Liệu những học sinh khuyết tật đó có thể trở về với môi trường sinh hoạt bình thường không?...Chính vì vậy với đề tài “Tìm hiểu phương pháp giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở bậc Tiểu Họ
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN TOÁN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tìm hiểu phương pháp giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở bậc Tiểu Học tại một số
trường dạy trẻ khuyết tật –Thành Phố
Cần Thơ
BÙI VĂN NGÀ NGUYỄN THỊ TRI HẬU
MSSV: 1041315
LỚP: SP TIỂU HỌC K.30
Cần Thơ, tháng 04/ 2008
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài :
Ngày nay, khi sự phát triển của xã hội ngày càng cao cả về vật chát lẫn tinh thần thì sự quan tâm của xã hội về giáo dục ngày càng lớn Có thể nói rằng
chưa bao giờ vấn đề giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em lại được đặc biệt
quan tâm như hiện nay Một đứa con không được khoẻ mạnh, bị bệnh tật hoặc chưa ngoan là nỗi lo âu, trăn trở của cả gia đình Vài đứa trẻ như thế sẽ làm cho làng xã, bản, phường quan tâm trong sự lo lắng Hàng trăm ngàn trẻ em Việt
Nam hiên nay vẫn đang gánh chịu hậu quả chiến tranh do chất độc màu da cam gây ra– sinh ra dị tật, dị dạng, tâm thần, mất trí, và một số trẻ em khác bị
khuyết tật do bẩm sinh Nỗi đau này ngấm sâu và lan rộng, nhức nhối trong
cộng đồng
Là một giáo viên Tiểu Học trong tương lai, điều băn khoăn rất lớn là liệu
mình có thể giáo dục được một học sinh khuyết tật nào đó trong lớp không ?
Liệu những học sinh khuyết tật đó có thể trở về với môi trường sinh hoạt bình
thường không? Chính vì vậy với đề tài “Tìm hiểu phương pháp giáo dục hoà
nhập trẻ khuyết tật ở bậc Tiểu Học tại một số trường dạy trẻ khuyết tật –Thành Phố Cần Thơ” là hy vọng rất lớn của tôi về sự đóng góp cho việc giáo dục trẻ
khuyết tật và cũng là để trao dồi năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân sau này
2.Lịch sử vấn đề :
Lịch sử giáo dục có từ buổi bình minh của nền văn hoá nhân loại.Trong khi
đó, lĩnh vực giáo dục trẻ khuyết tật chỉ mới ra đời từ khoảng thế kỷ XI Trước
đó, do nhận thức và quan niệm sai lầm, mê tín về người khuyết tật nên họ bị bỏ rơi trong giáo dục.Từ thẽ kỷ XI, một số người khuyết tật được chăm sóc, nuôi
dạy trong các tu viện và được học chữ Từ đó , người ta bắt đầu tin vào khả
năng có thể gtiáo dục người khuyết tật
Tuỳ theo quan điểm và nguồn gốc nảy sinh, đã hình thành các hình thức
trường lóp khác nhau cho trẻ khuyết tật Đến nay đã có ba hình thức giáo dục
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trẻ khuyết tật: Giáo dục chuyên biệt ,Giáo dục hội nhập và Giáo dục hoà nhập Hình thức sau ra đời muộn hơn, giải quyết mâu thuẫn nội tại của các hình thức trước đó và dần thay thế các hình thức giáo dục cũ, đã bị lạc hậu
2.1.Giáo dục chuyên biệt:
Sự ra đời của giáo dục chuyên biệt: Xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo
dục TKT từ thế kỷ XI ở các nước Pháp, Đức, Tây Bang Nha và một số nước
Châu Âu khác
Mục tiêu của giáo dục chuyên biệt:
w Chăm sóc, chữa trị và phục hồi chức năng
w Dạy văn hoá và dạy nghề
Hình thức giáo dục hội nhập là hình thức TKT được học trong lóp học
chuyên biệt, đặt trong trường phổ thông bình thường Trong quá trình giáo dục,
TKT nào có “khả năng” sẽ được học chung ở một số môn học hoặc tham gia một
số hoạt động cùng trẻ bình thường
Ture Johson – chuyên gia Liên Hiệp Quốc về phục hồi chức năng đã đưa ra khái niệm về các mức độ hội nhập như sau:
w Hội nhập về thể chất: Trẻ lành và TKT được cùng chơi với nhau trong một
số hoạt động như thể thao, vẽ
wHội nhập xã hội: Trẻ cùng học chung với nhau trong cùng một trường nhưng theo chương trình khác nhau, có giờ học chung và học riêng tuỷ theo môn học và
khả năng học của trẻ
wHội nhập hoàn toàn: TKT học như trẻ bình thường theo một chương trình
cứng bắt buộc
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Vấn đề đặt ra: Khi nào thì hội nhập về thể chất, khi nào thì hội nhập về chức năng,
ai là người quyết định cho trẻ hội nhập ở các mức đó
Những hạn chế:
w TKT chưa thực sự được hoà nhập với trẻ bình thường
w Việc học tập của TKT trong các lớp chuyên biệt theo một chương trình
riêng, không trùng lặp với các lớp khác nên trẻ không thích ứng được
Thực tế cho thấy phần lớn HS không qua được cấp Tiểu Học, Trẻ có rất ít kỹ năng sống, trẻ không biết làm gì và bị áp chế tâm lý Trong chương trình giáo dục hội nhập do UNICEF tài trợ thực hiện ở một số tỉnh thành từ năm 1991 dã mở một
số lớp chuyên biệt trong trường phổ thông, nhiều lớp đã tự giải tán sau một vài
năm
2.3.Giáo dục hoà nhập:
GDHN là phương thức giáo dục, trong đó TKTcùng học chung với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sống GDHN xuất phát từ quan
điểm xã hội về giáo dục, coi nhà trường như một xã hội thu nhỏ và phản ánh tính
chất đa dạng của xã hội, vì vậy mội trường giáo dục phổ thông được chú ý cải
thiện sao cho đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi HS, kể cả HS có khó khăn đặc thù Đây là mô hình giáo dục tiến bộ nhất được biết đến trong lĩnh vực giáo
dục TKT
3.Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu về “Tìm hiểu phương pháp giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở bậc
Tiểu Học tại một số trường dạy trẻ khuyết tật –Thành Phố Cần Thơ” nhằm hiểu
thêm về những trẻ em bị khuyết tật, để từ đó có thể tìm ra phương pháp để cho các
em hoà nhập vào xã hội dễ dàng và có hiệu quả Qua đó, có thể rút ra những kinhh nghiệm cần thiết cho bản thân, để có thể vận dụng vào thực tế giáo dục TKT trong tương lai Với tinh thần nhân đạo, tính nhân văn và với vốn kiến thức có được,
những mong bài nghiên cứu này sẽ là tư liệu và phương pháp tham khảo để góp
sức vào việc giáo dục TKT, xoa dịu những nỗi đau mất mát và mặc cảm của TKT, của gia đình và xã hội
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4.Giả thuyết khoa học:
Có thể nâng cao hiệu quả các phương pháp giáo dục hào nhập TKT kết hợp với
nhiều hệ thống phương tiện dạy học đặc thù nếu như người giáo viên có lòng nhân ái,có kiến thức vững vàng Và phương pháp giáo dục hoà nhập TKT có tính khả
thi
5.Phạm vi nghiên cứu:
Một số khu vực thuộc phạm vi TPCT:
Trường dạy trẻ khuyết tật Thành Phố Cần Thơ
Trung tâm nuôi trẻ mồ côi
Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản-TPCT
6 Đối tượng nghiên cứu:
Những học sinh khuyết tật ở Trường dạy trẻ khuyết tật Thành Phố Cần Thơ,
Trung tâm nuôi trẻ mồ côi, Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản-TPCT
7.Phương pháp nghiên cứu:
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
7.Phương pháp nghiên cứu
8.Cấu trúc luận văn
B.PHẦN NỘI DUNG:
1.CHƯƠNG : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ GIAO DỤC HOÀ
NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT
2.CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRẺ
KHUYẾT TẬT Ở MỘT SỐ KHU VỰC THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Căn cứ vào những dạng khó khăn đặc thù của TKT, người ta chia trẻ
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Khả năng của TKT:TKT có thể tham gia các hoạt động như mọi thành viên khác trong cộng đồng.Tuy nhiên, trẻ có được tham gia vào đó để thể hiện và phát
triển các tiềm năng của bản thân hay không là tuỳ thuộc phần lớn vào điều kiện
của gia đình, cộng đồng và của xã hội
Như mọi trẻ em khác, TKT cũng có những nhu cầu như:
• Nhu cầu về thể chất : ăn, ở, mặc,
• Nhu cầu an toàn: được che chở
• Nhu cầu xã hội: giao lưu, tiếp xúc với những người xung quanh
• Nhu cầu được quan tâm và tôn trọng
• Nhu cầu phát triển nhân cách
1.1.1.3.nguyên nhân gây khuyết tật:
Nguyên nhân do môi trường sống:
o Đói nghèo, bệnh tật chưa chấm dứt
o Môi trường bị ô nhiễm
o Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi
o Chấn thương do tai nạn, rủi ro
o Tổn thương tinh thần
o Chiến tranh, chất độc
Nguyên nhân do xã hội:
o Xã hội bỏ rơi, không quan tâm
o Môi trường xã hội chưa tạo điều kiện cho trẻ phát triển
Nguyên nhân bẩm sinh:
o Do di truyền
o Do sinh đẻ không bình thường (mổ, hút con, )
o Do bị phát sinh trong bào thai
1.1.2.Giáo dục hoà nhập:
1.1.2.1.Khái niệm: Là hình thức giáo dục TKT hiện đại nhất hiện nay.Theo hình
thức này, TKT cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại
nơi trẻ sinh sống
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.1.2.2.Những đặc trưng của GDHN:
Giáo dục cho mọi đối tượng học sinh Trong GDHN không có sự tách biệt học
sinh với nhau
Học ở trường nơi mình sinh sống
Mọi học sinh được học một chương trình giáo dục phổ thông
Để GDHNđạt hiệu quả cao nhất ,cần điều chỉnh chương trình ,phương pháp giảng dạy và cách đánh giá
GDHN xem mọi trẻ em khác nhau
Mục tiêu của GDHN là dạy học sáng tạo, tích cực và hợp tác
Tạo cho trẻ kiến thức chung, tổng thể, cân đối
Cần áp dụng đa dạng, nhiều phương pháp trong dạy học hợp tác Lựa chọn và sử
dụng đúng các phương pháp: Đồng loạt, Đa trình độ, trùng lặp giáo án, thay thế, cá biệt hoá,
1.1.2.3.Tính tất yếu của GDHN:
Tại Hội nghị về giáo dục cho TKT tại Agra, Ấn Độ (Tháng 3 năm 1998) do
UNESCO tổ chức đã khẳng định xu hướng GDHN cho mọi trẻ em Những nội
dung sau đay cho thấy sự cần thiết có GDHN cho mọi trẻ em, trong đó có TKT
Thay đổi quan điểm giáo dục:
o Để giáo dục trẻ em, không phải là bắt trẻ em theo sự thay đổi của điều kiện môi trường mà chính môi trường giáo dục cần phải thay đổi
o Tạo điều kiện cho mọi trẻ em được học Tính hiệu quả đối với học sinh:
o Xoá bỏ mắc cảm, tự ti
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
o Giao tiếp phát triển nhanh
o Theo Công ước quố tế về quyền trẻ em (Điều 18,23): Bình đẳng về cơ
hội học tập cho mọi trẻ em
o Tuyên bố Salamanca (1994): “Giáo dục là quyền của con người và
người khuyết tật cũng có quyền học trong các trường phổ thông và các trường đó phải được thay đổi để tất cả trẻ em đều được học.”
o Tuyên ngôn thế giới về giáo dục cho mọi người (1990): “các quốc gia
phải quan tâm đến nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ em khuyết tật và tạo điều kiện bình đẳng trong giáo dục cho mọi TKT như là một bộ phận thiết yếu của hệ thống giáo dục quốc dân”
o Một số những quy định của nước ta về việc GDHN TKT : Đièu 59 –
Hiến pháp nước CHXHCNVN 1992, Luật phổ cập Giáo dục Tiểu học ngày 16/8/199, Luật bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em ngày
16/8/1991, Pháp lệnh về người tàn tật 30/7/1998
GDHN còn mang lại tính kinh tế cho đất nước:
o Huy động được nhiều trẻ em đi học do gần trường, chi phí ít tốn kém
o TKT được học cùng một chương trình giáo dục với các bạn bình thường
khác
o Coi trọng kiến thức và kỹ năng xã hội
o Tạo điều kiện và môi trường để đạt hiệu quả trong giá dục
1.2.Quy trình giáo dục hoà nhập TKT:
1.2.1.Quan điểm xây dựng mục tiêu và kế hoạch giáo dục cá nhân cho TKT:
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.2.1.1.Kế hoạch giáo dục cá nhân:
Là một phương tiện trợ giúp cho việc lên kế hoạch giảng dạy của giáo
viên Đó là cơ sở của phương pháp sư phạm mà giáo viên sử dụng
Trong công tác giáo dục TKT,việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân là rất
cần thiết và quan trọng đối với mỗi trẻ vì nó nhằm xác định rõ mục tiêu giáo dục,
phương pháp, cách tiến hành và chỉ ra những dịch vụ hỗ trợ cần thiết, nhằm đáp
ứng nhu cầu của trẻ
1.2.1.2.Quan điểm xây dựng mục tiêu và kế hoạch giáo dục cá nhân choTKT:
Quan điểm bình đẳng:
o TKT có quyền được giáo dục
o TKt có quyền được bình đẳng về cơ hội, tuỳ theo năng lực và nhu cầu mà
có những cách đối xử phù hợp
o TKT có quyền được tham gia xã hội: làm cho trẻ không cảm thấy bị hạn
chế trong khi được giáo dục, được tham gia mọi hoạt động bình thường
trong mội trường học tập với mọi trẻ em khác
Quan điểm phát triển:
o Quy luật bù trừ của TKT
o Bất cứ TKT nào cũng có khả năng phát triển (nhu cầu, nhận thức, )
o Sự phát triển phụ thuộc rất nhiều vào người xung quanh
Quan điểm tiếp cận đối với giáo dục phổ thông:
Trong giáo dục hoà nhập,TKT cùng với trẻ em khác được học chung một chương
trình Mục tiêu đưa ra cũng phải phù hợp với từng trẻ và tiếp cận với mục tiêu giáo dục nói chung
1.2.2.Những biểu hiện hành vi bất thường của TKT và cách giáo dục:
1.2.2.1.Những biểu hiện hnàh vi bất thường của TKT
Biểu hiện qua vận động các bộ phận cơ thể:
o Trẻ đi lại, ra vào tự do trong lớp
o Khi không vừa ý, trẻ có thể đấm đá, xô đẩy, ăn vạ, chọc tay vào mắt
o Ngồi không yên, gật gù, lắc người, vận động tay chân liên tục,
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
o Có thể đập phá đồ đạc khi chơi
o Trẻ có thể vệ sinh không đúng nơi
o Trẻ tù chối sự chăm sóc vỗ về của người khác, trẻ lẫn tránh hoặc hoảng
sợ,
Biểu hiện bằng sự im lặng:
o Trẻ ngồi uể oải, buồn chán, im lặng
o Trẻ không chú ý nói chuyện với người xung quanh
o Trẻ không làm việc, thờ ơ với mọi người xung quanh
o Trẻ không phản ứng lại mọi việc
Biểu hiện bằng âm thanh,lời nói:
o Trẻ nói năng tự do, vô ý thức trong lớp
o Trẻ có thể la hét, gào thet không rõ lý do
o Trẻ có thể nói lẩm bẩm một mình
o Trẻ có thể khóc hoặc hờn dỗi
1.2.2.2.Biện pháp giáo dục hành vi cho TKT:
Xây dựng tốt mối quan hệ với trẻ khi trẻ có biểu hiện bất thường:
o Tìm hiểu rõ nguyên nhân
o Không định kiến
o Yêu thương, quan tâm, chăm sóc trẻ thường xuyên, tạo niềm tin để trẻ
không cảm thấy bị bỏ rơi và được an toàn
Hình thành cho TKT có một số kỹ năng đơn giản:
Với TKT thì những việc rất nhỏ cũng phải dạy, không như trẻ bình thường đã
ngầm biết và hiểu những việc làm tốt trong cuộc sống.Vì vậy, cần hình thành cho
trẻ một số kỹ năng hằng ngày như:
o Kỹ năng tự phục vụ, chăm sóc bản thân
o Lịch sự khi chào hỏi, trả lời
o Ý thức giúp đỡ người khác
o Có thái độ tốt với công việc mình làm
o Biết nhận xét để lựa chọn
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Khuyến khích trẻ tham gia vào một số trò chơi, hoạt động hay, hấp dẫn Từ đó
giúp trẻ hoà mình vào các trò chơi và có cơ hội khám phá những điều mới mẻ
Dạy cho trẻ biết nội qui lớp học Cần phải giải thích và minh hoạ cụ thể những
điều khoản của nội qui lớp học
Động viên ,khen thưởng trẻ đúng lúc khi trẻ có hành vi tốt bằng nhiều hình thức
Sử dụng hình phạt: Với những hành vi vượt quá giới hạn cho phép và diễn ra
thường xuyên thì cũng cần có hình thức phạt phù hợp để giáo dục, răn đe.Cần
khéo léo để tránh tình trạng trẻ lo lắng, tức giận tạo ra sự căng thẳng, chống đối
của trẻ
hình phạt phải có tính mục đích cụ thể và làm tăng động cơ thúc đẩy trẻ thay đổi
hành vi không phù hợp và tăng cường mối quan hệ thầy trò
1.2.3.Dạy học hoà nhập TKT:
1.2.3.1.So sánh giữa lớp học bình thường và lớp học hoà nhập:
Sự giống nhau:
o Cùng chương trình và sách giáo khoa phổ thông
o Giáo viên phổ thông đảm nhiệm
o Mọi học sinh đều được tham gia đầy đủ các hoạt động
Sự khác nhau:
Đối tượng thuần nhất
Nhu cầu của học sinh cơ bản giống
nhau
Mục tiêu dạy học chung
Môi trường, không gian, lớp học ít được
Đa dạng về đối tượng
Học sinh có khó khăn đặc thù và nhu ầu đặc thù
Có mục tiêu chug và riêng phù hợp với trẻ có khó khăn đăc thù
Môi trường, không gian lớp học được
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tính đến
Mọi học sinh được đánh giá, cho điểm
và ghi nhận xét bằng hồ sơ,học bạ giống
nhau (Chủ yếu bằng định lượng )
Để dạy học lớp học hoà nhập có hiệu quả, GV cần:
o Hiểu khả năng và nhu cầu của trẻ, đặc biệt là TKT
o Có mục tiêu và kế hoạch dạy học chung và riêng
o Điều chỉnh mục tiêu, nội dung, và đổi mới phương pháp là yêu cầu thiết
yếu, đảm bảo để mọi học sinh tham gia các hoạt động học tập đa dạng, phát triển tối đa khả năng của mình
o Luôn chú ý thu nhận phản hồi từ học sinh để có nhận định, đánh giá và điều chỉnh cách dạy kịp thời
1.2.3.2.Cộng đồng tham gia giáo dục hoà nhập:
GDHN chỉ thật sự thành công khi có sự tham gia hợp tác giữa các nhóm , lực
lượng giáo dục là:
o Hội phụ huynh học sinh và gia đình TKT
o Cán bộ y tế
o Chính quyền địa phương
o Các tổ chức đòan thể ở địa phương:Hội phụ nữ, Hội nông dân, Cựu chiến
binh,
Trong đó gia đình TKT đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển
về thể chất và tinh thần của trẻ Thái độ của cộng đồng có ảnh hưởng quan
trọng đối với GDHN.Còn nhóm hỗ trợ cộng đồng– Nhóm nhỏ những người
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tình nguyện trong cộng đồng hỗ trợ và hợp tác với nhau để giúp đỡ một hoặc
nhiều TKT vượt khó khăn và hoà nhập với cộng đồng, có ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ hoà nhập cho TKT
1.3 Trẻ khiếm thị và GDHN trẻ khiếm thị:
1.3.1.Trẻ khiếm thị:
1.3.1.1.Khái niệm trẻ khiếm thị:
Trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi có khuyết tật thị giác, khi đã có phương tiện
trợ giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt
1.3.1.2.phân loai mức độ khiếm thị:
Trẻ khuyết tật thị giác có thể chia làm hai loại: Trẻ mù và trẻ nhìn kém
Trẻ mù có hai loại: mù hoàn toàn và mù thực tế Mù hoàn toàn có thị lực bằng
0 đến 0.005Vis,thị trường bằng 0 đến tới 10 độ với cả hai mắt Mù thực tế thì
thị lực còn 0.005 đến 0.004 Vis hoặc thị trường còn nhỏ hơn 10 độ khi đã có
các phương tiện trợ giúp tối đa Biểu hiện là mắt còn khả năng phan biệt sáng
tối nhưng không rõ
Trẻ nhìn kém cũng có hai loại: Trẻ nhìn quá kém và nhìn kém Trẻ nhìn quá kém có thị lực còn từ 0.05 đến 0.08 Vis khi có các phương tiện trợ giúp tối đa Trẻ gặp nhiều khó khăn trong học tập khi sử dụng mắt và cần được giúp đỡ
thường xuyên trong sinh hoạt và học tập Trẻ nhìn kém: Thị lực còn 0.09 đến
0.3 Vis khi đã có các phương tiện trợ giúp tối đa trẻ vẫn gặp khó khăn trong
họat động Tuy nhiên, trẻ này có khả năng tự phục vụ, ít cần được sự giúp đỡ
thường xuyên của mọi người, còn chủ động trong hoạt động hằng ngày
So với trẻ sáng mắt trong qua trình hoạt động ,học tập ,trẻ mù gặp phải
những khó khăn sau:
o Giai đoạn luyện phát âm: Do không quan sát được nên rất khó luyện
theo âm miệng của giáo viên
o Mặc dù có thể sờ bằng tay được nhưng bằng cách này thường chậm hơn rất nhiều và hiệu quả cũng rất thấp trẻ khó có thể nhận dạng những hình
vẽ, màu sắc trong tranh ảnh
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
o Bằng mô tả và quan sát mô hình, trẻ mù có thể hiểu được các sự vật và
hiện tượng
o Trẻ mù viết chữ nổi không khó,nhưng trẻ gặp khó khăn khi sửa lỗi viết
chữ nổi, do không thể thêm, sửa, xoá những chữ đó
Ngoài ra, trẻ khiếm thị còn mắc nhiều khó khăn như:
o Trẻ mù bẩm sinh không thu nhận được hình ảnh từ thi giác do đó không
có khái niệm thực về màu sắc
o Trẻ khó khăn khi định hướng, di chuyển
o Trẻ khó khăn trong lao động tự phục vụ, sinh hoạy hằng ngày
o Trẻ khó cảm thụ vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người
o Trẻ khó tham gia các trò chơi vận động thể dục, thể thao
o Trẻ rất khó làm những việc cần phối hợp tay và mắt
Chính vì những khó khăn cơ bản mà trẻ khiếm thính gặp phải nên các em
càng khao khát được học tập, được hoà nhập với bạn bè, khao khát được
o Cảm giác thăng bằng và cảm giác cơ khớp phát triển vượt trội
lĐặc điểm nhận thức lý tính:
Trẻ khuyết tật thị giác có quá trình tư duy rõ rệt và đủ điều kiện để phát
triển.Tuy nhiên, những thao tác tư duy diễn ra phức tạp và khó khăn
Đặc điểm về biểu tượng: khuyết lệch, nghèo nàn, hình ảnh bị đứt đoạn ,mức độ khái quát thấp
Tưởng tượng của trẻ mù có hai đặc điểm:
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ü Hạn chế khả năng tái tạo, sáng tạo hình ảnh mới Đôi khi đánh giá
không đúng sự thật hoặc cường điệu hoá
ü Trí tưởng tượng nghèo nàn
Đặc điểm tư duy:
ü Ngôn ngữ giữ vai trò đặc biệt quan trọnểttong quá trình tư duy,chức
năng của ngôn ngữ không bị rối loạn Do đó, tư duy của trẻ vẫn đủ điều kiện phát triển Tuy nhiên, những thao tác tư duy diễn ra phức tạp và khó khăn
ü Nhờ có khả năng bù trù chức năng của các giác quan nên khả năng nhận thức của trẻ không bị ảnh hưởng nhiều, vì thế tư duy của trẻ mù vẫn có thể phát triển bình thường như mọi trẻ khác
1.3.1.4 Đặc điểm giao tiếp của trẻ khiếm thị:
Trẻ khiếm thị cũng có nhu cầu giao tiếp như mọi trẻ khác nhưng do không
nhìn thấy được nên trẻ có thể có nhiều thắc mắc
o Lời nói mang nặng tính hình thức, khó diễn đạt ý nghĩa của câu nói
o Mất hoặc giảm khả năng bắt chước những cử động,biểu hiện của nét mặt người khác cũng như khả năng biểu đạt bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt của mình, đặc biệt là trẻ mù
o Khó tham gia vào các hoạt động giao tiếp, nhất là những hoạt động giao tiếp đòi hỏi phải có sự định hướng, di chuyển trong không gian
o Có sự bị động trong giao tiếp, không xác định được khoảng cách, số lượng người trong không gian giao tiếp
o Xuất hiện tâm lý mặc cảm, tự ti, ngại giao tiếp
1.3.2.Phương pháp và phương tiện giáo dục hoà nhập trẻ khiếm thị bậc Tiểu
học:
1.3.2.1.Phương pháp giáo dục hoà nhập trẻ khiếm thị:
Phương pháp dạy học: Là con đường hoặc cách thức thực hiện mục tiêu là tổng hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò nhằm thực hiện tốt mục tiêu
dạy học
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Các phương pháp dạy học ở Tiểu học hiện nay:
o Nhóm phương pháp dùng lời: Giải thích,Thuyết trình,Chứng minh, Báo cáo,Vấn đáp
o Nhóm phương pháp trực quan: Quan sát,Trình bày trực quan,
o Nhóm phương pháp thực hành: Luyện tập, Trò chơi, Thực nghiệm,
o Nhóm các phương pháp khác: Phương pháp dạy học thi đua, phương
pháp dạy học cá thể hoá, phương pháp dạy học hợp tác nhóm, phương pháp trắc nghiệm, thực hành,
o Ngoài các phương pháp trên, khi dạy học hoà nhập trẻ khiếm thị, giáo
viên cần sử dụng các phương pháp đặc thù sau:
o Phương pháp trực quan: Trẻ bình thường có thể quan sát bắng mắt,
nhưng trẻ mù chủ yếu quan sát bằng tri giác sờ Vì vậy, hướng dẫn trẻ khiếm thị nặng quan sát “sờ” kết hợp với hướng dẫn bằng lời là phương pháp rất hiệu quả và được sử dụng thường xuyên
o Phương pháp sờ đọc và viết chữ Braille:
Phương pháp sờ đọc bằng tay để nhận biết các ký hiệu khác nhau theo cấu
trúc 6 chấm nổi trong ô Braille
Phương pháp viết ký hiệu Braille
Phương pháp rèn kỹ năng đọc, viết, sửa lỗi bài đọc viết theo sách giáo khoa bằng ký hiệu Braille
1.3.2.2.Phương tiện dạy học hoà nhập trẻ khiếm thị:
Khái niệm phương tiện dạy học: phương tiện dạy học là hệ thống đối tượng vật chất ( cả phương tiện kỹ thuật ) được người người giáo viên sử dụng trong quá trình tổ chức hoạt động học tập của học sinh, học sinh tham gia tham gia vào
quá trình sử dụng đó nhằm thực hiện nhiệm vụ học tập đặt ra
Các phương tiện:
o Các tài liệu và sách giáo khoa: Tranh, ảnh, bản đồ,
o Mẫu vật: Mẫu vật thật, mẫu vật phục chế
o Mô hình, dụng cụ, máy móc,
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
o Các phương tiện nghe nhìn:
ü Máy chiếu diafilm
ü Máy thu thanh (radio),máy thu thanh có ghi âm
ü Máy chiếu phim và phim điện ảnh
ü Đầu đĩa hình và đĩa ghi hình
ü Đầu đĩa tiếng và đĩa ghi âm
ü Máy thu hình (Tivi)
ü Đầu video và băng video
ü Máy chiếu tranh ảnh tài liệu in dùng cho máy episcope
ü Máy chiếu qua đầu và bản trong
ü Máy chiếu đa năng Các phương tiện trên có thể dùnh chung cho trẻ bình thường và trẻ nhìn
kém Riêng các đồ dùng trực quan cần rõ ràng, ít các chi tiết phụ ,màu sắc phù hợp ,có tương phản giữa nền và hình
Những phương tiện không thể dùng chung cho học sinh là : Tranh ảnh, bản
đồ phẳng, máy chiếu tranh ảnh, tài liệu in,…
Ngoài những phương tiện dành chung cho trẻ bình thường và trẻ mù, trẻ
mù cần có các phương tiện dạy học đặc biệt :
ü Tranh ảnh, bản đồ nổi, hình vẽ nổi, sơ đoof nổi, hình nổi,…
ü Bộ chữ nổi, ô và thanh con cắm, con xoay
ü Bảng chữ viết và giấy Braille
ü Các loại thước và ký hiệu nổi ( thước kẻ, eke, thước đo độ )
ü Bàn tính Sôrôban, bàn tính Taylo (ôn vuông)
ü Compa đặc biệt
Phương pháp và phương tiện dạy học hòa nhập cho học sinh khiếm thị học các phân môn :
Tiếng Việt :
ü Phương pháp : Sử dụng các phương pháp chung cho cả lớp ,chú ý các
phương pháp cá biệt hóa để hướng dẫn riêng và hỗ trợ cá nhân
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ü Phương tiện : Sử dụng đồ dung trực quan,vật thật, tranh ảnh nổi…
Toán :
ü Phương pháp : Sử dụng các phương pháp chung cho cả lớp, chú ý
phương pháp cá biệt hóa để hướng dẫn riêng và hỗ trợ cá nhân
ü Phương tiện : Sử dụng đồ dung trực quan, vật thật, bàn tính Sôloban, đồ dùng có ký hiệu nổi hoặc chìm, Sử dụng bảng gài ,lô-tô, bảng và dù viết chữ Braille …
Các môn học khác :
Giáo viên chúi ý sử dụng các đồ dùng học tập và đồ dùng trực quan là vật thật hoặc lấy từ thực tế
1.3.3.Những kỹ năng đặc thù trong giáo dục trẻ khiếm thị :
1.3.3.1.Quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thị :
Trong năm đầu tiên của cuộc đời ,trẻ khiếm thị giao tiếp chủ yếu với
người lớn Cha mẹ giao tiếp với chúng cũng như những trẻ bình thường Cha
mẹ luôn là người khởi đầu sự tương tác trẻ khiếm thị cũng có những hành vi
phản hồi Chúng có thể dùng tay đẩy khi không thích ,cũng có thể nắm áo kéo lại hoặc cười với cha mẹ Tuy nhiên, trẻ thường không quay mặt về phía người
mà chúng đang tiếp xúc Hành vi này thường ít gây hứng thú kích thích cho
cha mẹ trẻ, cha mẹ tre rthường không nhìn thấy ánh mắt từ con họ và kết quả là
họ dần dần chán nản.Do vậy ,việc tiếp xúc với con ngắn dần và ít dần
Ở lứa tuổi lớn hơn, trẻ khiếm thị bắt đầu mở rộng mối quan hệ tương tác của mình, không chỉ với những người than như ông bà, cha mẹ mà còn đựoc
mở rộng ra với bạn bè cùng trang lứa Sự tương tác bắt đầu trở nên phức tạp
hơn khi trẻ bắt đầu có nhu cầu quen biết nhau Lúc này, trẻ có thể biểu hiện sự thân thiện và tiến đến gần nhau để cùng chơi, cùng nói chuyện
Khi tuổi lớn dần lên thì những khó khăn trong giao tiếp của trẻ khiếm thị bộc lộ rõ hơn, trẻ không theo kịp bạn sang trong trò chơi đòi hỏi nhiều kỹ năng Chúng không biết làm thế nào để tham gia vào nhóm chơi, không biết cách
khởi đầu và duy trì giao tiếp
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Do không nhận được thong tin thị giác (ánh mắt, cử chỉ, dáng điệu, nụ
cười,…) nên người giao tiếp và trẻ khiếm thị không hịểu chính xác thong điệp của nhau Do đó ,các phản hồi có thể không phù hợp ,làm cho hứng thú giao
tiếp giảm đáng kể ,trẻ trở nên cô độc trong mối tương tác bạn bè Hậu quả là
trẻ khiếm thị không phát triển được những kỹ năng ngôn ngữ và những kỹ
năng giao tiếp phù hợp, trẻ gặp nhiều khó khăn khi giao tiếp với mọi người
Trẻ mù thường có xu hướng tập trung hứng thú vào những hành động của riêng mình : Hỏi và lặp lại nhiều câu hỏi; có những đòi hỏi không bình thường đối
với người khác; thay đổi chủ đề một cách đột ngột ;hoặc không có phản hồi trở lại đối với những lời nói, hành vi hoặc sự quan tâm của người khác
Ở trẻ thường không xuất hiện và phát triển những hành vi không phù
hợp, đó là những hnàh vi điển hình ( ấn tay vào mắt, vẫy vẫy tay, bật ngón tay tạo tiếng kêu, đung đua người, có những động tác khác thường bằng đầu, ầm ữ, rên rĩ trong miệng …) Những hành vi này thường khong được sự chấp nhận
của người giao tiếp
Trẻ khiếm thị cũng có nhu cầu giao tiếp, nhưng do việc năm, thông tin ít nên trẻ không tự tin trong giao tiếp với bạn học sang mắt, cũng không thích
tham gia các hoạt động Các hoạt động trở nên quá khó, quá nguy hiểm và đòi hỏi các kỹ năng quá cao Vì vậy mà các trẻ nam không thể tiếp cận, giao tiếp
với trẻ nam khác Chúng thường chơi với các bạn nữ như giải pháp để chống
lại sự cô đơn
Tóm lại, trẻ có khuyết tật thị giác đã gây nhiều khó khăn trong việc tiếp
thu những ngôn ngữ của người xung quanh, nê trẻ bị hạn ché việc hiểu nghĩa
của từ, khó phát âm theo người khác Trẻ có xu hướng ra nhiều câu hỏi, lặp lại lời của người khác và có thể đưa ra những bình luận vô nghĩa và người lớn cần
có những định hướng cho các em
1.3.3.2.Những phương pháp phát triển những kỹ năng cho trẻ khiếm thị:
1.3.3.2.1.Phát triển kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ của trẻ mù:
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Phần lớn những kỹ năng giao tiếp được học qua hoạt động của thị giác
và sự bắt chước Trẻ sáng mắt hhọc được nhuãng kỹ năng này từ rất sớm và
ngẫu nhiên Trẻ sáng mắt có thể học đựợc và biết rằng: cần phải mặt đối mặt
trong giao tiếp hoặc tư thế dáng điệu sẽ nói lên phần nào nội dung giao tiếp
Tuy nhiên, trẻ mù không thể biết được điều đó nên không có sự can thiệp khi
ü Mọi người phải hướng mặt vào nhau khi nói chuyện
ü Hướng mặt về phía người nói chuyện là thể hiện sự quan tâm lắng nghe
ü Nếu cúi mặt hoặc quay đi nơi khác, ngưòi nghe sẽ không biết mình đang nói gì và nói với ai
• Dáng điệu cử chỉ:
Có thể dạy trẻ những hành vi quen thuộc trong bối cảnh này hay bối cảnh khác Khyến khích các em sủ dụng hành vi giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ
• Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể:
ü Cho trẻ học uốn cong vai, siết chặt nắm tay, sau đó hạ thấp người, thả
lỏng tay, thẳng người, để tay chân thoải mái
ü Sử dụng các trò chơi thực hành: đóng vai, vận động,
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ü Gia đình, bạn bè, thầy cô, là những mà trẻ tiếp xúc nhiều nhất, nên có
định hướng cho trẻ sủ dụng các kỹ năng ngôn ngữ phù hợp
• Loại bỏ những hành vi không phù hợp :
ü Xác định xem những hành vi đó thường xảy ra khi nào, ở đâu Công
việc này nên có sự kết hợp với bác sĩ, gia đình và các chuyên gia về trẻ khiếm thị
ü Sử dụng các kỹ thuật điều chỉnh hành vi để xác định ranh giới cho mức vận động, mục đíchvà các chiến lược can thiệp
ü Sử dụng tín hiệu để cho trẻ biết hành vi điển hình xảy ra
• Phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thị:
ü Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp cơ bản của con người Năng lực ngôn
ngữ có tốt thì khả năng giao tiếp mới được nâng cao Phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thị là công việc phải được tiến hành khi trẻ còn nhỏ
Việc nmmày đòi hỏi sự kiên nhẫn của người lớn: Cha mẹ, thầy cô giáo Cha mẹ trẻ khiếm thị cần được tư vấn, tập huấn để giao tiếp với trẻ được tốt hơn Khi trẻ đi học, trách nhiệm của nhà trường đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thị là rất lớn Nhà trường nên tiến hành các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ bằng nhiều phương thức khác nhau, có hệ thống, có mục đích
ü Hướng dẫn cho cha mệ trẻ có những phương thức khác nhau để giao
tiếp với trẻ Đây là điều hết sức quan trọng vì nó tạo động lực cho cha
mẹ gần gũi với trẻ nhiều hơn
ü Lắng nghe và quan sát: Giúp cho gia đình nhận diện và nắm được
nhữnh tín hiệu khó quan sát bằng mắt về nhu cầu, hứng thú mong muốn của trẻvà cách phản hồi lại những tín hiệu đó
ü Duy trì kỳ vọng cao đối với năng lực ngôn ngữ của trẻ Không nên đoán sẵn những nhu cầu mà để cho trẻ thể hiện những nhu cầu đó
ü Động viên khích lệ những cố gắng giao tiếp của trẻ Việc bắt chước và
mở rộng lời nói của trẻ có tác dụng khuyến khích trẻ tập nói
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ü Tạo cơ hội cho trẻ tìm hiểu, khám phá các sự vật, hiện tượng, và cung cấp thêm thông tin cho trẻ, cho trẻ trải nghiệm xúc giác trực tiếp để tránh việc lặp từ
ü Phản hồi lại những biểu hiện hành của trẻ, cần giảng giải và dạy cho trẻ một cách phù hợp
ü Cố gắng mở rộng ngôn ngữ hiện có của trẻ để làm nề cho trẻ giao tiếp
nhiều hơn
ü Giúp đỡ trẻ để có những phản hồi phù hợp Chú ý phát triển những kỹ
năng xã hội khác Dạy cho trẻ biết lắng nghẽem những bạn khác nói gì, làm gì và bắt chước những hnàh vi của bạn
ü Không nên cố gắng quá nhiều: Nên dạy cho trẻ đạt được từng mục tiêu Dạy vào lúc trẻ có hứng thú học
ü Tôn trọng và tạo không khí thoải mái khi giao tiếp với trẻ Nên chú
trọng cả hai hình thức dạy ngôn ngữ chính thức và phi chính thức cho trẻ
• Tạo cho trẻ khiếm thị có cơ hội tương tác:Thầy cô giáo có thể đưa ra những đề nghị cho trẻ sngs hiểu, nên yêu thương và quan tâm giao tiếp, giúp đỡ bạn khiếm thị
ü Giúp trẻ nói lên nhu cầu đặc biệt của mình
ü Khuyến khích các em thể hiện những nhu cầu tình cảm, suy nghĩ của
mình bằng lời nói; khuyến khích trẻ nói lên quan điểm của mình
ü Kiểm soát các mối giao tiếp của trẻ cẩn thận và kín đáo để có những
định hướng kịp thời
ü Dạy cho trẻ cách thức chủ động trong giao tiếp: khởi đầu, phản hồi, duy trì giao tiếp
1.3.3.2.2.Phát triển kỹ năng định hướng- di chuyển:
• Biện pháp định hướng không gian với đồ vật: Từ những vật chuẩn,
giúp trẻ định hướng 3 chiều từ bản thân trẻ như: trái- phải, trên- dưới, trước- sau
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
• Biện pháp định hướng không gian bằng thính giác:
Trẻ cần rèn luyện các kỹ năng:
ü Kỹ năng phát hiện âm thanh: cần giúp trẻ phát hiện ra âm thanh, cần chú
ý giữa các âm thanh nền (tiếng ồn)
ü Kỹ năng phân biệt âm thanh: phân biệt âm thanh tự nhiên và âm thanh
của đời sống xã hội
ü Kỹ năng định vị âm thanh: phân biệt được ngồn gốc của âm thanh, trạng thái phát ra âm thanh, khoảng cách đến vật
• Biện pháp kết hợp đa giác quan:
ü Là sử dụng cảm giác cơ quan vận động, cảm giác da và cảm giác “áp
lực/ sức ép” Cảm giác của cơ giác vận động, giúp cho trẻ cảm nhận được trẻ đang di chuyển trên mặt phẳng nào: trơn, lồi, lõm, Cảm giác
da hướng dẫn cho trẻ đang ở đâu: trong nhà hay ngoài trời, trên lộ
ü Cảm giác áp lực/ sức ép giúp trẻ xác định các vật cản trước mặt Nếu
thử bịt mắt lại và đi gần bức tường, chúng ta sẽ thấy sức ép hay tưng tức trước mặt
• Biện pháp di chuyển dùng gậy:
Gậy là một vật rất gần gũi với người mù Hướng dẫn cho trẻ khiếm thị có
được những kỹ năng sử dụng gậy tức là đã giúp cho trẻ khiếm thị trở thành
người độc lập
Các kỹ năng sử dụng gậy:
ü Tư thế trước khi xuất phát: tư thế đúng thẳng, cầm gậy đúng
ü Luyện tập gậy: Trẻ nên đứng tại chỗ để luyện tập Điều khiển gậy bằng
cổ tay, di chuyển gậy Đầu gậy chạm đất ở hai bên đường đi (khoảng cách hai bên đầu gậy chạm đất là một bên đường đi)
ü Cách xuất phát: Tư thế trước khi xuất phát là chân trái bước trước, đầu
gậy sang phải và ngược lại, đi đúng nhịp, tốc độ nhanh, chuẩn
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ü Hướng dẫn cho trẻ các kỹ năng định hướng ở những nơi quen thuộc như
từ phòng học ra cổng trường, đi trong phòng, di chuyển trên đường phố, hoặc sang đường ở nông thôn
Biện pháp tập cho trẻ mù tự đi:
• Rèn kỹ năng đi từ nhà đến trường:
ü Đầu tiên có thể dẫn đường cho trẻ, dẫn trẻ đi và thông báo trên đườn g
có những đặc điểm riêng cần chú ý Đến trường cần thông báo trước có đặc điểm gì; có thể tóm tắt lại tất cả và dẫn về nơi xuất phát
ü Tiếp theo là dẫn trẻ đi và không cần chạm vào trẻ, nên đi trước và ra
hiệu: rẽ trái, rẽ phải
ü Cuối cùng để trẻ tự đi và giúp đỡ khi cần thiết
• Hướng dẫn đi ngoài phố: trẻ cần biết luật giao thông và đi bộ
• Luyện tập các bài tập bổ trợ:
Giữ thăng bằng; nhảy lò cò; nhảy bằng hai chân; đi cầu thang; di chuyển
không dùng gậy; các trò chơivận động: đá bóng, mèo đuổi chuột,bịt mắt bắt dê, thỏ về chuồng, đi nhanh, tung bóng, chuyển trứng, đua ngựa,
1.3.3.2.3.Phát triển kỹ năng lao động- tự phục vụ:
Lao động tự phục vụ ngằm giáo dục, hình thành kỹ năng lao động nhằm hình hình thành những phẩm chấtđạo đức như lòng yêu lao động, sẵn sàng lao động cho mình, cho mọi người và cho cộng đồng Hình thành cho trẻ tính mục đích, kiên trì, độc lập, vượt khó
Nên áp dụng biện pháp phân tích nhiệm vụ và bắt đầu từ dễ đến khó Một số
kỹ năng tiên quyết của trẻ cần có trước khi rèn luyện kỹ năng cơ bản là sử
dụng các ngón tay khéo léo, cách điều phối tay, cơ thể
Ví dụ: rèn cách dùng thìa và bát:
Thao tác 1: Cầm thìa Thao tác 2: Lấy thức ăn vào thìa Thao tác 3: Đưa thìa thức ăn lên miệng (mà không rơi)
Tao tác 4: Đưa thìa thức ăn vào trong miệng
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Giáo viên tổng kết và lọc những thao tác sai Sau đó hướng dẫn lại và cho trẻ thực hành
Hình thnàh kỹ năng lao động tự phục vụ qua các trò chơi Ví dụ, chủ đề “gia đình” cho trẻ có tình thương yêu, có tình cảm gắn bó với các thành viên trong
gia đình và có thể làm giúp việc nhà
Việc giáo dục trẻ khiếm thị có thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào
gia đình và thầy cô giáo Khi trẻ đến trường học thìvai trò của người thầy rất
lớn và điều rất quan trọng là so với mọi trẻ khác thì trẻ khiếm thị có nhiều mất mát hơn Đặc biệt là việc học của các em khó khăn hơn vì các em học viết chữ nổi- Braille
Việc rèn kỹ năng đọc- viết chữ Braille cho trẻ khiếm thị là công việc rất khó khan và dày công của cả giáo viên và học sinh
ü Mỗi ô chữ Braille có 6 chấm
ü Mỗi chữ cái được viết trong một ô chữ Braille
ü Viết chữ Braille từ phải sang trái và đọc từ trái sang phải
ü 10 ký hiệu đầu được viết hoàn toàn trên hàng 1 và 2 của ô Braille; Hàng thứ 2 là các ký hiệu của hàng 1 nhưng thêm chấm 3; Hàng thứ 3 là ký hiệu của hàng 2 thêm chấm 6
ü Các dấu thanh là các ký hiệu được viết hoàn toàn nằm trên hàng thứ 2
và 3 của ô Braille
ü Cách ghi chữ Braille: Một chữ có phụ âm đầu (đơn hoặc kép), vần và
thanh điệu, khi viết lưu ý ký hiệu dấu thanh phải đựoc ghi sau phụ âm đầu và trước phần vần
ü Các số tự nhiên từ 1-0 được lấy từ các ký hiệu của nhóm cơ bản thêm
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.4.1.1.Khái niệm:
Trẻ khiếm thính là những trẻ em bị suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau, đẫn đến những khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của trẻ
Mức độ khiếm thính: Dựa vào mức độ suy giảm thính lực, người ta chia ra các mưc độ khiếm thính khác nhau
Trẻ có thể nghe được những âm to, nhưng không nghe hết được những tiếng nói bình thường
trẻ chỉ nghe được những tiếng nói to, sát tai
Trẻ hầu như không nghe được trừ một
số âm thanhthật to như tiếng sấm, tiếng trống to
Tuỳ theo vị trí bị tổn thương người ta chia ra làm 3 loại khiếm thính:
• Điếc dẫn truyền: Bị tổn thương ở tai ngoài và tai giữa
• Điếc tiếp nhận: Bị tổn thương ở tai trong và dây thần kinh số 8 vùng
thính giác
• Điếc hỗn hợp: Kết hợp cả hai loại điếc trên
Ngoài ra, do thiếu hụt ( vành tai, ống tai, hoặc có nhưng không có hoạt
động) của cơ quan thính giác cũng là nguyên nhân gây ra tật thính giác
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Có nhiều nguyên nhân gây khuyết tật thính giác Có ba nhóm nguyên nhân chính theo các giai đoạn phát triển của trẻ
Nguyên nhân trước khi sinh:
ü Những bệnh do vi rút gây nên: bệnh quai bi, cúm,
ü Mất hoặc giảm khả khả năng hoạt động của các bộ phận của tai như ống taingoài bị bịt kín, chuỗi xương con bị xơ cứng
ü Nhiễm độc thuốc khi mẹ mang thai
Nguyên nhân trong khi sinh:
ü Đẻ ngạt
ü Thai ngược, khi sinh phải dùng dụng cụ trợ giúp (fooc- xep)
ü Sinh thiếu tháng
Những nguyên nhân sau khi sinh:
ü Bệnh tật: Viêm màng não, sởi, các bệnh do vi rút
ü Chấn thương
ü Tiếng động quá mạnh hay áp suất lớn tác động
ü Sử dụng thuốc quá liều lượng hoặc sai chỉ định
ü Suy dinh dưỡng
Nguyên nhân khác: Di truyền,
Hậu quả do khiếm thính gây ra:
ü Ngôn ngữ chậm phát triển, đây là hậu quả nặng nề nhất và tuỳ thuộc vào
mức độ mất thính lực
ü Khó khăn trong giao tiếp và hoà nhập với cộng đồng Do không nghe được hoặc nghe không rõ lời nói nên ngôn ngữ của trẻ rất hạn chế, hầu hết trẻ
không dùng tiếng nói để giao tiếp với mọi người Mọi người trong gia đình
và người xung quanhkhông hiểu trẻ muốn gì? Thích gì?
ü Khó khăn tìm kiếm việc làm và tạo dựng cuộc sống tự lập
Cách phát hiện trẻ khiếm thính:
Những biểu hiện bên ngoài của tai:
Mất vành tai;
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tắc ống tai do viêm hoặc ráy tai;
Chảy mủ tai
Những biểu hiện khi tiếp nhận âm thanh:
Không có những phản ứng ( Giật mình, khó chịu )với những tiếng động
mạnh, tiếng ồn,tiếng nhạc ầm ĩ
Khi nghe hay để tai lên hướng âm thanh hoặc nghiêng mình về phía âm
thanh
Nhìn chăm chú vào người đối thoại
Trẻ thường tạo ra những tiếng động lớn
Biểu hiện khi biểu đạt thông tin:
Hay dùng cử chỉ, điệu bộ khi giao tiếp
Hay bắt chước, làm theo
Hay đáp không đúng những câu hỏi bằng lời
Thường hay yêu cầu nhắc lại
Ngại nói chuyện
Nói từng tiếng, phát âm sai nhiều
Hay nói to hơn bình thường, giọng mũi hoặc giọng cao
Vốn từ ngữ nghèo nàn
1.4.1.2 Đặc điểm của trẻ khiếm thính:
Trẻ khiếm thính luôn tồn tại khách quan trong xã hội Được sống trong
những môi trường khác nhau và được hưởng sự giáo dục khác nhau, do đó ở mỗi
em có những đặc điểm khác nhau trong qua trình phát triển.Tuy nhiên, trẻ cũng có những đặc điểm giống nhau
Hầu hết trẻ khiếm thính đặc biệt là là trẻ khiếm thính ở mức độ nặng và sâu thì chủ yếu tiếp nhận thông tin bằng thị giác Đa số trẻ khiếm thính gặp nhiều khó khăn trong học nói Do trẻ phải dựa vào khả năng nhìn chủ yếu nên khi nói trẻ khó
có thể nói đúng, nói chính xác được Tiếng nói không rõ ràng, sai nhiều âm vần,
thanh điệu và cấu trúc câu
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nhu cầu giao tiếp ở trẻ khiếm thính rất phát triển nên trẻ thường dùng cách riêng của mình để thoả mãn nhu cầu đó như cử chỉ, điệu bộ/ ngôn ngữ kỹ hiệu
Nhưng người giao tiếp thường khó tiếp nhận nên từ đó cũng hạn chế khả năng tiếp nhận thông tin và hoà nhập xã hội của trẻ
Chính vì những nguyên nhân trên làm cho trẻ khiếm thính ngại giao tiếp
với mọi người và mọi người không có khả năng giao tiếp với trẻ, dần dần trẻ thu
mình lại và trở nên cô lập trong cộng đồng
Nhìn chung, Trẻ khiếm thính có chỉ số thông minh không thua kém trẻ bình thường.Khoảng 30% số trẻ khiếm thính do khả năng nghe còn lại rất ít, không thể làm phương tiện để nhận thức thế giới xung quanh, trẻ chủ yếu dụng thị giác để
tiếp thu thông tin Nên trẻ sẽ có cách học và nhận thức khác so với trẻ bình
thường
1.4.2.Giao tiếp của trẻ khiếm thính :
1.4.2.1.Khái niệm giao tiếp,chức năng của giao tiếp và đặc điểm giao tiếp của trẻ
khiếm thính:
Khái niệm giao tiếp: Giao tiếp được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau:
“Giao tiếp là sự thông báo hoặc quan hệ qua lại thuần tuý giữa người với người
như là một sự trao đổi quan điểm và cảm xúc” (L.X.Vưgôtxki)
“Giao tiếp là sự trao đổi giữa con người với nhau, trong đó ngôn ngữ là công cụ
chủ yếu” (Từ điển Tiếng Việt)
“Giao tiếp là sự trao đổi giữa người với người thông qua nói và viết, cử chỉ và điệu bộ” (Nguyễn Khắc Viện)
Tuy nhiên có thể định nghĩa là: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người
và người thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc tri
giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau.” ( Trần Trọng Thuỷ)
Vai trò- chức năng của giao tiếp :
ü Chức năng thông tin
ü Chức năng cảm xúc
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ü Chức năng phối hợp công việc
ü Chức năng đánh giá
Đặc điểm giao tiếp của trẻ khiếm thính :
Trẻ khiếm thính bị mất thính lực ở mức độ nhẹ có khả năng giao tiếp bằng ngôn
ngữ nói gần như trẻ bình thường Trẻ bị mất thính lực ở mứ độ vừa thì cũng có khả năng sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp.Tuy nhiên chất lượng tiếng nói còn hạn
chế như: nói không rõ, phát âm thiếu chuẩn xác,người đối thoại phải chú ý nghe
mới hiểu
Đối với trẻ khiếm thính được đi học thì chữ cái ngón tay được trẻ sử dụng
làm phương tiện giao tiếp với mọi người.Tuy nhiên, phạm vi sử dụng rất hạn hẹp
bởi vì sử dụng cách đó tốn rất nhiều thời gian
Ngôn ngữ ký hiệu (NNKH) là ngôn ngữ bản xứ của người khioếm thính
nên được sử dụng khá rộng rãi
1.4.2.2.Phát triển kỹ năng giao tiếp bằng lời cho trẻ khiếm:
Ảnh hưởng của tật điếc đối với sự phát triển ngôn ngữ nói: Trẻ bị giảm
thính lực thì ngôn ngữ nói phát triển chậm hơn Nếu trẻ bị giảm thính lực trước khi phát triển ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ nói của troisex phát triển chậm và ngược lại Nếu trẻ thông minh, bạo dạn và tự tin thì ngôn ngữ của trẻ sẽ phát triển thuận lợi
Tiếng nói của trẻ khiếm thính: Giọng phát âm của phần lớn trẻ là không
bình thường Trẻ thường phát âm không đúng, Sai thanh điệu, trẻ sử dụng 2- 3
thnah cơ bản, dễ (không, sắc, huyền ) trẻ cũng không nói theo ngữ pháp mà nói
theo tư duy của mình, hay nói rời rạc và vốn từ nghèo
Những khó khăn khi trẻ học nói: Về âm thanh, trẻ khó phát âm phân biệt: t- đ- m như tủ- đủ, tốt- một, tôi- môi; x- d; v-ph, ; Về hình miệng:Phát âm giống
nhau những phụ âm: t- d- th, b- m, d- x, ph- v, và các thanh điệu: Không (ví dụ: ba), huyền (ví dụ: bà), sắc ( ví dụ:bá), nặng, hỏi
Trẻ khiếm thính rất khó nghe được những âm thanh xung quanh và gặp rất nhiều khó khăn, nên hiệ nay người ta đã phát minh ra loại máy trợ thính hỗ trợ
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bộ phận điều chỉnh
nghe cho trẻ khiếm thính, giúp cho các em có thể học tập và hoạt động với
nhữngửtẻ khác một cấch thuận lợi
Máy trợ thính có nhiều loại với tác dụng khác nhau cho mức độ khiếm
thính khác nhau Có hai loại máy thông dụng là máy hộp và máy sau tai Hai loại
máy này có cấu tạo khác nhau nhưng nguyên lý hoật động giống nhau Có tác
dụng trợ thính cho người khiếm thính
Cấu tạo máy trợ thính:
Nắm được cấu tạo và chức năng dặc biệt của máy Trợ thính cần hướng dẫn cách sử dụng máy trợ thính cho trẻ khiếm thính Cần xác định cẩn thận loại
máy phù hợp vơi trẻ và cho trẻ đeo sớm, thường xuyên và đúng phương pháp
khi sử dụng nên tuân thủ theo đúng hướng dẫn của các nhà thính học và biết
bảo quản máy
Âm thanh
Bộ phận khuếch đại
Bộ phận tiếp nhận
Âm thanh
ra
Nút tắt mở
Pin
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Mục đích của máy trợ thính là luyện nghe cho trẻ khiếm thính, nhằm phát huy
và tận dụng khả năng nghe còn lại của trẻ, rèn cho trẻ thói quen tri giác âm
thanh
Giáo viên có thể luyện nghe cho trẻ khiếm thính như sau:
Bước 1: Giáo viên kiểm tra máy trước khi trẻ đeo máy
ü Kiểm tra máy có pin chưa, đặt đúng không?
ü Pin còn hay hết
ü Kiểm tra tăng / giảm âm lượng, nút tắt / mở
ü Kiểm tra máy có phù hợp với các nhà chuyên môn chỉ định chưa?
ü Kiểm tra xem máy có sử dụng tốt không? Để tai nghe gần micro, nếu nghe thấy máy rít tức là máy hoạt động tốt
ü Lần đầu tiên, giáo viên làm mẫu, học sinh quan sát Sau đó, học sinh kiểm
tra, giáo viên điều chỉnh
Bước 2: Tập nhận biết âm thanh qua máy
ü GV đứng sau trẻ 1m
ü Nói với trẻ ngữ điệu bình thường ( không hét)
ü GV nói một tiếng ( ví dụ: cha)
ü Gv quan sát xem trẻ có phản ứng không ( quay đầu hoặc giơ tay hoặc nhắc lại âm tiếng đó)
Bước 3: Tập nhận biết nhiều âm qua máy:
Cũng tiến hành tương tự nhưng dùng 3, 4 âm liền nhau như: /a /,/ô /,/i /,
Bước 4: Tập nhận biết âm qua máy:
Cách tiến hành như các bước trên, nhưng ngữ điệu thya đổi.Trẻ phân biệt
các cặp âm, từ khác nhau, ví dụ:
a với e; b với c
bà với bố; bố với mẹ
Cho trẻ phát hiện rồi cho trẻ nhắc lại
1.4.2.3.Phát triển kỹ năng đọc hình miệng cho trẻ khiếm thính:
Trang 34Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Khái niệm đọc hình miệng: Đọc hình miệng là cách hiểu tiếng nói thông
qua những chuyển động của cơ quan phát âm khi nói (chủ yếu là chuyển động của môi và nét mặt)
Vai trò của đọc hình miệng: Đọc hình miệng là cách hỗ trợ để trẻ có khả
năng tiếp thu thông tin từ người đối thoại Ở nhiều trẻ khiếm thính thì việc “nhìn” tiếng nói là cách tiếp thu quan trọng hơn “nghe” Nếu trẻ học được 4- 5 năm thì có thể tiếp thu tiếng nói bằng đọc hình miệng là 60- 70% lượng thông tin
Đặc điểm hình miệng âm tiết Tiếng Việt: Thành phần nguyên âm là đợn vị đọc hình miệng dễ thấy vì nó có thể kéo dài khi phát âm cũng như khi nói Đặc
điểm đơn âm tiết của TIếng Việt cũng gây không ít khó khănkhi đọc hình miệng,
vì có n hiều trường hợp trùng lặp hình miệng, nhưng nghĩa lại khác nhau,măc dù
thanh điệu không giống nhau
Ví dụ: hàn và hát ba- bà- bả
cam- càm- cám
Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập: Khi nói, lời nói được tách ra từng
tiếng một Như vậy khả năng đọc hình miệng đói với Tiếng Việt bị giới hạn Đặc
biệt, thanh điệu là đặc trưng quan trọng tạo nên nghĩa nhưng không thẻ phân biệt
Trang 35Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Rèn kỹ năng đọc hình miệng: Dạy trẻ khiếm thính đọc hình miệng là một
việc làm thường xuyên của giáo viên, được thực hiện trong tất cả các tiết học,
trong sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt là khi giao tiếp với trẻ
Cách nói chuyện với trẻ:
Tại sao phải nói chuyện với trẻ? Đặc trẻ trong mối quan hệ giao tiếp, nếu
muốn biết rõ trẻ nghĩ gì,trẻ thích gì, trẻ đòi gì, trẻ cần gì, trẻ gặp những khó khăn
hay vướn mắc gì, trẻ cần hiểu cái gì? thì ta phải nói chuyện với trẻ
Nói chuyện với trẻ lúc nào? Có thể nói chuyện với trẻ ở mọi lúc, mọi nơi,
tôt nhất là cùng chơi, cùng sinh hoạt, cùng là việc với trẻ
Nói chuyện như thế nào để trẻ tiếp thu được?
ü Nói chuyện voiưí trẻ bình thường như vởitẻ bình thường
ü Nên đối diện gần để trẻ nghe rõ và quan sát hình miệng
trẻ cần đeo máy trợ thính và nói chuyện trong môi trường yên tĩnh
ü Nói chuện tự nhiên theo tình huống cụ thể đang xảy ra
ü Nên kết hợp tiếng nói với cử chỉ, điệu bộ, nét mặt làm cho trẻ hiểu
ü Khen và động viên trẻ thường xuyên và kịp thời
1.4.2.4.Chữ cái ngón tay- phát triển kỹ nắngử dụng chữ cái ngón tay:
Nếu trẻ khiếm thị học bằng hệ thống chữ nổi Braille, thì trẻ khiếm thính có thể sủ dụng hệ thống chữ cái ngón tay để học và giao tiếp
Khái niệm chữ cái ngón tay: Chữ cái ngón tay là hệ thống chữ cái được
biểu thị bằng các ngón tay Mỗi chữ cái được biểu thị bằng một động tác nhất định của các ngón tay Mỗi chữ cái được biểu thị bằng một động tác nhất định của các
ngón tay ( hiònh dạng gần giống như chữ viết) Chữ cái ngón tay là dạng chữ viết trên không, tương tự như cách viết Tiếng Việt Đây là một dạng ngôn ngữ không
lời, giúp cho trẻ khiếm thính học ngôn ngữ
Vị trí của tay khi sử dụng chữ cái ngón tay:
ü Chỉ dùng một tay ( trái hoặc phải)
ü Tay để ngang miệng, lòng bàn tay hướng về phía trước
ü chỉ chuyển động các ngón tay, cổ tay, không chuyển động cả cánh tay