1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex gagn ) ở việt nam

56 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu bước đầu về khả năng chữa bệnh ung thư ở Việt Nam thì trong đó cũng có một số lượng lớn cây họ Na *Chi Uvaria là một trong những chi lớn nhất của họ Na, ở Việt Nam có khoảng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ VĂN TỚI

PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC MỘT SỐ HỢP CHẤT TỪ LÁ CÂY GIÁC ĐẾ MIÊN

(GONIOTHLAMUS TAMIRENSIS PIERRE EX & GAGN.)

Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÁ HỌC

Vinh – 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC MỘT SỐ HỢP CHẤT TỪ LÁ CÂY GIÁC ĐẾ MIÊN

(GONIOTHLAMUS TAMIRENSIS PIERRE EX & GAGN.)

Ở VIỆT NAM Chuyên ngành : HOÁ HỮU CƠ

Mã số: 60.44.27 LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÁ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN HẠC

Học viên cao học: NGÔ VĂN TỚI

Vinh - 2013

Trang 3

Bảng 3.1: Số liệu phổ 13C-NMR của hợp chất A trang 35

Bảng 3.2: Số liệu phổ 13C-NMR của hợp chất B……… trang 47

Trang 4

Hình 1.1: Cấu trúc của goniothalamin oxide (1), goniodiol (2), althlacton (3), và

goniopypyron (4) trang 19

Hình 1.2: Cấu trúc của obolacton (5) và obochalcolacton (6)……….……… trang 20

Hình 1.3: Các khung styryl lacton cơ bản được tách từ chi Goniothalamus trang 20

Hình 1.4: Cấu trúc của isoaltholacton (7),2-epi-altholacton (8), goniofupyron (9),

goniotharvensin (10) và etharvensin (11)……… trang 21

Hình 1.5: Cấu trúc của goniofufuron (12) và 7-epi-goniofufuron (13)……… trang 21 Hình 1.6: Cấu trúc của 5-deoxygoniopypyron (14) và 7-axetylgoniopypyront (15)

……… trang 22

Hình 1.7: Cấu trúc của goniobutenolid-A (16) và goniobutenolid- B (17)… trang 22 Hình 1.8: Cấu trúc của gonioheptolide-A (18), gonioheptolide-B (19), almuheptolide-

A (20) và almuheptolide-B (21)……… trang 23

Hình 1.9: Cấu trúc của etharvendiol (22)……… trang 23

Hình 1.10: Ảnh cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis) trang 25

Hình 3.1: Phổ khối lượng EI-MS của hợp chất A trang 37 Hình 3.2: Phổ 1H - NMR của hợp chất A trang 37

Hình 3.3: Phổ 1H - NMR của hợp chất A trang 38

Hình 3.4: Phổ 1H - NMR của hợp chất A trang 38

Hình 3.5: Phổ 13C - NMR của hợp chất A trang 39

Hình 3.6: Phổ 13C - NMR của hợp chất A trang 39

Trang 5

Hình 3.8: Phổ DEPT của hợp chất A trang 40 Hình 3.9: Phổ HMBC của hợp chất A trang 41 Hình 3.10: Phổ HMBC của hợp chất A trang 42 Hình 3.11: Phổ HMBC của hợp chất A trang 43 Hình 3.12: Phổ HMBC của hợp chất A trang 44 Hình 3.13: Phổ HSQC của hợp chất A trang 45 Hình 3.14: Phổ HSQC của hợp chất A trang 46 Hình 3.15: Phổ khối lượng EI-MS của hợp chất B trang 48 Hình 3.16: Phổ 1H-NMR của hợp chất B trang 49

Trang 6

Sơ đồ 2.1: Chiết các phân đoạn trong lá cây giác đế miên trang 32

Sơ đồ 2.2: Tách các hợp chất trong cao etyl axetat của lá cây giác đế miên trang 33

Trang 7

Luận văn này được hoàn thành tại phòng thí nghiệm Hoá hữu cơ, khoa Hóa, Trường Đại học Vinh; Viện hoá học, Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên

và Công nghệ Việt Nam

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS TS Lê Văn Hạc người

đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn cũng như đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi chân thành cảm ơn :

- PGS TS.Trần Đình Thắng – đã tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp nhiều ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn

- PGS TS Hoàng Văn Lựu đã góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn này

Cũng nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Hoá, Khoa sau đại học – Trường Đại học Vinh, cùng người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Trang 8

Luận văn này được hoàn thành tại phòng thí nghiệm Hoá hữu cơ, khoa Hóa, Trường Đại học Vinh; Viện hoá học, Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên

và Công nghệ Việt Nam

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS TS Lê Văn Hạc người

đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn cũng như đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi chân thành cảm ơn :

- PGS TS.Trần Đình Thắng – đã tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp nhiều ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn

- PGS TS Hoàng Văn Lựu đã góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn này

Cũng nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Hoá, Khoa sau đại học – Trường Đại học Vinh, cùng người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Trang 9

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 4

Chương 1 5

TỔNG QUAN 5

1.1 Họ Na (Annonaceae) 5

1.2 Chi Giác đế (Goniothalamus ( Blume) Hook f & Thoms) 7

1.2.2 Đặc điểm thực vật của một số loài thuộc chi Goniothalamus (Blume) Hook f & Thoms - giác đế 8

1.3 Hoạt tính sinh học các hợp chất styryl lacton 18

1.4 Cây nghiên cứu 24

Chương 2 30

PHƯƠNG PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM 30

2.1 Phương pháp nghiên cứu 30

2.2 Hoá chất, dụng cụ và thiết bị 31

2.3 Nghiên cứu các hợp chất 31

Chương 3 34

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Phân lập các hợp chất 34

3.2 Xác định cấu trúc hợp chất A 34

3.3 Xác định cấu trúc hợp chất B 47

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 10

khác) Một số hợp chất có tiềm năng ứng dụng rất lớn để sản xuất thuốc chữa bệnh [23]

Mặc dù cây họ Na (Annonaceae) đã được khảo sát lần đầu tiên bởi Stehous năm 1855, nhưng trong 2 thập kỉ trước đây vẫn ít được tiến hành nghiên cứu, đến năm 1970, họ Na (Annonaceae) bắt đầu được nghiên cứu

kỹ Trong đó, phần lớn các đề tài nghiên cứu về alkaloit nhưng cây họ Na (Annonaceae) cũng chứa một lượng lớn non- alkaloidal (không phải alkaloit)

có nhiều hoạt tính kháng tế bào ung thư và chữa bệnh tim mạch rất quan trọng Các chất không phải alkaloit của họ Na (Annonaceae) bao gồm kauran, lignan, acetogenin, steroit và các hợp chất thơm

1.1.3 Ứng dụng của một số cây thuộc họ Na

Vỏ, lá và rễ được dân gian dùng để chữa bệnh nhiễm trùng, bệnh ho, tiêu chảy Các nghiên cứu dược lí đã tìm thấy khả năng kháng nấm, kháng khuẩn

và đặc biệt là khả năng sử dụng trong hóa trị liệu của một số thành phần hóa học của lá và vỏ Nghiên cứu bước đầu về khả năng chữa bệnh ung thư ở Việt Nam thì trong đó cũng có một số lượng lớn cây họ Na

*Chi Uvaria là một trong những chi lớn nhất của họ Na, ở Việt Nam có

khoảng 16 loài

- Kỳ hương (Uvaria microcarpa) vỏ dùng làm thuốc chống tiêu hóa

- Bù dẻ trườn (Uvaria microcarpa) Chứa hợp chất tonkinelin có hoạt tính

chống ung thư bạch huyết

*Chi Polyalthia – quần dầu, Việt Nam có 26 loài

- Chùm rụm (Polyalthia intermedia), lá dùng chữa bệnh ho ra máu

- Ngấn chày (Polyalthia thorelie), vỏ dùng chữa đau dạ dày

- Quần đầu vỏ xốp (Polyalthia suberosa), quả dùng để ăn

- Quần đầu bảo chánh (Polyalthiaevecta)cành và lá dùng chữa sốt rét

*Chi desmos – hoa dẻ, ở việt nam có 5 loài

-Dẻ lông đen (Desmoscochinensis) lá uống tăng sự tiết sữa

Trang 11

cọng ngăn, cánh hoá trong nhở hơn cánh hoa ngoài, dính nhau ở trên đỉnh tháp, tiệu nhụy nhiều, bao phấn có vách ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1 noãn, trái xoan dài 11mm, hột 1-2mm Mọc rải rác trong rừng núi đất, ở độ cao 100 – 800m Ra hoa tháng 12 – 5 (năm sau), mang quả từ tháng 6 – 11thứ sinh.[1]

4) Goniothalamus elegans Ast – giác đế thanh lịch

Phân bố: Quảng Bình ( La Mâm)

Dạng sống và sinh thái: bụi nhỏ, cao 2 – 4m, nhánh xám đen, lá có phiến hẹp thon, lúc già không lông, gân phụ 10 – 12 cặp, cuống 4 - 6mm Hoa cô độc ở nách lá, cánh hoa trong nhỏ hơn cánh hoa ngoài, chóp dính nhau hình tháp, tiểu nhụy nhiều, bao phấn với nhiều ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1 noãn Mọc rải rác trong rừng thứ sinh Ra hoa tháng 4 – 6 có quả tháng 6 – 7 [1]

5) Goniothalamus expansus Craib – giác đế xoè

Phân bố: Ở Gia Lai (Kon Hà Nừng) Còn lại gặp ở Thái Lan

Dạng sống và sinh thái : bụi nhỏ cao khoảng 3m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh Ra hoa tháng 4 – 7.[1]

6) Goniothalamus donnaiensis Fin & Gagnep – giác đế nhung, giác đế đồng

nai

Phân bố: ở Khánh Hoà (Nha Trang), Kon Tum (Sa Thầy, Mo Ray), Đắc Lắc (Đắc Nông, Phú Quảng, Krông Pắc, Hoà Lễ, Khê Ngọc Điền), Lâm Đồng (Bảo Lộc), Ninh Thuận (Cà Ná), Đồng Nai (Chao Shan)

Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 5m Nhánh có lông hoe, lá có phiến nón ngược, chóp mũi, đáy từ từ hẹp, có lông ở mặt dưới, hoa ở nách hay nhánh vừa rụng lá, cánh hoa trong nhỏ hơn và dính nhau ở trên, dài 2 – 2,5cm, tiểu nhụy có ngăn ngang ở buồng phấn, tâm bì có lông, noãn 1 – 2 Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh, nơi ẩm Ra hoa tháng

4 – 6, có quả tháng 11 – 12.[1]

7) Goniothalamus gracilipes Ban – giác đế cuống dài

Phân bố: Mới thấy ở Đắc Lắc (Đắc Mil, Đức Minh, Thuận An)

Trang 12

Dạng sống và sinh thái: bụi nhỏ, cao 3 – 4m Mọc rải rác trong rừng núi đất, ở

độ cao dưới 300m.[1]

8) Goniothalamus Macrocalyx Ban – Màu cau trắng, tai nghé, bồ câu đất,

giác đế đài to

Phân bố: Bắc Cạn (Ba Bể, rừng bản cám), Hà Tây (Chùa Hương ), Hoà Bình (Chợ Bờ, Núi biều), Thanh Hoá (Thạch Thành, Phố Cát)

Dạng sống và sinh thái: Gỗ cao 10 – 15m, thân to 20 – 25cm, nhánh mảnh không, lá có phiến bầu dục xoan ngược, to đến 25x10cm, đáy tù tù nhọn, không lông, gân phụ 12 -13 cặp, cuống 1,5 cm Hoa cô độc ở nách lá rụng, cánh hoa liền mảnh, cánh hoa trong nhỏ hơn, tiểu nhụy nhiều, dài, buồng phấn có ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1-2 noãn Trái thành cụm dày to 5cm, vàng lúc chín, không lông, 2 hạt Loài hiếm, rất đặc trưng bởi có lá dài to và dạng

lá (đường kính 2 – 3cm) Mọc rải rác ở rừng nguyên sinh, nơi ẩm, vùng núi đất, ở độ cao dưới 300m

Đây là loài hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam

Công dụng: Gỗ phẩm chất trung bình, dùng đóng gỗ gia dụng, làm guốc, làm bao bì.[1]

9) Goniothalamus chartaceus – cây chân kiềng, giác đế giấy

Phân bố: Quảng Ninh (Đầm Hà, Lung Vân), Lạng Sơn (Hữu Lũng, Minh Sơn)

Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 4 – 6 m, nhánh không lông, lá có phiến thon thon – ngược hẹp, to 11-17x1,7-2,8 cm, dai dai, đáy nhọn, gân phụ 10 -

12 cặp, cuống 5mm Hoa cô độc mọc ở nách lá, hoa - phụ 2, lá đài 9x4 mm, cánh hoa ngoài hẹp, cao 1,8 cm, cánh hoa trong cao 1cm, tiểu nhụy nhiều, tâm bì nhiều, có lông nâu , mọc rải rác trong rừng thứ sinh Ra hoa tháng 5 –

6, có quả khoảng tháng 7 – 8.[1]

10) Goniothalamus ninhianus Ban – giác đế Lâm Đồng

Phân bố: Mới thấy ở Lâm Đồng ( Lạc Dương: Suối vàng)

Trang 13

Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 2m Ra hoa tháng 5 Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh

11) Goniothalamus takhtajani Ban – giác đế Tam Đảo

Phân bố: Mới thấy ở Vĩnh Phúc ( Tam Đảo)

Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 3m Mọc rải rác ven khe suối trong rừng nguyên sinh ở độ cao 400 – 500m Ra hoa tháng 3 – 4, có quả tháng 5 –

6

Loài này đặc trưng bởi thân 3 – 4 cạnh (Gần như thành cánh), lá gần như không cuống, có gốc phiến hình tim, núm nhụy mang một nhúm lông ở đỉnh Loài này rất hiếm, lại mọc trong rừng ẩm nơi có suối, rất dễ bị tuyệt chủng nếu môi trường sống bị huỷ hoại Loài này đã đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.[1]

12) Goniothalamus chinencis Merr & Chun – giác đế Trung Hoa

Phân bố: Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang ( Bắc Quang, Đồng Tâm, Quảng Ninh (Ba Mùn) Còn có ở Trung Quốc (Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam)

Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 2 – 3m Mọc rải rác ở trong rừng nguyên sinh, vùng núi đất Ra hoa tháng 5 – 7, mang quả tháng 8 – 9.[1]

13) Goniothalamus tenuifolius King, 1892 - Gonithalamus Kunstleri King,

1892 – Goniothalamus caudifolius Ridl, 1914 – Giác đế lá mỏng

Phân bố: Kon Tum ( Đắc Glây, Đác môn), còn có ở Malaixia

Dạng sống và sinh thái: Bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 2 – 7m Ra hoa tháng 3 – 6, có quả tháng 5 - 7 Mọc rải rác trong rừng thứ sinh.[1]

14) Goniothalamus touranensis Ast, 1938 - giác đế Đà Nẵng

Phân bố: Đà Nẵng (Đèo Hải Vân, Tourane), Quảng Nam (Cù Lao Chàm), Khánh Hoà (Hòn Tre), Đắc Lắc (Đắc Nông, Đạo Nghĩa), Lầm Đồng (Bảo Lộc, Lộc Tân)

Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 2 – 5m, nhánh có lông hoe, rồi đen đen

Lá bầu dục dài, dài 20cm, có đuôi dài vài cm, gân phụ rất mịn, 14-15 cặp, cuống 1cm, đen đen Hoa cô độc ở nách lá, cọng ngắn, lá đài cao, cánh hoa trong nhở hơn, đính nhau ở trên thành tháp, tiểu nhụy nhiều, tâm bì nhiều, 1-

Trang 14

2 noãn Trái tròn dài, dài 2cm, đầu nhọn, hột 2, màu tươi Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh ở độ cao 100 – 800m.[1]

15) Goniothalamus touranensis Ast, 1938 - giác đế Đà Nẵng

Phân bố: Đà Nẵng (Đèo Hải Vân, Tourane), Quảng Nam (Cù Lao Chàm), Khánh Hoà (Hòn Tre), Đắc Lắc (Đắc Nông, Đạo Nghĩa), Lầm Đồng (Bảo Lộc, Lộc Tân)

Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 2 – 5m, nhánh có lông hoe, rồi đen đen

Lá bầu dục dài, dài 20cm, có đuôi dài vài cm, gân phụ rất mịn, 14-15 cặp, cuống 1cm, đen đen Hoa cô độc ở nách lá, cọng ngắn, lá đài cao, cánh hoa trong nhỏ hơn, đính nhau ở trên thành tháp, tiểu nhụy nhiều, tâm bì nhiều, 1-2 noãn Trái tròn dài, dài 2cm, đầu nhọn, hột 2, màu tươi Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh ở độ cao 100 – 800m.[1]

16) Goniothalamus undulatus Ridl.1920 – Goniothalamus latestigma Fiche,

1927 – giác đế lượn sóng

Phân bố: Đắc Lắc (Đắc Nông, Đạo Nghĩa) Còn có ở Myanma, Thái lan Dạng sống và sinh thái: Bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 5 – 10m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh ở độ cao 200 – 300 Ra hoa tháng 5 - 7 , mang quả tháng 8 – 10.[1]

17) Goniothalamus vietnamensis Ban - bổ béo đen

Phân bố: Mới thấy ở Cao Bằng (Quảng Hoà, Mỹ Hưng), Quảng Ninh (Móng Cái, Pò Hèn), Phú Thọ (Cầu Hai), Hà Tây (Ba Vì, Minh Quang)

Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 2 – 3 m Mọc rải rác trong rừng thứ sinh ở độ cao 200 – 300 Ra hoa tháng 4 - 6, mang quả tháng 7 – 10.[1]

18) Goniothalamus wightii Hook F & Thoms 1855 – giác đế Ấn Độ

Phân bố: Đà Nẵng (Sơn Trà), Khánh Hoà (Ninh Hoà), Ninh Thuận (Phan Rang, Cà Ná), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Đồng Nai ( Núi Chứa Chan, Biên Hoà, Xóm Trường), còn có ở Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia

Dạng sống và sinh thái: Bụi hay gỗ nhỏ, cao 1 – 6 m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh Ra hoa tháng 5 - 8, mang quả tháng 9 – 12.[1]

Trang 15

19) Goniothalamus yunanensis W T Wang, 1954 - giác đế Vân Nam

Phân bố: Lào Cai (Sapa, Sang Ta Van), Sơn La (Mộc Châu, Mường Sang, Chiềng ve) Lạng Sơn (Hữu Lũng, Đồng Tâm), Hoà Bình (Chợ Bờ), Hà Tây (Chùa Hương) Còn có ở Vân Nam – Trung Quốc

Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 10 m Mọc rải rác trong rừng vùng núi đất, trên độ cao 350m Ra hoa tháng 4 - 6.[1]

1.2.3 Các nghiên cứu về thành hóa thực vật của Goniothalamus tamirensis Pierre ex Fin & Gagnep – giác đế

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hoá học của một số loài về chi

Goniothalamus ( giác đế), và đã phát hiện được nhiều hợp chất, cụ thể như

Trang 17

Năm 2005, Chatchai Wattanapiromsakul cùng các cộng sự ở Thái Lan

đã tách đƣợc Goniothalamin từ rễ và thân cây Goniothalamus macrophyllus (Blume) Hook và Thomson Goniothalamin (6) cho thấy một cytoxicity hứa

hẹn đối với tế bào ung thƣ ruột kết và đã xác định đƣợc cấu trúc của nó nhƣ sau:[7]

(6)

Ở Anh, năm 1998 Darren J Dixon, Steven V Ley đã phân lập từ lá và

cành của (sesquipedalis goniothalamus) đƣợc chất Goniodiol 1 (7) có cấu trúc

nhƣ sau:

(7)

Chất này có hoạt tính sinh học chọn lọc chống lại sự phát triển của tế bào ung thƣ phổi.[8,11]

Ở Malayxia, Aryanti Abdullah, đã phát hiện trong trái cây của Peel

(Goniothalamus scortechinii) ở Malayxia các chất sau: pinocembrine (8),

altholactone (9), goniofufurone (10), goniotriol (11) và goniopypyrone (12):[10]

Trang 18

Ở Brazil các tác giả Patriciade A Amaral, Julien Petrignet, Nicolas Gouault, Taciane Agustini, Françoise Lohézic-Ledévéhat, Alexandre Cariou,

René Grée, Vera L Eifler-Lima, Michèle David đã cùng nhau phát hiện đƣợc các hoạt tính gây độc với tế bào của các chất có trong thân vỏ của cây

arvensis goniothalamus kavain (13), methysticin (14), desmethoxyyangonin

(15), dihydrokavain (16), dihydromethysticin (17) và yangonin (18) [9]

10

11

12

Trang 19

Đến năm 2003, Qing Mu, Yi Neng He, cùng các cộng sự đã phân lập

đƣợc 2 chất leiocarpin E 1 (21) iocarpin E 2 (22) từ cây goniothalamus

leiocarpus có cấu trúc nhƣ sau:[12]

Trang 20

của chúng (về tim mạch, độc tính và các hoạt tính dược lý khác), một số hợp chất có tiềm năng rất lớn trong việc sản xuất thuốc

Kết quả của những nghiên cứu này cho thấy, ngoài các ankaloit các cây

họ Na còn chứa một lượng lớn các chất thuộc nhiều loại khác nhau gọi chung

là non – ankaloit (không phải ankaloit), có nhiều hoạt tính kháng tế bào ung thư và chữa bệnh tim mạch rất quan trọng Các non – ankaloit của họ Na bao gồm kauran, lignan, acetogenin, steroit…

Trong đó có một nhóm chất trao đổi bậc hai được gọi là các hợp chất styryl lacton, chúng được phân lập chủ yếu từ các loài Giác đế

(Goniothalamus) thuộc họ Na Styryl lacton đầu tiên được phân lập trong họ

Na là (R)- Goniothalamin vào năm 1972 từ dịch chiết của một số loài

Goniothalamus

Các nghiên cứu dược lý trước đó đều chứng minh các styryl lacton có thể được sử dụng nhiều để chữa trị các bệnh lây nhiễm (do vi khuẩn và nấm), bệnh sốt vàng da, giun chỉ, sản xuất thuốc chống viêm, thuốc cầm máu, thuốc diệt trùng và thuốc chống u, bướu

Mỗi styryl lacton đều có một vòng ,  - unsaturated -  - lacton trong cấu trúc của chúng, không thể tìm được một cấu trúc tương tự như vậy từ các lớp chất khác Điều này giải thích vì sao chúng là nhóm có nhiều hoạt tính sinh học có giá trị, độ độc tế bào cao và là tác nhân chống ung thư hiệu quả

Thời gian qua, từ các loài Giác đế (Goniothalamus) các nhà khoa học

đã phân lập được nhiều styryl lacton có các hoạt tính sinh học có giá trị mở ra tương lai nhiều triển vọng cho việc nghiên cứu sản xuất các loại thuốc chống

ung thư Kiểm tra hoạt tính sinh học đối với goniothalamin oxide (1), goniodiol (2) và altholacton (3) và goniopypyron (4) được phân lập từ

Goniothalamus griffithu cho thấy cả bốn styryl lacton này đều có tác dụng

độc tế bào

O O

3

O

O H

O H O H

O

4 Hình 1.1 Cấu trúc của goniothalamin oxide (1), goniodiol (2), althlacton (3)

và goniopypyron (4)

Trang 21

Kiểm tra hoạt tính sinh học các hợp chất phân lập đƣợc từ quả và vỏ

cây Crypto carya obovota là Obolacton (5) và Obochalcolacton (6), cho thấy

cả hai đều có những tác dụng độc tế bào quan trọng chống lại các tế bào ung thƣ thanh quản (KB) với các giá trị IC50 lần lƣợt là 3 và 5 M

O O

O

6

Hình 1.2 Cấu trúc của obolacton (5) và obochalcolacton (6)

Dựa vào những đặc trƣng cấu trúc của các hợp chất đã tách đƣợc, các nhà khoa học đã chia styryl lacton làm 6 nhóm, gồm: styryl pyron, furano pyron, furano furon, pyrano pyron, butenolide và heptolide

Styryl pyron Furano pyron Furano furon

Pyrano pyron Butenolide Heptolide

Hình 1.3 Các khung styryl lacton cơ bản đƣợc tách từ chi

Goniothalamus

Trang 22

1.3.1 Furano pyron

Hợp chất đầu tiên của nhóm này đƣợc phát hiện là altholacton (3), đƣợc

tách ra từ vỏ cây Goniothalamus giganteus và công bố với tên gọi khác là

goniothalenol Altholacton (3) và tất cả các furano pyron khác đều có nguồn

gốc sinh học từ việc chuyển hóa của các styryl pyron Furano pyron là nhóm

có số lƣợng các chất nhiều thứ hai trong các nhóm styryl lacton

O

O O

O O

Ph

O O

Ph

O O

Cũng từ vỏ cây Goniothalamus giganteus, đã phân lập đƣợc hai furano

furon là goniofufuron (12) và 7-epi-goniofufuron (13) Từ kết quả kiểm tra hoạt tính, Fang và cộng sự cho thấy tác dụng độc tế bào của chất (12) chống lại các tế bào ung thƣ phổi, ung thƣ vú và ung thƣ kết tràng với giá trị ED50

< 4g/ml

O

O O

OH

OH

O

O O

Trang 23

O H

Từ Goniothalamus giganteus phân lập đƣợc hai butenolide quan trọng

là goniobutenolid-A (16) và goniobutenolid-B (17) Tiến hành kiểm tra hoạt tính sinh học của chất (16), Teixera và cộng sự cho biết nó có độ độc vừa phải đối với các tế bào ung thƣ kết tràng (IC50 = 101,5 M)

OH O

O

OH

OH O

OH O

phân lập từ rễ của Goniothalamus giganteus Cách đây không lâu, các nhà

khoa học đã phân lập đƣợc hai heptolide mới là almuheptolide-A (20) và

almuheptolide-B (21) từ rễ của loài Goniothalamus arvusis

Trang 24

O

O H

OH

OH O

OEt

O

OH

OH O

O

OH

OH O

O

2 Hình 1.9 Cấu trúc của etharvendiol (22)

Mặc dù chứa đựng nhiều hoạt tính sinh học có giá trị, đặc biệt là khả năng kìm hãm sự phát triển không kiểm soát của nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau, nhưng hiện nay mới biết được khoảng hơn 90 styryl lacton (bao gồm cả các chất được điều chế bằng phương pháp tổng hợp), và đa phần trong

chúng được phát hiện chủ yếu ở các loài Giác đế (Goniothalamus) Vì vậy

việc mở rộng nghiên cứu trên các loài thực vật khác nhằm phân lập, xác định cấu trúc các styryl lacton với mục đích tìm nguyên liệu cho ngành hóa dược là một nhiệm vụ quan trọng

Trang 25

Hình 1.1: Ảnh cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis)

1.4.2 Thành phần hoá học

Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về thành phần hoá học của các cây thuộc chi Goniothalamus Năm 2009, Trần Đăng Thạch, Phạm Văn Cường, Đoàn Thị Mai Hương đã tách và phân lập được 10 chất từ lá của cây giác đế miên.Trong khuôn khổ báo nàycác tác giả đã thông báo về việc phân lập được 10 hợp chất từ cặn dịch không chứa ancaloit của lá cây giác đế Tamir Kết quả thử hoạt tính sinh học sơ bộ cho thấy dịch chiết EtOAc của lá cây ức chế 67,5 % dòng tế bào ung thư KB ở nồng độ 1 g/ml Cấu trúc của các chất được xác định là : goniothalamin(25) axit cinnamic , (26) axit p - methoxycinnamic (27)axit-3,4 -đimethoxycinnamic (28)syrngaldehyde (29) vanilline (30) 4- hydroxybenzaldehyde (31) axitprotocatechuic (32) 2,4,6- trimethoxyphenol (33) và 1- hexatriacontanol (34): [5]

Trang 26

(25) (26)

5 43

2

6

(29) (30)

CHO

OH

16

2

7 (31) (32)

Trang 27

(33) (34)

Năm 2010, Trần Đăng Thạch, Phạm Văn Cường, Đoàn Thị Mai Hương, Trần Văn Hiệu, Nguyễn Văn Hùng, Châu Văn Minh đã công bố về việc phân lập và xác định cấu trúc hóa học của 10 hợp chất từ lá của cây Giác

đế Tamin Trong khuôn khổ báo này tác giả trình bày việc phân lập và xác

định cấu trúc hóa học của 10 ancaloit từ lá cây (goniothalamus tamirensis

Pierre)Cấu trúc của các chất được xác định là N- nornuciferine (35) Norisocorydine (36), Isocorydine (37), 3-hydroxynornucefrine (38), O-methylisopiline (39), Annonaine (40), Roemeroline (41), Glaunine (42) và Liriodenine (43) [6]

Trang 28

NH O

O

N O

O

N O

O

OH

N O

O HO

O

(41) (42) (43) (44)

N O

O

O

(45)

Ở Đại học Vinh, TS Trần Đình Thắng cùng các cộng sự cũng đã công

bố về việc phân lập và xác định cấu trúc 3 hợp chất từ lá cây Giác đế Miên đó là: aristolactam BII (46), aristolactam BI (47), aristolactam AII (48) [7]

(46) (47) (48)

Năm 2010, Bùi Hữu Tài, Vũ Thị Huyền, Trần Thu Hương, Nguyen Nguyễn Xuân Nhiệm, Eun-MiChoi,, Jeong Ah Kim, Phan Quốc Long, Nguyễn Mạnh Cường, và Young Ho Kim đã công bố về việc phân lập và xác định cấu trúc hóa học của 4 chất là: (+) 8-epi-9- deoxygoniopypyrone (1), 9-

Ngày đăng: 16/12/2015, 11:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Ảnh cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis) - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 1.1 Ảnh cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis) (Trang 25)
Sơ đồ 2.2: Tách các hợp chất trong cao etyl axetat của lá cây giác đế miên - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Sơ đồ 2.2 Tách các hợp chất trong cao etyl axetat của lá cây giác đế miên (Trang 31)
Hình 3.2: Phổ  1 H - NMR của hợp chất A - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.2 Phổ 1 H - NMR của hợp chất A (Trang 34)
Hình 3.3: Phổ  1 H - NMR của hợp chất A - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.3 Phổ 1 H - NMR của hợp chất A (Trang 35)
Hình 3.4: Phổ  1 H - NMR của hợp chất A - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.4 Phổ 1 H - NMR của hợp chất A (Trang 35)
Hình 3.5: Phổ  13 C - NMR của hợp chất A - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.5 Phổ 13 C - NMR của hợp chất A (Trang 36)
Hình 3.8: Phổ DEPT của hợp chất A - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.8 Phổ DEPT của hợp chất A (Trang 37)
Hình 3.9: Phổ HMBC của hợp chất A - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.9 Phổ HMBC của hợp chất A (Trang 38)
Hình 3.12: Phổ HMBC của hợp chất A - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.12 Phổ HMBC của hợp chất A (Trang 41)
Hình 3.16: Phổ  1 H-NMR của hợp chất B - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.16 Phổ 1 H-NMR của hợp chất B (Trang 45)
Hình 3.17: Phổ  1 H-NMR của hợp chất B - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.17 Phổ 1 H-NMR của hợp chất B (Trang 45)
Hình 3.18: Phổ  13 C-NMR của hợp chất B - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.18 Phổ 13 C-NMR của hợp chất B (Trang 46)
Hình 3.21: Phổ DEPT của hợp chất B - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.21 Phổ DEPT của hợp chất B (Trang 47)
Hình 3.22: Phổ HMBC của hợp chất B - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.22 Phổ HMBC của hợp chất B (Trang 48)
Hình 3.26: Phổ HSQC của hợp chất B - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (goniothlamus tamirensis pierre ex  gagn ) ở việt nam
Hình 3.26 Phổ HSQC của hợp chất B (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w