượn và ca hát Bận rộn xiết bao
(Bashô)
hoặc tiếng ve ngâm
Vắng lặng u trầm thấm sâu vào đá tiếng ve ngâm
(Bashô)
hay mùa hè đang reo trên muôn ngàn nhánh cây, với núi non xanh thẫm sáng rực trong nắng vàng như đang gọi về biết bao kí ức vui buồn chất chứa của những ngày tháng cũ theo bước chân người lữ khách:
Vàng phai cùng với ngàn xanh
nghe ngày tháng cũ theo quanh nẻo về
Mùa thu với gió thu vô hình, trăng thu xa nhạt, sương thu mỏng manh thấp thoáng và tiếng côn trùng nhỏ xa vang vọng trong đêm sương lạnh lẽo nơi vườn hoang:
Gió lộng vườn hoang trăng mỏng như sợi chỉ côn trùng kêu vang
(Ba-sô)
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 16 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tất cả đều gợi ấn tượng về sự mỏng manh, thoảng qua và gợi sự tàn tạ, thê lương khiến trong tâm hồn con người cũng thấm đẫm những bi cảm, hoài niệm
đá trên núi đá gió thu (Ba-sô)
Bài thơ độc đáo ở chỗ đề cập đến gió là một đối tượng vô hình vô ảnh, vậy mà nhà thơ vẫn cảm nhận được sắc màu của nó Có phải chăng sắc màu ấy được dệt nên bởi cuộc sống và bằng chính bởi sự cảm nhận phong phú, đầy sinh động về cuộc sống, về thiên nhiên
Đồng hành với mùa đông là không gian ngập trong tuyết phủ và lạnh giá, cây cối trơ trọi, khẳng khiu:
Quét tuyết sương
mà quên sương tuyết cây chổi trong vườn
(Ba-sô) Nhà thơ Ba-sô còn mô tả cảnh mùa đông bằng những hình ảnh thật độc đáo:
Đến đây xem để thấy Một chiếc lá cô đơn Trên cành Kiri ấy
Trong một bức tranh đơn sơ, làm sao vẽ được tiếng gió thổi? Thế mà người họa sĩ tài giỏi phải làm được điều đó Họ chỉ vẽ có cành thôi nhưng ta
nghe được tiếng gió thổi (năng họa nhất chi phong hữu thanh) Và cũng từ đó,
người đọc cảm thấy hồi hộp và lo sợ cho chiếc lá cuối cùng ấy
Trong thơ hai-cư, thiên nhiên luôn đi đôi với con người và con người ước mơ được sống giao hòa với thiên nhiên vạn vật:
Dậy đi thôi cùng ta kết bạn cánh bướm ngủ say ơi
(Ba-sô)
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 17 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thiên nhiên được dùng để phản ánh cuộc sống của con người, để bộc bạch mọi cung bậc tâm trạng, cảm xúc Đó có thể là nỗi nhớ quê hương da diết của thi nhân trên bước đường phiêu lãng được gợi ra bởi âm thanh tiếng hót của chim đỗ quyên:
Chim đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô
Chim đỗ quyên (chim di cư theo mùa hay còn gọi là chim thời gian) vốn
là loài chim đặc trưng trong văn hóa Nhật Bản Âm thanh của tiếng chim đỗ quyên hót đã gợi tả sự tĩnh lặng của không gian Bài thơ được viết khi tác giả trở lại Ki-ô-tô sau nhiều năm phiêu bạt Đây là cuộc gặp gỡ của những cố nhân Một cuộc gặp gỡ đầy tâm trạng Không viết nhiều, chỉ một âm thanh gợi một nỗi nhớ nhưng gợi mở bao nhiêu ý nghĩa Đứng giữa kinh đô mà nhớ kinh đô Đây là kinh đô ở hai thời điểm khác nhau Một kinh đô đồng hiện : kinh đô của quá khứ và kinh đô của hiện tại Nỗi nhớ ở đây là “niềm tiếc nuối” của nhà thơ Gặp lại kinh đô hoang tàn của hiện tại, nhớ kinh đô xưa tươi đẹp đang hiện hữu trong tâm tưởng nhà thơ được gợi ra qua âm thanh tiếng chim đỗ quyên văng vẳng Cũng có thể hiểu rằng, bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với đất nước mà hiện thân của đất nước là kinh đô Tình cảm tha thiết ấy trào dâng trong lòng khi con người ngược thời gian trở về với miền mong nhớ Nhưng hơn nữa, nó còn gửi đến người đọc một triết lí sâu sắc được rút ra từ những nếm trải sâu sắc của nhà thơ về miền đất từng sống: Đất mới đầu có thể chỉ là không gian cư trú, nhờ quá trình sống dài lâu mà biến thành không gian nghĩa tình sâu nặng của con người, đến mức tự bao giờ nó đã hóa thành một mảnh tâm hồn ta với biết bao yêu thương gắn bó Và khi rời xa nơi ấy, chỉ cần bất cứ một âm thanh sự sống của hiện tại mà đã từng xuất hiện trong quá khứ cũng có thể khiến kí ức, hoài niệm về miền đất gắn bó vọng về mãnh liệt Bài thơ khiến ta liên tưởng đến hai câu thơ đậm chất triết lí của Chế Lan Viên:
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 18 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn
(Tiếng hát con tàu)
Đó là tiếng lòng tri âm đồng điệu của những con người từng có tình cảm gắn bó sâu nặng với những miền đất của quê hương đất nước
Nhịp sống của con người, vạn vật và tự nhiên hòa vào mùa xuân thể hiện đậm nét trong thơ hai-cư
Tuyết tan mùa thôn làng tràn ngập một bầy trẻ thơ
(Issa) Khi băng tuyết lạnh giá của mùa đông dần tan, trên mọi nẻo đường làng quê đón chờ mùa xuân ấm áp dần đến Nhịp sống tươi vui, nhộn nhịp bởi âm thanh tiếng cười đùa rộn rã của bầy trẻ thơ lại tràn ngập xóm thôn
Và hòa mình vào thiên nhiên, người lái đò chèo thuyền đi trong gió xuân lồng lộng với tư thế ung dung tự tại:
Người chèo thuyền ống điếu ngậm trong miệng gió mùa xuân lên
(Ba-sô) Cũng có khi trong thơ hai-cư là bức tranh cuộc sống của người nông dân phải làm việc vất vả trong thời tiết khắc nghiệt của mùa hè:
Tiếng rao người bán cá hòa trong tiếng chim cu vang vang mùa hạ
(Ba-sô) Tuy nhiên, bài thơ không nhấn mạnh vào công việc mưu sinh vất vả mà chú trọng gợi ra sự hòa đồng giữa thanh âm của vạn vật với âm thanh của cuộc
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 19 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sống con người Đó là tiếng rao của người bán cá hòa với tiếng chim cu tạo thành điệp khúc mùa hè Đó cũng chính là điệp khúc của cuộc sống lao động vất vả mà tự do, tự tại với niềm lạc quan, yêu đời mãnh liệt
Hoặc đó là tiếng than khóc đáng thương hòa lẫn tiếng vượn hú não nề của những đứa trẻ Maribu bị bỏ rơi trong rừng vì cha mẹ quá nghèo không nuôi nổi Hình ảnh làm tái tê lòng người và vạn vật:
Tiếng vượn hú não nề hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc?
gió mùa thu tái tê
(Ba-sô)
Và rất nhiều những gam màu khác của cuộc sống được thể hiện sinh động và sâu sắc trong thơ hai-cư
Tóm lại, những hình tượng thiên nhiên chứa đựng ý nghĩa sinh tồn cao
cả của sự sống Niềm tin tuyết đối vào sự thật của cảm quan thơ hai-cư với thiên nhiên đã tạo ra tính vẹn toàn của sáng tạo, là nét đẹp vượt trội trong thơ hai-cư
* Thơ hai-cư thấm đẫm tinh thần Thiền tông
Thiền tông là một tông phái của Phật giáo phát triển trên lãnh thổ Trung Hoa thế kỉ VI Đến thế kỉ XII, từ Trung Quốc, Thiền tông được du nhập vào Nhật Bản rồi hưng thịnh nhờ thái tử Shotoku và rất nhiều triều đại sau đó đã lấy Phật giáo làm tư tưởng chủ đạo để phát triển Trong giáo lí của đạo Phật có nhiều kiến giải tiến bộ, dạy con người ta cách sống nhân nghĩa, đồng đẳng và bác ái
Nói đến văn hóa Thiền là nhấn mạnh chất nguyên sinh làm nên sự sinh động trong cuộc sống hàng ngày, nó khác Thiền tông như một niềm tin tôn giáo Ở Nhật Bản, Thiền tông có ảnh hưởng to lớn đến các loại hình khác nhau của nghệ thuật Nhật Bản và đến toàn bộ nếp sống của người Nhật Thiền không chỉ góp phần hình thành nên trà đạo với thị hiếu nghệ thuật thẩm mĩ, đạo đức rất cao; không chỉ ảnh hưởng đến hội họa, kiến trúc, kiếm đạo, cung thuật…mà
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 20 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
còn tác động trực tiếp đến tâm lí và lối sống của người Nhật Đặc biệt trong văn học, mối “kì duyên” giữa Thiền và thi ca đã sinh ra cho phương Đông một nền thơ ca rực rỡ Trong đó, thể thơ Nhật Bản tập trung rõ nét nhất tinh thần Thiền tông chính là thể thơ hai-cư Biểu tượng văn hóa Thiền trong thơ hai-cư chính
là sự hái lượm hương hoa, chắt lọc tinh túy về lẽ sống của Thiền tông để chuyển hóa vào lối sống hồn nhiên vốn có
Người sáng tác thơ hai-cư tiếp thu từ Thiền tư tưởng “giản trạch” Giản trạch đòi hỏi nhà thơ nên tiếp thu sự thật cần phải đối chiếu với nguyên dạng của nó Nói cách khác, nhìn nhận hiện thực khách quan nên tiếp nhận hình tướng vốn có bằng sự trực quan cảm tính và sự thể nghiệm cá nhân
Hãy đến với bài thơ sau đây của Ba-sô:
Trong ao xưa con ếch nhảy vào tiếng nước khua
Có tài liệu cho rằng bài thơ này Ba-sô soạn ra trong khi theo Butchô học Thiền để trả lời cho thầy về tiến bộ tu tập của mình Ba-sô khi được thầy hỏi
về sự thật chân chính của sự vật có trước thế giới hiện tượng đã nhìn thấy con ếch nhảy vào cái đầm cũ và âm thanh đó tạo ra một lỗ hổng trong cảnh tịch mịch của toàn thể Nhà thơ bất giác khám phá ra cội nguồn của cuộc sống và ông liền theo dõi mỗi chuyển động của tư tưởng mình theo mức độ nó tiến gần đến thế giới của sự sinh thành vĩnh viễn Kết quả là xuất hiện vô số hình tượng trong 17 âm tiết mà ông để lại cho chúng ta Và ở bài thơ trên, chỉ vài
hình ảnh, âm thanh: ao nước, con ếch nhảy, tiếng nước khua cũng diễn tả đầy
đủ cảnh vật, không dông dài, nhưng luôn luôn đủ ý Như vậy, hai-cư là một loại thơ thiền, một cách tập nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết Ðây là một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động, như một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người
Hai-cư là thơ tương quan Theo quan niệm của Phật giáo Thiền tông:
“Vạn vật tồn tại trong một mối tương giao hòa hợp” Sự giao hòa của vạn vật
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 21 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thể hiện ngay chính trong bản thân con người: “Muối biển hòa trong máu, vôi
đá tích trong xương, huyết nhục muôn ngàn giống loài ngấm trong từng tế bào…ánh mặt trời rạng ngời trong nụ cười, hoa mở rộng lòng ta”
Bởi thế, yếu tố Thiền trong thơ hai-cư thường được thể hiện qua những khoảnh khắc “đốn ngộ” (khoảnh khắc sáng suốt kì diệu) của thi nhân về đời sống tạo nên cái nhìn nhất thể hóa Đó là cái nhìn thấy con người với vạn vật là cùng một bản thể (tức chân như), trong mỗi sự vật dù nhỏ nhoi đến đâu đều có mang tính vũ trụ, đều mang Phật tính và hiện ra bình đẳng vô sai biệt:
Nền đá hoang tàn lung linh bóng nắng Phật hiện dung nhan
Bài thơ này được Ba-sô sáng tác khi hành hương đến một ngôi chùa ở Awa Đây là một ngôi chùa hoang phế, nền đá trống trải, trơ trọi, không còn dấu vết một pho tượng Phật nào Thế nhưng có hề chi, Ba-sô vẫn có thể chiêm bái dung nhan Phật ẩn hiện trong bóng nắng lung linh của mùa xuân ấm áp ấy Với Ba-sô, nắng xuân tự hóa thân thành Phật Đó là cảm niệm có tính triết học,
là sự hóa sinh của sự vật, có mâu thuẫn nhưng cũng có sự chuyển hóa mâu thuẫn thành hòa nhập, bổ sung cho nhau một cách biện chứng
Còn Kubutsu thì thấy dung nhan Phật Đà trong những cánh hoa đào đang rơi, trong hình ảnh em bé đang há miệng nhìn:
Anh đào rơi hoa
em bé nhìn miệng há dung nhan Phật Đà
Xuất phát từ “cái nhìn nhất thể hóa” ấy, thơ hai-cư thường biểu hiện mối quan hệ tương tác, chuyển hóa, hòa điệu sâu xa giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới hữu hình lẫn vô hình:
Vắng lặng u trầm thấm sâu vào đá tiếng ve ngâm
(Ba-sô)
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 22 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tiếng ve đang thấm xuyên vào đá hay nỗi tịch liêu thấm xuyên vào đá?
Có lẽ là cả hai Cả thế giới vô hình (nỗi tịch liêu, âm thanh tiếng ve) và hữu hình (đá) đều có thể xuyên thấm vào nhau, tương tác lẫn nhau Ta có cảm giác
âm thanh của tiếng ve cùng với nỗi tịch liêu như làm cho cả đá núi cũng tan ra
để rồi tất cả cùng hòa vào nhau thành một “Một” trong những triết lí của Thiền
là tất cả trở về “cái Một” Và nghịch lí tuyệt diệu của nghệ thuật Thiền là: “Một trong Tất cả và Tất cả trong Một”
Ở trên là sự tương tác, hòa điệu giữa các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên Trong con mắt của nhà Thiền, con người cũng chỉ là một bộ phận của tự nhiên, một “tiểu vũ trụ” trong cái “đại vũ trụ” ấy Và con người cũng có một quyền năng đặc biệt, có thể tác động vào tự nhiên, có thể làm vận hành cả cái bánh xe tự nhiên khổng lồ ấy Hãy xem sức mạnh phát ra từ tiếng vỗ bàn tay của nhà thơ - Thiền sư Ba-sô:
Tôi vỗ bàn tay dưới trăng mùa hạ tiếng dội về, ban mai!
Có gì liên hệ chăng giữa tiếng vỗ của bàn tay và ánh ban mai mọc? Nhìn dưới con mắt thông thường, hai hiện tượng ấy chẳng có gì liên quan với nhau Thế nhưng, dưới cái nhìn Thiền, Ba-sô có cảm giác như tiếng vỗ tay của mình
đã gọi dậy, đánh thức ánh ban mai Đó là ánh ban mai, ánh sáng của vũ trụ, của
tự nhiên hay đó cũng chính là ánh sáng trong tâm hồn nhà thơ? Nhà nghiên cứu
Nhật Chiêu trong cuốn Ba nghìn thế giới thơm có lời bình rất hay về bài thơ:
“Với âm vang đó, ánh ban mai đã mọc Như thể vũ trụ đang trả lời Hay đúng
ra, ánh sáng ấy ở ngay trong Ba-sô, không phân biệt với ánh sáng bên ngoài và
nó đang trả lời tiếng vỗ tay của chính ông” [9]
Tóm lại, trong thơ hai-cư có sự dung hợp giữa Thiền và Thơ, vì thơ biểu
lộ tình cảm và thơ có thể tải đạo Thơ hai-cư đi từ một sự vật cụ thể thật nhỏ nhoi tầm thường để dẫn dắt người đọc đi vào cõi mênh mông bát ngát không
hình tượng, như một thiền sư đã nói: "Gom góp tất cả lời nói để hoàn thành một câu, vò cả đại thiên thế giới thành một hạt bụi"
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 23 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Thơ hai-cư mang cảm thức thẩm mĩ Thiền
Ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng, triết lí Thiền tông, cảm thức thẩm mĩ trong hai-cư cũng mang đậm màu sắc Thiền Có thể tạm gọi đó là cảm thức thẩm mĩ Thiền, là loại cảm thức thẩm mĩ thiên về coi trọng, đề cao cái đẹp thanh nhã, tịch lặng, giản khiết, bình đạm Do đó, bốn nguyên tắc mĩ học thường được nhắc đến trong thơ hai-cư nói riêng, văn học nghệ thuật Nhật bản nói chung là:
Sabi (tịch): Sabi là linh hồn của tịch liêu, là cảm thức về sự tĩnh mịch sâu xa
của sự vật Khi con người để lòng mình lắng sâu đến mức nhìn thấy cái vô thường trong hữu hạn cuộc đời, có thể cảm nhận bằng các giác quan cụ thể những thứ không tạo hình, không thanh sắc Lúc ấy, cả tâm hồn và thể xác như chìm đắm vào sự tĩnh lặng và giao hòa tuyệt đối với đất trời Và khi chìm đắm vào niềm tĩnh tịch thì người ta sẽ lắng nghe được tất cả sự chuyển động của vạn vật
wabi (đà): là nói đến sự cảm nghiệm về sự thanh bần an lạc, sự dung dị
nhưng thanh cao của cuộc sống con người và sự vật Cơ sở của wabi chính là bắt nguồn từ quan niệm của người Nhật Bản “Vạn vật hữu linh” Theo quan niệm
đó, sự sống tồn tại trong mọi thứ bao quanh con người, dù bé nhỏ hay to lớn, vô tri vô giác hay có ý thức và cảm giác, đều là biểu hiện của sự sống và sức sống kì
ẩn Nói cách khác, tư tưởng “Vạn vật hữu linh” chính là thái độ trân trọng cuộc sống thực tại Điều này dẫn đến quan niệm chuộng sự cân bằng hài hòa giữa con người và thiên nhiên, chuộng sự giản dị, thanh khiết, mộc mạc, gần gũi Đó cũng chính là cốt lõi của cảm thức wabi trong thơ Ba-sô
Thơ Ba-sô hồn hậu, thuần khiết, trong sáng, được tạo thành từ những điều bình dị nhất của đời sống nhưng mang vẻ đẹp tâm linh sâu thẳm, dịu vợi Khi nâng hai-cư lên thành một dòng thơ tâm linh, Ba-sô đã nâng trong lòng bàn tay bát ngát của mình những sự vật bình thường nhất của thế gian này Ba-sô tìm thấy vẻ đẹp trong cát bụi chứ không dùng cát bụi xây nên tòa lâu đài thơ ca đẹp đẽ
Sabi và wabi không phải là hai yếu tố tách biệt mà luôn song hành cùng
nhau trong các sáng tác của Ba-sô nói riêng và nghệ thuật Nhật Bản nói chung
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 24 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhưng với sự thể hiện điêu luyện và tinh tế trong những vần thơ súc tích, mang tính tượng trưng và biểu cảm cao, Ba-sô đã đưa những quan niệm thẩm mỹ này trở nên gần gũi với quần chúng hơn bao giờ hết
Aware (ai): gọi đầy đủ là mononoaware, là nỗi buồn của sự vật, là bi
cảm, một cảm thức xao xuyến trước mọi cái đẹp của sự vật Đó còn là niềm bi cảm, xao xuyến trước mọi vẻ đẹp não nùng của sự vật Nhưng nó không nghiêng về cái bi lụy ngông cuồng của lãng mạn hay nỗi bi tráng ngây ngất của
bi kịch mà aware là một bi cảm thâm trầm
Karumi (khinh) bắt nguồn từ chữ karushi, nghĩa là nhẹ nhàng, thanh
thoát Nó dung hợp giữa tính chân phương trong phong cách và sự tinh tế trong nội dung Chính tâm thế đó đã tạo nên ở các thi sĩ hai-cư có cái nhìn rất hiện thực khi phản ánh cuộc sống, thấy được vẻ đẹp của con người và sự vật dẫu cho
nó bé nhỏ Ba-sô nói về karumi trong thơ mình ở cuối đời như một phong thái
ung dung tự tại
Chính cảm thức thẩm mĩ như trên đã chi phối cách lựa chọn màu sắc, âm thanh, đường nét, chuyển động,… trong miêu tả, phản ánh con người cũng như ngoại vật Hai-cư đề cao cái vắng lặng, đơn sơ, hiu hắt, u huyền… bởi đó là không khí dễ gợi và dễ cảm nhận tâm trạng nhất Cho nên, đa số các bài thơ hai-cư là “vô thanh” Các âm thanh êm ái, trầm lắng trên cũng chỉ làm tăng thêm vẻ tĩnh lặng của cảnh vật mà thôi Chẳng hạn như bài thơ:
Vắng lặng u trầm thấm sâu vào đá tiếng ve ngâm
(Ba-sô) Bài thơ trên của Ba-sô đã mượn âm thanh của tiếng ve để thể hiện niềm
cô tịch vô ngã của thiên nhiên Dùng âm thanh để gợi tả sự tĩnh lặng là bút
pháp nghệ thuật quen thuộc của thi ca cổ điển phương Đông Trong thơ Đường,
ta cũng bắt gặp những bài thơ sử dụng rất thành công bút pháp “lấy động tả tĩnh” này:
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 25 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhân nhàn quế hoa lạc,
Dạ tĩnh xuân sơn không
Nguyệt xuất kinh sơn điểu, Thời minh tại giản trung
(Điểu minh giản - Vương Duy)
(Người nhàn hoa quế rụng, Đêm xuân núi vắng teo
Trăng lên chim núi hãi, Dưới khe chốc chốc kêu)
Nhà thơ Vương Duy đã tạo khắc bức tranh đêm xuân trên không phải bằng màu sắc mà bằng âm thanh Đó là âm thanh của tiếng hoa quế rụng và tiếng giật mình của chim núi khi trăng lên rồi thỉnh thoảng cất tiếng kêu sau khe núi Điểm độc đáo, hấp dẫn của thi phẩm là bằng âm thanh, thi nhân lại vẽ
ra được một đêm xuân tĩnh mịch, sự yên ắng tràn ngập khắp mọi nơi Thực chất, đêm yên tĩnh ấy gắn liền với tâm hồn hết sức tĩnh lặng, tĩnh lặng mới có thể cảm nhận được tiếng rơi rất mỏng, rất nhẹ của hoa quế và mới cảm nhận được trạng thái giật mình của chim núi khi ánh trăng lên Đó cũng chính là biểu hiện sự đồng cảm của hồn thơ Vương Duy với thế giới tự nhiên
Về đường nét, chuyển động, thơ hai-cư cũng thiên về chọn lựa những đường nét đơn sơ, giản khiết
Dưới làn nước trôi
có con cua nhỏ
bò lên chân tôi
Hoặc có khi là những chuyển động nhẹ nhàng, không gây ồn áo náo động Đó là cánh bướm “vẫn từ từ bay” trong thơ Garaku:
Cánh bướm ô hay
có người đuổi bắt vẫn từ từ bay
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 26 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Cánh bướm từ từ bay hay chính là sự biểu hiện của trạng thái ung dung
tự tại trong tâm hồn con người Ung dung tự tại mới có thể có cái nhìn an tĩnh đến thế, đó cũng chính là cái nhìn đầy thân ái về mọi sự sống trên thế gian này của những nhà thơ hai-cư
Chính cảm thức thẩm mĩ Thiền đã tạo cho thơ hai-cư Nhật Bản một thế giới nghệ thuật với những đặc trưng thẩm mĩ riêng biệt, độc đáo, không thể lẫn lộn
b Nghệ thuật
So với các thể loại khác trên thế giới, thơ hai-cư có số từ vào loại ít nhất, chỉ có 17 âm tiết (hoặc ít hơn một chút), được ngắt ra làm ba đoạn theo thứ tự thường là 5 - 7 - 5 âm (chỉ có 7, 8 chữ Nhật) Xét trên đơn vị dòng thơ, mỗi dòng trong một bài hai-cư không phải là một cấu trúc ngữ pháp độc lập, nếu đứng một mình, nó không thể có được ý nghĩa cụ thể, trọn vẹn Chính vì thế, khi phân tích, cảm nhận thơ hai-cư không thể lần lượt phân tích, cảm nhận từng dòng thơ mà phải luôn đặt các hình ảnh (được gợi lên ở mỗi dòng thơ) trong mối tương quan lẫn nhau và trong sự thống nhất của toàn bài
Mỗi bài thơ như một chiếc lá vẫn còn tươi nguyên, hoà trong tự nhiên Và như thế, mỗi người đến với hai-cư đều có thể cảm nhận, chiêm ngưỡng chúng theo cách riêng của mình mà không bị sự chi phối bởi chủ ý của tác giả Như vậy cũng có nghĩa là nhà thơ hết sức tôn trọng sự đồng sáng tạo của người đọc nên
đã không tập trung định hướng người đọc theo một cách hiểu cụ thể mà tất cả chỉ là gợi ý để người đọc thể hiện cách nhìn cách hiểu, cách suy ngẫm về nhân thế của riêng mình
Đặc trưng thi pháp của hai-cư là kết cấu “chân không” tạo thành bức tranh nhiều trống khuyết Thơ hai-cư không cốt nói nhiều, thường nghiêng về
sự im lặng theo tinh thần “bất dục doanh” (không muốn đầy) của minh triết cổ
xưa Bởi thế, học giả Daisetz Suzuki nói: "Khi tình cảm đã đạt đến mức độ cao nhất, ta lặng thinh; bởi lẽ không có ngôn ngữ nào có thể diễn tả thích đáng
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 27 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Ngay 17 vần trong thơ hai-cư cũng quá dài" [35] Vậy là cái tình thế ngoại vật
sẽ tạo ra tâm thế của nhà thơ và sau đó là sự im lặng của tâm hồn dẫn đến sự bỏ lửng Kết cấu bỏ lửng của thơ hai-cư chính là cái hư không bảng lảng khó nắm bắt của tinh thần Thiền tông Và từ đó, nó khơi dậy khát vọng làm đầy của con người, đưa con người vào sự hòa điệu mới Ở thơ hai-cư, ta bắt gặp bút pháp của tranh thủy mặc, thiên về thần thái hơn là đường nét
Khác xa với thơ Việt Nam và thơ của nhiều nước trên thế giới, thơ hai-cư Nhật Bản không sử dụng vần điệu, nhịp điệu như một yếu tố nghệ thuật Kết cấu 5/7/5 âm tiết không hẳn là cách ngắt nhịp để tạo nên nhịp điệu cho mỗi bài thơ hai-cư Do đó, mỗi bài thơ đọc lên nghe như một câu văn xuôi, thậm chí khi đọc lên ta tưởng chừng như các câu thơ không có sự liên kết với nhau Và để hiểu thấu đáo nó, người đọc cần đến một thứ nhịp điệu tương giao với thơ hai-
cư, đó là nhịp điệu tâm hồn
Trong bản dịch của Nhật Chiêu và một số dịch giả khác, mỗi bài hai-cư đều như có vần điệu, đó là do các dịch giả đã cố tình Việt hóa một thể thơ còn xa lạ với truyền thống thơ ca của dân tộc, nhằm tạo sự gần gũi, quen thuộc trong tâm lí tiếp nhận của độc giả Việt Nam Việc làm này dường như đi ngược lại với ý tưởng của các nhà thơ hai-cư khi sáng tác thể thơ này Bởi họ không có ý định tạo ra một chỉnh thể nghệ thuật có tính liên kết chặt chẽ trên bề mặt ngôn từ và lựa chọn ngôn
từ để tạo vần điệu Ý tưởng của nhà thơ hai-cư là xây dựng kết cấu bài thơ tự nhiên như sự sống vốn có Như thế, việc khám phá chất thơ trong thơ hai-cư không thể căn cứ vào vần, nhịp của tác phẩm mà cần đến năng lực liên tưởng, tưởng tượng và khả năng xâu chuỗi, liên kết hình tượng của người đọc mới có thể hình dung đầy đủ thế giới nghệ thuật đầy chất thơ của thi phẩm
Một đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ hai-cư là sự cô đọng hàm súc
Đó là sự cô đọng đi vào chiều sâu chứ không phải ý muốn dùng sự ít Barthes
đã nhận xét: “Sự ngắn gọn của thơ cư không phải là vấn đề hình thức,
Trang 35hai-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 28 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cư không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn gọn mà là một sự tình vắn tắt đã tìm được một hình thức vừa vặn của mình”
Do kết cấu ngắn gọn, hai-cư Nhật Bản hầu như không sử dụng những tính từ, trạng từ miêu tả để cụ thể hóa sự vật Điều đó tạo ra tính đơn sơ của mỗi bài thơ hai-cư Chẳng hạn tả trăng thì thường chỉ là “trăng” thế thôi
Từ bóng tối đầy của đời chợt mọc vầng trăng hôm nay
(Nangai) Hay khi tả hoa (nói đến hoa là nói đến màu sắc) thì hai-cư cũng chỉ có
“hoa” (hana) hoặc gọi tên các loài hoa như “anh đào” (sakura), “triêu nhan” (asagao), “hoa Bụt” (mukuge), … chứ ít khi tả màu sắc hoặc dáng vẻ của hoa:
Nhìn kĩ tôi thấy nazuna nở hoa bên hàng giậu
(Ba-sô) Hay:
Trong đồng cải trăm mắt ngắm hoa một bầy chim sẻ
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 29 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thử so sánh bài này với bài tứ tuyệt "Tức cảnh ngày xuân" của Sư Huyền Quang đời Trần, ta sẽ hiểu hơn về tính đơn sơ của thơ hai-cư:
Nhị bát giai nhân thích tú trì,
Tử kinh hoa lạ chuyển hoàng ly Khả liên vô hạn thường xuân ý Tận tại đình châm bất ngữ thì
(Đường kim bỗng chậm lại trên tay cô nàng đẹp mười sáu xuân xanh, Mấy chú oanh vàng thỏ thẻ trong lùm tử kinh hoa rộ,
Thương quá đi bao nỗi lòng thương xuân vô hạn
Đang trút cả vào giây phút ngừng kim và im phắc.)
(Bản dịch văn xuôi của giáo sư Đặng Thai Mai)
Cả hai bài thơ đều diễn tả cô gái ngừng tay làm việc nghe chim hót mùa xuân (chim chích uguisu trong thơ hai-cư là chim của mùa xuân) Trong bài hai-cư, ta thấy cô gái chỉ là cô gái Không biết cô đẹp hay xấu, tuổi bao nhiêu
và đang làm gì Còn trong bài tứ tuyệt thì các chi tiết ấy hiện lên rất rõ (đẹp, tuổi đôi tám, đang thêu thùa) Con chim chích của hai-cư chỉ hót chứ không phải hót trong lùm hoa tử kinh Bài thơ hai-cư cũng không bộc lộ cảm xúc như hai câu cuối trong bài tứ tuyệt
Việc đưa ra so sánh chỉ nhằm khẳng định tính đơn sơ của thơ hai-cư là một đặc điểm chứ không phải rút ra sự hơn kém nào Vì mỗi thể thơ của mỗi dân tộc có đặc trưng và phong cách riêng Mỗi bản sắc có nét đẹp độc đáo của
nó Cố gắng nhìn thấy vẻ đẹp trong những sự vật bình thường của đời sống là một trong những nguyên lý thẩm mỹ căn bản của thơ hai-cư
Như vậy, các nhà thơ hai-cư không phải dùng ngôn ngữ “tả” thiên nhiên
mà chính xác hơn là “chỉ” thiên nhiên Đến với thơ hai-cư, người đọc như được
“chỉ”: đây trăng, đây hoa, đây chim, đây bướm…v.v Còn chúng gợi vẻ đẹp như thế nào thì đó là dành cho trí tưởng tượng sáng tạo, “làm đầy” của anh Hay nói theo lí thuyết tiếp nhận văn chương thì việc đọc hiểu bài thơ như thế
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 30 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nào là thuộc về thế giới của người đọc Thử thách đối với người đọc thơ hai-cư
là ở đó Và sự kì thú, tuyệt diệu, “kết cấu vẫy gọi” (Appelestruktur) của thơ hai-cư cũng chính là ở đó
Việc sử dụng quý ngữ (kigo - từ chỉ một mùa nào đó trong năm) cũng là một đặc trưng về mặt ngôn ngữ của thơ hai-cư Trong bất cứ bài hai-cư nào cũng có quý ngữ Nó được dùng như một môtip sống động của thơ hai-cư và gần như đã trở thành một quy tắc thẩm mĩ Bởi thế, trong các bộ sưu tập, tuyển tập Hai-cư, người ta thường sắp xếp các bài thơ theo mùa mà nó đề cập Quý
ngữ có thể là những từ ngữ chỉ mùa cụ thể như: Haru (mùa xuân), natsu (mùa hạ), aki (mùa thu), fuyu (mùa đông); Cũng có thể là những từ ngữ chỉ mùa một cách gián tiếp như: sakura (hoa đào), awazu (con ếch),… chỉ mùa xuân; hototogisu (chim đỗ quyên), semi (con ve),… chỉ mùa hè; hagi (hoa thu),… chỉ mùa thu; yuki (tuyết),… chỉ mùa đông …v.v
* Về không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ hai-cư
Không gian trong thơ hai-cư được xây dựng do sự chi phối của đề tài nên cũng là không gian nhỏ hẹp, gần gũi: một mái lều, một lữ quán, không gian dưới một chiếc ô, hay có khi là một bóng cây, nơi nhà thơ đang trú mưa cùng bướm Chỉ vậy thôi mà hàm chứa biết bao điều để xúc cảm và trải nghiệm:
Dưới bóng cây trú mưa cùng bướm duyên trần ai hay
(Issa) Không gian trữ tình vắng bóng Chỉ có không gian cụ thể, sinh động đang hiện ra trước mắt nhà thơ; một không gian hoàn toàn tự nhiên như từ hiện thực đi thẳng vào thơ mà không qua sự điều chỉnh (phóng to hay thu nhỏ) theo cảm nhận chủ quan của nhà thơ Nhà thơ không lộ diện như một người bày tỏ
mà là bài thơ tự bày tỏ và nhà thơ trở thành một đối tượng chiêm ngắm cảnh vật, sự sống trong thơ…
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 31 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Về thời gian nghệ thuật, do sự quy ước bất di bất dịch về việc dùng quý ngữ (từ chỉ mùa) để nhận biết tín hiệu thời gian, nên thời gian nghệ thuật trong thơ hai-cư là thời gian của hiện tại Nắm bắt thực tại ngay trong giây phút nảy mầm, cái đang xảy ra lắm khi chuyên chở cả một vũ trụ thu gọn vào trong thời điểm đó, tiểu thế giới và đại thế giới hòa nhập vào nhau Một diễn tiến trước mắt khiến ta liên tưởng đến một hiện tượng hay biến cố nào đó trong một kinh nghiệm sống của riêng mình Đây là điểm độc đáo trong cảm quan nghệ thuật
của thơ hai-cư Thơ hai-cư tuyệt nhiên không thể hiện ý niệm về thời gian lịch
sử Các triều đại với những biến cố lịch sử hầu như không tìm được chỗ đứng
trong thể thơ hồn nhiên tự tại này Đây là một trong những biểu hiện thuần khiết về bản chất riêng biệt của thơ hai-cư
1.1.2 Thơ hai-cư của nhà thơ Ma-su-ô Ba-sô và nhà thơ Yô-sa Bu-son
1.1.2.1 Thơ Hai-cư của Ma-su-ô Ba-sô
Nói đến Ba-sô là nói đến bậc thầy thơ hai-cư lỗi lạc Từ renga (liên ca), một thể thơ dài với nội dung trào lộng dung tục tầm thường, Ba-sô đã sáng tạo nên một thể thơ nổi tiếng trên toàn thế giới Sức lan tỏa của thơ hai-cư không chỉ bởi sự cô đọng, hàm súc vào bậc nhất mà còn vì vẻ đẹp tinh tế, sâu lắng, sự
đa nghĩa không ngờ ẩn trong 17 âm tiết
Do ảnh hưởng của tư tưởng Thiền tông trong nhận thức cuộc sống nên thơ hai-cư của Ma-su-ô Ba-sô thể hiện những cảm thức thẩm mỹ khác nhau như
là: Sabi (tịch lặng), Wabi (đơn sơ), Yugen (u huyền) và Karumi (nhẹ nhàng)
Ba-sô là người đem lại sức sống bất tuyệt cho thơ hai-cư, trở thành đạo
sư của dòng thơ lừng lẫy này không chỉ ở Nhật Bản mà trên khắp thế giới Và
ông được xưng tụng: “Nước Nhật sinh ra cùng với Ba-sô vào năm 1944 Ông chính là người đã sáng tạo ra linh hồn của Nhật Bản” [37]
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 32 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.2.2 Thơ Hai-cư của Yô-sa Bu-son
Tuy Bu-son không phải là người “phá rừng mở núi” để đưa Hai-cư lên hàng nghệ thuật cao quí, nhưng ông có công “dọn dẹp gai cỏ”, làm phong phú
đa dạng và tươi mới Hai-cư để thể thơ này tiếp tục phát triển và tỏa sáng
Bu-son có một gia tài thơ đồ sộ về mùa xuân với hơn 2000 bài thơ Điều
đó đã đưa ông lên vị trí “nhà thơ của mùa xuân” trên thi đàn Nhật Bản Thơ hai-cư về mùa xuân của Bu-son không chỉ là những khoảnh khắc bừng sáng của thiên nhiên mà ẩn hiện trong đó là sự rung cảm tinh tế và huyền diệu trong tâm hồn nhà thơ Đó là những đối tượng thẩm mỹ hết sức nhân bản, cái đẹp thể hiện trong sự hòa phối nhịp nhàng giữa con người và thiên nhiên Yô-sa Bu-son
đã đem đến cho hai-cư những gam màu mới, lãng mạn, quyến rũ và đầy tính nhân bản Ông như người nghệ sĩ cất lên những khúc hoan ca về mùa xuân
Dưới cảm niệm sự vật vừa bằng con mắt của người họa sĩ vừa bằng những liên tưởng phong phú của một nhà thơ, Bu-son đã tạo được cho mình một phong cách sáng tác cực kì độc đáo, đó là phong cách “haiga” (bài họa - thơ tranh) Bu-son đã sáng tác hàng ngàn bài thơ, gần phân nửa là thơ tranh với chủ trương người nghệ sĩ phải có tai nghe thính nhạy, mắt nhìn thông suốt và một tâm cảm sâu đậm để “thu” và “phát” những tín hiệu về cuộc sống, về thế
giới Giống như Ezra Pound đã nói “nghệ sĩ là ăng-ten của loài người” Các bài
thơ của ông có những nét độc đáo, kết hợp tinh tế giữa biểu hiện của hội họa với chất gợi tưởng của thi ca, giữa cái đẹp của ngôn từ và cái đẹp của hình ảnh Nhờ đó, thơ hai-cư của Bu-son luôn đi sâu diễn tả cốt lõi, thực chất của sự vật
bằng những vần thơ hoa lệ, lãng mạn bay bổng tuyệt vời
Có thể nói, với sự nghiệp sáng tác của mình, Bu-son đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người hậu thế trong vai trò tiếp bước người khai sinh vĩ đại Ma-su-ô Ba-sô Và nếu như R.H.Blyth đã khẳng định rằng: “Nước Nhật sinh ra cùng thời với Ba-sô vào năm 1644 Ông chính là người sáng tạo ra linh hồn Nhật Bản” [37] thì chúng ta cũng có thể nói rằng linh hồn Nhật Bản đã
được thăng hoa cùng những vần thơ của Yô-sa Bu-son
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 33 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.3.3 Thâm trầm, cổ điển trong thơ hai-cư của Ma-su-ô Ba-sô và và cách tân tươi mới trong thơ hai-cư của Yô-sa Bu-son
Ma-su-ô Ba-sô và Yô-sa Bu-son là hai đại diện tiêu biểu, hai cột trụ của thơ hai-cư Khi sáng tác thơ hai-cư, tất nhiên cả hai nhà thơ đều tôn trọng những đặc điểm cơ bản làm nên nét độc đáo và giá trị của thơ hai-cư như: dung lượng cực kì ngắn gọn; đề tài ưa chuộng là những sự vật nho nhỏ, bình dị
mà ẩn chứa đằng sau đó sự mênh mông, hùng vĩ và huyền diệu của cuộc đời, của lòng người; bài thơ nào cũng có quý ngữ (từ chỉ mùa),
Song, đây cũng là hai nhà thơ có phong cách đối lập khi sáng tác thơ
hai-cư Ba-sô, vị thi sĩ- thiền sư với những vần thơ đượm chất Thiền Bu-son lại là nhà thơ với những xúc cảm tươi tắn, gắn kết thơ với họa Có một Ba-sô thâm trầm, thanh đạm mà sâu thẳm thì cũng có một Bu-son tươi trẻ, lóng lánh sắc màu Trong thơ Ba-sô, ta nhận thấy một tình yêu sâu nặng với mùa thu Mùa thu trong thơ ông đẹp nhưng thấm đượm nỗi buồn xa vắng, thanh tịnh đậm màu Thiền Trong thơ Bu-son lại là mùa xuân rạo rực nhựa sống, đầy ắp những thú vui trần gian Bởi thế, không phải ngẫu nhiên người phương Tây khi nhắc đến Ba-sô liên tưởng ngay đến hình ảnh cây chuối nhạy cảm lắng nghe hiu hắt buồn thu, còn nhắc tới Bu-son lại liên tưởng đến những cánh bướm rập rờn hoa cỏ
mùa xuân
Nhà nghiên cứu Harold G Henderson đã từng nhận xét: "Ba-sô thì hiền hòa, minh triết và huyền ẩn, còn Bu-son thì thông minh, đa diện và tài tình” [36,tr60] Và với những đóng góp độc đáo của mình, hai nhà thơ Ba-sô và
Bu-son đã làm cho gương mặt thơ hai-cư thêm phong phú, góp phần khẳng định giá trị vững chắc của thơ hai-cư trong nền văn học Nhật Bản nói riêng và văn học nhân loại nói chung