Vì vậy, người viết chỉ có thể khảo sát những công trình có liên quan về Nguyễn Công Hoan cũng như mãng truyện ngắn của ông trước Cách Mạng tháng 8- 1945 như: Năm 1932, Trúc Hà với bài vi
Trang 21.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8-1945
1.2 Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn của ông trước Cách Mạng Tháng 8- 1945
CHƯƠNG 2: CHẤT UMUA TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN
CÔNG HOAN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8- 1945
2.1 Giới thuyết chất umua
2.2 Cảm hứng Umua thể hiện qua cái nhìn về hiện thực của Nguyễn Công Hoan 2.3 Đối tượng của umua trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
2.3.1 Quan lại và bọn thực dân
2.3.2 Những con người học đòi, hãnh tiến
2.3.3 Những người có tiền của
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT UMUA TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN CÔNG HOAN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8-
Trang 33.1.3 Tình huống gây cười
3.1.4 Chi tiết gây cười và cách tạo dựng chi tiết gây cười
3.2 Ý nghĩa của nghệ thuật umua trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Nguyễn Công Hoan- một cây bút kỳ cựu trong nền văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 Hơn nửa thế kỉ cầm bút bằng tài năng vốn có và tâm huyết trong nghề, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ với đầy đủ thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện dài…nhưng thể loại thành công nhất của ông
là truyện ngắn Hầu hết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan mang đậm chất chất châm biếm, đả kích với giọng điệu hài hước, hóm hỉnh Đây là một trong những yếu tố quan trọng đánh giá cao tài năng viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Xuất phát từ việc thấy được tài năng, những đóng góp lớn lao của nhà văn Nguyễn Công Hoan đối với nền văn học nước nhà và mục đích muốn tìm hiểu sâu hơn những
“Umua”-đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan người viết đã chọn đề tài “Chất Umua
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” để tìm hiểu và nghiên cứu
Khi thực hiện nghiên cứu đề tài này, người viết sẽ có điều kiện hiểu sâu hơn những nét đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Đồng thời cũng muốn góp một chút tâm huyết của mình vào việc khai thác chất umua trong các tác phẩm văn học nói chung, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng 8- 1945
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Công Hoan cũng như tác phẩm của ông Tuy nhiên, nghiên cứu về “ chất umua” trong truyện ngắn của ông thì chưa có nhà nghiên cứu nào đề cập đến Vì vậy, người viết chỉ có thể khảo sát những công trình có liên quan về Nguyễn Công Hoan cũng như mãng truyện ngắn của ông trước Cách Mạng tháng 8- 1945 như:
Năm 1932, Trúc Hà với bài viết: “Một cây bút mới-Nguyễn Công Hoan”, tác giả nhận xét: “ Văn ông có cái hay, cái rõ ràng, sáng sủa, thiết thực, hơi văn nhanh gọn Lời
văn hàm một giọng trào phúng lại thường hay đệm vào một vài câu hoặc một vài chữ
có ý khôi hài, bông lơn, thú vị” [30;tr.18]
Trang 5Trong “Tiểu thuyết thứ 7” số 62, tháng Tám năm 1935 Hải Triều có bài viết: “Kép Tư
Bền-một tác phẩm thuộc về cái triều lưu nghệ thuật vị nhân sinh ở nước ta” Trong bài
viết này, tác giả đã bày tỏ quan điểm của mình một cách thẳng thắn có khi khen, chê rõ
ràng nhưng cuối cùng đã khẳng định: “ Xem văn của “Kép Tư Bền” chúng ta nhận
thấy rõ ràng tác giả đứng về mặt tả thực chủ nghĩa, với những câu rất thành thực, chắc chắn, dí dỏm, ngộ nghĩnh, nhiều khi cọc cằn, thô bỉ…” [26;tr.406]
Năm 1961, Phan Cự Đệ trong bài nghiên cứu “Nguyễn Công Hoan” đưa ra nhận định:
“Trong kho tàng truyện ngắn của dân tộc, Nguyễn Công Hoan đã có đóng góp một khối lượng lớn và có một nghệ thuật khá điêu luyện Đi vào thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, ta có cảm tưởng như bước vào một khu triển lãm phong phú nhiều về những cảnh ngộ, những con người đang múa may, khóc cười trong xã hội cũ” [6;tr.164] Đồng thời, Phan Cự Đệ còn nhận định thêm: “Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có cốt truyện quan trọng hơn nhân vật Tiếng cười châm biếm thường đến bất ngờ trong phần kết thúc của câu chuyện” [6;tr.165] Những nhận định trên của tác
giả phần nào giúp người đọc hiểu thêm về đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Năm 1973, với bài viết “Nguyễn Công hoan và những truyện ngắn của ông”, Vũ Ngọc
Phan viết: “Truyện ngắn viết rất khó, Nguyễn Công Hoan đã đạt đến kỹ thuật cao
trong sự miêu tả hiện thực đồng thời có nhiều truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan toàn là truyện khôi hài, mang tính chất phóng đại, cường điệu với những yếu tố bất ngờ” [30;tr.28] Trong bài viết này tác giả đánh giá cao nghệ thuật trào phúng của
Nguyễn Công Hoan
Khi nói đến truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Vũ Ngọc Phan còn đưa ra nhận
định: “Đó là tính chất trào lộng không nhiều thì ít trong hầu hết các truyện của anh” Bài nghiên cứu “Nguyễn Công Hoan” của tác giả Trần Đăng Suyền có nhận định: “khi
khắc họa nhân vật, Nguyễn Công Hoan cũng như nhiều cây bút truyện ngắn trào phúng khác thường thiên về ngoại hình, ít tả nội tâm” [6;tr.250] Đặc biệt tác giả còn
nhận định thêm: “Đây cũng là nơi thể hiện sự hóm hỉnh và cái duyên của cây bút
truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan” [6;tr.25]
Tác giả Như Phong trong bài viết “Một nhà văn xuất sắc của dòng văn học hiện thực
phê phán” in trong báo “Nhân Dân” số 6008, chủ Nhật, ngày 25 tháng 03 năm 1973
đã khẳng định Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiện thực xuất sắc trong giai đoạn
1930-1945: “Nguyễn Công Hoan đã dùng ngòi bút của mình vạch tất cả những sự thật ấy
Trang 6ra, những sự thật đen tối của một chế độ xã hội tàn nhẫn và mục nát đến xương tủy những sự thật mà nhiều người có thể biết nhưng chưa nhận thức hết cái tính chất vô đạo, bất nhân của nó” [30;tr.16] Còn về nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan thì Như Phong có nhận định: “Anh thiên về lối kể chuyện hài hước và trào
phúng, do vậy ngòi bút phê phán và tố cáo của anh lại càng lợi hại hơn Cái cười mỉa mai, khinh bỉ có sức công phá mạnh hơn là lời kêu ca, than vãn, đánh mạnh vào cái chế độ độc ác nhưng lại mơn trớn, đểu cáng, giả đạo đức” [30; tr.16]
Bài nghiên cứu về tác giả Nguyễn Công Hoan của tác giả Nguyễn Hoành Khung đã điểm qua những nét tiêu biểu truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Đặc biệt khi bàn
đến chất trào phúng, Nguyễn Hoành Khung có nhận xét: “Sự nhạy bén đặc biệt trước
những mâu thuẫn trào phúng trong đời sống xã hội là đặc điểm quan trọng nhất trong
tư duy nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan” [30; tr.30]
Năm 1976, nhà nghiên cứu văn học Tiệp Khắc J’an Mucka đã đọc tham luận “truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn Sêkhôp tại hội nghị quốc tế về văn học so
sánh ở Budeipét có đoạn viết: “Trong những năm ba mươi của thế kỷ này, Nguyễn
Công Hoan đã đưa vào văn học Việt Nam một cách không theo truyền thống, một thể loại truyện ngắn mang tính xã hội mạnh mẽ, truyện ngắn châm biếm” [30; tr.194]
Năm 1977, Lê Thị Đức Hạnh nhận định về văn Nguyễn Công Hoan qua bài viết “Kỹ
thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan”, tác giả đề cao bút pháp tu từ trào
phúng của Nguyễn Công Hoan: “Ông là nhà văn đầu tiên đạt đến trình độ viết truyện
ngắn khá điêu luyện và một trong những đặc điểm thành công nhất của ông trong nghệ thuật viết văn lại là nghệ thuật trào phúng” [30;tr.208]
Trong bài nghiên cứu về “Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan” tác giả lại nhận định thêm “Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan được biểu hiện ở nhiều mặt: từ cách lặp ý, xây dựng tính cách, tìm chi tiết, đến lời văn, ngôn ngữ, tên truyện rồi kết truyện…Ta thấy nhiều truyện của ông đậm chất trào phúng chủ yếu là do tác giả đã tổng hợp được nhiều cách rất tự nhiên trong thủ pháp gây cười [30; tr.240]
Ngoài ra, nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh còn nhận xét: “Do bản tính hay hài hước,
thường nhìn cuộc đời dưới khía cạnh khôi hài, trào phúng nên dễ dàng có ngay một góc độ để lia ống kính chiếu thẳng vào những cái đáng cười, đáng giễu” [6; tr.387]
Trang 7Trong tạp chí văn học, số 06, 1993 Phong Lê với bài viết “Nguyễn Công Hoan một đời
văn lực lưỡng” và được in lại trong quyển “Nguyễn Công Hoan- về tác gia và tác phẩm” có nhận định: “Nghĩ về Nguyễn Công Hoan, tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bậc cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm nhưng rồi sau đó là một vị chua chát, có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta” Đồng thời, Phong Lê còn
viết: “Truyện ngắn-đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu
của ông” hay “hơn thế, đó lại là cái trào phúng xem ra không chỉ một mà nhiều cung bậc, mọi cung bậc không phải tất cả đều thuận tai; nhưng khi một nhà văn được viết hòn nhiên theo thiên tính của mình, thì cái hồn nhiên ấy mới làm phát lộ ra biết bao tài hoa khiến cho ta kinh ngạc [6; tr.222]
Ngoài ra, năm 2007 trong “Nguyễn Công Hoan-về tác gia và tác phẩm” có bài viết
“Kịch hóa trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” tác giả Nguyễn Thanh Tú
có nhận định: “Truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan, theo quan niệm của
chúng tôi, đã xuất hiện cái cười mới, cao hơn, sâu sắc hơn cái cười thông thường Cái cười của ông chỉa vào từng sự tha hóa trong xã hội, qua đó mà tầm phổ quát của nó là
tố cáo trạng thái tha hóa của toàn xã hội Ngoài nhu cầu mỉa mai, đả kích, trong truyện ngắn của ông còn có cả nhu cầu biểu hiện thái độ, tình cảm…”[6; tr.410]
Trong “Nguyễn Công Hoan-về tác gia và tác phẩm” còn có bài viết “Chất trí tuệ của
tiếng cười và óc châm chọc tinh quái của Nguyễn Công Hoan” tác giả Trần Đình Hiếu
có viết “Đọc truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan, ta thấy chất muối hài hước
dường như đã hòa tan trong “món ăn chế biến và nấu giỏi” Tuy nhiên, nếu tinh ý vẫn
có thể nhận ra “máu” châm chọc và óc tinh quái của nhà trào phúng” [6;tr 426]
Điểm qua một số ý kiến của nhà nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan người viết nhận thấy mỗi tác giả có một nhận xét riêng của mình trong việc nhận định và đánh giá về truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Hầu hết các tác giả đều thừa nhận Nguyễn Công Hoan là người khai mở và phát triển một thể loại truyện hiện đại, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng, ông đã làm được những điều mà ít người làm được, thậm chí chưa ai làm được Đồng thời, ghi nhận những đóng góp to lớn của Nguyễn Công Hoan trong nền văn học hiện thực 1930-1945 Những công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Công Hoan và tác phẩm của ông mang giá trị là tài liệu tham
Trang 8khảo đặc biệt, gợi mở để người viết thực hiện tốt đề tài “Chất Umua trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan”
3 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài “Chất Umua trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, người viết bàn về biểu hiện, đối tượng và giá trị của chất umua trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Từ đó cho thấy được sự tài hoa của ông trong việc vận dụng các phương tiện phục vụ cho mục đích châm biếm, đả kích của mình Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này người viết sẽ có điều kiện học hỏi, tích lũy thêm kiến thức về tác giả Nguyễn Công Hoan cũng như những nét đặc sắc trong sáng tác của ông Đặc biệt khi đề tài hoàn thành sẽ góp vào kho tài liệu về Nguyễn Công Hoan thêm một bình diện khác để phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy và học tập của người viết sau này
4 Phạm vi nghiên cứu:
Đối với đề tài này, người viết đi sâu tìm hiểu một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Đồng thời, người viết sẽ tham khảo thêm một số tài liệu có liên quan để làm nổi bật thêm vấn đề mình nghiên cứu Cụ thể là các sách phê bình nghiên cứu về nhà văn cũng như những sáng tác của ông
Thực hiện đề tài “Chất Umua trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” thì phạm
vi giới hạn người viết đi vào nghiên cứu là nghệ thuật châm biếm, đả kích, hài hước, trào phúng…với nhiều cung bậc để làm rõ cái chất “Umua” ấy
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trước hết người viết đọc một số tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, các bài phê bình và lí luận văn học Sau đó, tập hợp và thống kê các dẫn chứng, ý kiến
có liên quan đến đề tài
Người viết vận dụng thao tác phân tích, so sánh, chứng minh, bình luận để làm sáng tỏ vấn đề mà đề tài đặt ra
Trang 9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
THỰC TRẠNG XÃ HỘI THUỘC ĐỊA NỬA PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945
1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam trước Cách Mạng tháng 8-1945
Từ thế kỷ XVI giai cấp phong kiến không còn giữ vai trò tích cực trong lịch sử nữa nhưng nó cũng chẳng thay thế được bằng một chế độ tiến bộ hơn Xã hội Việt Nam phải trì trệ mãi trong vũng lầy phong kiến Cũng như một số nước phương Đông, giai cấp phong kiến ở Việt Nam không có khả năng chủ trương tiếp thu khoa học-kỹ thuật của chủ nghĩa Tư Bản mặc dù đó là chỗ ưu thắng của phương Tây, mà chỉ một mực đóng cửa nước nhà không thèm cho bọn “mọi rợ” ấy giao thiệp cho đến khi chúng dùng vũ lực cướp nước thì quay lại đầu hàng và làm tay sai cho chúng Vào giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lược và đặt nền cai trị lên nước ta, từ đó nước ta trở thành nước thuộc đia-nửa phong kiến.Thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, chúng bóp nghẹt tự do dân chủ, dìm dân tộc ta vào biển máu Những cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 chưa dứt thì xảy ra cuộc khủng hoảng mới 1935-1937 Hậu quả chiến tranh đế quốc vẫn còn, lại tiếp đến cuộc đại chiến thứ 2 năm 1939-1945 với quy mô rộng lớn Con người và xã hội Việt Nam bị thực dân Pháp
ra sức đàn áp, bóc lột nặng nề: tăng sưu, thuế, bắt phu, bắt lính, lạm phát…Ở nông thôn dân cày bị đày đọa bằng mọi thứ tai trời ,ách đất: lụt lội, hạn hán ,tô cao, tức nặng, thực dân địa chủ cướp ruộng, quan lại cường hào nhũng nhiễu…Cảnh đói khát,bán vợ đợ con, tha phương cầu thực diễn ra thê thảm Ở thành thị, công nhân viên chức bị sa thải, dân nghèo bị phá sản hợp với những người nông dân không sống nỗi với quê hương kéo ra thành thị, tạo thành một đội quân thất nghiệp, sống cầu bơ cầu bất tìm đến những “chợ bán người” và dẽ dàng sa vào con đường lưu manh trụy lạc để kiếm ăn Xã hội Việt Nam hiện lên như một bức tranh xám xịt, nham nhở, phơi bày mọi cảnh đời đồi bại và lố lăng Nếu ở giai đoạn trước nhân dân phải kham khổ dưới
Trang 10sự thống trị của giai cấp phong kiến thì đến giai đoạn này nỗi khổ ấy càng tăng lên gấp bội
Giai cấp phong kiến tồn tại hơn ngàn năm cho đến khi thực dân Pháp xâm lược thì nó vẫn được duy trì để làm cơ sở thượng tầng cho sự thống trị của thực dân Pháp Trước cảnh “một cổ hai tròng” cuộc sống con người Việt Nam lâm vào đường cùng không lối thoát Phát triển trong hoàn cảnh một nước thuộc địa-nửa phong kiến, văn học Việt Nam thời kỳ này là cột mốc rất quan trọng trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử văn học nói riêng Cuộc sống và con người Việt Nam được phản ánh vào trong văn học hay nói đúng hơn cuộc sống và con người Việt Nam đã in mình trên văn học Hiện thực cuộc sống nhức nhối, tủi nhục, quẩn quanh trong vòng vây của thực dân phong kiến, của xã hội mà quyền lực và đồng tiền có thể chà đạp lên đạo đức, nhân cách, tình cảm của con người Xã hội chuyển từ hình thái phong kiến sang hình thái thực dân nửa phong kiến, văn học nảy sinh trong tình hình đó không hề đơn giản Trong đấu tranh giai cấp, thời giai cấp phong kiến còn tiến bộ kết hợp chặt chẽ với nhân dân, văn học dân gian, văn học viết đều phát triển mạnh mẽ Văn học tuy nhằm phục vụ giai cấp thống trị nhưng đồng thời có tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc, khi giai cấp phong kiến trở thành tiêu cực phản động, nhân dân vùng lên chống lại thì văn học tuy có gặp trở ngại nhất định nhưng vẫn tiến lên phát triển vượt bậc , có khi làm nhiệm vụ bảo vệ chế độ phong kiến, có khi là vũ khí đánh trả bọn phong kiến tàn ác đồng thời cũng là tiếng cười vui vẻ tiễn đưa chế độ phong kiến đến mồ chôn của nó Văn học giai đoạn này tập trung vào việc phơi bày thực trạng bất công, thối nát của xã hội đương thời, đi sâu phản ánh tình cảnh khốn khổ của tầng lớp nhân dân bị áp bức bóc lột với thái độ cảm thông sâu sắc Hầu hết những nhà văn đều mang một thái
độ phẫn uất, đau thương cho dân tộc khi hằng ngày phải chứng kiến tội ác, những thói đời vô thường, vô luân do thực dân phong kiến đem lại, không ít người sẵn sàng ném thẳng nỗi căm hờn, phẫn uất ấy qua từng trang viết với từng thái độ khác nhau Tuy nhiên, họ có chung một bước đi, cùng chĩa mũi nhọn vào cái xã hội với biết bao xấu
xa, tàn nhẫn, rởm hợm cùng những điều thương tâm, ai oán Ta cần phải nhận thấy rằng, trước đó nền văn học nước nhà đã xuất hiện một số tác gia có tư tưởng tiến bộ,
có lối sống tránh xa thị phi, khinh miệt lẽ sống tầm thường, lạc lõng ấy từ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ đến Hồ Biểu Chánh…
Trang 11Xã hội Việt Nam những năm đầu dưới ách thống trị của thực dân phong kiến được khắc họa rõ nét qua từng trang văn Thời đại mất nước, dân tộc bị chà đạp, là một người yêu quê hương, tận mắt chứng kiến những nền móng đạo đức đang suy tàn, Nguyễn Khuyến không thể không kêu lên một tiếng “đau thương”, ông sáng tạo ra thứ văn thơ trào phúng, sâu cay, đả kích vào cuộc đời đồi bại và lố bịch lúc bấy giờ:
“Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo, vai nhọ khác chi thằng hề”
(Lời vợ anh phường chèo)
Những bọn quan lại theo Tây rởm hợm cũng bị ông miệt khinh, đấu đá:
“Ghế tréo, lộng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi”
(Vịnh tiến sĩ giấy)
Ở thơ văn Trần Tế Xương ta cũng thấy cảnh những kẻ mua quyền, mua tước, học hành không đỗ đạt mà dùng tiền mua danh phận, địa vị:
“Ông ở khoa nào, ở xứ nào
Thế mà hoa, hốt với trâm, bào?
(Tiến sĩ giấy)
Hay:
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Đứa thì mua tước, đứa mua quan”
(Năm mới chúc nhau)
Trong xã hội đó, những con người từng được kính trọng thì giờ đây họ bị tha hóa đến
độ không còn liêm sỉ:
“Yêu thầy cũng muốn cho thầy dạy
Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây”
(Thầy đồ ve gái góa-Nguyễn Khuyến)
“Có một cô gái nuôi một ông đồ
Quần áo rách rưới, ăn mặc xô bồ”
(Thầy đồ dạy học-Trần Tế Xương)
Hình ảnh những người nông dân “dải nắng dầm mưa”, quanh năm suốt tháng “bán mặt cho đất, “bán lưng cho trời” nhưng đến khi thu hoạch xong thì cũng là lúc nợ nần, sưu, thuế bủa vây:
Trang 12“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ
Nửa công đứa ở nửa thuê bò”
(Chốn quê-Nguyễn Khuyến)
Chúng ta sẽ không thể quên hình ảnh chị Dậu trong tác phẩm “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố phải bán con ,bán chó đóng suất sưu hết sức vô lý cho người đã chết Dường như trong thời kì này những người càng lao động cực khổ thì cuộc sống càng bấp bênh, khốn cùng Một xã hội mà khi đó con người phải “vào chỗ chết để giữ lấy
sự sống” (Lầm than-Lan Khai), có người bị đói mà chết nhưng cũng có người vì quá
no mà chết “Một Bữa No” của Nam Cao, nói là no nhưng là một cái no biến dạng thê
thảm của cái đói vì no và chết trong đói khổ và tủi nhục…còn nhiều nữa số phận những người nông dân lương thiện bị vùi dập tả tơi dưới gọng kìm của bọn thực dân- phong kiến Thời kỳ ấy không phải chỉ có tiếng trống thúc thuế, dồn sưu, bắt phu ,bắt lính …đe dọa đời sống nhân dân lao động mà xã hội đó còn là một địa ngục, khắp nơi nạn đói hoành hành, bọn đầu trâu mặt ngựa tác oai tác quái người chết hàng loạt, người sống nhiều khi cũng không khác gì “hồn ma bóng quỷ” Những vấn đề trong xã hội đang chuyển động ngỗn ngang với những bất công và đói khổ Những con người sống và tồn tại trên mảnh đất màu mỡ, đồng bãi phù sa nhưng vẫn không có cái ăn cái mặc
“Quan được tăng lương dân cũng tăng
Tăng sưu, tăng thuế đến nhăn răng
Còn manh khố rách càng thêm rách
Đời sống lầm than ai thấu chăng?”
(Tú Mỡ)
Trong tác phẩm “Nhà Mẹ Lê” của Thạch Lam cũng phần nào nêu lên cái hiện
thực chua chát ấy- cái chết của người mẹ vì quẫn bách trong ngày giáp hạt, phải đi vay gạo bị bọn nhà giàu xua chó cắn Chung kết câu chuyện mở ra cái chết ngầm và chết thật ấy có thể đến chậm hơn, dai dẳng hơn
“Năm nay đành vậy, mong năm sau
Khốn nỗi năm nào cũng giống nhau
Thiếu áo thiếu cơm gì cũng thiếu
Vẫn tro đầy mặ , bụi đầy đầu”
(Thế Nhu)
Trang 13Cuộc sống của con người được phản ánh trong “Bỉ vỏ” của Nguyên Hồng là
những con người nghèo khổ cũng là nạn nhân bị chế độ xã hội xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi Rõ ràng xã hội Việt Nam ở giai đoạn này nhiều điều mắt thấy tai nghe thì càng làm cho con người ta thêm phẩn uất Nhìn về phía “thượng lưu” không ít tác phẩm đã miêu tả, lên án những tên Nghị gật, những tên trí thức mất gốc, những tên quan luồn trên nạt dưới ,những tên lý trưởng tìm mọi cách để ăn tiền của dân…Tất cả bọn chúng là loại người gian xảo và sát nhân được dung túng làm bậy, xa xỉ, dâm ô Chúng ở những tòa lâu đài đồ sộ ,tắm nước suối Vi-ten nhà lúc nào cũng có hàng chục
nàng hầu để khi nào “ngứa mồm thì hôn một cái, ngứa tay thì cấu véo một cái” (Giông
tố) hay có cả chuyện một tên chủ nhà xua chó cắn chết đứa bé ,con người vú ở cho nhà
nó vì chồng chị dám đem con đến bú trộm sữa mẹ…thật quá khủng khiếp khi cùng là con người với nhau mà đối xử với nhau tàn nhẫn như thế!
Trong xã hội này đồng tiền cũng chiếm một vị trí chúa tể “bây giờ à? Chỉ có
đông tiền là giời là phật, chí có đông tiền là đáng kính thờ vì nó sai khiến được mọi người, ai ai cũng phải thờ nó mới được” (Vũ Trọng Phụng- Không Một Tiếng Vang).Ở
đây đồng tiền có khả năng mua được mọi thứ, người này dùng đồng tiền để chà đạp lên người kia, chà đạp lên cả luân thường đạo lý
Mối quan hệ gắn bó thiêng liêng trong gia đình diễn ra trước mắt như một tấn tuồng,
vợ chồng sống với nhau bằng sự lọc lừa, dối trá:
“Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ
Ông chồng thương tiếc cái xe tay”
(Mồng hai Tết viếng cô Ký-Trần Tế Xương)
Con cái thì chửi bới, coi thường bậc sinh thành:
“Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”
(Đất Vĩ Hoàng-Trần Tế Xương)
Những giá trị văn hóa, giá trị đạo đức đã sụp đổ hoàn toàn những tầng lớp
“thượng lưu”thì mất hết tình nghĩa thiêng liêng cao cả của con người: tình cha con, anh em, vợ chồng…Con người đã mất hết mọi ý thức về nhân cách và liêm sỉ Làm chồng có thể vì tiền bạc, địa vị mà để vợ ngủ với kẻ khác không chút đắn đo, ái ngại Làm con thì vác gậy đánh bố vì ông không quẳng tiền cho nó đi chơi hay hăng hái nhét phân vào mồm mẹ nó vì người mẹ đã dám ngang nhiên nhổ vào mặt tình nhân yêu quý
Trang 14của nó những câu: đồ đĩ, chém cha đồ đĩ! Ngay đến sự chết của bậc sinh thành cũng là
cơ hội để những đứa con có dịp khoe phẩm hàm, chức vị và lấy tiếng báo hiếu để khoe
giàu, khoe sang… (Một chuỗi cười-Đỗ Phồn)
Có lẽ do phải chứng kiến sự đổi thay dâu bể làm cho mọi giá trị, truyền thống tốt
đẹp của dân tộc bị đảo lộn nên các nhà văn nhà thơ thời đó càng thêm phẩn uất, xót xa
Đồng tiền và quyền lực trong giai đoạn này đã lật ngược trắng- đen, thật- giả Một số
đông người phải bán thân nuôi miệng, những đứa bé khốn khổ phải “chịu đấm- ăn
xôi” Trái ngược với những cảnh đời cùng đinh ấy là những kẻ thuộc giai cấp thượng
lưu, quan lại sẵn sàng mua vui trên sự đau khổ của người nghèo khó Quan lại giờ đây
chỉ đóng vai trò là tay sai đắc lực cho bọn thực dân Pháp, chúng tìm mọi cách đục
khoét, bòn tiền xương máu của đồng bào để sống xa hoa, sung sướng Quan thì ăn của
đút, địa chủ thì cho vay nặng lãi để cướp đất, cướp nhà Bọn chúng có quyền biến một
người lương thiện thành một tên tù tội , nhân cách ,sinh mạng của con người được bọn
chúng mua và đánh đổi bằng “tiền”
“Ví khiến trong tay tiền bạc có
Nói “dơi” nói “chuột” chán người khen”
(Vì tiền-Trần Tế Xương)
Hay:
“Chữ “thôi” chữ “cứu” không phê đến
Ông chỉ quen phê một chữ tiền”
(Bỡn Tri phủ Xuân Trường-Trần Tế Xương)
Ở xã hội đó, con gái, đàn bà đua nhau “lấy chồng Tây”, lấy kẻ đã giày xéo quê cha, đất
tổ mà không biết thẹn:
“Con gái đời này, gái mới ngoan
Quyết lòng ẩu chiến với Tây quan
Ba vuông phất phới cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xoắn ngang”
(Lấy Tây- Nguyễn Khuyến)
Nhưng cũng có nhiều thân phận phụ nữ bị hiếp đáp, chà đạp không thương tiếc
vẫn không dám “kêu” Trong cảnh nước mất, nhà tan kẻ giàu có, quyền lực là bọn gây
ra tội ác, gây ra những chuyện xấu xa nhơ nhuốc, những con người càng thấp cổ bé
họng ,càng hiền lành nhẫn nhục thì càng bị áp bức một cách tàn nhẫn, phủ phàng…
Trang 15Văn học trãi dài cùng lịch sử, đưa văn chương vào quỹ đạo các vấn đề xã hội, trong đó nổi lên cực kì gay gắt vấn đề áp bức và bóc lột ,vấn đề quyền sống,quyền tự do và công bằng dân chủ là cần thiết Nhìn thẳng vào thực tại để thấy cái đen tối, ảm đạm là điều đúng đắn bởi dù có bất công như thế nào thì con người vẫn phải sống, vẫn phải vươn lên Trong xã hội phong kiến và xã hội thực dân phong kiến nhiều nhà văn, đã lên tiếng tố cáo phê phán các thế lực chuyên quyền, bày tỏ lòng cảm thông với người dân bị áp bức Hiện thực cuộc sống của nhân dân nhức nhối, tủi nhục, bộn bề cùng
tiếng thúc sưu, thúc thuế trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố; nỗi bế tắc, quẩn quanh
trong vòng vây của cái nghèo, của phong kiến và xã hội đồng tiền qua giọng điệu triết luận sắc nhọn của Nam Cao Ở một số truyện viết về người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã hủy diệt cả nhân tính của những con người vốn có bản tính lương thiện, hiền lành Bao cảnh tham tàn, độc ác, thối bẩn ,lố bịch của tầng lớp tư sản liên kết với thực dân và bao nỗi khốn đốn, đồi trụy dưới ngòi
bút sắc sảo của Vũ Trong Phụng…Qua tác phẩm “Số đỏ” Vũ Trọng Phụng đã xây
dựng nên Xuân tóc đỏ, một nhân vật thực sự đốn mạt thích hợp với bản chất đốn mạt của xã hội đương thời Văn học ở giai đoạn đó có biết bao chân dung biếm họa của đám người cặn bã, chó đểu, quái thai của xã hội thực dân, phong kiến, tư sản! Trong
đó có “me Tây” ,bọn nhà giàu hãnh tiến,bọn trí thức nửa mùa kiếm ăn trong phong trào Âu hóa trụy lạc , những gái tân thời mất nết, đám vua quan bù nhìn, hèn nhát dựa dẫm bọn Phá… được đưa lên trang sách như một hồi chuông báo động cần phải thay đổi cái xã hội không còn có thể sữa chữa được nữa đó.Tất cả những khía cạnh xã hội được nêu lên bộc lộ sự quyết liệt, sâu sắc trong phê phán, phanh phui, lật tẩy các vấn
đề của một xã hội thuộc địa tàn độc đầy rẫy những bất công ngang trái
1.2 Vài nét về Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn của ông trước Cách mạng tháng 8-1945
Nguyễn Công Hoan là cây bút truyện ngắn tài năng, tầm cỡ vượt ngoài thế giới (truyện ngắn của ông được dịch ra thành nhiều thứ tiếng trên thế giới) Ông là một trong những đại biểu ưu tú nhất trong dòng văn học hiện đại phê phán giai đoạn 1930-
1945 Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6-3-1903 tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Châu Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) Nguyễn Công Hoan vốn là người có tính hài hước Tính hài hước của ông mang màu sắc chính trị, điều đó xuất phát từ tấm lòng ưu ái người cùng khổ đã được báo hiệu ngay từ ngày ông còn nhỏ Ở
Trang 16với bác, nhà văn chứng kiến bao nhiêu chuyện phố phủ, quan lại, chuyện những người nông dân đến quan bị bóp nặn Tất cả đều đọng lại trong trí nhớ của ông Từ bé Nguyễn Công Hoan đã được dạy dỗ những phương ngữ, tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn,
thơ văn chống Pháp của những tác giả như: “Việt Nam phục kí” của Phạm Huy Hổ ;
“Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn; “Nam Hải dị nhân” của Phan Kế Bính…
Ông lớn lên cùng với tình yêu văn học, được bồi đắp chí khí yêu nước, phản kháng trước những áp bức, bất công bằng con mắt nhìn đầy tính trào lộng
Nguyễn Công Hoan là một trong những người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng cho dòng hiện thực phê phán Việt Nam Đó là thời kì văn học đang ở giai đoạn thứ hai của nền văn xuôi Quốc Ngữ Nguyễn Công Hoan đã chọn cho mình một con đường đi riêng độc đáo Viết những truyện trong đời sống bình thường về những con người bình thường với một phong cách gây cười độc đáo nên truyện của ông làm bật lên những chuỗi cười rơi nước mắt
Chính vì vậy ông được xem là “người mở đường”, là “lá cờ đầu” của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam Nguyễn Công Hoan là một trong những người viết truyện ngắn thành công nhất, tạo nên sự mới mẻ cho văn học nước ta những năm 1930- 1945 đầu thế kỉ XX.Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan phản ánh đúng thực tại xã hội lúc bấy giờ Điều dễ thấy trong truyện ngắn của ông là sự mâu thuẫn giữa tầng lớp phong kiến và nhân dân lao động nghèo dưới đáy xã hội
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hợp lại thành một bức tranh rộng lớn, khá đầy
đủ về xã hội cũ Hầu hết các tầng lớp trong xã hội nửa thực dân phong kiến dều có mặt: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tri thức làm nghề tự do: thầy thuốc, nhà báo, nhà giáo, các nghệ sĩ rối, tư sản, nhà buôn, nhà thầu phán, địa chủ quan lại, cường hào, nghị viện, công chức, học sinh, cô đào, nhà thổ, đứa ở, phu xe, kẻ cắp, anh hát xẩm, chị bán hàng rong, binh lính, bồi bếp…Từ các giai cấp bị áp bức bóc lột, các giai cấp thống trị đến các tầng lớp trung gian cho đến những người dưới đáy xã hội đều hết sức phức tạp Tất cả đều có vai trò trong tấn hài kịch đồ sộ với bao nhiêu màn, lớp trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Trên sân khấu ấy hầu như diễn ra đủ mọi tấn trò đời, bao nhiêu truyện ngắn là bấy nhiêu cảnh sống của cái xã hội thối nát cũ Tất nhiên, ông cũng có những nét vẽ lệch lạc hoặc ít hoặc nhiều nhưng toàn bộ truyện ngắn của ông giai đoạn này toát lên một ý nghĩa tố cáo mạnh mẽ Người xem tranh có
Trang 17thể tự mình rút ra kết luận: xã hội đó là một xã hội đen tối, bất công, bẩn thỉu và như vây nhất định không thể tồn tại được
Bên cạnh đó, tác giả còn nói lên một hiện tượng thoái hóa về đạo đức con người
trong xã hội, trong đó có truyện “Báo hiếu trả nghĩa cha”, “Báo hiếu trả nghĩa mẹ”,
“Mất cái ví”…Đọc truyện “Mất cái ví” người đọc thể hiện sự bất bình trước thái độ
ngờ vực của lão Tham đối với cậu ruột mình Hắn đã mượn cớ mất cái ví để đuổi khéo cậu mình về quê Trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan còn đề cập đến những lối
sống rởm đời, đua đòi lối sống phương Tây: “Samandji”, “Thế là mợ nó đi Tây”,
“Oẳn tà roằn…Mỗi tác phẩm của Nguyễn Công Hoan là một xã hội thu hẹp Nó phản
ánh một cách tinh tế và đầy đủ mọi thứ tồn tại trong xã hội Nó khai thác mọi ngõ ngách đời sống của con người và kể cả thế giới nội tâm của nhân vật
Nói đến nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ta cần phải nói đến nghệ thuật trào phúng Mục đích trong sáng tác của ông là đánh ngã kẻ thù và gây tiếng cười, cho nên lúc nào nhà văn cũng xây dựng truyện giống như một vở hài kịch
Về cách xây dựng nhân vật, nhà văn hay dùng bút pháp phóng đại, là một trong những thủ pháp gây cười Tác giả tập trung tất cả những cái xấu về hình thức cũng như về tinh thần vào nhân vật phản diện, cách đó làm cho nhân vật kì dị, méo mó không thật
Về bố cục, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thường ngắn gọn, cách vào truyện lí thú
và kết thúc truyện bất ngờ Ông nắm độc giả ở ngay chỗ thú vị nhất của câu chuyện, làm bật lên tiếng cười giòn giã thì ngưng lại ngay
Nói tóm lại, Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có nhiều khả năng và kinh nghiệm trong nghệ thuật viết truyện ngắn Truyện của ông thường rất ngắn Lời kết thúc cô đọng, hàm súc nhưng chứa đựng những nụ cười mỉa mai, sâu sắc Cốt truyện được dẫn dắt một cách có nghệ thuật dễ hấp dẫn người đọc Mỗi truyện là một màn kịch ngắn có giới thiệu, thắt nút và mở nút đồng thời qua đó thể hiện tiếng cười, đả kích sâu cay của Nguyễn Công Hoan
Trang 18CHƯƠNG 2:
CHẤT UMUA TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG
HOAN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945
2.1 Giới thuyết về chất Umua
Đã là nhà văn phải có một cái nhìn và cách thể hiện thật độc đáo, sâu sắc về con người về cuộc đời Để có được những tác phẩm văn chương để đời thì trong tác phẩm
ấy nhà văn phải thể hiện được dấu ấn riêng của mình Mỗi nhà văn có cách nhìn riêng đối với cuộc sống xung quanh thế giới hiện lên với sự biến hình qua lăng kính riêng của từng nhà văn Hiện thực cuộc sống thì muôn màu, muôn vẻ mỗi nhà văn chỉ có thể nắm bắt và tái hiện một hoặc vài khía cạnh nào đó của cuộc sống Chẳng hạn đối với nhà văn này thế giới xung quanh là một tấn trò bỉ ổi, đối với nhà văn khác thế giới là tấn bi kịch ,ở nhà thơ kia thế giới là một thiên đường… Văn chương nghệ thuật không
đi theo lối mòn quen thuộc của một cách viết bản năng Do sở trường, tài nghệ và đặc biệt là cảm quan riêng về thế giới mà mỗi nhà văn đã tìm cho mình một hướng đi phù hợp Sự đào thải trong nghệ thuật thường khắt khe hơn so với các lĩnh vực khác, thế nhưng, đã hơn nửa thế kỷ qua Nguyễn Công Hoan và tác phẩm của ông vẫn tồn tại và đứng vững Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan là một pho sử liệu sống sinh động và chân thực về thời kỳ hiện đại Mỗi một câu, một chữ của Nguyễn Công Hoan đã thể hiện một quá trình rèn luyện và tu dưỡng nghệ thuật một cách đáng trân trọng Thành công với dòng văn học hiện thực phê phán không phải chỉ có một Nguyễn Công Hoan song chúng ta không thể nào lầm văn của Nguyễn Công Hoan với văn của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố hay những nhà văn khác dù họ viết cùng đề tài, thể loại Nguyễn Công Hoan đã đưa vào văn phong của mình dấu ấn nghệ thuật riêng và chất “Umua”
có trong tác phẩm đóng vai trò quan trọng tạo nên giá trị của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Tài năng trong việc sử dụng chất “Umua” trong hàng loạt tác phẩm góp phần đưa vị trí của Nguyễn Công Hoan lên đỉnh cao và tạo nên sức thuyết phục lớn cho độc giả Để tìm hiểu chất “Umua” trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước hết chúng ta cần có cách hiểu về chất “Umua”
“Umua” (hay còn gọi là Uymua) theo từ điển Anh-Việt xuất phát từ nguyên văn
là Humour.(phiên âm /:humэr/ ) Khi du nhập vào nước ta có nhiều cách phiên âm và cách đọc khác nhau Tuy nhiên người nghiên cứu chọn cách đọc là “umua” cho gần
Trang 19gũi với cách đọc thông thường đã phổ biến từ rất lâu trong ngôn ngữ Việt Nam Hơn nữa đây là cách đọc thông dụng của người Việt Nam từ trước đến nay vì chúng ta vốn chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp trước nền văn hóa Anh-Mỹ Cách đọc “Umua” của
Từ điển Việt : “h” là âm tắc nên “h”câm Tuy theo cách đọc của Từ điển Việt nhưng chúng ta hiểu về nghĩa của “Umua” theo gốc tiếng Anh Về nghĩa của
Pháp-“Umua” theo Từ điển Anh-Việt như sau:
+Humour(dt)
● Thể hiện tính chất vui hoặc buồn cười
● Khả năng nhận thức được sự vật những tình huống, hoặc những con người khôi hài có khả năng thích thú,vui vẻ
Chất “Umua” xuất hiện trong văn chương rất sớm trong nhiều tác phẩm nổi tiếng Đến thế kỷ XVIII chất “umua” rất được ưa chuộng trong việc thể hiện văn chương ở các nước phương Tây “Umua” theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, dịch là
“hài hước” Hài hước là một dạng của cái hài có mức độ phê phán nhẹ nhàng chủ yếu
là gây cười, mua vui Trên cơ sở vạch ra sự mất cân đối giữa nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng Đặc biệt là lí tưởng và thực tế như dốt mà hay nói chữ, sợ vợ
mà lên mặt làm chồng
Hài hước khác cái nghịch dị ở tính chất kín đáo, thâm trầm, không lộ liễu, khác cái châm biếm ở mức độ nhẹ nhàng, đùa vui, thiện ý Hài hước là sản phẩm trí tuệ của con người, là dấu hiệu của tài năng và biểu hiện của tinh thần lạc quan Hài hước khéo léo vạch ra các mâu thuẫn, tạo ra cái cười bất ngờ, giúp người ta nhận biết ra sự trớ trêu của tình huống, mỉm cười mà phân biệt đúng sai
Trang 20Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về “Umua” Nhưng các dịch giả đều chuyển dịch là “hài hước” Theo “Từ điển Tiếng Việt”, “hài hước” là vui đùa nhằm mục đích gây cười (thường nói về hình thức văn nghệ) Tuy nhiên, những cách định nghĩa trên vẫn chưa thật sự bao quát hết nghĩa của “Umua” Bên cạnh tính chất vui đùa nhằm mục đích gây cười là chính, tiếng cười của nó còn bao hàm rất nhiều ý nghĩa bên trong Có hai lí do để người nghiên cứu quyết định sử dụng thuật ngữ “Umua” mà không phải là “hài hước”:
+ “Umua” khi sang tiếng Việt Nam dịch giả quen chuyển là “hài hước” Tuy nhiên nếu dịch như thế sẽ không thật sự sát với nghĩa gốc của “Umua”
+ Do lịch sử phát triển “Umua” xuất phát từ gốc tiếng Anh “Humuor” và vẫn chưa có một định nghĩa chính xác nhất về thuật ngữ này
“Umua” cũng là một trong những biểu hiện của cái hài, cũng có nhiều cung bậc
và sắc thái khác nhau Người ta coi “Umua” là cung bậc đầu tiên và châm biếm là cung bậc cuối cùng Tuy nhiên vẫn có một mối quan hệ chặt chẽ giữa “Umua” và châm biếm, đó là mối quan hệ biện chứng giữa hai cung bậc của cái hài Cái hài theo
định nghĩa của nhà văn, nhà tư tưởng Nga Sccnưsepxki: “cái hài là sự trống rỗng và
sự vô nghĩa bên trong được che đậy bằng một cái vỏ huyênh hoang tự cho rằng có nội dung và ý nghĩa thật sự” Cái hài bao hàm một ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng
định lí tưởng thẩm mĩ cao cả Nó là sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo tích cực
và có tính công phá mạnh mẽ đối với những cái xấu xa, kịch cỡm Sức mạnh của nó vừa có ý nghĩa phủ định vừa mang ý nghĩa khẳng định Nó phủ định cái xấu xa và nhân danh cái cao đẹp Do “Umua” cũng là cung bậc của cái hài, nên nó cũng có những đặc trưng của cái hài cũng mang tính cảm xúc và sáng tạo tích cực Ngày nay, cái hài được phân thành 4 loại: hài hước; dí dỏm; châm biếm, mỉa mai và đả kích Mỗi loại có ý nghĩa riêng và độc đáo của nó Cái hài có những đặc điểm cơ bản sau:
- Cái hài phải gắn với cái cười, nhưng không phải cái cười nào cũng gây ra cái hài, cái hài là một hiện tượng của cái đáng cười, là hiện tượng gây cười Cái cười đòi hỏi trước tiên phải nằm trong mối quan hệ giữa đối tượng gây cười và chủ thể bị cười
- Cơ sở để hình thành cái hài là những mâu thuẫn trong đời sống, có thể là mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, giữa hình thức và nội dung, có thể là vi phạm những chuẩn mực của đời sống, vi phạm những chuẩn mực của cái đẹp (đây còn gọi là đối tượng của cái cười)…Những yếu tố trên đều có thể gây cười
Trang 21- Cái hài mang khuynh hướng xã hội Khi người ta dám cười cái xấu là họ đã phủ định cái xấu, dám phủ định cái xấu là xấu tức là dám đứng ra chống lại cái xấu và tin tưởng vào cái đẹp, xây dựng cuộc sống trên nền tảng của cái đẹp
- Tình cảm trong tiếng cười của cái hài là mĩ cảm Cảm xúc thẫm mĩ là cảm xúc vô tư không vụ lợi Cười do không tiếp nhận cái xấu, cái mâu thuẫn với cái đẹp, cái xung đột nên khiến người ta phải cười
- Cái hài là sự nhận thức Khi chủ thể cười nhận thức được đối tượng thì mới có thể cười Điều này giải thích việc, khi mọi người cùng có thể cười trước một sự việc, hiện tượng nhưng đôi khi cùng đứng trước sự việc, hiện tượng đó có người cũng không cười Những người không cười là họ chưa nhận thức được đối tượng của mình Nói
như Platon: “Không thể nhận thức được cái nghiêm chỉnh nếu thiếu cái buồn cười, và
nói chung, cái đối lập được nhận thức nhờ cái đối lập với nó”
Tuy rằng “Umua” không chính xác là “hài hước” nhưng bản chất của nó chứa đựng những đặc điểm đã nêu trên “Hài hước” là phép biện chứng của trí tưởng tượng phóng khoáng hé mở cho ta thấy đằng sau cái tầm thường là cái cao quý, sau cái điên
rồ là cái anh minh, sau cái buồn cười là nỗi đau Trong châm biếm đối tượng là tiếng cười, là thói hư tật xấu nên nổi bật lên cái giọng đả kích tố cáo
“Umua” gần với “hài hước” và tiến dần đến châm biếm Đối với cái hài dù ở cung bậc nào cũng có bản chất mang tính hài của đối tượng mà ai cũng dễ dàng cảm nhận được, sự cường điệu của đường nét kích thước và liên hệ của chúng trong việc miêu tả, sự nhạy bén ý nhị, bản lĩnh của người thể hiện làm tăng hiệu quả của tiếng cười Như thế “Umua” rất gần với hài hước Tuy nhiên không phải là thứ hài hước mua vui mà trong đó còn chứa đựng tính chất châm biếm dù mang tính chất phê phán hay xây dựng Trong lịch sử phát triển của “Umua”, mặc dù lúc xuất thuật ngữ này mang nhiều sắc thái khác nhau nhưng “Umua” vẫn là khái niệm ngay cả những từ điển bách khoa hiện nay cũng khó định hình chính xác “trong một ngôn ngữ bao hàm những quy tắc xác định về chức năng” Do sự phát triển của chính bản thân “Umua” nên “Umua” được xem là một thuật ngữ văn học để chỉ một cung bậc của cái hài Trong văn học Anh người ta dùng từ “Umua” để diễn tả tiếng cười độc đáo, đặc biệt của dân tộc mình, có một thời gian “Umua” được dịch nghĩa và phiên âm sang tiếng Trung Quốc bằng một từ rất đặc biệt “Umặc” Vấn đề đặt ra là các nhà văn muốn châm biếm xã hội thì mỗi một người chọn một con đường đi riêng để nói lên tiếng nói của
Trang 22mình mà không lẫn với bất cứ ai khác Không nhiều các nhà văn ở các nước phương Tây thành công khi đưa cái hài hước vào tác phẩm của mình Bắt đầu bằng tiếng cười sảng khoái của Rabơle đến cái cười chua chát buồn thương của Xécvăngtéc Sang thế
kỷ Ánh sáng tiếng cười Giônêthan Xuyp đã thể hiện tài năng tuyệt vời của một nghệ sĩ thiên tài dùng tiếng cười để châm biếm xã hội Do chất “Umua” gắn liền với dân tộc tính của người Anh nên thật khó để có một định nghĩa chính xác về “Umua” trong từ điển Việt Nam
Nguyễn Công Hoan đã chọn cho mình một con đường riêng biệt không giống với những nhà văn cùng thời và ông đã gặt hái được những thành công đáng kể trong dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng và dòng văn học hiện đại nói chung Hàng trăm tác phẩm ra đời mang âm hưởng của một giọng điệu hài hước nhưng cái hài hước trong truyện ngắn của ông lại rất phong phú với nhiều cung bậc cảm xúc Nguyễn Công Hoan xứng đáng là cây bút hài hước, châm biếm hàng đầu Việt Nam Chính vì thế, tìm hiểu chất “Umua” trong truyện ngắn của ông là việc làm cần thiết
2.2 Cảm hứng Umua thể hiện qua cái nhìn về hiện thực Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng 8-1945
Thực tế cuộc sống xã hội cực kỳ bi đát, mọi người sống mòn mỏi trong màn đêm u tối Xã hội thực dân- nửa phong kiến ở nông thôn cũng như thành thị ngày càng bộc lộ những ung nhọt tấy lên trầm trọng, những điều chướng tai gai mắt không còn che giấu được hoặc không thèm che giấu đã ảnh hưởng rất nhiều đến cảm hứng sáng tác của không ít nhà văn trong đó có Nguyễn Công Hoan Tuy nhiên đứng trước mỗi vấn đề xã hội, với mỗi người mỗi cảnh, mỗi hiện tượng từng nhà văn có cách nhìn, cách nghĩ khác nhau Với Nguyễn Công Hoan, ông đã nhận thấy được những mâu thuẫn mang tính hài hước, trái ngược giữa hiện tượng và bản chất, giữa nội dung và hình thức có khả năng làm nổi bật lên tiếng cười để cho ra đời những sản phẩm đậm chất umua và trào lộng đặc biệt ở thể loại truyện ngắn Nhưng phải công nhận rằng đằng sau cái cảm hứng umua đó ta sẽ nhìn thấy một trái tim đau thương, quằn quại với những mặt trái của xã hội đương thời Ai cũng biết rằng, Nguyễn Công Hoan sinh ra
và lớn lên dưới chế độ thực dân nửa phong kiến thối nát, ngày đang trên đà đi đến chỗ sụp đổ hoàn toàn Đứng trước cái hiện thực đó, nhà văn có tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, lòng khinh ghét những bất công, ngang trái nên trong những trang viết của mình, ông không thể không đề cập đến những vấn đề thuộc mặt trái của xã hội đương thời Ta thấy hầu hết đề tài truyện ngắn đều được Nguyễn Công Hoan lấy từ đời sống
Trang 23thực, đều được rút ngay từ cuộc sống đông đặc trước mắt nhà văn Ông từng viết: “ đề
tài truyện ngắn của tôi là những việc ,những cảnh xảy ra trước mắt Thường là một câu nói ,một hình ảnh, một chi tiết, một tấm ảnh, một câu thì thào từ miệng người này sang người kia….” Với tài quan sát hiện thực nhanh nhậy, lại nhờ mối thiện cảm, ác
cảm khá đúng đắn, nên truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trở thành những bức tranh đầy sức sống về cái xã hội đương thời
Cũng như Nguyễn Khuyến, Tú Xương…Nguyễn Công Hoan thường đứng trên lập trường phong kiến để phê phán những gì trái với đạo đức phong kiến, trái với những gì thuộc nền nếp gia đình phong kiến gia trưởng, cái mà Nguyễn Công Hoan cho là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc Kế thừa và phát huy truyền thống trào phúng của văn học dân tộc nói chung, tiếng cười Nguyễn Khuyến, Tú Xương nói riêng, Nguyễn Công Hoan vừa đứng trên lập trường dân tộc vừa đứng trên lập trường dân chủ để phê phán những kẻ áp bức bóc lột người nghèo Là một người có trực quan nhạy bén, có tấm lòng trung thực, có lương tâm trong sạch Nguyễn Công Hoan luôn cảm thấy boăn khoăn, day dứt trong lòng khi nhận ra những hiện tượng áp bức bất công, những tình huống ai oán đau lòng xảy ra nhan nhản trong xã hội trước mắt Để giải tỏa những nỗi niềm ấy, là một con người vốn có khiếu văn chương, lại ảnh hưởng truyền thống văn học của gia đình nên nên trong những sáng tác của mình Nguyễn Công Hoan bao giờ cũng đề cập đến những việc chướng tai, gai mắt trong xã hội lúc bấy giờ Nguyễn Công Hoan không sa đà vào những truyện phù phiếm, vẩn vơ mà đều xuất phát từ cái hiện thực do quan sát được và ông viết những điều cần viết, những
điều ông cho là “không viết thì không an tâm”, không viết là “che giấu cho đối
phương tội lỗi mà duy chỉ mình biết, mình thấy” Nhà văn đã đưa vào văn học nhiều
lớp người, nhiều cuộc đời, nhiều tình huống với những cảnh sống có vẻ như bình thường, giản dị nhưng thường lại ẩn chứa hoặc phơi bày những nỗi niềm những tình cảnh khốn khổ, khốn nạn hoặc những hiện tượng áp bức bất công, phi lý đến khủng khiếp Người đọc bắt gặp hầu như đủ các hạng người, từ những tên quan lại, cường hào, địa chủ, tư sản cho đến những người lao động những người nông dân viên chức, kép hát, kéo xe, đi ở, cả những kẻ ăn mày, ăn xin, gái điếm…với những người có lối sống lố lăng, kệch cỡm…Từ những cảnh sống lam lũ, lầm than, vắt mũi không đủ đút miệng , đến những cảnh sống xa hoa, đàng điếm, dâm dật, lấy thế, lấy lực đè người Hết thẩy đều bắt nguồn từ thực tế sinh động với những chi tiết sắc nét, nóng bỏng hơi
Trang 24thở của cuộc sống Trong thời buổi Tây, Tàu nhố nhăng ấy, đám quan lại xuất thân khoa bảng bị thất thế nên họ bất mãn với thực dân, với thời cuộc Sự đắc chí của bọn quan lại hãnh tiến vốn từ thằng đội, bồi bếp, thông ngôn…nhờ nịnh nọt Tây mà ngoi lên là sự xúc phạm đến những người có học thức nhưng phải “gác bút” trước thực tế
xã hội lúc bấy giờ Cũng như phần lớn nhà văn tiến bộ không ưa gì bọn thống trị lại sinh trưởng trong một gia đình quan lại khoa bảng từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã chịu ảnh hưởng khá nặng của hệ tư tưởng phong kiến từ sớm Nhưng khác với các nhà văn cùng thời, Nguyễn Công Hoan bao giờ cũng nhìn hiện thực cuộc sống từ góc nhìn hài hước Chính vì thế, Nguyễn Công Hoan nhìn thấy nhiều cái ngược đời trong các chủ trương chính sách của bọn thực dân phong kiến Ông lôi ra để cười, cười một cách thâm thúy và sắc sảo Từ đó chất umua trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan làm nổi bật lên sự bất công có tính chất giai cấp của xã hội đồng tiền lạnh lùng đó
Từ năm 1920 Nguyễn Công Hoan đã bắt đầu cầm bút và trong vài năm viết
được mấy truyện ngắn, khai thác những đề tài từ hiện thực trước mắt như: Kiếp hồng
nhan, Sóng vũ môn, Cụ đồ Ba, Cô hàng nước, Trần ai tri kỷ Đó là một dấu ấn quan
trọng, bộc lộ tinh thần, tư tưởng cơ bản của Nguyễn Công Hoan như ghét bọn quan tân
học, luyến tiếc nhà nho cũ (Cụ đồ Ba), có ý thức dân tộc, có khuynh hướng bài ngoại (Kiếp hồng nhan), chống sự bất công vô lý trong lối thi cử cũ (Sóng vũ môn)
Nhìn hiện thực từ quan điểm giàu nghèo, phản ánh sự xung đột giữa giàu-nghèo là một đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan Quan niệm giàu- nghèo
có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa đã giúp ông phanh phui được nhiều chuyện xấu xa, thối nát, cùng những sự đau thương, khổ nhục của đời người trong xã hội cũ Người nghèo theo quan niệm của Nguyễn Công Hoan không chỉ là nông dân mà bất cứ hạng người nào không có tiền, bị lép vế trong xã hội, xác định được đối tượng đả kích của mình là kẻ giàu Nguyễn Công Hoan thường đứng về phía người nghèo, bênh vực họ Viết về truyện ăn cắp, ông đứng ra bào chữa, thanh minh, cãi trắng án cho những kẻ
khốn khổ, vì quá đói mà phải ăn quỵt, ăn cắp (Thằng ăn cắp, Bữa no đòn, Thế cho nó
chừa) Trong truyện ngắn “Thằng ăn cắp” tác giả tả cảnh đứa trẻ nửa ăn mày, nửa ăn
cắp xuất hiện giữa đám hàng rong :“Một hôm, nó vơ vẩn giữa đám hàng bán rong
Thấy nó, bà hàng rau đứng dậy, quẩy gánh hàng lên vai, đi chỗ khác Bà hàng thịt rờ lại ruột tượng Bà hàng bún riêu nắn túi tiền Bà hàng lê bấm cô hàng bánh đúc Chị bán bánh rán sốt đưa mắt cho bác hàng khoai Họ thì thào:
Trang 25ta cho là nó có bè có đảng nên đã tẩu thoát tang vật Người ta đánh nó nhừ tử:
Ức! Một cái đá vào mạng mỡ…Hự! Một cái tống vào ngực Huỵt! Huỵt! Bốp! Bốp! A lê! Lên Cẩm! Nó mềm như sợi bún, không dậy được…”
Bà hàng bún riêu “Áo lấm, khăn sổ, tóc rũ”, chạy “lạch đạch như con vịt” còn mãi phía sau Đến lúc tới gần người ta xúm lại hỏi: Bà mất cái gì?
Bà ấy cố trả lời, nói rời rạc như người sắp tắt thở:
- Nó ăn…của…tôi…hai xu…bún riêu…rồi…nó quỵt…nó chạy”
Cả một cảnh sống thực bày ra trước mắt chúng ta Lối tả tỉ mỉ các chi tiết là một đặc điểm của phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa của Nguyễn Công Hoan Câu chuyện kết thúc một cách rất đột ngột Hai xu bún riêu, một trận đòn nhừ tử! Đó là giá trị một con người dưới thời Pháp thuộc Nguyễn Công Hoan đã giáng một đòn chí mạng vào chế độ xã hội coi mạng người như cỏ rác Dư luận thành kiến bất công trút lên kẻ nghèo đói đủ thứ tội tầy đình, xấu xa trong khi họ chỉ có một “tội”…nghèo và đói! Vì đói quá mà những “thằng ăn cắp”phải ăn quỵt hai xu bún riêu, vài củ khoai luộc, một chiếc bánh…để rồi bị gán cho những tội tài đình và bị đánh đập dã man; Tất
cả coi chúng như những kẻ nguy hiểm Chất umua trong truyện được Nguyễn Công
Hoan xây dựng để lật tẩy, phơi bày bản chất đểu giả, ti tiện của bọn nhà giàu (Cái ví ấy
của ai?, Cụ Chánh bá mất giày, Thằng Quýt, Thằng ăn cướp,…) Nhìn hiện thực đời
sống qua lăng kính giàu-nghèo chứng tỏ sự nhạy cảm của Nguyễn Công Hoan trước những mâu thuẫn trong xã hội cũ Một mặt, ông bênh vực những người nghèo thấp cổ
bé họng, bị ức hiếp, mặt khác, ông lên án bọn có tiền và có quyền nhưng bất nhân bất
nghĩa “đó là quan điểm xã hội căn bản, là quan điểm hiện thực, khỏe khoắn, tiến bộ
của nhà văn, khiến ông sớm đi ngay vào con đường văn học hiện thực phê phán”
[29,283] Khi gặp hoàn cảnh xã hội thuận lợi như thời kỳ Mặt trận dân chủ và chịu ảnh hưởng của những chiến sĩ cộng sản thì quan điểm giàu-nghèo được mài sắt có xu
Trang 26hướng vươn tới quan điểm giai cấp Vì thế, sức tố cáo của ngòi bút ông mãnh liệt, sâu
sắc hơn (Sáu mạng người, Thịt người chết, Tấm giấy một trăm, Đồng hào có ma…)
Nhiều tác phẩm của ông đã nhắm thẳng đánh rất trúng vào bọn thực dân cùng với
chính sách lừa bịp của chúng (Sáng, chị phu mỏ; Đào kép mới; Tinh thần thể dục (I,
II)) Trong Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan thổ lộ: “Tôi sinh trưởng trong
một gia đình phong kiến suy tàn vì chế độ đổi thay nên bị lép vế, do đó tôi đã chịu sự
giáo dục hằng hộc với bọn quan lại ôm chân đế quốc để mưu cầu phú quý trên lưng
những người nghèo, hèn” Ông căm phẫn, khinh bỉ những trò nhố nhăng, những quái
thai của xã hội mới ngang nhiên giày xéo lên những truyền thống đạo đức của dân tộc Trên lập trường của những tầng lớp quan lại phong kiến lỗi thời, Nguyễn Công Hoan
đả kích không thương tiếc bọn quan lại hãnh tiến vô liêm sỉ, bọn tư sản, bọn thanh niên
chạy theo lối sống “Âu hóa” nhố nhăng, đồi bại Ở những tác phẩm này, quan điểm
đạo đức của ông phù hợp với quan điểm của nhân dân, thống nhất chặt chẽ với quan
điểm người nghèo khiến cho tiếng cười trào phúng của ông vừa sảng khoái, vừa hiểm
hóc (Báo hiếu: trả nghĩa cha, Xuất giá tòng phu, Cô Kếu, Gái tân thời, Nỗi lòng ai
tỏ,…) Nguyễn Công Hoan căm ghét xã hội thực dân tư sản, căm ghét những bọn có
tiền và có quyền trong xã hội ấy nhưng mặt khác ông cảm thấy hoàn toàn bất lực trước
sự lên ngôi của chúng Vì thế, ông nhìn đời chỉ là một sân khấu hài kịch Trong đó,
bọn thực dân, bọn quan lại mới cùng với bọn lính tráng ở các phủ huyện, lũ nhà giàu ở
thôn quê, những ông chủ, bà chủ…tha hồ diễn những trò nhố nhăng bỉ ổi một cách
trắng trợn Đối với bọn chúng, tất cả những gì thiêng liêng nhất của con người và cuộc
đời đều là những trò hề giả dối bịp bợm, từ công lí đến chủ trương chính sách của nhà
nước (Thật là phúc, Đồng hào có ma, Thịt người chết, Sáu mạng người, Đào kép mới),
từ tình cảm cha con, mẹ con, tình cảm vợ chồng (Báo hiếu: trả nghĩa cha, Báo hiếu:
trả nghĩa mẹ, Xuất giá tòng phu, Thế là mợ nó đi Tây, Nổi vui sướng của thằng bé
khốn nạn), từ nghề viết văn, làm báo đến hoạt động văn hóa, thể thao ( Tôi chủ báo,
anh chủ báo, nó chủ báo; Tinh thần thể dục) Chính Nguyễn Công Hoan nhận xét:
“Tôi là một người bi quan, hoài nghi nên khinh thế ngạo vật, hay đùa và hay chế
nhạo Sống dưới chế độ thực dân tôi thấy cái gì cũng là giả dối, lừa bip (…) Cho nên,
tôi hay chế giễu, mỉa mai tất cả việc khôi hài Tôi coi thường tất cả Tất cả đối với tôi
là một trò cười Vì vậy, tôi hay pha trò cười” (Đời viết văn của tôi) Với cái nhìn con
người và cuộc đời như vậy, Nguyễn Công Hoan đã chế giễu, mỉa mai, châm biếm, đả
Trang 27kích không thương tiếc từ bọn quan lại hãnh tiến đến lính tráng ở các phủ huyện, từ bọn tư sản chỉ biết thờ phụng đồng tiền đến bọn cường hào ác bá ở nông thôn, rồi đến bọn thanh niên hư hỏng đua đòi theo lối sống Âu hóa cùng với biết bao chuyện bỉ ổi
vô đạo, vô luân trong xã hội đương thời Mâu thuẫn phổ biến nhất trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, giữa bản chất và hiện tượng Nhiều truyện ngắn của ông được xây dựng trên những cơ sở mâu thuẫn này
(Báo hiếu: trả nghĩa cha, Báo hiếu trả nghĩa mẹ, Đồng hào có ma) Có khi là mâu
thuẫn giữa thực chất là mục đích ý nghĩa Mục đích ý nghĩa thì có vẻ tốt đẹp, cao sang;
nhưng thực chất lại xấu xa thảm hại (Tinh thần thể dục) Đôi khi lại mâu thuẫn giữa hi vọng càng cao thì thất vọng lại càng lớn (Ngậm cười, Ngựa người và người ngựa) Có khi là mâu thuẫn giữa phúc và họa (Hé!Hé!Hé!,Thật là phúc, Được chuyến khách)
;mâu thuẫn giữa kết quả hết sức nghiêm trọng với nguyên nhân hết sức nhỏ mọn tầm
thường (Thằng ăn cắp, Thế cho nó chừa, Nỗi lòng ai tỏ, Lại chuyện con mèo) hoặc là mâu thuẫn giữa hoàn cảnh đáng khóc và tình thế buộc phải cười (Kép tư Bền) Giữa sự
sống vất vả và khốn khổ, đầy những mâu thuẫn của xã hội mà một số đông người phải bán thân nuôi miệng, những đứa bé khốn quá,quyết ăn lường để chịu đấm trái hẳn với một giai cấp đủ ăn đủ mặc, chực mua cái cười, cái vui trong cái khổ đau của kẻ nghèo khó
Những tác phẩm Nguyễn Công Hoan viết trước Cách mạng tháng 8 - 1945 đó là những truyện ngắn tái hiện bức tranh cuộc sống của nước Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến Đề tài thường xuyên thu hút nhà văn là quan hệ giữa kẻ áp bức và người
bị áp bức Thường thường địa vị xã hội của nhân vật quyết định thái độ của nhà văn đối với nhân vật đó Thậm chí đọc đi đọc lại hàng trăm truyện mà Nguyễn Công Hoan viết thời kỳ này ,chúng ta cũng không thể tìm được trong đó hình ảnh một viên “quan cai trị” nào liêm khiết hoặc cao thượng Mỗi truyện dường như Nguyễn Công Hoan viết một mạch Chính nhà văn đã kể lại rằng ông chỉ cần chứng kiến một chuyện gì đó xảy ra trên đường phố, nghe một mẩu hội thoại lập tức trong đầu ông đã hình thành đề tài cho một truyện ngắn tương lai Ông thể hiện ngay thành lời và hình ảnh tất cả những gì ông đã thấy và trải qua Hầu như trong bất kỳ truyện nào của nhà văn châm biếm đều có những sự kiện, những sự việc hay hành động của nhân vật đi ngược hẳn với cái bình thường Ở một số truyện của ông thực ra là sự nhạo lại những cái xảy ra
trong thực tế Trong truyện ngắn “Cụ chánh bá mất giày” được xây dựng theo kiểu
Trang 28truyện trinh thám – xáo trộn thời gian: thoạt đầu bạn đọc thấy một vụ mất cắp rồi sau
đó là hai đoạn tả cảnh mất cắp tưởng tượng và mất cắp thật, bóc trần bộ mặt tên chuyên nghề lường gạt đóng vai “nạn nhân” Nhà văn có tài dẫn truyện tới mức sự thông cảm của ông đối với nhân vật phản diện cuối cùng quay ngược thành cái cười mỉa mai đối với nhân vật đó
Chúng ta thấy đề tài truyện ngắn mà Nguyễn Công Hoan khai thác khá dồi dào phong phú Nhưng từ cái thực tế muôn hình muôn vẻ của cuộc sống nhà văn đã lặp ý cho việc hình thành truyện ngắn Có truyện đi từ việc thật không có ý tiến tới truyện
đặt lặp thành ý Chẳng hạn “Đào kép mới” là câu chuyện Nguyễn Công Hoan kể về
một rạp hát quảng cáo rùm beng là có tích hát mới, rạp mới chấn chỉnh, đào kép mới nhưng thực chất thì vẫn tích hát cũ, bọn đào kép cũ đổi vai cho nhau, để ám chỉ sự tuyên truyền của thực dân pháp về việc đổi mới của cái triều đình Bảo Đại Chất umua
ở đây mang tính châm biếm, đả kích sâu cay vào sự bịp bợm của bọn thực dân, phong kiến Cốt truyện dựa trên cơ sở thực tế khách quan được phản ánh vào đầu óc nhà văn qua những dạng phức tạp hoặc lẻ tẻ rồi được hội tụ lại và sàng lọc để viết thành truyện Chẳng hạn, một năm lụt, Nguyễn Công Hoan đọc báo thấy in tấm ảnh chụp chiếc quan
tài đặt trên bè chuối, ông viết liền ba truyện” Chiếc quan tài” Viết truyện “Hai thằng
khốn nạn” là do Nguyễn Công Hoan nhìn thấy một người bán con trong năm đói
Trường hợp “báo hiếu trả nghĩa cha” là do tác giả nhìn thấy một đám ma mà trong
linh sa có ảnh người quá cố, áo gấm hột vàng và có một người chống gậy đi sau, khiến ông mường tượng đến tên tri huyện Nguyễn Ngọc Chung, rất bất hiếu với mẹ, ông lấy
đó làm kết truyện rồi thêm thân truyện Viết “Xuất giá tòng phu” là do tác giả trông
thấy một người đánh vợ vì vợ ngoại tình Nhưng ông thấy truyện này chẳng có gì đáng viết, trong khi ông biết có những tên phủ này hiến vợ cho công xứ, tên huyện kia đưa
vợ vào hầu quan tổng đốc, nên ông mới viết thành chuyện chồng đánh vợ vì vợ không chịu hiến thân cho “ông chủ” của chồng Trong truyện, cảm hứng umua đã vạch toạc những xấu xa, bỉ ổi của những hạng người không còn liêm sỉ Từ những sự việc trong cuộc sống tác giả đã xây dựng nên những tác phẩm có ý phê phán sâu cay trong xã hội đương thời Đọc truyện Nguyễn Công Hoan ta thấy những chi tiết rất sống, rất thực và
từ đó người đọc có cảm giác như đang đứng trước một bức tranh biếm họa trong quá khứ Đề tài và các vấn đề xã hội mà Nguyễn Công Hoan đưa ra trong truyện ngắn của ông rất đa dạng đem lại cho độc giả những cảm giác rất bất ngờ Đọc những sáng tác
Trang 29của ông người đọc có thể bắt gặp nhiều loại người, thuộc nhiều tầng lớp xã hội, sừng sững hiện lên trên những trang sách từ vua quan, cường hào, địa chủ, tư sản đến những người dân lao động, những kẻ nghèo khổ khốn cùng,…Với cái nhìn mạnh dạn, khám phá, Nguyễn Công Hoan đã chiếu thẳng ống kính vào nhiều mặt của cái xã hội bất công, ngang trái ấy Chỉ một việc quan ăn tiền, ông đã viết gần một chục truyện ngắn trào phúng tả những thủ đoạn ăn tiền khác nhau mà truyện nào cũng sinh động, hấp dẫn, vạch trần bản chất bọn “mặt người dạ thú” đó Có tên xoay tiền một cách quỷ
quyệt, hết sức vô lương tâm (Thịt người chết) Có tên bịa ra kiểu “duy trì lễ nghi cổ nhân” để xoay của đúc (Đi giày) Có tên buộc tội cả người làm việc thiện, bắt họ phải
lễ tiền (Chiếc quan tài III) Bên cạnh những quan lớn đó, nhà văn còn cho ta thấy cả
vợ con chúng cũng giở đủ trò lừa bịp, khi thì ngọt xớt, khi lại trắng trợn qua các truyện
như (Hé!Hé!Hé; Mua lợn; Đổi bạc…) Có thể dễ dàng tìm thấy nhiều ví dụ khác như
chỉ việc chủ nhà đối xử tàn nhẫn với đầy tớ mà Nguyễn Công Hoan có tới bảy truyện ngắn, với những tình huống éo le khác nhau đã gây nên những tiếng cười phẫn nộ, chua chát khiến người đọc không thể không cảm thông sâu sắc với những kiếp sống
phải chịu bị đối xử tàn nhẫn bất công của những hạng người có tiền của dư dật (Quyền
chủ; Phành phạch; Thanh!Dạ; Thằng Quýt I, II; Mua bánh; Chị vú em;…)
Đứng trước mỗi người mỗi cảnh, mỗi hiện tượng, mỗi vấn đề xã hội, từng nhà văn có cách nhìn, cách nghĩ khác nhau, nhất là cách khai thác và thể hiện thành công
tư tưởng chủ đề của truyện thì thật muôn hình muôn vẻ Thường thì trong nhiều hiện tượng ở xã hội cũ, vừa có bi vừa có hài Nhiều khi cái bi cái hài vẫn theo sát, trộn lẫn nhau Mỗi nhà văn có cách khai thác thích hợp với sở trường ngòi bút của mình, Nguyễn Công Hoan linh hoạt thể hiện những tình huống bi hài lẫn lộn nên đằng sau
tiếng cười thường là những giọt nước mắt, đúng như ý kiến của Bielinxki: “kết hợp
giữa cái bi và cái hài là biết thể hiện cuộc sống theo bản chất của nó” Nguyễn Công
Hoan do bản tính hay hài hước, thường nhìn cuộc đời dưới khía cạnh khôi hài, trào phúng mà cái hài ở đây mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Trong cuộc sống những hiện tượng dường như không có chút hài hước nào cả, nhưng với con mắt biết sàng lọc của người nghệ sĩ như Nguyễn Công Hoan thì nó lại lấp lánh cái hài Một số truyện khác lại được Nguyện Công Hoan xây dựng trên hai sự việc thoáng xem như bình thường của hai người cùng cảnh ngộ nhưng lại thông qua cảnh ngộ khá éo le làm nảy sinh
tiếng cười thật chua xót như “Người ngựa và ngựa người”: anh phu xe khốn khổ đã
Trang 30phải cố đón thêm chuyến khách để trước giao thừa về nhà còn lo sửa soạn Tết, lại vớ ngay phải cô gái giang hồ gọi cuốc xe đi quanh quẩn để kiếm khách làng chơi Câu chuyện đã xảy ra: anh phu xe phải cố kéo để may ra cô gái giang hồ gặp được khách thì cô mới có tiền trả Nhưng đi mãi mà vẫn không ai vời đến, cuối cùng cô bèn gán tấm thân mình cho anh xe Nhưng anh này chỉ lắc đầu, một mực đòi tiền sòng phẳng
Cô gái giang hồ phải tính kế chuồn để mặc anh xe nghiến răng, cau mặt lủi thủi bước
đi trong tiếng pháo chào xuân…Cốt truyện thật không có gì đáng cười, nhưng cái thực trạng ấy diễn ra dưới ngòi bút khách quan, bình thản, đượm vẻ chua xót nên dường như chất umua đã lắng sâu lẩn vào tiếng thở dài não nuột của cả hai tầng lớp người dưới đáy xã hội cũ
Trong “Răng con chó của nhà tư sản”, sự đụng độ giàu- nghèo thể hiện rất rõ
Một ông chủ hãng ô tô đã phóng xe đuổi theo với ý định cán chết người ăn mày vì
người này dám làm gãy răng con chó Tây của ông “A! mày tát gẫy răng con chó của
ông ,ông thì kẹp cho mày chết tươi rồi ông đền mạng Bất quá ba chục bạc là cùng !”
Câu nói của nhà tư sản bộc lộ đầy đủ bản chất giai cấp lang sói của bọn có tiền Người nghèo trong cái xã hội ấy không những khổ vì đói rách mà còn nhục vì bị xúc phạm nhân phẩm và bị chà đạp phủ phàng Vì đói quá mà những “thằng ăn cắp” phải ăn quỵt mấy xu bún riêu, vài củ khoai lang luộc, một chiếc bánh …để rồi bị gán cho những tội
tày đình và bị đánh đập rất dã man (Thằng ăn cắp; Bữa no đòn ;Thế cho nó chừa)
Trong khi đó, những kẻ giàu sang, ông Huyện, ông Đốc, kỹ sư, bà Cử, Bà Tham rất
lịch sự văn minh nhưng lại ăn cắp ví tiền của nhau (Cái ví ấy của ai) Nhà văn chua
chát so sánh hai hạng người ăn cắp : một hạng vì đói khát phải “ăn cắp dấm dúi để nuôi thân”, một hạng giàu có sang trọng lại “ăn cắp đường hoàng” để thõa lòng tham lam, ích kỷ
Khinh ghét bọn giàu mà bất nhân, vô đạo, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan đặc biệt sắc sảo trong việc vạch trần bộ mặt tàn ác và nhem nhuốc của chúng ,từ những quan phụ mẫu ,những cụ Chánh ,ông Lý ở nông thôn đến các ông chủ bà chủ ở thành
phố “Cái nạn ô tô; Đàn bà là giống yếu …” tiếp tục đả kích cay độc giới quan lại
Không những hống hách bóp nặn dân đen, các quan còn thẳng tay bóp nặn đám thuộc
hạ một cách trắng trợn, dơ bẩn… Và các quan lớn bề ngoài oai nghiêm nhưng lắm khi
rất mực thảm hại trước các bà lớn trong tư thất “Cụ Chánh bá mất giày” vừa đả kích
cay độc bọn cường hào ác bá , vừa vạch thói ăn cắp đê tiện của hạng giàu sang Đằng
Trang 31sau bộ mặt tôn nghiêm đáng sợ “khét tiếng trong hàng tổng”, “hét ra lửa” của cụ Chánh bá là tâm địa ti tiện của một tên ăn cắp chính tông! Cụ dàn dựng màn kịch mất giày để kiếm giầy mời rất xuất sắc: ăn cắp mà cứ oai nghiêm như không! Những ông chủ, bà chủ tư sản và cả xã hội đồng tiền cũng bị Nguyễn Công Hoan đả kích thẳng tay trong hàng loạt truyện Bọn chúng giàu có, sang trọng mà bất hiếu bất nghĩa, coi cha
mẹ như rơm rác nhưng khi cha mẹ chết thì làm tiệc tùng linh đình để lấy tiếng hiếu
thảo, giàu sang (Báo hiếu: trả nghĩa cha; Báo hiếu: trả nghĩa mẹ) Khi cần thì chúng ngọt ngào tử tế khi không còn giá trị lợi dụng thì chúng giở mặt đểu cán (Thằng điên)
Và còn nhiều chuyện chua chát về thế thái nhân tình trong cái xã hội phong hóa suy
đồi đó (Mất cái ví; Bà chủ mất trộm; Thế là mợ nó đi Tây…)
Một số truyện ngắn cảm động thể hiện tình cảm khổ cực của người nghèo, hầu hết là dân nghèo thành thị, thuộc đám “dưới đáy”:phu xe, thằng quýt, con sen, ăn mày,
lưu manh, gái điếm,…(Thằng ăn cắp; Vợ; Được chuyến khách; Thanh!dạ!; Ngậm
cười…) Ngoài ra hai truyện “Kép tư bền, Ngựa người-người ngựa” còn mang một
hương vị chua chát, những tình huống oái ăm, dở cười dở khóc của xã hội đồng tiền Tiếng cười của ông “sảng khoái hả hê” nhưng lại có ý nghĩa xã hội nghiêm túc, đối tượng đả kích chủ yếu vẫn là bọn quan lại, địa chủ, cường hào, tư sản…Song, nhà văn
nhìn rõ hơn, sâu sắc hơn vào bản chất giai cấp của chúng Ba truyện ngắn “Vẫn còn
trịch thượng; Chiếc đèn pin; Nạn râu” kể lại những chuyện bê bối của ông quan
huyện “dê già” mấy lần bị bắt quả tang mà vẫn chứng nào tật ấy một cách trơ tráo, quái gỡ, một loạt truyện khác tập trung vạch trần thói ăn tiền hết sức tệ hại của chúng
“Thịt người chết” đúng là một câu chuyện ăn bẩn ghê ghớm Ông thản nhiên mặc cả
món tiền đút lót bên xác chết Trước miếng mồi béo bỡ là món “thịt người chết”, nhà quan huyện cũng chỉ là một thứ ruồi, nhặng, cá, quạ không hơn không kém! Những
truyện “Thằng ăn cắp; Cái nạn ôtô; Ngượng mồm; Chính sách thân dân…” Mỗi chuyện là một thủ đoạn ăn tiền khác nhau của bọn quan lại Trong “Thằng ăn cướp”
nhà văn nói thẳng vào mặt bọn quan lại rằng “kẻ ăn cướp bất hợp pháp phải xin thua
kẻ ăn cướp hợp pháp!” ăn cướp một cách trắng trợn, vô liêm sỉ cao độ, không hề biết
ngượng mồm khi vòi của đút Truyện “Sáu mạng người” kể về tội ác đẫm máu của
một tên quan Đây là hiện tượng có thật và vì vậy truyện có ý nghĩa như một hành động tố cáo dũng cảm của nhà văn trước dư luận về một vụ giết người của tên quan sát nhân.Với bọn “ông chủ”, đồng tiền đã giết chết những tình cảm tự nhiên giữa người và
Trang 32người Truyện “Tấm giấy một trăm” kể về bà chủ xưởng dệt mất của cứ đổ tội ăn cắp
cho người nghèo Các ông chủ, bà chủ giàu có luôn gán tâm lý vụ lợi, hám tiền của họ
cho người nghèo với cái logic tư sản: “Trăm thằng nhà nghèo thằng nào không có tính
ăn cắp? (…) Thấy đồng tiền, đến thánh cũng híp mắt, nói chi người phàm tục như bọn mình, nói chi bọn nghèo khổ?” Và đây là giọng lưỡi kẻ đại diện pháp luật : “Trăm thằng, thằng nào cũng có một lói nói Bà ấy có quyền lơ đễnh, nhưng hễ mày lấy thì mày phải tù”( Tấm giấy bạc một trăm) Truyện “Chiếc quan tài (I)” là bức tranh
thương tâm về số phận thê thảm của người nông dân lao động, kiếp sống khốn khổ đến chết vẫn còn bị đọa đày, “gió dập sóng dồi”
“Sáng, chị phu mỏ” là truyện đặc sắc viết về người phụ nữ công nhân không
những nhà văn nói được phần nào tình cảnh lầm than, khổ cực của người thợ mỏ bị bóc lột tàn tệ mà còn phát hiện ra nhân phẩm đẹp đẽ và sức phản kháng tiềm tàn mà mãnh liệt của họ Hình ảnh “ông chủ Tây” được miêu tả khá sắc sảo Chỉ vài câu nhà văn đã lột trần bộ mặt đểu cáng, miệt thị người bản xứ của tên tư bản thực dân dâm ô Bên cạnh đó Nguyễn Công Hoan còn có những truyện ngắn đề cập thẳng tới những chủ trương chính sách của nhà nước thực dân với thái độ chế giễu cay độc
“Tinh thần thể dục (I, II)” là hai truyện ngắn chung chủ đề đã lật mặt trái cái chủ
trương thể dục thể thao bịp bợm của chính quyền thực dân Cuộc đá bóng mà quan trên, quan dưới dàn dựng hết sức hăng hái, đôn đốc người xem một cách gắt gao ấy đối với dân nghèo chỉ là một tai họa, họ phải van xin lạy lục, đút lót, lẩn trốn,… Và cuối cùng, trời chưa sáng cả làng náo loạn vì cuộc lùng sục, tróc nả những kẻ…được cử đi
xem đá bóng mà lẩn trốn “Đào kép mới” là một truyện ngắn ám dụ, đả kích vào trò hề cải tổ Nam triều-một âm mưu thâm độc của thực dân Pháp Cặp truyện “Tôi cũng
không hiểu tại sao (I, II)” không những thể hiện khá chân thực kiếp làm thuê của một
anh công chức nghèo trước cái uy quyền láo xược của đồng tiền mà còn có ý nghĩa thức tỉnh cái thân phận tủi nhục của người nô lệ mất nước
Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thường là một cảnh tượng, một tình thế mâu thuẫn đậm chất hài trong cái tấn trò đời nhố nhăng, đồi bại ấy Hầu hết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan được xây dựng với mục đích gây cười nhưng những vấn
đề nhà văn phản ánh đều xuất phát từ thực tế của xã hội hay nói cách khác cái thực trạng xã hội ấy là cơ sở, tiền đề cho cảm hứng umua của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng 8 – 1945
Trang 332.3 Đối tượng của chất umua trong các truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng 8- 1945
Bản chất cuộc sống là cái bi và cái hài thường xen lẫn, một nhà văn hiện thực chân chính không thể không phản ánh xã hội như bản chất vốn có của nó Hơn nữa, trong cái xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng tháng Tám, không thiếu gì những cái xấu xa, giả dối, kệch cỡm, đáng khôi hài Nói như Nguyễn Công Hoan: đối
tượng để trào phúng “vô thiên lủng”, và ai không cười là “lãng phí quá mức sự đúng
đắn một cách không cần thiết”
Thực ra, những truyện đi xuống trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX thì nhan nhản và là nội dung chủ yếu của thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Thiện Kế…Bản thân Nguyễn Công Hoan cũng sống giữa xã hội giữa giao thời
ấy nên chúng ta dễ hiểu vì sao ông gần gũi và dễ có cảm tình với các nhà thơ ấy, xem các vị là những người đồng tình, đồng điệu Là người kế thừa và phát huy truyền thống trào phúng của văn học dân tộc nói chung, tiếng cười Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà nói riêng, Nguyễn Công Hoan khai thác dồi dào tiếng cười của văn học dân tộc Ấy là truyện cười, truyện tiếu lâm Những điều “mắt thấy tai nghe”, “cảnh xuống cấp của xã hội”, ông đều nhìn bằng con mắt của người “hay pha trò, hay ỡm ờ, hay chế giễu, hay chua chát”– như chính ông nhận xét về mình Nhìn vào đâu, ông cũng thấy toàn những trò cười, nhất là khi trong xã hội Việt Nam lúc ấy có biết bao
nhiêu là chuyện buồn cười
Khi bàn về yếu tố hài hước trong cuộc sống và nghệ thuật Tsecnưsepxki có đưa
ra một định nghĩa có tính chất triết học Ông cho rằng bản chất của hài kịch là “sự
trống rỗng và sự vô nghĩa bên trong được che đậy bằng một vẻ ngoài huênh hoang tự cho rằng nó có nội dung và ý nghĩa thật sự? Do đó, cái xấu hiểu theo nghĩa rộng của
từ này, là nguồn gốc, là bản chất của hài kịch nhưng phải là cái xấu không biết mình
là xấu, nghĩa là sự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức” Đọc Nguyễn Công Hoan,
thấy không ít trường hợp đúng với nghĩa trên và dễ dàng bắt gặp chỗ này, chỗ khác, những dáng dấp, cung bậc khác nhau của cái hài Những vấn đề xã hội, vấn đề đạo đức trong quan hệ gia đình mà Nguyễn Công Hoan phản ánh qua tác phẩm của mình thường mang một vẻ ngoài đẹp đẽ, có ý nghĩa nhưng tính chất bên trong lại xấu xa vô nghĩa Tiếng cười trong tác phẩm thường bậc ra từ sự bộc lộ xung đột giữa hình thức
và nội dung của sự việc và con người Mỗi ngòi bút đều có cách khai thác và thể hiện
Trang 34vấn đề theo một cách riêng Nếu tiếng cười của Nam Cao thấm lẫn, đượm vẻ bi thương, tiếng cười của Ngô Tất Tố dí dỏm, sâu sắc, thăng trầm, tiếng cười Vũ Trọng Phụng hài hước, giễu cợt, sâu cay thì tiếng cười Nguyễn Công Hoan giòn giả, hả hê, tinh quái, tiếng cười có thể tung hê tất cả, san bằng tất cả Là người có trí tuệ sắc sảo, bản thân lại có năng khiếu hài bẩm sinh Nguyễn Công Hoan rất nhạy cảm trong việc nhận ra những mâu thuẫn trái tự nhiên vốn đầy rẫy ở xã hội đương thời Chính Nguyễn
Công Hoan tự nhận xét: “Tôi là một người bi quan, hoài nghi, nên khinh thế ngạo vật,
hay đùa và hay chế nhạo Sống dưới chế độ thực dân, tôi thấy cái gì cũng là giả dối, lừa bịp (…) cho nên tôi hay chế giễu, mỉa mai để khôi hài tất cả việc khôi hài Tôi coi thường tất cả Tất cả, đối với tôi chỉ là trò cười Vì vậy, tôi hay pha trò cười” (Đời viết văn của tôi) Với cách nhìn về cuộc đời như vậy, Nguyễn Công Hoan đã chế giễu, mỉa
mai, châm biếm, đả kích không thương tiếc từ bọn quan lại hãnh tiến đến bọn địa chủ cường hào, ác bá ở nông thôn rồi đến bọn thanh niên nam, nữ “hư hỏng” đua đòi theo lối sống Âu hóa với biết bao truyện bỉ ổi, vô đạo, vô luân Tất cả, trong quan niệm của Nguyễn Công Hoan đều như lăng nhục đối với đạo đức đối với những giá trị văn hóa
cổ truyền Và ông đã ném ra đời những tiếng cười trào phúng đầy cay đắng và căm uất
Tài năng khám phá ra chất umua khi đứng trước xã hội để dựng truyện của Nguyễn Công Hoan vô cùng độc đáo và đa dạng Dưới mắt Nguyễn Công Hoan con
người luôn tồn tại dưới dạng tương phản tốt-xấu ( Báo hiếu, trả nghĩa cha ; Báo
hiếu,trả nghĩa mẹ…), chân thật và giả dối(Thằng điên; Thế là mợ nó đi Tây; Tôi tự tử,
Cụ Chánh bá mất giầy…) đạo đức và vô đạo, có lương tâm và bất lương (Thịt người chết; Một tấm gương sáng; Mua bánh; Răng con chó nhà tư sản…) Đối với Nguyễn
Công Hoan con người luôn được nhìn nhận ở hai bình diện lủng củng, xung khắc nhau , con và người; bản năng thân xác và trí tuệ lý trí; nói và làm; thực sự sống như thế nào
và lẽ ra sống như thế nào? Trên nền tảng tư tưởng nói trên, Nguyễn Công Hoan đã phát hiện ra hàng loạt tình huống hài hước, đáng cười để dựng truyện
Có cái nhìn đời tương đối giống với một số nhà thơ, nhà văn như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tú Mỡ, Đỗ Phồn, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… nhưng cách thể hiện của Nguyễn Công Hoan lại tồn tại ở nhiều dạng thức trào phúng khác nhau, khám phá chất umua có ở nhiều mặt trong xã hội, Nguyễn Công Hoan đã chĩa thẳng ngòi bút của mình để phanh khui, mổ xẻ Điều đáng nói là Nguyễn Công Hoan
Trang 35không hoàn toàn giống những nhà văn khác trong dòng hiện thực trào phúng Khi các nhà văn này đi sâu vào thực tế đau thương, cúi xuống người nghèo khổ mà họ thấy gần gũi, ghi chép lại những cảnh sống đọa đày để tố cáo, đả kích cái xã hội mà toàn thấy những bất công, tàn nhẫn thì Nguyễn Công Hoan, thiên về việc khám phá trong hiện thực những mâu thuẫn, những cảnh trái ngược nhau có khả năng làm nổi bật lên tiếng cười và lấy tiếng cười đó phê phán xã hội Nhưng đi vào hiện thực bằng con đường trào lộng không phải lúc nào Nguyễn Công Hoan cũng cười như lúc nào, có khi ông cười thanh thản, nhẹ nhàng như cái cười trong truyện khôi hài của văn học dân gian Có khi cười gượng gạo, có khi cười chua xót, đắng cay lại có khi quan sát hiện thực, ông định cười mà không cười nổi vì sự thực quá bi đát
Đọc truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, ta thấy những ung nhọt của xã hội được phơi bày một cách rõ nét, có khi cái cười đó hướng về những người nghèo khổ, đáng thương Điều đó đã khiến nội dung, tư tưởng ở một số tác phẩm của Nguyễn Công Hoan có phần lạc lõng Nhưng chung qui Nguyễn Công Hoan đã sử dụng bút lực của mình khá hiệu quả khi miêu tả những chuyện đáng cười đang diễn ra trước mắt ở những thành phần, lớp người cụ thể trong xã hội đương thời
2.3.1 Quan lại và bọn thực dân
Với trên hai trăm truyện ngắn, càng đọc chúng ta càng thấy cái phong phú, đa dạng, độc đáo của việc khai thác vấn đề một cách trào phúng, hấp dẫn Nguyễn Công Hoan vốn hiểu biết nhiều lọai người, từ lời ăn, tiếng nói đến hành vi, cử chỉ, bụng dạ, tâm tình của họ cũng nhờ thế mà Nguyễn Công Hoan đã xây dựng thành công nhiều nhân vật điển hình của trò đời lố lăng, mục nát Trong cuộc sống những hiện tượng dường như không có chút hài hước nào nhưng với con mắt biết “thiên biến vạn hóa” sàng lọc của người nghệ sĩ, như Nguyễn Công Hoan thì những trang viết về cuộc sống của ông lại lấp lánh cái hài Vì thế ông dễ dàng có ngay một góc độ để lia ống kính chiếu thẳng vào những cái đáng cười, đáng giễu Đọc hàng loạt các truyện ngắn của ông ta sẽ không thể không cười với sự xuất hiện lố bịch của bọn quan lại từ quan huyện, tri châu, tuần phủ, quan Nghị…đến bọn lính lệ, cai tuần Nguyễn Công Hoan
đã để người đọc nhìn rõ hơn, sâu hơn vào bản chất giai cấp của chúng Những tên quan lại quyền thế hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Công Hoan đã khiến người đọc phải nhếch mép cười một cách khinh bỉ
Trang 36Để cái đáng cười ngày càng trở nên đáng cười khi khắc họa nhân vật, Nguyễn Công Hoan cũng giống nhiều cây bút truyện ngắn trào phúng khác, thường thiên về
ngoại hình ít tả nội tâm Đúng như E.G.Puctnheva nhận xét: “Tính chất hài của các
tính cách được bộc lộ chủ yếu ở những nét bề ngoài và hành vi của con người: ngoại hình, cử chỉ, điệu bộ, hành động” Chẳng hạn, mở đầu truyện ngắn “Đồng hào có ma”
Nguyễn Công Hoan đã lập luận một cách vừa dí dỏm tinh quái vừa hiểm hóc phủ phàng về một tên quan tri huyện Hắn béo một cách đáng sợ, đó là cái béo của bọn phát phì và thích “ăn bẩn” Trong truyện tên quan tri huyện với bề ngoài thì xấu xí,
béo ục béo ịch “ Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá có thằng nào vô ý buộc mồm nói
ra một câu sáo rằng: “Nhờ bóng quan lớn” là ông tưởng ngay nói xỏ ông, tức thì mặt bàn là một mặt nó là hai bị vả đôm đốp” và bên trong thì đê tiện xấu xa Ngòi bút
Nguyễn Công Hoan đã khai thác sự đồng nhất giữa hình thức và nội dung một cách triệt để Ta phải thấy rằng hầu hết bọn quan lại được dựng lên trong những trang viết của Nguyễn Công hoan đều có một cái gì đó khiến người khác phải toe toét mà không
nhịn được cười Bên cạnh đó, hành động của tên tri huyện trong “Đồng hào có ma” mới đê tiện, hèn hạ “ ông huyện Hinh cứ ngồi yên sau bàn giấy để nhìn con mẹ khốn
nạn Rồi khi thấy nó đã đi khuất ông mới đưa mắt xuống chân dịch chiếc giầy ra một tí
và vẫn tự nhiên như không, ông cúi xuống, thò tay nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở giày bám vào, rồi bỏ tọt vào túi” Đây là một tên quan đã quen
thói luồng lách ăn chặn, ăn cướp từng đồng từng cắt của dân đen “Đồng hào có ma” làm ta liên tưởng đến truyện ngắn “Cái chết của một viên công chức” của Sêkhôp,
trong đó một viên chức vừa giờ tay cầm đồng tiền hối lộ thì cũng vừa lúc lão giám đốc vào phòng hắn sợ quá cứ để nguyên đồng tiền trong lòng bàn tay và nói với người dân:
“Kìa, mày để quên cái gì trong tay tao kìa” Sự hài hước ở đây là một tên quan huyện
mà lại có thói quen ăn cắp vặt một cách ti tiện và bẩn thỉu Đến truyện “Thằng ăn
cướp” thì không còn là một thói ti tiện, ăn bẩn mà bọn quan lại hiện nguyên hình là
một tên ăn cướp Một tên cướp đường đường chính chính dùng mọi uy quyền cướp lại món tiền của thằng ăn cướp để bỏ túi riêng Khiến thằng ăn cướp phải bỏ nghề vì “như vậy tôi còn có thể theo đuổi được nghề ăn cướp để bị cướp lại nữa không” chất umua bật lên ở chỗ đó, một thằng “cướp đêm” lại khiếp sợ trước một thằng “cướp ngày” Kết thúc câu truyện khiến ta sực nhớ tới câu ca:
Trang 37“Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”
Rõ ràng ở xã hội ấy bọn quan lại được sinh ra để áp bức, bóc lột, đè đầu cỡi cổ người dân một cách không thương tiếc Đã qua hẳn rồi cái thời làm quan để thực hiện
lí tưởng hành đạo, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích, công bằng cho nhân dân Những bọn quan lại giờ đây lấy quyền hành để làm ngược lại tất cả những gì có ích cho nước nhà cho dân tộc Chẳng những thế, chúng còn bất chấp dư luận xã hội để thực hiện những việc xấu xa, nhơ nhuốc ấy mà không biết thẹn:
“Chỉ cốt túi mình cho nặng chặt Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen”
(Nguyễn Khuyến-Tặng ông Đốc học Hà Nam)
Còn hàng loạt những tên tham quan, ô trọc được xây dựng dưới ngòi bút đả kích, châm biếm của Nguyễn Công Hoan và có lẽ khiến chúng ta ngỡ ngàng nhất là
câu chuyện “Thịt người chết” Một tên quan huyện tư pháp không ngần ngại mở miệng cò kè ăn tiền bên cạnh cái xác thối khi giờ đây “những khách đi đường, vì vô ý
hoặc bất đắc dĩ phải đi qua đều che nón, ngậm miệng và đến chỗ xa” ngược lại với
những con người ấy, quan Huyện sẵn sang đứng đó, đi đi lại lại để kiếm cho bằng
được một vât “rắn hơn đá” “nó làm bằng loại bạc” Nếu không thì cái thây anh cu
Xích cứ phải để đó cho lũ ruồi, lũ nhặng, lũ cá, xỉa xói rút rỉa Qủa thật, đây là một câu chuyện thương tâm chẳng đáng cười nhưng rồi người đọc phải cười chua xót vì cách
ăn tiền tài tình và độc ác của tên quan Huyện phi pháp Cha mẹ anh Xích sẽ không thể nói tiếng “không” với quan trên khi đứng trước cái thây đang từng giờ mục rã của con mình Ở đây đồng tiền là thứ có sức mạnh lớn nhất, chỉ có nó mới có thể biến một người “có trái tim sắt đá” trở thành một người “có trái tim dễ cảm”
“Thời buổi này là “đời bạc giấy”
Phẩm giá con người cũng lấy đấy mà đo”
(Tú Mỡ)
Trong hai truyện “Ngượng mồm” và “Gánh khoai lang” Chất hài hước của
Nguyễn Công Hoan trong hai truyện không hoàn toàn giống nhau nhưng ta dễ dàng nhận ra cách thức và năng lực “ăn của đút” của bọn quan trên Một sự việc logic được Nguyễn Công Hoan xây dựng đó là hiện tượng “cá lớn nuốt cá bé” và “cá bé nuốt cá
bé hơn” Cả hai tên quan Huyện trong truyện đều có sở thích như nhau, chẳng những
Trang 38chúng thích ăn tiền của dân đen mà chúng còn thích cả việc ăn tiền của những tên quan dưới quyền mình Để rồi những tên đó phải bấu víu, đè đầu lại “bọn dân đen” Cuối cùng cuộc sống của người dân đen là u ám, cùng cực nhất Hai tên quan Huyện đã ăn của đút một cách thẳng thừng mà không hề “ngượng mồm ngượng miệng” Cả hai kết thúc truyện đều để lại cho người đọc một dư vị của cái hài cùng với sự châm biếm rất
thẳng thừng của Nguyễn Công Hoan: “Chứ mình thì mình ngượng mồm đến chết
Không trách, mình không làm được quan cũng phải” (Ngượng mồm) và “rồi cũng chẳng ngượng miệng tí nào và là như động lòng thương người thuộc hạ phải gánh gồng nặng nề, ngài dịu dàng dạy: thế còn hai thúng khoai ban nảy đâu, đem vào đây nhé!”(Gánh khoai lang)
Đối với cái xã hội của bọn chúng, khiếu hài hước sắc bén của Nguyễn Công
Hoan đã khai thác được khá nhiều mặt của vấn đề Như trong truyện “Đàn bà là giống
yếu”, tên quan tri phủ không những sống trên mồ hôi nước mắt của người dân mà còn
là một thằng đàn ông đớn hèn Là một vị quan bề thế nhưng phải bị vợ mắng như tát nước vào mặt Một câu chuyện được Nguyễn Công Hoan xây dựng dựa trên sự trái ngược của đạo lý cộng với một kết thúc đột ngột, bất ngờ đã làm chúng ta bật lên tiếng cười giòn giã Sự châm biếm đả kích nhân vật thường gắn với chức năng xã hội của nhân vật Bằng những hình ảnh phóng túng, suồng sả truyện mang lại tiếng cười giễu cợt sâu cay đối với những con người lố lăng vô sỉ Một loại đàn bà loạn luân nhưng lại lên mặt dạy đời chồng, mắng nhiếc chồng một cách thậm tệ Sự xung đột gay gắt đến cao trào nhưng ngòi bút của Nguyễn Công Hoan đã bẻ gãy với kết quả thắng thế thuộc
về quan bà Sự hài hước trong truyện chính là chỗ đó, một quan tri phủ “hét ra lửa” bị
vợ “cắm sừng” mà vẫn “ngậm bồ hòn làm ngọt”, vuốt ve, van xin rồi chiều chuộng Ta
có cảm giác thật trái khoáy, không hợp lí nhưng đó lại là sự thực đã từng tồn tại trong
xã hội lúc bấy giờ
Trong truyện “Tôi tự tử” tiếng cười ở đây không đơn giản là mỉa mai, giễu cợt
mà nó còn mang một sức mạnh tố cáo, lên án kịch liệt Nguyễn Công Hoan nâng các đặc điểm vốn có không chỉ lên mức khôi hài lố bịch, mà còn trơ tráo, trắng trợn Một tên quan vô đạo đức, thiếu trách nhiệm nhưng lúc nào miệng cũng nói “oang oang” luân thường đạo lí, yêu nước thương dân Hành động “tự tử” khiến người đọc phải phục sát đất cái tài nghệ của con người hai mặt Tiếng khóc nức nở của hắn đúng là diễn xuất của một diễn viên chuyên nghiệp
Trang 39Chẳng những độc ác, tàn nhẫn trong việc ăn của đút mà bọn quan lại trong guồng máy thực dân, phong kiến này lại là hạng vô cùng bỉ ổi, vô liêm sỉ Qua truyện
“Xuất giá tòng phu”, một tên quan sẵn sàng đánh vợ bắt vợ phải đi hiến thân cho cấp
trên Đúng là không còn việc làm nào bẩn thỉu, ti tiện hơn Là một con người không ra
gì dựa vào đàn bà để thăng quan tiến chức mà không biết thẹn còn lên mặt làm chồng,
lấy luân thường đạo lý ra mà xỉ vả vợ “Là vợ mà chồng bảo không nghe Luân lí để
đâu ?Giáo dục để đâu?” Chẳng những đây là câu chuyện đáng cười bởi nó nghịch lí
với đạo đức con người mà còn đáng cười bởi xã hội ấy đã sản sinh ra những con người làm việc bẩn mà tưởng mình là người tử tế Con người ấy đã không thẹn với vợ mà sợ thẹn với cấp trên nếu vợ không đi “hiến thân” như lời đã hứa Ở đây nhân vật tự
nguyện “được cắm sừng” khiến ta nhớ đến ông Phán dây thép trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng khi ông tự giới thiệu về mình: “Kính chào ngài! Thưa ngài, tôi là một
người mọc sừng” [23;Tr82] hay những cái khẩu hiệu: “Sự đại bại vạn tuế, vạn tuế”,
“vạn tuế những ông chồng mọc sừng” đã phơi bày ra một xã hội điên đảo, lật tung
mọi quy luật, trật tự vốn có Cả Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng đã phản ánh một xã hội đầy nghịch lí, đáng nêu lên để cùng cười, cùng thấy rằng xã hội ấy đang giẫm đạp lên mọi giá trị và đề cao sự phi nghĩa
Bên cạnh những bậc “đại quan”, ngòi bút châm chọc của Nguyễn Công Hoan cũng không tha cho thói xấu xa, đê tiện của vợ con chúng hay nói cách khác đó là những “quan bà” chua ngoa, độc địa với khá nhiều thủ đoạn để chèn ép, bóc lột những
kẻ dưới quyền không thua đức “lang quân” Trong truyện “Qủa mít” từ đầu đến cuối
Nguyễn Công Hoan kể rành mạch sự hình thành và lớn lên của quả mít dưới sự quan sát của bà Huyện, một mụ quan bà tham lam không biết lẽ đúng sai, phải quấy Của
nhà người khác nhưng mụ ngang nhiên giành giật lấy về mình “ Ấy tôi đã súy quả
này rồi đấy, để tôi về trình với quan ông” thật đáng nực cười với cái lý lẽ đó của bà
Huyện, chỉ cần cái gì bà thích, bà “súy” thì cái đó thuộc về bà vì công lý đang nằm trong tay ông Huyện chồng bà Càng đọc thì càng thấy bà Huyện ti tiện đến lạ thường Chẳng những bà đã dùng quyền lực của chồng để được quả mít mà còn kiếm chác thêm đúng “bảy hào”
Một bà Huyện khác trong truyện “Mua lợn”, cố nhiên đây là một con người sang trọng, mang hơi hướng của lối sống Tây: “Bà không rẽ giữa, không đội khăn và
cũng không mặc quần thâm như một ai ở chợ Bà đi đôi giày dừa” Nhưng khi thực
Trang 40hiện hành vi kẻ mua người bán thì bà Huyện lộ rõ nguyên hình là một con người keo kiệt, bủn xỉn, gian manh, xảo trá Muốn được ăn ngon nhưng không muốn phải tốn nhiều tiền Dùng uy lực của chồng để cướp lại của anh Mấu ba đồng bạc tiền mua lợn Tiếng cười trong hai câu truyện trên mang nét hài hước châm chọc giống nhau Nguyễn Công Hoan đã vẽ nên một cách sinh động tính cách của loại đàn bà cậy quyền cậy thế, tham lam, bủn xỉn
Ở truyện “Mua bánh” thì tiếng cười của Nguyễn Công Hoan trở nên chua chát,
đau đớn hơn Cũng là sự xuất hiện của bà Huyện dựa quyền dựa thế nhưng trình độ độc ác của bà thì tăng gấp bội Bà dùng quyền hành của mình để bắt một thằng bé mười bốn tuổi không biết đường, biết xá đạp xe hơn hai ba kilomet lên Hà Nội để mua cho kỳ được chiếc “bánh sừng bò” để thằng quý tử nhà bà đừng quấy khóc Một lòng thương con mình nhưng con người ta thì đối xử tàn nhẫn vô lương tâm Bà thấy con trai mình khóc thì bà “xót” nhưng lại không màng đến sinh mệnh của thằng đi ở Đây không đơn giản là câu chuyện lộng quyền mà đứng ở khía cạnh đạo đức, lương tri Bà Huyện đã phạm một tội ác không thể tha thứ được, tội ác của những con người chỉ biết sống cho riêng mình Quan niệm giai cấp, giàu- nghèo trong đầu óc của những người giàu sang, có thế lực được phân chia rạch ròi đến tàn nhẫn Câu chuyện này góp phần
đả kích sâu cay những hạn người bất lương, không cảm xúc Qủa thật câu chuyện kết
thúc đúng như câu “nhà giàu đứt tay hơn ăn mày đổ ruột”
Ngòi bút Nguyễn Công Hoan không chỉ dừng lại ở bọn quan lại thực dân mà còn góp phần mạnh mẽ vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của những con người thực hiện chính sách thực dân xấu xa, đê tiện nhưng lúc nào cũng được che đậy bằng bộ
mặt đẹp đẽ, sang trọng: “Cái gì cũng là giả dối, đáng khôi hài Thế mà thằng làm trò
khôi hài là thằng thực dân lại làm ra mặt nghiêm chỉnh Thật là buồn cười” (Đời viết văn của tôi) Nhiều tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đã đánh thẳng vào bọn thực dân
và những chính sách xảo quyệt của chúng như: Sáng, chị phu mỏ; Đào kép mới; Tinh
thần thể dục;…Sự nhạy bén trước những mâu thuẫn của xã hội và con người giúp
Nguyễn Công Hoan tạo nên những “chuỗi cười dài” nhiều màu sắc
Trong “Tinh thần thể dục” trong khi nhân dân ta đang sống trong cảnh lầm than,
chạy ăn từng ngày, từng bữa mâu thuẫn toát lên bên trong của những chính sách phi lí, ngược đời đã làm bật lên tiếng cười đả kích mạnh mẽ Nguyễn Công Hoan không những kể lại những chuyện đáng khóc đáng cười trong xã hội cũ mà ông còn chỉ ra