1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor

42 244 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 435,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

13 3.3.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá sự tăng trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún Enteromorpha spp.. 13 3.3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của chế độ phun nước và giai đoạn thả giống khá

Trang 1

của rong bún Enteromorpha spp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC BIỂN

2011

Trang 2

của rong bún Enteromorpha spp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC BIỂN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Nguyễn Thị Ngọc Anh

2011

Trang 3

MỤC LỤC

Tóm tắt i

Danh sách bảng ii

Danh sách hình iii

Lời cảm tạ iv

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Nội dung đề tài 2

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Đặc điểm sinh học của Enteromorpha 3

2.1.1 Hệ thống phân loại 3

2.1.2 Sinh sản của Enteromorpha 3

2.1.3 Vòng đời của Enteromorpha 4

2.1.4 Phân bố của Enteromorpha 4

2.1.5 Yếu tố môi trường 5

2.1.6 Ứng dụng của Ulva và Enteromorpha 6

2.2 Tình hình nuôi rong biển 7

2.2.1 Ở Việt Nam 7

2.2.2 Ở trong nước 9

PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 11

3.2 Vật liệu nghiên cứu 11

3.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị 11

3.2.2 Hóa chất 11

3.2.3 Nguồn nước 11

3.2.4 Nguồn giống 11

3.2.5 Dinh dưỡng 11

3.3 Phương pháp nghiên cứu 13

3.3.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá sự tăng trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún Enteromorpha spp được nuôi ở các nguồn dinh dưỡng và liều lượng khác nhau 13

3.3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của chế độ phun nước và giai đoạn thả giống khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún 15

3.4 Phương pháp xử lí 16

3.4.1 Xử lí rong sau khi kết thúc thí nghiệm 16

3.4.2 Phương pháp xử lí số liệu 16

PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

4.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá sự tăng trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún Enteromorpha spp bằng các nguồn dinh dưỡng và liều lượng khác nhau 17

4.1.1 Các yếu tố môi trường trong bể nuôi 17

Trang 4

4.1.2 Tăng trưởng của rong bún được nuôi ở các chế độ dinh dưỡng khác

nhau 20

4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của chế độ phun nước và giai đoạn thả giống khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún 24

4.2.1 Các yếu tố môi trường 24

4.2.2 Tăng trưởng 25

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 30

5.1 Kết luận 30

5.2 Đề xuất 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 5

TÓM TẮT

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng, loại phân bón khác nhau và chế độ phun

nước đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún Enteromorpha spp ở

điều kiện nuôi trong bể đã được thực hiện

Thí nghiệm 1, rong bún Enteromorpha spp được nuôi với liều lượng và loại phân

bón khác nhau gồm bốn nghiệm thức: dung dịch Walne với liều 2ppm, phân vô cơ Urea/DAP với tỉ lệ 5/1 có bổ sung vi lượng, với ba liều lượng phân là 10, 50 và 100ppm Kết quả cho thấy sau 4 tuần nuôi, rong bún có mức tăng trưởng tốt nhất ở nghiệm thức 10 ppm Urea+DAP (198%) và vẫn giữ khuynh hướng tăng, trong khi các nghiệm thức khác mức tăng trưởng chỉ cao nhất ở tuần thứ hai và giảm mạnh ở tuần nuôi thứ tư Điều này có thể kết luận rằng phân vô cơ sử dụng với liều 10 ppm Urea+DAP cùng với bổ sung vi lượng có thể được xem là thích hợp nhất cho rong bún phát triển

Thí nghiệm 2, rong bún Enteromorpha spp gồm rong non và rong già được nuôi

với chế độ phun nước và không phun nước được thực hiện trong 40 ngày Kết quả biểu thị rong bún non và già được nuôi trong điều kiện không phun nước có mức tăng trưởng tương đương nhau và đạt cao nhất (120-129%) Ngược lại, hai nghiệm thức với chế độ phun nước liên tục thì mức tăng tưởng có giá trị âm sau 1 tuần nuôi và giữ khuynh hướng đến khi kết thúc thí nghiệm Từ nghiên cứu này có thể kết luận rằng rong bún thích hợp trong môi trường nước tĩnh, ít sóng gió

Thành phần sinh hóa của rong bún ở cả 2 thí nghiệm gồm hàm lượng protein, lipid, tro, xơ và carbohydrate tương tự nhau

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng loài của mỗi ngành rong so với tổng số loài trong toàn vùng

Hải Phòng 8

Bảng 3.1: Thành phần hóa chất môi trường Wanle 12

Bảng 3.2: Thành phần vi lượng 13

Bảng 4.1: Các thông số về yếu tố môi trường 17

Bảng 4.2 Sinh khối (g), thể tích (ml) và tăng trưởng tương đối (SGR) (%/ngày) của Enteromorpha spp được nuôi ở chế độ dinh dưỡng khác nhau 21

Bảng 4.3 Thành phần sinh hóa (% vật chất khô) của Enteromorpha spp ở các chế độ dinh dưỡng khác nhau 23

Bảng 4.4 Trung bình các yếu tố môi trường trong thí nghiệm phun nước 25

Bảng 4.5 Sinh khối (g), thể tích (ml) của Enteromorpha spp ở chế độ phun nước và không phun nước 26

Bảng 4.6: Tăng trưởng tương đối (SGR) (%/ngày) của Enteromorpha spp ở chế độ phun nước và không phun nước 27

Bảng 4.7: Thành phần sinh hóa (% trọng lượng khô) của Enteromorpha ở chế độ phun nước và không phun nước 28

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Enteromorpha spp 3

Hình 2.2: Vòng đời của Enteromorpha 4

Hình 3.1: Thí nghiệm dinh dưỡng 14

Hình 3.2: Thí nghiệm phun nước 15

Hình 4.1: Biến động NH4/NH3 ở các nghiệm thức 18

Hình 4.2: Biến động hàm lượng NO3 theo thời gian của các nghiệm thức 19

Hình 4.3: Biến động PO43- của các nghiệm thức 20

Hình 4.4: Mức tăng sinh khối Enteromorpha ở các nghiệm thức 21

Hình 4.5 Mức tăng sinh khối của Enteromorpha ở chế độ phun nước và không phun nước 27

Trang 8

LỜI CẢM TẠ

Trước hết tôi xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bộ hướng dẫn cô Nguyễn Thị Ngọc Anh đã giúp đỡ tận tình và cho tôi những lời khuyên quý báo trong suốt thời gian thực hiện đề tài viết luận văn

Xin chân thành cám ơn thầy Trần Ngọc Hải, anh Trần Nguyễn Hải Nam cùng các anh chị trong khoa thủy sản đã tận tình giúp đỡ tôi, quý thầy cô giáo giảng dạy đã tận tâm truyền đạt cho chúng tôi kiến thức chuyên môn trong suốt thời gian học tập

Cuối cùng xin chân thành cám ơn gia đình và những người thân cùng tất cả các bạn đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt chặn đường dài học tập và thực hiện đề tài

Trang 9

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu

Trong những năm gần đây, nghề nuôi thủy sản ở nước ta phát triển mạnh, đối tượng nuôi và mô hình nuôi thủy sản khá phong phú, trong đó nuôi cá tra thâm canh ở vùng nước ngọt và nuôi tôm sú thâm canh ở vùng nước lợ ven biển là hai đối tượng được phát triển nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Tuy nhiên với sự thâm canh hóa ngày càng cao, nghề nuôi tôm, cá đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như về ô nhiễm môi trường, suy thoái nguồn lợi, dịch bệnh thủy sản, vệ sinh an toàn thực phẩm…do nước thải từ các trang trại nuôi tôm cá thâm canh đổ ra kênh rạch không qua xử lý

Rong biển là một hợp phần quan trọng của nguồn lợi sinh vật biển, chúng là bãi đẻ

và nơi cư trú cho các loài động vật biển, có khả năng hấp thu mạnh các chất dinh dưỡng trong môi trường, chế biến và sử dụng trong nhiều lĩnh vực như thực phẩm,

y dược, mỹ phẩm, nông nghiệp và góp phần cân bằng hệ sinh thái biển bền vững (FAO, 2003) Nhiều nghiên cứu đã báo cáo sử dụng rong biển để xử lý ô nhiễm trông các ao đìa nuôi tôm bằng phương pháp này có thể loại bỏ hầu hết các chất dinh dưỡng N, P trong ao nuôi tôm (Chai Yakam, 1994; Noiry, 1999) Ở nước ta, nghề nuôi rong biển hiện nay đang dần phát triển và đã trở thành một trong những ngành quan trọng của thủy sản, cung cấp cho cả nước một sản lượng khá lớn Nuôi trồng rong biển đơn giản, chi phí thấp phù hợp với những người nghèo, có thể góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh ven biển Miền Trung Trong đó 2

loài rong được trồng phổ biến là rong câu (Gracilaria) và rong sụn (Kappaphycus Alvarezii), rong câu được nuôi chủ yếu ở Nam Định, Hải Phòng…Nuôi trồng rong

sụn ở các khu vực biển miền Trung: Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Ninh…Riêng năm 2005, Ninh Thuận đạt sản lượng rong sụn 1,285 tấn, tăng 2578

so với năm 2000, Khánh Hòa đạt 1,310 tấn năm 2005 (Lê Như Hậu và Nguyễn Hữu Đại, 2007)

Ở ĐBSCL, rong bún Enteromorpha spp được tìm thấy nhiều cả các ao nuôi quảng

canh và các kênh rạch ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre Rong bún được xem là loại rong có tiềm năng nuôi kết hợp với tôm, có giá trị dinh dưỡng cao đồng thời có vai trò quan trọng trong quá trình hấp thụ chất hữu cơ, làm giảm mức độ ô nhiễm môi trường (SUDA, 2009) Tuy nhiên việc nghiên cứu về rong bún, đặc biệt về nhu cầu dinh dưỡng và các tác động của yếu tố vật lý đến sự

Trang 10

sinh trưởng của rong bún chưa được nghiên cứu nhiều Vì thế, đề tài “Đánh giá

việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và

thành phần sinh hóa của rong bún Enteromorpha spp.” được thực hiện nhằm

góp thêm vào cơ sở dữ liệu về đặc tính sinh học và làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất quy trình nuôi sinh khối rong bún đại trà

1.2 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu là tìm ra liều lượng và loại phân bón thích hợp cho sự phát triển của rong

bún Enteromorpha spp đồng thời đánh giá ảnh hưởng của chế độ phun nước đến

sự phát triển của rong bún nhằm góp phần vào việc xây dựng quy trình nuôi trồng sinh khối rong bún

1.3 Nội dung đề tài

1 Đánh giá sự tăng trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún

Enteromorpha spp được nuôi ở các chế độ dinh dưỡng và liều lượng khác

nhau

2 So sánh sự tăng trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún Enteromorpha

spp ở giai đoạn non và già được nuôi với chế độ phun nước và không phun nước

Trang 11

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Rong bún (Enteromorpha spp.) thuộc ngành tảo lục, xuất hiện tự nhiên ở vùng

biển nhiệt đới và á nhiệt đới trên khắp thế giới và cũng được tìm thấy ở vùng cửa sông, đầm nước lợ, và có khả năng chịu đựng được sự biến động lớn của độ mặn (Budd and Pizzola, 2002) Tản rong dạng ống rỗng, trụ tròn, không phân nhánh, có màu xanh tươi, sống bám vào các giá thể (Ohno, 1993) Chu kỳ phát triển của rong bún ngắn và có khả năng sinh sản nhanh bằng bào tử, xuất hiện theo mùa, phát triển tốt vào mùa hè và tàn lụi vào cuối mùa (Pringle, 1984) Ở điều kiện nước tĩnh, rong bún rời khỏi vật bám, sống trôi nổi tự do và cài quấn lẫn nhau thành đám rong Rong bún sinh trưởng nhanh (0,15-0,25 cm/ngày) và chiều dài tản rong

có thể đạt đến 1m (Gibson, et al., 2001)

2.1.2 Sinh sản của rong bún Enteromorpha

Rong bún sinh sản vô tính và hữu tính luân phiên nhau, chu kì sống của cây giao

tử và cây bào tử có hình thái giống nhau, các tế bào thành thục có màu xanh vàng Giao tử có hai tiêm mao, bào tử có bốn tiêm mao, dao động trong thời gian ngắn

Trang 12

Hợp tử và động bào tử đều bám vào vật bám sau đó cả hai phân cắt thành hai tế bào: một tế bào gốc và tế bào kia phân cắt tiếp thành tản (Kirby, 2001)

Các tế bào của Enteromorpha có thể khác nhau về hình dạng và kích thước từ loài

này sang loài khác, mỗi tế bào chứa một lục lạp duy nhất, thay đổi kích thước tùy thuộc vào kích thước của tế bào

2.1.3 Vòng đời của Enteromorpha

Thể bào tử có hai bộ nhiễm sắc thể (2n), trong khi thể giao tử chỉ có một bộ nhiễm sắc thể (1n), qua quá trình nguyên phân giao tử được sinh ra từ thể giao tử, sau đó giao tử phát triển thành một thể bào tử, thể bào tử qua giảm phân tạo ra động bào

tử mỗi động bào tử phát triển thành một thể giao tử và chu kì vẫn tiếp tục

Hình 2.2 Vòng đời của Enteromorpha (Kirby, 2001)

2.1.4 Phân bố của Enteromorpha

Enteromorpha phân bố trên toàn thế giới, trong nhiều môi trường từ vùng triều cao

đến vùng dưới triều, có thể chịu đựng được độ măn khác nhau từ nước ngọt đến

nước biển, E intestinalis có thể phát triển trên bờ biển đại dương, trong vùng nước

lợ và nội địa trong nước ngọt

Enteromorpha có thể phát triển trên nền đáy cát, bùn, đất đá, thậm chí cả gỗ, kim

loại…Rong sống bám hay trôi nổi thành bè, cài quấn lẫn nhau, phát triển mạnh vào mùa xuân Các loài có thể hình thành thảm dày đặc trôi nổi tự do trong khu vực được bảo vệ hoặc phát triển gắn liền với đá hoặc các loại tảo khác Một số loài

rong bún dài trên 30 cm Đặc biệt Enteromorpha có khả năng bám vào thành tàu

Trang 13

bè và phát triển tốt trên đó do chúng có thể chịu đựng được sự thay đổi về nhiệt độ

và độ mặn rất tốt

Ulva và Enteromorpha bi giới hạn bởi hàm lượng Nitơ, nó cần phải được nuôi

trong môi trường giàu nitơ, chúng được tìm thấy ngày càng tăng, phát triển cùng với các loại tảo khác, trong nhiều môi trường sống khác nhau (Kirby, 2001)

2.1.5 Yếu tố môi trường

Rong bún sống ở nền đáy bùn, là loài không ưa sóng, phân bố nhiều ở vùng triều

có cơ quan bám phát triển Sự phát triển của Enteromorpha chịu sự ảnh hưởng về

ánh sáng, độ mặn, nhiệt độ và chất dinh dưỡng (Kirby, 2001; Martins và Marques,

2002) Đối với nhiệt độ (Maith et al., 1986) báo cáo cho rằng sự tăng trưởng của

E flexuosa trong ao ở Ấn Độ có thể sinh trưởng ở 30oC và duy trì nhiệt độ từ 15,5- 30oC, ở 33oC trở lên rong có hiện tượng mất sắc tố (màu trắng) và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển Nhiệt độ thích hợp nhất cho rong bún phát triển là dưới 30oC trong vùng nước có độ pH khoảng 8,2 Malta et al (1999) cho rằng ở phía tây nam Hà Lan nhiệt độ tối ưu cho sự tăng trưởng của Ulva curvata là 25°C Taylor et al (2001) và Largo et al (2004) đã nghiên cứu về tám loài tảo biển bao gồm loài Enteromorpha và Ulva và tìm thấy rằng nhiệt độ đóng một vai trò rất

quan trọng vào việc kiểm soát tốc độ tăng trưởng của chúng, mức tăng trưởng tối

ưu cho tất cả tám loài này là giữa 15 và 20o

C Sự tăng trưởng của E prolifera ước

lượng khoảng 10-37%ngoài tự nhiên và tăng trưởng 23% mỗi ngày trong phòng

thí nghiệm (Liang et al., 2001) Fu et al (2008) nghiên cứu tác động của nhiệt độ

và ánh sáng đến sinh trưởng và sinh sản của E prolifera Kết quả cho thấy loài

này chủ yếu sinh sản vô tính với tốc độ tăng trưởng là 10,47%/ngày ở nhiệt độ 25°C và ánh sáng 40µmol/m2/s

Độ mặn là một trong các yếu tố môi trường quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng

trưởng của Enteromorpha (Martins et al.,1999), tốc độ tăng trưởng của Enteromorpha được thử nghiệm với một loạt các độ mặn 0-32‰, tỉ lệ tăng trưởng

thấp nhất tại các giá trị độ mặn ≤ 3‰ và khi độ mặn ≤ 1 ‰ sẽ chết Ở độ mặn thấp hơn 5‰ và cao hơn 25‰ thì tốc độ tăng trưởng cũng thấp Độ mặn từ 15-

20‰ thì tốc độ tăng trưởng của E intestinalis là cao nhất Đối với Enteromorpha

bào tử nảy mầm và sự phát triển bị ảnh hưởng bởi độ mặn thấp và tăng trưởng của bào tử là giảm đáng kể ở mức 5‰ trong khi độ mặn ở 20‰ đặc biệt là ở 35‰ thúc

đẩy sự tăng trưởng của bào tử (Sousa et al., 2007) Nghiên cứu của Young et al (1987) về hai loài rộng muối Ulva và Enteromorpha, cả hai loài điều chống lại sự

Trang 14

sốc của độ mặn bởi một màng tế bào mỏng co giản cho phép tế bào phồng lên Mặc dù có sự gia tăng các ion vô cơ, sucrose và praline, thể tích tế bào giảm theo

độ mặn cao (Edward et al., 1987)

Ánh sáng và dinh dưỡng cũng rất quan trọng cho sự tăng trưởng, vào mùa xuân và mùa hè nhiệt độ cao và ánh sáng ảnh hưởng đến sự nảy mầm và phát triển của

E.intestinalis (Lotze và Worm, 2002) Họ cho rằng bào tử Enteromorpha có thể

tồn tại hơn 10 tháng trong bóng tối (Schories, 1995)

Thêm vào đó, chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của Enteromorpha và Ulva có thể hấp thu nhanh chóng với chất dinh dưỡng dư thừa đặc biệt là khi điều kiện nhiệt độ thuận lợi cho sự phát triển của chúng (Hernández et al., 1997; Raffaelli et al., 1998; Kirby, 2001; Morand và Merceron, 2005; Liu et al., 2009).

Họ cho rằng sự phân bố của Enteromorpha và Ulva có thể giới hạn bởi hàm lượng nitơ, do yêu cầu nitơ cao Ulva và Enteromorpha cần phải được nuôi trong môi trường giàu nitơ Khi nitơ ở nồng độ đặt biệt cao Enteromorpha và Ulva có thể sử

dụng chúng để phát triển nhanh chóng, tính năng này giúp chúng phát triển rất nhanh trong khu vực giàu nitơ do ô nhiễm nước thải, nồng độ nitơ thấp dẫn đến hình thành giao tử nâng cao, trong khi nồng độ nitơ cao, dẫn đến tăng trưởng sinh dưỡng và sinh sản vô tính, Kamer et al, (2004) đã tiến hành một thử nghiệm trong

phòng thí nghiệm để định lượng chất dinh dưỡng (nitơ và phốt pho), kết quả của

họ chỉ ra rằng sự tăng trưởng của E intestinalis tăng trong môi trường chỉ giàu

nitơ và sự tăng trưởng này tăng thêm khi P kết hợp với N, Enteromorpha đặc biệt

nhạy cảm với PO4-P và độc tính của NH4+N

2.1.6 Ứng dụng của rong bún Enteromorpha và Ulva

Hàm lượng dinh dưỡng của rong biển xanh rất cao, giá trị dinh dưỡng tùy thuộc vào từng loài, từng giai đoạn phát triển, mùa sinh sản và yếu tố môi trường, theo

(Dere et al., 2003) Kết quả phân tích sơ bộ thành phần hóa sinh cho thấy rong có

giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng carbohytate đạt 20-25% khối lượng tươi ở rong

bún già Theo kết quả phân tích của Aguilera-Morales, et al (2005), hàm lượng

protein của rong bún dao động trong khoảng 11,6- 25,5%, lipid: 2,0-3,6%, tro 36%), giàu chất khoáng (iod và canxi), vitamin (B12, C), và các sắc tố

(32-Shanmugam và Palpandi (2008), đánh giá giá trị dinh dưỡng của rong Ulva reticulata thu hoạch từ cửa sông Vellar ở Ấn độ, kết quả biểu thị rằng hàm lượng

nước là 75,33%; carbohydrate: 50,25%; protein:19,98% và lipid: 1,70 tính theo trọng lượng khô

Trang 15

Enteromorpha chứa nhiều khoáng chất, protein, chất xơ, acid amin thiết yếu cần thiết cho sự phát triển của con người (Aguilera- Morales, et al., 2005) Dùng làm

nguyên liệu để sản xuất phân bón hữu cơ, cung cấp nhiều K, Ca, P cho đất, có thể cải thiện chất lượng cây trồng, tăng năng suất, và bảo vệ môi trường

Dùng làm thức ăn cho gia súc, phụ gia cho các sản phẩm thủy sản và chăn nuôi có thể thúc đẩy tăng trưởng động vật, ngăn ngừa bệnh, nâng cao tỷ lệ trứng, chất lượng sữa…

Rong còn có tác dụng hấp thu N và P cao nên được sử dụng rộng rãi ở các vùng

nước ven biển, E linda và E intestinalis loại bỏ nitrat từ môi trường cao hơn so

với các loài rong biển khác (Harlin, 1978), chúng cũng có khả năng hấp thu cao

niken, coban và crom (Haritonidis và Malea, 1995), Burkholder et al, 2007 đã cho rằng Enteromorpha có thể loại bỏ chất dinh dưỡng dư thừa trong nước và ngăn

ngừa sự phát triển quá mức của thực vật phù du

2.2 Tình hình nuôi rong biển

Việt Nam có khoảng 794 loài rong biển phân bố ở Miền Bắc 310 loài Miền Nam

484 loài, 156 loài tìm thấy ở cả 2 miền Trong đó có các đối tượng quan trọng như:

rong câu (Gracilaria), rong mơ (Sargassum), rong đông (Hypnea), rong mứt (Porphyza), và rong bún (Enteromorpha) Hằng năm có thể khai thác 45-50 ngàn

tấn rong biển

Qua số liệu điều tra và qua các tài liệu tham khảo có thể thấy vùng ven biển Hải Phòng rong biển rất phong phú về thành phần loài Tuy vậy thành phần, sinh lượng và tỷ lệ các ngành rong trong quần xã cũng có nhiều sai khác và đặc trưng cho các quần xã ở mỗi vùng phân bố

Trang 16

Bảng 2.1 Số lƣợng loài của mỗi ngành rong so với tổng số loài trong toàn

vùng Hải Phòng

Ngành rong

Số loài rong Hải Phòng Số loài rong miền Bắc Tổng số

loài rong Việt Nam

Tình hình nuôi trồng rong bún đang được nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện

khá nhiều chủ yếu ở rong câu Gracillariace và rong sụn Kappaphycus

Một số nghiên cứu trồng rong kết hợp với các loài thủy sản khác cũng được thực

hiện: nuôi tôm hùm (Panulirus ornatus) với bào ngư (Haliotus Asinina), rong sụn (Kappaphycus alvarezii) và vẹm xanh (perna virividis): thí nghiệm được tiến hành

ở hai lồng nuôi tôm hùm 25m2/lồng, mật độ 100 con/lồng, một lồng nuôi đơn và một lồng nuôi ghép thêm các đối tượng bào ngư (Haliotus Asinina), rong sụn (Kappaphycus alvarezii) và vẹm xanh (perna virividis) với tỷ lệ tôm hùm: vẹm

xanh: rong sụn là 2:25:30 theo khối lượng, Kết quả là các yếu tố nhiệt độ, pH, độ mặn, nitrate, photphate…ở hai lồng nuôi có sự sai khác nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Hàm lượng nitơ, photpho trong lồng nuôi ghép thấp hơn lồng nuôi đơn, tốc độ sinh trưởng trung bình về khối lượng của tôm hùm ở lồng nuôi đơn là 0,48%/ngày, ở lồng nuôi ghép là 0,53%/ngày, hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ghép cao hơn nuôi đơn, lợi nhuận thu được tăng 42,44% (Nguyễn Hữu Khánh và Thái Ngọc Chiến, 2005)

Trồng rong sụn Kappaphycus alvarezii luân canh trong đìa ao tôm ven biển của

Huỳnh Quang Năng Kết quả thu được là rất khả thi trong việc khai thác và tận dụng tiềm năng mặt nước

Ngô Quốc Bưu và ctv (2000) đã nghiên cứu về sử dụng rong biển để xử lý nhiễm bẩn hữu cơ trong nước thải ao nuôi tôm Kết quả cho thấy 2 loài rong Gracilaria heteroclada và Kappaphycus alvarezii đều thể hiện khả năng hấp thụ N và P trong

nước thải Theo Nguyễn Xuân Hòa và cộng sự (2001) tổng số tăng trưởng và hàm

Trang 17

lượng N, P tổng số tích lũy trong mô rong tăng tỉ lệ thuận với việc tăng nồng độ nitrat (50-1000μg N-NO3/L) và photphat (20-100μg P-PO4/L) trong môi trường Ngô Thị Thu Thảo và Huỳnh Hàn Châu (2008) cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc giảm độ mặn đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong câu

(Gracilaria sp.) và rong sụn (Kappaphycus alvarezii)

Nghiên cứu sử dụng rong xanh Ulva lactuca làm lọc sinh học cho các loài thủy sản của Schuenhoff et al (2003) giúp duy trì và cải thiện chất lượng nước, giảm

thiểu chất thải ra môi trường xung quanh

Nghiên cứu của Moll và Deikman (1995) cho kết quả rong Enteromorpha clathrata khi nuôi trong ao tôm có tốc độ tăng trưởng lên đến 28g khô/m2/ngày, nếu duy trì liên tục trong 1 năm có thể đạt năng suất 100 tấn/ha/năm Hơn nữa tốc

độ sinh trưởng này có thể được duy trì mà không cần cung cấp CO2 hay thay nước

cao hơn, khả năng rong E clathrata nổi trên bề mặt các ao nước mặn là một thuận

lợi cho việc trao đổi khí trực tiếp với khí quyển và bỏ qua các bước hòa tan chất khí phải thông qua các lớp chứa nước xung quanh

Luisma (1992) đã nghiên cứu ảnh hưởng của N, P và cường độ chiếu sáng đến tốc

độ tăng trưởng, cường độ quang hợp và thành phần các hợp chất trong rong sụn, Kết quả cho thấy ở các mức độ ánh sáng 40-200μEm-2,S-1, nồng độ phân N 0,05;0,2;1,5mM và P từ 0-20 μM thì tốc độ tăng trưởng của rong cao khi sử dụng nồng độ N, P cao, mức độ chiếu sáng cao và có sự bão hòa N trong ao nuôi

Nghiên cứu của Sousa (2007) chỉ kết quả nồng độ muối, ánh sáng, dinh dưỡng có

tác động lớn đến sự nảy mầm và sự sinh trưởng của bào tử Enteromorpha spp

Trang 18

Nhìn chung rong biển có thể nuôi hiệu quả trong các ao, đầm với năng suất có thể đạt tới 28g khô/m2/ngày, Với những ao hồ nuôi trồng lớn (10-1000ha) có thể thu hoạch một lượng sinh khối lớn để đáp ứng cho các nhu cầu về công nghiệp (Aresta

et al., 2003)

Một số tác giả cũng đã tìm hiểu về cấu tạo và thành phần các polysaccharide của

thành tế bào rong Ulva spp (Lahaye, 2007; Robic, 2008), Enteromorpha spp

(Chattopadhyay, 2006; Ray, 2006) Kết quả cho thấy, các thành phần carbohydrate hòa tan có thể chiếm tới 29% tổng lượng chất khô của rong

Khác với tảo đỏ hay tảo nâu, các loài tảo lục Ulva hay Enteromorpha thường

không chứa thành phần polysaccharide có tính “nhầy - mucilaginous” như agar và

alginic acid (Asa at el., 2009) Hàm lượng lignin cũng rất thấp trong thành tế bào

Những đặc tính về hóa lý, tính chất lưu biến và sinh học đặc biệt của các thành phần carbohydrate thành tế bào rong biển đã và đang mở ra nhiều cơ hội sử dụng chúng trong tương lai

Trang 19

PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài

Thí nghiệm được thực hiện từ 12/2010-02/2011

Địa điểm: Trại rong biển Khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị

Xô nhựa 100L, bể nhựa 100L

Hệ thống sục khí: máy thổi khí, đá bọt, van điều chỉnh, dây sục khí

Kính hiển vi, vợt, cốc thủy tinh, ca nhựa, máy bơm nước

Cân điên tử, máy đo cường độ ánh sáng, máy đo độ măn, máy đo nhiệt độ-pH

3.2.2 Hóa chất

Bộ test để test các chỉ tiêu: pH, NH4

+, PO4-, NO3 Hóa chất: Chlorine, Thionatrisulfat (Na2S2O3)

Dung dịch Walne, đạm, urea, vi lượng

3.2.3 Nguồn nước

Nước biển được xử lý chlorine, sục khí mạnh 24-48h, sau khi kiểm tra và trung hòa lượng chlorine dư sẽ được pha với nước ngọt thành nguồn nước mặn 10‰ được sử dụng để bố trí thí nghiệm

Trang 20

Bảng 3.1: Bảng thành phần môi trường Walne

Dung dịch A (dùng 8-2ml cho mỗi lit nước nuôi

tảo) FeCL3.6H2O MnCL2.4H2O

H3BO3EDTA NaH2PO4.2H2O

Na2NO3Dung dịch B Nước cất đến Dung dịch B

ZnCL2 CoCL2.6H2O (NH4)6.Mo7O24.4H2O CuSO4.5H2O HCL đậm đặt Nước cất đến Dung dịch C (0.1ml cho mỗi lít nước nuôi tảo)

Vitamin B12 Vitamin B1 Nước cất đến Dung dịch D ( cho tảo khuê, 2ml cho mỗi lít nước

tảo)

Na2SiO3.5H2O Nước cất đến

1.30g 0.36g 33.60g 45.00g 20.00g 100.00g 1.0ml 1000ml

2.1g 2.0g 0.9g 2.9g 10.0ml 100.0ml

10mg 200mg 100ml

40.0g 1000ml

Bảng 3.2 Thành phần vi lượng

ZnCL2 CoCL2,6H2O (NH4)6,Mo7O24,4H2O CuSO4,5H2O HCL đậm đặc Nước cất đến

2,1g 2,0g 0,9g 2,9g 10,0ml 100,0ml

Trang 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá sự tăng trưởng và thành phần sinh hóa của

rong bún Enteromorpha spp được nuôi ở các nguồn dinh dưỡng và liều lượng

khác nhau

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệmđược nuôi ở các chế độ dinh dưỡng khác nhau và 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức:

 Nghiệm thức 1: Dung dịch Walne (2ml/1L nước)

 Nghiệm thức 2: Urea/DAP (10ppm) + vi lượng

 Nghiệm thức 3: Urea/DAP (50ppm) + vi lượng

 Nghiệm thức 4: Urea/DAP (100ppm) + vi lượng

Ngày đăng: 16/12/2015, 07:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2 Vòng đời của Enteromorpha (Kirby, 2001) - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Hình 2.2 Vòng đời của Enteromorpha (Kirby, 2001) (Trang 12)
Bảng 3.1: Bảng thành phần môi trường Walne - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Bảng 3.1 Bảng thành phần môi trường Walne (Trang 20)
Bảng 3.2 Thành phần vi lƣợng - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Bảng 3.2 Thành phần vi lƣợng (Trang 20)
Hình 3.2: Rong bún được nuôi với chế độ  phun nước và không phun nước - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Hình 3.2 Rong bún được nuôi với chế độ phun nước và không phun nước (Trang 23)
Hình 4.1 cho thấy, hàm lượng TAN ảnh hưởng bởi liều lượng phân bón. Ở liều 50 - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Hình 4.1 cho thấy, hàm lượng TAN ảnh hưởng bởi liều lượng phân bón. Ở liều 50 (Trang 26)
Hình 4.2 biểu thị nồng độ NO 3 - - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Hình 4.2 biểu thị nồng độ NO 3 - (Trang 27)
Hình 4.3: Biến động PO 4 - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Hình 4.3 Biến động PO 4 (Trang 28)
Bảng  4.2  Sinh  khối  (g),  thể  tích  (ml)  và  tăng  trưởng  tương  đối  (SGR)  (%/ngày) của Enteromorpha spp - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
ng 4.2 Sinh khối (g), thể tích (ml) và tăng trưởng tương đối (SGR) (%/ngày) của Enteromorpha spp (Trang 29)
Hình 4.4: Mức tăng sinh  khối rong  bún  Enteromorpha  (%)  đƣợc  nuôi  ở  các - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Hình 4.4 Mức tăng sinh khối rong bún Enteromorpha (%) đƣợc nuôi ở các (Trang 30)
Bảng 4.3 Thành phần sinh hóa (% vật chất khô) của Enteromorpha spp. ở các  chế độ dinh dƣỡng khác nhau - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Bảng 4.3 Thành phần sinh hóa (% vật chất khô) của Enteromorpha spp. ở các chế độ dinh dƣỡng khác nhau (Trang 31)
Bảng 4.4 Trung bình các yếu tố môi trường trong thí nghiệm phun nước - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Bảng 4.4 Trung bình các yếu tố môi trường trong thí nghiệm phun nước (Trang 34)
Bảng  4.5  Sinh  khối  (g),  thể  tích  (ml)  của  Enteromorpha  spp.  ở  chế  độ  phun  nước và không phun nước - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
ng 4.5 Sinh khối (g), thể tích (ml) của Enteromorpha spp. ở chế độ phun nước và không phun nước (Trang 35)
Hình 4.5 Mức tăng sinh khối của Enteromorpha ở chế độ phun nước và không  phun nước - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Hình 4.5 Mức tăng sinh khối của Enteromorpha ở chế độ phun nước và không phun nước (Trang 36)
Bảng 4.6: Tăng trưởng tương đối (SGR) (%/ngày) của  Enteromorpha  spp. ở  chế độ phun nước và không phun nước - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Bảng 4.6 Tăng trưởng tương đối (SGR) (%/ngày) của Enteromorpha spp. ở chế độ phun nước và không phun nước (Trang 36)
Bảng 4.7: Thành phần sinh hóa (%trọng lƣợng khô) của Enteromorpha ở chế - Đánh giá việc kích thích và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của rong bún enteromor
Bảng 4.7 Thành phần sinh hóa (%trọng lƣợng khô) của Enteromorpha ở chế (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w