Tác giả nêu ra một số phương pháp dạy văn tích cực như: phương pháp đọc diễn cảm, phương pháp gợi mở, phương pháp nêu vấn đề…Nhưng để việc dạy học ngữ văn đạt hiệu quả cao, các tác giả đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
VÕ THỊ DIỄM MY
THIẾT KẾ CÁC BÀI DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN, GIAI
ĐOẠN 1930 – 1945 TRONG SÁCH GIÁO KHOA
Trang 2ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT THIẾT KẾ CÁC BÀI DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN,
GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 TRONG SGK NGỮ VĂN 11, TẬP 1,
2.4 Yêu cầu và cách thiết kế đối với bài tập thảo luận nhóm
2.4.1 Yêu cầu đối với bài tập thảo luận nhóm 2.4.2 Cách thiết kế bài tập thảo luận nhóm 2.5 Vai trò của người giáo viên trong thảo luận nhóm
1930 – 1945 TRONG SGK NGỮ VĂN 11, TẬP 1, BỘ CƠ BẢN
Trang 31 Một số vấn đề về thể loại truyện, giai đoạn 1930 – 1945 trong SGK Ngữ Văn 11, tập 1, bộ cơ bản
Hai đứa trẻ - Thạch Lam 2t
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân 2t
Hạnh phúc của một tang gia – Vũ Trọng Phụng 2t
Chí Phèo – Nam Cao 3t
C.PHẦN KẾT LUẬN
Trang 4QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Ngữ Văn là một trong những môn học quan trọng ở nhà trường phổ thông Bên cạnh các môn học như Toán, Lí, Hóa, Sinh…nghiêng về phát triển tri thức khoa học tự nhiên, thì Ngữ Văn cùng với các môn Lịch sử, Địa lí, Anh văn…lại thiên về mặt phát triển tri thức khoa học xã hội của học sinh
Có thể nói, việc dạy văn từ xưa đến nay không phải là điều dễ dàng đối với các giáo viên ở bậc THPT nới riêng và các bậc học khác nói chung Vì vậy, tìm một phương pháp dạy học Ngữ Văn thích hợp luôn là một nỗi trăn trở lớn cho những ai đã, đang và
sẽ là giáo viên
Đặc biệt, trong những năm gần đây, thực trạng dạy- học văn đang trên đà báo động
Học sinh ngày càng tỏ ra nhàm chán và hờ hững với môn Ngữ Văn Vì vậy, chủ trương đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn đã được Bộ Giáo dục triển khai rầm rộ trên phạm vi cả nước Điều đó được minh chứng bằng sự xuất hiện ngày càng nhiều những giáo án dạy văn có sự kết hợp của nhiều phương pháp dạy học hiện đại và tích cực
Là một sinh viên năm cuối ngành sư phạm, người viết nhận thấy việc thích ứng với xu hướng mới này là một điều vô cùng cần thiết Do đó, người viết đã chọn đề tài
“Thiết kế các bài dạy tác phẩm truyện (giai đoạn 1930- 1945) trong chương trình SGK Ngữ Văn 11, tập 1 ( Bộ cơ bản)” Đây vừa là điều kiện để người viết tìm hiểu sâu hơn nội dung chương trình học, góp phần vào quá trình dạy học trong tương lai, vừa là cơ hội để người viết thể hiện khả năng, kiến thức và kinh nghiệm của bản thân Đó chính
là những lí do để người viết lựa chọn và thực hiện đề tài này
II Lịch sử vấn đề
Đối với đề tài mà người viết lựa chọn, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công
trình nghiên cứu, tìm hiểu Mỗi công trình đều có những ưu điểm riêng Tuy nhiên, các công trình đều có một số mặt hạn chế nhất định Sau đây, người viết sẽ nêu ra một vài công trình cụ thể:
Trước tiên, trong quyển “ Phương pháp dạy học văn” [21], tác giả đã nêu lên
những hạn chế của các phương pháp dạy học truyền thống Đồng thời, tác giả đã phân tích hiệu quả của các phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay
Trang 6Tác giả nêu ra một số phương pháp dạy văn tích cực như: phương pháp đọc diễn cảm, phương pháp gợi mở, phương pháp nêu vấn đề…Nhưng để việc dạy học ngữ văn đạt hiệu quả cao, các tác giả đề ra phương châm là người giáo viên phải biết kết hợp nhiều
phương pháp giảng dạy khác nhau để tạo nên tính cân đối, toàn diện vì: “ Mỗi phương
pháp đều có mặt mạnh và mặt yếu riêng Người sử dụng phương pháp phải làm chủ
được phương pháp và biết phối hợp các phương pháp khác nhau để đạt hiệu quả tối ưu” [ 21; tr.20] Tuy nhiên, công trình còn nặng về mặt lí thuyết, các tác giả chưa đưa
ra những ví dụ minh họa cụ thể trong quá trình nghiên cứu khiến người đọc khó nắm bắt rõ ràng
Trong quyển “Văn chương và phương pháp giảng dạy văn chương” [23], tác
giả cũng đã chỉ ra những nhược điểm của phương pháp dạy văn truyền thống (tác giả gọi là phương pháp dạy học trung cổ) và những điểm hạn chế trong chương trình dạy học Ngữ Văn hiện nay Các tác giả đã khẳng định mạnh mẽ sự lỗi thời, lạc hậu của lối dạy học kiểu truyền thụ, thầy đọc- trò chép Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã chỉ ra
được hiệu quả của hệ phương pháp dạy học hiện đại Đó là phương pháp dạy- học mà
người giáo viên có vai trò “ tổ chức, định hướng, điều khiển” để học sinh phát triển tính tích cực, chủ động qua các hoạt động “ giao tiếp, đối thoại, tranh luận” Nhìn
chung, công trình đã nghiên cứu khá kĩ và đưa ra một số giải pháp rất hiệu quả cho hoạt động dạy học văn hiện nay
Còn trong công trình “ Dạy văn, học văn” [1], tác giả đã chủ trương dạy học
theo khuynh hướng phát triển tư duy Đồng thời, tác giả còn đề xuất các công việc và phương pháp để phát huy tối đa hiệu quả của cách dạy này Có thể nói, quyển sách đã
đút rút kinh nghiệm của nhà giáo nhân dân Đặng Hiển qua bao nhiêu năm trong nghề
Tác giả đã lấy dẫn chứng cụ thể từ những học trò của mình được áp dụng phương pháp dạy học theo kiểu phát triển tư duy này
Giáo trình “ Lí luận dạy học Ngữ Văn” [5] của nhóm giảng viên trường đại học
Cần Thơ đã nêu lên cụ thể quan điểm lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy
học Điều đó được thể hiện rõ qua năm định hướng dạy học của Mazano: “ Phương
pháp dạy học tích cực là tích hợp thường xuyên các mối quan hệ giáo dục như: trò - lớp - thầy trong quá trình dạy học Trong đó, trò là chủ thể”[5; tr.28] Điểm nổi bật
của bài giảng này chính là các tác giả đã hệ thống lại một cách khoa học các phương pháp dạy học để phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh như: phương pháp đàm
Trang 7thoại, phương pháp đọc diễn cảm, phương pháp trực quan…Ở mỗi phương pháp, tác giả có nêu những ví dụ minh họa cụ thể, giúp người đọc dễ nắm bắt và hiểu sâu hơn vấn đề Có thể nói, bài giảng này là một trong những cơ sở lí luận quan trọng cho việc
áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại vào giảng dạy văn chương
Trong bài viết “ Giải pháp để học sinh yêu văn học” [11], tác giả đã thẳng
thắng nêu rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng dạy học văn
đang sa sút hiện nay là do văn học trong nhà trường và văn học ngoài đời có khoảng
cách khá lớn;tâm lí học sinh ngày càng thay đổi mạnh mẽ; cuộc sống xã hội diễn biến phức tạp; văn học trong nhà trường đi quá chậm so với thành tựu khoa học của lí luận văn học, nghiên cứu văn học; khủng hoảng phương pháp dạy học, tâm lí xem nhẹ giá trị của môn văn so với các môn học khác…
Đồng thời, người viết cũng đưa ra những giải pháp thiết thực để khơi gợi niềm
hứng thú của học sinh đối với môn văn như thay đổi chương trình sách giáo khoa ngày càng gắn với thực tế; đổi mới phương pháp dạy; thay đổi nhận thức của mọi người về môn văn; cải tiến cách thức thi cử, kiểm tra…
Nhìn chung bài viết đã nêu khá kĩ càng và sâu sắc những bất cập trong tình trạng dạy học văn hiện nay và có những giải pháp khắc phục tương đối phong phú
Mở đầu bài viết “ Dạy và học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông” [12],
tác giả cũng đã nêu lên một trong những nguyên nhân chính làm cho học sinh chán học văn là do giáo viên Từ đó, bài viết đã được triển khai xung quanh vấn đề: làm thế nào để người thầy trên bục giảng giúp các em yêu thích môn văn? Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hồng đã đưa ra những biện pháp để cải thiện cách dạy văn của giáo viên bằng những ví dụ cụ thể trong phương pháp dạy học tác phẩm thuộc các thể loại tùy bút, kịch bản văn học, văn học trung đại Theo tác giả, những yếu tố mà người giáo viên cần có trong quá trình dạy học, ngoài những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm của bản thân chính là kĩ năng đạo diễn lớp học, giờ học cộng với sự tự tin, vui vẻ, gần gũi trong quan hệ với học sinh Có như thế, một giờ văn mới có được sức hấp dẫn riêng biệt và độc đáo
Trong bài viết “Tổ chức đối thoại trong dạy học văn” [4], tác giả đã nêu lên
điểm cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường hiện nay là
đề cao vai trò chủ động, tích cực của học sinh, coi học sinh là “ bạn đọc sáng tạo”
Trang 8Trên cơ sở đó, bài viết đã đưa ra một phương pháp dạy học mới, đó là phương pháp
đối thoại, chuyển từ đối thoại bên trong “ cái tôi” sang đối thoại “ tôi với người khác”
Bài viết đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể bằng một số tác phẩm có sử dụng phương pháp này Nhưng bài viết chưa nói rõ phạm vi áp dụng của phương pháp này là thuộc các bài học dạng nào Tuy nhiên, người viết nhận thấy đây cũng là một phương pháp khá hay có thể vận dụng vào quá trình dạy học
Đến với Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Kim Phụng [12], công trình
này đã đi vào nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy Ngữ Văn
ở lớp 11A5, Trường THPT Nguyễn Việt Hồng
Người viết nhận thấy tác giả đã nêu ra hai phương pháp mới, đó là phương pháp KUA
và phương pháp tổ chức hoạt động học tập tại cộng đồng, có thể vận dụng vào việc soạn giáo án trong phần sau của luận văn này
Có thể thấy, qua những công trình vừa kể trên, ta thấy việc đổi mới phương pháp dạy học văn thực sự là một vấn đề phức tạp, không dễ thực hiện một ngày một bữa mà phải tiến hành trong một khoảng thời gian lâu dài Điểm chung của các công trình trên là đã nêu lên được tính cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học văn Tuy nhiên, mỗi tác giả đều có lí lẽ riêng để bảo vệ ý kiến của mình Bên cạnh đó, các công trình vẫn còn một số hạn chế nhất định Nhưng thiết nghĩ, những gì các tác giả nêu ra đã cung cấp cho người viết những kiến thức bổ ích để hoàn thành luận văn của mình
III Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Thiết kế các bài dạy tác phẩm truyện ( giai đoạn 1930- 1945)
trong SGK Ngữ Văn lớp 11, tập 1( Bộ cơ bản), người viết nhằm hướng đến những mục
- Bước đầu, người viết trang bị những hành trang cho nghề nghiệp sau này
IV Phạm vi nghiên cứu
Trang 9Trong phạm vi đề tài này, người viết sẽ tập trung thiết kế giáo án giảng dạy các tác phẩm truyện (giai đoạn 1930- 1945) trong chương trình Ngữ Văn 11, tập 1 (Bộ cơ bản) sau đây:
- Hai đứa trẻ (Thạch Lam) : 2 tiết
- Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân): 2 tiết
- Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng): 2 tiết
- Chí Phèo (Nam Cao): 3 tiết
V Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, người viết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu sau:
+ Sưu tầm, nghiên cứu, chọn lọc các tài liệu liên quan để có cái nhìn tổng quát về vấn
đề
+ So sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp…để tìm hiểu Từ đó, nguời viết vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào việc soạn giáo án
Trang 10CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG CHO VIỆC THIẾT KẾ CÁC BÀI DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN (GIAI ĐOẠN 1930 - 1945) TRONG SGK NGỮ VĂN 11, TẬP 1(BỘ CƠ BẢN)
1 Các định hướng chính trong quá trình dạy học của Robert Marzano 1.1 Thái độ và nhận thức tích cực về việc học
Đây là định hướng đầu tiên trong quá trình dạy học của Marzano Có thể xem
nó là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho những định hướng tiếp sau Bởi trong bất kì một tiết học nào thì không khí lớp học cũng giữ một vai trò quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy Muốn có được điều đó, người giáo viên phải tạo ra một mối quan hệ tích cực giữa thầy và trò, đồng thời, các học sinh cũng phải ý thức được vị trí của mình trong khi học Vì vậy, sự quan tâm, chỉ bảo ân cần của giáo viên đối với việc học của học sinh sẽ để lại những ấn tượng đẹp trong lòng các em và làm cho các em yêu môn học hơn Ngược lại, thái độ của học sinh đối với giáo viên và giữa các học sinh với nhau cũng cần phải tốt đẹp, chan hòa, thân ái Một giờ học thoải mái, trật tự, thầy và trò đều quyết tâm vào bài học sẽ tạo nên một hiệu quả thật sự
Điều thứ hai Marzano nêu ra trong định hướng này là tầm quan trọng của nội
dung kiến thức, bài tập Một khi học sinh nhận thức được những gì mình học là hữu ích, là tích cực trong cuộc sống thì thái độ học tập của các em sẽ khác đi, đặc biệt là trong môn văn Hầu như, trong suy nghĩ của các em, môn văn thường là môn học xa rời thực tế, bay bổng, lãng mạn nên học văn sẽ không hữu dụng bằng học lí hay toán Nhưng đó là một cách nghĩ còn nhiều hạn chế Vì vậy, để các em nhìn nhận một cách tích cực hơn về môn văn, đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo hướng dẫn học sinh phát hiện ra những yếu tố mà học sinh có thể áp dụng một cách tích cực vào cuộc sống Muốn vậy, kiến thức của bài học phải thật sự có giá trị thực tế, rõ ràng, cụ thể và phù hợp với khả năng của học sinh Có như thế, học sinh mới tiếp cận văn chương một cách dễ dàng và sâu sắc
1.2 Thu nhận và tổng hợp kiến thức
Trang 11Một bài học nào cũng bao gồm hai mảng kiến thức chính, đó là kiến thức thông báo và kiến thức quy trình Đây là hai nội dung quan trọng mà người giáo viên phải truyền đến học sinh bằng nghệ thuật dạy học của chính mình
Kiến thức thông báo có thể được hiểu ngắn gọn trong vòng từ “ hiểu” Nghĩa là, sau khi học, các em sẽ nắm được vấn đề ở mức độ nào, có thể lí giải vấn đề theo cách hiểu riêng của bản thân chưa? Trong môn văn, kiến thức thông báo chính là những
định nghĩa, những khái niệm và các mảng nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Một khi,
các em đã hiểu thật sự vấn đề thì các em sẽ làm chủ được kiến thức trong mọi trường hợp khác nhau
Tiếp theo kiến thức thông báo là kiến thức quy trình Đối với môn văn, các bước thực hiện công việc, cách đặt câu, lập dàn ý, các thao tác tư duy, viết bài văn…thuộc về kiến thức quy trình Phạm trù này được thâu tóm trong việc vận dụng kiến thức Nghĩa là, các em sẽ vận dụng những gì mình học được từ kiến thức thông báo để phát triển lên một bước, cụ thể hóa trong khi thực hiện kiến thức quy trình Khâu vận dụng này thành công thì hiệu quả của bài học xem như đã đạt được
Có thể nói, kiến thức thông báo và kiến thức qui trình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Kiến thức thông báo là nền tảng của kiến thức quy trình Ngược lại, kiến thức quy trình là bước phát triển cao hơn trên nền của kiến thức thông báo Học sinh chỉ có thể vận dụng khi hiểu một cách vững chắc vấn đề Nếu học sinh chỉ dùng lại ở mức độ hiểu mà không thể vận dụng thì mục tiêu học tập vẫn còn dang dở Vì vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên phải đảm bảo đầy đủ hai mảng kiến thức này
và có cách dạy thích hợp đối với từng loại kiến thức
1.3 Mở rộng và tinh lọc kiến thức
Trong quá trình dạy học, người giáo viên cần mở rộng và chắt lọc kiến thức bằng các phương pháp khác nhau: quy nạp, so sánh, khái quát hóa, chứng minh, phân tích… Đây là khâu khá quan trọng, giúp học sinh có một cách nhìn toàn diện và rộng hơn đối với kiến thức mình vừa học Có nhiều cách để mở rộng và tinh lọc kiến thức nhưng biện pháp nêu các câu hỏi, tình huống để học sinh đi sâu vào vấn đề cần dạy là phổ biến nhất Nhưng người giáo viên cần lưu ý khi thực hiện định hướng này là phải xác định rõ ràng kiến thức nào cần được mở rộng, kiến thưc nào cần được chắt lọc; xác
định mục đích khi mở rộng, chắt lọc kiến thức và những cách thực hiện cụ thể Có như
Trang 12thế, bài học mới đảm bảo được chất lượng, cung cấp cho học sinh những kiến thức chính, không lan man, dài dòng
1.4 Sử dụng kiến thức hiệu quả
Kiến thức sẽ trở thành kiến thức chết nếu học sinh chỉ thu nhận vào đầu mà không sử dụng, không hiện thục hóa nó bằng những hành động cụ thể Tổ chức liên
hiệp quốc đã từng đưa ra chủ trương: “ Học để biết, học để làm, học để chung sống,
học để tự khẳng định”( SGK Ngữ Văn 11, tập 1) Cũng như vậy, học sinh, sau khi tiếp
nhận kiến thức cần phải sử dụng nó một cách hiệu quả trong các trường hợp khác nhau Các bước sử dụng kiến thức hiệu quả dựa trên một trình tự nhất định: từ khấu ra quyết định, điểu tra đến khâu thí nghiệm, giải quyết vấn đề và đỉnh cao là phát minh ra những cái mới Tiến hành theo những bước đó, học sinh sẽ dần dần phát huy được khả năng cụ thể hóa kiến thức của mình
1.5 Rèn luyện thói quen tư duy
Đây là một trong những định hướng quan trọng mà người giáo viên cần tạo ra được nơi học sinh của mình Một con người không tư duy, không chịu khởi động
guồng não của mình thì mãi mãi không thể nào tiến bộ
Trong sự vận động không ngừng của thế giới xung quanh, cuộc sống luôn đặt ra trước mắt ta nhiều vấn đề, đòi hỏi con người phải khám phá, tìm hiểu Mà công cụ hữu hiệu nhất để tiến hành những công việc này chính là tư duy Trong học tập, công cụ đó càng trở nên cần thiết đối với học sinh Kiến thức là một mâm cỗ đầy màu sắc, muốn
ăn cũng cần phải có nghệ thuật; món nào sẽ hợp với món nào để tạo nên một khẩu vị
hài hòa, cân đối Muốn vậy, người học sinh phải được và tự rèn luyện thói quen tư duy, động não một cách linh hoạt trước mọi vấn đề
Trước tiên, học sinh cần có được tư duy tự điều chỉnh nhận thức, hành vi, thói quen, tính cách của mình Nghĩa là các em phải mạnh dạn phát hiện, thừa nhận những
điểm yếu của bản thân và tìm cách khắc phục để dần đi đến sự hoàn thiện
Kế đến, tư duy phê phán cũng cần được các em trau dồi Các em phải tập cho mình thói quen thường xuyên nhìn nhận lại bản thân, thừa nhận những điều sai, sữa chữa và điều chỉnh khuyết điểm Đồng thời, ngoài bản thân, các em còn phải thẳng thắn trong việc đánh giá người khác để nhìn thấy những ưu, khuyết điểm của họ vì đó
là điều kiện để các em học tập những điều tốt đẹp và tránh phạm phải sai lầm của mọi người xung quanh
Trang 132 Dạy học theo hình thức thảo luận nhóm
Trong những năm gần đây, học nhóm đã trở thành một hình thức học tập khá phổ biến ở bậc học phổ thông Đây là cách học đem lại hiệu quả giáo dục cao bằng sự hợp tác trong quá trình học tập của học sinh Trong quá trình đó, mỗi cá nhân học sinh
sẽ tìm thấy lợi ích cho chính mình và cho tất cả các thành viên trong nhóm
2.1 Khái niệm
Thảo luận nhóm là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó, các nhóm học sinh cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên nêu ra Từ đó, học sinh sẽ rút
ra bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Nếu như trước đây, trong một giờ học dường như chỉ tồn tại đơn độc một mối quan hệ thầy- trò thì trong hình thức học nhóm này, xuất hiện thêm mối quan hệ trò- trò giữ vai trò trung tâm trong quá trình học Mỗi học sinh sẽ được bình đẳng trong khi tham gia vào học nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên Do đó, học sinh sẽ phát huy
và khẳng định năng lực của bản thân mình Không những vậy, với hình thức học mới này, các em sẽ phát triển được những kỹ năng sống cần thiết như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng quản lí giờ giấc, năng lực đánh giá…
2.2 Cách chia nhóm
Có hai cách chia nhóm chủ yếu: chia nhóm ngẫu nhiên và chia nhóm chỉ định
2.3 Các loại hình nhóm
Có hai loại hình nhóm: nhóm cố định và nhóm không cố định
Nhóm cố định: là loại hình gồm những học sinh được chia và hoạt động cùng nhau trong suốt một thời gian từ một tuần đến vài tuần lễ để thực hiện một bài tập lớn Nhóm không cố định: là loại nhóm gồm những học sinh cùng nhau làm việc từ vài phút đến một tiết học để giải quyết một nhiệm vụ không quá phức tạp trong giờ học Trong loại hình nhóm này, giáo viên có thể chia nhóm theo nhiều hình thức khác nhau:
- Làm việc theo nhóm 2 học sinh
- Làm việc theo nhóm 4-5 học sinh
- Làm việc theo nhóm ghép 2 lần
- Làm việc theo nhóm kim tự tháp
- Làm việc theo nhóm trà trộn
Trang 14Trong các hình thức nhóm trên, mỗi một loại hình nhóm có những ưu, khuyết điểm riêng và việc sử dụng hình thức nhóm nào cho phù hợp là tùy thuộc vào cách thức chia nhóm của giáo viên trong từng trường hợp khác nhau
2.3 Yêu cầu và cách thiết kế đối với bài tập thảo luận nhóm
2.3.2 Yêu cầu đối với bài tập thảo luận nhóm
2.3.2.1 Về nội dung
- Nhiệm vụ khám phá là một tình huống có vấn đề trong học tập, được giao cho các nhóm Độ khó của tình huống này buộc các thành viên trong nhóm phải thảo luận để tìm ra câu trả lời
- Các nhiệm vụ khám phá phải được xây dựng trên những kiến thức trọng tâm của bài học để trong quá trình thảo luận, các em sẽ rút ra nội dung chính của bài học, nghĩa là giáo viên phải hướng dẫn theo kiểu “ đưa tình huống để khám phá kiến thức” chứ không phải là đọc- chép
- Bài tập phải thú vị, hấp dẫn học sinh
- Yêu cầu của bài tập phải rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo cho học sinh hiểu rõ yêu cầu của
đề trước khi thảo luận
- Nếu sử dụng bài tập dạng hoạt động trao đổi thì độ khó của bài tập giao cho các nhóm phải ngang nhau, tránh trường hợp đề nhóm này dễ, nhóm kia khó
- Lượng thời gian thảo luận cho các bài tập phải phù hợp, tránh trường hợp các nhóm thừa, thiếu thời gian hoàn thành bài tập
- Các hình thức bài tập phải đa dạng: bài tập câu hỏi ngắn, bài tập sơ đồ, biểu bảng…
- Các cách giao bài tập phải phong phú
2.3.2.2 Về hình thức
Nhiệm vụ khám phá có thể là một câu hỏi hoặc yêu cầu chú giải một bức tranh, giải thích một sơ đồ, mô hình, tìm kiếm thông tin điền vào biểu bảng, tìm ví dụ thực tế…
2.3.2 Cách thiết kế bài tập thảo luận nhóm
Không phải bất cứ một vấn đề nào cũng đòi hỏi phải có bài tập thảo luận Vì vậy, việc lựa chọn để đưa ra bài tập thảo luận nhóm cũng là một khâu quan trọng khi tiến hành hình thức học này Thông thường, người giáo viên sẽ áp dụng bài tập nhóm cho những mảng kiến thức có vấn đề mà bản thân một học sinh không đủ khả năng để giải quyết tốt
Trang 15Việc thiết kế bài tập nhóm giữ vai trò nòng cốt trong việc giúp học sinh khám phá kiến thức Để có một bài tập thảo luận tốt, giáo viên phải thực hiện hai bước sau: Bước 1: Phân tích kĩ nội dung bài học, xác định kiến thức trọng tâm cần thảo luận Bước 2: Xây dựng bài tập thảo luận dựa trên các kiến thức đó
Các dạng bài tập thảo luận thường được sử dụng: so sánh, phân tích, phân loại, sắp xếp theo thứ tự, nhớ lại, lựa chọn,, ghép đôi, mô phỏng, lập kế hoạch, cải tiến, bài tập định hướng bài học, biểu bảng
2.4 Vai trò của giáo viên trong thảo luận nhóm
Như trên đã nói, trong quá trình học nhóm, giáo viên không phải là trung tâm
mà là học sinh Tuy nhiên, nếu không có sự tham gia của giáo viên, quá trình thảo luận của học sinh có thể sẽ đi chệch hướng Vì vậy, vai trò nổi bật nhất của giáo viên đối với hình thức học này chính là tổ chức, hướng dẫn, đều khiển, quản lí các nhóm theo một guồng máy nhất định như sau:
- ( Build): xây dựng các bài tập buộc học sinh phải tư duy
- (Unite): Đoàn kết các thành viên trong nhóm và các nhóm trong lớp, tạo sự tin cậy lẫn nhau để cùng hợp tác làm việc
- I ( Insure): Đảm bảo tất cả các thành viên trong nhóm đều hoạt động , hoạt động nhóm tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân nắm vững kiến thức và kĩ năng
- L ( Look): Phải quan sát xem học sinh đã làm việc như thế nào và biết những gì, dạy học sinh cách đánh giá, cách suy nghĩ, cách lắng nghe và tiếp nhận ý kiến của người khác
- D ( Develop): Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh
2.5 Quy trình tổ chức thảo luận nhóm
Để quá trình thảo luận đạt hiệu quả, giáo viên phải dựa trên một quy trình tổ chức thảo
luận nhóm gồm các bước:
Bước 1: Giáo viên chia nhóm
Bước 2: Giao vấn đề cho các nhóm thảo luận, quy định thời gian thảo luận
Bước 3: quản lí làm việc nhóm
Bước 4: Báo cáo kết quả, đánh giá của giáo viên
3 Các phương pháp dạy học Ngữ Văn
3.1 Phương pháp đọc diễn cảm tác phẩm
Trang 16Có thể nói, đặc trưng của văn chương là xây dựng hình tượng bằng ngôn ngữ
Vì vậy, để tạo cho học sinh một sự hình dung bước đầu về những hình tượng mà các nhà văn tạo dựng trong tác phẩm, thì việc đọc giữ một vai trò hết sức cần thiết Trong quá trình dạy văn, đôi khi giáo viên và cả học sinh đều xem nhẹ vấn đề này, cho rằng việc đọc chỉ là một công tác phụ, không nhất định phải có trong giờ văn Đây là một cách nghĩ thiếu chính xác và làm mất đi nét đẹp của nghệ thuật văn chương Chúng ta nên hiểu rằng, việc đọc tác phẩm văn chương không giống như việc đọc các môn khoa học khác Một trong những đặc trưng tiêu biểu của phong cách ngôn ngữ văn chương chính là giọng điệu Nên việc đọc tác phẩm sẽ là điều kiện làm bật nổi giọng điệu đó Bao nhiêu cảm xúc vui, buồn, khổ đau, hạnh phúc của nhà văn, nhà thơ đã được kết tinh lại trong chữ nghĩa và việc đọc sẽ là dây đàn làm rung động lên những âm thanh của tiếng lòng, truyền đến tai người nghe, tạo nên một mối giao cảm hài hòa giữa nhà văn và đọc giả Không những vậy, việc đọc còn khơi gợi sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú trong tư duy học sinh
Có nhiều hình thức đọc diễn cảm khác nhau Giáo viên có thể đọc tác phẩm cho học sinh nghe hoặc gọi học sinh đọc trong giờ dạy văn Nhưng việc đọc văn không phải là một điều đơn giản Muốn truyền được mạch cảm xúc của nhà văn đến đọc giả,
đòi hỏi người đọc phải đảm bảo những nguyên tắc về ngữ âm, cách ngắt nhịp…và đặc
biệt người đọc phải nhập thân vào tác phẩm, sống với nhân vật Có như thế, người nghe mới cảm được cái thần của tác phẩm Giáo sư Lê Trí Viễn tại hội nghị giảng văn của khoa văn trường đại học sư phạm Hà Nội tháng 5 năm 1975 đã kết luận về vai trò
của việc đọc như sau: “ Giữa giọng đọc và tâm hồn người đọc và tâm hồn người đọc
cũng có ảnh hưởng tương hỗ Hiểu bài văn rồi đọc mới tốt nhưng đọc tốt càng hiểu thêm bài văn” Như vậy, việc đọc chính là những nhịp cầu đầu tiên góp phần tạo nên
chiếc cầu nối giữa nhà văn- tác phẩm- đọc giả
3.2 Phương pháp diễn giảng
Diễn giảng là phương pháp trình bày, thông báo có hệ thống một vấn đề mới cho học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức, sau đó tái hiện lại kiến thức
Đây được xem là phương pháp chủ đạo trong dạy học văn truyền thống Diễn
giảng nghĩa là người giáo viên, từ sự cảm thụ tác phẩm của mình sẽ tiến hành giải thích, phân tích, truyền đạt đến học sinh những nội dung kiến thức của tác phẩm Tuy nhiên, trong hệ thống phương pháp dạy học hiện đại, phương pháp này không còn giữ
Trang 17vai trò trung tâm nữa Khi học sinh trở thành đối tượng chính trong giờ văn thì phương pháp này sẽ không phát huy được sự chủ động, tích cực của các em vì các em chủ yếu nghe mà không làm Vì vậy, để khắc phục những hạn chế này, phương pháp diễn giảng giờ đây đã được nâng lên một bậc thành phương pháp diễn giảng tích cực Đây
là một phương pháp mà trong đó giáo viên sẽ dẫn dắt vào bài mới và công việc còn lại, phần lớn thuộc về học sinh dưới sự hướng dẫn, gợi mở của giáo viên Cuối cùng, giáo viên sẽ củng cố lại bài học Đây là một cách học mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển khả năng chủ động của học sinh Các em sẽ được làm việc và qua đó, khám phá những kiến thức cần thiết cho mình
3.3 Phương pháp đàm thoại
Phương pháp này được hình thành trên cơ sở tạo môi trường cho sự tương tác giữa người học- người học, người hoc- người dạy để đạt mục tiêu dạy học Thông qua phương pháp này, giáo viên sẽ giúp học sinh dần dần tìm ra được chân lí, rèn luyện khả năng tư duy và tạo cơ hội cho các em trình bày nhứng suy nghĩ của bản thân trước lớp Phương pháp đàm thoại được xây dựng chủ yếu bằng hệ thống câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh giải quyết Muốn vậy, giáo viên phải đảm bảo được số lượng cũng như chất lượng của các câu hỏi Việc chuẩn bị câu hỏi là một khâu rất quan trọng trong quá trình soạn giáo án của giáo viên Các câu hỏi phải dựa trên trình tự nội dung của bài học, giúp học sinh nắm bài một cách chặt chẽ, tránh tình trạng nhảy cóc, gây lũng đoạn kiến thức Vì bản chất của bài học là mang tính hệ thống nên giữa các câu hỏi phải có mối quan hệ trước sau, logic, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp theo trình tự bài học
Giáo viên cần nắm rõ các bước thiết kế câu hỏi Trước tiên, giáo viên phải phân tích cấu trúc nội dung bài học, xác định kiến thức trọng tâm để từ đó tiến hành xây dựng câu hỏi, tình huống giúp học sinh khám phá kiến thức Sau cùng, giáo viên phải kiểm tra lại các câu hỏi để có sự lựa chọn chính xác nhất Không những vậy, các câu hỏi cũng phải được soạn theo những tiêu chí nhất định, đáp ứng đầy đủ yêu cầu về nội dung và hình thức
3.4 Phương pháp trực quan
Đây là một phương pháp khá mới và được áp dụng phổ biến trong những năm
gần đây Trực quan nghĩa là quan sát một cách trực tiếp các hình ảnh, sơ đồ, biểu bảng minh họa có liên quan đến bài học Sở dĩ phương pháp này được vận dụng nhiều là do
Trang 18yếu tố nhìn trong quá trình học đem lại cho học sinh một hiệu quả học tập rất tốt Hai bảng thống kê sau thể hiện rõ điều đó:
Bảng 1: Mức độ ảnh hưởng của các giác quan đối với quá trình tiếp nhận kiến thức
Bảng 2: Tỉ lệ kiến thức nhớ được sau khi học
Như vậy, việc quan sát đem lại cho học sinh một khả năng nói và làm được cao hơn hẳn so với những cách tiếp nhận khác Đặc biệt, môn văn vốn là môn của nghệ thuật ngôn từ, nên việc trực quan hóa khi dạy văn cũng là một cách làm rất hay nếu người giáo viên áp dụng một cách thích hợp
Có nhiều hình thức trực quan trong dạy học như sử dụng tranh ảnh minh họa, sơ đồ, biểu bảng, diễn xướng bằng cách đọc phân vai, diễn kịch; chiếu băng hình, cho học sinh quan sát vật thật, dùng máy chiếu hay trình bày trên bảng…Trong đó, sơ đồ là hình thức trực quan được dùng khá phổ biến Đối với môn văn, sơ đồ thường dùng khi phân tích nhân vật, tóm tắt nội dung tác phẩm hay hệ thống lại kiến thức bài học Chính phương pháp này sẽ làm cho bài học trở nên sinh động và để lại ấn tượng trong lòng học sinh một cách lâu dài
3.5 Phương pháp nêu vấn đề
Dạy học bằng cách nêu vấn đề đã ra đời từ lâu và ngày cảng có một vị trí ổn
định trong giảng dạy các môn học Phương pháp này có những ưu điểm mà các
phương pháp truyền thống không đạt được ở khả năng phát triển trí tuệ của nó
Trong phương pháp này, kiến thưc sẽ được tiềm ẩn trong các tình huống có vấn đề chứ không được thể hiện trực tiếp Nên muốn khám phá và chiếm lĩnh kiến thức đòi hỏi học sinh phải trải qua một quá trình tư duy để tìm ra kết quả chính xác nhất Đó là điều kiện phát huy khả năng hoạt động đầu óc của học sinh, rèn luyện cho các em kĩ năng
Trang 19giải quyết những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống Có một số ý kiến cho rằng, dạy học nêu vấn đề chỉ thích hợp với các môn khoa học tự nhiên, còn nếu áp dụng vào môn văn sẽ làm hạn chế ưu thế của người giáo viên… Nhưng thực chất, dạy học nêu vấn đề trong môn văn đã mang lại những hiệu quả nhất định Tác phẩm nào cũng có vấn đề Một khi giáo viên chọn đúng vấn đề để nêu lên cho học sinh tư duy thì
đó chính là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra kho tàng kiến thức của tác phẩm
Trang 20Trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, giai đoạn văn học 1930-
1945 giữ một vị trí quan trọng, đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc của nền văn học về nhiều phương diện, đặc biệt về thể loại…Trong đó, truyện ngắn và tiểu thuyết là những thể loại gặt hái được nhiều thành tựu nổi bật
Về truyện ngắn: thời kì này, truyện ngắn phát triển mạnh mẽ Chưa bao giờ, truyện ngắn Việt Nam lại phong phú và đặc sắc như thế Rất nhiều thể loại truyện
đan xen nhau tạo nên một bản hòa điệu đa dạng, đầy âm thanh, màu sắc Truyện
ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan; truyện ngắn trữ tình lãng mạn của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh; truyện ngắn viết về người nông dân và tri thức nghèo mang tư tưởng nhân sinh sâu sắc của Nam Cao Tất cả đều nổi bật và để lại
ấn tượng sâu đậm trong lòng công chúng Những tác phẩm tiêu biểu của truyện
ngắn thời kì này có thể kể đến Chí Phèo, Lão Hạc ( Nam Cao), tập truyện “ Vang bóng một thời” ( Nguyễn Tuân), Đồng hào có ma ( Nguyễn Công Hoan), Hai đứa trẻ ( Thạch Lam), Vợ nhặt ( Kim Lân)…
Về tiểu thuyết: nếu như trong giai đoạn văn học 1900- 1930, ta chỉ biết nhiều đến tiểu thuyết Việt Nam qua tên tuổi của tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh thì
đến giai đoạn này, tiểu thuyết đã trở thành một tâm điểm nổi bật trên văn đàn
Trước tiên là sự ra đời của nhóm nhà văn “ Tự lực văn đoàn” với các thành viên như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam đã đưa tiểu thuyết thóat khỏi tính chất
ước lệ, biền ngẫu để chuyển sang thời kì cách tân tiểu thuyết về: cách dựng truyện,
cách xây dựng nhân vật thiên về khai thác nội tâm…Tiếp sau Tự lực văn đoàn, từ
Trang 21năm 1936, tiểu thuyết Việt Nam đã trở nên thuần thục với sự xuất hiện của những cây viết xuất sắc như: Vũ Trọng Phụng, Ngô Tât Tố, Nguyên Hồng Tiểu thuyết thời kì này cũng đan xen nhiều thể loại: tiểu thuyết hiện thực phê phán, tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực trào phúng… với những nội dung phong phú và đa dạng Những tác phẩm tiêu biểu như: Số đỏ, Giông tố ( Vũ Trọng Phụng), Bỉ vỏ ( Nguyên Hồng), Sống mòn ( Nam Cao), Tắt đèn ( Ngô Tất Tố)…
Nhìn chung, các tác phẩm thuộc thể loại truyện ( giai đoạn 1930- 1945) đã gặt hái được nhiều thành tựu nổi bật về nhiều phương diện Nội dung của các truyện ngắn, tiểu thuyết giai đoạn này thường tập trung thể hiện cuộc sống khổ cực, tăm tối của nhân dân( Lão Hạc, Vợ nhặt…), phản ánh những xung đột, mâu thuẫn chủ yếu của xã hội( Giông tố, Đồng hào có ma…); bộc lộ sự hoài niệm, trân trọng những nét đẹp văn hóa truyền thống( Vang bóng một thời…); khắc họa thành công những hoàn cảnh điển hình, tính cách điển hình ( Chí Phèo, Tắt đèn…)
1.2 Nhận xét về các tác phẩm truyện được thiết kế trong SGK Ngữ Văn
11, tập 1( bộ cơ bản)
Vì tính chất quan trọng và cần thiết của giai đoạn văn học 1930- 1945 nên trong chương trình Ngữ Văn lớp 11, tập 1 đã dành một số lượng tiết khá lớn để giảng dạy bốn tác phẩm truyện tiêu biểu giai đoạn 1930- 1945:
tình của Nguyễn Tuân
- Đọan trích “ Hạnh phúc của một tang gia”( trích “ Số đỏ”): tiểu thuyết hiện thực
trào phúng của Vũ Trọng Phụng
Mỗi tác phẩm nêu trên đều có những nét đặc sắc riêng theo từng thể loại truyện, từng phong cách sáng tác của nhà văn Vì vậy, để việc dạy học đạt hiệu quả, người
GV cần nắm được những nét cơ bản quan trọng của từng tác phẩm, cụ thể là:
- Đối với tác phẩm “ Hai đứa trẻ”: đây là truyện ngắn trữ tình không có cốt truyện, tiêu biểu cho văn phong của Thạch Lam Truyện có nhiều chi tiết nhỏ nhặt nhưng lại được sắp xếp một cách có chủ ý để miêu tả diễn biến nội tâm của nhân vật Qua đó, Thạch Lam muốn gởi gắm một thông điệp nhân đạo nhẹ nhàng mà sâu sắc: cảm thương cho những kiếp người sống nghèo nàn, tăm tối và trân trọng
Trang 22những ước muốn nhỏ nhoi của họ Những kiến thức trọng tâm mà GV cấn hướng dẫn cho HS là cảnh phố huyện lúc chiều tối, diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên Ngoài ra, truyện ngắn này còn tiêu biểu cho bút pháp của Thạch Lam, đó là sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và yếu tố lãng mạn Ở chương trình Ngữ Văn THCS các
em cũng đã từng làm quen với loại truyện này qua tác phẩm “ Tôi đi học” ( Thanh Tịnh)
- Đối với tác phẩm “ Chữ người tử tù”: đây là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong tập truyện “ Vang bóng một thời” Nhân vật chính trong tác phẩm là Huấn Cao- một người vừa có tài, có tâm, có khí phách, bị án tử hình vì chống lại triều đình Khi dạy tác phẩm này, GV cần tập trung làm nổi bật hình tượng nhân vật Huấn Cao và cảnh cho chữ ở cuối truyện Đồng thời, GV cần hướng dẫn cho HS tìm hiểu bút pháp lãng mạn của nhà văn được thể hiện cụ thể qua việc dựng người, dựng cảnh
- Đối với đoạn trích “ Hạnh phúc của một tang gia”: đây là đoạn trích khá tiêu biểu trong tiểu thuyết “ Số đỏ” Đoạn trích tập trung thể hiện cảnh đi đưa tang của gia đình cụ cố tổ Cốt truyện khá đơn giản, gần gũi với HS Vì vậy, trong khi dạy, GV có thể đặt những câu hỏi để các em liên hệ thực tế Tuy nhiên, khi dạy bài này, GV cần chú ý đến bút pháp trào phúng của đoạn trích vì đây là thủ pháp tiêu biểu mà nhà văn dùng để xây dựng nhân vật GV cần tập trung phân tích cảnh “
đám tang gương mẫu” để qua đó cho các em thấy được sự châm biếm mỉa mai sâu
cay của nhà văn
- Đối với tác phẩm “ Chí Phèo”: đây là tác phẩm được phân phối 3 tiết vì trong đó có hẳn một bài riêng để giới thiệu về tác gia Nam Cao Vì vậy, người dạy cần dành một thời gian phù hợp để giúp các em nắm được khá cụ thể về Nam Cao,
đặc biệt là phong cách sáng tác và đóng góp của ông trong hai mảng đề tài về nông
dân và tri thức Về phần tác phẩm “ Chí Phèo”, đây có thể xem là một kiệt tác của Nam Cao có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc Đồng thời, tác phẩm cũng
là kết tinh tài năng nghệ thuật của Nam Cao Nhân vật chính trong tác phẩm là Chí Phèo- một nhân vật vô cùng sinh động, tiêu biểu cho những tính cách rất người Vì thế, nội dung cốt lõi mà GV cần hướng dẫn HS tìm hiểu trong tiết dạy chính là quá trình tha hóa của Chí Phèo từ con người con vật và quá trình thức tỉnh của Chí từ
Trang 23con vật con người; đồng thời giúp HS thấy được bi kịch bị cự tuyệt quyền làm
+ Thấy được nghệ thuật viết văn độc đáo của Thạch Lam khác với các nhà văn trong Tự lực văn đoàn
- Về kĩ năng:
Bồi dưỡng cho học sinh khả năng cảm thụ tác phẩm văn học và có khả năng phân tích tác phẩm,phân tích nhân vật
- Về thái độ:
+ Bồi đắp lòng yêu thương con người
+ Biết ước mơ, khát vọng và hướng tới những điều tốt đẹp
2 Yêu cầu
- Đối với giáo viên
Chuẩn bị các đồ dùng học tập (trực quan, sơ đồ, biểu bảng), hình ảnh (chân dung Thạch Lam), phiếu học tập
Trang 24- Đối với học sinh: chuẩn bị bài mới trước ở nhà:
+ Đọc trước tác phẩm
+ Cảm nhận khái quát về tác phẩm
+ Soạn bài theo yêu cầu trong phần hướng dẫn học bài
II PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1 Phương pháp: diễn giảng, đàm thoại, đọc diễn cảm, thảo luận nhóm, sử dụng trực quan
2 Phương tiện: SGK, Sách giáo viên, biểu bảng
III TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
1 Ổn định tổ chức
2 Kiểm tra bài cũ (không kiểm tra bài cũ)
3 Vào bài mới (1 phút)
Như chúng ta đã biết, nhóm “ Tự lực văn đoàn” là một trong những đại diện tiêu biểu
cho trào lưu văn học lãng mạn giai đoạn 1930- 1945, gồm có các thành viên như: Khái Hưng,Nhất Linh, Trần Tiêu, Thạch Lam… Trong đó, Thạch Lam được xem là một trong những nhà văn có phong cách sáng tác khá đặc biệt Vậy điều đặc biệt đó là
gì, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu qua tác phẩm “Hai đứa trẻ” Đây là một
trong những tác phẩm tiêu biểu của Thạch Lam kể về cuộc đời của hai đứa bé Liên và
GV gợi ý:
hưởng đến nghề nghiệp của Thạch Lam
-Quan điểm nghệ thuật của nhà văn
Trang 25Lam thường giản dị
nhưng lại thể hiện
một nội dung sâu sắc
chứa đầy tinh thần
- Các tác phẩm tiêu biểu
Hãy cho biết vài nét
- Tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân đạo
- Tác phẩm tiêu biểu: tập truyện Gios đầu mùa, Nắng trong vườn; tiểu thuyết Ngày mới; bút kí
Hà Nội băm sáu phố phường
HS trả lời
ĐHTL:
- Hai đứa trẻ được in trong tập “ Nắng trong vườn” ( 1938)
- Truyện có sự đan xen giữa hiện thực và lãng mạn
- “ Hai đứa trẻ” là truyện ngắn trữ tình
?
Trang 26Gọi 3HS đọc bài
GV chia bố cục:
- “ Tiếng trống thu không… về phía làng:
tâm trạng Liên trước cảnh chiều nơi phố huyện
- “ Trời bắt đầu đêm…mơ
hồ không hiểu”: tâm trạng Liên trước cảnh phố huyện về đêm
- “ Trống cầm canh… tịch mịch và đầy bóng tối”:
chuyến tàu đêm đi qua
Hai đứa trẻ không chỉ là một bức tranh cảnh vật nơi phố huyện mà còn là bức tranh tâm trạng của
cô bé Liên bởi cùng với
sự biến chuyển về thời gian, không gian trong ngày, thì tâm trạng Liên cũng diễn biến theo một
HS đọc
?
Trang 27tiếp mà gián tiếp
thông qua sự xâm
Nhóm 1: Khi miêu tả cảnh chiều tàn nơi phố huyện, Thạch Lam đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào (dẫn chứng)? Nhận xét về cảnh vật
Nhóm 2: Tìm những chi tiết cho thấy chợ đã vãn(
dẫn chứng)? Chợ vãn hiện lên như thế nào?
Nhóm 3: Những con người cụ thể xuất hiện nơi phố huyện là ai?
Công việc của từng người(dẫn chứng); Điểm chung trong cuộc sống của họ là gì?
Thơi gian thảo luận: 10 phút
HS trình bày tại chỗ; GV nhận xét, bổ sung
Từ “chiều” lặp lại hai lần là không thừa
Câu văn vang lên không chỉ để thông báo một
N1 trả lời
ĐHTL:
*Miêu tả theo trình tự không gian, thời gian:
- Không gian:
+ Âm thanh: tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái, tiếng muỗi
những âm thanh quen
thuộc nơi làng quê
+ Hình ảnh:
Biện pháp so sánh:
“ Phương Tây đỏ rực như lửa cháy”, “ những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”
“ Dãy tre làng trước mặt
đen lại”
diễn tả sự dữ dội, mênh
mông của cảnh trời chiều -Thời gian:
+ Câu văn nghệ thuật:
“Chiều, chiều rồi.”: từ
“chiều” lặp lại hai lần như một tiếng thở dài đầy ngao
ngán pha lẫn chút buồn
Trang 28gì sâu lắng Đó phải chăng là sự thảng thốt nuối tiếc vì một ngày nữa lại trôi qua và cũng chính
là một tiếng thở dài đầy ngao ngán trước cảnh
ngày tàn
Giữa cảnh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt
có sự tương đồng, trời tối
và chợ cũng vãn Tất cả
+ Miêu tả sự xâm nhập của bóng tối: “ bóng tối ngập dầy dần”, “trời bắt đầu
đêm”…
thời khắc đang trôi dần
vào đêm
- Giong văn: êm ả, trầm
buồn như chính cái buồn của buổi chiều quê
+ “ Một mùi âm ẩm bốc lên…”
+ “Một vài người về muộn
đang thu xếp hàng hóa…”
Chợ vắng, tiêu điều, xơ
xác
Trang 29ăn xin… nhưng tất cả đều có chung một cuộc
N3 trả lời
ĐHTL:
+ Mấy đứa trẻ nhặt rác + Mẹ con chị Tí: sáng mò cua bắt ốc, tối dọn hàng nước ra bán
+ Bác phở siêu: gánh hàng
xa xỉ chỉ bán cho vài người
+ Gia đình bác xẩm làm nghề ăn xin bằng hát rong + Bà cụ Thi hơi điên và nghiện rượu
+ Hai chị em Liên trông coi một gian hàng tạp hóa nhỏ xíu
Họ đều là những người
nghèo khổ, sống tù túng trong một không gian nhỏ hẹp, tăm tối
Trang 30Tâm trạng Liên:
buồn và cô đơn trước
“giờ khắc của ngày
tàn”
sống nghèo nàn, tù túng
Ngày nào, họ cũng chỉ quẩn quanh nơi phố huyện, làm bấy nhiêu công việc, sống lay lắt qua ngày, không có thêm
điều gì mới mẻ cả Chính điều đó đã tạo nên tâm lí
chán nản, mòn mỏi cho những kiếp người nơi
đây
? Trước cảnh và người nơi phố huyện như thế, nếu em là Liên em sẽ cảm thấy thế nào? Từ đó, hãy khái quát lên tâm trạng của Liên
Nhà văn đã chọn thời điểm chiều tà để
HS trả lời
ĐHTL:
Khi sống trong một hoàn cảnh như thế dễ làm người ta rơi vào cảm giác chán nản, tù túng
Trong mắt Liên, cảnh
và người đều có chung một
sự tàn tạ, heo hắt Điều đó làm cho Liên cảm thấy buồn và cô đơn, cảnh buồn- người cũng buồn:
“ Đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê như thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị”
Trang 31lòng người một cảm giác buồn, buồn vì sự tàn lụi
và ảm đạm Ta cảm nhận như nhà văn đang đứng trước cảnh ấy để quan sát
và miêu tả Ông cũng đã từng có một phố huyện Cẩm Giàng buồn và hiu hắt như thế Đoạn văn tả cảnh như một khúc nhạc trữ tình sâu lắng
? Cảnh phố huyện về
đêm được Thạch Lam
miêu tả chủ yếu thông qua hai yếu tố ánh sáng
vầ bóng tối Hãy liệt kê những chi tiết miêu tả ánh sáng và bóng tối Em
có nhận xét gì về mối quan hệ giữa hai yếu tố trên?
2HS ngồi cạnh nhau thảo luận
Thời gian: 3 phút
HS phát biểu tại chỗ; GV nhận xét, bổ sung
HS trả lời
ĐHTL: sử dụng phụ lục 1a
Trang 32trưng cho cuộc sống
nghèo đói, tăm tối
chuyến tàu đêm đi
Câu văn “Chừng ấy
người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”
nói lên điều gì?
Câu văn cũng thể hiện sự cảm thông, thấu hiểu, trân trọng của nhà văn đối với những kiếp người nghèo khổ, mòn mỏi
? Tâm trạng Liên lúc này
ra sao?
HS trả lời
ĐHTL:
Hi vọng mơ hồ về một tương lai tươi sáng, hạnh phúc hơn so với cuộc sống chán nản, tù túng hiện tại
?
Trang 33- Đợi tàu: nhu cầu
tinh thần của mọi
người
- Thời gian tàu đến:
lúc đêm khuya
? Hãy nêu cảnh sống cụ thể của Liên Ở Liên có những đức tính gì?
? Liên, An, người dân phố huyện có thói quen
gì vào mỗi đêm? Mục
đích của việc đó
Đoàn tàu đi vào lúc nào và từ đâu đi ngang qua phố huyện?
mẹ + Giauf tình thương: cảm thương và muốn giúp đỡ những đứa trẻ nhặt rác + Cư xử lễ phép, cởi mở với mọi người
+ Là cô bé tuy còn nhỏ nhưng lại nhạy cảm, giàu cảm xúc như một người lớn
HS trả lời
ĐHTL:
Hằng đêm, Liên, An, mọi người đều thức đợi tàu vì muốn nhìn thấy ánh sáng của đoàn tàu
HS trả lời
ĐHTL:
Tàu đi vào lúc đêm khuya,
là hoạt động cuối cùng trong đêm, từ Hà Nội đi
?
Trang 34người: trông mong
đoàn tàu xuất hiện,
náo nức khi thấy tàu
đến
Chia lớp ra làm 4 nhóm, thảo luận (3 phút):
+ Nhóm 1,2: đoàn tàu
được miêu tả qua những
chi tiết nào?
+ Nhóm 3,4: thái độ của mọi người ra sao khi
đoàn tàu đến
HS thảo luận và trình bày tại chỗ; GV nhận xét, đánh giá, bổ sung
ngang qua phố huyện
N1,2
ĐHTL:
+ “Tiếng xe rít mạnh vào ghi”
+ “Tiếng hành khách ồn ào khe khẽ”
+ “Tiếng còi đã rít lên, khói bỗng rít trắng lên
đằng xa”
+ “Các toa đèn sáng trưng” + “Những toa sang trọng
lố nhố những người, đồng
và kền lấp lánh và các cửa kính sang trọng”
N3,4 trả lời
ĐHTL:
+ An: “ Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé!”
Trang 35biểu tượng sâu sắc:
+ Đối với Liên:
đoàn tàu gợi nhắc về
Hà Nội và đem đến
ánh sáng của tương
lai
+ Đối với người
dân: đoàn tàu tượng
trưng cho hi vọng,
Liên và An mong
đợi tàu vì một lí do đơn
giản là được nhìn đoàn tàu lấp lánh lướt qua phố huyện Nếu tàu là hoạt
động cuối cùng trong đêm thì đợi tàu cũng là
hoạt động cuối cùng trong đêm của Liên và
An Đây là một nhu cầu tinh thần tuy nhỏ nhoi nhưng lại có một ý nghĩa
vô cùng lớn lao đối với hai chị em
Vậy hình ảnh đoàn tàu có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của hai chị em Liên?
+ Phố huyện: buồn tẻ, hiu hắt với những kiếp người nghèo khổ
+ Hà Nội ( đoàn tàu): sáng rực, vui vẻ, huyên náo
?
Trang 36mơ ước về tương lai,
hạnh phúc
- Khi tàu đến: vui
vẻ, háo hức chờ đón
- Sau khi tàu đi qua:
Liên buồn hơn khi
vô cùng thân thiết mỗi
đêm Nó đem đến cho
cuộc sống của phố huyện một thứ ánh sáng rực rỡ,
đem đến cho hai chị em
những kỉ niệm về Hà
nhưng cũng xua tan đi cái tối tăm, u ám của phố
khoảnh khắc
? Tâm trạng Liên khi
đoàn tàu đến và sau ki
tàu đi khỏi
- Trong mắt mọi người:
Đoàn tàu “ mang cả một
thế giới khác đi qua”, thế giới của tương lai, của hạnh phúc
HS trả lời
ĐHTL:
-Khi tàu đến: Liên ui vẻ, háo hức, chăm chú ngắm nhìn
+ Khi tàu đi khỏi: “ Liên cảm thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của
Trang 372 phút:
* Củng cố: Tập trung vào diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên ( biểu bảng thuộc
phụ lục 1b) và yếu tố lãng mạn đan xen yếu tố hiện thực trong tác phẩm
chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”
Liên buồn hơn khi trở
về thực tại tối tăm, nhỏ hẹp
HS trả lời
ĐHTL:
- Hiện thực: cảnh phố huyện nghèo nàn, xơ xác
mà thuở nhỏ Thạch Lam
đã từng sống
- Lãng mạn: thể hiện trong bút pháp tả cảnh và xây dựng nhân vật của Thạch Lam ( đặc biệt là nhân vật Liên)
?
Trang 38+ Giúp HS rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm tác phẩm
+ HS có khả năng phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự
- Về thái độ:
+ Trân trọng những vẻ đẹp xưa- nét đẹp truyền thống văn hoá của dân tộc
+ Tiếp thu và học hỏi quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân
2 Yêu cầu
- Đối với giáo viên
Chuẩn bị các đồ dùng học tập ( trực quan, sơ đồ, biểu bảng), phiếu học tập
- Đối với học sinh: chuẩn bị bài mới trước ở nhà:
+ Đọc trước tác phẩm
+ Cảm nhận khái quát về tác phẩm
+ Soạn bài theo yêu cầu trong phần hướng dẫn học bài
II PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1 Phương pháp : diễn giảng, đàm thoại, đọc diễn cảm, thảo luận nhóm, sử dụng trực
quan
2 Phương tiện: SGK, Sách giáo viên, biểu bảng
III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
1 Ổn định lớp
Trang 392 Kiểm tra bài cũ
3 Vào bài mới: (1 phút) Trong thời điểm mà Tự lực văn đoàn dường như đang trở
thành chủ sóai trên văn đàn dân tộc thì Nguyễn Tuân đã xuất hiện với một ánh sáng lạ, khiến đọc giả phải ngạc nhiên và chú ý Nổi danh từ tập “ Vang bóng một thời”, từ đó
đến nay Nguyễn Tuân đã để lại dấu ấn đậm nét trong lòng nhiều thế hệ Nói đến
Nguyễn Tuân, người ta lại nhớ ngay đến một nhà văn sống theo “ chủ nghĩa duy mĩ”, nghĩa là yêu và trân trọng thiết tha cái đẹp Với Nguyễn, chuẩn mực cuộc sống được
đo bằng cái đẹp Để hiểu sâu sắc hơn về điều đó, ta sẽ tìm hiểu một trong những tác
phẩm nổi tiếng của ông: Chữ người tử tù
4 Nội dung bài mới
HS trả lời
ĐHTL:
- Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn
- Nguyễn từng làm báo và viết văn ở Hà Nội
- Sau khi CMT8 thành công, ông tham gia cách mạng và phục vụ kháng chiến
- Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời
đi tìm cái đẹp
- Ông có một phong cách viết văn tài hoa, độc đáo
- 1996, Nguyễn Tuân được
?
Trang 40độc đáo Ông yêu thiết
tha cái đẹp và bất cứ
điều gì đối với Nguyễn
Tuân cũng phải đẹp
Ông còn là một nhà văn rất nghiêm túc và
có trách nhiệm
Nêu xuất xứ của tác phẩm
Nêu những hiểu biết của em về tập
truyện “ Vang bóng
tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật