1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lời văn nghệ thuật trong truyện dài giấc mơ bên gốc vú sữa của nguyễn thị mạnh hà

57 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 546,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính hình tượng của lời văn là khả năng ngôn ngữ văn học có khả năng tái hiện hiện thực cuộc sống một cách sinh động bằng những từ ngữ gợi hình, gợi thanh, gợi ảnh… hay nói cách khác là

Trang 1

LỜI VĂN NGHỆ THUẬT

TRONG GIẤC MƠ BÊN GỐC VÚ SỮA

Trang 2

Phần Mở Đầu

1 Lí do chọn đề tài

Lí luận văn học đã xuất hiện ở nước ta từ rất lâu, khoảng vài mươi năm và đó

là một khoa học nghiên cứu về văn chương Nhắc đến lí luận văn học là nhắc đến kết cấu, nhân vật, thể loại…và không thể không nói đến ngôn từ, lời văn nghệ thuật trong tác phẩm Đây là chất liệu của tác phẩm văn học Nó là yếu tố đầu tiên để hình thành nên tác phẩm Bằng lời văn tác giả dẫn dắt người đọc vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Đó là một trong những điểm để phân biệt nhà văn này với nhà văn khác, phong cách này với phong cách khác Không phải tự nhiên Phạm Quỳnh nhận

định Truyện Kiều của Nguyễn Du là : “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn Tiếng ta

còn thì nước ta còn” Hay nhắc đến Hồ Xuân Hương thường kèm thêm định danh

“bà chúa thơ Nôm” Từ đâu có những nhận định đó? Tất cả điều dựa vào ngôn từ, cách thức sử dụng lời văn trong sáng tác của tác giả Lời văn là một trong những yếu

tố đánh dấu sự thành công hay thất bại của tác giả

Bên cạnh đó “Giấc mở bên gốc vú sữa” là một tác phẩm mới đoạt giải, chưa

có một bài đánh giá, nghiên cứu nào đầy đủ về tác phẩm Vì thế chọn đề tài “Lời văn

nghệ thuật trong Giấc mơ bên gốc vú sữa của Nguyễn Thị Mạnh Hà” làm đề tài luận

văn tốt nghiệp Người viết muốn qua đó đánh giá sự thành công cũng như hạn chế của tác phẩm này Để thấy được nó có xứng đáng với những gì đã nhận

2 Lịch sử vấn đề.

Tác phẩm “Giấc mơ bên gốc vú sữa” của Nguyễn Thị Mạnh Hà vừa mới đoạt giải nên vấn đề nghiên cứu, bình luận về tác phẩm còn rất hạn chế Chỉ có một vài

lời khái quát và nhận xét chung chung trên internet như: “Các chi tiết trong truyện

cứ tự nhiên đi đến, đi về và tự nhiên tràn ra trang giấy, đôi khi dài dòng và hầu như chẳng thể hiện điều gì và cũng chẳng đạt được mục đích gì Nó như bạn cầm một chiếc camera quay lại tất cả những nơi bạn qua, những người bạn gặp và đặc biệt

cả những điều bạn đang suy nghĩ, đang đoán định về ai đó.”

Hay vời lời giới thiệu của nhà văn Nguyễn Đông Thức: “Cô gái có nhiều suy nghĩ ngộ nghĩnh, vừa chất phác vừa hiện đại…,thích sống độc lập và nhìn đời bằng những quan niệm riêng không bị ai áp đặt, và dường như cũng không tránh khỏi

Trang 3

bệnh cô đơn của giới trẻ hiện đại… Chuyện đời cô - không, chỉ trong một, hai năm thôi - cứ thế trôi, có vẻ như không có gì ghê gớm nhưng không hiểu sao lại cuốn hút

ta phải theo dõi, nghĩ theo cô và chờ đợi điều gì sẽ xảy đến với cô đây…”.

Còn về đề tài “Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm Giấc mơ bên gốc vú sữa của

Nguyễn Thị Mạnh Hà” là một đề tài mới, chưa có một nhà văn, nhà lí luận phê bình nào nói đến

Vì thế, chọn đề tài “Lời văn nghệ thuật trong truyện dài Giấc mơ bên gốc vú sữa của Nguyễn Thị Mạnh Hà” người viết xem đây như một bài sơ khảo đầu tiên về

tác phẩm, phần nào giúp người đọc nhìn nhận và đánh giá sự thành công cũng như mặt hạn chế của truyện dài qua đó đưa ra những cái nhìn khách quan về tác phẩm

3 Mục đích yêu cầu

Lời văn nghệ thuật là chất liệu quan trọng để sáng tạo nên tác phẩm Qua lời văn người đọc hiểu được nội dung, thấy được sự đóng góp của tác giả đối với sự nghiệp văn học nước nhà Vì thế, chọn lời văn nghệ thuật trong tác phẩm“ Giấc mơ bên gốc vú sữa” của Nguyễn Thị Mạnh Hà, người viết muốn thông qua lời văn hiểu

để hiểu được nội dung tư tưởng của tác phẩm Từ đó đánh giá sự thành công cũng như hạn chế của nhà văn này

4 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài “Lời văn nghệ thuật trong Giấc mơ bên gốc vú Sữa của Nguyễn Thị Mạnh Hà”, đầu tiên, người viết sẽ tìm hiểu những lí thuyết về “lời văn nghệ thuật” như: Đặc trưng của lời văn trong tác phẩm, các phương tiện và phương thức tổ chức của lời văn Tiếp đến từ những lí thuyết trên người viết sẽ vận dụng đi sâu vào tìm hiểu “lời văn nghệ thuật trong Giấc mơ bên gốc vú sữa của Nguyễn Thị Mạnh Hà”

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích, chứng minh, bình luận Bằng những phương pháp này, người viết trình bày một số vấn đề khái quát về “lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học” của lí luận văn học Sau đó, người viết vận dụng những phương pháp trên phân tích làm rõ “lời văn trong tác phẩm Giấc mơ bên gốc vú sữa” của Nguyễn Thị Mạnh Hà Qua đó, thấy được những thành công và hạn chế của lời văn trong tác phẩm

Trang 4

Phần Nội Dung

Chương 1: Một số vấn đề chung

1.1 Những vấn đề chung về lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học

1.1.1 Khái niệm lời văn nghệ thuật

Trong nghệ thuật tạo hình, hội họa sử dụng đường nét, màu sắc; điêu khắc dùng hình khối nhằm trực tiếp miêu tả các hiện tượng của đời sống Trong nghệ thuật biểu hiện, âm nhạc sử dụng âm thanh, múa dùng điệu bộ, dáng vẻ đã được cách điệu hóa Trong loại hình nghệ thuật tổng hợp, người ta sử dụng nhiều phương tiện của các ngành nghệ thuật khác nhau nhằm phục vụ cho việc diễn xuất

Tác phẩm văn học đều được viết và kể bằng lời thơ, lời văn, lời tác giả, lời nhân vật… gộp chung lại là lời văn Nếu ngôn từ (lời nói) được viết trong tất cả các tính chất thẩm mĩ của nó là chất liệu của sáng tác văn học thì lời văn là hình thức của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm

Vậy, lời nói là sản phẩm của cá nhân, là sự vận dụng kho tàng ngôn ngữ của từng người trong từng hoàn cảnh cụ thể Ngôn từ trong tác phẩm là một kiểu lời nói (lời văn) nghệ thuật do nhà văn sáng tạo trên cơ sở sản phẩm xã hội mà ông ta tiếp thu được Lời văn nghệ thuật này chính là đối tượng của sự tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn học

Lời văn thực chất là một dạng ngôn từ tự nhiên đã được nhà văn tổ chức theo quy luật nghệ thuật về mặt nội dung, phương pháp, phong cách, thể loại, được đưa vào hệ thống giao tiếp khác mang chức năng khác (không phải giao tiếp thông thường như lời nói thông thường)

Lời nói thông thường có nhiệm vụ tức thời, phụ thuộc vào địa vị của người phát ngôn, nói trong trường hợp nào… thì người nghe mới hiểu được, nếu đặt ra ngoài hoàn cảnh nó trở nên vô nghĩa và vô giá trị Trái lại, lời văn trong tác phẩm văn học có dụng ý tạo nên một sản phẩm tương đối độc lập với hệ thống giao tiếp tự nhiên Có thể tách rời khỏi ngữ cảnh tức thời và tham gia vào nhiều ngữ cảnh khác nhau Lời văn thông thường không trọn vẹn, đầy đủ Nhưng lời văn nghệ thuật trọn vẹn, đầy đủ để tự nó thuyết minh ý nghĩa của nó trong môi trường giao tiếp Nó có

Trang 5

tham vọng trở thành lời nói cho nhiều lần, lời nói với muôn đời Lời văn nghệ thuật

là hình thức của tác phẩm văn học, có quy luật tổ riêng của nó

1.1.2 Đặc trưng của lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học 1.1.2.1 Tính hình tượng từ trong nội dung lời nói

Nhắc đến lời văn nghệ thuật, người ta thường nói đến tính hình tượng, tính chính xác, tính hàm súc, tính biểu cảm đó là những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ vậy tính hình tượng của lời văn trong tác phẩm là gì?

Tính hình tượng của lời văn không chỉ có trong văn học, mà còn có trong đời sống hàng ngày Như lời nói giao tiếp, lời diễn thuyết, tuyên truyền…nhưng tính tình tượng ngôn từ trong văn học khác với tính hình tượng ngôn từ đời sống

Tính hình tượng của lời văn là khả năng ngôn ngữ văn học có khả năng tái hiện hiện thực cuộc sống một cách sinh động bằng những từ ngữ gợi hình, gợi thanh, gợi ảnh… hay nói cách khác là ngôn từ của tác phẩm phải giàu hình ảnh, âm thanh, đường nét để tác động đến trí tưởng tượng của người đọc

Khi nhà thơ, nhà văn xưng “tôi”, “ta” trong tác phẩm cũng không phải là lời của tác giả mà là lời của chủ thể hình tượng, chủ thể thẩm mĩ Khi Thâm Tâm viết:

“Chí lớn không về, bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại”

( Tống biệt hành)

Đó cũng không phải là lời của tác giả trong thực tế mà là lời của nhân vật trữ tình đại diện cho tư tưởng, thế hệ thanh niên Việt Nam quyết chí ra đi vì tiếng gọi của non sông đất nước

Như Vậy, tính hình tượng của lời văn bắt nguồn từ sự truyền đạt sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ thế giới, cảnh vật, con người được tái hiện trong tác phẩm

1.1.2.2 Lời văn nghệ thuật có tính tổ chức cao

Trong thực tế cuộc sống, lời văn ở hầu hết các văn bản đều được tổ chức cao Nhưng do đặc thù của từng thể loại văn bản nên lời văn nghệ thực tổ chức cao để giải phóng tính hình tượng của từ Nó thể hiện ở nhịp, vần, niêm đối chặt chẽ Ngoài

ra, trong thể loại văn xuôi tính tổ chức cao còn thể hiện ở cách chọn từ, cách tổ chức, sắp xếp từ ngữ vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt Nhưng không rời rạc, xuôi xuôi Như đoạn tả nạn đói trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân:

Trang 6

“Cái đói tràn đến xóm này từ lúc nào Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây còng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.”

Chỉ với những từ ngữ giản dị, bình thường Bằng sự trùng điệp những động từ

và tính từ, những từ gần nghĩa “bồng bế” “dắt díu” “ mùi ẩm thối” “mùi gây” nhà văn Kim Lân đã vẻ nên cảnh thê lương, điêu tàn của con người và không gian trong ngày đói Những con người “xanh xám như những bóng ma”, “nằm ngổn ngang khắp lều chợ”, “những cái thây nằm cong queo bên đường”, một cuộc sống đang mấp mé bên bờ vực thẳm giữa sự sống và cái chết, một không khí “vẩn lên cái mùi

ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác ngừơi” Qua đó thể hiện thái độ đau đớn, xót xa của nhà văn trước cuộc sống đói nghèo của người dân

Bên cạnh đó, tính tooe chức cao của lời văn còn thể hiện ở sự linh hoạt, uyển chuyển

Như vậy, lời văn nghệ thuật tổ chức cao để nang lời nói hàng ngày lên mức nghệ thuật, ý thức cá nhân lên mức văn học

1.1.2.3 Tính hàm súc

Tác phẩm văn học là một văn bản thông tin, với số từ hạn hẹp trong tác phẩm phải cung cấp cho đọc giả một khối lượng thông tin khá lớn, không dư thừa Nên nó cần phải thể hiện tính hàm súc, cô đọng của lời văn

Tính hàm súc của lời văn là khả năng lời văn nghệ thuật miêu tả thể hiện mọi hiện tượng một cách ngắn gọn, cô đọng ít lời nhưng diễn tả đấy đủ nội dung và chứa đựng nhiều hàm ý nhất

Ví dụ: Các câu thơ của Tản Đà:

“Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương”

Có 5 thanh trắc cuối và hai phụ âm cuối tắt thanh hầu (p,t) tạo nên sự uất nghẹn Bảy thanh bằng kết hợp với các âm cuối vang (n, ng), 3 âm tiết mở (ô, ê, ê) tạo nên sự rộng mở, thanh thoát, phù hợp với tâm trạng thoát trần

Trang 7

Như vậy, sự kết hợp các yếu tố thanh, vần, nhịp điệu có những vai trò nhất định góp phần diễn đạt những sắc thái khác nhau của lời văn trong tác phẩm nghệ thuật

1.1.2.4 Tính biểu cảm

Nghệ thuật là quy luật của tình cảm, văn học là một loại hình nghệ thuật nên

nó không thể thiếu tính biểu cảm Vậy tính biểu cảm là gì ?

Tính biểu cảm của lời văn là khả năng của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn học có thể biểu hiện cảm xúc của đối tượng được miêu tả trong tác phẩm; có thể tác động tới tình cảm của người đọc, truyền đạt được những tình cảm, xúc cảm tới người đọc, người nghe

Ví dụ: Câu của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

“Đau đớn thay thân phận đàn bà”

Đọc câu thơ ta cảm nhận nỗi xót xa, cảm thương của Nguyễn Du và cũng là cảm nhận chung của bao nhiêu thời đại Hay trong Tắt đèn , khi cái Tí vừa khóc vừa

van xin chị Dậu: “Con lại u, con van u Con còn bé bỏng, u đừng bán con đi… U để cho con ở nhà chơi với em con…” đó không còn là nỗi đau đớn của đứa bé mới bảy

tuổi phải xa gia đình đi ở cho người mà còn là sự cảm thông, thương xót của nhà văn

và của người đọc

1.1.2.5 Tính chính xác

Tính chính xác là một trong những đặc trưng quan trọng của lời văn nghệ thuật Chỉ với những từ ngữ chính xác, nhà văn mới thể hiện một cách đúng đắn và đầy đủ những gì muốn trình bày, gửi gấm trong tác phẩm

Tính chính xác của lời văn không được hiểu là sự diễn đạt hoàn hảo nhất một tâm trạng, một sự vật, một ý nghĩ, một hiện tượng bằng một từ duy nhất đúng

Như trong Truyện Kiều, vẫn là diễn tả tâm trạng Thuý Kiều song mỗi hoàn cảnh Kiều lại có những diễn biến tâm trạng, những nỗi niềm khác nhau: Gặp Thúc Sinh trong màn Kiều báo ân báo oán khác với lúc gặp lại Kim Trọng trong màn đoàn viên Hay trong Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Lý là một nhân vật mà tính cách rất phong phú, đặc sắc, đầy cá tính, dễ đổi thay thì ngôn ngữ của Lý luôn thay đổi giọng điệu, sắc thái biểu cảm thể hiện đúng tính cách của chị: khi thì mệnh

lệnh, kẻ cả: “Thôi, nổi lửa cho nồi bánh đi, Phượng! Nhớ đun đều Nghe lạch xạch

là cho nước thêm Đặt cái chậu thau nước lên nắp thùng này cho nó nong” Lúc thì

Trang 8

cay nghiệt, đành hanh, trợn trạo “quý hoá chưa kìa! Ngủ như hổ ngủ, gọi hết cả hơi

mà không ra đỡ hộ người ta một tay Để cả con mèo đen ở đâu đến nhảy lên bàn thờ

mà không biết! Định ngủ đến nửa đêm, hả ?” nhưng cũng có lúc lại rất mượt mà, tình cảm, đầm ấm

Hoặc trong “Vợ nhặt”nhân vật Tràng, nhân vật người vợ nhặt là những người

thuộc tầng lớp thị dân, dân ngụ cư thì ngôn ngữ của họ sặc mùi chợ búa như: “Rích

bố cu, hở”, “Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”, “Làm đếch gì có vợ Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” hoặc “Điêu! Người thế mà điêu” Nghĩa là hình tượng nhân vật thế nào thì ngôn ngữ thể hiện phải như

thế ấy Hoàn cảnh nào, tâm trạng nào, tính cách nào, thì ngôn ngữ phải đúng như thế

1.1.3 Các phương tiện và phương thức tổ chức lời văn trong tác phẩm văn học

1.1.3.1 Các phương tiện tổ chức lời văn trong tác phẩm

Lời văn nghệ thuật vận dụng hoàn toàn khả năng và phương tiện biểu đạt của lời văn cuộc sống, toàn dân như ngữ âm, từ vựng, nghữ pháp, các biện pháp tu từ, chuyển nghĩa…các nhà văn không chỉ sử dụng phương tiện biểu đạt, mà còn sử các hình thức ngôn từ trong kho tang tiếng nói dân tộc với vô vàn sắc thái nội dung như

từ cổ, từ địa phương, tiếng long, tiếng nghề nghiệp… Đồng thời nhà văn còn sử dụng vốn từ ngôn từ văn học đã trở thành di sản nghệ thuật của dân tộc để tạo lời văn trong tác phẩm

1.1.3.1.1 Xét phương diện ngữ âm

Ở phương tiện ngữ âm lời văn nghệ thuật gắn liền với các yếu tố như vần, cách gieo vần, nhịp điệu Nó làm hình thành nên các thể thơ và có tác dụng trong việc biểu hiện nội dung Trong văn học, các âm vang, âm khép, âm trầm hay bỗng

đều được các nhà văn lựa chọn để thể hiện nội dung

Trong bài Viếng Bạn của Hoàng Lộc:

“Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Hôm nay đã chặt cành

Đắp cho người dưới mộ”

Trang 9

Khổ thơ sử dụng âm “ô” một âm khép và dấu (.) cuối mỗi dòng làm cho câu thơ nghẹn ngào, trĩu nặng, diễn tả một trạng thái đau đớn xót xa

Hoặc, giọng điệu của một nhân vật trong Sống mòn của Nam Cao: “Tiền giai đưa gái có đòi được cái đếch người ta” bốn phụ âm đ gần nhau, tạo ra một giọng

điệu bất cần, có phần đểu cáng

Như vậy, sự kết hợp các yếu tố thanh, vần, nhịp điệu có vai trò quan trọng, làm nên sắc thái của lời văn nghệ thuật trong tác phẩm

1.1.3.1.2 Xét phương diện từ vựng

Còn ở phương diện từ vựng, lời văn vận dụng hầu hết các phương tiện của từ:

từ đồng nghĩa, phản nghĩa, tiếng lóng, tiếng nghề nghiệp, tiếng nước ngoài… Đó đều là các phương diện tạo hình và biểu hiện của lời văn nghệ thuật

Làm sao Nguyễn Huy Tưởng tái hiện được không khí thời xưa trong “ Vũ Như Tô” nếu không dùng những từ “bệ hạ”, “ái khanh”, “trẫm”…muốn làm rõ bản sắc một vùng đất nhà văn không sử dụng từ địa phương Khi viết về Huế, quê hương mình, Tố Hữu đã dùng những từ ngữ và cách diễn đạt của con người Huế, làm cho câu thơ có âm sắc đặt biệt:

“Ôi, cơ chi anh được về với Huế,

Cơ chi anh sớm được về bên nội…”

( Bài thơ quê hương) Nguyên Hồng, làm sau có thể làm sống dậy cuộc sống giang hồ, lưu manh

trong “ Bỉ vỏ” nếu không biết các “tiếng lóng” của dân dao búa như: Anh Năm! “So quéo” đương “mổ” ở “hậu đớm” “tễ bướu” lắm đấy (Thằng khờ đương ăn ở sau lưng nhiều tiền lắm đấy)” hoặc “Chưa! “Cá” nó để ở “đắm thượng” áo ba-đờ-suy khó “mõi” lắm! (Chưa Ví tiền nó để ở túi áo trên ba-đờ-suy khó móc lắm)” Muốn

tả được tài tử giai nhân như Kim Trọng, Thúy Kiều thì không thể thiếu những từ

Hán – Việt như : “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”, “thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong” Sự am hiểu sâu sắc ngôn ngữ các lĩnh vực cho phép nhà văn nói lên

tiếng nói của chúng

Ngoài ra, các lớp từ khác như: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ tục, từ thanh… Cũng là những phương tiện hữu hiệu khi nhà văn lựa chọn để miêu tả

1.1.3.1.3 Xét phương diện cú pháp

Trang 10

Các phương tiện cú pháp như câu, điệp từ, chấm câu, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu đặc biệt, câu nghi vấn, câu rút gọn, phép đảo ngữ, cũng giúp cho lời văn nghệ thuật có sức truyền cảm nhằm diễn đạt ý tình của nhà văn

1.1.3.1.4 Xét phương diện chuyển nghĩa

Các phương tiện chuyển nghĩa của từ có vai trò rất lớn trong việc tạo thành sức biểu hiện của lời văn nghệ thuật Chức năng chung của các phương tiện này là làm hiện lên sự vật, hiện tượng trong các tương quan ý nghĩa khác nhau Có thể nói đến các phương tiện tiêu biểu như: so sánh, hoán dụ, ẩn dụ, mỉa mai…

So sánh là đối chiếu hai hay nhiều đối tượng (sự vật) có một nét tương đồng

nào đó nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng

Ví dụ:

“Mắt em như mắt dừa xiêm

Môi tròn tựa miếng đường thốt nốt”

(Ca dao)

Ẩn dụ là hiện tượng chuyển nghĩa dựa trên nét giống nhau về màu sắc, hình

dáng, tính chất của hai sự vật khác loại

Ví dụ :

“Thuyền về có nhớ bến chăng ?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

(Ca dao)

Hoán dụ là đổi tên gọi sự vật, gọi vật này bằng tên gọi sự vật khác từ chỗ

chúng gần gủi, có nét tương đồng Gọi cái toàn thể qua cái bộ phận có ý nghĩa điển hình

Ví dụ :

Trang 11

“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.”

(Truyện Kiều- Nguyễn Du)

Nhân hóa là việc dùng những từ ngữ biểu thị sự vật, thuộc tính, hoạt động của

người dùng để biểu thị thuộc tính, hoạt động của đối tượng không phải người dựa trên nét tương đồng như :

“Cứ thế ba năm nay rừng xà nu ưởn tấm ngực lớn ra che chở cho làng”

(Rừng xà nu – nguyễn Trung Thành)

Phúng dụ là phương thức biểu hiện không đồng nhất thường xuyên và tuyệt

đối hình tượng ý nghĩa Chẳng hạn:

“Thực vàng chẳng phải thau đâu

Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng”

(Ca dao)

Các hình ảnh vàng, thau, thử lửa trong câu ca dao trên được dùng để nói lên sự chính chuyên, lòng chung thủy và khẳng định sự chính chuyên đó

Mỉa mai là đồng nhất hai hiện tượng trái ngược nhau, đối lập nhau, nhằm thể

hiện mặt trái của một trong hai hiện tượng đó

Ví dụ:

“Ta dại ta tìm nơi vấn vẻ,

Người khôn người đến chố lao xa’’

Dại ở đây tức là khôn, khôn là dại

Tượng trưng là biện pháp tu từ biểu thị đối tượng miêu tả bằng ước lệ có tính

chất xã hội

Như trong ca dao thường dùng hình ảnh “con cò” tượng trưng cho người nông dân lam lũ cần cù Trong bài Thương Vợ, Tú Xương cũng mượn hình ảnh thân cò nói về sự tần tảo, cần cù của bà Tú

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Trang 12

Khoa trương là lối dùng từ cố ý thay đổi kích thước, tính chất, hiệu quả của sự

vật nhằm đạt đến mục đích làm rõ bản chất của đối tượng và tăng hiệu quả biểu hiện:

Trong truyện Lang Rận, Nam Cao miêu tả bộ mặt của Lang Rận qua cái nhìn của bà Cựu: “Cái mặt ấy cho dù mỗi ngày có rửa ba lượt xà phòng, bà Cựu trông thấy vãn còn buồn nôn”

Chơi chữ là cách tu từ vận dụng linh hoạt các tiềm năng về ngữ âm, chữ viết,

từ vựng, ngữ pháp nhằm tạo ra một phần tin khác với phần tin cơ sở

Ví dụ:

“Bà già đi chợ cầu Ðông

Bói xem một qủ có chồng lợi chăng

Ông thầy xem quẻ đoán rằng

Lợi thì có lợi nhưng răng không còn”

(Ca dao)

Ngoàicác phương thức kể trên lời văn còn sử dụng các phương thức tổ hợp từ làm biến đổi sắc thái biểu đạt như các loại điệp ngữ, nói giảm (uyển ngữ, nhã ngữ) phản ngữ, tỉnh lược ngữ (lược bỏ mà người đọc vẫn hiểu) tương phản, chơi chữ (dùng từ đồng âm, biến âm), dẫn ngữ, tập kiều, tập ca dao,

1.1.3.2 Các phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học

Phương thức tổ chức lời văn trong tác phẩm văn học có hai bình diện tổ chức:

Tổ chức lời văn như là lời văn nghệ thuật nói chung và tổ chức lời văn phù hợp với một phong cách, phương pháp sáng tác, đặc trưng thể loại nhất định

Lời văn nghệ thuật khác với các loại lời văn khác, thường được tổ chức theo các nguyên tắc sau:

1.1.3.2.1 Cụ thể hóa có định hướng đối tượng miêu tả

Cụ thể hóa có định hướng đối tượng được miêu tả Lời văn trong tác phẩm nghệ thuật thường có chức năng để tái hiện cuộc sống, thể hiện lý giải, đánh giá trước phạm vi đời sống miêu tả, phản ánh Vì thế nó thường làm cho đối tượng được miêu tả ngày một lớn hơn, cụ thể hơn, tác động vào tâm tư tình cảm của người đọc

Mở đầu truyện Đời thừa, Nam Cao viết:

Trang 13

“Từ ngẩng mặt lên nhìn Hộ ba lần Ba lần Từ định nói, nhưng lại không dám nói Hắn đang đọc chăm chú quá Đôi lông mày rậm của hắn châu đầu lại với nhau

và hơi xếch lên một chút Đôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra Cái trán rộng hơi nhăn Đôi lưỡng quyền sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bong nhẫy Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bong lên như vậy Cái mặt hốc hát ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn Từ thấy sợ…”

Ở câu đầu tác giả giới thiệu tên nhân vật “ Hộ”, những câu tiếp theo miêu tả

chi tiết khuôn mặt với “đôi lông mày của hắn châu đầu lại với nhau và hơi xếch lên”, mắt “sáng quắc có vẻ lồi ra”, trán “hơi nhăn”… để qua đó nói lên đây là một

người khắc khổ, có cuộc sống nội tâm phong phú.Từ đó tác giả định hướng, dẫn dắt người đọc vào bi kịch tinh thần của Hộ Bi kịch của một nhà văn có tài nhưng bị cuộc sống đói nghèo làm cho chết mòn về tâm hồn, tư tưởng

Bên cạnh việc miêu tả cụ thể có định hướng, lời văn nghệ thuật còn là sự tỉnh lược, sự cố tình bỏ qua một phương diện nào đó của nhân vật Như trong “ Vợ nhặt” của Kim Lân, nhà văn bỏ qua lai lịch, nhà cửa, gia đình của Thị (vợ Tràng) Cô ta

thậm chí không có cả cái tên Nhà văn gọi cô ta là “thị”, là “cô ả”, lúc lại gọi là

“người đàn bà”… nhà văn bỏ qua hầu hết chi tiết về cuộc đời thị Qua đó tác giả nói

lên thân phận rẻ mạt của người phụ nữ trong nạn đói Đồng thời tác giả còn khái quát lên đó là thân phận, số kiếp chung của rất nhiều người phụ nữ lúc bấy giờ Tuy nhiên, sự tỉnh lược trong thơ càng nổi bật hơn Như những câu thơ trong

bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi:

“Sáng chớm lạnh trong lòng Hà nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”

Ở đoạn thơ này tác giả đã tỉnh lược những gì cụ thể như: phố nào, người đi đâu, thềm nào, lá gì làm cho bài thơ trừu tượng cổ kính mang phong Đường thi Giữa các câu thơ không có lời chuyển ý, chuyển từ ý này sang ý khác Nhưng tất cả các câu thơ điều xoáy vào một điểm: thể hiện không khí trang nghiêm lạnh lùng của Thủ đô quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, tinh thần quyết bỏ tình riêng đi kháng chiến vì tiếng gọi của dân tộc Khổ thơ là cả một sự vắng lặng Sắc thu rực rỡ nhưng cảnh vật lại tỉnh lặng và thoáng đượm buồn “Người ra đi” bỏ lại sau lưng cả thành

Trang 14

phố lặng buồn: “sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” Tất cả êm đềm lặng lẽ, chỉ có xao xác “hơi may” và xao xác “lá vàng”

1.1.3.2.2 Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn

Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học không chỉ được cụ thể hóa đối tượng miêu tả mà còn được tổ chức điểm nhìn mang cá tính sang tạo của người trần thuật

Như trong quyển “Lí luận văn học” Phương Lựu (chủ biên), Nhà xuất bản

Giáo Dục- 1997, có nói “lời văn nghệ thuật còn truyền cho người đọc một điểm nhìn

cá thể hóa mang cá tính giàu sáng tạo của người trần thuật” Đó là điểm nhìn mang

cá tính sáng tạo của người trần thuật hoặc của nhân vật, hay có khi kết hợp đan xen

cả hai Lời văn nghệ thuật luôn là lời biểu hiện của một ai đó, là lời văn “có chủ”

Như trong Chí Phèo mới đầu là lời của tác giả đang trần thuật: “Hắn vừa đi vừa chửi…” Nhưng tiếp đến điểm nhìn đã được chuyển cho nhân vật: “A thế có phí rượu không ?” Điểm nhìn của Chí Phèo là điểm nhìn của một người là người nhưng

không được làm người, của một bản năng khao khát được giao tiếp với đồng loại Hay trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi, đó là lời của “tôi” thuật lại theo điểm nhìn của “tôi” và đó cũng là điểm nhìn của “người ra đi” năm ấy Phải nhận ra điểm nhìn của người ra đi “quyết tử” trong khổ thơ ta mới cảm nhận hết niềm vui sướng,

tự hào trước viễn cảnh Tổ quốc hồi sinh

Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm là hình thức của tác phẩm, nó gắn bó và phục tùng cho nội dung tác phẩm Các phương tiện, phương thức nói trên chỉ thực

sự trở thành lời văn nghệ thuật khi nó gắn liền với nội dung cụ thể của tác phẩm biểu đạt đắc lực cho nó

Các nguyên tắc cụ thể hoá có định hướng và truyền đạt cái nhìn của lời văn nghệ thuật phụ thuộc vào quan niệm và tính cụ thể của cuộc sống, vào cách nhìn cuộc sống của nhà văn và thời đại của nhà văn, vào ý đồ sáng tác của tác giả Vì thế, trước một tác phẩm nghệ thuật thực sự, cần xem xét sự thể hiện của các nguyên tắc trên trong việc dùng từ vựng, các phương thức tu từ, các cách viết câu để nhận ra hình thức độc đáo của lời văn trong tác phẩm

Tóm lại, để hiểu lời văn nghệ thuật như là một hình thức của tác phẩm chúng

ta phải hiểu được các phương tiện ngôn từ mà tác giả sử dụng, nhận ra chính xác hình thức và nội dung của các phương tiện ngôn từ ấy, đồng thời còn phải lý giải

Trang 15

được sự tổ chức của chúng phù hợp với các nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ của tác giả như thế nào

1.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm “Giấc mơ bên gốc vú sữa”

Nguyễn Thị Mạnh Hà sinh 1982 tại Tây Ninh, tốt nghiệp Ngành Ngữ văn Anh, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, năm 2004 Hiện làm biên tập viên website cho một số công ty tại thành phố Hồ Chí Minh

Giấc mơ bên gốc vú sữa là một trong những tác phẩm đoạt giải tư “ văn học tuổi 20”, lần IV năm 2010

Truyện là những dòng tự sự, tâm tình của một cô gái trẻ chập chửng bước vào đời Ở đó ta bắt gặp một tính cách khá mạnh mẽ, độc lập của nhân vật chính Tuy xuất thân trong một gia đình Nho giáo theo đạo Cao Đài nhưng Hà không vào đạo

Là đứa con duy nhất trong gia đình, được ba mẹ cưng chìu nhưng từ nhỏ tính cô đã độc lập, không ai có thể áp đặt được

Toàn bộ truyện là suy nghĩ, cảm nhận của Hà về gia đình, thầy cô, bạn bè, trường lớp Nhưng ở đây tác giả đặt biệt xoay quanh về ba vấn đề chính đó là nhân vật Tuân, Lê Huy Viễn và mối quan hệ trong “thế chân vạc” của cha, mẹ, cô Bảy và

Hà ( nhân vật chính)

Hà sống trong “ thế chân vạc” giữa tình yêu thương của cha, mẹ và cô Bảy Tất thảy đều yêu thương và dành những tình cảm tốt đẹp cho cô, nhưng họ chưa bao giờ có suy nghĩ vì Hà mà họ thôi đối đầu chứ đừng nói đến thương nhau Mỗi người mang trong mình một định kiến, một suy nghĩ Hai người đàn bà thù ghét nhau, hằn học nhau Cuối cùng, khi một trong hai người nhắm mắt xuôi tay thì cái thế giằng co

đó mới tự nhiên được hóa giải

Thêm nữa ta thấy được ở truyện là những suy nghĩ về Tuân một người bạn, người đồng nghiệp thông minh, dễ thương, giỏi chuyên môn là một chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần cho Hà Tình cảm giữa họ có lúc là tình bạn bè đồng nghiệp, lúc thì hơn thế nữa nhưng Hà không nhận ra Để khi trước sự ra đi đột ngột của Tuân, nơi bấy lâu nay là điểm tựa về tinh thần của Hà, Hà đau khổ thật nhiều, cô đặt

ra câu hỏi, liệu cô có yêu Tuân không Sự thân thiết gần như gắn bó nhưng liệu đó

có phải tình yêu Cô sống đơn giản và mạnh mẽ nhưng vô cùng cảnh giác Ngay cả cảm giác yêu thương cô vẫn không cho phép mình, một sự không cho phép trong tiềm thức

Trang 16

Những ký ức ngày xưa về người bạn cứ nhòa dần trong tiềm thức Hà phát hiện, mình gần như đã đánh mất các hình ảnh về Tuân và cô quyết định đi học vẽ, chỉ đơn giản lưu lại những gì còn sót lại về Tuân Và rồi, ông thầy dạy vẽ Lê Huy Viễn lại khiến Hà cảm thấy thú vị, muốn làm bạn, muồn khám phá, và thầy cũng thế Nhưng, cũng chẳng có gì bất ngờ, khi mà Hà lại một lần nữa bất lực trước tình cảnh của hai người Nhân vật không có lỗi gì, có cảm giác, Nguyễn Thị Mạnh Hà không dám thổ lộ hay cô không dám để nhân vật mình được quyền tự tung tự tác Nhân vật có một chút cá tính nhưng chưa đủ mạnh để gây ấn tượng và thiếu quyết đoán Đó có phải là một thái độ thiếu dũng cảm với đời sống và tình yêu?

Truyện không có gì đặc sắc, không cao trào, kịch tính Nhưng nó vẫn lôi cuốn người đọc một cách nhẹ nhàng Để rồi, khi đọc nó người ta bắt gặp một phần nào tính cách, con người mình trong đó Mình cũng có những suy nghĩ, những cô đơn của một người trẻ tuổi trong thời hiện đại…

Trang 17

Chương 2: Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm

“Giấc mơ bên gốc vú sữa” của Nguyễn Thị Mạnh Hà

2.1 Đặc trưng của lời văn trong tác phẩm “Giấc mơ bên gốc vú sữa”

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ “Ngôn từ là yếu tố đầu tiên của văn học” (Gorki) Nó là chất liệu để làm nên tác phẩm, vũ khí cơ bản của nhà văn Bằng lời văn, nhà văn dẫn dắt người đọc vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Đồng thời, qua lời văn, người đọc có thể phân biệt tác giả này với tác giả khác Phong cách này với phong cách khác Khi tiếp cận một tác phẩm, yếu tố đầu tiên người đọc tiếp xúc đó

là ngôn từ của tác phẩm Ngôn từ hay, có thu hút thì người đọc mới tiếp cận được với nội dung của tác phẩm Qua đó ta thấy, lời văn là yếu tố đầu tiên làm nên sức sống của tác phẩm trong lòng đọc giả

Tác phẩm “Giấc mơ bên gốc vú sữa” của Nguyễn Thị Mạnh Hà cũng vậy Khi tiếp cận tác phẩm, ta bị thu hút bởi cách sử dụng từ ngữ đa dạng, phong phú trong tác phẩm Thực chất tác phẩm không có gì đặc sắc Nội dung vẫn xoay quanh những cảm nhận của một cá nhân về các mối quan hệ trong gia đình và xã hội Nhưng yếu

tố đọng lại trong lòng người đọc là ngôn từ của tác phẩm Là một tác giả trẻ, một người ham học hỏi với một vốn kiến thức ngôn ngữ sâu rộng Tác giả vận dụng rất tốt các đặc trưng, phương diện nghệ thuật của lời văn nghệ thuật trong tác phẩm Sống trong thời đại thông tin, lại trẻ trung, sôi nổi thích tiếp thu cái mới nên nhà văn khá am hiểu cách sử dụng từ ngữ, lời nói của giới trẻ trong thời đại @ Bên cạnh đó, được sinh ra và nuôi lớn bởi gia đình có truyền thống đạo Cao Đài, tác giả vận dụng nhuần nhuyễn các từ ngữ tôn giáo Từ những ưu thế trên, tác giả tạo nên một hệ thống từ ngữ đa dạng, phong phú góp phần làm nên sức sống của tác phẩm “Giấc

mơ bên gốc vú sữa” trong lòng độc giả

2.1.1 Lời văn mang tính hình tượng

Tính hình tượng là một trong những đặc trưng quan trọng của lời văn nghệ thuật Nó là đặc trưng thứ nhất của lời văn, bắt nguồn từ chỗ là lời nói của chủ thể một tư tưởng thẩm mĩ xã hội có tầm khái quát nhất định

Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học còn có khả năng tái hiện, khơi gợi lại các hiện tượng cuộc sống sinh động, cụ thể qua những từ ngữ gợi hình, gợi thanh, gợi cảm…hay đó là ngôn từ giàu màu sắc, đường nét, âm thanh giàu hình tượng mạnh mẻ, có tác động đến trí tưởng tượng của người đọc

Trang 18

Lời văn còn có khả năng phục hồi, tái hiện lại những âm thanh, cảnh vật sống động của cuộc sống ngoài đời

“Hồi cấp ba, mỗi trưa đi học về, sau khi đổ dốc cầu Lâm Vồ, tôi đều ngắm nhìn ngọn núi đá cao ngắt đang đứng nhởn nhơ trơ chiếc đình tròn vẹt trong nắng Nắng quê tôi rất đặc biệt Là một chất khô hanh ánh vàng, thật đậm và rất trong, có

vị nồng rất gắt”.[2; tr8]

Chỉ một vài dòng ngắn ngủi, với những từ ngữ gợi hình tác giả vẽ nên một bức

tranh trưa hè đầy nắng con người cảm nhận cái nắng bằng thị giác “khô hanh ánh vàng, thật đậm và rất trong” và khứu giác “vị nồng rất gắt” Nắng như thiêu đốt con

người, lại hiền hòa êm dịu Để mọi người con xứ sở, khi xa quê hương luôn mang trong lòng một nỗi nhớ khắc khoải

Hay đoạn văn nhân vật tôi miêu tả ngôi nhà của ông chủ làm quà Noel Chúng

ta như cảm nhận được sự bẩn thỉu, bề bộn hỗn tạp của nhiều thứ mùi quệnh vào

nhau tạo nên một mùi đặc trưng “khí sền sệt đặc trưng, ám ảnh”

“Nhà nhỏ mà người đông, mùi nhựa, mùi keo, mùi mồ hôi và mùi nước đái chó quyện vào nhau thành một thứ khí sền sệt đặc trưng, ám ảnh” [2, tr28]

Đoạn văn chỉ hai dòng với tính từ “mùi” được lặp lại nhiều lần tác giả dựng nên một không gian gợi nên một không gian tâm tối chật hẹp làm ám ảnh người đọc Hay trong chương “Thành trì cuối cùng”, đoạn nhân vật tôi kể về việc cô Bảy đã già yếu nhưng phải cố gắng đứng ra cúng giỗ cho ông bà vì trong nhà không ai làm đúng các nghi lễ

Tuy lời văn trong miêu tả cảnh vật của tác giả sinh động và phong phú Nhưng cũng có một vài hạn chế Tác giả còn lặp lại từ ngữ trong khi miêu tả gây nhàm chán cho người đọc và làm mất tính sáng tạo trong văn học Như khi miêu tả

về cảnh sáng tối, nhập nhòa mờ ảo của không gian tác giả thường dùng cụm từ

“tranh sáng tranh tối” Và cụm từ trên được nhắc lại nhiều lần làm lời văn mất tính độc đáo, gợi tả

Tính hình tượng trong lời văn của Nguyễn Thị Mạnh Hà thể hiện được nhiều quan điểm, cách nhìn nhận cuộc sống của giới trẻ hiện đại Cũng như cách miêu tả

ngoại cảnh rất sinh động gợi làm cho không gian đó gần với cuộc sống đời thực hơn 2.1.2 Sự tổ chức cao của lời văn trong tác phẩm

Trang 19

Lời văn trong tác phẩm không chỉ mang tính hình tượng, gợi mở mà còn được

tổ chức cao

Lời văn trong tác phẩm tổ chức cao thể hiện qua sự linh hoạt, uyển chuyển Nó được tổ chức cao để giải phóng tính hình tượng của ngôn từ, nâng lời nói lên mức nghệ thuật, nâng ý thức hàng ngày lên mức văn học

Lời văn trong tác phẩm “Giấc mơ bên gốc vú sữa” của Nguyễn Thị Mạnh Hà

có nhiều đoạn được tổ chức công phu, kỉ lưỡng nhằm khơi gợi cảm xúc xót xa, đau đớn trong lòng đọc giả Qua đó, còn thể hiện nỗi đau, sự ngặm ngùi của nhân vật với người đã mất

Như trong đoạn cảm nhận của nhân vật “tôi” nhớ lại việc “gặm bánh mì” mỗi

sáng của Tuân

“Ngày xưa, tớ thích gặm bánh mì chà bông mỗi sáng Nhưng từ khi hình ảnh cậu hay ngồi cầu thang mỗi đầu ngày gặm bánh mì “kham khổ” đột ngột không còn thì tớ cũng không ăn nổi món bánh này nữa Tớ không biết sao,cứ có cảm giác nghẹn ngào, khô khốc…Hôm qua, tớ thử gặm lại một chiếc bánh mì chà bông nhưng vẫn khô khốc, nghèn nghẹn, trống rỗng…”.[2; tr137]

Đọc đoạn văn, người đọc như chìm đắm trong nỗi đau, sự nhớ thương của

nhân vật tôi qua những hình ảnh, kí ức về Tuân Chỉ vì hình ảnh “gặm bánh mì” mỗi

sáng đầu ngày của Tuân không còn nữa mà nhân vật tôi đã bỏ đi sở thích của mình

Qua hàng loạt tính từ “nghẹn ngào, khô khốc” hay “nghèn nghẹn, trống rỗng” liên

tiếp nhau, chồng chất nhau tạo nên sự trùng điệp về cảm xúc Nó như đợt sóng trào dâng trong lòng nhân vật Đợt sóng đau đớn đó dâng lên tận cổ, đau thấu tim Người đọc cảm nhận nhân vật đang sống trong một sự đau khổ tột cùng, cố chống chội với

sự thật Tuân không còn nữa Qua đó, ta thấy được tình cảm của nhân vật đối với Tuân rất sâu nặng Tuân như một điểm tựa không thể thiếu được trong cuộc đời

nhân vật Sự ra đi “đột ngột” của Tuân là một điều nhân vật khó có thể chấp nhận

Ngoài ra, lời văn tổ chức cao còn thể hiện trong đoạn nhân vật tôi “mường tượng” về một cô Lan (cô Bảy) trẻ tuổi, cương nghị đã bỏ chồng trong đêm tân hôn Những đoạn văn nói về cô của nhân vật “tôi” cho ta thấy nhân vật rất yêu thương cô, tôn trọng đối với cô

“Cô hạnh phúc với tình yêu của mình Cô ngã vào vòng tay của người đàn ông mà cô chọn Ánh trăng bàng bạc ngoài cửa sổ Cô nhắm mắt, miệng sẽ mỉm

Trang 20

cười Cái cảm giác mạnh mẽ nhưng êm ái của vòng tay đó vụt tan biến khi hình ảnh cha mẹ cô tuổi cao sức yếu, vốn quen đọc sách thánh hiền, không tường bươn chải, đang lóng ngóng thổi cơm cho mấy đứa em thơ dại, nhỏ bằng đứa con của mấy cô bạn lấy chồng trước cô Trên bếp, nồi cơm lỏng chỏng nước, lèo tèo vài nắm gạo…

Cô Lan vụt đẩy bờ vai chồng cô ra và bước khỏi phòng”.[2; tr175]

Người phụ nữ đó, cũng như bao nhiêu người phụ nữ khác, cũng ước mơ có một cuộc sống gia đình hạnh phúc bên người chồng và những đứa con xinh Cô đã lên xe hoa theo chồng và trong cái đêm tưởng chừng là hạnh phúc đó, cô nhận ra được một thứ tình cảm còn thiêng liêng hơn tình cảm vợ chồng Đó là bổn phận của người con đối với cha mẹ, nghĩa vụ của người chị đối với những đứa em ngây thơ,

nhỏ dại trong gia đình Cô thấy hiện lên trong đầu là hình ảnh cha mẹ mình “tuổi cao sức yếu” mắt mũi lem nhem, không từng làm lụng cực khổ phải “lóng ngóng thổi cơm cho mấy đứa em thơ dại”

Nguyễn Thị Mạnh Hà rất tinh tế trong việc sử dụng những từ ghép gợi tả “tuổi cao sức yếu” ,“bươn chải”, “lóng ngóng” hay từ láy “lỏng chỏng”, “lèo tèo” để thấy

được sự bấp bênh khó khăn, vất vả của cha mẹ và những đứa em còn khờ dại khi

không có cô Từ đó, chúng ta thấy việc “bỏ chồng trong đêm tân hôn” của cô Bảy là

một hành động đúng đắn và cao cả Đó không còn là một việc sai trái như định kiến của bao người trong xã hội, mà là sự hi sinh to lớn giàu tình thương của một người phụ nữ bé nhỏ, bình thường

Hình ảnh về người cô nhân hậu, giàu đức hi sinh còn được tác giả thể hiện qua suy nghĩ của “tôi” khi so sánh cô như đóa hoa cẩm chướng

“Kể từ khi tôi biết nhận thức, cũng là hai mươi mấy năm tôi không nhìn thấy

cô tôi mong manh đang vắt đến từng chút cuối cùng trái tim mình cho em cháu Đóa cẩm chướng mảnh mai, tưởng yếu đuối nhưng dẻo dai, bền bỉ Nhỏ dại và thầm lặng Người ta quên mất đóa hoa ấy cho đến khi nó không còn mới đau đớn nhận ra

đã từng có một bông hoa như thế trong cuộc đời”.[2, tr184]

Chỉ chưa đầy năm dòng, với những tính từ liên tiếp nhau thể hiện sự “yếu đuối nhưng dẻo dai, bền bỉ” của hoa cẩm chướng Chúng ta như thấy trước mắt hiện

lên hình ảnh một người phụ nữ chân yếu tay mềm nhưng quật cường, bền bỉ luôn chống chội với những khó khăn gian khổ của cuộc đời, sống một cách thầm lặng để người thân được sống hạnh phúc

Trang 21

Đồng thời, qua hai đoạn văn trên chúng ta còn thấy tình cảm yêu thương, sự kính phục của đứa cháu đối với người cô đã mất

Ngoài ra lời văn trong tác phẩm “Giấc mơ bên gốc vú sữa” của Nguyễn Thị Mạnh Hà không chỉ tổ chức cao ở từng đoạn mà còn thể hiện qua sự sắp xếp lời văn trong toàn tác phẩm

Lời văn trong tác phẩm được tổ chức theo dòng cảm xúc của nhân vật tôi Mở đầu tác phẩm nhân vật tôi đang nói về hiện tại với không gian nóng bức, chật hẹp của phòng vẽ:

“Một đứa sinh viên 28 tuổi già háp, nhỏ thó, đang lơ đãng ngó quanh nhìn cái nóng hầm hập đầu hạ tra tấn mọi người”.[2; tr7,8]

Trong cái không gian nóng bức của hiện tại, nhân vật liên tưởng về cái nắng

dữ dội của quê hương nơi có những kỉ niệm một thời tuổi thơ

Tiếp đến tác giả để cho nhân vật thả hồn mình về với quá khứ với cái nắng

“khô hanh ánh vàng, thật đậm và rất trong, có vị nồng gắt” Rồi nhân vật lại quay

về hiện tại Tổ chức lời văn trong tác phẩm như một quyển tiểu thuyết chương hồi

Mở đầu mỗi chương là tên mục lớn với những nội dung, câu chuyện xoay quanh tiêu mục đó Kết thúc chương nhỏ, nhà văn lại mở ra một nội dung mới để khơi gợi sự tìm hiểu của người đọc dành cho chương tiếp theo làm cho câu chuyện đi vào lòng người đọc một cách nhẹ nhàng Với cách tổ chức lời văn trên, nhà văn từng chút một khơi gợi, truyền đạt cảm xúc thương yêu trân trọng hay mỉa mai cười cợt của mình đối với các nhân vật trong tác phẩm cho độc giả và bạn đọc cũng dễ dàng cảm nhận, cũng như đồng điệu với những cảm xúc đó

Lời văn trong truyện dài của Nguyễn Thị Mạnh Hà cũng xuất hiện một vài

đoạn sắp xếp bình bị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hàng ngày Như: “Nói thêm rầu, tấm bằng tôi có chỉ Trung cấp Ngoại ngữ tin học đủ dùng trong công việc văn phòng làng nhàng, không có hậu cảnh sáng lạn như tấm bằng kỹ thuật nghề 3/7 nữa chứ Tiếng Anh tôi khá, ai tin Tiếng Việt tôi giỏi, ai cần Không ai cần biết tôi từng đoạt giải nhì quốc gia môn tiếng Anh Trung học cơ sở khi mà, tôi thi rớt đại học và đang cầm một cái bằng Trung cấp” [2; tr19]

Đọc đoạn văn, ta thấy câu chữ rất đời thường “nói thêm rầu” “Tiếng Anh tôi khá, ai tin”,“Tiếng Việt tôi giỏi, ai cần” không tốn công gọt dũa nhưng làm nổi bật

lên phong cách cũng như sự trẻ trung của nhân vật Với cách nói trên, đây chỉ có thể

Trang 22

là lời của một người trẻ tuổi chứ không thể là ai khác Và qua cách nói có chút bi quan nhưng mang một nét bướng bỉnh, ngang ngược hiện lên tính cách mạnh mẽ của nhân vật

Tuy nhiên bên cạnh những thành công nói trên thì nhà văn cũng có những hạn chế nhất định trong việc tổ chức lời văn trong tác phẩm

Trong truyện dài, Nguyễn Thị Mạnh Hà còn thể nhiều đoạn, chương trữ tình ngoại đề không cần thiết, gây nhàm chán cho đọc giả như chương “Sài Gòn” Tác giả miêu tả một cách khái quát về thành phố này hay trần thuật về những câu truyện như việc một cô gái khóc vì biết tin nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ trần, hoặc việc nhân vật tôi gặp một cô Phật tử và cô tưởng lầm là nhân vật bỏ nhà đi bụi… thiết nghĩ những đoạn văn trên bị dư thừa Nó không làm rõ thêm nội dung của tác phẩm, chỉ làm cho lời văn trong tác phẩm trở nên dài dòng lang mang

Ngoài ra, trong tác phẩm Nguyễn Thị Mạnh Hà còn lặp lại nhiều câu nói của nhân vật trong khi trần thuật hay tự sự như: “Hà ơi, mày có tin rằng có số mệnh không?” hay “Hà biết không, khi người nào đó hỏi mình có tin vào số mệnh không, không phải người đó muốn biết Hà có thật sự tin không, mà người ta đang có tâm sự gì đó về vấn

đề nào đó không tự giải quyết được, cần chia sẻ”…

Lời văn của tác phẩm vừa là lời miêu tả, trần thuật Đôi chổ là lời cảm nhận, hồi tưởng của nhân vật Các lời văn đang xen nhau tạo nên một mạch cảm xúc vô tận Từ đó, thể hiện sự sâu sắc trong cảm nhận của nhà văn về cuộc sống

2.1.3 Tính biểu cảm của lời văn trong tác phẩm

Lời văn trong truyện dài của Nguyễn Thị Mạnh Hà khá đa dạng phong phú Bên cạnh lời văn mang tính hình tượng, tổ chức cao Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm còn mang tính biểu cảm

Tính biểu cảm của lời văn là khả năng lời văn biểu hiện cảm xúc của đối tượng được miêu tả trong tác phẩm Đồng thời, nó còn truyền cảm xúc, tình cảm đến người đọc

Nguyễn Thị Mạnh Hà đã rất thành công trong việc xây dựng lời văn mang tính biểu cảm trong tác phẩm Với những từ ngữ, câu chữ bình thường tác giả đã thể hiện được nhiều cung bậc cảm xúc của nhân vật

Lời văn trong tác phẩm biểu hiện cảm xúc được thể hiện qua lời kể của nhân vật “tôi” về ông chủ xưởng làm đồ Noel Đó là một người đàn ông khuyết tật đôi

Trang 23

chân, “thuộc giới trí thức làm kinh tế” “Mồm miệng dẻo đeo” lúc nào cũng ngọt

ngào với nhân viên Nhưng ẩn phía sau cái ngọt ngào, cởi mở là sự tính toán “sít sao”, chi li

“Ông kiểm soát sít sao cái xưởng nhỏ của mình từ chiếc xe lăn Ông chỉ dẫn

cả cách thái thịt để kho cho người làm trong nhà, cắt miếng bao lớn, bỏ gia vị gì, bao nhiêu muỗng là vừa …ngon! Tới bữa ăn, ông hướng dẫn cả múc cơm bao nhiêu

và gắp bao nhiêu thịt cho mỗi hộp cơm của người làm Giọng ông cứ xởi lởi, ngọt xớt những lời đầy trách nhiệm và yêu thương với mọi người xung quanh trong khi đầu óc ông ta tính toán từng con tính trên những gì ông ta nhìn thấy”.[2; tr29] Qua những từ “kiểm soát sít sao”, “chỉ dẫn cách thái thịt” “bao nhiêu” “bao lớn” “vừa…ngon!”, người đọc như thấy một sự mỉa mai của tác giả đối với nhân vật

Là đàn ông, nhưng ông chủ làm đồ Noel lại chỉ cho người làm của mình từng chút một việc nấu ăn, cách bỏ gia vị, cách gắp thức ăn đối với bữa ăn của người làm công Việc làm của ông ấy là một việc làm trái với tự nhiên, cũng như đặc tính của nam nhi Từ đó, cho chúng ta thấy đây là một người tính toán chi li, một con người thực dụng làm bất cứ thứ gì cũng phải lợi cho bản thân Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy đây là một con người gian xảo, không trung thực Luôn “xởi lởi” ngọt ngào với

những lời nói “đầy trách nhiệm”, bao giờ cũng tỏ ra quan tâm yêu thương với mọi người nhưng “tính toan từng con tính trên những gì” nhìn thấy

Từ những từ ngữ trên, Nguyễn Thị Mạnh Hà đã làm nổi bật nên một bộ phận thương nhân của xã hội đương thời bề ngoài tỏ ra vui vẻ, quan tâm đến người khác nhưng bao giờ cũng đặt lợi ích của bản thân lên trên hết Qua đó ta thấy, tác giả là một người có tài quan sát tinh tế Tuy trẻ tuổi nhưng nhà văn giám nói thẳng, nói thật về bản chất của những con người trong xã hội

Ngoài ra, tính biểu cảm của lời văn còn thể hiện trong đoạn đau đớn của nhân vật tôi vì không làm tròn được tâm nguyện của cô Bảy trước khi mất

“Cô tôi cả đời bước đi bằng đôi chân của mình Cô chưa một lần chạm đến chiếc xe đạp Chặng đường cuối cùng trong cuộc đời mình, cô tôi cũng muốn được

đi trên hai bàn chân nhưng không được Mà thôi, cô ạ! Cứ để đôi chân của cô được một lần nghĩ ngơi trong cuộc đời.”[2; tr168]

Đọc đoạn văn, chúng ta như thấy trước mắt hình ảnh một người phụ nữ chân quê đầu đội nón lá, mặc áo bà ba và đi bộ dọc theo bờ tre làng Cô Bảy cả đời sống

Trang 24

bình dị, mộc mạc Không một lần “chạm đến xe đạp” Đi đâu cô cũng đi trên chính

đôi chân của mình Và chặng đường cuối cùng trong cuộc đời về với lòng đất mẹ, cô

cũng muốn đi bằng “hai bàn chân không” Thế nhưng, tâm nguyện cuối đời của cô không được thực hiện vì những người trong “họ đạo” bên ban “xe thuyền không ai muốn đi bộ cả” Từng câu chữ trong đoạn văn như toát lên tình cảm thương yêu, sự

đau đớn của đứa cháu vì không làm tròn được tâm nguyện của người cô khi mất

Đồng thời, qua những từ “Mà thôi, cô ạ!” chúng ta còn thấy ở đó là lời trách móc của nhân vật đối với những người trong “đạo hữu” Họ vì sợ “mất công”, nặng nhọc

mà không làm tròn tâm nguyện của người mất Qua đó, tác giả còn phản ánh một hiện thực của vùng quê hiện nay Người dân không còn sống chang hòa, quan tâm giúp đỡ nhau một cách không toan tính như trước kia nữa Người dân quê bây giờ vì ảnh hưởng của cuộc sống đô thị hóa họ bắt đầu sống lạnh nhạt, thờ ơ với những người xung quanh

Hay những đoạn văn hối hận của nhân vật tôi vì ham công việc đã không đi thăm Tuân lúc mổ dạ dày, để khi Tuân mất đi đột ngột, nhân vật ăn năn vì sự thờ ơ của mình

“Lần đầu tiên vui vì sẽ đi uống cà phê với nó nhưng nó chẳng bao giờ giữ được lời hứa đó Trước đó, nó nắm vai mình lắc lắc rủ hoài đến khi mình bực lên cự

nự mới thôi Mình lựa chọn ngồi ôm cái diễn đàn với những ý viễn vông, có ích cho cộng đồng (bây giờ nghĩ mà giận mình lúc đó quá, daydream, ảo tưởng đến tội) Trước lúc nó mất 4 ngày, mình còn chạy rông với hoạt động cộng đồng “cao cả” ở đâu đó bên quận 2…”[2; tr63,64]

Đọc đoạn văn trần thuật của nhân vật, chúng ta như cảm nhận được một nỗi đau vô cùng, sự tự dằn vặt của nhân vật tôi Vì những việc “cao cả” xa vời đối với cộng đồng, mà lỡ mất một dịp đi thăm Tuân Để khi Tuân mất đi nhân vật hối tiết vì

đã không làm điều đó

Bên cạnh lời văn trong tác phẩm còn cho chúng ta thấy tình cảm yêu thương,

sự đau khổ của nhân vật tôi khi Tuân mất, qua đoạn tôi “đi ngang” qua bệnh viện Bình Dân nơi Tuân phẩu thuật

“Đi ngang bệnh viện Bình Dân nơi phẫu thuật cho nó, tôi rơi nước mắt Gặp vòng hoa tang trên đường, tôi lại không cầm được nước mắt.”[2; tr122]

Trang 25

Qua những lời tự sự, chúng ta có thể cảm nhận được ở đó là một sự đau khổ tận cùng, chỉ cần gặp những gì gợi nên hình ảnh về Tuân là làm cho nhân vật đau

lòng Với từ “nước mắt” được lặp lại hai lần, tác giả muốn nhấn mạnh thêm nỗi đau

của nhân vật

Lời văn của tác giả miêu tả cảm giác của nhân vật tôi sau khi Tuân mất rất bình dị nhưng gợi nên một sức biểu cảm rất cao trong lòng người đọc Qua đó, còn cho chúng ta thấy được tình cảm của nhân vật tôi đối với Tuân

Không những thế, lời văn biểu cảm trong tác phẩm còn được tác giả sử dụng khi nói đến việc cả cuộc đời người cô cố gắng giữ đúng lễ giáo, tác giả dùng từ

“gồng” “gánh” làm tăng thêm sự biểu cảm

“Cả đời cô gồng mình gánh cái Lễ khiến tôi có cảm giác cô tôi mạnh mẽ, quật cường.”[2; tr184]

Với từ “gồng” “gánh” chúng ta như thấy được hình ảnh người phụ nữ nhỏ bé, yếu đuối lúc nào cũng tỏ ra cương nghị, “mạnh mẽ” để giữ vững được “cái Lễ” Cô Bảy như cố “gồng” mình để “gánh cái Lễ” của ông bà từ xưa đến giờ

Nguyễn Thị Mạnh Hà đã rất thành công khi sử dụng từ ngữ, chỉ với hai động

từ tác giả đã khơi gợi trong lòng người đọc hình ảnh một người phụ nữ “quật cường” luôn chống trội với sống gió cuộc đời để giữ vững lề lối, phép tắc của gia đình Đồng thời, còn thể hiện tình yêu thương trân trọng, sự xót xa của đứa cháu về việc

cả cuộc đời người cô sống vì cái Lễ cứng nhắc

Tuy nhà văn sử dụng những từ ngữ đời thường bình dị, mộc mạc nhưng với cách tổ chức sắp xếp và sự am hiểu về từ ngữ Tiếng Việt, tác giả đã truyền đến người đọc những cung bậc cảm xúc của mình Làm cho độc giả cảm nhận được một cách đầy đủ nhất tình cảm của nhân vật, cũng như của tác giả đối với các nhân vật khác trong tác phẩm Để từ đó người đọc cảm thông, chia sẽ với những gì người viết gửi gấm trong tác phẩm

2.1.4 Cách dùng từ chính xác trong tác phẩm

Tính chính xác của lời văn trong tác phẩm là khả năng văn học miêu tả, biểu hiện đúng những điều mà nhà văn muốn nói đến, muốn thể hiện trong tác phẩm chỉ

là một từ ngữ bình thường nhưng khi dùng đúng chổ sẽ giúp người đọc tưởng tượng

và cảm nhận đúng những gì tác giả muốn nói đến

Trang 26

Tuy là một tác giả trẻ nhưng Nguyễn Thị Mạnh Hà khá thành công trong việc dùng từ ngữ Qua những từ ngữ đời thường, tác giả làm nổi bậc từng tính cách của những con người trong xã hội

Nói về giới kinh doanh tính toán chi li, tác giả sử dụng những từ “mồm miệng dẻo đeo, nói năng lưu loát”

“Ông chủ thuộc giới trí thức làm kinh tế, mồm miệng dẻo đeo, nói năng lưu loát đáo để”.[2; tr28]

Chỉ một câu ngắn gọn “mồm miệng dẻo đeo” “nói năng lưu loát”, tác giả đã

làm nổi bậc được những đặc tính của giới trí thức làm kinh doanh Bao giờ cũng ngọt ngào, dù điều trong lòng có suy nghĩ trái ngược với những gì họ đang thể hiện bên ngoài

Hay nói về Lê Huy Viễn có nụ cười đẹp, hồn nhiên nhưng luôn được che lấp bởi bề ngoài gai góc Tác giả sử dụng những từ “nụ cười hải ly”

“Lê Huy Viễn có nụ cười rất đẹp Nụ cười này như phần hồn nhiên Nụ cười này cũng giống như phần hồn nhiên trong con người ông Bình thường, không thể nào nhìn thấy phần ấy ở con người luôn tỏ ra gai góc, khó chịu Tôi không hiểu ông

ta có thú vui gì trong việc gồng lên như thế Cũng có thể ông ta quá bận không có thời gian ngồi nhìn sâu vào phần thân phía sau lớp vỏ của mình Tôi cũng chỉ tình

cờ phát hiện ra nụ cười hải ly của ông ta thôi.”[2;tr51]

Từ cách ví von nụ cười của Lê Huy Viễn đẹp như nụ cười của con hải ly, nhà văn phần nào cho người đọc thấy một phần nữa về con người của nhân vật Một

người có vẽ ngoài “gai góc, khó chịu” nhưng ngoài vỏ bọc cứng rắn là một người có

nụ cười hồn nhiên nhưng khoe khoan như nụ cười của chú hải ly trong đoạn quảng cáo kem đánh răng Để từ đó nhà văn như ngầm báo hiệu với người đọc, đây là một con người sống bề ngoài, không trung thực

Đồng thời, qua đoạn văn trên chúng ta còn thấy được sự liên tưởng phong phú

và tài quan sát sâu sắc của tác giả Tác giả nhìn nhận nhân vật đa chiều cả xấu tốt, không nhìn theo lối chủ quan định kiến

Ngoài ra, việc dùng từ ngữ chính xác trong truyện dài của Nguyễn Thị Mạnh

Hà còn được thể hiện qua mối quan hệ yêu thương của bố, mẹ và cô đối với nhân vật tôi

Trang 27

“Cô Bảy tôi, mẹ tôi và bố tôi Cả ba đều yêu thương tôi Nhưng mối quan hệ yêu thương giữa ba người lớn đáng kính ấy với nhau luôn khiến tôi có cảm giác mình đang ở giữa thế chân vạc trên mảnh đất mỡ yêu thương.”[2; tr46]

Nguyễn Thị Mạnh Hà đã mượn hình ảnh bàn chân của con vạc ba ngón không bao giờ gặp nhau để diễn tả mối quan hệ yêu thương mâu thuẫn, tách biệt của ba người thân của nhân vật tôi Cả ba cùng yêu thương nhân vật tôi, đều hướng tình yêu vào một mình nhân vật Nhưng mối quan hệ giữa ba người như ở ba thế giới khác nhau Họ đối đầu nhau, cả ba không ai chịu thoát ra khỏi thế giới của riêng mình Tình thương của họ đối với nhân vật mỗi người thể hiện một cách Mẹ thì hồn nhiên,

bề ngoài yêu thương con là cố làm sao cho con không thua kém bạn bè về mặt vật chất Còn ba thì cương nghị, nguyên tắc muốn nhân vật sống theo quan niệm của quân tử bao giờ cũng phải che đậy tình cảm trong lòng Không được thể hiện cảm xúc ra bề ngoài Cô Bảy, thì thể hiện tình cảm một cách thầm lặng luôn giành những điều tốt nhất cho nhân vật nhưng trong tinh thương đó bao giờ cũng giữ một khoảng cách nhất định với nhân vật Khi nhân vật cảm nhận được tình cảm đó và muốn hiểu

cô hơn, muốn tiến gần đến thì chính cô tạo vách ngăn không cho đứa cháu đến gần Hay qua những dòng suy tư của nhân vật tôi về sự hi sinh cao cả của cô Bảy

“Kể từ khi tôi biết nhân thức, cũng là hai mươi mấy năm tôi không nhìn thấy

cô tôi mong manh đang vắt đến từng chút cuối cùng trái tim mình cho em cháu”

[2; tr184]

Chỉ một câu ngắn gọn với động từ “vắt” và lượng từ “từng chút” nhà văn gợi nên một hình ảnh liên tưởng mạnh mẽ trong lòng người đọc Chúng ta như thấy trước mắt mình hình ảnh một người phụ nữ yếu đuối nhưng luôn tỏ cứng cỏi, mạnh

mẽ để làm “thành trì” điểm tựa cho em cháu Đồng thời, qua từ “vắt” nhà văn nhấn mạnh với người đọc, đây là một người phụ nữ nhân hậu, có tấm lòng vị tha hi sinh tất cả cuộc đời vì người khác

Lời văn trong tác phẩm không chỉ chính xác còn cô đọng, hàm súc chỉ với những từ ngữ ngắn gọn, súc tích truyền đến người đọc những cung bậc cảm xúc của tác giả đối với nhân vật

Từ cách vận dụng từ ngữ trong miêu tả, trần thuật Nguyễn Thị Mạnh Hà thành công trong việc dùng từ Tiếng Việt Với những từ ngữ đơn giản, đời thường tác giả

Trang 28

tạo dựng những tính cách khác nhau của những con người trong xã hội, cũng như truyền đến người đọc những cảm xúc yêu thương trân trọng hay mỉa mai, trách móc

2.2 Các phương tiện và phương thức tổ chức của lời văn trong tác phẩm

2.2.1 Các phương tiện của lời văn trong tác phẩm

Trong truyện dài “Giấc mơ bên gốc vú sữa” Nguyễn Thị Mạnh Hà đã sử dụng

khá dày đặc các phương tiện từ ngữ trên làm nên giá trị của tác phẩm

2.2.1.1.1 Từ nghề nghiệp

Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị những công cụ, sản phẩm và quá trình sản xuất có tính thủ công, được một số người trong một ngành nghề nào đó sử dụng Trong tác phẩm “Giấc mơ bên gốc vú sữa”, Nguyễn Thị Mạnh Hà khai thác khá triệt để các từ ngữ, thuật ngữ và cách dùng từ ngữ internet trong cuộc sống hàng ngày của giới trẻ hiện nay Đồng thời tác giả còn sử dụng một vài thuật ngữ chuyên ngành y học Qua cách sử dụng từ chuyên ngành của tác giả làm cho lời văn trong tác phẩm giàu màu sắc hơn

Là nhà văn trẻ, năng động lại làm biên tập viên website cho một số công ty tại Tp.HCM Tác giả khá am hiểu các thuật ngữ trong lĩnh vực quảng trị mạng và vận dụng một cách cách uyển chuyển, nhịp nhàng trong tác phẩm làm nên phong cách của tác giả trong thế giới văn chương

Dưới đây là bảng thống kê sử dụng từ ngữ mạng trong tác phẩm

Ngày đăng: 16/12/2015, 08:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 2, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 2
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
2. Hà Minh Đức (chủ biên), Lí luận văn học, Nhà xuất bản Giáo Dục,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
3. Nhiều tác giả, Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo Dục, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
4. Nguyễn Thị Mạnh Hà, Giấc mơ bên gốc vú sữa, Hội nhà văn Tp.Hồ Chí Minh, Báo Tuổi Trẻ, Nhà xuất bản Trẻ, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giấc mơ bên gốc vú sữa
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
5. Phương Lựu (chủ biên),Lí luận văn học, Nhà xuất bẩn Giáo Dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
6. Hoàng Nhân, 9 tác giả đoạt giải Văn học tuổi 20, http://thethaovanhoa.vn/173N20100904101451066T133/9-tac-gia-doat-giai-van-hoc-tuoi-20.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: 9 tác giả đoạt giải Văn học tuổi 20
7. Theo Thất Sơn (Evan), 9 tác giả đoạt giải 'Văn học tuổi 20' lần 4, http://phapluattp.vn/2010090203098544p1021c1087/9-tac-gia-doat-giai-van-hoc-tuoi-20-lan-4.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: 9 tác giả đoạt giải 'Văn học tuổi 20' lần 4
8. Trần Đình Sử (chủ biên), Giáo trình lí luận văn học tập 2, tác phẩm và thể loại văn học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận văn học tập 2, tác phẩm và thể loại văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
9. Trần Đình Sử, Lý luận và phê bình văn học, Nhà xuất bản Hội nhà văn Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phê bình văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn Hà Nội
10. Trần Đình Sử, Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Nhà xuất bản Giáo Dục và Đào tạo, Vụ giáo viên Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề thi pháp học hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục và Đào tạo
11. TUỔI TRẺ, 5-9: trao giải Văn học tuổi 20 lần 4, http://tuoitre.vn/van-hoa-giai-tri/398776/5-9-trao-giai-van-hoc-tuoi-20-lan-4.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5-9: trao giải Văn học tuổi 20 lần 4
12. Nguyễn Thị Thu Thủy, Nội dung bài giảng môn Từ vựng học Tiếng Việt, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung bài giảng môn Từ vựng học Tiếng Việt

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê từ Phật giáo trong tác phẩm - Lời văn nghệ thuật trong truyện dài giấc mơ bên gốc vú sữa của nguyễn thị mạnh hà
Bảng th ống kê từ Phật giáo trong tác phẩm (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w