1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính biểu trưng của các khuôn vần trong truyện kiều của nguyễn du

119 740 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông nhận thấy sự sáng tạo từ theo quy tắc “ đối ứng khuôn hay ý nghĩa cơ bản” và sự chuyển đổi khuôn đã tạo nên một lớp từ mới mang những nghĩa chung với các khuôn vần này: “ Chẳng hạn

Trang 1

TÍNH BIỂU TRƯNG CỦA CÁC KHUÔN VẦN TRONG

TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn, khóa 33: 2007–2011

CBHD: BÙI THỊ TÂM

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

không chỉ có giá trị về mặt nội dung mà còn cả về hình thức thể hiện Và khuôn vần là một trong những khuôn sẽ góp phần làm cho từ ngữ có sức gợi hình, gợi tả rất cao Chính nhờ những giá trị biểu trưng của khuôn vần sẽ tiếp lữa cho nhà văn, nhà thơ trong việc thể hiện giá trị nội dung, trong việc truyền tải những cung bậc cảm xúc, những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng… đến bạn đọc một cách hiệu quả nhất

Biểu trưng của khuôn vần chính là những nét nghĩa về sự vật sự việc mang tính hình tượng rất gần gũi với đời sống con người, đã được con người quan sát và nhận thức sâu sắc Khuôn vần có thể tồn tại ở hình thức là từ đơn, từ ghép và từ láy… Đặc biệt là những giá trị biểu đạt trong từ láy thường được rất nhiều nhà ngôn ngữ nghiên cứu Trong thơ ca, ta thấy có những khuôn vần mang nghĩa nhưng cũng có những khuôn vần không mang nghĩa, cũng có những khuôn vần được sử dụng rất nhiều lần, tuy nhiên vai trò của chúng trong mỗi trường hợp có thể khác nhau Bên cạnh đó, ta thấy tương ứng có những khuôn giống nhau hoặc gần giống nhau giữa chúng có một mối liên hệ ngữ nghĩa nhất định Đó là ngữ nghĩa gì? Tác dụng như thế nào đến nội dung tác phẩm? Chính từ những vấn đề nghi vấn như vậy mà thôi thúc người viết muốn đi tìm những nét nghĩa cơ bản của các khuôn vần đó trong thơ ca, cụ thể là tác

phẩm Truyện Kiều ( NguyễnDu) – là tác phẩm người viết chọn làm để khảo sát

Truyện Kiều ( Nguyễn Du) là một tác phẩm văn học cổ Trải qua sự sàng lọc

khắc nghiệt của cuộc sống, Truyện Kiều vẫn sống mãi cùng năm tháng, vẫn sống mãi trong tầng tầng lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam Có thể nói Truyện Kiều đã vượt ra được

giới hạn về không gian và thời gian của một quốc gia để đến với hàng triệu trái tim nhân loại trên khắp thế giới Để có được sự bất tử như hôm nay, thiên tài Nguyễn Du của chúng ta không chỉ dụng tâm mà còn dụng công rất khéo, hình như mỗi âm mỗi

tiếng đều có “ máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm trên tờ giấy” thì phải! Trong

Truyện Kiều có khá nhiều từ láy sử dụng rất thành công Nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các khuôn vần trong từ đơn, từ ghép và các loại từ khác trong việc thể hiện nội dung và giá trị đặc sắc cho tác phẩm

Trang 3

Tất cả những lí do trên người viết đã quyết định chọn đề tài “ Tính biểu trưng

của các khuôn vần trong Truyện Kiều ( Nguyễn Du)” để nghiên cứu, với hi vọng sẽ

góp một phần nhỏ cho việc tìm hiểu biểu trưng của tác phẩm nói riêng và trong thơ ca nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ngôn ngữ học là một ngành ra đời muộn, nhưng những đóng góp của ngành cho ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của từng dân tộc nói riêng là không nhỏ Những năm gần đây, nhiều nhà ngôn ngữ đã dành nhiều thời gian cho việc khai thác và tìm hiểu về vấn đề ngôn ngữ, trong đó có vấn đề về tính biểu trưng của khuôn vần Từ các

từ cùng khuôn, người ta xem xét chúng có những nghĩa chung nào, hay biểu trưng cho nội dung gì Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về khuôn vần nói chung và các

nghiên cứu về tác phẩm Truyện Kiều ( Nguyễn Du) mà người viết chọn lựa và trên cơ

sở đó để đi sâu hơn khi nghiên cứu biểu trưng của các khuôn vần trong tác phẩm

Truyện Kiều

Nguyễn Đại Bằng trong cuốn Khuôn vần tiếng Việt và sự sáng tạo của từ đã đi

nghiên cứu khuôn vần và sự sáng tạo của các từ ở từ láy Ông nhận thấy sự sáng tạo từ

theo quy tắc “ đối ứng khuôn hay ý nghĩa cơ bản” và sự chuyển đổi khuôn đã tạo nên

một lớp từ mới mang những nghĩa chung với các khuôn vần này:

“ Chẳng hạn, khuôn -ANG, hình tượng tương ứng mà chúng tôi tìm thấy là NGANG, một trong những ý nghĩa của nó là “ rộng – mở rộng, lan rộng, rộng khắp, rộng lớn” ứng với nhóm từ: thênh thang, mở mang, mênh mang, lênh láng, nở nang,

hở hang… Như vậy sự kết hợp của các khuôn vần khác nhau -ÊNH-ANG và -Ơ-ANG ở nhóm từ kể trên là sự kết hợp cặp khuôn đối ứng với nhau về cùng một trạng thái biểu thị độ rộng mà khuôn đối ứng mang nghĩa cơ bản “ rộng” đã tăng thêm cường độ cơ bản của từ gốc” [1; tr.114] Ông đã tìm thấy và chứng minh được rằng chính nhờ

những nghĩa chung cơ bản của những nhóm từ cùng khuôn vần có thể tìm thấy được những nghĩa cơ bản đối xứng với nhau của từng cặp khuôn vần từ thành tố gốc là từ láy Khi đi sâu vào cấu tạo từ như vậy, ông đã giúp chúng ta có cơ sở hơn khi đi phân tích nghĩa biểu trưng của từ trong các nhóm khuôn vần mà nó đảm nhiệm

Hoàng Văn Hành trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt, khi đi khảo sát ngôn từ ở

phương diện từ láy, ông nhận thấy rằng từ láy cũng giá trị biểu trưng và ông phân tích thành những loại từ mang tính biểu trưng như sau:

Trang 4

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn Đó là những từ có nét chung là mô phỏng

âm thanh trong tự nhiên theo cơ chế láy Ví dụ: lộc cốc, thùng thùng, oai oái, i ới,

nheo nhéo…

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu Biểu thị thuộc tính ( tính chất, trạng thái,

quá trình…); biểu thị sự vật, ví dụ: đăm đăm, chồm chồm, lổm ngổm, bâng khuâng…

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa Ở dạng từ láy vừa

biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt về ngữ nghĩa ông định nghĩa chúng như sau: “

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa là từ mà nghĩa của nó có thể giải thích được không chỉ nhờ nghĩa của từ gốc mà còn nhờ ở giá trị tạp nghĩa ( tức là giá trị biểu trưng hóa) của sự hòa phối ngữ âm trong cấu tạo của nó Hình thái biểu hiện của sự hòa phối ngữ âm này là điệp và đối Trong đó, điệp và đối khuôn vần vẫn là quan trọng” [8; tr.86]

Điều đó cho thấy ông đã có những tìm hiểu và nhìn nhận sâu sắc về các dạng từ láy Đặc biệt những từ láy có chung một khuôn vần thường mang những sắc thái ý nghĩa cho một dạng thức nào đó, chúng có thể là biểu thị âm thanh, hay biểu thị tính

chất, trạng thái sự vật sự việc Nhất là các từ láy chuyên biệt nghĩa ở chúng có những “

giá trị biểu trưng hóa” nhờ có sự phối âm và cấu tạo từ nên chúng làm nên ý nghĩa

cho từ ngữ đó Chứng tỏ sự tồn tại của những khuôn vần có nghĩa trong từ láy là vấn

đề cần quan tâm và cần làm rõ cụ thể trong những trường hợp tồn tại của nó

Hoàng Văn Hành tuy nhìn vấn đề quan trọng của khuôn vần nhưng chỉ từ góc

độ biểu trưng hóa ngữ âm – ngữ nghĩa của từ láy Ông chưa phân tích tới những giá trị

của những từ láy có gần ngữ nghĩa, và những ý nghĩa biểu trưng tồn tại ở các dạng từ khác như đơn, ghép Song ông đã phần nào cho thấy vai trò của việc nghiên cứu nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong âm tiết tiếng Việt Dựa trên cơ sở này, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã tiếp tục đi sâu và nghiên cứu các khuôn vần để vận dụng tìm hiểu nghĩa của các khuôn vần trong thơ nói chung

Phi Tuyết Hinh trong cuốn Từ láy những vấn đề bỏ ngỏ, ông đã đi tìm hiểu ý nghĩa của một số từ láy có cấu tạo như: nhỏ nhắn, nhỏ nhặt, nhỏ nhen, nhỏ nhoi,

quanh co, loanh quanh… và những từ láy có cấu tạo từ những từ không rõ nghĩa như: thờ ơ, ỡm ờ, chới với, lâng lâng, bảng lãng, bùi ngùi… để tìm thấy những nét nghĩa

biểu trưng chung của các từ có cùng khuôn Ông cho rằng: “ khuôn vần có giá trị biểu

trưng ngữ âm, và giá trị biểu trưng ngữ âm ấy có vai trò quan trọng góp phần tạo nên

ý nghĩa của những từ láy thuộc loại này” [35; tr.39] Phát biểu của ông lần nữa đã

Trang 5

khẳng định vai trò thiết yếu của khuôn vần có vai trò quan trọng tạo nên ý nghĩa của các từ Nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở những khuôn vần trong từ láy mà chưa mở rộng

ở những khuôn vần từ đơn hay ghép

Và ông nói thêm rằng: “ giá trị biểu trưng của mỗi khuôn vần được xem xét theo

nhiều góc độ khác nhau Trước hết nó là bộ phận của từ láy không rõ thành tố gốc, rồi tiếp theo nó được xét với tư cách là bộ phận của thành tố láy trong những từ láy có thành tố gốc; và cuối cùng, nó là bộ phận của từ đơn” [35; tr.39] Nên những khuôn

vần ở dạng từ láy được ông đi tìm hiểu và nghiên cứu khá sâu, từ những cách cấu tạo

từ cho đến nghĩa của từ Điều đó càng làm rõ một vấn đề là khuôn vần tồn tại những

giá trị ngữ nghĩa nhất định Do đó ông khẳng định “ không dễ gì có thể nghi ngờ hay

bác bỏ tính hệ thống, tính quy tắc ở giá trị biểu trưng của khuôn vần”

Phi Tuyết Hinh đã phần nào khẳng định và chứng minh được sự tồn tại của những giá trị biểu trưng mà các khuôn vần góp phần tạo nên nội dung ý nghĩa của thơ

ca nói chung Đặc biệt là ông đã thử đi tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong các từ láy không rõ thành tố gốc, hay các khuôn vần từ láy trong các trường hợp khác Nghiên cứu của ông có vai trò hết sức quan trọng cho việc tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong tác phẩm mà người viết khảo sát

Theo Nguyễn Thái Hòa cho rằng “ Cù Đình Tú đã thống kê được nhiều khuôn,

vần nhưng chưa đủ” Theo ông “ ngay sự đối lập âm vực cao, thấp cũng tạo ra những

từ có nét nghĩa khác nhau về mức độ”:

- Sát/sạt, phát/phạt, dát/dạt, bát/bạt, ngát/ngạt…

- Bấp/bập, tấp/tập, váp/vập, gấp/gập, rấp/rập…

- Óp/ọp, móp/mọp, tóp/tọp, sóp/sọp, bóp/bọp…

Chúng ta có thể cảm nhận dễ dàng những nét nghĩa ấy mà không cần giải thích

Ví dụ: “ “ hương thơm ngát” với “ hương thơm ngan ngát” có liên quan chặt chẽ với

nhau chứ không phải là những từ biệt lập” [4; tr.267]

Và theo ông “ tính biểu trưng của các phương tiện ngữ âm là có thực và cần được

nghiên cứu Nhưng tính biểu trưng không phải là quy tắc khái quát cho tất cả các từ

mà có tính chất võ đoán của tín hiệu vẫn là chủ yếu” [4; tr.267]

Ở đây Nguyễn Thái Hòa mới chỉ có nhận xét rằng giữa các khuôn vần có chung

một nét ngữ nghĩa chung, trong cơ chế đối ứng của nó, ông đã dẫn chứng được những nét nghĩa khác nhau đó Và cũng khẳng định đây là vấn đề cần nghiên cứu, tuy nhiên ông chưa đi tập hợp chúng lại và chưa đi sâu phân tích với một nhóm khuôn vần như

Trang 6

vậy mang giá trị biểu trưng gì cho tác phẩm Theo người viết thì đó là một phương

diện rộng, cần đưa chúng vào phạm vi cụ thể

Hồ Lê trong cuốn từ Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại có bàn tới phần

vần của âm tiết tiếng Việt như sau: “ để tượng thanh và để tượng hình, khuôn vần

tiếng Việt, bộ phận quan trọng nhất trong sự cấu tạo ý nghĩa, được chủ yếu sử dụng

Khuôn vần có khả năng biểu thị Cùng một khuôn tiếng, có thể có một nhóm từ nhất

định cùng mang một nét nghĩa chung nào đó” [19; tr.62] Nhận định trên của ông

chứng tỏ một vấn đề quan trọng, đó là các từ có cùng một khuôn vần, khuôn tiếng vẫn

tồn tại trong những nét nghĩa chung Chính những nét nghĩa chung này làm cho tác

phẩm tránh được sự trùng lặp nhưng mặt khác lại tạo âm hưởng và sắc thái ý nghĩa cho

ngôn từ khi dùng đúng chỗ, đúng cách Mặt khác ông nhận thấy một điều là: “ Ý kiến

một số tác giả trước đây cho rằng giữa một dãy từ như: chặt, vặt, gặt, cắt… hay: tụt,

rụt, thụt, hụt… tất cả cái chung đó, không phải là không có lí Vấn đề là cần phải chỉ

rõ đó là cái chung như thế nào, trên cơ sở nào, và nó được hình thành trong điều kiện

nào? Trên cơ sở nào?” [19; tr.62]

Qua ý kiến của ông, chúng ta thấy ông cũng đã tìm hiểu về những nhà nghiên

cứu trước đây, họ từng đưa ra những ý nghĩa chung cho các từ cùng khuôn, ông thừa

nhận điều đó là có lí nhưng ông đã đặt ra vấn đề quan trọng hơn cho các nhà ngôn ngữ

nói chung là “ phải chỉ rõ đó là cái chung như thế nào, trên cơ sở nào, và nó được

hình thành trong điều kiện nào? Trên cơ sở nào?” của những từ có nghĩa chung ấy

các khuôn vần này có giá trị quan trọng trong việc cấu tạo nghĩa” Vì vậy ông cố

gắng đi tìm hiểu các khuôn vần ở dạng chung khái quát trên cơ sở thực tế và một số

câu thơ Tuy nhiên, ông chưa đi tìm giá trị biểu trưng trên một tác phẩm cụ thể để

chứng minh cho điều này mà ông chỉ thống kê chúng dưới dạng những từ có cấu tạo

cùng khuôn mang những ý nghĩa biểu trưng chung

Đinh Trọng Lạc trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt cũng

đề cập tới vấn đề ý nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong phong cách học ngữ âm

như sau: “ nhiệm vụ của phong cách học ngữ âm là phải nghiên cứu những giá trị

biểu trưng của các khuôn vần trong từ láy ( cùng với các yếu tố ngữ âm khác) để nêu

lên cách sử dụng chúng trong hoạt động lời nói, nhất là trong lời nói nghệ thuật, bởi

vì chính những giá trị biểu trưng này cùng với các yếu tố khác nữa đã tạo nên cái

Trang 7

luồng ý nghĩa ngầm của khổ thơ, đoạn văn, giúp người đọc cảm nhận được cái hồn của văn bản nghệ thuật” [15; tr.98]

nghĩa biểu trưng của vần trong từ láy chính là từ cấu tạo âm tiết của vần trong thơ Chúng có ý nghĩa quan trọng cho sự cảm nhận của người đọc đối với thơ ca và góp phần giúp cho tác giả gửi gắm những tình cảm, những suy nghĩ của mình đến độc giả,

điều mà ông gọi là “ cái hồn” vậy

Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, khi đi

khảo sát cách cấu tạo từ của tiếng Việt về mặt mối quan hệ cơ cấu ngữ âm và nội dung

ngữ nghĩa có nói rằng: “ có một hiện tượng rất lí thú là nhiều đơn vị từ ngữ của tiếng

Việt dường như được cấu tạo theo những khuôn ngữ âm – ngữ nghĩa nhất định Mỗi khuôn ngữ âm – ngữ nghĩa gồm có một hoặc hai thành tố này mang tính gợi hình, biểu cảm được rút ra từ hàng loạt đơn vị từ ngữ cấu tạo theo khuôn này” [32; tr.236] Và

ông đã thống kê được khá nhiều nhóm khuôn vần gợi hình ảnh như: khuôn vần “op” mang một nghĩa chung là “ giảm thể tích” hoặc “ thu lại”: óp lại, móp, hóp, tọp, tóp… Nhiều khuôn vần “ê - a” biểu thị “ quá trình kéo dài từ chỗ này qua chỗ khác, từ lúc

này qua lúc khác”

Cù Đình Tú đã đi sâu vào phân tích được những nhóm khuôn vần có chung những giá trị biểu trưng Thông qua những đặc điểm chung đó đã giúp chúng ta có thêm cơ sở để đi tìm hiểu thêm những biểu trưng của khuôn vần ở trong thơ Đặc biệt những khuôn vần mà ông đã tập hợp chúng trong những nhóm từ cùng khuôn biểu thị một nét nghĩa tương đương mà ông đã tìm thấy

Trong quá trình phân tích tìm hiểu Truyện Kiều ( Nguyễn Du), chúng tôi nhận thấy không ít nhà nghiên cứu tìm thấy ở Truyện Kiều có những giá trị nghệ thuật trong cách sử dụng từ ngữ Đồng thời qua đó, các nhà nghiên cứu muốn khẳng định Truyện

Kiều là viên ngọc quý, là tiếng nói, là tâm hồn của dân tộc Việt Nam, và tượng trưng

cho những gì tinh hoa văn hóa của dân tộc Sau đây, chúng tôi xin dẫn một vài công trình của các nhà nghiên cứu khác nhau như sau:

Đào Duy Anh trong cuốn Truyện Kiều những lời bình, ông có nhận xét như

sau: “ Một cớ khác khiến người ta dù có học hay không học, đã đọc đến Truyện Kiều

là phải say mê, tức là âm điệu nhịp nhàng của câu văn êm dịu như bài hát Ta thường thấy những người nhà quê, những đứa trẻ chăn trâu, những con bé giữ em, hát những

Trang 8

câu Kiều mà nó không hiểu gì cả Nghĩ ta không cần nghĩ đến nghĩa, chỉ cốt để cho cái

âm điệu véo von uyển chuyển của câu hát ru mê hồn mà thôi” [13; tr.24]

Đào Duy Anh tuy chưa đề cập tới nội dung, nhưng phần nào cho ta thấy được ưu

điểm về thể thơ Kiều, một thể thơ rất gần gũi với tâm hồn người Việt Với cách nhìn

này góp phần thú vị để chúng tôi nghiên cứu Truyện kiều sâu hơn

Hà Như Chi trong cuốn Việt Nam thi văn giảng luận cũng khẳng định như sau:

“ Truyện Kiều đáng được tôn trọng vì giá trị văn chương của nó Truyện ấy cho ta

một kiểu mẫu hàn bị về kỹ thuật văn chương Những cảnh tả người, tả cảnh, tả tình, biến đổi âm điệu, đặt câu, dùng chữ, chuyển mạch, những đặc tính cân đối, trang nhã, duyên dáng của nó đáng được bất cứ ai muốn làm thơ, làm văn đều noi theo và chiêm ngưỡng” [2; tr.493]

Với khẳng định của Hà Như Chi, ta thấy Truyện Kiều không chỉ hay về sự trau chuốt dùng câu, dùng từ mà giá trị văn chương cũng rất “ đáng được tôn trọng” Hà Như Chi cũng đề cập đến sự “ biến đổi âm điệu” nhưng vẫn còn chung chung Dù sao

bà cũng đã diễn tả được cái tài của Nguyễn Du trong cách thể hiện thơ và cho những ai

muốn làm thơ “ noi theo và chiêm ngưỡng”

Xuân Diệu trong cuốn Truyện Kiều những lời phê bình đã phát biểu như sau: “

Nguyễn Du dùng rất nhiều cái phương pháp cách điệu hóa: trong thơ có chất vũ khúc, múa, và chất âm nhạc Nhà thơ khi diễn tả sự vật, diễn tả sự việc, rồi lên khung các vật, việc ấy, có khi đưa nó lên trên một sân khấu ca múa, có dàn nhạc đệm theo” [13;

tr.275]

của nhà thơ trong việc thể hiện giá trị nội dung cho tác phẩm Và Xuân Diệu cũng có

đề cập đến “ chất âm nhạc” “ chất vũ khúc” trong việc diễn tả sự vật, sự việc cho thơ

Nhưng cái gì đã làm nên chất âm nhạc đó thì Xuân Diệu chưa đề cập đến

Đỗ Đức Hiểu trong cuốn Truyện Kiều những lời bình như sau: “ Nguyễn Du láy

lại nhiều lần những cảnh chia lìa Có thể nói mực của nhà thơ chảy bao nhiêu trên trang giấy, thì bấy nhiêu giọt lệ thấm vào những trang kể truyện ấy” [13; tr.368]

để thể hiện nội dung, đó cũng là vấn đề tìm hiểu về giá trị biểu trưng khuôn vần trong

lớp từ láy Nhưng ông vẫn chưa có ví dụ cụ thể, vẫn còn mang tính khái quát chung chung

Trang 9

Trần Ngọc Hưởng trong cuốn Luận đề về Nguyễn Du và Truyện Kiều có viết như sau: “ vẻ u buồn của tâm trạng cũng như của cảnh vật được diễn tả còn nhờ nhịp

đôi của câu thơ lục bát, nhờ các từ láy ( thấp thoáng, man mác), nhờ cách dùng điệp

ngữ ( buồn trông) và cách láy từ ( xa xa, dàu dàu, xanh xanh, ầm ầm)” [14; tr.135]

Với đánh giá trên của Trần Ngọc Hưởng cho thấy Truyện Kiều không chỉ sử

dụng nhiều từ láy cũng như điệp ngữ, mà còn cho thấy tác dụng của các từ láy, điệp ngữ này trong việc thể hiện tâm trạng nói riêng và giá trị nội dung nói chung Do đó việc nghiên cứu từ láy này nói chung và nghĩa biểu trưng về phương diện của từ láy có

ý nghĩa quan trọng, cho việc hiểu thêm vai trò của chúng cũng như ý nghĩa của chúng

từ dạng khuôn vần là rất có ý nghĩa

sau: “ Truyện Kiều hoàn toàn không có hiện tượng túng vần phải gieo vần bằng những

tu từ như thường thấy trong khá nhiều trong truyện Nôm khác, nhất là truyện Nôm bình dân Nguyễn Du sử dụng các vần không phải chỉ để móc nối các câu thơ lại với nhau mà vần của Nguyễn Du thường có âm điệu dư ba Vì vậy mà khi cần thiết nhà thơ nhân vần lên bằng cách sử dụng nhiều từ trùng điệp, từ đồng âm” [36; tr.784]

cập được sự gieo vần rất là linh hoạt, đa dạng trong Truyện Kiều Nhưng vẫn chưa có

sự minh họa trong từng trường hợp cụ thể nào

Chúng ta thán phục nghệ thuật tạo hình của Nguyễn Du với những nét tả Tú Bà như: nhờn nhợt màu da, cao lớn đẫy đà, vì chính những từ ngữ trên, tác giải đã khơi dậy nơi ta mọi sự căm ghét và ghê tởm để tự làm bật dậy cho ta một mụ Tú Bà” [16; tr.93]

nhìn nhận được sự sáng tạo của Nguyễn Du trong cách thể hiện tính cách xấu xa của

mụ Tú Bà như: “ nhờn nhợt màu da”, “ cao lớn đẫy đà” Nhưng ông cũng chỉ mới chỉ

ra được cách dùng từ, chớ chưa đề cập đến cách gieo vần trong việc biểu trưng hình tượng nhân vật

Nguyễn Ngọc thiện trong cuốn Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam đã có nhìn nhận như sau: “ Trong Truyện Kiều như câu: Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa (

Vì có chữ “ thơ” nên câu văn mới có giá trị, mới có vẻ êm ái và dịu dàng, rõ ra lời nói của một người con gái đẹp còn trẻ tuổi; nếu bỏ chữ ấy chắc không chữ nào thay vào được) Chữ “ thơ” trong câu văn ấy tức là “ một ngón tay lạ lùng, chạm khẽ vào

Trang 10

óc ta như chạm vào một sợi dây đàn, rồi trong linh hồn ta như vang lên một tiếng thanh tao” [28; tr 443]

Và ông nói thêm “ Nay cứ xét trong toàn thiên Truyện Kiều, ta thường hay gặp

những “ chữ đôi”; những chữ ấy dự một phần khá to trong cách làm văn Thí dụ như hai câu: Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng… Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa… toàn là những câu hay cả, mà hay cũng vì có những chữ: lần khân, sàm sỡ, bâng khuâng, ngậm ngùi” [28 ;tr.445]

Dù Nguyễn Ngọc Thiện chưa đề cập đến vấn đề từ ghép, nhưng ông đã có đóng góp lớn về từ đơn và từ láy Và ông cũng đã đưa ra dẫn chứng minh họa khá cụ thể trong từng trường hợp để thấy cái tài trong cách chọn lựa từ ngữ của nhà thơ cho tác phẩm

Hoàng Tuệ trong cuốn Truyện Kiều – những lời bình đã có lời bình như sau: “

“ Gieo thoi trước chẳng giữ giàng” “ Giữ giàng” là một thể láy – và láy từ “ giữ” chăng? Nếu xét hệ thống của các thể láy có vần “-ang” như: Vội vàng, sỗ sàng, bẽ bàng, ngỡ ngàng, võ vàng, rõ ràng, sẳn sàng, trễ tràng, vững vàng, lỡ làng… thì thấy rằng “ giữ” không thể tạo nên thể láy như trong hệ thống ấy được” [22; tr.558]

phần hiểu thêm giá trị biểu trưng của các khuôn vần ở cấp độ từ láy cho thể thơ Ông cũng đã có sự đối chiếu và so sánh rất cặn kẽ, đặc biệt ông đã chỉ ra được cách gieo

vần “-ang” để thấy được vai trò quan trọng trong việc cấu tạo nên nó Chúng chính là

những yếu tố đã góp phần tạo nên những giá trị về ngữ âm, ngữ nghĩa của tác phẩm

được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tính đến nay đã có trên hàng trăm công trình

nghiên cứu khác nhau về Truyện Kiều Nhưng vấn đề “ Tìm hiểu tính biểu trưng của

các khuôn vần trong Truyện Kiều ( Nguyễn Du)” thì chưa được nghiên cứu Nếu có

nói tới thì chỉ mới chạm tới các vấn đề còn khái quát ở dạng như từ láy, hoặc một số phương diện của các từ ngữ tiêu biểu cho một số biểu tượng…

3 Phạm vi nghiên cứu

Do đặc điểm của tính biểu trưng của các khuôn vần trong thực tế là rất nhiều, nhưng không phải lúc nào chúng cũng được khai thác và vận dụng hết trong thơ Vì

vậy ở đây người viết xác định là tập trung khảo sát “ Tính biểu trưng của các khuôn

vần trong tác phẩm Truyện Kiều ( Nguyễn Du)” ( bản dịch hiện hành)

Trang 11

Khuôn vần được người viết tìm hiểu là ở các dạng từ đơn, từ ghép và từ láy

Đặc biệt là những biểu trưng khuôn vần trong từ láy

Văn bản mà người viết chọn làm tư liệu khảo sát là quyển Truyện Kiều (

Nguyễn Du) do Đào Duy Anh hiệu khảo và chú giải, NXB Văn học, năm 1997

4 Mục đích nghiên cứu

Việc đi nghiên cứu và tìm hiểu “ Tính biểu trưng của các khuôn vần trong

Truyện Kiều ( Nguyễn Du)” nhằm hướng tới việc tìm hiểu rõ hơn về ý nghĩa cũng như

giá trị của các khuôn vần trong tiếng Việt, cụ thể là sự đóng góp của các khuôn vần có

giá trị biểu trưng trong thơ nói chung và trong Truyện Kiều nói riêng

Tác phẩm Truyện Kiều không chỉ có giá trị nhân đạo nhân văn sâu sắc, mà thể

thơ cũng rất ngọt ngào, truyền cảm - một thể thơ rất đậm đà bản sắc dân tộc Vì vậy người viết sẽ tìm hiểu tác phẩm từ nhiều cấp độ, trong đó có cấp độ tìm hiểu giá trị biểu trưng của các khuôn vần trong thơ góp phần không nhỏ cho việc hiểu rõ nội dung, giá trị tác phẩm

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích và yêu cầu đặt ra ở trên, người viết tiến hành thu thập

thông tin, tư liệu những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

khuôn vần có giá trị biểu trưng Từ đó, chúng ta có một số liệu cụ thể để có thể đánh giá được nội dung và giá trị tác phẩm một cách có khoa học hơn

Bên cạnh đó bài luận văn này sẽ sử dụng thêm phương pháp đối chiếu và so sánh các khuôn vần được sử dụng trong các trường hợp khác để làm nổi bật ý nghĩa biểu trưng cho tác phẩm Và người viết sẽ dựa trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa ngữ âm học của cách cấu tạo âm tiết trong khuôn vần mang giá trị biểu trưng

Trang 12

Bên cạnh đó, không ngẫu nhiên mà các nhà văn, nhà thơ phối hợp các vần, thanh điệu trong các vần ở một câu thơ nào đó Ngoài các yếu tố như thanh, vần, nhịp

điệu, sự phối hợp giữa các âm tiết cũng là những dụng ý khác nhau của nhà thơ khi thể

hiện nội dung tác phẩm thêm hình tượng, thêm sinh động và giàu sức gợi tả

Trước khi đi vào tìm hiểu những giá trị của các vần trong thơ, chúng ta nên khảo sát một số vấn đề chung về âm tiết và vần trong tiếng Việt Bởi vì trên cơ sở đó chúng ta sẽ thấy những giá trị sử dụng của chúng

1.1 Khái niệm âm tiết

Có nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa âm tiết

1.1.1 Theo Bùi Thị Tâm

“ Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất, đơn vị tự nhiên nhất trong lời nói của con người Mỗi âm tiết là một tiếng”

Ví dụ: “ Tiến lên chiến thắng nhất định về tay ta” Có 8 âm tiết [27; tr 17]

1.1.2 Theo Nguyễn Thị Thu Thủy

“ Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi âm thanh lời nói Trong tiếng Việt mỗi âm tiết được phát ra bằng một hơi, vang lên thành một tiếng, luôn gắn với một thanh điệu nên dễ được nhận biết Đó là đơn vị mà người Việt quen gọi là “ tiếng” ” [33; tr.58]

1.1.3 Theo Mai Ngọc Chừ

“ Chuỗi lời nói mà con người phát ra gồm nhiều khúc đoạn dài ngắn khác nhau Đơn vị phát âm ngắn nhất là âm tiết Tiếng tức là âm tiết” Ví dụ “ Vườn hồng

có lối nhưng chưa ai vào” có cả thảy là 8 âm tiết [3; tr.76] Và ông dựa vào cách kết

thúc âm tiết để chia thành bốn loại sau:

Những âm tiết kết thúc bằng một phụ âm vang được gọi là âm tiết nửa khép

Trang 13

Những âm tiết kết thúc bằng bán nguyên âm được gọi là những âm tiết nửa mở Những âm tiết kết thúc bằng một phụ âm không vang được gọi là những âm tiết khép

Những âm tiết kết thúc bằng cách giữ nguyên âm sắc của nguyên âm ở đỉnh âm tiết được goi là các âm tiết mở

1.1.4 Theo Nguyễn Thiện Giáp

“ Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất Âm tiết là đơn vị mang những sự kiện ngôn điệu như thanh âm, trọng âm và do đó con người đã gọi là điệu vị ( prosodeme) Mỗi âm tiết phát ra tương ứng với sự luân phiên tăng lên rồi trùng xuống của cơ thịt trong bộ máy phát âm Mỗi âm tiết gồm có ba phần: khởi đầu, đỉnh và kết thúc” [7;

tr.125]

1.1.5 Theo Trần Trí Giỏi

“ Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất” Và ông giải thích: Chẳng hạn, khi muốn

phát âm ra một âm tiết [b], nhất thiết chúng ta phải tạo ra một âm tiết [bơ] Điều này

có nghĩa là, trong thực tế không ai phát âm ra một âm tố mà phải tối thiểu là một âm tiết Chuổi lời nói, thực chất chỉ được tách ra ở ranh giới âm tiết Vì thế với người nói

tiếng Việt, người ta nhận ra câu: “ Năm qua thắng lợi vẻ vang” sẽ là một chuổi phát

âm có 6 âm tiết [6; tr.56]

1.1.6 Theo Mai Thị Kiều Phượng

“ Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất của lời nói mà bất cứ người bản ngữ nào cũng có thể nhận ra” Ví dụ: tôi/ là/ sinh/ viên Có 4 âm tiết [23; tr.126]

1.1.7 Theo Nguyễn Hữu Quỳnh

“ Âm tiết là đơn vị phát âm tối thiểu của lời nói” Ông cho rằng: “ một đặc

điểm cơ bản nhất của âm tiết là ranh giới của âm tiết tiếng Việt trùng với ranh giới

của hình vị, tức là mỗi âm tiết đều đóng vai trò là dấu hiệu của một hình vị” Do đó: “ Trong âm tiết tiếng Việt, mỗi âm tiết đồng thời là một hình vị” [25; tr.152]

1.1.8 Theo Cù Đình Tú

“ Âm tiết là đơn vị ngữ âm tự nhiên nhất mà bất cứ người nào cũng có thể nhận

ra Ví dụ: “ Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” có 8 âm tiết” Ông giải thích:

Âm tiết là một đoạn của lời nói ( chuỗi âm thanh) mà khi phát âm mỗi bộ máy phát âm căng thẳng rồi chùng xuống Như vậy mỗi khi phát âm, mỗi âm tiết gồm có ba giai

Trang 14

Thanh điệu ( 5)

Vần

Âm đầu ( 1)

Âm đệm ( 2)

Âm chính ( 3)

Âm cuối ( 4)

Thanh điệu ( 5) Vần

Âm đầu

( 2)

Âm chính ( 3)

Âm cuối ( 4)

đoạn: giai đoạn tăng độ căng, giai đoạn đỉnh của độ căng, giai đoạn giảm độ căng và

kết thúc [31; tr.18]

Qua những nhận định của các nhà ngôn ngữ trên, người viết nhận thấy mặc dù cách dùng từ để định nghĩa về âm tiết có khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà nghiên

cứu ngôn ngữ đều thống nhất với nhau ở: âm tiết chính là đơn vị phát âm nhỏ nhất

trong lời nói, trong tiếng Việt âm tiết phát ra gồm ba bộ phận: phụ âm đầu, vần và thanh Và chúng tôi đồng tình với cách hiểu này khi đi phân tích âm tiết

1.2 Cấu tạo âm tiết tiếng Việt

Khi mô tả âm tiết tiếng Việt các nhà ngôn ngữ thừa nhận những đặc điểm sau: Trong tiếng Việt, âm tiết có tính độc lập rất cao Đặc điểm này được thể hiện trong các lời nói Thể hiện rõ ở trong lời nói, âm tiết bao giờ cũng được thể hiện rõ ràng tách ra từng khúc đoạn riêng biệt Đồng thời âm tiêt tiếng Việt cũng có khả năng biểu hiện ý nghĩa Đây là điều mà các ngôn ngữ khác không có được Chính vì vậy ta thấy có những âm tiết tự thân chúng đã có nghĩa mà ta gọi là từ đơn Bên cạnh đó ta thấy một

đặc điểm rất quan trọng của tiếng Việt nữa là cấu trúc chặt chẽ, riêng biệt của mình

Hiện nay các nhà nghiên cứu về tiếng Việt xem mô hình cấu trúc của tiếng Việt như sau:

1

Trang 15

Từ hai mô hình trên cho thấy trong tiếng Việt, mỗi âm tiết ở dạng đầy đủ nhất

sẽ gồm có 3 phần, ở 5 vị trí cụ thể như sau:

1.2.1 Âm đầu ( số 1)

Âm đầu hay còn gọi là thủy âm Âm đầu có chức năng mở đầu âm tiết trong tiếng Việt, bao giờ cũng do phụ âm đảm nhiệm Âm đầu có thể vắng mặt như: ăn, uống… thực chất với những âm tiết này, âm đầu do âm tắc thanh hầu đảm nhiệm, âm này không biểu hiện lên chính tả của chữ viết

1.2.2.3 Âm cuối ( số 4)

Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết, nó do các phụ âm và các bán nguyên

âm đảm nhiệm Ví dụ: tán, cao, tay… Thành phần này có thể vắng mặt trong âm tiết tiếng Việt ở một số trường hợp như: ta, to, thể… Trong những trường hợp này ta gọi là

âm cuối zêrô

1.2.3 Thanh điệu ( số 5)

Mỗi một âm tiết tiếng Việt đều có một thanh điệu, thanh điệu có chức năng phân biệt các âm tiết Trong tiếng Việt hiện nay có 6 thanh là: thanh ngang ( thanh không dấu), thanh huyền, thanh hỏi, thanh sắc, thanh nặng, thanh ngã

 Đặc điểm của các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt

Theo các nhà nghiên cứu thì năm thành phần trên của âm tiết tiếng Việt không phải bình đẳng như nhau về mức độ độc lập và khả năng kết hợp Năm thành phần cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt ở dạng đầy đủ luôn có tính chất cố định không thể thay thế

đổi chỗ cho nhau được

Trang 16

Âm tiết

Bậc 1: Âm đầu - Vần - Thanh điệu

Bậc 2: Âm điệu - Âm chính - Âm cuối

Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ âm đầu và thanh điệu kết hợp lõng lẽo với phần vần hơn so với bản thân tự kết hợp các thành phần của vần Chính vì vậy người

ta nói rằng âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc: bậc 1 là thanh điệu, âm đầu và phần vần; bậc 2 là âm đệm, âm chính và âm cuối Theo sơ đồ sau:

1.3 Vần của âm tiết tiếng Việt

Dựa trên mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt như đã nói ở trên Phần vần được mỗi nhà ngôn ngữ quan niệm như sau:

1.3.1 Vần của âm tiết theo Bùi Thị Tâm

thanh điệu Có âm tiết có đủ 5 vị trí, có âm tiết có vị trí vắng, nhưng nguyên chính âm

luôn luôn có mặt

“ Âm tiết tiếng Việt được chia làm ba phần: phần đầu; phần vần và thanh điệu,

thanh điệu luôn nằm trên toàn bộ âm tiết” [27; tr.19]

Do đó mô hình của âm tiết theo Bùi Thị Tâm như sau:

Gồm có bán nguyên âm môi, ghi bằng /-w-/ thể hiện trên chính tả bằng hai

trường hợp là “o” hoặc “u”, và một âm vị có nội dung tiêu cực là âm vị /zero/ không

thể hiện trên chính tả Âm đệm có tính chất nước đôi Âm đệm có thể nghiêng về phần vần, nhưng cũng có thể nghiêng về phần phụ âm đầu Âm đệm có chức năng trầm hóa

Thanh điệu

Vần Phụ âm

Trang 17

âm tiết Âm đệm /-w-/ không kết hợp với phụ âm môi, không kết hợp với nguyên âm hàng sau tròn môi ( u, uô, ô) và nguyên âm (ươ)

* Âm chính:

Gồm có 13 nguyên âm đơn được ghi bằng các con chữ: a, ă, â, e, ê, i, o, ơ, ô, u,

ư, y, trong đó i và y là do một âm vị như nhau về hình thức thể hiện Và 3 nguyên âm đôi được thể hiện trên chính tả bằng các con chữ: ia, ya, iê, yê, ua, uô, ưa, ươ Ví dụ:

khuya, mượn, tiên, mua, bia, người, yêu

Âm chính có chức năng: tạo âm sắc cho âm tiết Đồng thời là đỉnh của âm tiết

* Âm cuối:

Gồm có 8 nguyên âm được thể hiện trên chính tả là các con chữ: t, m, n, nh, ch,

ng, p, o, u, a, ô, ơ, e, ê

Âm cuối được chia làm 3 nhóm như sau:

Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết

1.3.2 Vần của âm tiết tiếng Việt theo Huỳnh Công Tín

Theo ông âm tiết tiếng Việt được chia làm ba phần Phần phụ âm đầu hay thủy

âm, phần vần: gồm tiền chính âm, chính âm, chung âm và phần thanh điệu

* Tiền chính âm (âm đệm) -w-

Tiền chính âm được thể hiện ở các trường hợp khác nhau Biểu hiện lên chữ

viết bởi chữ “o” trong toán, hoàn…và chữ “u” trong: quân, huân…

Tiền chính âm có mặt trong âm tiết tiếng Việt có chức năng tạo âm sắc cho âm tiết Là cơ sở để phân biệt âm tiết như trong các âm tiết

* Âm chính

Có 9 nguyên âm đơn là /i/, /u/, /ư/, /e/, /ê/, /a/, /o/, /ơ/, /ô/ và 3 nguyên âm đôi

được thể hiện trên chữ viết là: /iê/, /ua/, /uô/, /ưa/, /ue/

Ngoài thanh điệu ra, chính âm là thành tố duy nhất của âm tiết không bao giờ

có thể thay thế được bằng /zero/ Nó là yếu tố chính của phần vần (vận mẫu) cung cấp cho toàn bộ âm tiết cái âm sắc chủ đạo của nó: âm sắc này bao quát toàn bộ âm tiết, kể

cả âm đoạn phụ âm tuyến tính

Trang 18

* Chung âm (âm cuối)

Chung âm là phần kết thúc âm tiết Nó thường được biểu hiện bằng một âm tiết khép vào trong âm tiết kín Có hai bán nguyên âm cùng làm nhiệm vụ kết thúc âm tiết Trong các âm tiết hở, chung âm có dạng zero Trong các âm tiết kín tiếng Việt chỉ có 8

chung âm là: /-p/, /-m/, /-n/, /-k/ và 2 chung âm bán nguyên âm /-w/, /-j/

Nhìn chung thì cách chia phần vần âm tiết tiếng Việt của Huỳnh Công Tín cũng giống như cách phân chia của Bùi Thị Tâm, chỉ có cách gọi tên của thành phần âm tiết

là khác nhau

1.3.3 Vần theo Nguyễn Quang Hồng

Ông đưa ra hai khái niệm về “ vần” và “ vần cái” Dưa trên sơ đồ về hai bậc của

âm tiết như trên, phần vần thường được đề cặp tới phần thứ hai của âm tiết sau phần

âm đầu Theo ông “ “ vần” sẽ không tính phần âm đệm và thanh điệu của âm tiết – đó

là vần cái (vận mẫu) Nói cách khác, vần cái là đơn vị ngữ âm nằm trong cấu trúc “

đoạn tính” của âm tiết, bắt đầu từ đỉnh âm tiết đến cuối âm tiết Vần cái cũng có thể

gọi là khuôn vần” [11, tr.247] Cách phân chia này của ông tách hai khái niệm vần và

vần cái bởi yếu tố âm đệm Phần vần cái mà ông đưa ra được gọi là khuôn vần cũng trùng với nhiều nhà ngôn ngữ khác cho đó là vần hay khuôn vần

1.3.4 Vần của âm tiết tiếng Việt theo Mai Thị Kiều Phượng

Theo Mai Thị Kiều Phương trong cuốn Tiếng Việt đại cương – ngữ âm, cho rằng: “ Vần là một thành tố cấu tạo thuộc cấp độ bậc 1 Tuy phụ âm đầu cũng là yếu tố

cấu tạo bậc 1, nhưng phụ âm đầu có thể khuyết trong một số trường hợp, còn vần là yếu tố quan trong không thể vắng mặt để tạo nên âm tiết Vần là thành phần chủ yếu tạo nên âm tiết” [23, tr.217]

Theo Mai Thị Kiều Phượng, vần của âm tiết tiếng Việt có cấu tạo gồm 3 yếu tố thuộc cấu trúc âm đoạn: âm đệm, âm chính và âm cuối và một yếu tố thuộc cấu trúc

âm đoạn: thanh điệu

Cấu tạo tối thiểu của vần là gồm hai âm vị (một âm vị đoạn tính là ngữ âm và

âm vị siêu đoạn tính là thanh điệu) Thanh điệu là yêu tố chẳng bao giờ vắng mặt trong thành phần của vần, nó bao trùm lên toàn bộ phần vần

Cấu tạo tối đa của vần là 4 âm vị: 3 yếu tố thuộc cấu trúc âm đoạn: âm đệm, âm chính và âm cuối; và một yếu tố thuộc cấu trúc siêu âm đoạn: thanh điệu

Trang 19

Về chức năng, theo Mai Thị Kiều Phượng vần là yếu tố âm tiết tính, là hạt nhân chủ yếu của âm tiết nên vần có chức năng chính là tạo đỉnh cho âm tiết Vần là thành phần cấu tạo âm sắc của âm tiết Mô tả phần vần của âm tiết theo bà như sau:

* Âm đệm /-w-/

Là âm vị duy nhất Là âm vị bậc 1 nó sẽ đứng ở vị trí số 2, trong cấu trúc âm tiết Âm đệm khi là âm vị bậc 2 nó sẽ đứng ở vị trí đầu vần:

- Âm đệm là một bán âm môi, âm đệm có cấu tạo bằng một bán nguyên âm Nó

có cấu tạo cũng giống như nguyên âm chính /u/ (nguyên âm có độ mở hẹp, cực trầm,

tròn môi, hàng sau) Ở những kiểu âm tiết “ ngang”, “ tân” yếu tố tròn môi như trên

không tồn tại người ta gọi đó là âm đệm zero

- Âm đệm có chức năng trung gian nối phụ âm đầu với phần còn lại của vần Âm

đệm cùng với phụ âm đầu có chức năng tu chỉnh âm sắc của âm tiết lúc mở đầu Nó

còn có chức năng làm trầm hóa âm tiết Đồng thời, nó còn có chức năng khu biệt nghĩa

và nhận diện từ Ví dụ từ có hình thức âm tiết “ toán” khác về mặt ngữ âm và ý nghĩa

so với từ có hình thức cấu tạo âm tiết “ tán”

- Âm đệm /-w-/ không xuất hiện sau các phụ âm môi Và /-w-/ không xuất hiện với các nguyên âm tròn môi

- Âm đệm /-w-/ có 2 cách biểu hiện trên chữ viết:

Bằng chữ “o” khi đi trước các nguyên âm rộng và hơi rộng /a/, /ă/, /e/ Ví dụ: hoa,

hòe, xoan…

Nó được ghi bằng chữ “u” khi đi sau /k/ như “ qua” và khi đi trước các nguyên

âm còn lại Ví dụ: “ tuân”, “ huy”, “ thuở”…

* Âm chính

Âm chính đứng ở vị trí số 3, là vị trí của chính âm, vị trí này bắt buộc luôn luôn

là các nguyên âm đảm nhiệm

- Trong tiếng Việt có cả nguyên âm đơn và nguyên âm đôi đóng vai trò và đứng ở

vị trí âm chính Âm chính có cấu tạo bằng nguyên âm chân chính (nó chính là yếu tố

âm tiết tính, là hạt nhân của âm tiết)

- Âm chính có chức năng tạo đỉnh cho âm tiết Và tạo âm sắc cho âm tiết Ví dụ:

âm tiết “ loan” có /a/ tạo âm sắc chính, nhưng vì trước nó có âm đệm nên trầm hóa âm tiết hơn âm tiết “ lan” và /a/ cũng là nguyên âm tạo âm sắc nhưng vì trước nó có âm

đệm nên trầm hóa âm tiết hơn âm tiết “ lan” và /a/ cũng là nguyên âm tạo âm sắc

Trang 20

nhưng vì trước nó có âm đệm nên nó tạo âm sắc rõ hơn Đồng thời, nó còn có chức năng khu biệt nghĩa và nhận diện từ nhờ sự khác biệt giữa âm tiết này với âm tiết khác

- Âm chính luôn có mặt trong mọi trường hợp

Về mặt số lượng âm chính theo Mai Thị Kiều Phương có 14 nguyên âm, trong

đó là 9 âm vị dài, 2 nguyên âm đơn ngắn và 3 nguyên âm đôi

* Âm cuối

Vị trí số 4, là vị trí cuối vần và cũng là vị trí cuối âm tiết

Cấu tạo bằng phụ âm và nó mang đầy đủ đặc trưng của phụ âm

Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết

Âm cuối có thể khuyết trong một số trường hợp của âm tiết tiếng Việt

* Thanh điệu

Thanh điệu trong tiếng Việt gồm có 6 thanh là: thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh huyền, thanh ngang, thanh nặng Một âm tiết có cấu tạo luôn có thanh điệu và thanh điệu luôn đi kèm theo phần vần

Cách phân chia phần vần của Mai Thị Kiều Phượng khác với cách phân chia của Bùi Thị Tâm và Huỳnh Công Tín ở chỗ là phần vần là phần có sự bao trùm bởi yếu tố thanh điệu Phần phụ âm đầu không được bao trùm bởi yếu tố thanh điệu

1.3.5 Vần theo Nguyễn Tài Thái

“ Vần là một thành phần chính, trực tiếp của âm tiết, nó không bao gồm âm

đệm Nó đứng cuối âm tiết và gồm hai thành phần khác nhau: nguyên âm và âm cuối”

[34; tr.551]

1.3.6 Vần theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ trong cuốn Ngữ pháp

tiếng Việt do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn biên soạn

Vần được chia làm ba yếu tố: âm giữa, âm cuối và âm đệm

* Âm giữa

Âm giữa là một trong những âm vị sau: a, ă, e, ê, i, ô, o, u, ư ( là những âm

đơn); iê, uô, (ua), ươ, (ưa) (là âm phức)

Đặc điểm: Xét trong vai trò trung tâm của phần vần thì nguyên âm đơn hay

nguyên âm phức đều có giá trị mỗi nguyên âm là một âm vị Các nguyên âm đơn được ghi bằng một chữ cái, các nguyên âm phức được ghi bằng hai chữ cái ghép lại và có hai cách ghi

Trong vần khi có âm cuối thì âm này ảnh hưởng tới âm giữa; nói chung âm giữa

ngắn lại ít nhiều, đặc biệt là khi âm cuối “ tắc”: t, p, c, ch

Trang 21

* Âm cuối

Âm cuối là một trong những âm vị sau: m, n, p, t; ng/nh, c/ch ( là những âm có tính chất phụ âm), i (y), u (o) (là những âm có tính chất nguyên âm)

Những âm tiết có âm cuối thường được gọi là những âm tiết “ đóng”, ví dụ:

chăn, xem, ốc… Đó là vì sau âm cuối, không thể có âm vị nào hơn được nữa Nếu ở vị

trí cuối cùng mà không có âm vị nào thì đó là trường hợp âm tiết “ mở”, ví dụ: che, đỏ,

mía…; vị trí âm cuối còn trống, âm tiết chưa được đóng lại

những từ gốc nước ngoài phiên âm)

- Âm đệm ghi u hay o là tùy theo hoàn cảnh có âm giữa và âm đầu nào

Nếu trước âm đệm không có âm đầu mà âm giữa là i, ê, yê, â thì vần được ghi là

ủy, uể, uyên, uất; trong trường hợp này khi âm giữa là a, ă, e thì ghi oa, oắt, oe

Nếu trước âm đệm có âm đầu mà âm đầu này không phải là “q” thì âm đệm cũng được ghi như trên: duy, huê, thuyền, khuya, huơ, xuân… nhưng lại ghi là hoa,

hoạt, xoen, khoe…; nếu trước âm đệm có âm đầu mà âm đầu là “q” thì các vần: oa,

oă, oe… cũng ghi thành: ua, ue… ví dụ: quà, quăng, quét

Như vậy nhìn chung về cách phân loại phần vần của âm tiết tiếng Việt của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu đều chia vần của âm tiết gồm có ba phần là: âm

đệm, âm chính và âm cuối Chính ba phần này làm nên cốt lõi của phần vần có tác

dụng rất quan trọng trong âm tiết cũng như cách tạo nghĩa của từ ( âm tiết)

Như trên đã nói, âm tiết tiếng Việt chia làm hai bậc Phần vần được chia làm các phần: âm đệm, âm chính và âm cuối Vần là cơ sở của khuôn vần trong thơ, phần vần có sự kết hợp chặt chẽ hơn so với âm đầu và thanh điệu

1.4 Tính biểu trưng của vần trong âm tiết tiếng Việt

Trang 22

1.4.1 Khái niệm tính biểu trưng

Biểu trưng là một từ được dịch từ tiếng Anh ( symbol) hay trong tiếng Pháp là ( symbole) là một khái niệm được sử dụng trong nhiều ngành học Nó có nguồn gốc từ tiếng La tinh ( symbolus) nghĩa là dấu hiệu Ở Việt Nam, từ ngữ này được dịch là biểu trưng hay biểu tượng Biểu trưng tồn tại rộng khắp các nền văn học và đời sống tinh thần của một cộng đồng

Trong văn học gần đây xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về biểu trưng Cho đến nay, người ta vẫn chưa thống nhất một quan niệm nào Dưới đây là khảo sát một số quan niệm của các nhà nghiền cứu

Theo quan niệm của Nguyễn Lân trong Từ điển từ và ngữ tiếng Việt, ông giải thích: “ “ biểu” là tỏ ra, “ trưng” là điềm “ Biểu trưng” là tỏ ra một cách tượng

trưng” [17; tr.146] Nguyễn Lân đã giải thích nghĩa từ “ biểu trưng” theo kí tự Hán

Việt Rõ ràng nếu đi giải thích theo nghĩa chữ Hán thì chưa khái quát được tính biểu trưng mà thơ ca muốn hướng tới

Trong Ngữ học trẻ - 2007 Trương Thị Nhàn cho rằng: “ Nghĩa biểu trưng nghệ

thuật là nghĩa trong văn bản được hình thành trong văn bản, do những mối quan hệ nhất định trong hệ thống văn bản quy định, đó là những ý nghĩa hàm ẩn mang tính liên hội” [12; tr.21] Ở đây ta thấy bà đã không đi vào giải thích định nghĩa biểu trưng

mà đi vào giải thích cơ chế hình thành và ý nghĩa của các biểu trưng

là một sự vật mang tính thông điệp được dùng để chỉ ra ở bên ngoài, theo quan niệm

ước lệ võ đoán giữa sự vật trong thông điệp và sự vật ở bên ngoài” và theo ông “ biểu

trưng bao giờ cũng có: tính biểu hiện một cái gì bằng một sự vật có hình thù đại diện cho cái gì theo liên tưởng và có tính ước lệ” [9, tr.28] Nhìn chung cách giải thích này

được nhiều người chấp nhận

Theo Đinh Trọng Lạc trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt thì ông phân biệt ý nghĩa và biểu trưng như sau: “ Nói tới ý nghĩa là nói tới cái gì đó

mang nghĩa võ đoán, bởi vì nói chung, ý nghĩa thường gắn với võ âm thanh một cách

ước định Còn nói tới biểu trưng là nói tới mối quan hệ có tính lí do giữa cái biểu hiện

và cái được biểu hiện, mối quan hệ được cảm nhận do sự liên tưởng tương đồng”

Theo ông biểu trưng cũng có thể gọi là biểu tượng: “ Trong tiếng Việt biểu

tượng ngữ âm được hình thành do hai nguyên nhân sau: Sự liên tưởng trong đầu óc những từ ngữ có một số nét giống nhau về cơ cấu ngữ âm – ngữ nghĩa, về các khuôn

Trang 23

vần trong từ láy Sự lựa chọn âm thanh khi sử dụng tạo ra các từ phù hợp, sự thống nhất giữa hình thức ngữ âm và nội dung biểu đạt” [15; tr.132] Cách giải thích của

ông cũng gần với cách giải thích của Hoàng Hinh như trên

Theo Nguyễn Văn Nở, “ Biểu trưng là một hiện tượng mang tính phổ quát

trong các ngôn ngữ và trong nghệ thuật ngôn từ Đây là hình thức dùng một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện một cách trừu tượng, ước lệ về một cái gì đó mang tính chất khái quát, trừu tượng ” [21; tr.53] Cách giải thích này của Nguyễn Văn Nở cho

thấy sự cảm nhận của các hình ảnh ở các ngôn từ đưa lại thiên về sự vật, hiện tượng Cách giải thích này nhìn chung có phần gần với giải thích về các hình ảnh tượng trưng,

ước lệ trong thơ hay ca dao tục ngữ

Từ các định nghĩa trên về biểu trưng ta có thể nhận xét chung về biểu trưng của

vần trong thơ ca nói chung: “ Nói tới biểu trưng là nói tới mối quan hệ có tính lí do

giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện, mối quan hệ được cảm nhận do sự liên tưởng tương đồng” Như vậy với tư cách là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ cũng là biểu

trưng Chúng ta có thể hiểu biểu trưng của khuôn vần theo cách: “ Chất liệu biểu

trưng là cái nằm bên ngoài, cái mà nó biểu trưng lại nằm sâu bên trong nội tâm” [12;

tr.348] để phân tích biểu trưng khuôn vần trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn

Du

1.4.2 Tính biểu trưng của các khuôn vần trong tiếng Việt

1.4.2.1 Theo Phi Tuyết Hinh

Giá trị biểu trưng của khuôn vần được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau “

trước hết nó là bộ phận cấu tạo từ láy không rõ thành tố gốc, đến bộ phận của từ láy trong những từ láy có thành tố gốc, và cuối cùng là bộ phận cấu tạo của từ đơn” [35;

tr.39] Do đó, theo ông trong những trường hợp khác nhau, khuôn vần đều mang một hình ảnh ngữ nghĩa nhất quán vào trong ý nghĩa của những từ mà nó có mặt Và ông đi vào khảo sát ấn tượng ngữ nghĩa của những khuôn vần trong từ láy ở các phương diện

từ láy không rõ thành tố gốc; những từ láy có ý nghĩa cụ thể là từ đơn

Dưới đây là một số khuôn vần trích từ công trình nghiên cứu của ông trong

cuốn Từ láy những vấn đề còn để ngõ:

 Biểu trưng của các nhóm khuôn vần “ơ”

Nhóm 1: Gồm các từ: bơ vơ, chơ vơ, lơ thơ, lơ vơ, lơ phơ Nói chung là những

từ biểu hiện trạng thái lẻ loi, trơ trọi, thưa vắng

Trang 24

Nhóm 2: Gồm những từ: thờ ơ, bơ thờ, bỡ ngỡ, lơ ngơ, lờ ngờ, lớ quớ Nói

chung là những từ biểu hiện trạng thái không hòa nhập, không thích ứng

Nhóm 3: Gồm những từ: lơ xơ, lớ xớ, lớ rớ, xớ rớ, nhờ nhờ, lờ lờ, lơ lớ Nói

chung đó là những từ biểu hiện trạng thái không xác định

Nhóm 4: Gồm những từ: chơ hơ, hơ hớ, sờ sờ, rờ rỡ… Nói chung đó là những

từ biểu hiện trạng thái phô bày

Cuối cùng có thể khái quát ấn tượng ngữ nghĩa chung của bốn từ láy vần không

rõ thành tố gốc, mang khuôn vần “ơ” vừa được nói trên là biểu hiện trạng thái mở,

buông thả, bất định và không hòa nhập

Ở những từ có ý nghĩa, cụ thể là từ đơn, khuôn vần “ơ” cũng bộc lộ rõ được

nghĩa biểu trưng của mình

- Đó là trạng thái mở, buông thả, thông thoáng, làm cho không bị ràng buộc kết

dính vào nhau: hở, mở, nở, giở, bở, lở, dở, gỡ, vỡ

- Hoặc là trạng thái không tiếp cận, không hòa nhập: bơ ( tỉnh bơ), lơ ( làm lơ),

lờ, ngơ ( làm ngơ), trơ, hờ, vờ

- Hoặc trạng thái vừa nửa vời, lở dở, không xác định: dở, lỡ, nhỡ, nỡ, hở, lợ, nhợ,

ngờ, ngỡ, ngợ, ngớ, ớ, quờ, rờ, sờ

Ngay cả một số từ đơn hai âm tiết ( không phải từ láy) mang khuôn vần “ơ” như: bâng quơ, tầm phơ, tình cờ… nhưng ý nghĩa người bản ngữ cảm nhận được về

một cái gì đó buông thả, lững lơ, bất định cũng lại rất phù hợp với ấn tượng ngữ nghĩa

của hàng trăm từ mang khuôn vần “ơ” như vừa được phân tích ở trên

Từ khảo sát về khuôn vần “ơ” ông đi tới nhận xét ấn tượng ngữ nghĩa chung của vần “ơ” trong từ láy nói chung và những từ có vần “ơ” có nghĩa nói riêng là “

cảm nhận được một cái gì đó buông thả, lững lơ, bất định”

Tiếp tục đi khảo sát về ấn tượng ngữ nghĩa của những khuôn vần: ăm, âm, um,

ôm, om Ông nhận thấy cho dù ấn tượng ngữ nghĩa cụ thể khác nhau, xong chúng vẫn

tạo được một giá trị biểu trưng chung: biểu thị sự thu khép, tụ hợp

 Ấn tượng ngữ nghĩa của khuôn vần “ăm”

Trong các từ láy không rõ thành tố gốc, khuôn vần “ăm” gợi ấn tượng từ sự thu

khép và tụ hợp để có sự tập trung; trạng thái tập trung cao độ ( bám rất sâu, rất chặt vào mục tiêu, một hướng, một ý đồ nhất định)

Trang 25

Gồm các từ: chằm chằm, đăm đăm, đắm đắm, nhăm nhăm, lăm lẳm, phăm

phăm, xăm xăm, xăm xắm, căm căm, xắm nắm, xăm xắn, xắm xúi, lăm le, nhăm nhe, cặm cụi, hặm hụi

Với các từ đơn, ngoài ấn tượng nghĩa tập trung, khuôn vần “ăm” còn biểu hiện trạng thái sâu đắm, chìm ẩn: chăm, ngắm, nhắm, nhằm, bằm, vằm, găm, xăm, đắm,

giắm, cắm, nắm, bặm ( bặm môi), gằm ( cúi gằm), thẳm ( sâu thẳm, xa thẳm, xanh thẳm), hăm ( hăm dọa), căm ( căm hờn)…

 Ấn tượng ngữ nghĩa của khuôn vần “âm”

Trong các từ không rõ thành tố gốc đã gợi ấn tượng “ thầm lặng, ngầm ẩn” Khuôn vần “âm” nằm trong thành tố láy của từ láy có thành tố gốc

Nhóm 1: lầm râm, lâm thâm, lầm rầm, lẩm bẩm, lầm bầm, lẫm chẫm, ngâm

ngẩm, tẩm ngẩm, tâm ngẩm, âm ỉ, xầm xì, nhâm nhi, lầm lũi, lậm lụi, ngậm ngùi, rấm rứt Nói chung đó là những từ gợi ấn tượng ngữ nghĩa nhỏ, lặng, thầm kín

“âm” đã ghép với các từ láy khác tạo thành các từ láy miêu tả những cách nhìn mang

nghĩa ngầm ẩn, thầm lén: lầm lừ, lấm lét, ngấm nguýt, nhấm nháy; những cử chỉ, động tác cố ý lần tìm, ẩn dấu: mò mẫm, dò dẫm, sờ sẫm, thậm thụt, dấm dúi, dấm dứ…

Những từ đơn không mang khuôn vần “âm” cũng cậy, rất nhiều từ có ý nghĩa nhỏ, lặng thầm, ngầm ẩn: câm, thầm, nhẩm, ngẫm, ngâm, ngầm, ngấm, ngậm, thấm,

dấm (mưa dầm)…

Như vậy từ khảo sát của một số khuôn vần ( ơ, ăm, âm) Phi Tuyết Hinh đã cho

thấy ấn tượng ngữ nghĩa của các khuôn vần với ý nghĩa biểu trưng chung của chúng trong các nhóm khác nhau

Đồng thời, ông cũng chứng minh được trong các khuôn vần như: ăm, âm, om,

ôm, um có nguyên âm cuối là /-m/ có một giá trị biểu trưng chung là: biểu thị sự thu

khép, tụ hợp Thu khép để có sự “ tập trung” ( ở khuôn vần “ăm”), thu khép nên giữa

Trang 26

lại vào bên trong, thành ra “ thầm lặng” và “ ngầm ẩn” ( ở khuôn vần “âm”), thu khép nên trạng thái “cong, chụm lại, tập hợp” ( khuôn vần “om”, “um”, “ôm”)

Chính bằng các thao tác kết hợp trong đối hệ, ông đã chứng minh được ấn tượng ngữ nghĩa của nguyên âm và âm cuối, là các yếu tố ngữ âm cấu tạo khuôn vần

Do đó, theo Phi Tuyết Hinh “ vấn đề biểu thị giá trị biểu trưng của khuôn vần (

các yếu tố ngữ âm khác) còn có ý nghĩa đối với một lớp từ rộng lớn hơn, không chỉ có trong tiếng Việt, được gọi là từ biểu trưng” [35; tr.56]

1.4.2.2 Theo Hữu Đạt

Trong cuốn Cơ sở tiếng Việt khi đi nghiên cứu về tiếng việt Hữu Đạt đã nhận

định là: Tiếng việt giàu âm thanh, nhạc điệu và giàu nguyên âm Số lượng 16 nguyên

âm ( đơn và đôi), 6 thanh điệu ( cao - thấp) dẫn tới tiếng Việt có khả năng tạo ra một khối lượng lớn các vần làm tiền đề trực tiếp cho việc tạo các vần thơ

Phần vần của âm tiết tiếng Việt không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa, mà trong tất

cả nhiều trường hợp, nó còn có tác dụng gợi hình Đây chính là phương tiện vật chất làm nên sự phong phú cho thơ ca Chính vì vậy, theo ông khuôn vần có giá trị tạo hình rất cao Và ông tìm thấy những giá trị như sau:

 Giá trị gợi hình trong một số khuôn vần tiếng việt

- Vần “um”: Là vần có giá trị gợi ra hình ảnh về sự vật có độ rỗng hoặc những

hình ảnh, âm thanh phát ra từ các sự vật có độ rỗng đó Chính vì thế, trong tiếng Việt

có khá nhiều từ mang vần có giá trị gợi hình

Ví dụ: lùm ( lùm cây), ( cái) hũm, ( cái) chum, ( cái) đùm, khum ( khum tay), bùm…

Gợi ra các hình ảnh về các âm thanh: Đùm, bùm, bum ( tiếng nổ)

“ Nguyên nhân: Sở dĩ vần này có giá trị gợi hình như trên là vì việc cấu tạo một số tên gọi được tiến hành theo cách mô phỏng quá trình cấu tạo âm của chính vần

đó” [6; tr 56] Chính vì vậy, mà tiếng Việt có những từ được cấu tạo theo cách mô

phỏng quá trình phát âm này, như: chụm, dúm, bụm, chúm, xúm… để chỉ động tác làm

cho sự vật quy tụ lại một điểm hoặc kết quả của động tác đó Theo ông thì ý nghĩa của một số vần được hiểu như sau:

- Vần “óp”: Có giá trị gợi ra hình ảnh về các sự vật có thể tích bị thu hẹp lại

Ví dụ: móp, lóp, tóp, hóp…

“ Nguyên nhân: Đó là các tên gọi cấu tạo bằng cách mô phỏng động tác cấu âm vần “óp” Khi cấu âm, khoang miệng đang mở ở giai đoạn phát âm nguyên âm /o/

Trang 27

bỏng bị thu nhỏ đột ngột, khi bước sang giai đoạn phát âm phụ âm cuối /p/ là phụ âm tắc – vô thanh, môi - môi” [6; tr 56]

- Vần “ép”: Là vần có giá trị gợi ra các hình ảnh về các sự vật bị thu nhỏ lại,

nhưng khác vần “óp” sự thu nhỏ ở đây đã giảm xuống mức tối đa

Ví dụ: lép, bẹp, xẹp…

“ Nguyên nhân: cũng giống như đối với vần “óp”, nhưng có sự khác biệt là đến giai đoạn cuối khi phát âm vần “ep” hàm dưới và hàm trên khoang miệng chỉ còn lại một khoang rỗng rất nhỏ, gần như là một cái khe hẹp Trong khi đó, đến giai đoạn cuối vần “op” thì độ rỗng của khoang miệng tuy bị thu nhỏ lại nhưng vẫn còn độ rỗng bán cầu” [6; tr.57]

- Vần “oe”: Là vần có giá trị gợi ra hình ảnh về những sự vật có kích thước mở

rộng ra Ví dụ: loe, xòe, tòe, chòe…

“ Nguyên nhân: khi đang phát ra âm “oe”, môi đang chụm lại với hình dáng tròn

ở giai đoạn phát âm /o/ bổng bẹt ra Kết thúc vần, khoang miệng chòe ra, rộng hơn lúc

ban đầu Do đó, mô phỏng động tác cấu âm này có một số từ được cấu tạo đã có tính chất gợi hình” [6; tr.57]

- Vần “eo”: Là vần có giá trị gợi ra hình ảnh về các sự vật có kích thước bị thu

hẹp lại hoặc ở tư thế không vững chãi:

Ví dụ: teo, héo, dẹo, cheo leo… hoặc các sự vật có kích thước mãnh và nhỏ Ví dụ:

khẳng kheo, khò khè…

“ Nguyên nhân: khi phát ra âm vần “eo” miệng đang bẹt bổng thu lại có dáng hình tròn Do đó, một số từ cấu tạo theo âm vần này có hướng ngược với ngữ nghĩa của một số từ mang vần “oe”

Chính vì vậy, ông cũng có nhận xét là: “ Ngoài ra tiếng Việt còn có một số vần

khác cũng mang nghĩa, song tính chất gợi hình của nó yếu” Và “ thông thường những

từ lấp láy có giá trị gợi hình rất cao” [6; tr.58]

 Giá trị gợi hình của các nguyên âm trong tiếng Việt

Nguyên âm i: Là nguyên âm có giá trị gợi ra hình ảnh về các sự vật có kích

thước, âm thanh nhỏ bé

Ví dụ: bé tí, lí nhí, thủ thỉ, rù rì, ỉ ôi, nhu mì, cái tí, tí teo, rầm rì, tỉ ti… [6; tr.58]

Nguyên âm e: Là nguyên âm có giá trị gợi ra hình ảnh về các sự vật mảnh và

nhỏ, các âm thanh bé và chói

Ví dụ: các khe, thằng bé, thỏ thẻ, hé mở, le te, be be…

Trang 28

Từ khảo sát trên ông rút ra một lưu ý cho khuôn vần: “ Tuy tiếng Việt có nhiều

loại vần và nguyên âm có giá trị gợi hình nhưng phải lưu ý là không phải tất cả những

từ nào mang vần, các nguyên âm trên đều có khả năng gợi hình” [6; tr.59]

1.4.2.3 Theo Đinh Trọng Lạc

Theo ông để tìm hiểu khuôn vần trong từ láy thì trước hết phải khuôn biệt khuôn vần với phần vần Bởi vì ông cho rằng chỉ có một số khuôn vần là có giá trị

biểu trưng Do đó ông quan niệm khuôn vần trong từ láy là: “ khuôn vần không bao

gồm tất cả các phần vần trong hai thành tố của mọi từ láy Cụ thể là không bao giờ những vần nằm trong âm tiết có tư cách là một tín hiệu hoàn toàn võ đoán, như trong tím ( màu tím), eo trong lẽo ( lạnh lẽo) Chỉ xem là khuôn vần, các vần như –a trong thành tố láy ( ha hả, sa sả) phù hợp với âm hưởng to vang của khuôn vần này ( do âm

vị /a/ được phát ra với độ mở lớn nhất, có âm hưởng mạnh nhất); như –i trong các thành tố láy ( hi hí, ri rí, lí nhí) phù hợp với âm hưởng nhỏ nhẹ của khuôn vần này ( do khuôn vần /i/ được phát ra với độ mở nhỏ nhất, âm lượng yếu nhất)” [15; tr.133]

Do đó, ông đưa ra một số khuôn vần trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu

từ tiếng Việt như sau:

 Khuôn vần i có nguyên âm ( âm chính) /i/:

Đặc điểm cấu tạo có độ mở nhỏ nhất dẫn tới quyết định tính biểu trưng của các

khuôn vần có nguyên âm /i/ là ấn tượng nhỏ bé Ví dụ:

+ Miêu tả âm thanh nhỏ: lí nhí, hí hí, ti tỉ…

+ Hình dáng, tính chất, trạng thái nhỏ: li ti, chi li, ti tí…

+ Ấn tượng nhỏ bé được liên tưởng tới trạng thái khép kín, bí, ít vận động: lì xì,

bí xí, rì rì…

+ Cách nói năng nhỏ nhẹ: thì thào, tỉ tê, ỉ oi…

+ Động tác, tính cách có liên quan tới cái nhỏ: chi chút, ki cóp, hi hữu…

+ Miêu tả tính động trong sự đối lập không đều nhỏ - to: ì ầm, tí tách, kì cạch…

 Khuôn vần u có nguyên âm (âm chính) /u/:

Xét về lượng nguyên âm /u/ có âm lượng nhỏ nhất; về màu sắc: tối nhất trong các nguyên âm Do đó, nguyên âm /u/ có khả năng biểu trưng cho trạng thái tối và nhỏ Ví dụ:

+ Mô phỏng âm thanh trầm: ù ù, khù khù, vù vù…

+ Biểu hiện trạng thái thiếu ánh sáng: tù mù, âm u, lù mù…

Trang 29

+ Miêu tả hình khối nặng nề, gợi cảm giác bị che chắn làm tối không gian: bù

xù, lù lù, tú hụ…

+ Miêu tả trạng thái chậm chạp, kém trí tuệ: lù dù, cà rù, lù khù…

 Khuôn vần a có nguyên âm (âm chính) /a/:

Nguyên âm /a/ có độ mở lớn nên khuôn vần /a/ thường diễn tả trạng thái to vang, mạnh mẽ, dài rộng

+ Biểu hiện trạng thái độ to vang của âm thanh ( thường là diễn tả tiếng cười):

ha hả, hà hà, khà khà…

+ Cường độ hoạt động: ra rả, ( mắng) sa sả, ( rơi) lã chã…

+ Trạng thái kéo dài trong thời gian hoặc lan tỏa trong không gian: la cà, tà tà,

lả…

 Khuôn vần ơ có nguyên âm (âm chính) /ơ/:

Chiếm vị trí trung gian trong các nguyên âm khác cả về âm lượng lẫn âm sắc

Do đó, nguyên âm này có khả năng gợi tả ấn tượng lưng chừng, nửa vời không tiếp cận Ví dụ:

+ Biểu hiện trạng thái nửa này nửa kia: ấm ớ, lập lờ, tờ mờ, nhờ nhợ, ngờ ngợ… + Trạng thái không thâm nhập, không tiếp cận, thiếu quan tâm: lờ vờ, hững hờ,

nhỡn nhơ, phất phơ…

+ Trạng thái lẽ loi, trơ trọi, thưa vắng: chơ vơ, bơ vơ, lơ thơ…

+ Tình trạng không xác định, không ổn định, bất định: vu vơ, vật vờ, dật dờ… + Tình trạng không hòa nhập của cá nhân với môi trường: ngẩn ngơ, thẩn thờ,

bở ngỡ, lớ ngớ, ngỡ ngàng, tưởng tơ…

 Khuôn vần â có nguyên âm (âm chính) /â/:

Có đặc điểm ngắn, âm cuối đứng sau /â/ bao giờ cũng ở thể dài, có cường độ mạnh, được phát âm khép hơn Do vậy, giá trị biểu trưng của các khuôn vần có nguyên

âm /â/ thường phụ thuộc nhiều hơn và đặc điểm ngữ âm của âm cuối và đặc điểm kết hợp giữa các âm vị cấu tạo khuôn vần

* Khuôn “âm”: Biểu hiện trạng thái nhỏ, lặng, thầm kín, không bộc lộ ra ngoài

rõ ràng: âm thầm, lầm rầm, ngầm ngầm, tẩm ngẩm…

+ Biểu hiện ý nghĩa nhỏ, thầm kín: âm ỉ, rì rầm, thì thầm…

+ Gợi cảm giác buồn vắng, đơn côi, gợi tả một cảnh ngộ buồn tủi, lặng lẽ cam

chịu: hậm hụi, lam lũi, ngậm ngùi…

+ Biểu trưng cho trạng thái lưng chừng, nửa vời: ậm ừ, ấm ứ, dấm dớ…

Trang 30

+ Gợi ấn tượng bực bội, khó chịu, mà phải kiềm nén: ấm ức, hậm hực, tấm

tức…

* Khuôn “âp”: Biểu trưng cho trạng thái khép lại, chìm xuống, tắt đi Nó

thường kết hợp với các thành tố gốc có ý nghĩa đối lập với giá trị biểu trưng của mình, như biểu thị trạng thái mở ra, nhô lên, lóe sáng… để tạo thành các từ láy biểu thị trạng thái có hai mặt đối lập

+ Trạng thái nổi – chìm, cao – thấp: bập bênh, cập kênh, gập gềnh, khập

khiểng, nhấp nhô, tấp tểnh…

+ Trạng thái ẩn hiện: lấp ló, ngấp nghé, thập thò, thấp thoáng…

+ Trạng thái khép – mở, to – nhỏ: hấp hé, phập phồng, xập xòe, phập phùng… + Trạng thái tối – sáng, tỏ - mờ: bập bùng, lấp lánh, lập lòe, nhấp nháy, nhấp

nhoáng…

+ Trạng thái tâm lí nửa mừng nửa lo, nửa tin, nửa ngờ, nửa kín, nửa mở: khấp

khởi, thấp thỏm, bấp bênh, lấp lửng, lập lờ…

 Khuôn vần có cặp nguyên âm /e-a/

Giá trị biểu trưng của khuôn vần này do sự phối hợp giữa các ấn tượng do các nguyên âm /e-a/ tạo ra

Các từ láy khuôn vần “ê-a” thể hiện giá trị biểu trưng trong ý nghĩa kéo dài về thời gian hoặc mở rộng trong không gian: ê a, ề à, kề cà, khề khà, rề rà, lê la…

Các từ láy mang khuôn vần “ênh-ang” có giá trị biểu trưng trong sự kéo dài về thời gian ( dềnh dàng, khệnh khạng, nhênh nhang), sự mở rộng trong không gian (

kềnh càng, mênh mang, thênh thang, lênh láng), tích cách, thái độ cao ngạo ( vênh vang, nghênh ngang)

Các từ láy mang vần “uêch-oac” gây cảm giác chệch trẹo ( theo hướng mở rộng) không chuẩn xác, mất hài hòa, cân đối ( chuệch choạc, huếch hoác, nguệch

ngoạc, khuếch)

1.4.2.4 Theo Cù Đình Tú

Trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt thì ông nói rằng “ biểu

trưng ngữ âm cũng chính là biểu tượng ngữ âm” Vì vậy, khi đi tìm hiểu ý nghĩa biểu

trưng của khuôn vần chính là tìm hiểu về biểu tượng ngữ âm Và ông cho rằng: “ biểu

tượng ngữ âm không phải là nghĩa của từ, câu văn Sự biểu tượng của ngữ âm thường

là rất chung, không rõ ràng tách bạch như nghĩa của từ ngữ, của câu văn” [32;

tr.235] Do đó, theo ông biểu tượng ngữ âm được hình thành do 2 nguyên nhân sau:

Trang 31

Sự liên hội trong đầu ốc những từ ngữ có một số nét giống nhau về cơ cấu ngữ âm- ngữ nghĩa Và do đó, nghĩa biểu tượng ngữ âm có sẳn trong ngôn ngữ, mang tính chất ngôn ngữ

Lựa chọn âm thanh trong khi sử dụng, tạo ra sự phù hợp, sự thống nhất giữa hai hình thức ngữ âm và nội dung biểu đạt Nên nghĩa biểu tượng ngữ âm hình thành theo cách này thường là biểu tượng xuất hiện lâm thời trong lời nói sẽ phụ thuộc vào lời nói

Xét ở trường hợp thứ nhất ông đưa ra một số biểu tượng ngữ âm của các khuôn vần như:

* Khuôn ep: Mang biểu tượng về một sự giảm dần về chiều cao, sự thu hẹp lại:

* Khuôn -e-a: mang biểu tượng về quá trình kéo dài từ một chỗ này qua chỗ

khác, từ lúc này qua lúc khác: ê a, ề à, cà kê, lê la, bê tha, rề rà…

* Khuôn -ênh-ang: Mang biểu trưng về trạng thái quá mức bình thường Ví dụ:

kềnh càng, nghênh ngang, lênh láng, dềnh dàng, huênh hoáng, thênh thang, tuềnh toàng…

* Khuôn -o-e: Biểu trưng về quá trình cử động lặp lại khi to nhỏ, khi thế này,

khi thế khác Ví dụ: khò khè, nho nhoe, vo ve, tò tè, ọ ẹ, khọ khẹ, dọ dẹ, ngo ngoe, cò

kè…

* Khuôn -e-ay: Biểu tượng quá trình cử động đi lại, phô trương ra ngoài Ví dụ:

phe phẩy, ngoe ngoẩy, ve vẩy, nhoe nhuẩy…

* Khuôn -ơ-ân: Biểu tượng về trạng thái kém lí trí Ví dụ: vớ vẫn, đờ đẫn, thơ

thẫn…

Trang 32

* Khuôn -u-ô: Biểu tượng về trạng thái kém mức bình thường Ví dụ: ngu ngơ,

* Khuôn -ấp-ênh: Biểu tượng trạng thái không vững chắc, không cố định ở một

điểm Ví dụ: bấp bênh, bập bênh, khập khểnh, tấp tểnh…

* Khuôn -ấp-ô: Biểu tượng sự xuất hiện khi thấp khi cao Ví dụ: nhấp nhô, mấp

theo khuôn này Ví dụ: từ đơn có vần “op” mang một ý nghĩa chung là “ giảm về thể

tích” hoặc “ thu lại”

Những khuôn ngữ âm, ngữ nghĩa này không giống nhau căn bản hậu tố, tiền tố Các đơn vị từ cùng nằm trong một khuôn ngữ âm, ngữ nghĩa có quan hệ hô ứng nhau, cái nọ gợi ra cái kia bởi một nét nghĩa chung, cái kia củng cố thêm ý nghĩa mang tính gợi hình biểu cảm cho cái nọ, mối quan hệ hô ứng cứ như vậy mà tiếp diễn

1.4.2.5 Theo Lê Trung Hoa

Lê Trung Hoa trong cuốn Mẹo luật chính tả cũng có nhận xét về âm nghĩa của các từ: “ Các từ cùng một vần thường có một số nghĩa chung mà các từ cùng vần đối

lập trong nhóm không có Các từ có cùng một âm cuối cũng thường có cùng một số nghĩa chung mà các từ cùng âm cuối đối lập không có” [10; tr.74]

Do đó, khi tìm hiểu về các âm nghĩa của các từ có cùng một vần ông đã tìm

được các khuôn vần sau:

* Khuôn ai: Có hai nghĩa chung:

Trang 33

- Diễn tả một trạng thái dài hay kéo dài như: dai, dẻo dai, hoài hoài, miệt mài,

dải lụa, trể nãi, lải nhải, mãi mãi, nhẫn nại…

- Biểu thị “ giống nòi, phái tính” như: cái, mái, nái, con gái, trai, phái ( nam,

nữ), ông sãi, bà vải…

* Khuôn ay: Thường diễn tả một trạng thái quay theo một chiều, đường tròn

như: xoay, loay hoay, quay, quày, xay lúa, ngọ ngoạy…

* Khuôn ây: Có hai nghĩa chung:

- Biểu thị sự vật, trạng thái hay động tác “ từ dưới lên”: cây, dây leo, đầy dẫy,

cấy, khuấy, dấy lên, ẩy, bẩy lên, run rẩy, dậy…

- Có ý nghĩa “ chỉ định”: ấy, đấy, nấy, ( bên) nầy, vậy, vầy, ( làm) vẩy, bấy

nhiêu, bấy giờ…

* Khuôn ao: Mang bốn nghĩa chung:

- Diễn tả sự xao động: dao động, lao nhao, nôn nao, xôn xao, kêu gào, lộn

nhào, rì rào, láo nháo, mếu máo, lảo đảo, đi dạo, lục lạo, sục sạo, xào xáo, bệu bạo…

- Là từ biểu thị âm thanh: ào ào, rì rào, rào rào, lạo xạo…

- Mang ý nghĩa “ không thật, dối trá”: chiêm bao, tầm phào, nói láo, khách

sáo, tráo trở, vu cáo, hư ảo, lừa đảo, gian xảo, giả mạo, hão huyền…

- Mang ý nghĩa “ ở trên cao, nổi lên cao” hay “ làm cao”: cù lao, ngôi sao,

nghêu ngao, cái mào, xấc láo, vênh váo, đầu não, kiêu ngạo…(trừ: cái hào)

* Khuôn âm: có ý nghĩa liên quan tới “ phần bên trong” của sự vật: ngâm,

ngấm, ngầm, ngẫm, nói thầm, tính nhẫm, thấm vào, xâm nhập, trung tâm, xầm xì…

* Khuôn au: Diễn tả sự “ nhăn nhó” hay “ đau đớn”: cau mày, đau đớn, cau

có, càu nhàu, dàu dàu, đau đáu, cáu kỉnh…

* Khuôn ấp: Biểu thị hai nghĩa chung:

- Động tác mạnh, đột ngột, vội vã: khẩn cấp, gấp rút, tấp nập, tới tấp, ập vào,

đập, chập lại, rầm rập…

- Động tác che kín: lấp kín, gấp lại, vùi dập, nhập lại, nằm sấp, ẩn nấp…

* Khuôn iu: Mang hai nghĩa chung:

- Dính vào nhau: dan díu, mắc víu, tằng tịu, bấu víu, dính líu, chíu chít, nâng

niu, ngọng ngịu…

- Mức độ cao: buồn thiu, nhỏ xíu, nặng trĩu, dịu nhỉu…

* Khuôn êm: Mang hai nghĩa chung:

- Trạng thái “ êm”, “ mềm”: êm ái, êm đềm, ấm êm, mềm mại, êm, ban đêm…

Trang 34

- Giữ cho chặt lại: chêm, têm, thêm thắt, nêm, têm trầu…

* Khuôn ep: Mô tả những sự vật “ dài và giẹp” hoặc những động tác làm cho

dài và giẹp: khép nép, lép kẹp, tẹp nhẹp, nép, hẹp, cái nẹp, ép, bẹp…

* Khuôn ip và im: Cùng mang ý nghĩa “ khép lại, dính sát vào nhau”: lim dim,

díp, mủm mỉm, chúm chím, chìm, ghim, đuổi kịp, rộn rịp, nhộn nhịp…

* Khuôn oi: Có những nghĩa sau:

- Mô tả động tác, trạng thái “ lòi ra”: doi đất, lẻ loi, thòi lòi, ngòi nổ, cái vòi,

khói, trơ trọi…

- Chỉ “ động tác cửa miệng”: nói, bói, ói, gọi…

Liên hệ âm thanh: inh ỏi, ỏm tỏi, chói tai, cái còi, la lói…

* Khuôn ơi: Có nghĩa lõng lẽo, không chắc, rơi ra: lơi, nơi, hời hợt, rơi, rời,

bới, chơi vơi, ngoài khơi, xa vời, dời đi, mời, phất phới…

* Khuôn ôi: Có những nghĩa sau:

- Mô tả sự vật, động tác, trạng thái “ dư ra, nổi lên”: dôi ra, trổi lên, dồi dào,

sinh sôi, ngồi, bồi đắp, chỗi dậy, trổi dậy, nổi lên…

- Có liên hệ tới sự khó chịu, bực bội: hôi, bỉ ổi, chật chội, bức bối, nhức nhối,

nực nội, sục sôi, tức tối…

* Khuôn op: Mô tả động tác, trạng thái “ thu nhỏ thể tích lại”: cua cóp, ọp ẹp,

xóp, xọp, chóp, móp, bóp, hội họp…

* Khuôn ôp: Diễn tả âm thanh: bốp bốp, lộp bộp, ôm ốp, ộp ạp…

* Khuôn ui: có những nghĩa sau:

- Mang ý nghĩa “ tiến tới” hoặc “ thụt lùi”: chui qua, dùi lỗ, cái nhủi, xúi giục,

lầm lũi, xụi (tay)…

- Có ý nghĩa “ mòn, hư”: tàn rụi, hủi, nhãn nhụi, lau chụi

* Khuôn uôi: Có 2 nghĩa chung và một số từ chỉ nhiều nghĩa khác nhau:

- Có ý nghĩa liên hệ tới phần sau của sự việc: chuôi đao, cái đuôi, cuối cùng,

nuối tiếc, tuổi tác, xong xuôi, đuổi theo, giong ruổi…

- Chỉ sự vật, trạng thái dài hay động tác kèo dài: cả buổi, chuổi ngày, nuôi

dưỡng, tuổi tá,…

* Khuôn um: Diễn tả quá trình “ hợp lại, thu gom lại”: xanh um, chùm, đùm,

giùm, giúp, lùm cây, co dúm, cụm…

Ngoài ra, ông còn cho thấy những nhóm từ có cùng khuôn vần mà có âm cuối

là n/ ng/ nh/ t/ ch/…

Trang 35

* Khuôn ang: Có 2 nghĩa chung

- Diễn tả sự vật, trạng thái “ dài, rộng, sáng sủa”: dẻo dang, tràng giang, lênh

láng, trể tràng, hàng cây, quãng rộng, nghênh ngang, thênh thang, mênh mang, giềnh giàng, chang chang…

- Một số từ là từ tượng thanh: vang vang, oang oang…

* Khuôn in: mô tả trạng thái, động tác “ đè nén, gìn giữ”: in, vịn, vin, gìn giữ,

kín đáo, nhịn, nín, bịn rịn…

* Khuôn ênh: mô tả các sự vật, động tác, trạng thái có tính “ bấp bênh, không

vững vàng”: ghềnh thác, bấp bênh, công kênh, bập bênh, khấp khểnh…

Lê Trung Hoa cũng như nhiều nhà ngôn ngữ khác đã tìm hiểu và nhận thấy

được nhận giá trị biểu trưng của các khuôn vần trong tiếng việt Chính vì vậy, ông đã

có cơ sở để giúp người đọc và người học hiểu đúng, viết đúng chính tả trong tiếng Việt

 Nhận xét chung

Như vậy theo các nhà ngôn ngữ thì các khuôn vần mang những gía trị biểu trưng nhất định Các khuôn vần này góp phần không nhỏ cho việc biểu hiện của nó trong văn bản hoặc văn cảnh Vì vậy chúng có tác dụng không nhỏ cho việc thể hiện

đề tài, nội dung mang những giá trị thiết thực cho ngôn từ trong văn bản Từ những cơ

sở này cho chúng ta cơ sở để tìm hiểu chúng một cách khoa học hơn ở tác phẩm

Truyện Kiều của Nguyễn Du mà người viết chọn để khảo sát dưới đây

Trang 36

CHƯƠNG 2:

TÍNH BIỂU TRƯNG CỦA KHUÔN VẦN TRONG

TRUYỆN KIỀU

Ở chương 1 “Một số vấn đề chung về âm tiết và vần tiếng Việt”, người viết đã

đi tìm hiểu và thống kê những khuôn vần mang giá trị biểu trưng theo công trình

nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ như Hữu Đạt, Cù Đình Tú, Lê Trung Hoa, Đinh Trọng Lạc, Phi Tuyết Hinh… Qua việc tìm hiểu những khuôn vần mang nghĩa biểu trưng, ta có thể nhận thấy rằng khuôn vần tiếng Việt vô cùng phong phú và đa dạng, thế nhưng không phải tất cả những khuôn vần đều mang nghĩa biểu trưng Khi đi tìm

hiểu tác phẩm Truyện Kiều do Đào Duy Anh hiệu khảo và chú giải người viết ghi nhận

được có những khuôn vần không được Nguyễn Du sử dụng hoặc rất ít sử dụng và cũng

có những khuôn vần mang giá trị biểu trưng được Nguyễn Du sử dụng và được lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong tác phẩm Do đó, khi đi khảo sát giá trị biểu trưng của khuôn

vần trong Truyện Kiều người viết tập trung khảo sát những khuôn vần mang giá trị

biểu trưng cho nội dung hoặc giá trị cho tác phẩm Khi đi khảo sát tính biểu trưng của

khuôn vần trong Truyện Kiều người viết tạm thời phân chia thành: Biểu trưng của

những khuôn vần cùng nhóm và biểu trưng của khuôn vần trong các lớp từ

2.1 Biểu trưng của những khuôn vần cùng nhóm

Khi đi khảo sát người viết nhận thấy mỗi công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ khi đi tìm hiểu tính biểu trưng của khuôn vần hoàn toàn không giống nhau Mỗi nhà nghiên cứu có một cách lí giải riêng cho giá trị biểu trưng của mỗi khuôn vần, như đã khảo sát ở chương 1 Do đó, khi tìm hiểu tính biểu trưng của những khuôn vần cùng nhóm, người viết sẽ tổng hợp tất cả ý kiến của các nhà ngôn ngữ để làm toát lên giá trị biểu trưng của những khuôn vần cùng nhóm mà các nhà ngôn ngữ nhận thấy

được với những ý nghĩa biểu trưng mà trong Truyện Kiều thể hiện

 Biểu trưng của khuôn vần “a”

Nguyên âm /a/ có độ mở lớn nên khuôn vần “a” thường diễn tả trạng thái to

vang, mạnh mẽ, dài rộng Khuôn vần này đặc biệt được sử dụng nhiều nhất trong

Truyện Kiều với 215 lần sử dụng trong tổng số 3254 câu thơ, tuy nhiên không phải

trường hợp nào cũng mang nghĩa biểu trưng

Biểu hiện trạng thái to vang của âm thanh ta có từ “ tầm tã”, “ vả miệng” trong

câu:

Trang 37

“ Giọt châu tầm tã đượm chàng áo xanh:”

“ Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.”

Hay biểu hiện cường độ hoạt động: châu sa, máu sa, giục giã, lã chã, vật vã, nhỏ

sa… Trong các câu thơ như:

“Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu.”

“ Kiệu hoa giục giã tức thì,”

“ Nhìn nàng lã chã giọt hồng,”

“ Gieo mình vật vã khóc than:

Hoặc biểu thị trạng thái kéo dài trong thời gian hoặc lan tỏa của không gian: : qua,

tà tà, bóng tà, lả, nhả, đâu đã, buồn bã, xót xa, xa xa, la đà, ra sức, thướt tha, chém cha…

“ Tà tà bóng ngả về tây,”

“ Nẻo xa trông thấy, lòng càng xót xa.”

“ Hồn quê theo ngọn mây tần xa xa: “

“ Dưới đào dường có bóng cờ thướt tha.”

“ Trúc côn ra sức dập vào,”

Từ “ Tà tà”, “ xa xa” là một từ láy hoàn toàn cả âm và vần Bản thân của từ “ tà”

đã gợi lên một không gian buồn, vắng vẻ, chậm chạp cũng như bản thân của từ “ xa”

đã biểu thị sự xa cách Mà được láy lại càng làm tăng thêm âm hưởng của sự kéo dài,

lan toả

Ngoài ra, người viết còn nhận thấy khuôn vần “a” trong phó từ “ đã” được sử

dụng rất nhiều trên 166 lần chiếm khoảng 6% trong tổng số 3254 câu thơ Khuôn vần

“a” trong phó từ “ đã” được Nguyễn Du sử dụng rất linh hoạt có khi ở vị trí đầu câu,

có khi ở giữa câu, hoặc gần cuối câu:

“ Đã không biết sống là vui,”

“ Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm!”

“ Có khi gốc tử đã vừa người ôm!”

“ Đạm tiên thoắt đã thấy người ngày xưa.”

“ Nước trôi hoa rụng đã yên,”

“ Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều.”

Hoặc khắc sâu, nhấn mạnh tâm trạng, nỗi đau của Kiều ở hiện tại, qúa khứ, tương lai:

“ Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh.”

Trang 38

“ Con ong đã tỏ đường đi lối về!”

“ Thân này đã bỏ những ngày ra đi.”

Hay để phê phán hàng loạt sự áp bức bóc lột, sự lừa đảo, điêu ngoa của những kẻ tàn nhẫn, xấu xa trong xã hội phong kiến:

“ Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày.”

“ Tiền lưng đã sẳn, việc gì chẳng xong.”

“ Trong tay đã sẳn đồng tiền,”

“ Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong.”

“ Vẫn là một đứa phong tình đã quen.”

“ Đẩy song đã thấy Sở Khanh lẻn vào.”

“ Sở khanh đã rẽ dây cương lối nào,”

“ Thuốc mê đâu đã tưới vào,”

“ Khuyển, Ưng đã đắt mưu gian,”

Cho nên khuôn vần “a” trong phó từ “ đã” dù không mang tính biểu trưng cao

như những khuôn vần khác nhưng lại có sự đóng góp không nhỏ trong việc thể hiện rỏ giá trị nội dung cho tác phẩm

 Biểu trưng của khuôn vần “ôi”

Khuôn vần “ôi” là một khuôn vần được Nguyễn Du sử dụng 116 lần của 111

câu thơ trong tổng số 3254 câu thơ

Mô tả sự vật, động tác, trạng thái “ dư ra, nổi lên”: sóng giồi, bèo nổi, hoa trôi, gối

chiếc, phong lôi, nổi trận, lôi đình, dồi dào, bèo trôi… Trong những câu như:

“ Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi,”

“ Để con bèo nổi mây chìm, vì ai?”

“ Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

“ Bạc tình nổi tiếng lầu xanh,”

“ Phong lôi nổi trận bời bời,”

“ Duyên xưa đầy đặn, phúc xưa dồi dào.”

Hay miêu tả trạng thái có liên quan tới sự khó chịu, bực bội: ruột rối, xa xôi, chia

phôi, vội vàng, bồi hồi, tức tối, rồi, thôi…

“ Nỗi nhà tang tóc, nỗi mình xa xôi.”

“ Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.”

“ Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.”

“ Tai nghe ruột rối bời bời,”

Trang 39

“ Buộc yên quảng gánh vội vàng,”

“ Nửa thương nửa sợ bồi hồi chẳng xong.”

Bằng một loạt từ “ thôi”, “ nỗi” mang khuôn “ôi” được Nguyễn Du sử dụng rất

nhiều lần trong nhiều câu thơ đã diễn tả được nỗi đau thống thiết của Kiều khi đứng

trước tai biến của gia đình, sự chia lìa trong tình yêu, sự dày vò khở sở về thể xác lẫn tinh thần trong xã hội lúc bấy giờ:

“ Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng,”

“ Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài

“ Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than.”

“ Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường,”

“ Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

“ Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!”

“ Thôi thì thôi thác cho rồi,”

Qua đó người viết nhận thấy cặp từ “ thôi…rồi” thường xuất hiện chung trong một câu thơ, cùng với từ láy “ thôi thôi” cũng xuất hiện một tần số không ít đã phản

ánh được định mệnh khắc nghiệt của xã hội, của thân phận bé nhỏ Kiều đang dần bị đè

bẹp, dồn ép không chút thương xót, và nỗi đau như ngày một lan ra, tăng lên

 Biểu trưng của khuôn vần “ơ”

Theo Phi Tuyết Hinh khi đi khảo sát về khuôn vần “ơ” cho thấy có những nhóm khác nhau của khuôn vần “ơ” trong những trường hợp khác nhau mỗi khuôn

vần sẽ biểu hiện ý nghĩa hay trạng thái, tính chất, hành động khác nhau ( như đã dẫn ra

ở phần 1.4) Và từ khảo sát về khuôn vần “ơ”, ông đã nhận xét ấn tượng ngữ nghĩa

của khuôn vần “ơ” trong từ láy cũng như trong từ đơn hay từ ghép đó là “cảm nhận

được một cái gì đó buông thả, lững lơ, bất định”

Khuôn vần “ơ” là khuôn vần có nguyên âm /ơ/ là nguyên âm chiếm vị trí trung

gian trong các nguyên âm khác cả về âm lượng lẫn âm sắc Do đó, nguyên âm này có khả năng gợi ấn tượng lưng chừng, nửa vời, không tiếp cận Khi đi khảo sát khuôn vần

“ơ” trong Truyện Kiều ta thấy khuôn vần này chiếm tỉ lệ rất cao 72 lần của 68 câu

/3254 câu thơ

khuôn vần “ơ” trong Truyện Kiều thành các nhóm sau:

Trang 40

Nhóm biểu hiện trạng thái không hoà nhập, chưa thích ứng có thể liệt kê ở một số

từ như sau: thẩn thờ, ngẩn ngơ, bơ vơ, lơ thơ, mơ màng, trơ trơ, nằm trơ, trơ, lỡ làng,

“ Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu.”

“ Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.”

Chỉ với từ “ Thẩn thờ”, “ bơ vơ”, “ trơ trơ”, “ ngẩn ngơ”, đã diễn tả được

trạng thái không hòa nhập của con người với cuộc sống Nó mang tâm trạng bất định của con người cứ thả hồn vào đâu đó Đồng thời cũng bộc lộ tâm trạng đau nhói buốt giá của Kiều khi chứng kiến bạn tri kỷ ra đi

Khuôn “ơ” không những được Nguyễn Du sử dụng để miêu tả tâm trạng không

hòa nhập, chưa thích ứng của con người mà còn được gởi cả vào thiên nhiên vũ trụ như một nỗi niềm tâm sự:

“ Dấu xe ngựa, đã rêu lờ mờ xanh,”

Hay :

“ Hoa trôi dạt thắm liễu xơ xác vàng.”

“ Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.”

Từ láy “ lờ mờ”, “ xơ xác”, “ ngơ ngác” mà giá trị biểu trưng của khuôn “ơ”

mang lại làm nổi bật lên sự tiêu điều, hoang phế của thiên nhiên cảnh vật Đồng thời,

khuôn “ơ” gợi lên sự vật chịu sự tác động của thiên nhiên làm cho nó nghiêng ngã,

yếu ớt

Ngoài ra khuôn “ơ” còn mang giá trị biểu trưng cho trạng thái mở, buông thả,

thông thoáng làm cho sự vật không bị ràng buộc và kết dính vào nhau: hững hờ , sa

cơ, thở than, hở môi, vỡ lở, thờ ơ…

“ Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu!”

“ Thờ ơ gió trúc mưa mai,”

“ Nỗi oan vỡ lở xa gần,”

Và nhóm khuôn vần biểu hiện trạng thái nửa vời, lở dở, không xác định: dở, dở

chiều, dở dang, bao giờ, ngờ, nào ngờ, vật vờ

“ Vì ta khăng khít cho người dở dang.”

Ngày đăng: 16/12/2015, 08:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đại Bằng, Khuôn vần tiếng Việt và sự sáng tạo từ, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuôn v"ầ"n ti"ế"ng Vi"ệ"t và s"ự" sáng t"ạ"o t
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
2. Hà Như Chi, Việt Nam thi văn giảng luận, NXB Văn hóa thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi"ệ"t Nam thi v"ă"n gi"ả"ng lu"ậ"n
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
3. Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiêu – Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ơ" s"ở" ngôn ng"ữ" h"ọ"c
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Phong cách học tiếng Việt, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách h"ọ"c ti"ế"ng Vi"ệ"t
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
5. Ngô Viết Dinh ( Tuyển chọn và biên tập), Những chân dung Truyện Kiều, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh"ữ"ng chân dung Truy"ệ"n Ki"ề"u
Nhà XB: NXB Thanh niên
6. Hữu Đạt – Trần Giỏi – Đào Thanh Lan, Cơ sở tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ơ" s"ở" ti"ế"ng Vi"ệ"t
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Nguyễn Thiện Giáp, Cơ sở ngôn ngữ học, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ơ" s"ở" ngôn ng"ữ" h"ọ"c
8. Hoàng Văn Hành, Từ láy trong tiếng Việt, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ" láy trong ti"ế"ng Vi"ệ"t
9. Hoàng Hinh, Từ điển kí hiệu học, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ đ"i"ể"n kí hi"ệ"u h"ọ"c
Nhà XB: NXB Trẻ
10. Lê Trung Hoa, Mẹo luật chính tả, NXB Trẻ, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ẹ"o lu"ậ"t chính t
Nhà XB: NXB Trẻ
11. Nguyễn Quang Hồng, Âm tiết và loại hình ngôn ngữ, NXB Quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm ti"ế"t và lo"ạ"i hình ngôn ng
Nhà XB: NXB Quốc gia Hà Nội
12. Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Ngữ học trẻ - 2007, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng"ữ" h"ọ"c tr"ẻ" - 2007
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Hoài Hương, Truyện Kiều những lời bình, NXB Văn hóa thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truy"ệ"n Ki"ề"u nh"ữ"ng l"ờ"i bình
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
14. Trần Ngọc Hưởng, Luận đề về Nguyễn Du và Truyện Kiều, NXB Văn nghệ, TP. HCM, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lu"ậ"n "đề" v"ề" Nguy"ễ"n Du và Truy"ệ"n Ki"ề"u
Nhà XB: NXB Văn nghệ
15. Đinh Trọng Lạc, 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 ph"ươ"ng ti"ệ"n và bi"ệ"n pháp tu t"ừ" ti"ế"ng Vi"ệ"t
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Nguyễn Lai, Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn họ, NXB Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ng"ữ" v"ớ"i sáng t"ạ"o và ti"ế"p nh"ậ"n v"ă"n h
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ tiếng Việt, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ đ"i"ể"n t"ừ" và ng"ữ" ti"ế"ng Vi"ệ"t
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh
18. Nguyễn Thị Thanh Lâm, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX, Đại Học Cần Thơ, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n h"ọ"c Vi"ệ"t Nam n"ử"a cu"ố"i th"ế" k"ỉ" XVIII, n"ử"a "đầ"u th"ế" k"ỉ" XIX
19. Hồ Lê, Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, NXB Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ấ"n "đề" c"ấ"u t"ạ"o t"ừ" ti"ế"ng Vi"ệ"t hi"ệ"n "đạ"i
Nhà XB: NXB Hà Nội
20. Nguyễn Lộc, Giáo trình văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, NXB Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình v"ă"n h"ọ"c Vi"ệ"t Nam giai "đ"o"ạ"n n"ử"a cu"ố"i th"ế" k"ỷ" XVIII "đế"n n"ử"a "đầ"u th"ế" k"ỷ" XIX
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w