Chương trình bổ trợ kiến thức và bài tập thực hành về một loại hình nghệ thuật âm nhạc có lịch sử lâu đời đó là thanh nhạc, giúp cho sinh viên có khả năng phát triển giọng hát biết kết h
Trang 1Thực hiện 01/01/ 2012 - 30/12/2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN - 7
1.1 Quan điểm và phương pháp sư phạm - - 7
1.2 Nội dung, chương trình dạy học học phần thanh nhạc năm thứ hai. 11
1.3 Nghiên cứu tác phẩm - 11
1.4 Dàn dựng tác phẩm - 12
1.5 Giáo dục thẩm mỹ, giáo dục tư tưởng qua tác phẩm - 12
1.6 Các giải pháp khắc phục những khó khăn khi dạy học thanh nhạc 12
CHƯƠNG II PHẦN LÝ THUYẾT - 17
2.1 Thanh quản, thanh đới -17
2.1.1 Nhiệm vụ của thanh quản, thanh đới -17
2.1.2 Nhiệm vụ của môi giọng - -19
2.2 Cuống họng - 22
2.2.1 Miệng - 23
2.3 Bộ máy phát âm và phương pháp phát âm - 24
2.3.1 Khẩu hình khi phát âm -25
2.3.2.Nguyên âm -25
1.3.3 Phụ âm - 26
2.4 Vị trí âm thanh, các khoảng vang cộng minh - 28
2.4.1 Hát có cộng minh - 28
2.4.2 Cộng minh đầu - 28
2.4.3 Cộng minh ngực - 29
2.4.4 Các loại giọng sinh ra sự cộng hưởng khác nhau - 30
2.5 Âm khu của giọng hát Phân biệt tính chất các loại giọng hát. 31
2.5.1.Định nghĩa âm khu và sự phân chia âm khu của các loại giọng hát 31 2.5.2.1 Ý nghĩa quan trọng của việc xác định, phân loại giọng hát 31 2.5.2.2 Những cách xác định giọng hát - 33
2.6 Đặc điểm của từng loại giọng hát -36
2.6.1.Giọng nữ - 36
Trang 22.6.2.Giọng nam - 37
CHƯƠNG III PHẦN THỰC HÀNH - 39
3.1 Các bài luyện tập -39
3.2.Danhmục tác phẩm sử dụng trong học phần thanh nhạc năm II -41
3.3 Hướng dẫn học tập - - 42
3.3.1 Bài vocalise ( conconne ) - 42
3.3.2 Dân ca việt Nam - - -48
3.3.3 Ca khúc nước ngoài -52
3.3.4 Ca khúc Việt Nam - 57
KẾT LUẬN - 72
Tài liệu tham khảo - 73 Phụ lục
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
+ Lý do chọn đề tài:
Với những yêu cầu cấp bách cho sự nghiệp giáo dục Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7/11/năm 2007 của Bộ Chính Trị về tổ chức “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ “ Xây dựng mục tiêu, thiết kế lại chương trình, phương pháp giáo dục…” Nghị quyết có nói rõ đến việc phải tìm ra cách thức đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy nhằm đem lại hiệu quả cao hơn
+ Căn cứ chỉ thị số 4899/2009/CT-BGD&ĐT ngày 4/8/2009 của Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục phổ thông,GDMN và giáo dục thường xuyên năm học 2009- 2010
+ Trong thời kỳ đổi mới và phát triển mọi mặt về kinh tế-văn hóa- chính trị của xã hội hiện nay đảng và nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề giáo dục con người phát triển toàn diện đặc biệt là thế hệ trẻ
+ Giáo dục đã trở thành nhân tố tích cực, một động lực thúc đẩy sự phát triển của sản xuất mà sản phẩm chính là nguồn nhân lực cho xã hội, mở đường cho sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa…Đại hội VIII của Đảng ta khẳng định:
“Phát triển giáo dục và khoa học là quốc sách hàng đầu nhằm xây dựng chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh chóng và bền vững, mau chóng sánh vai được với các nước phát triển trong khu vực và thế giới” Từ ý nghĩa và tầm quan trọng ấy mà đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng một cách toàn diện và hiệu quả cao
Từ trước đến nay tài liệu viết cho ngành âm nhạc nói chung và bộ môn thanh nhạc nói riêng rất ít lý thuyết cho bộ môn này Hầu như ở các cơ sở đào tạo thanh nhạc chỉ chú tâm đến dạy thực hành luyện thanh, luyện giọng và dàn dựng bài hát
Trang 4Hoặc có những tài liệu viết về thanh nhạc nhưng chưa phù hợp với ngành sư phạm trong trường Đại Học Sài Gòn Qua đó chúng tôi tâm niệm rằng đã là ngành sư phạm thì phải được đào tạo cho sinh viên có hệ thống, hiểu và nắm vững các kiến thức cơ bản liên quan đến môn học để có một chương trình và nội dung phù hợp giúp sinh viên có phương pháp học tập một cách tốt nhất Năm 2011 chúng tôi đã nghiên cứu và viết “Đổi mới chương trình và nội dung giảng dạy thanh nhạc cho năm thứ nhất đại học sư phạm âm nhạc” tài liệu đã nghiệm thu và đánh giá tốt Và năm nay, chúng tôi cũng mạnh dạn và đem hết tâm huyết nghiên cứu và viết tiếp tục “Đổi mới chương trình và nội dung giảng dạy thanh nhạc năm thứ hai đại học
sư phạm âm nhạc” cho phù hợp với mục đích yêu cầu giảng dạy tại khoa nghệ thuật Trường đại học Sài Gòn
+ Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ xây dựng một xã hội công nghiệp hóa và hiện đại hóa Cùng với thời kỳ mở cửa, hội nhập, ngành văn hóa, giáo dục cũng trên đà phát triển, đang góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nối tiếp nền tảng của sự nghiệp giáo dục
âm nhạc quốc gia đã hình thành trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
đế quốc Mỹ qua các giọng ca của nghệ sĩ đã cống hiến giọng hát phục vụ kháng chiến góp phần giáo dục tư tưởng qua các thời kỳ “tiếng hát át tiếng bom” Trong quá trình đó, nhạc viện Hà Nội và nhạc viện các nước Xã hội Chủ nghĩa đã giúp ta đào tạo các ca sĩ, nhạc sĩ, giảng viên về âm nhạc, giúp Việt Nam có một đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật có trình độ nhất định Việc học tập tiếp thu và phát triển văn hóa nghệ thuật đang góp phần quan trọng trong cuộc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Song song vào việc phát triển của văn hóa giáo dục, một số tài liệu và giáo trình âm nhạc được viết và dịch thuật nhưng số lượng khá khiếm tốn Riêng về bộ môn thanh nhạc thì chỉ có một số tài liệu của Phó giáo Sư Trung Kiên “Phương pháp học sư phạm thanh nhạc” viết về chuyên ngành thanh nhạc, tức đào tạo ca sĩ chuyên nghiệp Phó giáo
sư Mai Khanh, viết về giáo trình đào tạo ca hát cho người công tác văn hóa văn nghệ Và một số bài viết của Nghệ sĩ nhân dân Lô Thanh về kỹ thuật thanh nhạc dùng cho ca sĩ
Bộ môn thanh nhạc trong chương trình đào tạo sinh viên đại học sư phạm âm nhạc là môn học bắt buộc và dạy xuyên suốt 8 học kỳ Việc soạn, viết giáo trình để dạy và học bộ môn cho phù hợp với trình độ và đối tượng học là vô cùng quan trọng Chúng tôi đã tham khảo các giáo trình thanh nhạc cho nhiều đối tượng học
Trang 5cộng với nhiều năm giảng dạy thanh nhạc tại trường, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu
và viết tiếp “đổi mới chương trình và nội dung giảng dạy thanh nhạc năm thứ hai” nhằm để giảng viên có thể lựa chọn phương pháp dạy và chọn bài để phù hợp với trình độ của từng sinh viên giỏi, khá, trung bình và một chương trình phù hợp để giảng dạy tại các trường đào tạo giáo viên sư phạm âm nhạc
+ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Mục đích - Nhiệm vụ
Trong quá trình giáo dục, đào tạo hòan thiện các yêu cầu cần thiết trong chuyên ngành, giúp sinh viên phát triển khả năng chuyên môn, tình yêu đối với nghề nghiệp, tin tưởng vào sức mạnh, khả năng của mình, đồng thời khao khát vượt qua những khó khăn trên con đường đã chọn Vì vậy, việc nghiên cứu để đổi mới chương trình, nội dung dạy và học bộ môn sư phạm thanh nhạc phải chứa đựng những cơ sở khoa học để thực hiện những yêu cầu cần thiết của từng đối tượng sinh viên
Chương trình bổ trợ kiến thức và bài tập thực hành về một loại hình nghệ thuật
âm nhạc có lịch sử lâu đời đó là thanh nhạc, giúp cho sinh viên có khả năng phát triển giọng hát biết kết hợp hát có kỹ thuật và nghệ thuật để hỗ trợ cho việc giảng dạy, học tập âm nhạc có hệ thống, phát triển tiếp ở các năm sau
Chúng tôi nghiên cứu những chương trình và đề tài trên kết hợp với một số tư
liệu khác, từ đó viết ra việc đổi mới chương trình và nội dung dạy thanh nhạc năm
thứ II đại học sư phạm âm nhạc tại khoa nghệ thuật Trường đại học Sài Gòn
+ Khách thể nghiên cứu:
- Các bộ phận tạo ra giọng hát và phát triển giọng hát của con người
- Các phương pháp xác định giọng hát của người học hát
- Một số tài liệu và bài tập thực hành luyện tập giảng dạy thanh nhạc 2A, 2B
+ Đối tƣợng nghiên cứu:
- Chương trình học thanh nhạc của sinh viên học sư phạm âm nhạc năm thứ II
- Những giáo trình được giảng dạy tại các trường nghệ thuật âm nhạc
- Băng, đĩa các bài luyện tập tham khảo
+ Giới hạn, phạm vi nghiên cứu đề tài:
Giới hạn nghiên cứu đổi mới cho phù hợp chương trình và nội dung về thanh nhạc cho sinh viên học sư đại học phạm năm hai (thanh nhạc 2A và thanh nhạc 2B)
+ Nội dung nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu gồm phần mở đầu, chương I, chương II, chương III và kết luận
- Phần mở đầu
Trang 6- Chương 1 Cơ sở lý luận
- Chương 2 Phần lý thuyết
- Chương 3 Phần thực hành
+ Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu các tài liệu
Phương pháp quan sát quá trình học tập của sinh viên
Phương pháp đàm thoại cùng đồng nghiệp và sinh viên
Phương pháp thực hành, ứng dụng từng nhóm, cá nhân sinh viên
Phương pháp trực quan, thị phạm trên lớp, xem, nghe băng đĩa…
+ Sản phẩm dự kiến của đề tài:
Hoàn thành việc nghiên cứu khoa học đổi mới nội dung và chương trình giảng
dạy thanh nhạc năm thứ hai đại học sư phạm âm nhạc Viết khoảng 73 trang
+ Ý nghĩa, hiệu quả của đề tài:
Dùng làm tài liệu trong giảng dạy và học tập cho sinh viên năm thứ hai ngành sư phạm âm nhạc
+ Kế hoạch nghiên cứu: tháng 01- 12/2012
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Ths Lâm Trúc Quyên
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Quan điểm và phương pháp sư phạm
Trong mọi thời đại, giáo dục đều hướng tới sự phát triển toàn diện của con người, bao gồm” đức, trí, thể, mỹ” Ngày nay, yêu cầu về giáo dục toàn diện nhân cách của con người luôn được đặt ra Đặc biệt đối với giáo dục nghệ thuật được xem như phương tiện hữu hiệu góp phần xây dựng nhân cách con người
Ở nước ta, âm nhạc là môn học nghệ thuật được đưa vào trường phổ thông từ sau năm 1954,( hòa bình lập lại ở miền Bắc) Môn học này được lược bỏ trong giai đoạn chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ Cho đến năm 1990 môn âm nhạc được khôi phục trong trường phổ thông, tuy nhiên mới chỉ tập trung ở một số
Trang 7trung tâm lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, v.v… Gần 15 năm trở lại đây, môn Âm nhạc đã được phổ cập trong toàn quốc, đã có vị trí như các môn học khác của chương trình giáo dục âm nhạc ở bậc học phổ thông
Trong thời kỳ hiện nay, nhân loại đang đi vào nền văn minh trí tuệ với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, xu thế của thời đại được thể hiện rõ nét của một xã hội có nền kinh tế tri thức, một xã hội học tập Những thành tựu tiến
bộ của khoa học công nghệ đã làm thay đổi đáng kể hình thức và nội dung mọi mặt của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, v.v… trên phạm vi toàn thế giới
Trước những xu thế mới của thời đại, yêu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta nói chung, các trường đại học - cao đẳng nói riêng, được đặt ra với những thách thức mới.Đặc biệt, với các cơ sở đào tạo có tính đặc thù: vừa là giáo viên, vừa là nghệ
sĩ như chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc thì việc đào tạo giáo viên có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, có phương pháp tư duy khoa học, có nhân cách đạo đức nhằm đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của xã hội là việc làm rất quan trọng, vì vậy nhiệm
vụ đào tạo sinh viên sư phạm âm nhạc cần phải được xác định rõ ràng với các yếu
tố sau:
Phát triển trí tuệ cho sinh viên *
Chắc chắn rằng, một xã hội dựa vào tri thức hẳn phải là một xã hội bắt nguồn
từ tiềm năng con người với những tư duy sáng tạo Vì vậy, phát triển trí tuệ người học là nhiệm vụ thiết yếu đối với tất cả các ngành đào tạo, đó là việc trang bị cho sinh viên những tri thức và kỹ năng nghề nghiệp phù hợp xã hội mới
Cũng như các ngành khác, phát triển trí tuệ cho sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc là nhiệm vụ không thể thiếu trong đào tạo Trong âm nhạc chia ra thành nhiều môn học như: Lý thuyết cơ bản về âm nhạc, Lịch sử âm nhạc, Hoà thanh, Phức điệu…Nội dung các môn học bổ trợ qua lại lẫn nhau Người học âm nhạc nếu không có tri thức âm nhạc thì sẽ không có tư duy âm nhạc Như vậy, việc trang bị tri thức âm nhạc cho sinh viên cần theo một hệ thống logic về phương diện phát triển tư duy
Không những các môn học lý luận, các môn học thực hành như: Nhạc cụ, Thanh nhạc, Xướng âm, Múa…sinh viên cần được sự rèn luyện để có kỹ năng môn học Tuy nhiên, khác với các ngành khác, trong âm nhạc ngoài việc hình thành tri thức và kỹ năng thực hành còn gắn với sự rung cảm Vì vậy, đánh giá nhận thức
Trang 8của người học âm nhạc không chỉ về mặt tư duy thuần tuý mà ở đó không thể thiếu phương diện cảm xúc – một yếu tố quan trọng để thể hiện âm thanh và chuyển tải đến người nghe một cách thuyết phục Đây là một đặc điểm của ngành học nên chúng ta một mặt trang bị cho sinh viên tri thức âm nhạc song tri thức đó lại gắn với sự rung cảm Chính cảm xúc trong âm nhạc đã phát huy ở sinh viên sự tưởng tượng, sự sáng tạo và từ đây kích thích ở sinh viên sự hứng thú say mê học tập
Ở nhiệm vụ này, việc trang bị tri thức âm nhạc cho sinh viên là quan trọng song không có nghĩa là tri thức càng nhiều thì tư duy càng phát triển Tri thức về
âm nhạc hay những tri thức có liên quan đến ngành học là vô cùng rộng lớn, vì vậy việc trang bị tri thức cho sinh viên cần có sự lựa chọn cho phù hợp với nghề nghiệp của họ - giáo viên âm nhạc tiểu học và THCS
Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, đất nước hội nhập, giao lưu văn hóa được mở rộng, việc trang bị tri thức cho sinh viên chuyên ngành
Sư phạm Âm nhạc cần phải hiện đại, cập nhật Ngoài ra, sinh viên còn phải nắm được những tri thức khoa học khác để bổ trợ cho nghề nghiệp của mình
Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho sinh viên Sư phạm Âm nhạc, hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của giảng viên là rất cần thiết
Đối với các môn học Lý luận âm nhạc như: Lý thuyết âm nhạc cơ bản, Hòa
âm, Hình thức Âm nhạc… tùy vào đặc điểm môn học mà giảng viên có thể sử dụng kết hợp các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học khác nhau: thuyết
trình- diễn giảng,vấn đáp, đóng vai, đố vui, làm việc theo nhóm, v.v…Phương
pháp tích hợp, liên môn cũng nên khai thác ở các môn học lý luận âm nhạc Để hỗ trợ cho việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, giảng viên dạy các môn lý luận âm nhạc nên sử dụng phương tiện dạy học hiện đại như: Máy tính, Projector, máy Cassette…các phần mềm tin học chuyên ngành, một số tư liệu trên các Website, v.v… Nói chung, những hình ảnh và âm thanh được các giảng viên khai thác từ các phầm mềm âm nhạc và từ các địa chỉ trên mạng internet sẽ làm phong phú cho nội dung bài học, giờ học trở nên sinh động, tạo ra không ít hứng thú và tác động tích cực vào tinh thần học của sinh viên
Cùng với việc trang bị tri thức cho sinh viên, chúng ta cần rèn luyện cho sinh
viên các kỹ năng nghề nghiệp từ đơn giản đến phức tạp Đối với các môn học thực hành âm nhạc như: Ký-Xướng âm,Thanh nhạc, Nhạc cụ, Múa…trên cơ sở của
phương pháp dạy học truyền thống, giảng viên có thể thay đổi về hình thức tổ chức
Trang 9và truyền thụ kiến thức như: phối hợp giữa cá nhân và tập thể, hạn chế phương pháp làm mẫu và thay vào đó bằng sự gợi mở tư duy trong thực hành có sáng tạo, yêu cầu về khả năng sáng tạo của sinh viên Phương pháp chính mà chúng ta vận dụng vào các môn học thực hành là: thực hành luyện tập Các bài tập thực hành của sinh viên cần được lặp đi lặp lại nhiều lần để hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết; phương pháp luyện tập từ thấp đến cao, dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau
Trang bị cho sinh viên phương pháp tư duy khoa học
Nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc không chỉ phát triển trí tuệ cho sinh viên mà cần phải trang bị cho họ phương pháp tư duy khoa học, cách tiếp cận đối tượng
Tự học là một vấn đề rất quan trọng đối với tất cả các sinh viên, vì vậy nhiệm vụ của người giảng viên là phải trang bị cho sinh viên có được phương pháp
tự học Phương pháp tự học của sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc được biểu hiện như:độc lập suy nghĩ để tiếp thu tri thức; linh hoạt vận dụng tri thức vào thực tiễn; lập cho mình kế hoạch học tập khoa học và hiệu quả; kết hợp hài hoà giữa việc tự học với sự hướng dẫn của giảng viên, với các hoạt động học tập của tập thể; chuyển dần từ phương pháp học tập sang phương pháp nghiên cứu để có
kế hoạch học tập tốt hơn
(* trích lược Tham luận Hội thảo Giáo dục Nghệ thuật và cuộc sống)
Giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên
Bác Hồ đã nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không
có tài làm việc gì cũng khó” Vì vậy, song song với việc phát triển trí tuệ và trang
bị phương pháp tư duy khoa học cho sinh viên, “dạy người” là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của trường Đại Học Sài Gòn hiện nay
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời kỳ mới của một xã hội với chính sách mở cửa, hội nhập; sự bùng nổ thông tin qua phương tiện truyền thông, báo chí, Internet, v.v… đã ảnh hưởng nhiều mặt tích cực cũng như tiêu cực tới đạo đức, lối sống của người dân Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ nói riêng trong đó một
bộ phận không nhỏ là sinh viên
Trang 10Bên cạnh nhiều mặt tích cực, sinh viên nói chung còn có những biểu hiện thiếu lành mạnh trong đạo đức, lối sống như: đẩy việc khó cho người khác, tinh thần tập thể kém, làm mất trật tự nơi công cộng, nói tục, v.v… Ở sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc còn xuất hiện một số cá nhân tự coi mình là nghệ sĩ, song thực chất là sự hiểu sai về nghệ sĩ nên họ đã có những hành vi, thái độ thái quá, thiếu lành mạnh như: uống rượu say, hút thuốc, ăn mặc không phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt, v.v…
Sinh viên Sư phạm Âm nhạc, những nhà giáo tương lai sẽ trực tiếp giáo dục thẩm mỹ nghệ thuật cho thế hệ trẻ của đất nước, đạo đức, lối sống của họ sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới đạo đức, lối sống của học sinh Tiểu học và THCS sau này Nhiều sinh viên có năng lực biểu diễn âm nhạc có thể trở thành “sứ giả” đem đến cho công chúng cái đẹp vốn có của nghệ thuật âm nhạc, phong cách ăn mặc và thái
độ của họ sẽ tác động tới công chúng Vì vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế trường
sư phạm, việc giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà giáo dục
Tóm lại, ba nhiệm vụphát triển trí tuệ, trang bị phương pháp tư duy khoa học, giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc là điều cần thiết của mỗi trường đại học, cao đẳng, mỗi giảng viên trong quá trình đào tạo Cả ba nhiệm vụ này có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau Việc trang
bị tri thức và kỹ năng âm nhạc cùng các môn học khác trong chương trình đào tạo
sẽ hình thành lý tưởng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Phát triển trí trí tuệ giúp cho sinh viên Sư phạm Âm nhạc lĩnh hội tri thức nhanh chóng, giúp họ hình thành thế giới quan, có phương pháp luận đúng đắn Ngược lại, khi sinh viên Sư phạm
Âm nhạc có phẩm chất đạo đức, có thế giới quan, họ sẽ có động cơ học tập, động
cơ để nắm tri thức, động cơ để phát triển trí tuệ Thực hiện tốt các nhiệm vụ trên đây của trường đại học, đào tạo Sư phạm Âm nhạc sẽ giúp người giáo viên âm nhạc tương lai có đủ bản lĩnh vững bước trên bục giảng của thời đại mới
1 2.Nội dung, chương trình dạy học học phần thanh nhạc năm thứ hai
Chia làm 2 học phần: học phần 1 là thanh nhạc 2A 30 tiết và học phần thanh nhạc 2B 30 tiết
Gồm lý thuyết và thực hành dạy đan xen nhau
Sắp xếp chương trình dạy như sau: Buổi đầu tiên giới thiệu cho sinh viên làm quen, cách đọc, tìm hiểu và nghe giảng lý thuyết 5 tiết.Các buổi sau cũng dạy đan
Trang 11xen giữa lý thuyết và thực hành từ dễ đến khó dần Dạy khoảng 10 tiết lý thuyết cho cả nhóm, dạy thực hành luyện thanh, vỡ bài cho nhóm, cá nhân, chỉnh sửa nhóm, cá nhân Trong lúc dạy giảng viên nắm được những thuận lợi và khó khăn
về chất giọng của từng sinh viên mà có kế hoạch, chỉnh sửa, phát triển cho phù hợp Sau đó sinh viên được ráp nhạc đệm với giảng viên đệm đàn piano để chuẩn
bị cho thi kết thúc học phần
Một số câu luyện thanh, bài luyện thanh và bài hát quy định trong năm thứ hai;
Từ 5 -> 7 câu luyện thanh từ dễ đến khó dần, quãng 2, 3, 4, 5, 8
Từ 4 -> 6 bài luyện thanh từ bài 5 đến bài 10 conconne
Một trong những nhiệm vụ của giảng viên dạy thanh nhạc là phải biết lựa chọn những bài hát phù hợp với chương trình đào tạo và phù hợp với trình độ của sinh viên Những bài hát đó phải từ dễ đến khó dần và có nội dung, tiết tấu, giai điệu, lời ca phù hợp với chương trình chung của cấp học Ngoài ra các em sau khi học còn có thể thực hành hát các bài để biểu diễn cho các chương trình văn nghệ của lớp, của trường…Đấy cũng là giúp các em thường xuyên trao dồi khả năng hát của mình, “hát hay không bằng hay hát” Khi các em tham gia thường xuyên vào các hoạt động văn nghệ ngoại khóa giúp các em có nhiều kinh nghiệm để khi ra trường
có thể tham gia, dàn dựng các phong trào văn nghệ cho cơ quan, trường học…
1.3 Nghiên cứu tác phẩm:
Đây là một khâu quan trọng của người giảng dạy Ở mỗi tác phẩm, khi đã được chọn để dàn dựng cho lớp, nó phải được giảng viên hướng dẫn để sinh viên nghiên cứu, tìm hiểu thật cẩn thận về kỹ thuật hát, cách hát nào cho phù hợp với tính chất
và nội dung của tác phẩm Có bài thì phù hợp với cách hát legato( hát liền tiếng),
có bài thì chỉ hợp với cách hát staccato (hát âm nảy), hoặc hát marcato cho những tác phẩm mang tính chất khỏe khoắn, hùng tráng…
Trước khi tiến hành dàn dựng, giảng viên cần hướng dẫn sinh viên nghiên cứu
kĩ về tác giả, bố cục tác phẩm, hình thức, tính chất, giọng, nhịp, ca từ, tiết tấu, luyến, ngắt, ngân, câu, đoạn, chỗ lấy hơi, ngắt câu cho chính xác, hợp lý, tạo ra cách hát cho phù hợp, hiệu quả Tránh tình trạng hát cẩu thả, sai rồi mới chỉnh sửa mất thời gian, mệt mỏi, hiệu quả kém
1.4 Dàn dựng tác phẩm
Sau khi đã phân tích, nghiên cứu bài hát, vỡ bài hát là cách làm từng bước để sinh viên hát đúng, chính xác bằng cách cho sinh viên xướng âm từng câu theo lối móc xích, nối lại các câu trong một đoạn có chỉnh sửa cho chính xác, có thể chia lớp thành nhiều nhóm để dễ luyện tập Nhóm này hát, nhóm kia nghe và nhận xét
Trang 12Nếu em nào hát sai giảng viên sẽ kịp thời có biện pháp sửa sai, nhóm còn lại sẽ rút được kinh nghiệm và cứ thế giảng viên cho các em tập luyện đến hết bài
Tùy theo bài hát ngắn dài, đơn giản hay nâng cao mà giảng viên có thể phân chia thời gian luyện tập cho thích hợp, có thể dạy xen lý thuyết cho các em đỡ mệt Sau khi các em hát đúng, chính xác, gỉảng viên luyện tập để các em nắm vững
và tiến hành ráp lời có kết hợp việc lấy hơi, nhả chữ, khẩu hình…
1.5 Giáo dục thẩm mỹ, giáo dục tư tưởng qua tác phẩm
Muốn thể hiện bài hát tốt, người hát phải biết kết hợp thể hiện hát có sắc thái
và một số kỹ thuật hát Người có kỹ thuật hát tốt chưa hẳn là người hát hay Điều khó trong ca hát là ngoài hát đúng, hát có kỹ thuật rồi người hát phải từng bước ứng dụng kĩ thuật hát, hát phải có nội tâm để thể hiện phần hồn của tác phẩm Điều quan trọng là phải hướng dẫn, phân tích kỹ nội dung của bài hát như khi hát một số bài về nội dung ca ngợi quê hương, đất nước, các tấm gương hy sinh của các vị anh hùng, tình cảm của cha, mẹ, anh em, đồng đội hay bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào đều có cái hay cái đẹp riêng Giảng viên phải có trách nhiệm dẫn dắt các em thấy được những cách thể hiện để từ một tác phẩm viết trên giấy, các em cần nắm được ý tưởng của tác giả và luyện tập thường xuyên để ứng dụng những phần tiềm
ẩn để thể hiện qua giọng hát của mình và dần dần biến nó thành một tác phẩn nghệ thuật được thể hiện qua giọng hát của người trình bày Một ca khúc, khi tác giả viết
ra thì bao hàm nhiều tình tiết và nội dung là muốn nói lên điều gì đó trong cuộc sống Nó có chủ đề về tư tưởng và có tính giáo dục rất cao Bởi thế, khi trình bày, người hát biết lột tả nội dung bài qua giọng hát và thể hiện được phần hồn của tác phẩm Có những người đã có sẵn giọng hát trời cho và đã thành công qua một số bài hát nhưng chỉ thể hiện được một vài bài phù hợp với chất giọng mà thôi Vì họ không được học tập có hệ thống và quá trình thực tế, nếu một người vừa có giọng hát vừa được học tập có hệ thống và khoa học thì việc hát có kỹ thuật cộng với thể hiện tốt nội dung của bài hát thì họ sẽ tiến rất xa và giữ được giọng hát lâu bền
1.6 Các giải pháp khắc phục những khó khăn khi dạy học thanh nhạc
Một số giải pháp để sửa chữa những sai lệch về âm sắc của giọng hát
“Mỗi giọng hát có một âm sắc đặc biệt, qua âm sắc ta nhận ra được giọng hát quen biết Không phải sức mạnh của âm thanh hay âm vực là giá trị bậc nhất của giọng hát, mà giá trị này dành cho âm sắc Một giọng hát không khỏe lắm nhưng âm sắc đẹp sẽ hấp dẫn hơn nhiều so với giọng hát khỏe nhưng âm sắc không đẹp Tóm lại, âm sắc là điều kiện tự nhiên cơ bản nhất của giọng hát Muốn học hát phải có giọng, mà ở đây trước hết là âm sắc đẹp Bởi vậy, trong khi học tập và biểu
Trang 13diễn cần phải gìn giữ và phát triển cho giọng hát ngày càng đẹp và phong phú về
âm sắc Nếu thấy có những sai lệch về kỹ thuật, ảnh hưởng xấu tới âm sắc, phải kịp thời sửa chữa ngay
Giải pháp sửa chữa những sai lệch về âm sắc của giọng hát
Một số người vì không nắm vững kỹ thuật, do chưa được học tập đầy đủ, học không đúng phương pháp, đã mắc phải một số những sai lệch về âm sắc, như tập hát giọng sâu cổ, giọng mũi Và một số sai lệch khác về kỹ thuật muốn sửa được những sai lệch này, điều trước tiên là người hát phải tự nhận biết sai lệch mà mình mắc phải, sau đó tìm nguyên nhân gây ra những sai lệch đó và cùng với kinh nghiệm của giảng viên có biện pháp sửa chữa cho phù hợp, có hiệu quả
Những sai lệch mà người học hát thường gặp phải là:
- Giải pháp 1: Giọng cổ: Giọng cổ là một sai lệch khá phổ biến Âm sắc giọng
cổ không trong sáng, không êm ái mà gằn tiếng, nặng nề, âm thanh khó thoát ra ngoài miệng Người hát đúng, âm thanh phát ra sẽ thoải mái, tự nhiên, không căng thẳng Còn người mắc tật hát giọng ở cổ, khi nghe âm thanh của họ ta thấy có sự chà xát, gằn tiếng, căng thẳng ở sâu trong cổ họng Ở các giọng nam, tật hát giọng
cổ thường do hát âm thanh mở ở âm khu cao của giọng, hoặc hát âm thanh đóng sâu quá Ở các giọng nữ, sai lệch hát giọng cổ thường xảy ra khi hát âm khu ngực, đôi khi do hát giọng ngực lên nốt cao quá Cả giọng nam và nữ, nếu mắc tật hát giọng cổ khi hát những nốt cao ta nghe âm thanh như tiếng gào, chứ không phải tiếng hát Tóm lại, sai lệch về hát giọng cổ do mấy nguyên nhân sau đây:
- Do hát âm thanh mở với hơi thở quá nông, không nén Muốn khắc phục sai
lệch này phải tập hát với hơi thở sâu hơn, nén và đẩy hơi đều đặn, liên tục, làm dịu bớt mức căng thẳng của thanh đới để cho thanh đới rung lên được linh hoạt
- Do hát âm thanh đóng không đúng Trường hợp này phải tập lại cả cách hát
âm thanh mở, tức là những nốt thấp và trung bình của giọng, rồi trên cơ sở âm thanh mở đúng, mới tập hát âm thanh đóng ở âm khu cao
- Do bộ phận truyền âm làm việc không đúng, chủ yếu là hoạt động ở ngoài
miệng, thường là do hàm dưới quá cứng, lưỡi cứng, hàm ếch mềm không nhấc lên được Cách sửa chữa ở trường hợp này là khắc phục những hoạt động không đúng của miệng, cụ thể là tập cho hàm dưới mềm mại, lưỡi hoạt động linh hoạt và hàm ếch mềm nhấc lên mềm mại ở mức độ cần thiết
- Do hát quá sức Như trên đã phân tích, giá trị chủ yếu của âm thanh là âm sắc
và độ vang(cộng minh) của nó, chứ không phải là to hay nhỏ Người ca hát có kinh nghiệm là người biết vận dụng sức lực một cách tối thiểu mà hiệu quả tiếng hát đạt
Trang 14mức tối đa Không bao giờ nên hát hết sức hoặc quá sức, có như vậy giọng hát cũng như cơ thể mới hoạt động thoải mái, xử lý được mọi yêu cầu về kỹ thuật, biểu hiện được tình cảm một cách chủ động và linh hoạt Khi sửa tật hát giọng cổ do quen hát quá to gây ra, không nên ngay tức khắc tập hát nhỏ, vì làm như vậy có thể dẫn đến sai lệch là hát không nén hơi thở (còn gọi là hơi thở không có điểm tựa)
Ta phải tập cho giọng hát cũng như cơ thể quen dần với trạng thái mềm mại Một biện pháp có hiệu quả tốt là chọn những bài hát có giai điệu êm dịu, hoặc những bài hát có tốc độ nhanh, đòi hỏi âm thanh nhẹ nhàng, trong sáng, linh hoạt Nếu người hát có nhạc cảm tốt thì với những bài hát loại đó sẽ tìm ra được lối hát phù hợp Khi tập những bài luyện âm, không nên chọn những bài có tốc độ chậm dễ có điều kiện để hát gằn cổ, còn tốc độ nhanh dễ tránh được sai lệch đó Tập những bài
có tốc độ nhanh, tức là những nốt nhạc có trường độ ngắn, đòi hỏi âm thanh linh hoạt, sẽ giải phóng được phần nào sự căng thẳng không cần thiết của giọng hát Luyện tập để khắc phục sai lệch hát giọng cổ là một công việc phức tạp, phải kiên trì Điều chủ yếu là bản thân người hát phải tự thấy sai lệch và phải cố gắng luyện tập kiên trì mới có kết quả
Giải pháp 2: Giọng mũi: Giọng mũi là một sai lệch mà các giọng hát cao dễ
mắc phải Nguyên nhân là do chưa hiểu và thực hiện chưa tốt yêu cầu về vị trí cao của âm thanh, nhầm lẫn giữa vị trí cao của âm thanh và giọng mũi Sai lệch này do
sự hoạt động không đúng của các bộ phận sau đây: Hàm ếch mềm khi hát hạ quá thấp, không nhấc lên để mở lối cho âm thanh vang ở miệng, mà âm thanh theo hơi thở hoàn toàn đi vào mũi Giọng mũi còn do hát với hơi thở quá nông, không nén hơi Âm sắc của giọng mũi xỉn, nghẹt tiếng và yếu Người mắc tật hát giọng mũi sẽ gặp khó khăn khi hát những nốt cao Nếu cố gắng để hát nốt cao thì nhiều khi âm thanh lại bị giọng cổ
Muốn sửa chữa sai lệch này ta phải sửa những hoạt động không đúng của hàm ếch mềm và hơi thở theo các cách tập đã giới thiệu ở những phần trên Khi tập
luyện thanh, nên dùng những nguyên âm mở tiếng như a, ô kết hợp những phụ âm
d,đ,r để bật âm thanh ra ngoài miệng.”*
(* trích dẫn Phương pháp sư phạm âm nhạc – Nguyễn Trung Kiên, nhà xuất bàn viện âm nhạc 2001)
Giải pháp 3: Hát không chuẩn xác cao độ:
Trang 15Yêu cầu của âm nhạc nói chung và ca hát nói riêng, trước hết là sự chuẩn xác về cao độ của âm thanh Nghe một người hát mà cao độ của âm thanh không chuẩn xác, ta cảm thấy khó chịu, mọi biểu hiện đều vì thế mà mất tác dụng không còn có sự hấp dẫn nữa Sự chính xác của âm thanh có ý nghĩa như vậy, nhưng một
số người ca hát không chuyên và có ca sĩ chuyên nghiệp vẫn mắc tật hát không chuẩn xác cao độ, mà ta thường gọi là hát phô: “faux” Có người khi hát, cũng biết
là mình hát không chuẩn xác nhưng không điều chỉnh được (thường gọi đùa là
“không tìm ra số nhà”), có em thì lại không biết là tiếng hát mình bị phô Người thì hát chênh lên, người thì âm thanh tụt xuống thấp Có người thì trong một bài hát, chỗ hát chênh lên chỗ hát thấp xuống Có em lại chỉ hát chênh lên ở những nốt cao, hay những chỗ chuyển giọng Hát không chuẩn xác cao độ do mấy nguyên nhân sau:
- Tai nghe không thính, cảm giác về âm thanh không nhạy bén Khi hát không bắt được giọng, điệu chính của bài hát Người hát chưa hát quen với một nhạc cụ đệm theo hoặc với dàn nhạc Không bình tĩnh trước người nghe cũng dễ làm mất khả năng chủ động điều khiển giọng hát, dẫn đến tình trạng hát không chuẩn xác về cao
độ Có trường hợp, trong một bài hát có một chỗ khó mà ca sĩ chưa giải quyết được, nên khi hát tới đó, như một phản xạ, bắt đầu hát không chuẩn xác Những trường hợp trên thường xảy ra ở những người mới học hát, còn chưa có kinh nghiệm, chưa tiếp xúc nhiều với âm nhạc Đối với những trường hợp này, việc sửa chữa không khó khăn lắm
- Có khi hát không chuẩn xác về cao độ do những thiếu sót về kỹ thuật Người hát vẫn nghe được phần nhạc dạo, vẫn bắt vào đúng giọng điệu của bài hát, nhưng càng hát thì tiếng hát càng mất sự chuẩn xác Khi đó, nếu người hướng dẫn hoặc người chỉ huy có nhắc, hoặc ra hiệu cho người hát biết, cũng không điều chỉnh cho tiếng hát chuẩn xác lại được Ở đây không giống như người nhạc công kéo loại đàn không phím, nếu như âm thanh không chuẩn xác có thể điều chỉnh các ngón tay nhích lên hoặc hạ thấp xuống trên dây đàn Nhưng đối với cây đàn của “nhạc khí sống” này thì vấn đề lại phức tạp hơn, vì trước tiên nó phụ thuộc vào tâm lý, mà tâm lý lại do thần kinh chi phối
- Những thiếu sót về kỹ thuật thường gây nên sự không chuẩn xác về cao độ là: hơi thở yếu, không nén hoặc tống hơi quá mạnh, ồ ạt Ở các giọng nữ, sự sai lệch còn nảy sinh ra do hát các nốt chuyển giọng hơi thở không chuẩn bị tốt, hoặc hát giọng ngực lên cao quá Một số người thích hát to cũng hay mắc những tật này
- Muốn hát chuẩn xác về cao độ, cần rèn luyện để có những điều kiện sau:
Trang 16- Tai nghe thính, cảm giác âm nhạc nhạy bén
- Hoạt động của cơ quan phát âm chủ yếu là thanh đới và hơi thở, phải đúng, phải phù hợp
- Chủ động, vững vàng khi hát
- Có thể khắc phục tập hát không chuẩn xác cao độ bằng mấy cách: Nếu hát không chuẩn xác về cao độ do tai nghe nhạc không tốt, cần tập nghe các hợp âm trên đàn piano, accordeon, hoặc guitare
- Tập xướng âm thường xuyên, lúc đầu tập một vài câu, rồi kiểm tra lại giọng, điệu bằng đàn, sau đó hát hết bài mới kiểm tra lại Tập bài hát cũng vậy, không dùng đàn đệm theo Phải chủ động học thuộc nhạc bài hát, không nên học truyền khẩu, luôn luôn kiểm tra nốt nhạc trong bài hát
- Nếu hát không chuẩn xác cao độ do thiếu sót về kỹ thuật phát âm, thì phải kiên quyết tập lại để khắc phục những tật xấu từ trước, sao cho mọi hoạt động của cơ quan phát âm được đúng và phù hợp với nhau
- Sửa chữa tật hát không chuẩn xác về cao độ là công việc tương đối khó, cần phải kiên trì và nghiêm khắc với bản thân, không nên nôn nóng hoặc đại khái qua loa Trong một thời gian ngắn không thể sửa chữa ngay được mà phải dần dần mới có kết quả
Vào năm thứ hai các em đã nắm được một số kỹ thuật hát cơ bản ở năm học thứ nhất Các em đã nắm được lý thuyết và biết cách lấy hơi, giữ hơi và nén hơi thở khi hát, nhưng chưa được thường xuyên và phải có thời gian để thực tập, rèn luyện thường xuyên và liên tục.Trong số các sinh viên theo học sẽ có một số trường hợp hát bị “ lộ hơi” tức khi hát không ghìm hơi xuống hoành cách mô mà thả lỏng vùng bụng như thế thì hơi thở sẽ không được khống chế mà cứ trôi theo lời hát âm thanh và hơi thở sẽ phát ra ồ ạt không tiết kiệm nguồn hơi do đó âm thanh phát ra sẽ không mềm mại, mượt mà, người hát lúc nào cũng cảm thấy thiếu, hụt hơi Ở trường hợp này các em cần cố gắng lắng nghe sự phân tích, minh họa, thị phạm của giảng viên và bản thân sinh viên phải cố gắng tập luyện nhiều để khắc phục sự sai lệch trên
Khi giảng dạy, giảng viên cần nắm được những yếu điểm của từng em mà có hướng chỉnh sửa khắc phục Giảng viên cần kiên nhẫn, không nên nóng vội, phải thường xuyên quan tâm, động viên những em còn yếu, khuyến khích, ân cần để các
em mạnh dạn hơn Mới đầu khuyến khích các em hãy lắng nghe, thực hiện, luyện tập thường xuyên để dần sửa những yếu điểm của mình Mỗi buổi học, giảng viên cần áp dụng các phương pháp như:
Trang 17Tập cho sinh viên quan sát, lắng nghe, nhận xét, phân tích, thực hành, luyện tập thường xuyên và củng cố các phần lý thuyết đã học, gợi ý cho các em trả lời, theo dõi sự hiểu và nắm bắt bài giảng của sinh viên tới đâu, giảng viên có sự cố vấn và khen ngợi kịp thời
Vào mỗi buổi học, giành khoảng 10 phút để tập luyện hơi thở, tập chung cả nhóm, kiểm tra riêng từng sinh viên Sau đó tập luyện thanh khoảng 15 phút cho cả nhóm, các câu luyện thanh từ dễ đến khó dần, mỗi lần lên nửa cung từ nốt thấp đến nốt cao dần và ngược lại Cần chú ý và điều chỉnh hơi thở và vị trí âm thanh cần thiết, khi xuống thấp và hát lên cao, kiểm tra luyện thanh các nhân để chỉnh sửa Chia nhóm có cả em khá và em yếu ngồi học chung với nhau Sinh viên khá có thểtrao đổi thêm với những bạn còn hạn chế giọng khi học hát, em hát chưa tốt có thể nghe và học hỏi lẫn nhau, giúp nhau cùng tiến bộ
Thường xuyên tập cho sinh viên nghe quãng và hợp âm trên đàn, trên giọng người, sinh viên luyện tai nghe từ dễ đến khó dần Mới đầu có thể cho các em xướng âm theo giai điệu bài luyện thanh, bài hát, cho các em nghe hợp âm để tập bắt giọng vào nốt đầu của câu, tiến dần nghe hợp âm để bắt vào bài Ở giai đoạn này, sinh viên có thể học tập, trao đổi và rèn luyện kỹ thuật hát cùng với nhau Có thể em này đàn cho nhóm cùng luyện thanh, hoặc tự đàn và hát để luyện tập dần các kỹ năng.Tập cho các em nắm được các thể loại phát âm trong các bài hát dân
ca, bài hát mang âm hưởng dân ca Việc phát âm nhả chữ theo từng vùng miền của dân ca, tập phát âm chuẩn ngữ âm người Hà Nội để xử lý mở, đóng nguyên âm, phụ âm, tránh lối hát nuốt chữ, nhả chữ không rõ ràng của tiếng Việt Giảng viên hướng dẫn cho sinh viên làm quen, nghiên cứu trước, trong việc phân tích bài hát,
về tác giả, phong cách sáng tác, hoàn cảnh ra đời, hình thức,thể loại, các kỹ thuật hát bài hát sắp học
- Trong các câu luyện thanh, bài luyện thanh cần kiểm tra kỹ việc sử lý các kỹ thuật hát to, nhỏ, liền tiếng, ngắt tiếng để tạo cho người học thói quen quan sát các
ký hiệu ghi trong bản nhạc và phải thực hiện đầy đủ và chính xác các yêu cầu được
Trang 18CHƯƠNG II PHẦN LÝ THUYẾT
2.1 Thanh quản, thanh đới
2.1.1 Nhiệm vụ của thanh quản, thanh đới
Đây là bộ phận chủ yếu phát ra âm thanh, là một ống nối tiếp với khí quản, nằm phía trước của cổ, phần giữa thanh quản thắt lại như cổ chai, chỗ thắt lại này là do những dây cơ và sụn nằm chắn ngang hai bên, đó là thanh đới
Môi giọng giữ vai trò như “động cơ”phát ra tiếng hát Nó là một phần của thanh quản Thanh quản là đầu của khí quản Thanh quản tựa như một nắp đậy và bộ cơ của môi giọng điều khiển việc đóng mở nắp ấy trong quá trình hô hấp Phía trước thanh quản có một phần lồi lên là sụn bao quanh giáp trạng, mà chúng ta quen gọi
là “quả táo Ađam” hay “trái cấm”
Trang 19Trong khi hít thở: Những van này tự động mở ra nhiều hay ít tùy thuộc vào
lượng khí lưu thông, trao đổi với bên ngoài
Hình a Môi giọng và Thanh quản ở vị trí mở
Hình b Môi giọng và Thanh quản ở vị trí đóng
Trong khi nuốt: Nó hướng thức ăn đi đúng vào thực quản, không để vật lạ lọt
vào khí quản gây nghẹt thở
Tạo ra áp lực cần thiết: Nhờ hệ thống van này, tạo ra áp suất cần thiết cho cơ
Trang 20- Tạo ra âm giọng Những môi giọng dao động, tạo thành âm thanh, tiếng nói,
giọng hát
Thanh quản có nhiệm vụ quan trọng như vậy nhưng ít khi nào chúng ta để ý giữ gìn nó Muốn thành công trong nghề ca hát, chúng ta phải giữ gìn nó như người thợ bảo vệ giữ gìn đồ nghề của mình, như người lính luôn phải lau chùi súng ống của mình, bất kể giáp trận hay không
2.1.2 Nhiệm vụ của môi giọng
Như chúng ta đã biết, ngoài nhiệm vụ quan trọng trong quá trình hô hấp, việc đóng mở bộ van này còn kết hợp với sự rung động của luồng không khí đi ngang qua mà sản xuất ra giọng người Trên nguyên tắc, môi giọng là một cấu trúc gấp nếp, có khả năng dao động, bao gồm cơ giọng và dây thanh quản
Khi chúng ta hít thở, môi giọng mở ra tạo thành một cửa hình tam giác để luồng không khí( hơi thở) đi ngang Khi môi giọng được đóng lại, nghĩa là bị ép vào giữa, các môi nằm sát cạnh nhau.Tại vị trí này, chúng ta có thể tạo ra âm thanh Hai mép của môi giọng càng khép kín và co ngắn lại khi chúng ta hát một
âm thanh càng cao
Hay nói cách khác, thanh quản là bộ phận chủ yếu phát ra âm thanh Đó là một ống nối tiếp với khí quản, nằm ở phía trước cổ, phần giữa thanh quản thắt lại như
cổ chai, chỗ thắt lại này là do những dây cơ và sụn nằm chắn ngang hai bên, đó là thanh đới Thanh đới khi không hoạt động nằm ở hai bên ống thanh quản tạo nên một khe hở gọi là khe thanh quản Khe này thay đổi hình dáng, lúc đóng, lúc mở
do thanh đới rung lên, dưới tác động của luồng hơi thở từ phía phổi đẩy ra
Thanh đới là phần quan trọng nhất của thanh quản, nó là một tổ chức hết sức sinh động, cấu tạo không thuần nhất bởi những dây cơ và sụn, chúng chịu sự điều khiển trực tiếp của hệ thống thần kinh trung ương Mặc dù phát ra âm thanh nhờ tác động của hơi thở, song thanh đới hoàn toàn không giống lưỡi gà của những nhạc khí hơi.(Hình dưới)Tác dụng của các cơ nhẫn giáp kéo dài(căng) nếp thanh
âm
Trang 21Tác dụng của các cơ nhẫn- phễu sau Tác dụng của các cơ phễu bên Dạng xa nếp thanh âm Khép nếp thanh âm
Tác dụng của cơ phễu ngang Tác dụng của các cơ thanh âm và giáp phễu
Khép nếp thanh âm Làm ngăn ( chùng) nếp thanh âm
Hoạt động của thanh đới là hoạt động chủ yếu trong quá trình phát âm Tất cả
những hoạt động khác, mặc dù giữ vai trò quan trọng và liên quan, nhưng nói
chung cũng chỉ phục vụ, hỗ trợ và phát huy cho hoạt động của thanh đới mà thôi
Ta phải xác định điều này để thấy rõ hoạt động nào là hoạt động chủ yếu trong quá
trình phát âm, từ đó có sự chú ý trong khi học tập
Nếu như luồng hơi thở tác động lên thanh đới làm thanh đới rung phát ra âm
thanh, thì trong thời gian hoàn thành chức năng đó, thanh đới cũng tác động trở lại
đối với luồng hơi thở ra Hai lực tác động lẫn nhau luôn luôn phải ở mức độ tương
ứng phù hợp với nhau mới tạo nên một âm thanh mong muốn Nếu lực của hơi thở
đẩy ra mạnh hơn hẳn lực cản của thanh đới rung, thanh đới phải chịu một áp lực
quá mạnh sẽ ảnh hưởng tới độ rung của nó, tạo nên một âm thanh quá căng thẳng
như tiếng gào thét Ngược lại nếu lực của hơi thở đẩy ra quá yếu, thanh đới sẽ
không rung lên được một âm thanh có cao độ, cường độ cần thiết Và với hơi thở
yếu đó, ta cứ cố gắng để có một âm thanh như ý muốn và có thể xảy ra tình trạng
vỡ tiếng Sức mạnh và khả năng làm việc của thanh đới là điều kiện tối cần thiết
cho người học hát Một giọng hát tốt trước tiên thanh đới phải là một thanh đới tốt,
khỏe mạnh
Trang 22Thanh đới mệt mỏi, suy yếu là nguyên nhân chủ yếu của những âm thanh xấu
Ta không thể hát tốt được khi bị khản cổ,vì đó là biểu hiện thanh đới bị tổn thương Bởi vậy những người học hát phải luôn luôn chú ý bảo vệ thanh đới, theo dõi hoạt động của nó, nếu thấy biểu hiện nào không bình thường thì phải nghỉ hát, đi khám
để kịp thời điều trị Một biện pháp bảo vệ thanh đới tốt nhất là phải hát đúng Nghĩa là hát theo một phương pháp mà mọi hoạt động hỗ trợ cho thanh đới đều phải phù hợp Một điều phải luôn luôn nhớ là không bao giờ được hát quá sức Phải hát bằng khả năng mà giọng hát của mình cho phép, tránh tình trạng thích hát quá to đến nỗi như gào thét, kiểu hát này sẽ dẫn tới hiện tượng mất giọng, tức là thanh đới mất khả năng làm việc một cách linh hoạt theo yêu cầu của nghệ thuật ca hát Đó là sai lầm rất nghiêm trọng về phương pháp mà những ca sĩ chuyên nghiệp cũng như không chuyên cần phải luôn chú ý để không mắc phải
Hình dưới đây chỉ cho chúng ta quan sát các vùng liên quan tới những bộ phận phát tiếng, truyền âm, thanh quản, thanh đới, thực quản…và những khoảng xoang, vùng để tạo nên khoảng vang cộng minh
Trang 23
2.2 CUỐNG HỌNG
Phần trên thanh đới có hai khoảng trống ở hai bên, song song với nhau, gọi là thanh quản Phần trên cùng của thanh quản có một bộ phận nhỏ như cái nắp gọi là nắp thanh nhiệt Nắp này mở ra khi phát âm và đóng chặt lại khi ta nuốt thức ăn, để thức ăn đi vào thực quản không lọt vào thanh quản, cuống họng Thanh đới rung tạo ra âm thanh Âm thanh đó đi từ khe thanh quản lên, trước hết được phóng to ra trong cuống họng, một bộ phận tiếp giáp trên thanh quản Khi há miệng rộng, hạ cuống lưỡi xuống nhìn sâu vào trong, ta thấy được cuống họng từ nắp thanh nhiệt đến vòm họng Cuống họng cũng có thể mở rộng ra được chút ít so với mức bình thường Cuống họng còn được gọi là bộ phận truyền âm, nằm tiếp giáp với miệng, nên dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của thời tiết, của độ nóng lạnh của các vị khác nhau của đồ ăn, thức uống lúc đi qua nó Cuống họng được bao bọc bởi một
tổ chức niêm mạc, dễ bị kích thích Do vậy cần phải chú ý giữ gìn để cuống họng không bị viêm nhiễm, ảnh hưởng không tốt đến giọng hát
Trang 242.2.1 MIỆNG
Cuối cùng, âm thanh đi ra ngoài bằng miệng Miệng là bộ phận hoạt động liên tục trong suốt thời gian ca hát, hình dáng của miệng khi hoạt động phụ thuộc vào lời của bài hát Hoạt động của miệng bao gồm những cử động của hàm ếch mềm, lưỡi, môi, hàm dưới và sự hỗ trợ của răng Miệng giữ vai trò quan trọng khi phát
âm Những âm thanh phát ra từ thanh đới đi ra ngoài thông qua những hoạt động của miệng, tạo nên âm thanh chính xác, có âm sắc đẹp, theo những yêu cầu cần thiết Và cũng từ đây, âm thanh chứa đựng một nội dung cụ thể, thông qua ngôn ngữ hợp lại bởi những nguyên âm và phụ âm do các hoạt động của miệng tạo ra Dưới sự chỉ đạo của não, âm thanh ở đây còn được mang những cảm xúc tinh tế có tính nghệ thuật
Những bộ phận của miệng như hàm ếch mềm, lưỡi, môi, hàm ếch dưới trong khi hoạt động để tạo ra âm thanh và lời hát với nội dung và tình cảm cần thiết lại còn có tác dụng hỗ trợ cho các hoạt động của thanh đới và hơi thở…Ca hát là nghệ thuật kết hơp giữa âm nhạc và ngôn ngữ, vì vậy hoạt động của miệng để tạo ra những âm thanh mang nội dung thông qua ngôn ngữ là rất quan trọng Do vậy, trong khi học tập thanh nhạc phải hết sức chú ý tới vấn đề này
Trang 25Ngoài các bộ phận chính của của cơ quan phát âm đã giới thiệu ở trên, còn một phần phụ nữa cũng không kém phần quan trọng, nó hỗ trợ việc phát âm, đó là những xoang của mũi, vòm mặt và trán Những xoang này tạo nên cảm giác về sự
âm vang của âm thanh mà danh từ thanh nhạc gọi là cộng minh Như vậy chúng ta
đã tìm hiểu từng bộ phận và toàn bộ cơ quan phát âm, xác định vị trí và chức năng của nó trong hoạt động tạo ra tiếng hát Những bộ phận này thực hiện những nhiệm
vụ khác nhau Nếu hoạt động của một bộ phận nào đó không đúng, không phù hợp,
sẽ phá hoạt động của các bộ phận khác Chúng ta nghiên cứu từng bộ phận để thấy tác động của nó trong toàn bộ, để có những hiểu biết chính xác về quá trình tạo ra tiếng hát và với việc tập luyện, dần dần chủ động được giọng hát của mình, biểu hiện được những yêu cầu về tình cảm, nội dung nghệ thuật
Trang 262.3 Bộ máy phát âm và phương pháp phát âm
Sau khi đã làm quen với giọng và hơi thở- năng lực của giọng người, giờ đây chúng ta tìm hiểu thêm về cơ quan tạo nên giọng người trong cơ thể con người: bộ máy phát âm
Nguồn gốc của giọng người nằm ẩn sâu trong cổ họng Giọng là tác động qua lại giữa thanh quản với những cơ quan nhạy cảm khác Tất cả những bộ phận này hợp lại thành một máy phát âm phức tạp, tinh vi
Nói đến các bộ máy phát âm thì ngoài các cơ quan hô hấp( như phổi, khí
quản,hoành cách mô), các xoang cộng minh đầu, mũi, miệng, ngực…và các bộ
phận bên ngoài ( thấy được) như: môi, răng, lưỡi, chúng ta còn phải lưu ý đến một
bộ phận tuy không thấy được nhưng rất quan trọng là: thanh quản và môi giọng
2.3.1 Khẩu hình khi phát âm
Khi phát âm trong ca hát, cách mở miệng là yếu tố quan trọng hàng đầu để có một âm thanh tròn đầy, vang và rõ lời Cách mở miệng này gọi là khẩu hình Khẩu hình không chỉ là hình dáng bề ngoài của miệng mà là sự kết hợp giữa miệng, môi, răng, lưỡi Hát tròn vành rõ chữ là một nguyên tắc không thể thiếu của người ca sĩ Mỗi một dân tộc có khẩu hình cho các nguyên âm và phụ âm hơi khác nhau
Chúng ta cần kết hợp với ngôn ngữ Việt Nam để giữ gìn bản sắc dân tộc đồng thời kết hợp được với tinh hoa của nghệ thuật thanh nhạc quốc tế
2.3.2 Nguyên âm
Trong các nguyên âm “A” được coi là âm cơ bản, mẫu mực nhất trong việc luyện thanh Nó có khẩu hình rộng hơn cả
Chúng ta xem hình bên đây để thấy khẩu hình của “ A” Nó được mở rộng bao nhiêu tùy theo cơ thể mỗi người Chúng ta có thể lấy kích cỡ cho mình bằng cách chụm đứng bốn ngón tay:
Trang 27trỏ, giữa, đeo nhẫn và ngón út và đưa vào miệng để kiểm tra cho khẩu hình âm
“A”cho chính mình Khi phát âm, đầu lưỡi nằm cách chân răng khoảng 1.5cm Sau
khi đã có khẩu hình mẫu cho “A”, chúng ta xem các hình sau đây để lấy khẩu hình
của các nguyên âm: “A”, “I”, “ E” , “Ê”, “O” , “Ơ” , “U”
Trang 282.3.3 Phụ âm
Trong lọat hình dưới đây, chúng ta thấy được vị trí của môi, răng, lưỡi cũng như đường đi của hơi thở khi phát ra các phụ âm chính
Trang 292.4 Vị trí âm thanh, các khoảng vang cộng minh
2.4.1 Hát có cộng minh
Khi học thanh nhạc, ta thường gặp những danh từ chuyên môn như: cộng minh, vị trí…Đối với những người không học hát thì những danh từ này có vẻ trừu tượng khó hiểu, ta tìm hiểu kỹ nhé
Trong khi chúng ta nói chuyện bình thường, hơi thở đi ra tự nhiên theo đường mũi và miệng Hơi thở đó chưa được sử dụng để thành khí lực như trong ca hát Khi hát, môi giọng dao động làm cho luồng hơi thở đi ngang chúng phát ra thành
Trang 30tiếng Sở dĩ chúng ta nghe được tiếng này là do chúng va đập vào và dội lại từ các hốc (gọi là xoang) trong đầu, trong mặt chúng ta Sự dội âm này chính là một hiện tượng cộng hưởng.Việc ca hát sử dụng đến sự dội âm ấy một cách có kỹ thuật gọi
là hát có cộng minh
2.4.2 Cộng minh đầu:
Khi một người hát tốt, ta cảm giác như âm thanh phát ra không phải âm vang
tử miệng phát ra, mà ở chỗ nào đó cao hơn ở trong đầu, ở hốc mũi, ở trán…Hiện tượng đó là có thực Âm thanh của giọng hát không chỉ vang lên ở miệng, mũi mà truyền đi ở những hốc vang khác nữa Khi ta hát một âm thanh vang tốt, ta thấy hơi rung ở xương mặt Vì thế, trước kia trong kỹ thuật thanh nhạc, người ta gọi cảm giác đó là âm thanh đưa vào “mặt nạ”
Tại sao cảm giác rung của âm thanh lại chính ở xương mặt? Vấn đề là ở chỗ, trên xương vòm mặt có những hốc gọi là xương phụ của mũi, gồm có xoang trán, xoang đáy hốc mũi, hốc mê đạo, xoang hàm Tất cả những xoang này ăn thông với nhau và với hốc mũi bằng những đường ống rất bé và quanh co Những xoang này được bao bọc bởi những niêm mạc, trên phần niêm mạc có một hệ thống dây thần kinh chi chít Những dây thần kinh này kích thích rung động và gây nên những cảm giác đặc biệt, gọi là cộng minh đầu Danh từ “mặt nạ” dùng trước kia bây giờ được thay bằng từ “vị trí cao” của âm thanh Đây không chỉ là sự thay đổi đơn thuần về cách nói, mà còn bao hàm ý nghĩa khác về nội dung.Vị trí cao của âm thanh không những là cảm giác cộng minh đầu, mà còn chứa đựng tính chất đặc biệt về âm sắc của âm thanh với những bồi âm phong phú, một âm thanh đẹp, âm vang mạnh mẽ, trong sáng và gọn gàng
Cần phải hiểu thêm rằng, chính những xoang cộng minh này không phát được
ra âm thanh vang tốt mà chỉ dội lại những âm thanh từ thanh quản phát ra mà thôi Tuy vậy, sự dội lại đó có ý nghĩa rất quan trọng, giúp người học hát kiểm tra được chất lượng của âm thanh và điều chỉnh tiếng hát Một điểm nữa xin lưu ý thêm về cảm giác cộng minh đầu Ta phải phân biệt giữa vị trí cao của âm thanh với âm thanh giọng mũi Hai loại âm thanh này khá xa nhau Nguyên nhân của giọng mũi
là sự làm việc sai lệch của phần truyền âm do hơi thở nông, không nén, hàm cứng Còn âm thanh có vị trí cao, chỉ có thể đạt được với hơi thở sâu, nén tốt, bộ phận truyền âm “miệng” làm việc phù hợp và tích cực mà thôi
2.4.3 Cộng minh ngực
Cộng minh ngực được gọi một cách đơn giản là vang ở ngực Đó là cảm giác rung ở lồng ngực khi hát Hiện tượng này xảy ra khi người hát ở âm khu ngực, tức
Trang 31là những nốt nhạc trung và thấp của giọng, lúc đó đặt tay lên ngực sẽ thấy lồng ngực hơi rung.Thực ra không phải toàn bộ lồng ngực cộng minh, mà chỉ có khí quản và cuống phổi cộng minh thôi Khí quản và cuống phổi tương đối dài, chẳng hạn khí quản dài 15cm, có thể cộng hưởng những âm thanh với tần số khoảng 500Hz Chính tần số sóng này phù hợp với những âm thanh của âm khu ngực Tuy đặt tay lên ngực thấy ngực hơi rung lên khi hát, nhưng âm thanh không phải từ lồng ngực truyền đi, không giống như hộp cộng hưởng của các nhạc khí.Chính vì vậy mà khi hát, người ca sĩ dù mặc bộ áo gì, cũng không hề ảnh hưởng tới âm thanh, còn như hộp cộng hưởng của nhạc khí mà bọc ra ngoài một cái bao thì âm thanh sẽ bị ảnh hưởng ngay
Cộng minh ngực chỉ xuất hiện khi thanh đới rung lên những âm trầm, do vậy khi hát giọng giả không có cảm giác cộng minh ngực
Như đã trình bày ở trên, cộng minh đầu và cộng minh ngực đều là hai cảm giác quan trọng, qua đó người ca sĩ có thể đánh giá hoạt động của cơ quan phát âm đúng hay sai Ở mỗi giọng hát, những cảm giác cộng minh này có mức độ nhiều, ít khác nhau Chẳng hạn ở giọng cao, âm khu chủ yếu phát triển là âm khu cao, vì vậy cảm giác cộng minh đầu thường xuất hiện nhiều và được chú ý hơn là cộng minh ngực, vì phần âm khu thấp của giọng cao tương đối ngắn Ngược lại, ở những giọng trầm, yếu, do đó sẽ luôn luôn cảm thấy cộng minh ngực Tuy mức độ của hai loại cộng minh đầu và ngực có khác nhau, nhưng khi luyện tập, ta không nên chỉ chú ý một loại cộng minh này mà bỏ qua loại công minh kia, như vậy sẽ hạn chế sự phát triển hoàn chỉnh âm vực của giọng Nói một cách khác, nếu người hát giọng cao chỉ tập hát ở âm khu cao, không tập âm khu thấp, thì dần dần âm vực của giọng
sẽ bị co hẹp lại ở phần thấp, âm thanh ở âm khu này sẽ xỉn và yếu Còn những người hát giọng trầm trong một mức độ nào đó cũng cần phải tập hát ở âm khu cao
để phát triển âm vực hoàn chỉnh hơn, đáp ứng dần mọi yêu cầu kỹ thuật trong tác phẩm
Trang 32Cộng minh đầu, cộng minh ngực Cảm giác vị trí âm thanh,toàn bộ khu vực 1- hốc trên thanh quản 2- cuống họng
3- miệng 4- hốc mũi
2.4.4 Các loại giọng sinh ra sự cộng hưởng khác nhau
Giọng thấp phát ra khi chúng ta điều khiển cho âm thanh vang lên ở lồng ngực Chúng ta thấy lồng ngực hơi rung lên khi hát Những giọng trầm như Alto, Basse thường hát với sự cộng hưởng ở lồng ngực Những giọng thuộc âm vực trung như: Mezzo- Soprano, Baryton sẽ hát giọng ngực khi xuống những nốt thấp Tuy nhiên, nên kết hợp khoảng vang ở âm khu trung để có được âm thanh mượt
mà hơn Nếu để tiếng hát vang dội một phần ở xoang mũi và trán, chúng sẽ tạo ra
vị trí âm thanh treo cao hay còn gọi là “giọng óc” Khi hát với giọng óc, chúng ta
sẽ cảm thấy hơi thở dội lên ở phần hốc mắt, tỏa qua trán lên đến đỉnh đầu (chỗ mỏ ác) Những giọng hát thuộc âm vực cao: Soprano, Tenore sẽ phải hát ở giọng này, nhất là ở nốt nhạc cao
2.5 Âm khu của giọng hát Phân biệt tính chất các loại giọng hát
2.5.1.Định nghĩa âm khu và sự phân chia âm khu của các loại giọng hát
Âm khu của giọng hát là một chuỗi âm thanh có âm sắc thống nhất nằm trong
âm vực của giọng hát, được tạo nên bởi những hoạt động thống nhất của cơ quan phát âm Giọng hát chia ra làm nhiều âm khu, nghĩa là từ phần thấp, trung, tới phần
Trang 33cao của giọng hát, âm thanh mang những tính chất nhau Nếu một người chưa nắm được kỹ thuật thanh nhạc , khi hát từ thấp lên cao trong phạm vi những âm thanh
tự nhiên của giọng hát cho phép, hát đến độ cao nào đó, người ấy sẽ cảm thấy khó hát, âm thanh bị chập chững không ổn định, âm sắc thay đổi rõ rệt Nếu hát tiếp qua những nốt khó hát ấy thì lại cảm thấy dễ hát hơn Những nốt khó hát đólà giới hạn giữa các âm khu của giọng hát, gọi là nốt chuyển giọng
Do cấu tạo sinh lý và khả năng hoạt động của nam và nữ có nhiều đặc tính khác nhau, cho nên sự phân chia các âm khu của giọng nam và nữ cũng khác nhau Các giọng nam có hai âm khu: âm khu ngực, còn gọi là giọng ngực, gồm những âm thanh thấp và trung của giọng, âm khu giọng giả ( Falsetto) còn gọi là giọng óc, gồm những âm thanh cao của giọng Giữa hai âm khu này có một chỗ chuyển giọng, các giọng nữ chia ra làm ba âm khu: âm khu ngực (giọng ngực), gồm những
âm thanh thấp của giọng; âm khu trung gọi là giọng pha hay giọng hỗn hợp( mixco); và âm khu giọng óc Tương đương với ba âm khu này có hai chỗ chuyển giọng Người ca sĩ có trình độ kỹ thuật tốt, biết hát các âm khu của giọng với âm thanh tương đối thống nhất và đều đặn, không có sự thay đổi rõ rệt, biết hát những nốt chuyển giọng một cách dễ dàng Do đó để hát được toàn bộ âm vực với âm thanh tương đối thống nhất là một yêu cầu bắt buộc và người học hát phải cố gắng, kiên trì rèn luyện mới có kết quả mong muốn
2.5.2 Phân biệt tính chất các loại giọng hát
2.5.2.1 Ý nghĩa quan trọng của việc xác định, phân loại giọng hát
Xác định và phân loại giọng hát là công việc cần thiết, nếu ta làm tốt việc này thì ta đã có một phương hướng học tập, rèn luyện phù hợp, tạo điều kiện cho giọng hát phát triển thuận lợi, đây là công việc mà người giảng viên phải làm, nhưng không nên kết luận vội vàng, mà phải tìm hiểu cẩn thận Nhiều khi đối với giọng hát khó xác định thì phải sau một thời gian tìm hiểu, thử thách trong luyện tập mới xác định được, một trong những tác hại lớn đối với người học hát là sự xác định nhầm loại giọng, nghĩa là hát không đúng giọng tự nhiên của mình Thí dụ một người có giọng hát tự nhiên là nam cao Do một nguyên nhân nào đó khi mới học hát vì chưa nắm được kỹ thuật, hát khó những nốt cao,nên khi hát đã hạ thấp giọng của bài hát xuống Cứ như vậy rồi một thời gian lầm tưởng mình thuộc loại giọng nam trung trong khi học tập không đúng giọng tự nhiên và giọng hát càng ngày càng không phát triển Lại có trường hợp tùy tiện khi phân bè trong các tốp ca Khi
ở một bè nào đó thiếu người hát, bèn chuyển người ở bè khác hát thay vào Nếu để
Trang 34thời gian hát như vậy kéo dài mà không được điều chỉnh lại, dần dần người ca sĩ hát không đúng giọng sẽ mất dần khả năng của giọng hát tự nhiên mà mình đã có Còn một số trường hợp hát không đúng giọng nữa cũng khá phổ biến cho những người mới học hát cũng đã từng xảy ra Sự nhầm lẫn ở đây không phải do nguyên nhân gặp khó khăn trong việc xác định giọng hát, mà do người học hát thích hát một loại giọng nào đó, không thích hát theo giọng tự nhiên của mình! Chẳng hạn có người cho rằng giọng nữ trầm là quý, hiếm, dễ bắt micro, dễ chiếm được tình cảm và sự thán phục của người nghe, thế là quyết định hát kiểu giọng nữ trầm bằng cách hát “bạch thanh”mặc dù thực ra giọng hát tự nhiên của người đó là giọng nữ trung, thậm chí là giọng nữ cao Muốn có được âm thanh “có vẻ là giọng
nữ trầm” người đó phải gằn cổ, hát toàn bằng giọng ngực, với âm thanh ồm ồm cứng nhắc Thế mà đôi khi, vì một sự dễ dãi của một số người nghe nào đó, điều sai lầm ấy cũng mang lại một ít “thành công”, nhưng chính những thành công giả tạo này đã hạn chế không ít khả năng phát triển của giọng hát Thật ra, mỗi loại giọng đều có khả năng biểu hiện độc đáo, sự hấp dẫn riêng Sự thành công của người ca sĩ không phải do một loại giọng nào quyết định, mà do tài nghệ mà người học có được qua những năm tháng khổ công rèn luyện
Chủ yếu việc xác định, phân loại giọng hát được tiến hành thông qua tai nghe, dựa vào những đặc tính của từng giọng để phân biệt Những đặc tính đó là: Âm vực của giọng và âm sắc của giọng, các nốt chuyển giọng Với cách xác định như vậy, người mới học hát, do chưa có kinh nghiệm, sẽ gặp khó khăn khi tự xác định giọng của mình Muốn đảm bảo chính xác, cần phải có sự giúp đỡ của giảng viên thanh nhạc có kinh nghiệm Thường thường đối với nhiều giọng chỉ nghe hát một hai bài là đã có thể xác định là loại giọng gì Nhưng cũng có những giọng hát, rất khó phân biệt Những giọng này mang nhiều đặc tính trùng hợp giữa các loại giọng Thí dụ: giọng nam trung trữ tình lại hát được những nốt cao của âm khu giọng nam cao, hoặc lại có âm sắc hơi giống âm sắc của giọng nam cao…Ngược lại có giọng hát lại thiếu những đặc tính của chính giọng hát ấy, chẳng hạn giọng nam cao mà không hát được âm khu cao…Với những loại giọng này, nếu chỉ dựa vào một đặc tính nào đó của giọng để xác định, phân loại giọng, thì có thể mắc nhầm lẫn Ở đây chỉ cần tìm hiểu kỹ, phối hợp nhiều đặc tính khác nhau của giọng
và đôi khi phải có thời gian thử thách mới khẳng định được Sau đây chúng tôi xin giới thiệu những cách xác định phân loại giọng hát
2.5.2.2 Những cách xác định giọng hát
• Xác định giọng hát thông qua âm vực của giọng
Trang 35Đây là cách xác định giọng thông thường nhất, từ trước đến nay hay được sử dụng Người được thử giọng sẽ hát từ thấp lên cao với một nguyên âm dễ hát Khi nghe, đặc biết chú ý những nốt thấp và những nốt cao của giọng Đối với những giọng hát dễ xác định thì kiểu thử giọng này thường mang lại kết quả chính xác, bởi vì thông thường mỗi loại giọng có một âm vực tương đối rõ ràng.Chẳng hạn giọng nam cao thường xuống thấp có hiệu quả tới nốt thực vang thấp hơn 1 quãng
8 Giọng nữ trầm xuống thấp có hiệu quả tới nốt sòn nhỏ lên cao tới nốt mi 2, Fa 2…Tuy nhiên kiểu thử giọng này cũng gặp phải những khó khăn sau đây:
Trong thời gian đầu mới học hát, rất ít người có một âm vực rõ ràng, đầy đủ và
ổn định, đặc biệt ở âm khu cao Một số khi mới học hát chỉ có một âm vực rất ngắn, giới hạn ở âm khu ngực, nghĩa là khoảng thấp và trung của giọng hát, bởi vì chưa biết hát những nốt chuyển giọng vì cơ quan phát âm chưa được rèn luyện nhiều nên giọng hát chưa phát triển Vì vậy khi hát thường phải hạ thấp tầm cữ của bài hát xuống, do đó dễ gây nhầm lẫn lúc thử giọng: Ngược lại có trường hợp giọng hát tự nhiên, tuy chưa được học, đã có một âm vực rất rộng, hát được cả âm khu thấp lẫn âm khu cao, do vậy khi thử giọng cũng dễ nhầm lẫn giữa giọng này với giọng khác nếu chỉ dựa vào đặc điểm về âm vực của giọng để xác định Đó là những khó khăn có thể gặp khi xác định, phân loại giọng hát thông qua âm vực Mặc dù có thể gặp những khó khăn trong những trường hợp đặc biệt, nhưng âm vực vẫn là một đặc tính quan trọng nổi bật, cần thiết phải dựa vào khi xác định, phân loại giọng hát
• Xác định, phân loại giọng hát thông qua đặc tính về âm sắc của giọng
Khi đã thử âm vực rồi mà còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa khẳng định được
là loại giọng gì, người ta phải tìm đặc tính khác của giọng để hỗ trợ, làm sáng tỏ thêm Một trong những đặc tính đó là âm sắc của giọng Theo cách này người học hát sẽ được xác định là giọng nam cao, nếu giọng hát của người đó có âm sắc của giọng nam cao( trong sáng, bay bổng) Người học hát được xác định là giọng nam trung thì giọng hát phải mang đặc tính âm sắc của giọng nam trung.v.v…Nói chung âm sắc của giọng hát là một đặc điểm khá nổi bật, là cơ sở tốt mà ta nghe có thể thông qua đó để phân loại giọng Tuy vậy vẫn có thể gặp khó khăn, vì có trường hợp mà ở mỗi âm khu lại có những âm sắc riêng biệt, chẳng hạn giọng nam cao trữ tình, khi hát ở âm thấp thì âm sắc của giọng nam trung, còn khi hát lên cao, thì tiếng hát lại có âm sắc của giọng nam cao Trong những trường hợp này đặc điểm về âm sắc của giọng không dễ giúp ta phân biệt được loại giọng hát Hơn nữa, ta cũng biết rằng âm sắc của giọng hát không hoàn toàn chỉ là đặc điểm tự
Trang 36nhiên, mà còn phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật thanh nhạc nữa Bởi vậy âm sắc của giọng không thể là một đặc điểm quyết định được loại giọng hát, mà chỉ là một trong những đặc điểm cần thiết trong việc xác định, phân loại giọng hát mà thôi
• Xác định, phân loại giọng hát thông qua vị trí các nốt chuyển giọng
Mỗi một giọng hát có những âm khu khác nhau, nghĩa là trong từng khoảng của âm vực, âm thanh lại mang nhiều tính chất khác nhau Những chỗ chuyển từ
âm khu này sang âm khu kia là những nốt chuyển giọng Ở những nốt này, người học hát thường thấy khó hát Đối với những người đã luyện tập nhiều, có kinh nghiệm thì khi hát những nốt chuyển giọng sẽ dễ dàng, không có những thay đổi đặc biệt trong âm thanh Còn những người mới học thường cảm thấy khó khăn khi hát những nốt chuyển giọng, âm thanh thay đổi rõ rệt Vị trí nốt chuyển giọng ở mỗi loại nằm ở những cao độ khác nhau, do vậy, có thể dựa vào đặc điểm này để phân biệt loại giọng hát Sau đây là vị trí các nốt chuyển giọng (chuyển âm khu) ở các giọng hát
- Giọng nam cao: Mi-Fa- Fa thăng bát độ thứ nhất
- Giọng nam trầm: Đô-Đô thăng bát độ thứ nhất
- Giọng nam trung: Rê-Mi giáng bát độ thứ nhất
- Giọng nữ cao:MI-Fa-Fa thăng bát độ thứ nhất; Mi-Fa-Fa thăng bát độ thứ hai
- Giọng nữ trung: Đô-Rê-Rê thăng bát độ thứ nhất;Đô-Rê-Rê thăng bát độ thứ hai
- Giọng nữ trầm: Si-Đô bát độ thứ nhất; Si- Đô bát độ thứ hai
Ở giọng nữ, những nốt chuyển giọng nằm ở âm khu thấp, còn ở giọng nam ở
âm khu cao Ở giọng nữ những nốt chuyển giọng từ âm khu trung lên âm khu cao ít
ở tầm cữ của bài hát thì có thể giọng hát của người đó không phải là giọng nam cao, mà do cách phát âm không đúng đã tạo nên một âm sắc mà mới nghe có vẻ
Trang 37như âm sắc của giọng nam cao Do vậy,với cách thử bằng tầm cữ của bài hát cũng giúp ta thêm cơ sở để xác định, phân loại giọng hát chính xác
• Xác định, phân loại giọng hát bằng cách đo thanh đới
Ở các phòng khám chuyên khoa tai mũi họng, với những dụng cụ y học như gương soi, các máy điện tử hiện đại, người ta có thể soi và đo được thanh đới.Thông thường, ở những người hát giọng cao thì thanh đới tương đối ngắn Còn những người hát giọng trầm thì thanh đới dài hơn Bằng cách này góp thêm cho ta những điều kiện để tìm hiểu giọng hát Nhưng ngay trong biện pháp khoa học cụ thể này cũng có nhiều trường hợp ngoại lệ Có một trường hợp khá điển hình mà những tài liệu về thanh nhạc thế giới khi đề cập vấn đề phân loại giọng bằng cách xem tính chất của thanh đới, thường nêu ra như một dẫn chứng về sự thiếu chính xác của biện pháp này: đó là trường hợp ca sĩ nam cao nổi tiếng người Ý, Caruso
có một thanh đới dài và dày như thanh đới của người hát giọng trầm thật sự Do vậy, trong thực tế, việc xác định, phân loại giọng bằng cách đo thanh đới của ca sĩ không phải lúc nào cũng cho ta những kết luận chính xác, và ta chỉ nên xem nó như một biện pháp hỗ trợ góp phần làm sáng tỏ thêm mà thôi Hơn nữa, không phải ở đâu cũng có điều kiện làm công việc đo thanh đới như vậy
Ngoài những cách xác định phân loại giọng hát thông thường như trên, người
ta còn dựa vào những đặc điểm khác nữa của người học hát để làm căn cứ thêm cho việc xác định, phân loại giọng hát Chẳng hạn, có người cho rằng, người hát giọng trầm thường có miệng rộng hơn người hát giọng cao.Thực ra mức độ rộng, hẹp của miệng chỉ ảnh hưởng trên âm sắc của giọng, không trực tiếp quyết định loại giọng hát Có người nhận xét rằng người hát giọng cao thường nhỏ bé, nhanh nhẹn, còn người hát giọng trầm thì to lớn, chậm chạp
Chúng ta đã điểm qua một số phương pháp xác định, phân loại giọng hát Những phương pháp này đều dựa vào nhiều đặc điểm có tính chất phổ biến của từng loại giọng Tuy nhiên, ở những trường hợp đặc biệt, những đặc điểm ấy có thể bộc lộ ra với những mức độ rõ rệt khác nhau Do vậy, khi thử giọng để xác định, phân loại giọng, ta nên cùng kết hợp tìm hiểu những đặc điểm cơ bản nhất, nghĩa là bằng nhiều cách thử giọng khác nhau như trên, như thế mới bảo dảm sự chính xác
- Xác định, phân biệt qua âm vực của giọng
- Xác định, phân biệt qua âm sắc của giọng
- Xác định, phân biệt qua vị trí nốt chuyển giọng
• Vấn đề đồng nhất các âm khu
Trang 38Như đã nói ở trên, chúng ta không nên chỉ dùng riêng một loại giọng nào Việc phân loại như trên không có nghĩa cứng nhắc là, giọng cao lúc nào cũng phải hát cộng minh dội ở óc, giọng trung phải hát cộng minh ở vùng mặt, giọng trầm hát cộng minh ở vùng ngực Trong một tác phẩm, với cùng một loại âm vực giọng (cao, trung, trầm), tùy vào giai điệu đi lên hay đi xuống, đi ngang mà chúng ta ứng dụng phần cộng minh cho phù hợp vấn đề là làm sao cho chỗ đổi giọng, âm thanh phát ra phải đẹp, liền mạch và mượt mà
Muốn chuyển từ nốt nhạc thấp qua nốt nhạc cao, chúng chuyển ở chỗ giao nhau giữa các âm vực( điểm đổi giọng).Ví dụ, ở khoảng vài nốt cao nhất của âm vực trầm( Alto, Basse)và vài nốt thấp nhất ở âm vực trung( Baryton, Soprano) là chỗ tốt nhất để chuyển từ giọng ngực sang giọng trung (mũi) Chúng ta hãy cố luyện tập để cho việc chuyển giọng này xảy ra một cách khéo léo, mà vẫn giữ nguyên được tiếng hát và đừng quá “lộ liễu” Việc thuộc lòng bài hát, xem qua trước các nốt nhạc và xác định giọng, cách tiến hành giai điệu với những nốt nhạc quá cao, quá thấp, sẽ giúp chúng ta rất nhiều để xác định khi nào phải chuyển giọng Chẳnh hạn, khi gặp những chỗ mà nốt nhạc rơi đột ngột từ cao xuống thấp, chúng ta dùng giọng óc Nhưng ở vài nốt cao cuối cùng trước khi chuyển giọng, chúng ta hát giọng ngực để khi nốt nhạc xuống thấp, thì đã có sự chuẩn bị chuyển xuống giọng ngực mà hát tiếp.Đó là một ví dụ về sự phối hợp các giọng.Cuối cùng, như kinh nghiệm của nhiều chuyên gia về thanh nhạc, chúng ta không nên yêu cầu sinh viên cố hát bài hát hay đoạn nhạc nào quá tầm cữ giọng của các em Hãy nhắc các em nên chọn lựa tác phẩm phù hợp với giọng của mình, hoặc dịch giọng lên cao hay xuống thấp cho hợp với giọng của mình
2.6 Đặc điểm của từng loại giọng hát
Khi nghiên cứu lịch sử của nghệ thuật ca hát thế giới, ta thấy từ trước thế kỷ thứ XIX, những tác phẩm thanh nhạc thường chỉ dành cho giọng cao và giọng trầm Tầm cữ (tessitura) âm thanh của những tác phẩm đó không rộng lắm, chỉ rộng khoảng một bát độ rưỡi trở lại Khi viết cho giọng cao, người sáng tác chỉ viết với âm vực cao hơn âm vực của giọng trầm một quãng ba, và ít dùng những nốt ở
âm khu cao Từ thế kỷ XIX, các nhạc sĩ đã phá vỡ khuôn khổ chật hẹp ấy Trong các tác phẩm thanh nhạc, đặc biệt là nhạc kịch, đã có nhiều cao trào âm nhạc thể hiện những mâu thuẫn đầy kịch tính trong nội dung của tác phẩm Phần hát của các vai phát triển rất lớn, có khi các tác giả đã sử dụng tối da âm vực của các giọng Lúc này giọng hát của nam và nữ được chia ra làm ba loại chính: Giọng cao, giọng trung và giọng trầm Ở ba loại giọng này, tùy theo khả năng biểu hiện, còn chia ra
Trang 39các giọng: Giọng trữ tình, giọng kịch tính, giọng màu sắc Sự phân chia tỉ mỉ này đặc biệt dành cho các ca sĩ biểu diễn nhạc kịch để phù hợp với tính cách từng nhân vật của tác phẩm
2.6.1.Giọng nữ:
• Giọng nữ cao( soprano) là giọng hát cao nhất trong các loại giọng
Âm vực của giọng nữ cao
Nốt chuyển giọng Nốt chuyển giọng Hiếm
+ Giọng nữ cao chia ra làm ba loại:
- Nữ cao kịch tính, vang khỏe trong toàn bộ âm vực, ở phần thấp, âm sắc hơi giống giọng nữ trung
- Nữ cao trữ tình: Có màu sắc mềm mại uyển chuyển
- Giọng nữ cao màu sắc:(coloratura) rất nhẹ nhàng, linh hoạt, âm sắc trong sáng, có khả năng hát tốt những âm nảy( staccato) ở âm khu cao để thể hiện niềm vui sướng hoặc tiếng chim hót…
• Giọng nữ trung( mezzosoprano) là giọng hát trung gian giữa nữ cao và nữ trầm
Âm vực của giọng nữ trung:
Giọng nữ trung có âm sắc ấm áp, êm dịu, khỏe, đầy đặn
• Giọng nữ trầm(contralto), phát huy khả năng mạnh nhất ở âm khu ngực, tức là phẩn thấp của giọng Âm sắc trầm, ấm áp, đầy đặn, nhiều khi nghe như giọng nam cao
Âm vực của giọng nữ trầm
2.6.2 Giọng nam
Trang 40• Giọng nam cao( tenore) Giọng nam cao chia làm hai loại:
- Nam cao trữ tình và nam cao kịch tính
Âm vực của giọng nam cao
+ Giọng nam cao trữ tình, giọng đẹp, sáng, bay bổng Giọng nam cao trữ
tìnhthường là nhân vật chính khá phổ biến trong các vỡ opera
+ Giọng nam cao kịch tính hát vang, khỏe Toàn bộ âm vực, âm thanh đầy đặn, nhiều chất “thép”hơn giọng nam cao trữ tình
• Giọng nam trung( baritone) là giọng hát chiếm tỉ lệ cao trong các giọng nam
Âm vực của giọng nam trung
Giọng nam trung chia làm hai loại, Nam trung trữ tình và nam trung kịch tính Giọng nam trung trữ tình có âm sắc ấm áp, mềm mại, gần với âm sắc giọng của nam cao.Giọng nam cao kịch tính có âm sắc hơi tối hơn, nhưng vang, khỏe, đặc biệt là phần trung và phần cao của giọng
• Giọng nam trầm( basse), phát huy tốt ở phần thấp của âm vực,âm sắc trầm, ấm, đầy đặc, ít linh hoạt Giọng nam trầm còn chia ra nam trầm cao
và nam trầm thấp, hai loại này khác nhau về âm sắc và âm lượng ở từng
âm khu
Âm vực của giọng nam trầm