LỜI CẢM ƠN Qua thời gian gần một năm 2005- 2006 nghiên cứu đề tài “ Tìm hiểu một số kiến trúc Thăng Long xưa”, người viết được sự huớng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Hiền- giảng viên
Trang 1KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN LỊCH SỬ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU MỘT SỐ KIẾN TRÚC THĂNG LONG XƯA
MSSV: 6030950 Lớp sư phạm Lịch Sử K29
Cần Thơ, 04/ 2007
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2PHẦN
MỞ ĐẦU Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian gần một năm (2005- 2006) nghiên cứu đề tài “ Tìm hiểu
một số kiến trúc Thăng Long xưa”, người viết được sự huớng dẫn tận tình của
cô Nguyễn Thị Hiền- giảng viên trường Đại học Cần Thơ Trong quá trình thực hiện đã gặp không ít những hạn chế, khó khăn tưởng như không thể vượt qua đựơc, nhưng người viết luôn được sự ủng hộ của quý thầy cô trong và ngoài trường Đại học Cần Thơ
Nguời viết xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Thị Hiền- giảng viên hướng dẫn đề tài
Người viết xin cảm ơn tất cả các Quí thầy cô trong bộ môn lịch đã tận tình động viên tinh thần và ủng hộ
Thật vậy, để thực hiện hoàn chỉnh đề tài này, người viết luôn được sự giúp
đỡ, ủng hộ, khai sáng của tất cả các thầy cô giáo trong bộ môn lịch sử Đó là
động lực lớn nhất để người viết hoàn thành đề tài: “Tìm hiểu một số kiến trúc
Thăng Long xưa”
Người viết( SV thực hiện)
Đinh Văn Phúc
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 41/ Lý do chọn đề tài:
Trong lịch sử dân tộc, từ khi tổ tiên ta xây dựng quốc gia đầu tiên (Văn Lang- Âu Lạc) đến triều Đinh thống nhất đất nước, định đô ở Hoa Lư, có thể coi đây là mốc mở đầu của nghệ thuật kiến trúc dân tộc trong kỷ nguyên phong kiến tự chủ
Đặc biệt, thời nhà Lý (1009- 1225), Lý Thái Tổ đã đưa công cuộc xây dựng đất nước vào quy mô lớn với việc dời đô về Thăng Long (1010) Trong hoàn cảnh như vậy, nghệ thuật kiến trúc nhất là kiến trúc cung đình đã phát triển với một nhịp điệu chưa từng có Thăng Long với tư cách là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa qua các triều đại Trần, nhà Lê sơ, Lê Trung Hưng đã
có một cơ ngơi với hàng trăm cung điện lầu gác, đền đài, chùa tháp… mang đậm văn hiến kinh thành Thăng Long- Hà Nội hiện nay đã trải qua thăng trầm của lịch sử, các công trình này bị tàn phá nhiều đợt, có cái được trùng tu, có cái
bị hủy hoại hoàn toàn
Tất cả quần thể kiến trúc cổ Việt Nam, đặc biệt là kiến trúc Thăng Long
đã tác động không nhỏ đến tôi tạo nên sự tò mò và cảm thấy thật thú vị khi đi sâu tìm hiểu Người viết quyết định chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp với nhan đề: Tìm hiểu một số kiến trúc Thăng Long xưa
Chỉ thị 32- CT/TW của Bộ chính trị Trung Ương Đảng( khóa VIII) về
kỷ niệm 1000 Thăng Long- Hà Nội đã chỉ rõ: “ Đây là một sự kiện trọng
đại trong lịch sử nước nhà Bởi vậy, việc tổ chức 1000 năm Thăng Long- Hà Nội là biểu hiện tình cảm và đạo lý uống ước nhớ nguồn của người Việt Nam đối với các thế hệ cha ông đã có công dựng nước và giữ nuớc; là dịp giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc; động viên toàn Đảng, toàn dân
phấn đấu xây dựng đất nước theo định hướng Xã Hội chủ Nghĩa……”
Chỉ thị của Bộ chính trị còn nhấn mạnh: “…việc thực hiện chương trình
kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và nhân dân Hà Nội, đồng thời là cuộc vận động mang ý nghĩa rộng lớn trên phạm vi cả nước Quá trình tổ chức kỷ niệm cần thiết thực, gắn liền với chương trình phát triển kinh tế- xã hội và xây dựng thủ đô; gắn với việc xây dựng và bồi dưỡng con nguời mới, xây dưng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; phát huy truyền thống Hà Nội 1000 văn hiến”
Xuất phát từ ý nghĩa to lớn của chương trình kỷ niệm 1000 Thăng Long –Hà Nội (1010- 2010) Người viết cũng hưởng ứng chỉ thị này của Bộ chính trị
để giúp người đọc hiểu thêm về kiến trúc Thăng Long của 1000 năm văn hiến
2/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Kinh thành Thăng Long được mang tên từ năm 1010, đến nay đã gần trọn một ngàn năm tuổi Trong khoảng thời gian đó, ông cha ta không ngừng đấu tranh rất khó khăn để chinh phục thiên nhiên, tồn tại và phát triển giống nòi; chiến đấu ngoan cường để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giành độc lập cho đất nước
và xây dựng những nền tảng bản sắc văn hóa, văn minh của dân tộc Trong di sản văn hóa nghệ thuật nói chung và kiến trúc nói riêng, ông cha ta đã để lại nhiều công trình vô giá, đáng để ngày nay chúng ta tìm hiểu, tự hào, trân trọng
và bảo tồn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5Việc tìm hiểu những công trình kiến trúc đó ngày càng đựơc sự quan tâm của Đảng và nhà nước, các ngành hữu quan, các nhà khoa học cũng như đông đảo quần chúng nhân dân
Ở đây, người viết chỉ gói gọn trong phạm vi kiến trúc của kinh thành mang tên Thăng Long Đó là giới thiệu vài nét lịch sử hình thành Thăng Long
và một số kiến trúc được tạo dựng trong thời kỳ này
Chúng ta tìm hiểu lại quá trình xây dựng những công trình kiến trúc Thăng Long xưa để chúng ta nhận định, đánh giá lại những di sản quí báu của
ông cha ta, tăng thêm lòng yêu nước và tự hào dân tộc.Với tinh thần học xưa là
vì nay, học cũ để làm mới… vừa trân trọng bảo tồn những công trình di tích
lịch sử và nghệ thuật kiến trúc ngày xưa còn lưu lại, đáp ứng nhu cầu về thẩm
mĩ và văn hóa của nhân dân làm giàu đẹp kho tàng văn hóa truyền thống của dân tộc và góp phần làm phong phú nền văn hóa nhân loại; chúng ta vừa tìm hiểu vừa khai thác để bảo tồn những di tích, thừa kế những tinh hoa nghệ thuật
cổ xưa để sáng tác, phát triển kiến trúc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa có tính hiện đại và dân tộc
3/ Phương pháp nghiên cứu và lịch sử đề tài:
“ Tìm hiểu một số kiến trúc Thăng Long xưa” được người viết định hình nghiên cứu từ năm 2006 Bắt đầu tìm hiểu về “kinh thành Thăng Long
qua các thời kỳ” để hiểu được vì sao thành mang tên Thăng Long cũng như vị
trí của thành qua các triều đại phong kiến, bước đầu định hình sơ bộ về một số kiến trúc được xây dựng trong các thời kỳ này Sau đó đặt ra hàng loạt câu hỏi: kiến trúc này được dựng vào thời kỳ nào? Thời vua nào? ở đâu? Nó mang ý nghĩa gì? Đến nay nó còn tồn tại hay không? Nếu còn thì ở đâu? Nay có còn nguyên trạng chăng?
Trong thời gian nghiên cứu luôn gắn với tìm tòi học hỏi từ sách vở, tập hợp, sang lọc tư liệu cần thiết Sau đó, người viết tổng hợp thành dàn ý tổng quát Để viết được bài chi tiết, người viết từ nguồn tư liệu trên tiến hành phân tích tìm hiểu nguồn gốc, xuất xứ và ý nghĩa của nó rồi đưa ra những ý kiến đóng góp vào đề tài mà người viết cho là đúng quan điểm và tâm đắt nhất
Ngoài những nguồn tư liệu từ sách vở, người viết còn tìm hiểu thêm qua các phương tiện thông tin, đặc biệt là Internet, thâm nhập thực tế kiến trúc chùa Diên Hựu (theo mô hình chùa Thiên Nam nhất trụ) Với sự hiểu biết hạn chế, người viết đã khái quát một số kiến trúc Thăng Long xưa trên cơ sở hệ thống hóa những tư liệu sưu tầm được Những chương viết về vị trí, cấu trúc thành Đại La- Thăng Long- Hà Nội của Nguyễn Vĩnh Phúc Trần Quốc Vượng- Vũ Tuấn Sán… Những sách viết về kiến trúc cổ Việt Nam, đình chùa, lăng tẩm nổi tiếng…của Vũ Tam Lang, Ngô Huy Quỳnh, Trần Mạnh Thường…
Đặc biệt trong quá trình thực hiện đề tài luôn có sự hướng dẫn, chỉ đạo tận tình của Giáo Viên hướng dẫn- Cô Nguyễn Thị Hiền Bên cạnh đó, người viết còn học hỏi đựơc nhiều vấn đề qua Thầy Lê Phú Thi- giảng viên trường
Đại học Cần Thơ, bộ môn lịch sử - giảng dạy môn “lịch sử kiến trúc”
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng không thể vượt qua được những khó khăn trở ngại:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6- Vì nguồn tư liệu còn thiếu và tản mát nên một số công trình kiến trúc người viết chưa biết hoặc biết nhưng không đầy đủ và thiếu độ chính xác
- Cũng do nguồn tư liệu nghèo nàn nên khi giới thiệu một số công trình kiến trúc, người viết chỉ dừng lại ở mức độ thông tin sơ lược, chưa đi sâu phân tích đánh giá đầy đủ
- Một số công trình kiến trúc chưa rõ về niên đại, xây dựng và trùng tu, sửa chữa cũng như bị hủy hoại như thế nào
Tuy vậy, người viết vẫn tiếp tục cố gắng và hoàn thành bởi vì luôn mong
rằng: Từ việc hệ thống hóa, phân loại và đánh giá, bước đầu rút ra những bài
học kinh nghiệm, giới thiệu cái hay cái đẹp của công trình có giá trị trong di sản nghệ thuật kiến trúc dân tộc Nhằm phục vụ cho việc kế thừa và phát huy truyền thống kiến trúc tốt đẹp của dân tộc ta, mỗi người chúng ta đều tự ý thức bảo tồn những di sản 1000 năm văn hiến để truyền lại cho thế hệ con cháu đời sau Đó là điều mong mỏi của nhiều người
Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, bài viết có thể có thiếu sót và hạn chế về nội dung cũng như hình thức, người viết hy vọng sẽ được quý thầy cô, các bạn đọc đóng góp ý kiến để bài viết ngày càng mang tính khoa học, hoàn chỉnh và phong phú hơn
SV thực hiện
Đinh Văn Phúc
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8Chương I: TÓM TẮT LỊCH SỬ THÀNH THĂNG LONG
I THỜI KỲ TIỀN THĂNG LONG
I.1 Từ La Thành đến Đại La thành:
179 TCN, An Dương Vương bị Triệu Đà lừa lấy mất nỏ thần và bị diệt
vong Từ đấy, đất nước rơi vào ách thống trị của chính quyền Trung Hoa và bị
chia thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam Vùng đất sau này được
gọi là Thăng Long thuộc Giao Chỉ nhưng không được sách sư ghi chép Mãi
đến thế kỷ thứ V (454- 456) Thăng Long được ghi là trung tâm huyện Tống
Bình, ít lâu sau nâng cấp thành quận Tống Bình
544, Lý Bí khởi nghĩa đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, xưng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, định đô ở sông Tô Lịch Nhà Tiền Lý tồn tại đến 603 mới bị đánh bại bởi nhà Tuỳ Nhà Tuỳ đặt trung tâm ở quận Tống Bình
618- 907 nhà Đường đặt “đô hộ phủ”, đất nước ta được gọi là An Nam,
cũng với trung tâm là quận Tống Bình
767 La Thành do Trương Bá Nghi đắp từ năm Đại lịch thứ hai Năm Trình Nguyên thứ bảy (791) Triệu Xương đắp thêm 808 năm Nguyên Hoà thứ ba,
Trương Chu đắp lại gọi là “An Nam La Thành”, “cao 22 thước, thành có 3
cổng, trên có lầu theo phong cách môn lâu phương Bắc Cổng Đông và cổng Tây có lầu 3 gian…Trong thành có 10 toà thành làm theo kiểu cung điện phong kiến…Đấy là cái thành có qui mô tương đối lớn đầu tiên của Hà Nội cổ, dựng
ở bờ Nam sông Tô Lịch”.(11)trang 130
Năm Trường Khánh thứ tư (824) Lý Nguyên Gia dời phủ trị đến sông Tô Lịch đắp một thành nhỏ cũng gọi là La Thành
Năm 865, Cao Biền- viên Tiết độ sứ tỉnh Hải Quân Tiết Trấn, tướng giỏi
của nhà Đường sang đắp lại “An Nam La Thành” của Trương Chu thường được gọi là thành Đại La “Chu vi 3000 bộ (5,580 km) trong đó dựng 80 gian
nhà” “Đại Việt sử lược chép chi tiết hơn…Chu vi 1980 trượng 5 thước (6,139 km), cao 2 trượng 5 thước (8,06 m), chân thành rộng 2 trượng 6 thước (8,36 m)…có 55 lầu vọng dịch, 5 môn lâu, 6 ứng môn, đào 3 ngòi nước, đắp 34 con đường đê bọc quanh dài 2,125 trượng 8 thước (6,589 km), cao 1 trượng (3,90 m), dựng 5000 gian nhà.”(11)trang 133
La Thành hay La Quách Thành hay thành Đại La đều chỉ là tường luỹ bao quanh một cái thành Chính cái nguyên nghĩa này cũng đủ để giải thích vì sao
có nhiều thành được xây mà lại mang cùng một tên La Thành như vậy Do đó, thành Đại La mà Cao Biền xây dựng năm 865 thật ra cũng không phải là do tự ông xây nên, cái chính là ở chỗ: Cao Biền chỉ sửa chữa lại thành của các bậc
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9tiền nhân trước xây đắp mà thôi Và từ thành Đại La của Cao Biền tu sửa chính
là cái nôi của Thăng Long thành sau này
I.2 Từ Cổ Loa qua Hoa Lư đến Thăng Long:
Sau 1000 năm Bắc thuộc Năm 938 Ngô Quyền đã đứng lên đánh đuổi quân Nam Hán, bảo vệ nền độc lập cho dân tộc Ông xưng vương và định đô tại Cổ Loa
Di tích Cổ Loa
Thành Cổ Loa có 3 vòng rõ rệt được xây dựng kiểu vòng ốc (nên gọi là Loa thành), dưới thành ngoài là hào sâu ngập nước thuyền bè đi lại được Chu
vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới
2 km² Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có chỗ 8-12 m Chân lũy rộng 20-30 m, mặt lũy rộng 6-12 m Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ Xen giữa đám đất đá là
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở
Cổ Loa có vị trí chiến lược thuận lợi, nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình Hai mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc Bộ Việt Nam Qua con sông Hoàng, thuyền bè có thể tỏa đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng có thể thâm nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền có thể ra đến biển cả, còn nếu muốn đến vùng phía Ðông Bắc Bộ thì dùng sông Cầu để thâm nhập vào hệ thống sông Thái Bình đến tận sông Thương và sông Lục Nam
Người xưa xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng Ðầm Cả rộng lớn nằm ở phía Ðông cũng được tận dụng biến thành bến cảng làm nơi tụ họp cho hàng trăm thuyền bè Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô Nhờ
ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể phối hợp cùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến
Như vậy sau hàng ngàn năm, Cổ Loa lại trở thành kinh đô của đất Việt Đến khi Ngô Quyền mất, các thế lực trong nước nổi lên tranh quyền đoạt lợi, gây nên phiến loạn thập nhị sứ quân (loạn 12 sứ quân) Trong 12 sứ quân này không ai quan tâm đến việc chiếm giữ miền thành Đại La- Thăng Long cổ cả, hầu như nó bị bỏ quên hơn nửa thế kỷ Cuối năm 967, thế lực Vạn Thắng
Vương Đinh Bộ Lĩnh ngày càng nổi “ từ đấy các lại dân ở Kinh Phủ đều khâm
phục mà theo về”
Nhà Đinh cũng như nhà Tiền Lê đều đóng đô ở Hoa Lư Tuy vùng Đại La
có phần kém hơn Hoa Lư nhưng vẫn là nơi muôn vật giàu thịnh đông vui Chính vì thấy được điều này, năm 1010 khi vua Lý lên thay ngôi triều Lê, đi tư Hoa Lư về thăm quê Đình Bảng ông có ghé thăm lại đất cũ Đại La Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành cũ Đại La Và đổi tên là Thăng Long thành Khu vực nhân dân ở bao quanh thành gọi là Kinh thành, có tên là phủ Ứng Thiên, gồm 61 phố phường Từ đây, Thăng Long bắt đầu thật sự mang trọng trách của một trung tâm kinh tế- chính trị- văn hóa
II THỜI KỲ HÌNH THÀNH THĂNG LONG:
Thành Đại La trải qua biết bao sự thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn đứng vững vì nó được đặt đúng vị trí Long Đỗ- là nơi trung tâm của đất nước Nhưng
nó thật sự phát huy được chức năng của một trung tâm đầu não của quốc gia từ khi mang tên Thăng Long thành Và người khai sinh là Lý Công Uẩn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11II.1 Vài nét về Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
(Tượng đài vua Lý Thái Tổ)
II.1.1 Huyền thoại thân thế và gia đình Lý Công Uẩn:
Triều đại nhà Lý gồm chín đời vua, là một trong những triều đại mở đầu cho việc xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc sau hơn 1000 năm sống trong đêm trường thống trị của phong kiến Trung Quốc Người có công lớn nhất phải kể đến là Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) đã sáng lập Lý triều
Trước đây, làng Dương Lôi có tên là Long Châu thuộc hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp Làng nằm giữa một thắng địa nổi tiếng, phía trước có sông Tiêu Tương chảy qua, sau làng là dãy núi Đại Sơn Phượng Hoàng bao bọc, phía Đông có hồ Đầm Dạ Thời nhà Đường đô hộ, Cao Biền đã qua đây xem thế đất
có hình bông sen 8 cánh (Liên hoa khai bát điệp) mà tâm của nó nằm ở cánh đồng của làng, gần đấy có một quả đất hình rồng ấp và ngày một to thêm Ông
ta thấy rằng đất này có mạch phát đại đế vương, ông cho đào sông và ao 19 chỗ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12để cho đứt long mạch Ít lâu sau có một thiền sư La Quí An qua đây cũng phát hiện ra thế đất đế vương nhưng ông không phát hiện nơi đây đã bị hãm địa bởi phù thuỷ Cao Biền Thiền sư bèn hướng dẫn lấp 19 địa nguyệt và ông còn trồng cây gạo đầu làng để trấn an long mạch Ngày tháng trôi qua thắm thoát cũng được hàng trăm năm…Trong làng có một gia đình họ Phạm, nhà chỉ có hai ông
bà già và một cô con gái nết na xinh đẹp “bà Phạm Thị Ngà người đất Cổ
Pháp, có Cha họ Phạm tên Long, mẹ là Đặng Thị Quang”(6)trang76 Gia đình này rất nghèo với túp lều rơm, ruộng vườn không có Không bao lâu cha cô Ngà mất, hai mẹ con phải bỏ làng, dựng lều sống tạm ở trước cổng chùa Minh Châu, ngày ngày bán nước với hương cau cho những người qua đường hay những người lễ phật Một ngày nọ, có hai vị thiền sư đến chùa truyền giảng kinh kệ ghé qua quán hàng của hai mẹ con cô gái, một vị là Lý Vạn Hạnh trụ trì chùa Tiêu, vị kia là Lý Khánh Văn trụ trì chùa Cổ Pháp Thấy hai mẹ con Ngà
là người nhân hậu, hai vị sư hứa khi nào cụ bà mất sẽ đặt mộ và đặt lại mộ người cha để con cháu sau này được phần hiểu quý Ít lâu sau người mẹ qua đời, cùng với hai vị thiền sư cô Ngà an tán mẹ và dời mộ cha về cùng một chỗ,
ở gò đất có hình rồng ấp, sau khu rừng miễu Cũng theo lời khuyên của hai vị
sư cô gái vào ở hẳn trong chùa (Tiêu Sơn) làm thủ hộ: “ngoài việc nhổ cỏ, quét
chùa, gánh nước, có lúc nàng nghe trộm thiền sư giảng kinh…”(3)trang 1
Sau một ngày làm lụng mệt nhọc, cô gái ngả lưng thiếp đi trước cổng chùa, trong đêm tĩnh mịt thanh vắng, cô gái mơ màng thấy một vị thần đi đến
và bước qua người cô gái, sáng ra cô thấy trong người khác lạ…Cô bảo:
“Tự nhiên trong giấc hồn hoa Ngỡ ai đã đến giao hoà cùng ai
Âm dương thăng gián một hồi, Thuỷ Liêm mở động ngọc lơi dề dề…
Máy trời cơ nhiệm ai bì!
Thác lầy thần khí nàng thì thụ thai…”(3)trang 3
Đã mang thai, cô cảm thấy ái ngại, vì đây là việc xảy ra ở nhà chùa, cô không muốn thiền sư phải mang tiếng và ảnh hưởng tiếng tăm của nhà chùa, cô xin phép sư trụ trì quay về xóm cũ
Nhưng thật sự có phải cha của đứa bé là một “vị thần linh” hay không?
Nguyễn Đăng Dung và Nguyễn Duy Nhất khi viết cuốn Văn Hoá Quê Hương Nhà Lý, Nhà Xuất Bản Hà Nội 1999, trang 66, cho rằng: Lý Vạn Hạnh mới thật sự là cha của đứa bé (Lý Công Uẩn) Cuốn Lý Triều Vọng Mãi 1000 Sau của Kim Cổ, Nhà Xuất Bản Văn Hoá Thông Tin 2004, cũng đề cặp đến vấn đề này…
Trong một đêm mưa gió ngày đầu năm Giáp Tuất (12- 2- 974) cô hạ sinh
một bé trai bụi bẫm, điều lạ là dưới hai bàn chân cậu có chữ “Đế Vương” Cô
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13đặt tên con là Uẩn (lấy tên xóm của cô là Diên Uẩn) Ba năm sau, bà Phạm Thị Ngà đem gửi câu bé vào chùa Cổ Pháp nhờ Lý Khánh Văn nuôi dạy Sau khi nhận nuôi đứa bé, Lý Khánh Văn đặt họ cho Uẩn là: Lý Công Uẩn, mang họ ông Từ nhỏ Uẩn tỏ ra rất thông minh lanh lẹ và có khẩu khí của bậc đế vương
Do đó có rất nhiều câu chuyện được viết về cậu bé với tình tiết bí ẩn, ly kỳ Đặc biệt là khẩu khí kỳ lạ khi đọc nhẫm mấy câu thơ lúc bị sư Khánh Văn phạt nằm sấp xuống đất:
“Dạ tam bất cảm thân trường túc
Chỉ khung sơn hà xả tắc điên”(3)trang 4
(Đêm khuya không dám dang chân duỗi
Vì ngại non sông xã tắc xiêu) Thật đúng là khẩu khí của bậc đế vương
Năm lên 7 tuổi Uẩn đã học hết cả chữ của Khánh Văn, ông phải “cầu cứu” với đạo hữu cũng là anh ruột ông- đó là Lý Vạn Hạnh, là bậc thượng toạ uyên thâm kim cổ, tu ở chùa Lục Tổ, rộng thông 3 học phái (Nho, Lão, Phật), ông tu theo Phật giáo Thiền tông nhưng cũng nặng về Phật giáo Mật tông Vạn Hạnh
có khả năng sáng tác nhiều bài thơ văn mang tính chất sấm ký Do đó, ông được các vua Lê rất trọng dụng
Khi Công Uẩn gặp sư Vạn Hạnh, nhà sư liền thốt lên một lời sấm: lớn lên
có thể kinh bang tế thế làm bậc minh chủ trong thiên hạ…sau khi Công Uẩn về sống ở chùa Lục Tổ, cậu toàn tâm toàn ý châm chỉ học hành cùng với sự nâng
đỡ chăm sóc tận tình của Vạn Hạnh Quốc Sư Mười năm trôi qua, công Uẩn đã
là một chàng trai trưởng thành, tuấn tú khôi ngô, tài trí có thừa Uẩn được Vạn Hạnh tiến cử vào triều đình Hoa Lư Từ đây, Uẩn bước lên con đường chính trị, bắt đầu nghiệp đế vương của mình Đặt biệt với Lý Công Uẩn- người có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển thịnh đạt của Thăng Long thành
II.1.2 Nghiệp đế vương của Lý Công Uẩn:
Thời vua Lê Đại Hành, Lý Công Uẩn là một người thân tín theo hầu Thái
tử Long Việt và được sự che chở của các nhà sư đang giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Khi vua Đại Hành băng hà, Long Việt lên ngôi lấy hiệu
là Trung Tông Nhưng sau 3 ngày làm vua, Trung Tông bị chính em ruột mình
là Lê Long Đĩnh sát hại, cướp ngôi vua Các thị vệ và quân thần sợ hãi bỏ chạy, chỉ riêng Lý Công Uẩn ở lại, ôm xác vua Lê Trung Tông mà khóc Long Đĩnh khen Công Uẩn là người trung nghĩa và phong làm Tứ sương quân, Phó chỉ huy
sứ, nắm trực tiếp 500 quân Tuỳ Long dưới trướng Nói về sự kiện này sách “Sự
Phục Hưng Của Nước Đại Việt đã nhận định: “Ngoạ Triều (Long Đĩnh) khen (Lý Công Uẩn) là người trung, ban tiền, cho làm Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Tuy nhiên vẫn chưa rõ là Lê Ngoạ Triều nổi tiềng tàn bạo đã cảm được lòng trung của Lý Công Uẩn, hay Uẩn có tiếp tay trong kế hoạch sát hại
Lê Trung Tông…”(1)tr 71 Đây là một nhận định không thể bỏ qua được, tuy
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14nhiên nhận định vẫn là nhận định, không luận cứ khoa học nào để chứng minh làm sáng tỏ được điều này, nhưng với nó, cũng đã để lại ít nhiều suy ngẫm trong mỗi chúng ta…
Năm 1005 Lê Long Đĩnh lên ngôi lấy hiệu là Cảnh Thụy Và ông là một
vị “hôn quân”, quần thần quan lại, tăng lữ Phật giáo ai cũng oán than Tất cả họ chuẩn bị thay một vị vua mới
Sư Vạn Hạnh, nhân thấy vua Ngoạ Triều đã ốm yếu, không thọ được bao lâu, có ý phù trợ cho Lý Công Uẩn, ông dùng các mẹo dựa vào thần linh, sáng tác các bài đồng dao, bài sấm truyền để chuẩn bị cho Lý Công Uẩn lên ngôi
Cây gạo đầu làng do Thiền sư La Quý An trồng ngày xưa ở hương Diên Uẩn để trấn an long mạch Nay bị sét đánh, dấu vết thành chữ:
“Thụ căn diểu diểu
Mộc biểu thanh thanh Hoà đao mộc lạc Thập bát tử thành Chấn cung hiện nhật Đoài cung ẩn tinh Lục thất niên gian Thiên hạ thái bình”(6).
Sư Vạn Hạnh giải thích: “căn” là gốc, gốc là vua, “diểu” là yểu đồng âm, vậy câu đầu nghĩa là: vua chết yểu “Biểu” là ngọn, ngọn là bầy tôi, “thanh” là thịnh, nghĩa là: trong số bầy tôi lên nắm quyền “Hoà ( ), đao ( ), mộc ( )” ghép lại thành chữ Lê ( ), thế là Lê mất “Thập ( ), bát ( ), tử ( )” ghép thành chữ Lý ( ), thế là Lý lên ngôi Thiên tử hiện ở phương Đông thì thứ nhân phải lạc ở phương Tây Trải qua 6,7 năm thiên hạ sẽ thái bình
Ngoài ra, Vạn Hạnh còn sáng tác nhiều bài thơ, văn báo trước sự thay đổi triều đại như: Đại Sơn, Quốc Tự, Yết Bảng Thị Chúng…Sau đây là bài “Quốc Tự”:
“Cái tam nguyệt chi nội
Thân vệ đăng trụ xả tắc Lạc trà ấn quốc tự, Thập khẩu thuỷ khổ khứ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15Ngoài ra, viên quan Chi Hậu Đào Cam Mộc cũng khuyên:
“Lâu nay chúa thượng u mê, bạo ngược làm nhiều điều bất nghĩa, trời
chán ghét ông ta…Thân Vệ sao không lúc này đem kỳ mưu, dùng quyết đoán,
xa thì theo trời, dưới chiều lòng người mà cứ khư khư giữ tiểu tiết làm gì?”(2)trang 35, 36
Cuối 1009 Lê Long Đĩnh chết, các triều thần đứng đầu là Đào Cam Mộc cùng nhau suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, nhưng ông chưa đồng ý Thật vậy, không có con đường nào khác để chọn, hơn nữa, mẹ Lê Long Đĩnh- bà Thái Hậu thân chinh đến khuyên Công Uẩn lên ngôi Bấy giờ ông mới lên ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Thuận Thiên
Như vậy, Lý Công Uẩn được định hướng chính trị từ nhỏ và đã trải qua biết bao gian nan, biết bao sự khôn khéo, ứng xử lanh lẹ chốn cung đình, ông đem lại mọi người lòng yêu thương tin tưởng, vào một tương lai đất nước được yên bình và phát triển thịnh vượng
II.2 CHIẾU DỜI ĐÔ TỪ HOA LƯ RA THĂNG LONG
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng Đế Mùa xuân năm Canh Tuất, vua đi thăm thú một dải sông Hồng từ bến Hạc Trì đến Hoàng Giang, ngắm thế đất ở thành Đại La, có núi Tản Viên, Tam Đảo trấn ngự, ở mạn Bắc sông Hồng chảy phía mặt, đứng chỗ cao nhìn rộng ra khắp miền Cuộc tuần du về đến Trường Yên, Ngài chép miệng thấy đất Hoa Lư chật hẹp, và có ý định dời đô Quốc sư Vạn Hạnh bàn:
“Đế đô phải có mạch lớn Con mắt của Cao Vương (Cao Biền) nhìn đúng
mới xây Đại La thành, Bệ hạ còn chần chừ gi nữa”.(3)trang 11
Nhưng không phải trong triều ai cũng đồng ý Cuối cùng với ý chi quyết đoán, lập trường vững vàng, Lý Thái Tổ quyết định lập chiếu dời đô:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16(Chiếu dời đô)
Thiên đô chiếu (遷都詔)Bản chữ Hán:
况高王故都大羅城。宅天地區域之中。得龍蟠虎踞之勢。正 南北東西之位。便江山向背之宜。其地廣而坦平。厥土高而爽塏。民居
蔑昏墊之困。万物極繁阜之丰。遍覽越邦。斯爲勝地。誠四方輻輳之要
会。爲万世帝王之上都。
朕欲因此地利以定厥居。卿等如何。
Bản phiên âm Hán-Việt:
Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam
tỉ Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17hướng bội chi nghi Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?
Bản dịch tiếng Việt:
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô ¹, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô ², há phải các vua thời Tam Đại ³ ấy theo ý riêng tự tiện dời đô Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp Trẫm rất đau đớn, không thể không dời
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương , ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký
toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993)
• Bản chú thích chiếu dời đô:
1 Năm lần dời đô: Vua Thang (Thành Thang) đóng đô ở phía đông nam huyện Thương Khâu (thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ) Trọng Đinh dời đô đến huyện Thành Cao (thuộc tỉnh Hà Nam) Hà Đản Giáp đời đô đến phủ Chương Đức (cũng thuộc tỉnh Hà Nam).Tổ Ất dời đô đến phủ Thuận Đức (tỉnh Hà Đông bây giờ) Bàn Canh dời đô đến huyện Yên Sư (hay Ân Sư thuộc tỉnh Hà Nam)
2 Ba lần dời đô: Chu Văn Vương đóng đô ở phía đông tỉnh Thiểm Tây Chu Vũ Vương dời đô đến huyện Tương Yên (tỉnh Thiểm Tây) Chu Thành Vương dời đô đến huyện Lạc Dương (tỉnh Hà Nam)
3 Thời Tam Đại: Ba nhà Hạ, Thương, Chu trong lịch sử Trung Quốc
4 Cao Biền: Quan đô hộ Giao Châu của nhà Đường vào khoảng các năm 864-875 Cao Biền đắp thêm thành Đại La vào khoảng năm 865
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Đầu thu tháng 7 năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ dời đô từ thành Hoa Lư ra thành Đại La Khi thuyền đến nơi, trên phía thành có mây lớn kéo đến, bỗng dưng có dáng rồng từ dưới đất bay lên, vua mừng rỡ phán bảo rằng:
“Đất mới rồng lên, ta nên đổi Đại La thành Thăng Long há phải chẳng đẹp
sao?”.(3)trang 13 Và từ đó kinh đô Đại Việt mang tên Thăng Long
Vòng thành ngoài là La Thành của Cao Biền đắp, được Lý Công Uẩn cho giữ nguyên
Vòng thành trong được Lý Công Uẩn cho đắp thêm, gồm 4 cửa:
Cửa Đông: được mang tên chữ Tường Phù, là điềm tốt lành luôn đón ánh sáng từ phương Đông lại
Cửa Tây: mang chữ Quảng Phúc, là phúc lớn
Cửa Nam: được mang tên chữ Đại Hưng là hưng thịnh, bền vững lâu dài
và phát triển
Cửa Bắc: được mệnh chữ Diệu Đức, là đức sáng ngời, còn hàm ý làm tiêu tan màu đen tối u ám của phương Bắc, cậy nước lớn dân đông xâm lấn từ bao đời nay
Vòng thành trong gồm 2 khu: khu làm việc của triều đình và khu hoàng thất Quan trọng nhất là điện Càn Nguyên- nơi vua và triều thần hội họp luận bàn chính sự
Nhà Lý dời đô về Thăng Long đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong vai trò là trung tâm kinh tế- chính trị- văn hóa của nhà nước Đại Việt
“Một trong các biện pháp trước tiên nhằm thiết lập chính thể trung ương
tập quyền do Lý Công Uẩn tiến hành là dời đô từ Hoa Lư về trung tâm đất nước”(1)
Việc lập một chính quyền là điều tối cần thiết cho bất cứ triều đại phong kiến nào Để làm được điều này, việc chọn một nơi thích hợp hội tụ yêu cầu kinh tế, xã hội, có vị trí trung tâm, nơi giao lưu của các tuyến giao thông thủy
bộ, từ đó có thể chi phối toàn bộ đất nước một cách hiệu quả nhất đồng thời bảo vệ cả mặt Bắc lẫn mặt Nam Đây là nguyên nhân bao trùm quan trọng, có
lý lẽ sắc bén, thuyết phục nhất để giải thích việc dời đô của Lý Công Uẩn Thật
vậy, ý đồ này được Lý Công Uẩn nói rõ trong chiếu dời đô: “….Huống chi
thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất ở thế rồng cuộn
hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây tiện nghi núi sông sau trước Vùng này đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không thể thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương…”(1)tr75
Vua Hùng đóng đô ở Bạch Hạc, Việt Trì Vì là miền giáp ranh giữa miền núi và miền xuôi, nơi đầu mối giao thông xuôi ngược, đồng bằng còn đang
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19218 TCN An Dương Vương dời đô xuống Cổ Loa, vì đồng bằng lúc này mơn mởn lúa xanh, trung tâm kinh tế rút về xuôi
Rồi Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh, Bà Triệu đóng đô dưới chân núi Nưa,
đó là những chốn quê nhà, có ý nghĩa quân sự nhiều hơn ý nghĩa kinh tế- văn hóa…
Thời Bắc thuộc chính quyền đô hộ đều đóng đô ở xứ Bắc (Luy Lâu, Long Biên…), vì giao thông thủy bộ thuận lợi với miền ngược miền xuôi, với nước
ta và Bắc quốc
Lý Bí đã nhận ra vùng Thăng Long cổ, là nơi có vị trí quan trọng, xứng đáng xây dựng kinh đô Đến thời kỳ phụ thuộc, nhà Tùy- Đường cho đắp Tử thành đến Đại La thành Tất cả cho thấy họ có tầm nhìn chiến lược lớn lao…
Đinh, Lê rút về Hoa Lư, đây là nơi nhỏ hẹp ẩm thấp, giao lưu không tiện, cũng là quê nhà của Đinh Tiên Hoàng, thích hợp về phòng ngự quân sự
Lý Thái Tổ chọn thành Đại La vốn do Cao Biền xây đắp Không thể loại trừ việc Lý Thái Tổ cũng như các tiền nhiệm của mình dự định đặt đô ở châu
Cổ Pháp (Tiên Sơn, Hà Bắc), nơi quê hương ông Tuy nhiên trên đường về quê ông thấy trường thành Đại La vẫn còn và quyết định xây dựng kinh đô ở đó Hiển nhiên lý do khác nữa của việc chọn kinh đô là vì ở đây kề sát với quê hương ông
II.3 Ý nghĩa của tên Thăng Long thành:
“…kinh thành được đổi tên là Thăng Long, có nghĩa là “rồng bay” Tên gọi này tượng trưng cho một quốc gia mới non trẻ, báo hiệu một sự phát triển rực rỡ trong tương lai”(1)
Trong hoàn cảnh đất nước hòa bình thịnh trị, chính quyền trung ương tập quyền bước đầu được củng cố, thì việc chăm lo phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân là công việc tiên quyết mà Lý Công Uẩn phải làm Triều đại nào cũng vậy, phải luôn lấy dân làm gốc, muốn nước thịnh thì trước hết dân phải thịnh, dân thịnh nghĩa là kinh tế của họ phải được đảm bảo, no ấm, hết lòng xây dựng cuộc sống, xây dựng đất nước.Để làm được điều này nhà vua phải có những chính sách phát triển kinh tế cho phù hợp.Với Lý Công Uẩn, ông đã chọn nơi có vị trí địa lý thuận lợi để xây dựng cơ nghiệp Do đó, việc dời đô đến đây nó mang ý nghĩa đầu tiên là ý nghĩa về kinh tế, đảm bảo cuộc sống no
ấm cho nhân dân sau này
“…khi Lý Công Uẩn dời đô tới đây, tư tưởng của nhà vua cũng là mong muốn dân tộc Việt Nam, đất nước Đại Việt cũng sẽ luôn phát triển như “Rồng bay lên”(4) Tư tưởng này còn được bảo tồn qua các triều đại sau Mặc dầu Thăng Long đã bị nhiều sóng gió do xâm lược Nguyên, Mông, Minh, Thanh tàn phá, song vẫn không mất đi mà trường tồn mãi mãi vì nó đã được đặt đúng
vị trí của rốn Rồng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Thật vậy, ý nghĩa lớn, vì tên gọi “Rồng bay” vạch được khí thế mạnh mẽ
vương lên của kinh thành đất nước Và hữu thức hay vô thức nó ẩn tàng ý
nghĩa về nguồn, gợi nhớ về gốc tổ rồng tiên Rõ ràng “Rồng” là một biểu tượng
của dũng mảnh tung hoành “vân tùy long, phong tùy hổ” Tướng rồng là dương, nhưng bản chất rồng lại là âm, đó cũng là biểu tượng của tính cách Việt Nam, rất dũng cảm mà cũng rất nhu hòa, tùy thời, tùy lúc…Rồng là biểu tượng chính xác nhất của quốc gia Đại Việt, được xây dựng trên nền gốc văn minh nông nghiệp Tất cả cho thấy với cái tên Thăng Long, Lý Công Uẩn mong muốn nơi đây, phát triển cả về kinh tế- chính trị- văn hóa- giáo dục, lịch sử…
Nhà thơ Huy Cận ca ngợi tầm nhìn của Lý Thái Tổ cũng như ý nghĩa của việc dời đô, Huy Cận viết:
“Mắt chứa thời gian chứa không gian
Nhìn trước nghìn năm mắt địa bàn Vạn dặm phù sa bồi lịch sử
Dời đô đất nước đã sang trang
(Xuân Ất Hợi 1995)”(2)tr41
THÀNH THĂNG LONG XƯA
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21Như trong chương I đã đề cập tới, khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lý (1009-1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2/11 Kỷ Dậu (2/11/1009) Tháng 7 mùa Thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long Ngay trong mùa Thu năm đó, nhà Lý
đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua, triều đình và hoàng gia Trung tâm là điện Càn Nguyên, nơi thiết triều của nhà vua, hai bên có điện Tập Hiền và Giảng Võ, phía sau là điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ Những năm sau, một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm Một vòng thành bao quanh các cung điện cũng được xây đắp trong năm đầu, gọi là Long Thành Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia
Trong những biến loạn cuối đời Lý, Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề Cuộc thay triều đổi đại từ triều Lý sang triều Trần đã diễn ra ở kinh đô Thăng Long bằng màn kịch nhường ngôi của vị nữ vương Lý Chiêu Hoàng cho chồng
là Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông) vào năm 1225
Cuộc đảo chính êm ả đó làm cho kinh đô của đất nước hầu như không bị xáo động Ngay cả tên kinh đô: Thăng Long, cũng tồn tại nguyên vẹn; cho mãi tới cuối triều Trần, khi mà Hồ Quý Ly cho xây dựng thành Tây Đô để chuẩn bị cướp ngôi nhà Trần, kinh thành Thăng Long mới được gọi thêm tên mới là Đông Đô nhằm phân biệt với Tây Đô
Nhà Trần tiếp thu toàn bộ mọi tài sản của kinh đô nhà Lý rồi tiếp tục tu
bổ xây dựng theo yêu cầu mới
Vòng thành Đại La có lúc mở rộng thêm, dựng thêm rào trại củng cố việc phòng thủ chung cho cả kinh thành Tuy nhiên về cơ bản vòng thành này vẫn không có gì thay đổi về cả hình dáng, kỹ thuật kiến trúc lẫn chức năng của nó
Đáng chú ý có vòng thành trong cùng được đắp từ thời Lý gọi là Long Thành Ở thời Lý, Long Thành mới được đắp như một vòng tường bao quanh một số cung điện nơi vua ở và làm việc
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Tới thời Trần, vòng thành này được đắp thêm kiên cố và có đặt quân canh gác nghiêm mật Vòng thành đã mang hoàn toàn tính chất quân sự và trở thành vòng tường thứ ba của công trình kiến trúc quân sự Thăng Long
"Quý mão (1243) Tháng 2 đắp thành bên trong gọi là thành Long Phượng Thành Long Phượng cũng chính là Long Thành thời Lý Có chỗ sử chép khác gọi là Phượng Thành, nhưng cũng chỉ là vòng thành trong cùng của ba vòng thành của kinh đô Quân Tứ Sương canh giữ bốn cửa thành và quản cả số tội
đồ vào làm việc dọn ở Phượng Thành” (14)
Cung điện trong thành được dựng thêm không ít Ngay từ đời Trần Thái
Tông đã xây thêm cung điện mới "Canh dần (1230) Trong thành dựng cung
điện, lầu gác và nhà lang vũ đông tây, bên tả là cung Thánh Từ, bên hữu là cung Quan" (14) Tiếp tục những đời sau xây thêm khá nhiều Đường sá phố
phường có nhiều đổi thay
“Những lần chiến tranh, kẻ thù vào cướp phá Thăng Long ví như lần quân Chiêm Thành vào Thăng Long ngày 27 tháng 3 nhuận năm Tân Hợi (1371) đã "đốt phá cung điện cướp lấy con gái, ngọc lụa đem về", "giặc đốt cung điện, đồ thư trụi cả Bộ mặt Thăng Long đổi thay to lớn, vẻ uy nghiêm, tráng lệ, sầm uất mất hẳn Song những vòng thành, những dải hào ngoài thì,
dù cũng có bị tàn phá phần nào, vẫn giữ được dáng vẻ cũ, vẫn hoàn toàn có thể sử dụng lại được
Thời Lê sơ, Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm là điện Kính Thiên dựng năm 1428, xây lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn còn trong thành Hà Nội Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ Tập Bản đồ Hồng Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lần sao chép lại về sau, nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt, trong đó có bản đồ thành Đông Kinh Qua bản đồ này, có thể hình dung được qui mô và cấu trúc của Hoàng Thành
và Cấm Thành của thành Thăng Long thế kỷ XV cùng một số cung điện đương thời”(14)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23Tất cả những công trình kiến trúc trong hoàng thành Thăng Long đã tồn tại cách chúng ta ngày nay gần hàng ngàn năm và chính bản thân nó cũng để lại biết bao nhiêu những giá trị văn hóa lịch sử- niềm tự hào của dân tộc
Vị trí kinh thành cũng như vị trí một số công trình kiến trúc trước đây được xác định bởi bản đồ Hồng Đức xưa, thì nay,chúng ta cùng tìm hiểu vị trí thực của chúng trên thực địa Bởi lẽ, sang thời Nguyễn, 1805 Gia Long đã cho san lấp một số di tích kinh thành để xây thành Hà Nội
Đây là vấn đề không những nhà nước ta, giới sử học, khảo cổ học quan tâm mà còn cả thế giới cũng đang mong chờ vào việc tìm lại những giá trị bất diệt của kinh thành Thăng Long 1000 năm văn hiến
Vị trí thành Thăng Long xưa, cũng như những kiến trúc tiêu biểu của kinh thành đã được rất nhiều người tìm tòi khảo cứu và đưa ra những kết luận
I THEO QUAN NIỆM TRƯỚC ĐÂY VỀ VỊ TRÍ THÀNH THĂNG LONG XƯA
Theo bản đồ Hồng Đức được soạn vẽ và ban hành vào năm 1490 (cuối thời Lê Thánh Tông 1460- 1497) thì hoàng thành Thăng Long hình gấp khúc chạy song song với sông Tô Lịch ở phía Bắc và phía Tây, sau đó đi về phía Đông đến chỗ gặp bức tường đất đi về phía Đông Nam thì ngoặt về hướng Đông Bắc, đến chỗ phía Bắc Quốc Tử Giám lại đi về phía Đông, đên chỗ quá nửa Nam một đoạn thì quay trở lên phía Bắc gặp bức tường thành phía Bắc trên
bờ phía Nam sông Tô Lịch Khoảng đầu năm 1959, để góp phần biên soạn bộ Lịch sử thủ đô Hà Nội do viện sử học phụ trách và nhân dịp kỷ niệm 950 năm định đô Thăng Long vào năm 1960 tòa soạn Tạp chí nghiên cứu lịch sử đề xuất
ý kiến cần xác định vị trí thành Thăng Long đời Lý- Trần- Lê ở đâu? Và trân trọng mời các nhà nghiên cứu tham gia thảo luận
Theo Tạp Chí Khoa Học Lịch Sử xưa và nay số 10 năm 1995 cho rằng:
“Qua xác minh, đoạn đường Hoàng Hoa Thám và đoạn đê La Thành từ Bưởi
đến Cầu Giấy và khu triển lãm Giảng Võ chính là di tích của bức tường thành Thăng Long Phần còn lại đi theo phố Giảng Võ đến bến xe Kim Mã, rồi đi về phía Đông qua vườn hoa Lê Trực, sau đó chạy song song với phố Trần Phú, cách phố này khoảng 60m về phía Bắc gặp bức tường thành ở Hàng Lược, men theo phía Tây phố này qua vườn hoa Hàng Đậu, chạy song song với phố Quán Thánh rồi nối vào phố Hoàng Hoa Thám
Theo bản đồ Hồng Đức, hoàng thành lúc này có ba cửa là “Cửa Đông”, “Cửa Nam” và “Cửa Bảo Khánh” Cửa Đông ở vào quãng ngã tư Lãn Ông và Phố Thuốc Bắc ngày nay Cửa Nam nằm trên phố Tôn Thất Thiệp cách phố Trần Phú khoảng 60m về phía Bắc Cửa Bảo Khánh nằm chỗ nào trên đoạn đê La Thành từ Cầu Giấy đến Làng Giảng Võ chưa có tài liệu để xác minh Nhưng tên gọi “ Bảo Khánh” vẫn còn lưu truyền lại ở tên làng “Bảo Khánh” và hồ “ Bảo Khánh” mà năm 1962 được đổi là Ngọc Khánh do kiêng niên hiệu Bảo Đại Cấm thành hình vuông, nhỏ hơn nhiều so với hoàng thành, mỗi bề dài
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24chừng 700m mà trung tâm là điện Kính Thiên Phía trước điện Kính Thiên là cửa Đoan Môn và cửa Chu Tước Hiện nay, trên thực địa nền điện Kính Thiên, cửa Đoan Môn vẫn còn Nền điện Kính Thiên nằm trong doanh trại quân đội, phía Đông phố Hoàng Diệu, hơi chếch về phía Bắc so với phố Bắc sơn Cửa Đoan Mông cách Điện Kính Thiên khoảng 150m về phía Nam, trông ra Câu Lạc Bộ Quân Đội Cửa Chu Tước tức cửa Nam cửa Cấm Thành là nơi xây cột
cờ Hà Nội Ngày nay, đứng trên tam cấp của cột cờ Hà Nội, nhìn về phía Bắc, người ta còn thấy một lầu mái cong đó chính là “ lầu Ngũ Môn” trên cửa Đoan Môn, một di tích của thành Thăng Long xây từ thời Lý.” (13)Tr 6,7
Sau khi dựa vào những chứng cứ trong sử sách và trên thực địa, Trần Huy
Bá(a) đưa ra nhận định mới: “ Dựa vào những địa điểm đã được xác định ấy, tôi
(Huy Bá) thử tìm lại các khu vực chính của nội thành Thăng Long vào thời Lý, Trần, Lê và thấy vị trí của nó như sau:
Phía Bắc áng chừng ở chỗ rẽ đường xuống trường đua ngựa cho đến quá Đền Quán Thánh
Phía Đông từ quá Đền Quán Thánh cho đến gần Văn Miếu bây giờ
Phía Nam từ gần Văn Miếu tới gần chỗ rẽ tránh đường xe điện Cầu Giấy Phía Tây từ gần tránh xe điện Cầu Giấy đi tắt đến gần chỗ đường rẽ xuống trường đua ngựa bây giờ
Như thế các cung điện chính phải ở vào khu vực Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Vạn Phúc, nhà máy rượu bia và chùa Bút Tháp bây giờ mới là đúng chỗ Vậy thành Thăng Long xây năm 1805 có lẽ đã theo sự nhu cầu về gần bến sông Hồng Hà
mà đã thiên hẳn ra ngoài phía Đông thành Thăng Long cũ rồi, các di vật đều thiên cả ra mà sử không chép tường tận chăng?”(13)
Ý kiến trên đây ngay sau đó được một số nhà sử học, khảo cổ học đồng tình ủng hộ
Nhưng cũng có nhiều ý kiến khác, các nhà nghiên cứu như Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán, Nguyễn Đức Nùng…căn cứ vào những tài liệu điều tra tại chỗ, kết hợp với tài liệu văn bản địa danh học lịch sử đã xác định khu vực
hoàng thành Thăng Long bao gồm: “Phía Bắc là song song với đường Thụy
Khuê, Đền Quan Thánh, Phan Đình Phùng, dốc hàng Lược, phố Chả Cá
Phía Đông là gần sát với bờ đê sông Hồng
Phía Nam là khu vực cửa Nam ngày nay
Phía Tây là chạy song song với đường Hùng Vương.” (15)
Ý kiến vị trí hoàng thành Thăng Long đời Lý Trần, Lê vừa nêu trên đây được nhiều nhà nghiên cứu tán thành hơn ý kiến do Trần Huy Bá đề xuất
Ý kiến thứ hai này lại càng được khẳng định hơn sau kết quả khai quật địa điểm Hậu Lâu do Viện khảo cổ học Việt Nam và Ban quản lý di tích- Danh thắng Hà Nội tiến hành từ ngày 15- 10- 1998 đến 15- 01- 1999
a
Trần Huy Bá vốn là một người sống lâu ở Hà Nội và nguyên là nhân viên của Viện Viễn Đông Bác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25Trong lần khai quật địa điểm Hậu Lâu này các nhà khảo cổ học đã đào một hố với diện tích 172 m2 Tới độ sâu 3,2m tìm thấy một hàng đá với một chân cột lớn có trang trí 16 cánh sen nổi mang phong cách của nghệ thuật thời
Lý, Trần Cạnh đó là hàng nghìn di vật trang trí, nhiều gạch Giang Tây Quân- loại gạch tìm thấy ở Hoa Lư và một vài phế tích khác có niên đại cuối thế kỷ thứ X, đầu thế kỷ XI Những kiến trúc đất nung là những mảnh diềm mái, trong
đó rồng uốn khúc trong lá đề, những gạch men thời Lý Trần, những đồ gốm có đúc nổi chữ Quan (b)
(gợi ý về vật phẩm được sản xuất ở lò Quan hay lò đồ cung đình, dinh thự cho vua và quan lại ở hoàng cung)
Tất cả những nhận định trên phải chăng đã khẳng định cho giả thuyết là:
hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê cũng chỉ quanh quẩn khu vực thành cổ Hà Nội được xây dựng lại dưới thời Gia Long Dẫu còn tiếp tục
nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa, song kết quả khai quật Hậu Lâu có thể khẳng định cho giả thuyết: Hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê chính là năm trên khu vực Hà Nội hiện nay mà điện Kính Thiên là trung tâm
II NHỮNG NHẬN ĐỊNH GẦN ĐÂY CỦA CÁC NHÀ KHẢO CỔ
Để tìm dấu vết thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê và vị trí của Cấm Thành xưa trên vị trí thực hiện nay cũng như tìm lại vết tích một số công trình kiến trúc tiêu biểu của kinh thành Thăng Long Người ta đã dựa trên cơ sở những cuộc khai quật và tìm tòi khảo cổ đã có những nhận định sơ bộ khá thuyết phục
dao hình đầu con vẹt Hai hiện vật đều bằng vàng tìm thấy ở độ sâu chừng 2 mét, nơi cổng vào trường Đua Ngựa
Vùng Ngọc Hà, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã v.v hàng trăm năm nay thường tìm thấy đồ đất nung hình rồng, phượng, cầm thú v.v Đó là những bộ phận vật liệu kiến trúc và trang trí kiến trúc mang phong cách Lý - Trần Hàng vạn mảnh đồ sứ tráng men xanh, vàng, nâu cũng tìm được tại vùng này
Năm 1970 - 1972, Khoa Sử Trường đại học Tổng hợp Hà Nội đã khai quật ở sườn phía tây nam núi Cung nhằm tìm dấu vết cung Thái Hòa và thành trong Đợt khai quật không mang lại kết quả mong muốn
Năm 1972, Viện Bảo tàng Lịch sử khai quật khu Đồng Gạch và Đồng Giếng Hàng loạt di vật kiến trúc như gạch, ngói, sư tử đá và đất nung đã được phát hiện rải rác trong tầng văn hóa nhưng chưa tìm thấy nền kiến trúc Những chồng bát đĩa nung hỏng dính liền nhau tìm thấy ở Đồng Gạch và
b
Gợi ý về vật phẩm được sản xuất ở lò Quan hay lò đồ cung đình, dinh thự cho vua và quan lại ở
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26những di tích bếp đun tìm thấy ở Đồng Giếng gợi ý cho nhận định: đây là khu vực cư trú của những phường thợ thủ công sản xuất phục vụ cho kinh đô khi
đó
Năm 1978, để phục vụ cho việc giải phóng mặt bằng kiến trúc Cung Thiếu niên trung ương đã được xây dựng tại vùng Quần Ngựa, khu Đồng Gạch lại được coi là một trọng điểm điều tra
Tháng 11-1978, khu Quần Ngựa lại tiếp tục được đào thám sát với quy
mô lớn hơn Khu Đồng Gạch cung cấp nhiều di vật gạch vồ, gốm sứ tráng men, bát đĩa, âu hũ nguyên vẹn trong một tầng văn hóa ổn định
Trên cơ sở đó, những nhà nghiêng cứu đã đưa ra kết luận:
"1- Quần Ngựa chỉ có một số kiến trúc thời Lý - Trần Những phế tích kiến trúc thời Lê đậm đặc và đồ sộ
2- Quần Ngựa chỉ là khu vực cư trú của những người bình dân suốt từ thời Lý
- Trần đến đầu Lê Và đặc biệt, từ thời Lê trở về sau thì mật độ dân cư ở đây mới thật sự đông đúc" (15)
Cho dù chưa tìm thấy vòng thành trong của kinh thành Thăng Long thời
Lý, do đó chưa thể có một bản vẽ mặt bằng có thể chấp nhận được về Thăng Long thời Lý, chúng ta vẫn có thể, bằng những tư liệu đã nói trên, nói được phần nào về cấu trúc của tòa thành này.Thành gồm có hai vòng thành bao bọc lấy nhau Vòng thành ngoài chính là La Thành của Cao Biền Dấu vết La Thành ngày nay vẫn còn khá rõ Phần lớn các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng
La Thành mặt phía đông cũng là đê sông Hồng lên tới Hồ Tây, tiếp là đoạn đường Hoàng Hoa Thám, rồi chạy dọc tả ngạn sông Tô Lịch từ Bưởi đến Ô Cầu Giấy, qua Giảng Võ đến Ô Chợ Dừa, Kim Liên, đường Đại Cồ Việt và đường Trần Khát Chân cho đến Ô Đống Mác rồi lại gặp đê sông Hồng
Vị trí thực của Cấm Thành và trục kiến trúc thành Thăng Long đã được xác định bởi những cuộc khai quật gần đây nhất
Chính sử ba thời kỳ lớn Lý, Trần, Lê đều ghi rất rõ: xung quanh điện Kính Thiên thời Lê dày đặc các cung điện
Từ trung tâm của điện Kính Thiên cho đến Đoan Môn (trên trục chính của Cấm Thành), ta đã thăm dò khảo cổ học ở vị trí trước Đoan Môn, tìm thấy dấu vết Ngự đạo Nhiều người cho rằng cứ tiếp tục tìm ở quanh đó thì sẽ thấy các cung điện, nhưng suy luận theo các tài liệu lịch sử thì sẽ thấy ở đó chỉ có điện Kính Thiên, Đoan Môn, điện Thị Triều, còn lại sẽ là đường vua đi (ngự đạo) và sân rồng
Trong khi đó, khi khai quật hố A20 (khu A), các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng như Nhật Bản khi nghiên cứu kiến trúc phân bố của các trụ móng cột cũng như kỹ thuật bó nền, họ thấy dấu vết còn ăn sâu vào đường Hoàng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27Diệu thì thấy rõ đây là những kiến trúc rất lớn, chạy từ Hố A20 vắt qua đường Hàng Diệu sang phía khu thành cổ Hà Nội hiện nay
Những kiến trúc này đều được gia cố bằng hệ thống móng trục bằng sỏi, gạch, ngói vụn nhồi với kích thước rất lớn, hình dáng gần hình vuông mà mỗi cạnh 1.2 m, chiều sâu 1m Các chuyên gia nghiên cứu kiến trúc cổ các nước đều nhận định đó là những hệ thống móng trụ để đỡ một hệ thống khung cột, mái nhà bên trên rất lớn, đó là những kiến trúc quan trọng của khu vực này
Ở khu B, khu D cũng tìm thấy những dấu vết kiến trúc như thế Riêng khu
C chỉ mới khai quật thăm dò, nhưng đã thấy nhiều dấu vết kiến trúc quan trọng, lại nằm giữa hai khu B và D
Ta còn tìm thấy dấu vết của những cung điện đã ghi trong lịch sử là nằm trong Cấm Thành, như khu A thì tìm thấy dấu vết của Trường Lạc cung, là cung của hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng(c) Ta tìm thấy những đồ dùng có ghi rõ Trường Lạc khố hoặc ghi là Trường Lạc cung Cung của Hoàng hậu, Hoàng thái hậu là cung cấm, không thể không nằm trong Cấm thành
Ở khu D (sát đường Độc Lập), ta tìm thấy 2 dấu vết quan trọng Thứ nhất
là ngói thời Trần có ghi Hoàng Môn Thự, cơ quan đầu não gần vua nhất, giúp mọi việc cho các vị vua thời Trần nằm trong Cấm Thành Ta còn thấy dấu vết của điện Kim Quang thời Lê qua những viên ngói ghi rõ "Kim Quang điện", rồi gạch của hàng chục phiên hiệu quân đội thời Lê ở đây
Nghiên cứu chi tiết các di vật tìm được ở đây lại càng tìm thấy nhiều bằng chứng của khu trung tâm Cấm Thành Hàng vạn viên gạch tìm được của rất nhiều thời kỳ, trong đó sớm nhất là gạch "Giang Tây quân" từ thời thành Đại
La (thế kỷ VII đến IX), rồi gạch Long Thụy Thái Bình từ năm 1057 hệ thống trang trí toàn là những biểu trưng của nhà vua như rồng, hoa sen, hoa cúc
Kèm theo đó là một hệ thống di vật những đồ dùng trong hoàng cung như bát, đĩa, chum, vại đều ở trình độ cao Như đồ gốm sứ cao cấp thời Lý, Trần, gốm mỏng thời Lê trình độ không kém gì Trung Quốc, hoa văn rất đẹp, biểu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28trưng cho các quyền uy của hoàng gia Đặc biệt tìm thấy ở khu D những lá kim loại màu vàng của thời Lý có chạm khắc hình rồng(d)
Ngay từ khi mới phát lộ năm 2003, các nhà sử học, khảo cổ học đã xác định khu di tích nằm trong Hoàng Thành, nay tiến lên một bước xác định khu
di tích nằm trong Cấm Thành tức trung tâm của Hoàng Thành Chúng ta có một số vật chuẩn quan trọng để định vị Cấm Thành
Kết quả nhiều năm nghiên cứu về cấu trúc thành Thăng Long kết hợp với
2 năm nghiên cứu khảo cổ, tất cả đã hội đủ những căn cứ khoa học cho phép khẳng định khu di tích 18 Hoàng Diệu nằm trong Cấm Thành
Thứ nhất, trung tâm của Cấm Thành là Điện Kính Thiên thời Lê sơ, xưa
là điện Càn Nguyên, Thiên An thời Lý, thời Trần Đó là cung điện quan trọng bậc nhất, nơi tiến hành các nghi lễ long trọng nhất của triều đình, nơi tiếp sứ giả nước ngoài, nơi thiết triều bàn những việc quốc gia đại sự Nền điện Kính Thiên bây giờ còn đó với bậc thềm và lan can đá chạm rồng mang đặc trưng nghệ thuật trang trí thế kỷ XV Kiến trúc này xây dựng trên núi Nùng tức Long Đỗ (Rốn Rồng) nơi tụ hội khí thiêng của non sông theo quan niệm phong thuỷ cổ truyền
d
Theo các chuyên gia trong và ngoài nước thì những chiếc lá kim loại bằng vàng chỉ tượng trưng cho
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29Thứ hai là Đoan Môn là cửa Nam của Cấm Thành Tài liệu sử sách cho biết vị trí của Đoan Môn cũng không thay đổi qua các triều đại Vừa rồi khảo
cổ đã đào thám sát và xác định chắc chắn Đoan Môn còn lại hiện nay được xây dựng từ thời Lê, đến thời Nguyễn có sửa sang Dưới chân Đoan Môn đã phát hiện dấu tích kiến trúc của thời Lý, thời Trần Đoan Môn phải hiểu là cửa Nam phía trong trong cùng của Cấm Thành, bởi theo Phan Huy Chú và Nguyễn Văn Siêu thì phía nam Cấm Thành có ba lần cửa, nhìn trên bản đồ Hồng Đức cũng thấy điều đó Theo một số tài liệu đời Nguyễn thì Cột Cờ được xây dựng trên nền cửa Tam Môn là cửa Nam ngoài cùng của Cấm
Thành Như vậy là Kính Thiên – Đoan Môn – Cột Cờ là trục trung tâm của Cấm Thành
Thứ ba là chùa Một Cột Theo văn bia Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi, Duy Tiên,
Hà Nam) do Nguyễn Công Bật soạn năm
1121 thời Lý thì chùa Diên Hựu tức chùa Một Cột dựng ở phía tây Cấm Thành Vậy tường thành phía tây của Cấm Thành không thể quá vị trí Chùa Một Cột Theo bản đồ Hồng Đức và nhiều tài liệu địa lý, lịch sử, ở phía tây bắc của Cấm Thành có cửa Tây (Tây Môn) và phía ngoài có núi Khán Sơn và chùa Khán Sơn là nơi vua Lê Thánh Tông lên duyệt binh Đầu thế kỷ XIX khi nhà Nguyễn xây dựng lại thành Thăng Long,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30từ năm 1831 đổi tên là thành Hà Nội, thì Khán Sơn nằm bên trong, ở về phía tây bắc của thành Hà Nội, nghĩa là nằm ở khoảng cuối Hùng Vương gần Phan Đình Phùng, trước mặt Phủ Chủ tịch và Thủ tướng phủ hiện nay Từ đó, phỏng đoán tường thành phía tây Cấm Thành ở vào khoảng đường Độc Lập đến giữa Quảng trường Ba Đình
Vậy là ta đã xác định được vị trí trung tâm, trục trung tâm cùng giới hạn phía nam và phía tây của Cấm Thành Theo bản đồ Hồng Đức, Cấm Thành có hình chữ nhật, Đông cung và Thái miếu nằm ở phía đông, tuy nằm trong tường thành bảo vệ nhưng không coi là trong Cấm Thành, và như thế Cấm Thành gần như hình vuông Điều này cũng rất phù hợp với việc nhà Nguyễn xây dựng thành Hà Nội trên cơ sở mở rộng Cấm Thành, vì trong chỉ dụ của vua Gia Long có nói thành Thăng Long (Cấm Thành) chật hẹp, cho nên phải
mở rộng thêm Thành Hà Nội của nhà Nguyễn vì thế rộng hơn Cấm Thành, nhưng nhỏ hơn Hoàng Thành
Những dấu vết kiến trúc mới phát lộ tại khu di tích 18 Hoàng Diệu được
giới khoa học trong và ngoài nước đánh giá là cực quý hiếm Ở đây đã tìm
thấy dấu vết của cung Trường Lạc, là cung của hoàng hậu vua Lê Thánh Tông
và là Hoàng thái hậu của vua Lê Hiển Tông Rồi còn có Hoàng Môn Thự thời Trần, gần đây lại có dấu tích của Kim Quang điện thời Lê Thánh Tông Đây là những cung điện nằm trong phạm vi Cấm Thành Khảo cổ học còn tìm thấy những "đồ ngự dụng" chỉ dành cho nhà vua như bát có hình rồng 5 móng
Trong các di tích đã phát lộ còn có giếng Đại La, nhưng trên đó lại có lớp gạch xây thêm thời Lý Điều đó cho thấy khi vua Lý Thái Tổ dời đô về đây, đúng như nhà vua nói trong "Chiếu dời đô" là dời đô về "thành Đại La" của Cao Vương Buổi đầu, nhà vua sử dụng thành Đại La cùng một số cung điện, kiến trúc có sẵn rồi cải tạo và mở mang thêm Đồng thời, Lý Thái Tổ cho kiến thiết rất nhiều, ngay từ năm đầu tiên đã xây dựng thêm 8 điện 3 cung, xây một lớp thành bảo vệ bên ngoài
Thời Lý, thành Thăng Long với cấu trúc ba lớp thành đã được kiến tạo Qua các biến cố cuối thời Lý, một số kiến trúc cung đình bị phá huỷ và nhà Trần lại tiếp tục công việc dinh tạo, mở mang và xây dựng thêm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31Thời Lê Thánh Tông, Hoàng Thành được mở rộng về phía tây nam và Cấm Thành cũng có nhiều kiến trúc mới Tại khu di tích Hoàng Thành phát lộ
ở 18 Hoàng Diệu, dấu vết của các đời Lý – Trần – Lê Sơ rõ nét nhất và đó cũng là những thời kỳ hoàng kim nhất của Thăng Long, thời kỳ của kỷ nguyên Văn minh Đại Việt
Trong lịch sử thành Thăng Long, La thành (hay Đại La thành), Hoàng Thành trải qua khá nhiều thay đổi, nhưng trung tâm của Hoàng Thành, đặc biệt là vị trí, qui mô của Cấm Thành (còn gọi là Cung thành) thì gần như không thay đổi, chỉ có kiến trúc bên trong thì dĩ nhiên qua nhiều lần xây dựng,
tu sửa Chính đặc điểm này giải thích tại sao trên khu di tích 18 Hoàng Diệu, các lớp di tích kiến trúc và di vật chồng lên nhau qua các thời kỳ lịch sử
(Dấu vết nền cung điện thời Lý ở Hố A20)
Các di tích và tầng văn hóa chồng xếp lên nhau qua nhiều thời kỳ lịch sử một cách khá liên tục Thật hiếm có một khu di tích lịch sử-văn hoá trải dài qua nhiều thời kỳ lịch sử như vậy giữa vùng đất trung tâm của thủ đô và cũng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32thật hiếm có thủ đô một nước có lịch sử lâu đời lại phát hiện một quần thể di tích chảy dài suốt bề dày lịch sử như vậy
Các di tích kiến trúc và một khối lượng rất lớn di vật cho thấy một phần qui mô và diện mạo của Hoàng Thành cùng đời sống cung đình của vua quan, quý tộc qua các thời kỳ lịch sử Tầng tầng lớp lớp di tích - di vật hiện lên như một bộ sử nghìn năm văn hiến của Thăng Long – Hà Nội phản chiếu trình độ
và bản sắc dân tộc của một trung tâm văn hóa lớn nhất và lâu đời nhất của đất nước
“Về phương diện lịch sử, phát hiện khảo cổ học này cung cấp nhiều cứ liệu khoa học để xác định vị trí trung tâm của thành Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh, để hiểu thêm mối quan hệ giữa thành Đại La với thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội thời Nguyễn Thành Đại La qua nhiều lần xây dựng, từ Tử Thành do Khâu Hoà xây năm 618 chỉ 900 bộ (khoảng 1,65 km), La Thành do Trương Bá Nghi xây năm 767 rồi Triệu Xương đắp thêm năm 791, thành Đại La do Trương Chu xây năm 808 mà La Thành bên ngoài dài 2000 bộ (khoảng 3,70 km) rồi Lý Nguyên Gia dời thành và Cao Biền mở rộng thêm thành 1982 trượng (khoảng 6,5 km), ngoài có đê dài 2125 trượng (khoảng 7 km) Đó là toà thành có qui mô lớn nhất trong thời Bắc thuộc Tại khu vực khai quật, đã tìm thấy dấu tích thành Đại La trên cả bốn khu A, B, C,
D, chứng tỏ vùng này nằm trong thành Đại La Bên trên dấu tích Đại La là di tích kiến trúc và các di vật thời Lý Điều đó chứng tỏ vua Lý Thái Tổ đã dời đô
từ Hoa Lư về đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La đúng như Chiếu dời đô, đổi tên là thành Thăng Long và buổi đầu đã sử dụng toà thành này cùng một
số kiến trúc có sẵn rồi sửa sang, xây dựng thêm những cung điện mới Phạm vi của Hoàng Thành từ thời Lý, Trần sang Lê sơ thay đổi như thế nào còn phải nghiên cứu thêm, nhưng qua phát hiện khảo cổ học ở Ba Đình thì rõ ràng khu vực này là một bộ phận phía tây của Hoàng Thành xưa và không thay đổi Hơn nữa, theo bản đồ thành Đông Kinh thời Hồng Đức thì khu vực khai quật này nằm trong phạm vi cấm thành của Hoàng Thành Kết quả khai quật khảo
cổ học kết hợp với tư liệu thư tịch và bản đồ cổ cho phép hình dung khu trung tâm của Hoàng Thành rõ nét hơn.” (15)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33Phát hiện này còn cung cấp thông tin cho biết trong lòng đất Hoàng thành Thăng Long xưa còn bảo tồn nhiều di tích di vật quý Từ đây có thể đưa ra khả năng mở rộng diện điều tra và khai quật, xây dựng quy hoạch bảo tồn một khu vực di tích lịch sử văn hoá của kinh thành Thăng Long, thành Hà Nội cổ và
mở rộng đến các di tích cách mạng và kháng chiến thời đại Hồ Chí Minh như Hội trường Ba Đình, Lăng và Nhà sàn Bác Hồ, Tổng hành dinh Quân đội nhân dân Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ, Hội trường Ba Đình, kéo dài từ thế
kỷ thứ VII đến thế kỷ XX Đây là một di sản văn hóa vô giá của dân tộc nằm giữa thủ đô Hà Nội và nếu nghiên cứu, bảo tồn tốt, có thể được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới Một di sản văn hoá như vậy sẽ tăng thêm vị thế của thủ đô Hà Nội, phát huy tác dụng sâu sắc trong giáo dục truyền thống dân tộc cũng như trong các hoạt động giao lưu văn hoá và du lịch
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34TỔNG QUAN MỘT SỐ KIẾN TRÚC TIÊU BIỂU Ở KINH THÀNH THĂNG LONG:
Bản đồ Hoàng thành Thăng Long thời Hồng Đức (1490)
1
4 5
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36Chương III : MỘT SỐ KIẾN TRÚC
THĂNG LONG XƯA
Kiến trúc truyền thống Việt Nam ngay ở buổi đầu đã định hình với đặc trưng là ngôi nhà sàn dáng hình độc đáo mà hình ảnh của nó được ghi lại trên trống đồng Ngọc Lũ Những ngôi nhà sàn thời cổ có mái võng hình thuyền thuộc loại nhà có sàn thấp, với 3 gian thông nhau, bếp đặt ở chính giữa nhà, nhà có trang trí ở nóc, hồi, trên cột mái theo mô típ hình chim Tuy nhà không lớn nhưng có hình dáng, tỷ lệ rất đẹp, phù hợp với tầm vóc của con người
Từ cội nguồn, kiến trúc truyền thống chia thành 2 dòng:
Dòng kiến trúc dân gian với nhà ở nông thôn có qui mô nhỏ, chúng ta gặp phổ biến trong các làng xã cổ truyền Việt Nam Loại kiến trúc dân gian này đến nay vẫn còn tồn tại ở nhiều vùng với các sắc thái địa phương của nó Một số ít còn lưu lại trong các khu phố cổ ở một số thành phố, thị trấn
Dòng kiến trúc chính thống bao gồm các thể loại: kiến trúc cung điện, dinh thự, kiến trúc lăng mộ, thành trì, kiến trúc tôn giáo như chùa chiềng, đình làng thường có qui mô lớn, có sự tập trung tài năng, trí tuệ của các nghệ nhân, thợ cả của cả một vùng, một quốc gia
Ở đây, chúng ta đi sâu nghiên cứu kiến trúc Thăng Long thuộc mảng tôn giáo
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37I CHÙA CHIỀN
I.1 Chùa Diên Hựu (Một Cột)
Chùa Diên Hựu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38Chùa Diên Hựu
Tên thường gọi là chùa Một Cột, nằm trong quần thể chùa Diên Hựu Chùa nằm trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía Tây hoàng thành Thǎng Long thời Lý, nay thuộc phố chùa Một Cột, quận Ba Đình - Hà Nội, ở bên phải Lǎng Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Chùa được xây dựng vào mùa đông tháng 10 Âm lịch năm 1049
Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen Truyền thuyết kể lại rằng chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ Vào năm 1049, nhà vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bày tôi và được sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu
Hằng năm cứ đến ngày 8 tháng 4 Âm lịch, nhà vua lại tới chùa làm lễ tắm Phật Các nhà sư và dân kinh thành Thăng Long cùng dự lễ Sau lễ tắm Phật là
lễ phóng sinh, vua đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui của một ngày hội
Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng Năm 1108, Thái phi Ỷ Lan sai đúc một cái chuông rất
to, nặng một vạn hai nghìn cân, đặt tên là "Giác thế chung" Đây được xem là một trong tứ đại khí - bốn công trình lớn của Việt Nam thời đó "Giác thế
Tổng thể và mặt bằng mặt cắt dọc chùa Diên Hựu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 39chung" đúc xong nặng quá không treo lên được, để dưới mặt đất thì đánh không kêu Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ, ruộng này có nhiều rùa, do đó có tên Quy Điền chuông
Từ năm 1426- 1427, khi quân Minh bị nghĩa quân Lam Sơn bao vây ở thành Ðông Quan,Vương Thông đã cho phá hủy chuông Qui Ðiền để đúc vũ khí
Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922 Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm 1955
Thiền sư Huyền Quang (1254-1334) có một bài thơ về chùa Một Cột như sau:
上方秋夜一鐘闌 (蘭)
月色如波楓樹丹 鴟吻倒眠方鏡冷 塔光雙峙玉尖寒 萬緣不擾城遮俗 半點無憂眼放寬 參透是非平等相 魔宮佛國好生觀
Diên Hựu tự
Thượng phương thu
dạ nhất chung lan Nguyệt sắc như ba phong thụ đan
Si vẫn đảo miên phương kính lãnh Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn Vạn duyên bất nhiễu thành giá tục
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan Tham thấu thị phi bình đẳng tướng
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan
Nguyễn Huệ Chi dịch:
Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan
In ngược hình chim, gương nước lạnh Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn
Muôn duyên chẳng vướng: xa trần tục Một mảy nào lo: rộng nhãn quan Thấu hiểu thị phi đều thế cả
Dầu ma dầu Phật, chốn nào hơn?
Chùa Một Cột thoáng trông như một đoá hoa
sen Phật giáo phương Đông coi hoa sen là loài hoa
tinh khiết, giữa trần gian mà chẳng nhuốm mùi tục
lụy Do vậy, với hình dạng chùa Một Cột mang ý
nghĩa gần như vậy Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần phải
tìm hiểu thêm về biểu tượng chùa Một Cột, cũng như
hình tượng hoa sen trong nghệ thuật kiến trúc
Từ xa xưa, người Việt ta đã có câu ca dao:
Trang 40Mặc dù sinh ra trong bùn lầy nhưng hoa sen không bị ô nhiễm mà lại có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh sống, vì hoa sen hễ mọc ở nơi nào thì sẽ làm cho nước đục nơi đó lắng trong Sen có cả hương lẫn sắc, nhưng hương sen không quá nồng mà dịu, gợi một tinh thần cao thượng Sắc sen kín đáo, đằm thắm, cánh trắng phớt hồng, nhụy vàng Từ khi nở đến khi tàn không hề bị ong bướm bén mảng tới Qua bao ràng buộc bởi đất, nước đến được chỗ khoáng đạt
hư không, sen tiếp tục vươn lên dưới ánh mặt trời, kết lấy hoa khai nở, khoe sắc
và xông hương tràn ngập không gian
Sự hình thành của sen diễn ra theo qui luật nhân quả luân hồi Sen có cả nụ- hoa - hạt Hoa nở tượng trưng cho quá khứ, đài sen tượng trưng cho hiện tại
và hạt sen tượng trưng cho tương lai, sự nối tiếp liên tục
Trong Phật giáo, hoa sen biểu trưng cho những giá trị đạo đức, sự thuần khiết và thánh thiện, sự duy trì và phát triển Phật pháp, trí tuệ dẫn đến niết bàn Trên thế giới ít có loài hoa nào có nhiều phẩm chất cao quý như hoa sen Bởi vậy mà nhà Phật ví nó như những đức tính của người tu hành
Trên một số quả chuông như chuông chùa Liên Phái, Hà Nội, hay ở kiến trúc chùa và nhất là trong lời cúng của các sư tǎng thường có cụm từ "Mún ma
ni bát mê hồng" có nghĩa là cầu được lên tòa sen ngọc báu Bát mê (padma) có nghĩa là hoa sen
Trong kiến trúc Phật giáo, hình tượng hoa sen được lồng vào cấu trúc nhà, một bộ phận kiến trúc hoặc cả tổng thể công trình với ý nghĩa về sự giải thoát, giác ngộ Phật pháp Những công trình kiến trúc tiêu biểu với hình tượng hoa sen thường xuất hiện trong những giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo Đó là thời Lý thế kỷ thứ XI với Chùa Một Cột - Hà Nội; thế kỷ thứ 17 với tháp Cửu phẩm liên hoa, Chùa Bút Tháp - Bắc Ninh; thế kỷ 18 với Chùa Tây Phương -
Hà Tây, Chùa Kim Liên - Hà Nội
Như vậy, nét đẹp giá trị nghệ thuật của kiến trúc Phật giáo nói chung, và kiến trúc hình tượng hoa sen nói riêng là ở kết cấu kiến trúc thực được tạo ra để thể hiện những ý niệm triết học trừu tượng của Phật giáo, chỉ bằng một hình tượng đơn giản, giản
dị, đó là bông sen
Chùa Một Cột,
vì lẽ đó, là biểu tượng
của cõi Thiền "bất
nhiễu", "vô ưu" Gắn
liền với lịch sử thủ
đô, đó cũng là biểu
tượng của Hà Nội
ngàn năm văn vật
Chùa Diên Hựu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu