Từ những ưu điểm nêu trên của loài cây này, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ che sáng và thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sự phát triển của cây Đầu lân Couroupita guianensis
Trang 1i
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Mục lục - i
Danh sách các ký hiệu, các chữ viết tắt - ii
Danh sách các bảng - ii
Danh sách các hình, đồ thị - iii
Danh sách các bản đồ - iv
CHƯƠNG 1 – MỞ ĐẦU - 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài - 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu - 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 2
1.4 Đóng góp của đề tài - 2
1.5 Bố cục của đề tài - 2
CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU - 3
2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên của khu vực nghiên cứu - 3
2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu - 7
2.2.1 Vai trò của một số nhân tố sinh thái đối với cây gỗ non trong giai đoạn vườn ươm - 7
2.2.2 Những nghiên cứu về gieo ươm các loài cây gỗ - 10
2.2.3 Tình hình nghiên cứu cây Đầu lân trong và ngoài nước - 12
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 14
3.1 Cơ sở khoa học - 14
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu - 14
3.3 Vật liệu và phương tiện hỗ trợ nghiên cứu - 15
3.4 Các phương pháp tiến hành thí nghiệm - 15
3.4.1 Thu thập và ngâm hạt để gieo - 15
3.4.2 Bố trí thí nghiệm trong vườn ươm - 16
3.4.3 Phương tiện xử lý và phân tích số liệu - 19
CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN - 20
4.1 Ảnh hưởng của ánh sáng đến tăng trưởng của cây con - 20
4.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tăng trưởng của cây con - 41
CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 60
5.1 Kết luận - 60
5.2 Kiến nghị - 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 65 PHỤ LỤC
Trang 2ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU,
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APG : Angiosperm Phylogeny Group
(Nhóm phát sinh chủng loài thực vật hạt kín)
D0 : Đường kính cổ rễ
Dt : Đường kính tán
H : Chiều cao
ℓ : Chiều dài lóng
TpHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
R : Ruột bầu
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng - Trang
2 Phân loại đất đai phường Hiệp Thành, quận 12 - 6
3 Thành phần hỗn hợp ruột bầu - 18
4.1 Tỉ lệ sống của cây con ở 4 lô - 22
4.2 Chiều cao trung bình của cây con ở mỗi tháng - 23
4.3 Gia tăng chiều cao trung bình của cây ở mỗi tháng - 24
4.4 Đường kính cổ rễ trung bình của cây con ở mỗi tháng - 25
4.5 Gia tăng đường kính cổ rễ trung bình của cây ở mỗi tháng - 25
4.6 Đường kính tán trung bình của cây con ở mỗi tháng - 27
4.7 Gia tăng đường kính tán trung bình của cây qua mỗi tháng - 28
4.8 Số lượng lá trung bình của cây con ở mỗi tháng - 29
4.9 Gia tăng số lượng lá trung bình của cây qua mỗi tháng - 30
4.10 Kích thước lóng trung bình của cây con ở mỗi tháng - 31
4.11 Gia tăng kích thước lóng trung bình của cây qua mỗi tháng - 31
Trang 3iii
4.12 Sinh khối của cây con ở từng lô sau 6 tháng - 33
4.13 Thành phần ruột bầu - 41
4.14 Tỉ lệ sống của cây con ở 4 nghiệm thức - 42
4.15 Chiều cao trung bình của cây con ở mỗi tháng - 43
4.16 Gia tăng chiều cao trung bình của cây ở mỗi tháng - 44
4.17 Đường kính cổ rễ trung bình của cây con ở mỗi tháng - 45
4.18 Gia tăng đường kính cổ rễ trung bình của cây ở mỗi tháng - 45
4.19 Đường kính tán trung bình của cây con ở mỗi tháng - 47
4.20 Gia tăng đường kính tán trung bình của cây qua mỗi tháng - 47
4.21 Số lượng lá trung bình của cây con ở mỗi tháng - 49
4.22 Gia tăng số lượng lá trung bình của cây qua mỗi tháng - 49
4.23 Kích thước lóng trung bình của cây con ở mỗi tháng - 51
4.24 Gia tăng kích thước lóng trung bình của cây qua mỗi tháng - 51
4.25 Sinh khối của cây con của từng nghiệm thức qua 6 tháng - 52
DANH SÁCH CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ Hình - Trang 3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm - 18
4.1 Các dạng sâu bệnh ở cây Đầu lân Couroupita guianensis Aubl - 21
4.2 Đồ thị tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm - 22
4.3 Đồ thị tăng trưởng chiều cao của cây con trong vườn ươm - 24
4.4 Đồ thị tăng trưởng D0 của cây con trong vườn ươm - 26
4.5 Đồ thị tăng trưởng Dt của cây con trong vườn ươm - 28
4.6 Đồ thị tăng trưởng số lượng lá của cây con trong vườn ươm - 30
4.7 Đồ thị tăng trưởng ℓ của cây con trong vườn ươm - 33
4.8 Đồ thị biểu hiện sinh khối của cây con ở từng lô sau 6 tháng - 33
4.9 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 1 tháng tuổi - 35
Trang 4iv
4.11 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 3 tháng tuổi - 37
4.12 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 4 tháng tuổi - 38
4.13 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 5 tháng tuổi - 39
4.14 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 6 tháng tuổi - 40
4.15 Sơ đồ bố trí thí nghiệm - 41
4.16 Đồ thị tỉ lệ sống của cây con trong vườn ươm - 43
4.17 Đồ thị tăng trưởng chiều cao của cây con trong vườn ươm - 44
4.18 Đồ thị tăng trưởng D0 của cây con trong vườn ươm - 46
4.19 Đồ thị tăng trưởng Dt của cây con trong vườn ươm - 48
4.20 Đồ thị tăng trưởng số lượng lá của cây con trong vườn ươm - 50
4.21 Đồ thị tăng trưởng ℓ của cây con trong vườn ươm - 52
4.22 Đồ thị tổng lượng sinh khối của 4 nghiệm thức sau 6 tháng - 53
4.23 Các loại R của Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 1 tháng tuổi 54
4.24 Các loại R của Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 2 tháng tuổi 55
4.25 Các loại R của Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 3 tháng tuổi 56
4.26 Các loại R của Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 4 tháng tuổi 57
4.27 Các loại R của Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 5 tháng tuổi 58
4.28 Các loại R của Đầu lân Couroupita guianensis Aubl 6 tháng tuổi 59
DANH SÁCH CÁC BẢN ĐỒ Bản đồ - Trang Bản đồ đất Phường Hiệp Thành Quận 12 - 6
Trang 5CHƯƠNG 1 – MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây xanh – Một phần không thể thiếu tại các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh Cây xanh không chỉ giúp làm giảm ô nhiễm không khí, giảm tiếng
ồn, cho bóng mát, tăng vẻ mỹ quan mà còn có thể giúp tinh thần bớt căng thẳng và sảng khoái Trên đường phố, công viên và nhất là trong trang trí ngoại thất, việc lựa chọn cây xanh phù hợp làm nguyên liệu thiết kế đóng vai trò quan trọng
Cây Đầu lân (Couroupita guianensis Aubl.) thuộc họ Lộc vừng
(Lecythidaceae) là loài cây che bóng, có hoa đẹp, nở quanh năm, hương thơm thanh thoát và có ý nghĩa về tâm linh Phật giáo Hiện nay, Đầu lân được trồng rải rác trong một số công viên như Tao Đàn, Bình Quới, Thảo Cầm Viên… và trồng nhiều ở các chùa Kỳ Quang, Tường Quang, Xá Lợi, Vĩnh Nghiêm… Ngoài ra, đây cũng là loài cây có quả và lá được dùng làm dược liệu chữa các bệnh thông thường
Từ những ưu điểm nêu trên của loài cây này, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ che sáng và thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sự
phát triển của cây Đầu lân (Couroupita guianensis Aubl.) thuộc họ Lộc
vừng (Lecythidaceae) trong giai đoạn vườn ươm” để nghiên cứu sâu
hơn về quá trình sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn ươm và tiến tới phát triển loài cây có giá trị trang trí ngoại thất cao và có ý nghĩa Phật giáo đặc biệt này
Trang 61.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được các điều kiện thích hợp cho cây con phát triển ở giai đoạn
vườn ươm như:
+ Xác định độ che sáng phù hợp
+ Xác định thành phần hỗn hợp ruột bầu khi gieo ươm
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Cây Đầu lân (Couroupita guianensis) được nhân giống trong vườn ươm
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây Đầu lân với các điều kiện che sáng, thành phần hỗn hợp ruột bầu khác nhau để chọn ra công thức gieo ươm tốt nhất
Chương 2 – Tổng quan tài liệu
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 – Kết quả và thảo luận
Chương 5 – Kết luận và kiến nghị
Trang 7CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên của khu vực nghiên cứu 2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý:
Tổng diện tích đất tự nhiên là 543,8884 ha, Hiệp Thành có dạng một tứ giác lồi về hướng Tây và Tây Bắc, nằm ở giữa Quận 12 – Thành phố Hồ Chí Minh, bốn hướng tiếp giáp với:
Hướng Đông : Phường Thới An – Quận 12
Hướng Tây : Phường Tân Chánh Hiệp – Quận 12 và xã Thới Tam Môn – Hóc Môn
Hướng Nam : Phường Tân Chánh Hiệp và phường Tân Thới Hiệp – Quận 12 Hướng Bắc : Xã Đông Thạnh – Huyện Hóc Môn
b Địa hình, địa mạo:
Hiệp Thành thuộc vùng đồng bằng Nam bộ, mang 2 dạng địa hình : thấp và cao
- Địa hình thấp : tương đối thấp và bằng phẳng, độ cao trung bình từ 0,6 – 0,8 m
- Địa hình cao : độ cao trung bình là 4,5 – 5 m
Vì vậy, Hiệp Thành có khả năng phát triển cả về canh tác nông nghiệp cũng như thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng – kỹ thuật
c Khí hậu:
- Nằm trong vùng cận xích đạo, nhiệt đới gió mùa của nước ta nên Hiệp Thành mang nét đặc trưng của khí hậu Đông Nam Bộ có 2 mùa rõ rệt : mùa khô và mùa mưa
Trang 8+ Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4, chiếm 10% lượng mưa cả năm + Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, số ngày mưa khoảng
132 ngày, lượng mưa bình quân là 1980 mm/ năm, chiếm 90% lượng mưa cả năm
- Nhiệt độ bình quân là 290C, độ ẩm không khí trung bình 61%
- Hai hướng gió chủ đạo là Đông Nam và Tây Bắc, với vận tốc trung bình 2,5 m/s
d Thủy văn :
Phường Hiệp Thành được bao bọc về hướng Tây Bắc bởi kênh Trần Quang
Cơ và rạch Cầu Dừa Ngoài ra, xung quanh phường không còn sông suối chảy qua nên cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp, gây ít nhiều ảnh hưởng đến mùa màng ở địa phương
Trang 92.1.2 Các nguồn tài nguyên
Ngoài ra có một phần nhỏ diện tích đất phù sa nhiễm phèn nhiều
Bảng 2: Phân loại đất đai phường Hiệp Thành, quận 12
ACf Ferric Acrisols Đất nâu vàng trên phù sa cổ 207,16 38,20
FLtp Protothionic Fluvisols Đất phù sa nhiễm phèn nhiều 6,36 1,17
(Nguồn : Bản đồ đất quận 12 – TP Hồ Chí Minh)
Điều này tạo điều kiện cho Hiệp Thành phát triển đa dạng về thành phần kinh tế, tuy vậy cũng gây hạn chế cho việc phát triển đồng đều, cân đối giữa các ngành dựa trên tiềm lực sẵn có ở địa bàn
Trang 10Hình Bản đồ đất phường Hiệp Thành, quận 12
(Nguồn : Bản đồ đất quận 12 – TP Hồ Chí Minh)
b Tài nguyên nước :
Ở đây, người dân chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm với mực nước giếng đào sâu từ 8 - 10m Nhìn chung, chất lượng nước tương đối tốt nên đại đa
số hộ dân trong phường đều sử dụng hầu hết là giếng khoan, chỉ một số ít
hộ dùng giếng đào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Trang 112.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Vai trò của một số nhân tố sinh thái đối với cây gỗ non trong giai đoạn vườn ươm
a Ánh sáng
Theo Kimmins (1998) [40], ánh sáng là nguồn năng lượng cần cho quang hợp của thực vật Ánh sáng có ảnh hưởng căn bản đến sự phân phối lượng tăng trưởng mới giữa các bộ phận của cây gỗ Khi được che bóng, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra nhanh, nhưng đường kính nhỏ, sức sống yếu
và thường bị đổ ngã khi gặp gió lớn Trái lại, khi gặp điều kiện chiếu sáng mạnh, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra chậm, nhưng đường kính lớn, thân cây cứng và nhiều cành Nói chung, việc che bóng giúp cây con tránh được những tác động cực đoan của môi trường, làm giảm khả năng thoát hơi nước, đồng thời làm giảm nhiệt độ của cây và của hỗn hợp ruột bầu
Sự sống sót ban đầu của cây con ở điều kiện đất trồng rừng cũng phụ thuộc vào việc điều chỉnh ánh sáng trong giai đoạn vườn ươm Những cây con sinh trưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá chịu bóng Nếu bất ngờ đưa chúng ra ngoài ánh sáng và kèm theo điều kiện ẩm độ, nhiệt độ thay đổi, chúng sẽ bị ức chế bởi ánh sáng mạnh Điều này có thể làm cho cây con bị tử vong hoặc giảm tăng trưởng cho đến khi các lá chịu bóng được thay thế bằng các lá ưa sang, Nguyễn Tuấn Bình (2002) [5], Vũ Thị Lan (2007) [18]
Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ở vườn ươm khi nó tạo ra
tỷ lệ lớn giữa rễ/chiều cao thân, hình thái tán lá cân đối, tỷ lệ chiều cao/ đường kính bằng hoặc gần bằng 1 Đặc điểm này cho phép cây con có thể sống sót và sinh trưởng tốt khi chúng bị phơi ra ánh sáng hoàn toàn Vì thế,
Trang 12trong gieo ươm nhà lâm học phải chú ý đến nhu cầu ánh sáng của cây con Nguyễn Thị Hà Linh (2009) [19], Trương Thị Cẩm Nhung (2010) [22]
b Nước
Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạn vườn ươm Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây gỗ non Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng Nhiều nước
sẽ tạo ra môi trường quá ẩm ; kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết do thiếu không khí Nếu cây thiếu nước, chất nguyên sinh sẽ bị mất nước, chúng có thể chuyển sang trạng thái coaxecva hoặc trạng thái gel và kèm theo giảm hoạt động sống của chúng Đồng thời khi mất nước có thể làm giảm tính bền vững của keo nguyên sinh chất và ở mức độ có thể gây nên biến tính keo nguyên sinh chất và cây sẽ chết (Hoàng Minh Tấn và ctv, 1994) [29] Vì thế, việc xác định hàm lượng nước thích hợp cho cây non vườn ươm là việc làm rất quan trọng (Larcher, 1983) [17], (Nguyễn Văn Sở, 2004) [28]
c) Thành phần hỗn hợp ruột bầu
Thành phần hỗn hợp ruột bầu là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng cây con trong vườn ươm (Nguyễn Văn Thêm, Phạm Thanh Hải, 2004) [33] Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm bảo những điều kiện lý tính và hóa tính giúp cây sinh trưởng khỏe mạnh và nhanh Một hỗn hợp ruột bầu nhẹ, thoáng khí, khả năng giữ nước cao nhưng nghèo chất khoáng cũng không giúp cây phát triển tốt (Nguyễn Tuấn Bình, 2002) [5], (Nguyễn Văn Sở, 2003) [27] Ngược lại, một hỗn hợp ruột bầu chứa nhiều chất khoáng, nhưng cấu trúc đất nặng, khó thấm nước và thoát nước cũng ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và chất lượng cây con
Trang 13Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ) và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa tính của ruột bầu Đất được chọn làm ruột bầu Đất được chọn làm ruột bầu thịt nhẹ, pH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại, (Vũ Thị Lan, 2007) [18], (Trương Thị Cẩm Nhung, 2010) [22]
Cây con sinh trưởng và phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết Trong giai đoạn vươm ươm, những nhân tố được đặt biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia (Nguyễn Xuân Quát, 1985) [23]
d) Kích thước bầu
Kích thước bầu là chỉ tiêu phản ánh khoảng không gian sinh sống của cây con Mỗi loài cây khác nhau đòi hỏi một khoảng không gian để sinh trưởng, phát triển tốt (Nguyễn Minh Đường, 1985) [9] Kích thước bầu chi phối không chỉ hàm lượng dinh dưỡng nhiều hay ít, mà còn đến ánh sáng và nước, hình dạng và tình trạng phát triển của hệ rễ và thân cây (Nguyễn Xuân Quát, 1985) [23] Kích thước bầu còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và kĩ thuật trồng rừng Kích thước bầu quá lớn sẽ gây bất lợi cho việc vận chuyển cây con tới nơi trồng rừng, tốn nhiều hỗn hợp ruột bầu…; do đó chi phí trồng rừng cao (Nguyễn Văn Thêm, 2002 và 2003) [30], [31] Kích thước bầu quá nhỏ dẫn đến thu hẹp không gian sinh sống, làm giảm hàm lượng dinh dưỡng, ánh sáng, nước; kết quả cũng ảnh hưởng đến chất lượng cây con Vì thế, trong giai đoạn vườn ươm kích thước bầu được nhiều tác giả quan tâm (Nguyễn Tuấn Bình, 2002) [5]
Kích thước bầu cần đảm bảo một số yêu cầu sau đây: (1) giữ cây đứng vững,
hệ rễ phát triển bình thường ; (2) cung cấp đầy đủ ánh sáng và chất khoáng
Trang 14cho cây con; (3) tiết kiệm không gian gieo ươm; (4) dễ vận chuyển và xử lý khi đem trồng (Vũ Thị Lan, 2007) [18]
2.2.2 Những nghiên cứu về gieo ƣơm các loài cây gỗ
a Trên thế giới:
Khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng của cây gỗ non, Khurama và Singh (2000) [39] đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt tới sự nảy mầm, sự sống sót và quá trình sinh trưởng của cây con Năm 1981, Sasaki và Mori đã tiến hành nghiên cứu và đáng giá khả năng
chịu bóng của một số loài như Shorea taluranh, Sovalis, Hopea helferei và Vatica odorata Kết quả cho thấy sinh trưởng của cây con bị ức chế khi cường
độ ánh sáng cao hơn 50%
Theo Thomas (1985) [41], chất lượng cây con có quan hệ với tình trạng chất khoáng Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con
b Ở Việt Nam:
Có nhiều công trình nghiên cứu gieo ươm cây gỗ ở Việt Nam Nhìn chung, khi nghiên cứu gieo ươm cây gỗ, một mặt các nhà nghiên cứu hướng vào xác định những nhân tố sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng của cây con Những nhân tố được quan tâm nhiều là ánh sáng, đất, hỗn hợp ruột bầu, chế độ nước và kích thước bầu Mặt khác, nhiều nghiên cứu còn hướng vào việc làm rõ tiêu chuẩn của cây con đem trồng
Khi nghiên cứu gieo ươm thông nhựa (Pinus merkusii), Nguyễn Xuân Quát
(1985) [23] đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu
Trang 15Tương tự Hoàng Công Đãng (2000) [8] đã thực hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vườn ươm
Khi bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng của độ tàn che, Nguyễn Xuân Quát (1985) [23] và Hoàng Công Đãng (2000) [8] đã phân chia 5 mức che ánh sáng: không che (đối chứng), che 25%, 50%, 75%, 100% Để thăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát (1985) [23] và Hoàng Công Đãng (2000) [8] đã bón lót super lân, clorua kali, sunphat amôn với tỷ lệ từ 0 – 6%
so với trọng lượng ruột bầu Đối với phân hữu cơ, các tác giả thường sử dụng phân chuồng (phân trâu, phân bò và phân heo) với liều lượng từ 0 – 25% so với trọng lượng bầu Một số nghiên cứu cũng hướng vào xem xét phản ứng của cây gỗ non với nước Tuy vậy, đây là một vấn đề khó, bởi vì hiện nay còn thiếu những điều kiện nghiên cứu cần thiết (Nguyễn Xuân Quát, 1985) [23]
Từ năm 1980 – 1985, Nguyễn Minh Đường [9] và nhiều tác giả khác cũng có những nghiên cứu chi tiết về gieo ươm và trồng rừng sao dầu ở rừng miền Đông Nam Bộ
Năm 1997, Nguyễn Thị Mừng [20] đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ che
bóng đến sinh trưởng của cây Cẩm lai (Dalbergia bariaensis Pierre) trong
giai đoạn vườn ươm Kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, ở giai đoạn từ 1 –
4 tháng tuổi, mức độ che bóng 50 – 100% (tốt nhất 75%) đảm bảo cho Cẩm lai có hàm lượng diệp lục a,b và tổng số cao hơn, sinh khối, sinh trưởng chiều cao đều lớn hơn so với đối chứng (không che bóng) Nhưng đến tháng thứ 6, các chỉ tiêu trên lại đạt cao nhất ở tỷ lệ che bóng 50%
Khi nghiên cứu về gieo ươm Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre),
Nguyễn Tuấn Bình (2002) [5] nhận thấy độ tàn che 25% - 50% là thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng 12 tháng tuổi Kết quả nghiên cứu về cây
Huỳnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K.) trong giai đoạn 6 tháng tuổi cũng cho
Trang 16thấy độ che sáng thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của Huỳnh liên là 50% (Nguyễn Thị Cẩm Nhung, 2006) [21]
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước bầu đến sinh trưởng của cây
gỗ non cũng đã được nhiều tác giả quan tâm Theo Nguyễn Tấn Bình (2002) [5], kích thước bầu thích hợp cho gieo ươm Dầu song nàng là 20 x 30 cm, đục 8-10 lỗ
Một vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu là thành phần hỗn hợp ruột bầu Theo Nguyễn Văn Sở (2004) [29], sự phát triển của cây con phụ thuộc không chỉ vào tính di truyền của cây mà còn vào môi trường sinh trưởng của nó (tính chất lý hóa của ruột bầu) Tuy nhiên không phải tất cả các loài cây đều cần một loại hỗn hợp như nhau, mà chúng thay đổi tùy thuộc vào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây Theo Nguyễn Thị Mừng (1997) [20], thành phần ruột bầu được cấu tạo từ 79% đất + 18% phân chuồng + 0,5% N + 2% P + 0,5% K hoặc 80% đất + 15% phân chuồng + 1% N +3% P +1% K sẽ
đảm bảo cho cây Cẩm lai (Dalbergia bariaensis Pierre) sinh trưởng tốt trong
giai đoạn vườn ươm Các nghiên cứu về gieo ươm như Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyeri) của Nguyễn Tuấn Bình (2002) [5], Chiêu liêu nước
(terminalia calamansanai) của Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải (2004) [33], cây Huỳnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K) của Nguyễn Thị Cẩm Nhung
(2006) [21], các tác giả đều đi đến kết luận: hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng của cây con
2.2.3 Tình hình nghiên cứu cây Đầu Lân trong và ngoài nước
a Ở nước ngoài
Cây Đầu lân được nhà thực vật học người Pháp J.F Aublet đặt danh pháp khoa học vào năm 1755 [45]
Trang 17Cây Đầu lân phổ biến trong khu rừng tân nhiệt đới, đặc biệt là ở lưu vực sông Amazon Đầu lân có nguồn gốc ở Guyana (Nam Mỹ) Ngày nay cây này có thể tìm thấy ở Ấn Độ, miền nam dãy núi Hy Mã Lạp, và về sau được trồng nhiều nơi ở Nam Á và Đông Nam Á Đây còn là loại cây trồng đường phố khá phổ biến tại Thái Lan, Singapore…
b Ở Việt Nam
Cây Đầu lân được người trong giới cây cảnh Việt Nam gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Cây Sala, cây Hàm rồng, cây Vô ưu, cây Ngọc kỳ lân Cây được trồng trong các công viên và chùa chiềng Trần Hợp đã mô tả Đầu
lân về hình thái, phân bố và công dụng trong “Cây cảnh, hoa Việt Nam” xuất bản năm 2000 [10], “Cây xanh và cây cảnh Sài Gòn” [12] và “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” [11] xuất bản năm 2002
Trang 18CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Cơ sở khoa học:
Sinh trưởng và phát triển của cây luôn chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố sinh thái Trong điều kiện vườn ươm, nhân tố chủ đạo thường là ánh sáng (hay độ tàn che), nước, thành phần hỗn hợp ruột bầu (dinh dưỡng), kích thước bầu (hay mật độ gieo ươm), độ sâu lấp đất… Mặt khác, theo quy luật giới hạn sinh thái của Shelford, 1913 (dẫn theo Nguyễn Tuấn Bình) [5], mỗi giai đoạn sống của cây chỉ thích ứng với một biên độ tác động nhất định của nhân tố sinh thái Trong biên độ sinh thái của một loài, có một khoảng xác định của nhân tố sinh thái mà tại đó cho phép cây sinh trưởng tốt nhất Vì thế, trong nghiên cứu một mặt phải xác định được biên độ thích ứng của cây con với các nhân tố sinh thái, mặt khác phải tìm được ngưỡng tác động thích hợp của nhân tố sinh thái để cây con sinh trưởng và phát triển tốt Do đó, tác giả
đã sử dụng phương pháp sinh thái học thực nghiệm để giải quyết yêu cầu đặt
ra Bằng phương pháp thực nghiệm, trước hết xem xét phản ứng sinh trưởng của cây con theo một cấp biến đổi của nhân tố sinh thái Sau đó, thông qua phương pháp phân tích đối chiếu, đi đến xác định ngưỡng tác động thích hợp của nhân tố sinh thái đối với sinh trưởng của cây con
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Trang 193.3 Vật liệu và phương tiện hỗ trợ nghiên cứu
+ Thước thẳng, thước kẹp palme, cân để đo kích thước, khối lượng của quả, lá và thân cây con
3.4 Các phương pháp tiến hành thí nghiệm
3.4.1 Thu thập và ngâm hạt để gieo
Sau khi thu quả ngoài tự nhiên, cạo bỏ bớt phần thịt ở phía ngoài, tách riêng lấy hạt để gieo ươm Nhằm kích thích cho hạt nảy mầm, dùng phương pháp phổ biến là ngâm hạt trong nước khoảng 6 – 8h Sau đó là gieo hạt vào bầu
Trang 203.4.2 Bố trí thí nghiệm trong vườn ươm
a Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng cây con
+ Lô 1 (che sáng 75%): dùng lưới 75 phủ lên giàn để 25% ánh sáng lọt vào
+ Lô 2 (che sáng 50%): dùng lưới 50 phủ lên giàn để 50% ánh sáng lọt vào
+ Lô 3 (che sáng 25%): dùng lưới 25 phủ lên giàn để 75% ánh sáng lọt vào
+ Lô 4 (không che sáng): ánh sáng 100%
- Mỗi lô gắn bảng chú thích và chụp hình định kỳ hàng tháng để so sánh kết quả giữa các lô
Trang 21o Đường kính tán (Dt, cm): đo độ xòe tán rộng nhất của cây, bằng thước kỹ thuật với độ chính xác 0,1cm
o Số lá trên cây (lá): đếm tổng số lá trên từng cây cho mỗi loại R
o Chiều dài lóng (ℓ, cm): đo bằng thước kỹ thuật với độ chính xác
0,1cm
o Tính sinh khối (B, g/cây)
Sinh khối tươi và khô tuyệt đối được xác định bằng cách cân đo trọng lượng của 3 cây trung bình / lô thí nghiệm ở vào tháng thứ 6
Để đo trọng lượng tươi, các mẫu cây được nhổ lên, phun nước cho sạch đất, để ráo nước và cân tổng trọng lượng / cây Sau đó, tách thành các bộ phận (thân, lá, rễ) và cân riêng Để đo sinh khối khô, các mẫu cây được đưa vào tủ sấy ở nhiệt độ 1050
C trong 20 phút; sau đó, hạ thấp nhiệt độ đến 800C cho đến khi khô kiệt Trọng lượng cây (khô và tươi) được đo lặp lại 3 lần bằng cân phân tích với độ chính xác đến 0,01 gram; lấy kết quả trung bình của 3 lần đo Tỷ lệ chất khô / sinh khối tươi được tính theo phần trăm Phương pháp tính sinh khối được tiến hành tại phòng thí nghiệm Sinh Hóa, trường Đại học Sài Gòn
Trang 22b Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng cây con
- Thành phần hỗn hợp ruột bầu gieo ươm bao gồm đất + phân chuồng +
xơ dừa + tro trấu được trộn theo tỷ lệ nghiệm thức Các thành phần hỗn hợp ruột bầu được trộn đều rồi vô bầu
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên
- Theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con sau gieo trong thời gian 6 tháng
Trang 23o Tính sinh khối (B, g/cây)
3.4.3 Phương tiện xử lý và phân tích số liệu
Tất cả các số liệu đo đếm về tỷ lệ sống của cây, chiều cao (H, cm), đường kính cổ rễ (D0, mm), đường kính tán (Dt, cm), số lá trên cây, kích thước lóng (l, cm) và sinh khối của Đầu Lân ở các giai đoạn tuổi khác nhau trên các nghiệm thức đều được xử lý bằng phương pháp thống kê Trước hết, tính các đặc trưng thống kê mô tả cho các tham số đường kính, chiều cao, sinh khối… (trị bình quân, phương sai, sai tiêu chuẩn mẫu, biến động…) Sau đó, thực hiện việc so sánh từng chỉ tiêu bằng phương pháp phân tích phương sai
Những tính toán thống kê mô tả và kiểm định các giả thuyết được thực hiện bằng phần mềm thống kê Statgraphics 3.0 và bảng tính Excel Sau đó, những kết quả tính toán được tổng hợp thành bảng và đồ thị để phân tích
Trang 24CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của ánh sáng đến tăng trưởng của cây con
4.1.1 Trồng cây:
a Chuẩn bị bầu:
3 tháng đầu, số lượng bầu được sử dụng là 400 bầu Kích thước bầu 10 x 15cm Vỏ bầu được làm bằng chất dẻo tổng hợp PE có đục lỗ tròn đường kính 5mm ở 2 bên và dưới đáy Thành phần ruột bầu gồm: đất thịt (75%), đất cát (25%), phân hỗn hợp (10%) Sắp xếp 400 bầu vào 4 lô, mỗi lô rộng 1m5, dài 1m5, tưới nước cho ẩm, lượng nước tưới trung bình10 lít/m2 Mỗi bầu gieo 1 hạt, dùng que chọc lỗ trong đất bầu sâu khoảng 1cm rồi cho hạt vào, lấp đất và ém nhẹ
3 tháng sau, đảo bầu Số lượng bầu sử dụng là 355 bầu tương ứng với số lượng cây còn sống Kích thước 20 x 30cm, không đổi thành phần đất trong ruột bầu Mỗi bầu cho đất vào ½ ruột Sau đó, chuyển toàn bộ đất và cây từ bầu cũ sang bầu mới, rồi cho thêm đất vào bầu để ém chặt cây
b Tiến hành che nắng:
Ba tháng đầu, làm giàn che cao khoảng 50cm, dùng lưới phủ lên 3 lô, bố trí mỗi lô là 1 độ che phủ khác nhau (75%, 50% và 25%)
Ba tháng sau, vẫn dùng 3 loại lưới trên nhưng làm giàn che cao lên 1m
c Chăm sóc – Tưới nước:
Trong 6 tháng thực hiện, hằng ngày, tưới nước bằng vòi sen 2 lần vào 2 buổi: sáng, chiều, mỗi lần 10 lít/lô Trong quá trình cây phát triển, thường xuyên làm cỏ và theo dõi sâu bệnh, khi cây có hiện tượng rễ phát triển ra ngoài bầu thì tiến hành đảo bầu và xén rễ
Trang 25 Một số biện pháp đề nghị để cây phát triển tốt trong vườn ươm:
+ Vệ sinh cỏ ở luống trước và sau khi đặt bầu, làm sạch cỏ ở xung quanh vườn ươm
+ Thường xuyên kiểm tra và bắt sâu, cào cào gây hại cho cây
+ Đối với lá có đốm trắng, lá xoắn thì hái bỏ, phơi khô và đốt
Trang 26
A Sâu ăn lá; B Cào cào; C Bệnh lá xoắn; D Bệnh đốm trắng
Hình 4.1 Các dạng sâu bệnh ở cây Đầu lân Couroupita guianensis Aubl
b Tỉ lệ sống của cây con trong điều kiện vườn ươm:
Kết quả thu được qua 6 tháng gieo ươm và theo dõi tỷ lệ sống của các cây con ở các lô che sáng:
Bảng 4.1 Tỉ lệ sống của cây con ở 4 lô
Trang 27Qua kết quả phân tích ở bảng 2 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.1 cùng
đồ thị 4.4 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Tỷ lệ sống của cây con qua 3 tháng đầu đều trên 90%, đặc biệt là ở lô 2 và lô
3 (trên 97%) Điều này cho thấy với mức độ che sáng vừa phải từ 25% (lô 3) đến 50% (lô 2) thì tỷ lệ sống của cây con sẽ cao Lô 1 (75%) độ ẩm cao, cây con dễ chết, lô 4 (không che sáng) lượng nắng cao làm lá dễ bị vàng và sâu bệnh
Từ tháng thứ 3 trở đi, sức sống của cây đã hoàn toàn ổn định về số lượng
c Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự tăng trưởng của cây con:
* Tăng trưởng về chiều cao:
+ Về hình thái: Lô 1 có chiều cao cây con thấp nhất, còn các cây ở lô 4 lại cao nhất
+ Về chiều cao: theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của cây con trong vườn ươm sau 3 tháng, kết quả tăng trưởng chiều cao của cây như sau:
Bảng 4.2 Chiều cao trung bình của cây con mỗi tháng
Trang 28Bảng 4.3 Gia tăng chiều cao trung bình của cây mỗi tháng
Hình 4.3 Đồ thị tăng trưởng chiều cao của cây con trong vườn ươm
Qua kết quả phân tích ở bảng 1, bảng 3 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.2, 4.3 cùng đồ thị 4.5 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Lô 4 đối chứng (không che sáng), tháng đầu tiên, có chiều cao thấp nhất (6,64cm) Tháng thứ 2, bắt đầu có sự tăng trưởng khá mạnh, tăng 3,85cm Bắt
Trang 29đầu từ tháng thứ 3 trở đi, lô 1 luôn có sự tăng trưởng mạnh và chiều cao luôn dẫn đầu so với 3 lô còn lại
Lô 3 (25%) có sự tăng trưởng chậm qua từng tháng nhưng ở tháng cuối có sự tăng trưởng vượt bậc, tăng 20,05cm
Lô 1, lô 2 có sự tăng trưởng đồng đều qua từng tháng Riêng ở 2 tháng đầu, đây là 2 lô có chiều cao trung bình khá cao so với các lô còn lại Nhưng vào 2 tháng cuối, sự tăng trưởng chiều cao lại không nhiều Trong đó, có lô 1 đạt chiều cao thấp nhất (29,82cm)
Như vậy, trong 2 tháng đầu, có thể che sáng cho cây theo mức độ giảm dần để cây tăng trưởng tốt về chiều cao Từ tháng thứ 3 trở đi, cây không cần che sáng
* Tăng trưởng về đường kính cổ rễ
Bảng 4.4 Đường kính cổ rễ trung bình của cây con mỗi tháng
Bảng 4.5 Gia tăng đường kính cổ rễ trung bình của cây mỗi tháng
Tháng Gia tăng đường kính cổ rễ trung bình
Trang 30Lô 4 luôn có đường kính cổ rễ lớn nhất và sự gia tăng đường kính cổ rễ gần như là mạnh nhất qua từng tháng Tháng thứ 3, đường kính cổ rễ ở lô 4 đạt 5,94mm; tăng 0,8mm; tháng thứ 5, đạt 7,93mm; tăng 1,13mm; đặc biệt là tháng cuối đạt 11,21mm; tăng 3,28mm
Trang 31Lô 3 và lô 2 có đường kính cổ rễ và sự gia tăng đường kính cổ rễ gần như tương đương nhau Ở tháng thứ 1; lô 2 đạt 3,95mm; lô 3 đạt 4,06mm Tháng thứ 2; lô 2 đạt 4,81mm; lô 3 đạt 4,7mm Tháng thứ 4; lô 2 đạt 5,89mm tăng 1,05mm; lô 3 đạt 6,16mm tăng 0,98mm Tháng thứ 5; lô 2 tăng 0,32mm; lô 3 tăng 0,39mm
Lô 1 luôn có đường kính cổ rễ nhỏ nhất và sự gia tăng đường kính cổ rễ không được đều so với lô 4 đối chứng Tháng thứ 1; lô 1 chỉ đạt 3,87mm; tháng thứ 2 đạt 4,58mm; tháng thứ 4 đạt 5,29mm; tháng thứ 6 đạt 6,99mm Đây là 4 tháng mà lô 1 có đường kính cổ rễ đạt thấp nhất so với 3 lô còn lại
Về sự gia tăng đường kính cổ rễ, tháng thứ 2 tăng 0,71mm nhưng tháng thứ 3 chỉ tăng 0,3mm; tháng thứ 5 tăng 1,02mm nhưng tháng thứ 6 chỉ tăng 0,68mm
Như vậy, qua 6 tháng theo dõi, chúng tôi nhận thấy đường kính cổ rễ lớn và
sự gia tăng đường kính cổ rễ đồng đều khi độ che sáng giảm
* Tăng trưởng về đường kính tán:
Bảng 4.6 Đường kính tán trung bình của cây con mỗi tháng
Trang 32Bảng 4.7 Gia tăng đường kính tán trung bình của cây qua mỗi tháng
Hình 4.5 Đồ thị tăng trưởng D t của cây con trong vườn ươm
Qua kết quả phân tích ở bảng 1, bảng 5 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.6, 4.7 cùng đồ thị 4.7 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Ở lô 1 (75%), đường kính tán phát triển nhanh nhất ở 2 tháng đầu nhưng lại phát triển chậm nhất ở 2 tháng cuối Tháng thứ 1, đường kính tán ở lô 1 đạt
Trang 3313,63cm; tháng thứ 2 đạt 20,38 nhưng đến tháng thứ 5, đường kính tán ở lô 1 chỉ đạt 23,57cm; tháng thứ 6; đạt 25,73cm
Lô 2 (50%) và lô 3 (25%) có đường kính tán phát triển gần như tương đương nhau Trong đó, lô 2 có đường kính tán nhỏ nhất vào tháng 3 chỉ đạt 20,48cm
Như vậy, đường kính tán cao khi che sáng cho cây ở 2 tháng đầu, những tháng sau, đường kính tán cao khi không che sáng
* Tăng trưởng về số lượng lá:
Bảng 4.8 Số lƣợng lá trung bình của cây con mỗi tháng
Trang 34Bảng 4.9 Gia tăng số lượng lá trung bình của cây qua mỗi tháng
Tháng Gia tăng số lượng lá trung bình
Hình 4.6 Đồ thị tăng trưởng số lượng lá của cây con trong vườn ươm
Qua kết quả phân tích ở bảng 1, bảng 6 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.8, 4.9 cùng đồ thị 4.8 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Lô 1 (75%) có số lượng lá hầu như là thấp nhất và sự tăng trưởng lá không đồng đều qua từng tháng Tháng thứ 1; lô 1 chỉ đạt 3,9 lá Tháng thứ 2 chỉ đạt
Trang 357,59 lá tăng 3,69 lá Tháng thứ 4 chỉ đạt 17,11 lá tăng 5,35 lá Tháng thứ 5 chỉ đạt 18,48 lá tăng 1,37 lá Tháng cuối cùng, đạt 38,47 lá tăng đến 19,99 lá
Lô 4 (0%) đối chứng có số lượng lá lớn nhất vào các tháng thứ 1 (4,03 lá), tháng thứ 4 (21,66 lá), tháng thứ 5 (26,74 lá) và tháng thứ 6 (39,46 lá) Ngoài
ra, sự gia tăng số lượng lá ở lô 4 đồng đều, không đột ngột như lô 1
Lô 2 và lô 3 gần như tương đương nhau về số lượng lá và sự tăng trưởng số lượng lá
Như vậy, độ che sáng càng cao thì số lượng lá càng giảm và tăng trưởng về số lượng lá cũng không ổn định
* Tăng trưởng về chiều dài lóng:
Bảng 4.10 Chiều dài lóng trung bình của cây con mỗi tháng
Bảng 4.11 Gia tăng kích thước lóng trung bình của cây qua mỗi tháng
Tháng Gia tăng kích thước lóng trung bình
Trang 36Hình 4.7 Đồ thị tăng trưởng ℓ của cây con trong vườn ươm
Qua kết quả phân tích ở bảng 1, bảng 7 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.10, 4.11 cùng đồ thị 4.9 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Lô 1 (75%) có chiều dài lóng dài nhất trong 3 tháng đầu: tháng thứ 1 đạt 0,31cm; tháng thứ 2 đạt 0,56cm; tháng thứ 3 đạt 1,02cm nhưng từ tháng thứ 4 thì sự tăng trưởng của lô 1 bắt đầu chậm lại Đặc biệt ở tháng cuối, chiều dài lóng chỉ đạt 1,19cm và tăng 0,01cm
Lô 2 (50%) luôn có sự tăng trưởng mạnh về chiều dài lóng, đặc biệt vào tháng thứ 4 đạt 1,19cm tăng 0,31cm và tháng thứ 5 đạt 1,27cm tăng 0,08cm Sau 6 tháng, đây là lô có chiều dài lóng trung bình cao nhất 0,9cm
Lô 3 (25%) và lô 4 (0%) là 2 lô có chiều dài lóng trung bình nhỏ nhất qua 6 tháng Trong đó, lô 4 luôn có chiều dài nhỏ nhất so với các lô còn lại: tháng
Trang 37thứ 1 chỉ đạt 0,15cm; tháng thứ 2 đạt 0,29cm; tháng thứ 3 đạt 0,69cm; tháng thứ 4 đạt 0,74cm; tháng thứ 5 đạt 1,05cm
Vậy, độ che sáng càng cao thì chiều dài lóng càng dài
* Ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh khối của cây con:
Bảng 4.12 Sinh khối của cây con ở từng lô sau 6 tháng
Hình 4.8 Đồ thị biểu hiện sinh khối của cây con ở từng lô sau 6 tháng
Qua kết quả thống kê ở bảng 4.12 cùng đồ thị 4.10 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Qua bảng và hình, sinh khối tươi của cây con 6 tháng tuổi dưới các mức che sáng khác nhau dao động từ 9,92 – 20,99g/cây, còn sinh khối khô dao động từ
Trang 38nghiệm biến đổi từ 34,27 – 36,49% Phân tích chi tiết cho thấy cả sinh khối tươi và sinh khối khô đều đạt cao nhất ở lô 4 (không che sáng) và thấp nhất ở
lô 1 (che sáng 75%)
Điều đó chứng tỏ với độ che sáng càng cao thì lượng sinh khối càng giảm
Trang 39
Hình 4.9 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl
1 tháng tuổi
Trang 40Hình 4.10 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl
2 tháng tuổi