Từ những thành tựu về lịch sử văn hóa đã tạo nền tảng cho Văn học Trung Quốc phát triển rất mạnh, từ thời xưa đã có những tác giả nổi tiếng, những bậc kì tài trong văn học, nhà thơ có Lý
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trung Quốc là một đất nước giàu truyền thống văn hóa, có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, là một trong những cái nôi của nền văn minh phương Đông và thế giới Trung Quốc là một đất nước láng giềng gần gũi với Việt Nam, chính vì điều này nên người Việt Nam rất quen thuộc với Trung Quốc về mọi mặt, nhất là về văn hóa văn học Ở Việt Nam, từ thế kỉ X khi văn học viết bắt đầu phát triển, thì ngôn ngữ đầu tiên chúng ta được học đó là tiếng Hán, cũng từ đây các tác phẩm chữ Hán được truyền vào nước ta rất nhiều và phổ biến Người Việt không xa lạ gì với các tiểu
thuyết: Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân), Tam Quốc Diễn Nghĩa (La Quán Trung), Hồng
Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần), Kim Bình Mai (Tiếu Tiếu Sinh), Liêu Trai Chí Dị (Bồ
Tùng Linh), Các nhân vật như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Vân Trường, đi vào lòng người Việt và để lại ấn tượng mạnh mẽ, nó là hình mẫu, là thần tượng là bài học của chúng ta Không chỉ vậy, mà các bậc kì tài trong lịch sử Trung Quốc cũng rất gần gũi với chúng ta, không ai có thể quên một vị vua tài giỏi Tần Thủy Hoàng đã thu phục được sáu nước về một mối, tạo nên một nước Tần, và là nền tảng khởi đầu của Trung Hoa thống nhất, không thể quên vị vua Khang Hy, hay Từ Hy Thái Hậu, Trung Quốc còn nổi tiếng với những mỹ nhân có tài có sắc: Tây Thi, Võ Tắc Thiên, Dương Quý Phi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Các nhân vật đi từ tiểu thuyết lại xuất hiện trên truyền hình, nên tạo dấu ấn đậm nét trong lòng người Việt Lấy một vài ví dụ để thấy rằng đất nước Trung Hoa vô cùng rộng lớn và có bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời Từ những thành tựu về lịch sử văn hóa đã tạo nền tảng cho Văn học Trung Quốc phát triển rất mạnh, từ thời xưa đã có những tác giả nổi tiếng, những bậc kì tài trong văn học, nhà thơ có Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, nhà văn có: Ngô Thừa Ân, Tào Tuyết Cần, La Quán Trung, Bồ Tùng Linh, tác phẩm của họ được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới Văn học Trung Quốc không dừng lại ở đó mà tiếp tục phát triển đi lên, trong giai đoạn văn học hiện
đại với các tác giả khởi đầu như: Lỗ Tấn, Lão Xá, Quách Mạt Nhược và những tên
tuổi xuất hiện sau này như Mạc Ngôn, Cao Hành Kiện, Vương Mông, Vương Sóc, Giả Bình Ao và các tác giả trẻ như Vệ Tuệ, Tào Đình, Quách Kính Minh Tất cả
Trang 3làm nên một diện mạo mới, một khuôn mặt mới, khuôn mặt trẻ trung sôi nổi của Trung Quốc thời hiện đại, có đủ người khen chê và bình luận
Trong dòng chảy của văn học Trung Quốc, Mạc Ngôn là một trong những cây viết nổi tiếng, ông có một phong cách “lạ” và không bao giờ muốn lập lại chính mình, mỗi tác phẩm của ông là mỗi phong cách khác nhau, dựa theo cảm nhận tinh
tế của tác giả để thể hiện, Mạc Ngôn viết bằng “cảm giác” của chính mình, mọi sự vật hiện tượng được ông cảm nhận và thể hiện trong tác phẩm bằng những cảm giác mới mẻ, khiến người đọc không bao giờ nhầm lẫn với nhà văn khác
Mạc Ngôn bắt đầu sáng tác từ những năm 80 của thế kỉ XX, và không ngừng phát triển qua các giai đoạn, ông đã đạt được nhiều thành tựu lớn cho mình Đề tài truyện của ông rất rộng, phản ánh mọi mặt của đời sống Mạc Ngôn như một đạo diễn, vác ống kính đi khắp nơi trên trời dưới đất, quanh lại mọi góc cạnh của cuộc sống để soi tỏ hết những nhân tình thế thái của cuộc đời, những vấn đề bức xúc của cộc sống hiện tại Tất cả đã được ông ghi lại một cách rõ nét và sinh động trong từng cảnh quay, người bị ống kính của ông quay như “không biết mình bị quay nên cứ tự nhiên như thực, kể cả ma quỷ còn không biết mình bị quay” Trong xã hội hiện đại, Trung Quốc phát triển rất sôi động theo đó là nhiều vấn đề về xã hội, những vấn đề bức xúc của con người
Trong luận văn này, người viết tìm hiểu đề tài “Thực và phi thực trong tiểu
thuyết Tửu Quốc của Mạc Ngôn” từ đó để hiểu thêm về tài năng của nhà văn Mạc
Ngôn, hiểu phong cách viết, tư tưởng, quan điểm của ông về con người và xã hội Ở
đây tôi dùng bản dịch tác phẩm Tửu Quốc thuộc văn bản ngôn từ của dịch giả Trần Đình Hiến, cùng một số bài nghiên cứu của các tác giả khác về tiểu thuyết Mạc
Ngôn, để giải quyết các vấn đề mà đề tài đưa ra
2 Lịch sử vấn đề
Văn học Trung Quốc được dịch rất nhiều ở Việt Nam, những tác phẩm của nhà văn Mạc Ngôn thì độc giả biết đến qua các bản dịch của: Trần Đình Hiến, Lê Huy Tiêu, Trần Trung Hỷ… cùng một vài bài nghiên cứu khái quát về ông như: bài
nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn” của Lê Huy Tiêu,
đăng trên Tạp chí Văn học nước ngoài, số 4 năm 2003 Bài “Nghệ thuật trần thuật
gắn với thủ pháp “lạ hóa” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn” của Hoàng Thị Bích Hồng,
Trang 4đăng trên tạp chí Sông Hương, số 244 tháng 10 năm 2007 Ở hai bài nghiên cứu của
Lê Huy Tiêu và Hoàng Thị Bích Hồng mới chỉ khái quát cái chung trong nghệ thuật Mạc Ngôn từ đề tài, điểm nhìn, thủ pháp “lạ hóa”, biệt tài đưa cảm giác vào tác
phẩm…Nhưng chưa ai đi sâu vào tìm hiểu yếu tố “thực” và “phi thực” trong sáng
tác của Mạc Ngôn nhất là trong tiểu thuyết Tửu Quốc
Về tiểu thuyết “Tửu Quốc” không có bài viết nào đánh giá riêng về nó, chỉ là những đánh giá nằm trong nghệ thuật Mạc Ngôn Trong “Người tỉnh nói chuyện
mộng du” thì Mạc Ngôn có viết về mục đích viết Tửu Quốc, ngoài ra thì không còn
tài liệu nào nói về những vấn đề có liên quan đến đề tài, và cũng chưa có ai chỉ ra
những yếu tố “thực” và “phi thực” trong tác phẩm Tửu Quốc Đây là một đề tài mới
trong một tác phẩm chưa được các nhà nghiên cứu phê bình nghiên cứu
3 Mục đích và yêu cầu
Nghiên cứu “Thực và phi thực trong tiểu thuyết Tửu Quốc của Mạc Ngôn”
nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá những nét mới lạ trong phong cách viết của Mạc
Ngôn Ông kết hợp nhuần nhuyễn đan xen giữa các yếu tố “thực” và “phi thực”,
nhằm phản ánh hiện thực xã hội Trung Quốc, thấy được giá trị lớn lao của tác phẩm
Và đồng thời, cung cấp cho mình những kiến thức cần thiết về văn học nước ngoài, nhất là các phương pháp sáng tác mới, tìm hiểu xu hướng viết mới nhất là ở Trung Quốc Mặt khác thấy được cái nhìn toàn diện về tài năng và phong cách nghệ thuật của nhà văn Mạc Ngôn - một trong những nhà văn nổi tiếng Trung Quốc
Về yêu cầu của đề tài, trước hết người viết cần làm rõ về những quan niệm về
yếu tố “thực” và “phi thực”, tìm hiểu trong tác phẩm Tửu Quốc, chỉ ra được sự lồng ghép giữa “thực” và “phi thực”, và nó có tác dụng như thế nào trong việc phản ánh
xã hội, dụng ý sử dụng các yếu tố thực và phi thực của nhà văn Tác phẩm viết về những vấn đề của xã hội hiện đại, tìm hiểu để thấy được giá trị hiện thực của tác phẩm
4 Phạm vi đề tài
Phạm vi nghiên cứu chỉ đóng khung, giới hạn trong việc giải quyết vấn đề
“Thực và phi thực trong tiểu thuyết Tửu Quốc của Mạc Ngôn” _ một thành tựu mới
của ông Tác phẩm được dịch, in và xuất bản ở Việt Nam từ năm 2003 Tuy nhiên,
Trang 5quá trình nghiên cứu người viết gặp rất nhiều khó khăn vì Mạc Ngôn là nhà văn nổi tiếng đương đại nên tài liệu dịch và nghiên cứu về ông rất ít, nhất là trong tác phẩm Tửu Quốc là những vấn đề nhạy cảm của xã hội nên cũng ít được đề cập Các yếu tố thực và phi thực trong văn học cũng xuất hiện nhiều nhưng cũng ít được các nhà nghiên cứu phân định, nghiên cứu rõ ràng mà chỉ là những bài tìm hiểu đán giá về những vấn đề thực, mộng, huyền ảo…rất khó để khái quát một cách hiểu thống nhất,
rõ ràng về đề tài Mặc dù vậy, người viết sẽ cố gắng bằng sự hiểu biết, cảm nhận, lí giải vấn đề mới, hy vọng sẽ đạt được kết quả như mong muốn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trước hết người nghiên cứu đọc kĩ tác phẩm Tửu Quốc để hiểu và cảm nhận
về nó, đi tìm những tài liệu có liên quan về đề tài “Thực và phi thực trong tiểu thuyết
Tửu Quốc của Mạc Ngôn” Sau đó, khảo sát và chọn lọc các tư liệu tiêu biểu từ các
công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn
Trong bài viết này người viết chủ yếu dựa vào cảm nhận và cách hiểu của mình kết hợp với các phương pháp mang tính thao tác thống kê, phân tích tổng hợp
để khái quát hóa vấn đề, để bổ trợ cho việc vận dụng vào bài để đạt được kết quả
như mong muốn Ở mỗi chương căn cứ vào hướng suy luận, cách nghĩ, cách cảm và hiểu biết của người viết rồi chọn những phương pháp thích hợp như: phương pháp
so sánh, phương pháp văn hóa học, phương pháp ngôn ngữ họ…trong sự kết hợp các phương pháp đó
Trang 6PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
Thực và phi thực trong tiểu thuyết “Tửu Quốc” của Mạc Ngôn
Chương 1 Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
1.1 Quan niệm về thực và phi thực trong văn học
Theo “Từ điển tiếng Việt” người ta định nghĩa: “Thực là những cái có thật,
có thể nhận biết trực tiếp bằng giác quan”[4, 1251] Những cái đang tồn tại và phát
triển, chứa đựng bản chất của chính nó, quy luật trong bản thân nó và cũng bao hàm những kết quả của sự hoạt động và phát triển của chính nó
Hiện thực không những khác với tất cả cái bề ngoài, cái tư tưởng và cái huyễn hoặc mà còn khác với tất cả, chỉ là cái lôgic (cái tư duy), mặc dù cái này hoàn toàn
đúng và còn khác với tất cả chỉ là khả năng, cái có thể tồn tại
Thực như trong cuộc sống chúng ta đang tồn tại, đang hoạt động, đi đứng, nói
năng, giao tiếp, làm việc, giải trí Con người sống trong xã hội có những mối quan
hệ, có tên tuổi và vị trí riêng của mình trong xã hội Ta thấy hiển nhiên hàng ngày, ta thức ngủ và làm rất nhiều việc, mỗi việc chúng ta làm chúng ta đều biết rõ mục đích hoặc không, nhưng ta đều biết mình đã đang và sẽ phải làm gì, nghĩ gì Nói chung,
đó là những gì xảy ra xung quanh ta mà mắt thường có thể nhìn thấy được, cảm nhận được, nó tồn tại trong quy luật của bản thân nó Ví dụ: hàng ngày tôi vẫn ăn uống,
ngủ nghỉ, nói chuyện vui vẻ với bạn bè, đi chơi, uống nước, vẫn đi học và làm rất nhiều việc khác nữa… bản thân sự tồn tại của tôi là điều hiển nhiên, mọi người quanh tôi, tiếp xúc với tôi đều biết đến tôi và ngược lại tôi cũng biết họ, giống mình
đang tồn tại, nó rất thực và không có gì mâu thuẫn Đó là cái thế giới thực mà ta đang sống
Cái thực còn là tình cảm, lí trí, tư duy Những thứ mà ta cảm nhận được, ta
thấy nó rõ ràng, hợp lí Thực là cái hiện thực thuần nhất trong bản thể của nó
Trang 7Hiện nay chưa có ai định nghĩa chính xác về “phi thực” trong văn học, người viết đưa ra diễn giải về phi thực Phi: là chẳng Thực: có thật Phi thực: chẳng có
thật
Phi thực hay còn được hiểu là ảo, mộng ảo, huyền ảo, huyền hoặc, huyễn
hoặc, huyễn tưởng, ảo tưởng, mộng, mộng tưởng Trong “Từ điển tiếng Việt” người
ta đã đưa ra những định nghĩa về các thuật ngữ này:
“Ảo: giống như thật, nhưng không có thật”[4, 10]
“Ảo mộng: giấc mơ thấy những điều huyền ảo, thường dùng để ví với cuộc
đời với những cái thực mà hư hư, cuối cùng chẳng có gì tồn tại, theo quan điểm yếm
thế (yếm thế là có tư tưởng chán đời)”, “Ảo mộng: là những điều mơ ước viển vông”[4, 11]
“Ảo tưởng: sự tưởng tượng (hướng về tương lai), dựa trên sự mong muốn,
ước mơ, thoát li hiện thực”[4, 11]
“Huyền ảo: có vẻ đẹp kì lạ và bí ẩn, vừa như thực, vừa như hư, tạo sức cuốn
hút mạnh mẽ”[4, 606]
“Huyền hoặc: có tính chất không thật và mang vẻ huyền bí”[4, 606]
“Huyễn hoặc: làm cho mất sáng suốt, lầm lẫn, tin vào những điều không có thật, hoặc có tính chất mê tín”[4, 606]
“Huyễn tưởng: tưởng tượng ra và tin vào những điều không có thật hoặc
không có cơ sở thực tế”[4, 606]
“Mộng: hiện tượng thấy người hay sự việc hiện ra như thật trong giấc ngủ”,
“mộng: điều luôn được hình dung, tưởng tượng tới và mong muốn trở thành sự thật”[4, 823]
“Mộng tưởng: điều mong ước quá cao xa, chỉ thấy được trong mộng, trong
tưởng tượng”[4, 824]
Những định nghĩa, những quan niệm về vấn đề liên quan đến phi thực, ở đây chúng ta hiểu theo nghĩa thông thường đơn giản về những yếu tố phi thực có trong
đời sống và trong văn học Ở đây, người viết đưa ra cách hiểu của cá nhân về vấn đề
phi thực để xét trong tác phẩm nghiên cứu, nhằm làm rõ vấn đề mà đề tài yêu cầu
Trang 8Phi thực không tồn tại ở hiện thực khách quan, nó tồn tại ở dạng không thật
như: sự hư ảo, sự tưởng tượng, siêu thực, giấc mộng, thế giới vô hình như : tâm linh, bản năng, giấc mơ,…Nó vượt lên trên khả năng có thực, khi mà con người còn nghi ngờ, không chắc chắn về sự tồn tại của nó
Trong thế giới đang hiện hữu tồn tại, con người nghi ngờ về một thế giới bí ẩn nào đó, mà mắt thường không nhìn thấy được nhưng nó vẫn đang tồn tại, đang sống cùng chúng ta Đó là cũng không hẳn là một thế giới khác, mà chỉ là những sự vật hiện tượng nó vẫ tồn tại mà mắt thường chúng ta không nhìn thấy, nó là ảo ảnh của những bóng người tách khỏi thế giới, vật vờ vô nghĩa Có rất nhiều sự vật , sự việc
mà ta không biết là nó có thực đang tồn tại không: ví dụ như: thần thánh, ma quỷ, hay một thế lực vô hình nào đó, có thể nó chỉ là ảo giác của con người…
Những cái “phi thực” xuất phát chủ yếu ở suy nghĩ của con người, khi con
người tin vào một thế giới khác nào đó đang tồn tại thì nó sẽ tồn tại, nó phụ thuộc vào niềm tin, nỗi hoang mang, tâm trạng không ổn định Ví dụ: những cơn ác mộng, khi đó con người đang trong trạng thái hoang mang, hoảng sợ và muốn chạy trốn khỏi nỗi kinh hoàng, nhưng càng chạy lại càng đi vào nguy hiểm, càng rơi vào vực thẳm của cõi mộng và ta không thể thoát khỏi nó được, con người cảm thấy sự bất lực của bản thân, càng cố gắng thoát ra thì càng thấy mình bị chìm trong một thế lực, một thế giới mà chính bản thân cũng không biết, không thấy Thường thì khi người
ta cảm nhận được cái phi thực là đã mất dần ý thức, suy nghĩ lúc này không còn
logic, không còn tỉnh táo, nó phi lí Phi thực hay chính mộng, thuật ngữ này người ta
đã sử dụng khá lâu trong dân gian ở Trung Quốc và Việt Nam Trong đời sống tâm lí
của con người có những trạng thái mơ mộng hay mộng là một dạng thức đối lập tỉnh táo, lúc đó lí trí không hoạt động mà nếu có cũng rất yếu, mơ mộng là những ý nghĩ,
những mong muốn nằm sâu trong tiềm thức của con người, đó là những ham muốn
của con người mà nằm ẩn sâu trong tâm thức Phi thực nó còn có thể hiểu ảo, đó là
ảo giác, ảo tưởng đó chỉ là sự cảm nhận mơ hồ không có thật về thế giới khách quan
của con người
Tóm lại, thực và phi thực là những yếu tố luôn tồn tại, lồng ghép đan xen lẫn nhau trong thế giới của con người, trong thực có ảo, trong thực có mộng, thực mà lại
không thực, thực mà như bịa Dù tồn tại ở dạng thức nào thì trong đời sống người ta
Trang 9vẫn công nhận sự có mặt của nó, đặc biệt trong văn học đã khai thác rất lâu những
vấn đề về thực và phi thực, để làm cho màu sắc văn học thêm sinh dộng, hấp dẫn và
cũng đã phản ánh sâu sắc được những nội tâm thầm kín của con người
1.2 Ý nghĩa của việc sử dụng yếu thực và phi thực trong văn học
Văn học bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, các nhà văn lấy cảm hứng và cũng lấy các đề tài của cuộc sống để đưa vào văn học Văn học bắt nguồn từ hiện thực, nó
là một phương tiện để phản ánh cuộc sống khách quan, những vấn đề của xã hội Chỉ
có văn học mới ghi lại đầy đủ nhất sự phát triển của tâm tư tình cảm, suy nghĩ của con người, những vấn đề từ nhiều khía cạnh của cuộc sống Từ ngày xưa, trong văn
học dân gian, trong các truyền thuyết, truyện cổ tích cũng sử dụng các yếu tố “thực”
và “phi thực”,nhưng chủ yếu như một bài học đạo đức Vì các thể loại văn học dân
gian, khi mà người ta chưa đi sâu vào miêu tả về nội tâm, tính cách, tình cảm, lí trí,
tư duy thì các yếu tố “phi thực” cũng là những yếu tố được tạo nên nhằm đạt được mục đích là xây dựng “nhân vật mặt nạ”, nó có tác dụng làm bổ trợ cho tác phẩm
thêm li kì, giúp cho nhân vật có số phận bất hạnh, hẩm hiu hay gặp những bất trắc trong cuộc sống, hoàn thành được những ước mơ, những khát vọng chính đáng Các
yếu tố “phi thực” rất đa dạng, theo trí tưởng tưởng của con người: như cây đèn thần (A-la-danh và cây đèn thần), Những lần hóa thân của cô tấm (Tấm cám), Sọ dừa (trong truyện sọ dừa), các câu chuyện trong “Nghìn lẻ một đêm”….kết hợp với yếu
tố “thực” như xã hội, nhân vật, hoàn cảnh trong truyện Trong văn học dân gian, việc
sử dụng các yếu tố “thực” và “phi thực” được sử dụng nhiều, mang cảm giác không
thật, từ thời gian đến không gian cũng ít được nói cụ thể mà chỉ đề cập ở góc độ
chung chung.Vì nó sử dụng quá nhiều những yếu tố “phi thực” và mục đích của là
những bài học đạo đức nên chỉ dành cho trẻ em là nhiều
Theo xu hướng phát triển của văn học, trải qua rất nhiều phương pháp sáng tác: từ Chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện
thực xã hội Việc sử dụng các yếu tố “thực” và “phi thực” không nhiều Phải đến
những thập niên đầu của thế kỉ XX, khi xảy ra cuộc hủng hoảng rất trầm trọng Cuộc hủng hoảng của Chủ nghĩa tư bản Và Chủ nghĩa đế quốc, đã dẫn đến hai cuộc chiến tranh thế giới Thế chiến thứ nhất(1914-1918) và thế chiến thứ hai (1939-1945), đã làm thiệt hại về người và tài sản, gây tổn thương nghiêm trọng đến tinh thần của con
Trang 10người Từ cuộc hủng hoảng về tinh thần, làm xuất hiện nhiều phong trào phản kháng, phủ định trên bình diện văn hóa, nghệ thuật Văn học nghệ thuật cũng bắt đầu làm một cuộc cách mạng, với phong trào tiên phong, nhiều trào lưu trường, phái mới
ra đời: trường phái biểu hiện, trường phái đa đa, trường phái siêu thực, trường phái
vị lai, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, …Mỗi trường phái có phương pháp sáng tác khác nhau Nhưng trong các phương pháp sáng tác đều được hình thành từ nhu cầu phản ánh hiện thực đương thời, con người khi đang đứng trong tình trạng bất mãn với xã hội hiện tại, muốn chống lại sự áp chế của cơ cấu xã hội đối với cá nhân Tâm trạng nổi loạn ở họ kết hợp với nỗi kinh hoàng trước thực tại hỗn độn, họ muốn đưa
cái bản chất xấu xa của xã hội vào trong văn học, “Họ tuyên bố, mục tiêu của nghệ
thuật không phải là miêu tả hiện thực đương thời mà là biểu hiện cái thực chất của nó”[2, 269] Sống trong tình hình kinh tế chính trị rối ren, các nhà văn khi sáng tác
nghệ thuật cũng bị gò bó, bị giới hạn, đóng khung trong các nội dung tư tưởng Chính vì vậy, để phản ánh được thực chất của xã hội đương thời, các nhà văn sử
dụng các yếu tố “phi thực” như là sự tưởng tượng, cảm giác, trực giác, tín ngưỡng,
tâm linh, tôn giáo, giấc mộng, sự huyễn tưởng, siêu thực, những yếu tố phi lôgic, phi
lí trí…kết hợp với những yếu tố “thực” để phản ánh hiện thực đương thời, để “biến
hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thực của nó” Lúc này
các nhà văn đương thời sử dụng các yếu tố “thực” và “phi thực” có sự đan xen, kết
hợp kiến người ta có cảm giác hư hư thực thực, thực mà như bịa, thực như ảo, thực như tưởng tượng Chính vì vậy mà mục đích sáng tác đạt được hiệu quả cao, phản ánh đúng bản chất của xã hội đương thời
Xét một số tác phẩm sử dụng yếu tố “thực” và “phi thực” trong việc phản ánh
xã hội Tác phẩm “Câu chuyện chân thực về ông Ađam và bà Êva” của Pêđrô
Hóocchê Vêra (Equado) Ông đã mượn câu chuyện từ kinh thánh , thay đổi một số chi tiết, tạo ra ý nghĩa mới cho câu chuyện Tác giả đã mượn yếu tố tôn giáo, để nói lên hiện thực chính trị xã hội Mỹ la tinh ở thế kỉ XX, khi mà con người phải chịu áp bức về kinh tế, chính trị và nô dịch về văn hóa của các thế lực chuyên chế độc tài Nhân vật Giê-hô-va là một đấng tối cao, đại diện cho quyền lực Khi sáng tạo ra con người ông muốn họ phải phục tùng ông tuyệt đối, ngài là thượng đế trên thiên đường nhưng lại là người ích kỉ, độc tài muốn con người sống dưới sự cai trị của mình, dùng quyền lực để ngăn cản sự hiểu biết của con người Giê-hô-va như đại diện cho
Trang 11thế lực đen tối bạo hành, chế độ độc tài, khép kín văn hóa, đoạn tuyệt giao lưu Con người trong xã hội Mỹ la tinh, mà Ađam và Êva là điển hình, dưới sự kìm hãm của giai cấp thống trị, không có quyền được hiểu biết, không có quyền được sống đầy đủ với quyền lợi của một con người tự do Họ bị ép buộc về văn hóa khi mà giai cấp thống trị, tách rời họ với tri thức nhân loại
Các nhà văn đương đại Trung Quốc chịu ảnh hưởng của văn học Phương Tây, các tác phẩm có xuất hiện nhiều yếu tố phi thực, những yếu tố này được xen với hiện
thực đương thời, người Trung Quốc vừa trải qua thời kì hoang mang lo sợ khi “cách
mạng văn hóa” xảy ra, nó đã qua đi nhưng dư âm của nó vẫn là một nỗi kinh hoàng
cho người dân Trong các nhà văn Trung Quốc đương đại phải nói đến Mạc Ngôn, tác phẩm của ông có sức tố cáo hiện thực mạnh mẽ nhất, các tác phẩm của ông chủ yếu sử dụng yếu tố thực và phi thực đan xen nhằm phản ánh xã hội Trung Quốc
đương thời Tác phẩm “Đàn hương hình”, có nói rất nhiều đến giấc mơ Giấc mơ
của Mi Nương, giấc mơ của Giáp Con Trong giấc mơ của Giáp Con có được “chiếc
ria mép hổ” dắt trong người thì thấy được bản tướng của mọi người Giáp Con thấy
bố mình là con báo đen, vợ mình là bạch xà, mọi người thì nửa người nửa thú… Đó
là sự ám ảnh của Giáp Con về người mẹ đã quá cố, lúc trước những lời mẹ kể anh nhớ như in, đó phải chăng là những câu chuyện mà Mạc Ngôn đã được nghe lúc tuổi thơ Chi tiết này phản ánh xã hội ở thời kì mục ruỗng thối nát của triều đại nhà Thanh Cái thời kì mà một tên đao phủ chuyên chém người như Triệu Giáp lại được coi trọng, được tôn vinh như một nghệ sĩ tài hoa Chi tiết bàn tay của Triệu Giáp rất nhỏ, mềm như không thể làm việc gì nhưng lại là bàn tay chém người tàn bạo, điêu luyện Trước khi có một cuộc hành hình quan trọng, bàn tay ấy nóng dan và cho vào nước thì sôi sùng sục như cây sắt nóng bỏ vào nước Các yếu tố phi thực đan xen làm nên sự kì bí cho câu chuyện, làm ý nghĩa phản ánh hiện thực sâu hơn, rộng hơn
Xã hội thối nát, thẩm mĩ cũng suy đồi, cái ác được tôn vinh, con người lúc đó mất dần nhân tính, mà đại diện là triều đại nhà Thanh Đó cũng là mục đích của việc sử dụng các yếu tố phi thực, nhưng các yếu tố này phải có một tài năng kết hợp với các yếu tố thực thì tác phẩm mới đạt được giá trị cao
Trong văn học Việt Nam, từ văn học dân gian cũng đã có những yếu tố thực
và phi thực nhưng phải kể đến thời kì của Tản Đà, ông sống trong xã hội giao thời,
Trang 12và “là vạch nối giữa hai thế kỉ” nên những rối ren những bế tắc của xã hội rất phức
tạp, trong thơ văn Tản Đà đã có những yếu tố thực và mộng đan xen nó nhằm phản ánh xã hội Việt Nam cuối hế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 Mộng của Tản Đà là những giấc
mơ, những lúc chiêm bao nó nằm trong vô thức để phản ánh hiện thực, từ một người
“mộng” nhưng lại nói về hiện thực cuộc sống, những yếu tố đó được giải thích là phi thực Trong bài thơ “Hầu trời” có đoạn:
“Bẩm trời, cảnh con thực nghèo khó Trần gian, thước đất cũng không có Nhờ trời năm xưa học ít nhiều, Vốn liếng một bụng văn đó Giấy người, mực người, thuê người in, Mướn cửa hàng người bán phường phố
Văn chương hạ giới rẻ như bèo, Kiếm được đồng lãi thực rất khó!
Kiếm được thời it, tiêu thời nhiều, Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu”
Tản Đà sống giữa xã hội khốn khổ, thối nát của triều đình phong kiến, ông mộng lên gặp ông trời để tố cáo sự khốn khổ của xã hội Việt Nam thời đó Trong nhiều bài thơ của Tản Đà có xuất hiện những nhân vật phi thực: ông trời, chị hằng, chú cuội… Đó là do Tản Đà thấy chán ghét cuộc sống trần thế, ông lúc nào cũng mộng về một thế giới khác, một thế giới có sự công bằng, có cuộc sống tốt hơn
“Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi
Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.”
(Nhớ mộng)
Trang 13Nhìn chung, trong văn học từ xưa đến nay, dùng các yếu tố thực và phi thực trong việc phản ánh xã hội là rất phổ biến, các nhà văn nhà thơ đã sử dụng nó như một thủ pháp nghệ thuật nhằm làm tăng giá trị biểu đạt của tác phẩm, sâu thêm tầng
ý nghĩa cho tác phẩm, bên cạnh đó nó thể hiện đời sống văn hóa tâm linh tín ngưỡng của con người Sử dụng các yếu tố thực và phi thực là cả một nghệ thuật, đòi hỏi tài năng và tính sáng tạo của mỗi nhà văn mới có thể làm nên sự thành công cho tác phẩm
2 Biểu hiện thực và phi thực trong văn học
2.1 Biểu hiện thực và phi thực trong một số tác phẩm trên thế giới
Nói đến yếu tố thực và phi thực thì người có công lớn trong vệc sử dụng nó phải nói đến nhà văn Kafka Franz Kafka là nhà văn lớn đầu thế kỉ 20, ông sinh năm
1883 tại Praha, thủ đô Tiệp Khắc nay là Séc, và mất năm 1924 tại một nhà điều dưỡng gần Viên, thủ đô nước Áo Ông để lại cho thế giới một tài sản khiêm tốn nhưng vô giá, mà cho mãi đến nay giới văn học và loài người vẫn phải mang ơn ông
rất nhiều Với ba cuốn tiêu thuyết: Nước Mỹ, Vụ Án, Lâu Đài cùng một số truyện
ngắn, Kafka đã làm cuộc cách tân to lớn trong nghệ thuật văn xuôi Ông sống trong một xã hội đầy rối ren và bất công ở Mỹ La Tinh lúc bấy giờ Ông có những cảm nhận sâu sắc về tình hình xã hội và về con người thời đại, ông nhận thấy tầng sâu những vấn đề xã hội, sự bất công mà con người phải chịu Các tác phẩm của ông phản ánh sâu sắc hiện thực của xã hội, và cách mà Kafka thể hiện khá lạ, trong cảm quan của ông tồn tại song song hai thế giới song song, một thế giới thực mà ông
đang tồn tại và thấy thì vẫn có một thế giới khác vô hình, nó không được rõ ràng,
nhưng nó vẫn tồn tại Trong tác phẩm “Một Thầy thuốc nông thôn” của Franz
Kafka, có nhiều yếu tố thực và phi thực đan xen hòa quyện, khó phân biệt, các yếu
tố này vừa thực vừa phi thực tạo cho ta cảm giác hư hư thực thực Trong mùa đông giá rét, người thầy thuốc được đi chữa bệnh ở một ngôi làng cách xa mười dặm Người thầy thuốc đứng trước một thực tại vô cùng khó khăn, ngựa chết vì kiệt sức trong mùa đông, mượn khắp làng không được con ngựa nào Sự xuất hiện đúng lúc của những con ngựa cùng gã chăn ngựa , từ trong chuồng lợn cũ chui ra lúc này nó như một phép mầu Đến đây ta thấy như một điều quen thuộc trong dân gian hay nói
đó là “cầu được ước thấy”, chi tiết này ta thấy quen thuộc trong các chuyện cổ tích,
Trang 14giống như cô Tấm trong truyện “Tấm Cám”, khi không có quần áo đi dự hội thì Bụt hiện lên và cho quần áo đẹp Đó là trong cổ tích, còn trong “Người thầy thuốc nông
thôn” là hoàn cảnh thực mà lại xuất hiện yếu tố phi thực, kì lạ, gây bất ngờ lí thú
cho người đọc Ở đây có sự đan xen giữa thực và phi thực, thực và ảo đã làm cho câu chuyện hấp dẫn lôi cuốn người đọc Nhưng không phải vì thế mà nó mất đi tính chân thực vốn có của nó Ta cũng có thể lí giải phi thực đó bằng hiện thực, lúc đó
đang là mùa đông quá lạnh và “trong đêm bão tuyết” nên gã chăn ngựa và những
con ngựa của gã, đã vào chuồng lợn của nhà thầy thuốc để tránh bão tuyết Kakfa còn đưa chúng ta vào câu chuyện mà ở đó không có nhân vật nào có tên, chỉ có mỗi rose – là cô hầu gái Khi mà thầy thuốc không muốn đi vì lo lắng cho rose, sợ cô bị
gã chăn ngựa hại thì con ngựa lại đi nhanh vô cùng, “cảm giác chỉ trong nháy mắt
đã đến” Khi ông bỏ trốn khỏi nhà bệnh nhân, thì con ngựa lại đi chậm vô cùng
trong khi ông không có quần áo trong đêm bão tuyết, con ngựa cứ đi và không biết thầy thuốc có về được tới nhà không? Tác giả để kết thúc mở, tạo cho người đọc tưởng tượng riêng của mình Kakfa xây dựng một thế giới thực, có hoàn cảnh cụ thể nhưng bên cạnh còn có một thế giới khác, nó chỉ như ảo ảnh, nó là cảm giác lo sợ, hoang mang hay chính sự tưởng tượng của con người Cái thế giới mà Kafka biểu
hiện đó là đặc trưng của Đế quốc Áo - Hung, “một quân chủ quốc gia đang suy tàn”
mang trong nó toàn bộ những mâu thuẫn giải rác trong các quốc gia châu Âu thời kì này và những cái phi lí của nó
Thế giới trong các tác phẩm của Marquez (Côlômbia) cũng vậy, thực ảo lẫn
lộn Trong tác phẩm “Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhiđira ngây thơ và
người bà bất lương” có rất nhiều yếu tố phi thực, huyền ảo Marquez đã dùng những
yếu tố này để phản ánh mạnh mẽ xã hội của Côlômbia Hình ảnh người bà trong tác phẩm là hiện thân của cái ác, bắt cháu mình phải là nghề kĩ nữ để trả nợ bà món nợ
mà do “ngọn gió vô tình” đã làm cho cô gái, đẩy cô vào cuộc sống như vậy, máu bà
có màu xanh liệu có phải người thường? đây là yếu tố hoàn toàn phi thực Còn
những “trái cam tươi có hạt kim cương”, phản ánh tình trạng buôn lậu, đây là một
nghề phổ biến ở Mỹ La Tinh mà cụ thể ở xã hội Côlôbia Êrênhđira làm nghề kĩ nữ
và có giấy phép chứng tỏ nghề mại dâm ở đây là một nghề, phổ biến được pháp luật cho phép Chỉ điểm qua vài yếu tố phi thực đã thấy một hiện thực Mỹ La Tinh hiện
ra với đồng tiền là trên hết, một xã hội nhốn nháo mất hết đạo đức và nhân tính, con
Trang 15người cuối cùng cũng chìm vào sự cô đơn với chính bản thân mình, chi tiết cuối tác phẩm khi Êrênhđira chạy hoài, chạy mãi đi vào sa mạc Tình trạng của con người, con người không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống hiện tại, sẽ chìm dần vào một thế giới hư vô nào đó, không xác định được hướng đi cho riêng mình, chìm vào một nỗi
cô đơn vô tận
Trong tiểu thuyết “Nếu em không phải một giấc mơ” của nhà văn Pháp Marc
Levy, được Nguyễn Thị Bạch Tuyết dịch và Nhà xuất bản Hội nhà văn và Nhã Nam phối hợp, xuất bản năm 2006 Nó có tên tiếng anh “If Only It were True” Marc Levy đã tạo ra một thế giới hoàn toàn thực, một tình huống đã và đang xảy ra ở xã hội hiện tại nhưng trong đó vẫn có sự tồn tại của một thế giới phi thực, cái phi thực này cùng tồn tại, nó hiện diện với thực của nó Ông đã tin vào một thế giới phi thực,
đó là cái môtip hồn lìa khỏi xác và số mệnh, duyên số Đây là một chuyện tình cảm,
nhà văn sử dụng yếu tố phi thực để làm câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn nhưng hiện thực tác phẩm hoàn toàn có thực Khoa học đã chứng minh rằng, khi con người bất tỉnh nhưng tim còn đập thì vẫn còn sự sống, đã có rất nhiều trường hợp bất tỉnh vài ngày, vài tháng thậm chí cả năm nhưng người ta vẫn duy trì được sự sống Marc Levy đã lấy hiện thực này nhưng ở đây ông có sự tưởng tượng, ông tin là có linh hồn, cho nên ông để cho hồn Lauren trở về, những gì trước đây cô có và gặp được Arthur, hai người yêu nhau, Arthur đã giúp linh hồn Lauren và đi cứu thể xác cô Một câu chuyện rất hấp dẫn, để cho linh hồn và thể xác gặp nhau, rất thực nhưng lại
có nhiều yếu tố phi thực
Nhà văn Nhật Haruki Murakami, có nhiều tác phẩm đã được dịch ở Việt Nam
như: Rừng Nauy, Kafka bên bờ biển, Biên niên kí chim vặn dây cót,….Các tác phẩm của ông mang nhiều yếu tố huyền ảo, siêu thực Trong tác phẩm “Kafka bên bờ
biển”, Haruki Murakami đưa người đọc vào một thế giới vô hình, thế giới này được
tác giả chứng minh là nó đang tồn tại, ở đâu đó trong thế giới này Haruki đã làm biến mất khoảng cách về không gian, không gian dường như vô nghĩa và dựa theo số mệnh Cậu bé Kafka Tamura buộc phải theo số mệnh mà cha cậu - nhà điêu khắc nổi
tiếng Koichi Tamura đã đưa ra như một lời nguyền : “chính tay giết chết cha và ngủ
với mẹ” Kafka đã chạy trốn, nhưng cậu không thể chạy được, dù cậu ở đâu và muốn
tránh việc làm này cũng đã xảy ra Nhân vật Quạ đó chính là cậu, nó nằm chính bên
Trang 16trong, nó là những suy nghĩ tiềm ẩn bên trong, dù không muốn nhưng nó vẫn, sẽ và mãi đi theo, ám ảnh cậu bé kafka Tamura Kafka chạy trốn khỏi Tokyo đến đảo Shikoku và ẩn náu trong một thư viện tư nhân hẻo lánh, nhưng cái ngày cha cha cậu
bị giết do dao đâm, thì khi tỉnh dậy sau giấc mơ tay cậu đã đầy máu và vẫn cầm con dao đã giết cha Cậu bé biết được cái chết của cha khi đọc báo, tình cờ là thời gian
và sự việc xảy ra trong vụ án lại hoàn toàn trùng hợp với giấc mơ của kafka, không
ai giải thích được tại sao lại có sự trùng hợp đến như vậy, đó rõ ràng là yếu tố phi
thực Trong tác phẩm “Kafka bên bờ biển”, Haruki Murakami đã sử dụng rất nhiều
yếu tố siêu thực, hiện thực kì ảo, bi kịch Hy Lạp, ảo giác, chiêm bao…nhằm làm cho tác phẩm vừa hay, hấp dẫn và mang nhiều ý nghĩa cho mỗi độc giả khi đọc nó
Những yếu tố thực và phi thực xuất hiện rất nhiều trong đời sống cũng như trong văn học, trong lĩnh vực phim truyền hình rất phổ biến, nó tạo nên sự hấp dẫn li
kì cho bộ phim Qua đó mới thấy được yếu tố thực và phi thực rất quan trọng và có nhiều ý nghĩa trong cuộc sống nhất là mặt văn học nghệ thuật, giải trí
2.2 Biểu hiện thực và phi thực trong một số tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
Phi thực còn có tên gọi khác là “mộng”, một thuật ngữ khá quen thuộc trong
đời sống văn hóa lâu đời ở Trung Quốc ( và kể cả ở Việt Nam ta) Trong góc nhìn
sáng tác, tiếp nhận “mộng” là hiện tượng thần bí đầy ngụ ý sâu xa, lịch sử Văn học
Trung Quốc đã có nhiều tác phẩm văn học lấy giấc mơ làm đề tài Người Việt ta từ
nói chung ghép từ giấc mơ và mộng ảo thành mơ mộng mang nét nghĩa bình thường,
có nhiều ý nghĩa trong sinh hoạt của người Việt Nam hơn Đứng trên “mộng”(trong thế đối lập với thực) ở tác phẩm Việt Nam là mộng ảo và cũng có nghĩa là phi thực
Ngay trong kinh thánh, tả truyện… những bộ sách đầu nguồn của Văn học Trung Quốc đã ghi chép giấc chiêm bao, mộng ảo Trên cơ sở ấy thời Đường, thời Tống
phát triển thành một dòng văn học mộng ảo, như: “Mộng du thiên lão ân lưu biệt” (lí Bạch), “Mộng Lí Bạch” (Đỗ Phủ), Tô Thức đời Tống viết “Giang thành tư ất
mão chính truyện nhị thập dạ”,…ngoài ra truyền kì đời Đường cũng có tác phẩm
tiêu biểu như: “Chẩu trung kí”, “Nam Kha thành thú truyện”… đến “Liêu trai chí
dị” của Bồ Tùng Linh, “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần…Các tác giả lớn đó
đã miêu tả cho độc giả những giấc mơ, những mộng ảo nhiều hình thức sắc thể hình
thành dòng văn học mộng ảo phong phú đa sắc đa thanh Trường hợp “Kim Bình
Trang 17Mai” của Tiếu Tiếu Sinh hơi khác một chút, đây là sách viết về xã hội Trung Quốc
thời Minh cuối thế kỉ XVI Tác phẩm không chỉ phản ánh rất nhiều những phong tục
xã hội, nhân tình thế thái lúc bấy giờ mà còn phát hiện và đặt vấn đề tâm lí con
người “do dục hóa mộng” (vì nhiều ham muốn, dục tính mà hóa ra mơ ước muốn
được chiếm lấy, được sở hữu) Tác phẩm đã đẩy lên cao từ những giấc mơ trực giác
phản ánh tương lai, dự báo, dự kiến nhất định Đáng nói đó là những giấc mơ giữa ban ngày Có thể xem đây là những chú ý cần thiết để xem xét mộng – phi thực trong tiểu thuyết
Nói về miêu tả giấc mơ trong tiểu thuyết, có thể nói “Hồng lâu mộng” của
Tào Tuyết Cần đã đạt tới đỉnh cao trong lịch sử tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa và trở thành đỉnh cao của văn hóa nhân loại, viết về những tâm lí phức tạp của con người xưa và nay Tác phẩm đề cập đến hiện thực xã hội vừa chú trọng đến thế giới lí tưởng trong ảo mộng Xuyên suốt quá trình diễn biến tác phẩm là gắn với viên ngọc (hòn đá) Hòn đá này chiếm vị trí rất quan trọng trong tiểu thuyết, toàn bộ tiểu thuyết nói về sự thăng trầm của hòn đá Từ sự sáng tạo của Nữ Oa đến việc Bảo Ngọc ra
đời với hòn ngọc trong miệng, từ sự ẩn hiện lặp đi lặp lại của nó đến tình trạng tái
phát bệnh của Bảo Ngọc, từ câu chuyện huyền bí ở trên thiên giới gắn với câu chuyện của Bảo Ngọc ở chốn trần gian, số phận của viên ngọc gắn chặt với số phận của Bảo Ngọc Việc lấy viên ngọc gắn với số phận của Bảo Ngọc phải chăng là do văn hóa của người Trung Hoa, người Hoa quan niệm ngọc dù cứng như đá vẫn có giá trị bảo vệ con người khỏi các hung thần, nó rất thiêng liêng và quý giá đối với
họ Ngọc nó vừa là một vật thể vật chất, con người có thể nhìn thấy được, cảm nhận
được và đeo nó trên cổ Bảo Ngọc, coi nó như một báu vật Nó lại vừa là một vật
biểu trưng, một linh vật có nguồn gốc huyền thoại và mang yếu tố siêu phàm
Nói về sự phi thực, hư ảo thì hai tác phẩm: “Tây Du Ký” của Ngô Thừa Ân và
“Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh là hai tác phẩm tiêu biểu nhất, mang nhiều đặc tính của thực và phi thực Trong “Tây Du Ký”, Ngô Thừa Ân đã tạo ra một thế giới
mà tồn tại đủ cả hiện thực và phi thực, không có sự phân biệt giữa thế giới giữa con người và thế giới của thần thánh, cho con người bình thường được cùng sống và tồn tại với những thế lực siêu nhiên một cách rõ ràng, con người ở đây bé nhỏ, số phận của họ nằm trong tay các vị thần linh, những vị có khả năng đặc biệt, các phép thần
Trang 18thông, biến hóa Người Trung Quốc từ xưa vẫn quan niệm, trong thế giới của con người đang sống vẫn tồn tại một thế giới của những người đã chết, họ nghĩ người tốt khi chết đi sẽ được làm những vị thần thánh, luôn đi giúp đỡ người dân hiền lành nghèo khổ, còn những người xấu, khi sống họ đã ác thì khi chết họ cũng vẫn ác và
trở thành yêu ma hại người, vẫn làm những việc xấu xa “Tây Du Ký” là tác phẩm
thiên về thế giới tâm linh, liên quan đến quan niệm phật giáo của con người, con người hướng thiện để đi tìm chân kinh và mong muốn lên cõi niết bàn Con người lúc này vẫn tin là có một thế giới huyền ảo nào đó, mà ở đấy con người sẽ có những khả năng nhất định, có sự công bằng và hạnh phúc, một tiên cảnh như mong đợi, miêu tả chủ yếu là thế giới ảo, thế giới của tiên phật thánh thần Đó là thế giới trong quan niệm văn hóa của người Trung Quốc, Ngô Thừa Ân đã rất xuất sắc thể hiện
trong “Tây Du Ký”, tác phẩm không chỉ có giá trị lúc đó, mà cả bây giờ và mãi mãi
về sau Nói tới tác phẩm “Liêu trai chí dị”, Bồ Tùng Linh đã miêu tả cuộc sống hiện
thực của con người, nhưng lại xuất hiện những thần thánh yêu ma, những thế giới của ma quỷ và thần thánh luôn luôn tồn tại và nó đại diện cho hai mặt của cuộc sống, xấu và tốt, thiện và ác Đặc biệt những yêu ma ở đây chủ yếu là những người phụ nữ đẹp, phải chăng Bồ Tùng Linh muốn con người nên cảnh giác, cái xấu nằm ngay trong những thứ đẹp đẽ, con người cần tỉnh táo để nhìn cuộc sống hiện thực của mình
Tóm lại, dòng tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa viết về những giấc mơ đã ảnh hưởng trực tiếp đến những sáng tác nghệ thuật của các nhà văn hiện đại Trung Quốc Tác phẩm của Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn đều có không ít những giấc
mơ đồng thời muốn thông qua miêu tả những giấc mơ là những kết tinh của hành
động tâm linh của con người, thật khó giải thích rõ ràng nhưng dường như có sự bén
duyên bền bỉ với thế giới văn học nghệ thuật Cũng phải thôi, trong tinh thần con người không đơn giản chỉ là những đa nghi, chúng ta dùng lý trí soi và có con đường zíc zắc riêng, vừa thế này vừa thế khác, những nhà văn xưa và nay có tưởng tượng phong phú, có tình cảm sâu sắc, tế nhị nhạy bén đã miêu tả thêm nhiều những giấc
mơ cũng như thấm sâu hơn về những tình cảm, tư tưởng vô cùng phức tạp của con người, nó tăng thêm sự thần bí, hoang đường khó đoán biết Mà đã là hành động tinh thần, dù ngòi bút lược được, gắn bó với đời sống con người cụ thể nhưng vẫn có đủ khả năng cho đọc giả đi vào thế giới hoang đường trong đời sống tinh thần quá
Trang 19phong phú, đa dạng của con người Càng thực bao nhiêu, qua nhiều thủ pháp, cách thức miêu tả, đến lúc nào đó độc giả có cảm giác là trong thế giới phi thực, thế giới
ảo mộng như là không thực Nó cũng giống như một thực trạng có ở mỗi người
chúng ta giữa trời đất, mây mù che phủ tầm nhìn con người, bất giác có cảm tưởng
hư ảo bao trùm như không thể nào tin là sự thực có như thế…
3 Khái quát diện mạo văn học đương đại Trung Quốc nói chung, tiểu thuyết đương đại Trung Quốc nói riêng
3.1 Thành tựu văn học đương đại Trung Quốc
Xã hội Trung Quốc sau “Cách mạng văn hóa” có nhiều biến đổi sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng…Trung Quốc không còn sống trong môi trường khép khín, bó buộc, hạn chế của các tư tưởng, các quy định do các nhà chính trị trong “Cách mạng văn hóa” đề ra Chính sách mở cửa, giao lưu kinh tế - văn hóa –
xã hội của chính quyền Trung Quốc đã thể hiện được thiện chí Trung Quốc mong muốn học hỏi kinh nghiệm, tinh hoa của các nước tiên tiến, đưa đất nước theo hướng mới, theo thời đại mới, phát triển theo quy luật tất yếu khách quan
Từ sự thay đổi của tình hình xã hội kéo theo sự thay đổi trong văn học, văn học thể hiện đời sống cho nên tất cả những vấn đề của cuộc sống đều đi vào văn học một cách rất tự nhiên, chững chạc Văn học phản ánh những ước mơ khát vọng của nhân dân, nó rất thực và gần gũi Con người trong giai đoạn mới không cần phải hướng đến cái “ta” chung như giai đoạn trước, mà họ hướng về cái “tôi”, tìm về cuộc sống riêng tư, cá nhân với những mối quan hệ mới giữa con người với con người, không còn bị phân biệt kì thị nữa Giá trị của con người được nâng lên tầm cao hơn, các nhà văn cũng hướng tới nhu cầu riêng, những cảnh đời riêng xoay quanh cuộc sống muôn màu muôn vẻ, tạo một thế giới rộng lớn trong văn học
Văn học Trung Quốc sau “cải cách mở cửa” có sự vận động phát triển và có
những thay đổi hết sức to lớn, mở ra nhiều hướng mới cho văn học Các nhà văn với những nhận thức mới, quan niệm mới để đi tìm tòi, phát hiện và thử nghiệm Nó là tiền đề quan trọng cho nền văn học mới “đa dạng hóa”
Chính sách mở cửa làm xã hội thay đổi đồng thời cũng kéo theo sự giao lưu văn hóa Đông – Tây được đẩy mạnh Lúc này, văn học Phương tây với các trường
Trang 20phái: Hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa siêu thực, Văn học hiện sinh, “tiểu thuyết
mới”… ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của các nhà văn kết hợp với các thành tựu
truyền thống đã ngấm vào máu thịt của các nhà văn, nên giai đoạn này văn học đạt
được nhiều thành tựu mới, thể hiện ở hai bình diện nghệ thuật và tư tưởng
Nội dung của văn học thời kì sau “cách mạng văn hóa”, vạch trần tội ác của
thành phần phản động trong cách mạng văn hóa, chỉ ra cho người đọc thấy sự tàn
bạo, bất công, ác độc và nguy hiểm của thời kì “cách mạng văn hóa” Sau thời kì
“văn học hậu vết thương” đã chuyển sang giai đoạn “văn học thời kì mới” phát triển
rất sôi động mạnh mẽ, đứng vững trong nền kinh tế thị trường và ngày lớn mạnh
Xã hội đã cởi bỏ những quan niệm khắt khe độc đoán về sáng tác văn học, các nhà văn tự tìm cho mình những lối viết tự do, mới mẻ, mang sự sáng tạo lớn, tạo dấu ấn riêng của mỗi nhà văn
Các nhà nghiên cứu về thành tựu của văn học“Từ năm 1985 tại Trung Quốc
đại lục bùng nổ về văn học thông tục, tức văn học thiên về giải trí, cốt truyện hấp
dẫn với nhiều loại đam mê Hơn 10 bộ tiểu thuyết Kim Dung, Lương Vũ Sinh lần in
đầu đã đạt hơn 2 triệu bản, 15 bộ tiểu thuyết Quỳnh Dao” [5] Văn học Trung Quốc
vẫn đang trên đà phát triển mạnh mẽ, thị trường sôi động, các nhà văn sáng tác nhiều qua thời gian, những tác phẩm thực sự có giá trị sẽ còn sống mãi, khẳng định giá trị của mình
3.2 Tiểu thuyết bộ phận phát triển, tiêu biểu cho văn học đương đại Trung Quốc
Xã hội Trung Quốc sau “mười năm động loạn” của cuộc “cách mạng văn
hóa”(1966 – 1976) có nhiều biến đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư
tưởng…Trung Quốc không còn sống trong môi trường khép kín, coi mình là trên hết Chính sách mở cửa giao lưu kinh tế – văn hóa – chính trị của chính quyền Trung Quốc đã làm thay đổi sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm và quan niệm của con người Trung Quốc, cùng với xu thế toàn cầu hóa, đã ảnh hưởng đến xã hội, làm thị trường Trung Quốc sôi động cùng thế giới Trước tình hình xã hội chuyển mình dữ dội, thì tình hình văn học cũng bắt đầu chuyển mình, đặc biệt nhất là những năm đầu của thế
kỉ XXI Về quan niệm, nhận thức của người Trung Quốc cũng mở rộng, thoáng hơn trước rất nhiều, để phù hợp với giai đoạn mới Xã hội mới con người mới
Trang 21Tiểu thuyết thời kì mới gặt hái được nhiều kết quả rực rỡ, phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Chất lượng của tiểu thuyết thời kì mới thể hiện ở hai bình diện
nghệ thuật và tư tưởng Nội dung tư tưởng sau “cách mạng văn hóa” là vạch trần tội
ác của “bè lũ bốn tên”, chỉ ra cho người đọc thấy sự tàn bạo ác độc và nguy hiểm của “cách mạng văn hóa”, những bất công, những nỗi khổ của con người trong thời
kì “cách mạng văn hóa” tất cả được đào lên, xem xét nhìn nhận lại, để có những cái
nhìn đúng đắn vững bước đi tiếp những chặng đường sau này Chỉ vài năm sau khi
đập tan tập đoàn “bè lũ bốn tên” hàng loạt tác phẩm ưu tú ra đời Các giá trị của
những tiểu thuyết bắt đầu được dư luận chú ý, có những nhà văn đã có vị trí lớn trên văn đàn trong và ngoài nước Gần đây nhất là giải Nobel văn học của Cao Hành
Kiện với tiểu thuyết “Linh Sơn” (2000), kết quả của một quá trình phấn đấu của các
thế hệ nhà văn Trung Quốc, báo hiệu mùa xuân mới của thời đại tiểu thuyết Trung Quốc Hình thức tác phẩm cũng được thể hiện một các đa dạng, phong phú theo phong cách riêng của mỗi nhà văn Thời kì mới, văn học Trung Quốc được đổi mới
về mọi mặt, nhất là về chủ trương, đường lối và nhận thức Phương châm “trăm hoa
đua nở” và “trăm nhà đua tiếng” được phát huy cao độ, cùng với sự ảnh hưởng của
văn học nước ngoài chủ yếu là văn học Phương Tây, các trường phái trào lưu tràn vào Trung Quốc làm thay đổi lớn về quan niệm sáng tác của nhà văn Trung Quốc, các trào lưu như Hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa siêu thực, văn học huyễn tưởng, văn học phi lí… Tất cả làm cho các nhà văn Trung Quốc có cách nhìn mới về sáng tác văn học, nên lúc này nhiều trường phái, trào lưu tiểu thuyết được hình thành: Trào
lưu “văn học cải cách” - đổi mới văn học từ hình thức đến nội dung; trào lưu “văn
học tầm căn” - tìm về cội nguồn, gốc rễ của văn hóa truyền thống; trào lưu “chủ nghĩa hiện thực khai phong” - là trào lưu văn học mang tính toàn cầu hóa, chịu ảnh
hưởng từ Phương Tây; trào lưu “tân tả thực” và trào lưu “ văn học tìm tòi mới” là
những trào lưu không chấp nhận phương pháp sáng tác cũ một cách máy móc, mà
đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo, đáp ứng được tính chân thực cao Đó là dòng chảy tất
yếu của một nền văn học, và là thành quả khi Trung Quốc hòa mình cùng “toàn cầu
hóa” Một vài thành tựu của tiểu thuyết đương đại Trung Quốc: Cao Hành Kiện Linh Sơn, Thánh kinh của một con người,…, Vương Mông: Cáo xanh, Hoạt động biến nhân hình,…, Giả Bình Ao: Phế đô, Nôn nóng, Phấn khởi,…, Vệ Tuệ: Baby Thượng hải, Điên cuồng như vệ tuệ,…, Tào Đình: Xin lỗi em chỉ là con đĩ, Thiên
Trang 22thần sa ngã, Yêu anh hơn cả tử thần,…, Quách Kính Minh: Vương quốc ảo, … Cùng
với dòng chảy đó phải kể đến Mạc Ngôn – một cây viết suất sắc trên văn đàn Trung Quốc
Mạc Ngôn sinh năm 1956 ở huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông Ông bắt đầu sáng
tác từ năm 1981 Truyện vừa “ Cao lương đỏ” của ông được giải thưởng toàn quốc
năm 1985 – 1986 và được đạo diễn tài danh Trương Nghệ Mưu chuyển dựng thành
phim, và đoạt giải thưởng “Cành cọ vàng” tại liên hoan phim Cannes 1994 Khác
với các nhà văn trên văn đàn Trung Quốc hiện đại, Mạc Ngôn không bao giờ lặp lại chính mình Mỗi tiểu thuyết của ông là một con đường tìm tòi, sáng tạo độc đáo, tạo
ra phong cách tiểu thuyết cho riêng ông
Đề tài tiểu thuyết của Mạc Ngôn rất rộng, ông phản ánh mọi mặt của phong
tục tập quán, hiện thực ở nông thôn, phán ánh cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, phản ánh những tệ nạn xấu thời hiện đại, những ông “quan mới” quan liêu, hách dịch…Những chuyện trên trời đất, đông tây kim cổ, cao thượng đến hạ lưu, quý tộc đến ăn mày, xấu tốt,…tất cả đều được Mạc Ngôn ghi lại trong các tác phẩm của mình
Ông có nhiều tiểu thuyết nổi tiếng, được dịch ra nhiều thứ tiếng Ở Việt Nam
các tiểu thuyết của Mạc Ngôn được dịch như: Tửu quốc, Đàn hương hình, Tứ thập
nhất pháo, Rừng xanh lá đỏ, Sống đọa thác đày, Bài ca ngồng tỏi thiên đường, Gia tộc cao lương đỏ,
Nhiều người gọi những tác phẩm của Mạc Ngôn là tiểu thuyết “cảm giác mới”
Cảm giác mới bắt nguồn từ nhận thức luận của chủ nghĩa biểu hiện và phương pháp biểu hiện tư tưởng của chủ nghĩa đa đa Tiểu thuyết cảm giác mới đối lập với tiểu thuyết hiện thực truyền thống, nó không đơn thuần miêu tả hiện thực bề ngoài, mà nhấn mạnh cảm thụ trực giác, đưa cảm giác chủ quan vào trong khách thể đặng sáng tạo ra một hiện thực mới mẻ, hiện thực khách quan nhưng qua cảm nhận của cá nhân
nó sẽ khác, trong các tác phẩm của Mạc Ngôn ông thường là người trần thuật, các nhân vật “tôi” tự đứng ra kể lại những câu chuyện của mình, mình biết và mình cảm nhận, những đánh gí đó cũng là của cá nhân của nhân vật “tôi” nên đọc lên ta thấy
nó rất khách quan, không bị gò bó bởi nhận thức của một người có thể đúng sai, thiên vị, quyết định là ở cảm giác của mỗi người đọc Dấu ấn riêng của Mạc Ngôn là
Trang 23ông sáng tác chủ yếu về quê hương Cao Mật, ông trở thành “ông vua Cao Mật”, ông
đưa vùng đất quê hương, tuổi thơ của mình vào trong từng trang viết thật sinh động
và hấp dẫn Văn học Trung Quốc sẽ rất thiếu hụt nếu như thiếu vắng cây bút của Mạc Ngôn, cũng như Trung Quốc sẽ không toàn vẹn khi thiếu Cao Mật
Trang 24Chương 2 Thực và phi thực trong tiểu thuyết “ Tửu Quốc”
của Mạc Ngôn
1 Tiểu thuyết Mạc Ngôn tron dòng chảy tiểu thuyết Trung Quốc
1.1 Thời đại Mạc Ngôn
Văn hóa Trung Quốc trong 50 năm(1950- 2000) có nhiều biến động dữ dội,
nhất là trải qua 10 năm “Đại cách mạng văn hóa vô sản” ( 1966- 1976) đã làm tổn
thương lớn đến người dân, ngày nay khi nhắc lại nó vẫn còn là một nỗi kinh hoàng
Đó là mười năm nội loạn khủng khiếp đi vào lịch sử Trung Quốc như những trang bi
ai nhất, xót xa nhất Tình hình xã hội lúc đó vô cùng rối ren, người dân phải hứng chịu mọi luật lệ tàn bạo do cải cách văn hóa đưa ra Con người thời đó bị hạn chế, bó hẹp ngay cả trong lời ăn tiếng nói, nói sai một chữ là mất mạng như chơi Người dân
bị chụp lên đầu những chiếc mũ, để phân định giai cấp, quyền lợi làm cho bao người chịu những bất công thiệt thòi, những người muốn học có khả năng học lại không
được đi học, chỉ ưu tiên cho những gia đình bần cố nông, những người này thì lại
không thể học vì dốt và nghèo Một xã hội mà không chăm lo cho nhu cầu lợi ích của dân, chỉ hành động khuôn khổ máy móc, dập khuôn không theo tình hình kinh tế
xã hội, mà chỉ nhằm đạt mục đích của mình Với những bè lũ phản động, lợi dụng
“nước đục thả câu” gây nên nhiều tang thương “trong mười năm động loạn”, xã hội
rơi vào tình trạng rất bi thương
Phải đến Đại hội mở rộng ban chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật toàn quốc lần thứ 3, họp từ ngày 27 tháng 5 đến ngày 5 tháng 6 năm 19768, chính thức tuyên bố tập đoàn phản cách mạng đã bị đập tan Từ đây Trung Quốc bước sang một thời kì mới, xã hội Trung Quốc có những biến đổi sâu sắc về chính trị, văn hóa, tư tưởng và đặc biệt là văn học Văn học Trung Quốc thời kì mới đã vươn vai đứng dậy
từ trong biến động lịch sử xã hội, tạo nên một nền văn học mới, văn học đương đại Trung Quốc
Trong giai đoạn “cách mạng văn hóa” thì khuynh hướng sáng tác phải tô hồng,
lí tưởng Nhưng đến giai đoạn sau, khi hiện thực xã hội thay đổi thì khuynh hướng sáng tác chuyển sang mạnh dạn dám miêu tả sự thực, không giấu giếm che đậy và bầy tỏ những quan điểm những suy nghĩ riêng của cá nhân về lịch sử xã hội Thời kì
Trang 25này có nhiều tác phẩm vạch trần những tội ác của thời kì “cách mạng văn hóa”, làm
cho người dân và nhất là các nhà văn thỏa mãn khát vọng được tự do nghĩ, tự do nói,
nói thẳng, nói thật Thời kì này là “văn học viết thương”, tái hiện lại vết thương vừa
qua Con người tạm quên đi, vươn mình đứng dậy trong cuộc sống mới, cũng đầy thử thách và khó khăn
Bắt đầu từ những năm 90, Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa về kinh tế, giao lưu kinh tế - văn hóa – chính trị Từ nay Trung Quốc không khép mình lại nữa,
mà mở cửa giao lưu học hỏi kinh nghiệm, truyền thống, văn hóa tốt đẹp từ các nước
tiên tiến Hòa mình vào không khí chung của “toàn cầu hóa”, thị trường Trung Quốc
từ đây cũng sôi động hơn, làm biến đổi nhiều mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…
Trong tình hình xã hội trải qua những thăng trầm, thì văn học cũng có những biến đổi về nhiều mặt Văn học giai đoạn đầu đổi mới có nhiều quan niệm mới, nhận thức mới hình thành làm tiền đề để phát triển văn học mới Xã hội mở cửa giao lưu,
có sự giao lưu về văn hóa văn học giữa Đông –Tây, làm cho văn học có một sự mới
mẻ khác lạ Các nhà văn giai đoạn này đã nhìn thẳng vào hiện tại, mà văn học là thể hiện những vấn đề của cuộc sống, cho nên tất cả những vấn đề của cuộc sống đều đi vào văn học, những ước mơ khát vọng, cùng những vấn đề khó khăn của cuộc sống, của nhân dân, của từng cá nhân con người, nó rất thực và gần gũi Các nhà văn không tìm những đề tài, hình mẫu cao xa mà ở ngay xung quanh họ, làm nên những tác phẩm tuy tầm thường nhưng lại phi thường, nó đáp ứng nhu cầu và yêu thích của
độc giả Khi đọc những tác phẩm như vậy ta thấy ít nhiều bóng dáng của mình trong
đó, nó chân thực như những gì đang diễn ra trong cuộc sống
Văn học Trung Quốc sang trang mới, và đạt được nhiều thành tựu nổi bật ở rất nhiều thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, thơ…và các thành tựu về phê bình đánh giá cũng mới, có những thay đổi quan niệm, chuẩn mực
Văn học Trung Quốc đương đại xuất hiện nhiều ngôi sao lấp lánh, nhân tài lớp
nọ nối tiếp kia, trong đó phải kể đến một số nhà văn có tên tuổi như: Mạc Ngôn, Vương Mông, Giả Bình Ao, Phùng Ký Tài, Trương Tử Long, Cao Hiểu Thanh, Hàn Thiếu Công… Sau này, lớp nhà văn trẻ có: Vệ Tuệ, Tào Đình, Quách Kính Minh,… Văn học Trung Quốc đã đang và sẽ phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu lớn
Trang 26Mạc Ngôn “Ấn tượng về nông thôn là hồn, là phách trong các sáng tác của tôi Đất,
sông, hoa trái, cây cỏ, chim bay, thú chạy, thần thoại, truyền thuyết, ma quỷ, yêu tinh, ân nhân, cừu nhân…của cố hương tôi là nội dung chính trong các tiểu thuyết của tôi”[3, 262] Khi lớn, Mạc Ngôn làm rất nhiều việc, các công việc khá vất vả và
gần gũi với những người nghèo khổ, nên ông rất hiểu nỗi khổ của người nghèo Cũng từ cuộc sống lam lũ vất vả, Mạc Ngôn có quan niệm sáng tác là “sáng tác cho dân” và ông “sáng tác từ vị trí người dân”, thấu hiểu nỗi khổ của họ như chính nỗi khổ của mình
Mạc Ngôn là người thông minh, ham học và có đam mê đọc sách “xem các
loại “nhàn thư”, tức sách giải trí, sách tiêu khiển trở thành lạc thú lớn nhất đời đối với tôi”[3, 277] Hoàn cảnh lúc bấy giờ làm cho việc học của ông bị gián đoạn,
nhưng với một người không ngừng phấn đấu, có ý chí để theo đuổi đam mê được học hành và mong thoát khỏi cuộc sống khổ cực ở quê hương nghèo nàn lạc hậu và ngày quan trọng đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời Mạc Ngôn, là tháng 2 năm
1976 ông được gọi nhập ngũ Trong quân đội, Mạc Ngôn tích cực học tập và rèn luyện rất tốt Đến ngày 1 tháng 9 năm 1984 khoác ba lô rời đơn vị, đến giảng đường
đại học và thực hiện “giấc mơ đại học” của mình Mạc Ngôn học khoa văn của học
viện nghệ thuật giải phóng Đến 1986 thì tốt nghiệp, ông xuất bản “Cao lương đỏ”
và nhanh chóng xác định vị trí của mình trên văn đàn “ Cao lương đỏ” của ông
được giải thưởng toàn quốc năm 1985 – 1986 và được đạo diễn tài danh Trương
Nghệ Mưu chuyển dựng thành phim, và đoạt giải thưởng “Cành cọ vàng” tại liên
hoan phim Cannes 1994
Trang 27Năm 1988 Mạc Ngôn trúng tuyển vào lớp nghiên cứu sinh Sáng tác tại học viện văn học Lỗ Tấn thuộc trường Đại học sư phạm Bắc kinh Năm 1991 Mạc Ngôn tốt nghiệp với học vị thạc sĩ
Một số tác phẩm tiêu biểu
“ Củ cà rốt trong suốt”(1986), “Gia tộc cao lương đỏ”(1987), “Bài ca ngồng
tỏi thiên đường”(1988), “Mười ba bước”(1989), “Hoan lạc”(1989), “Bạch cẩu thiên thu giá”(1989), “Tửu quốc”(1993), “ Báu vật của đời”(1995), “Truyện ngắn Mạc Ngôn”(2000), “Đàn hương hình”(2001), “Mĩ nhân băng tuyết”(2001), “Người tỉnh nói chuyện mộng du”, “Tứ thập nhất pháo”…
Mạc Ngôn là một trong những những cây viết xuất sắc, có tên tuổi của nền văn học đương đại Trung Quốc, đã được các độc giả trong và ngoài nước biết đến Tác
phẩm của Mạc Ngôn luôn thấm đẫm “máu và nước mắt” Mạc Ngôn đã từng nói trong lời tựa quyển sách “Mạc Ngôn và những lời tự bạch”: “tôi là người xuất thân
từ tầng lớp hèn kém, tác phẩm của tôi chứa đầy quan điểm thế tục Người thế nào thì nói lời thế ấy, cây nào thì quả ấy, chim nào thì hót tiếng ấy Tôi lớn lên từ đói rét cơ hàn, đã từng chứng kiến rất nhiều cảnh khổ đau và bất công, trong lòng tôi tràn đầy
sự cảm thông đối với nỗi đau của nhân loại và sự phẫn nộ đối với bất công.” Điều
này đã chứng minh được các tác phẩm của ông luôn hướng tới người dân, ông luôn
đứng từ vị trí của người dân để viết, tác phẩm của ông rất gần gũi với người dân
Ông như người phát ngôn của nhân dân
Mạc Ngôn sinh ra trong một gia đình nông thôn, tương đối lớn, có rất nhiều
thành viên sống trong một mái nhà “Gia đình tôi rất đông thành viên, có ông nội, bà
nội, bố, mẹ, chú, thím, anh, chị; sau đó thím tôi lại sinh được mấy đứa con trai con gái đều nhỏ hơn tôi Lúc bấy giờ nhà tôi đông nhất làng.”[3, 362] Tình cảm của
người lớn dành cho mỗi đứa nhỏ cũng khác nhau, tạo nên sự phân biệt, dấu ấn trong gia đình cũng đậm nét Cha Mạc Ngôn cũng là một trí thức, có tư tưởng phong kiến nên trong cách dậy bảo con cái rất chặt chẽ và bảo thủ, sống trong khuôn phép của cha, ít được tự do thoải mái nên tuổi nhỏ ông hay có cảm giác cô đơn, sống khép
khín và thường thu mình lại “Người lớn chỉ lo kiếm sống, không ai cai quản chúng
tôi, tôi cứ lớn lên một cách lặng lẽ Thuở nhỏ tôi có thể đứng cả ngày bên một tổ kiến để xe những sinh vật bé nhỏ ấy bận rộn chui ra chui vào, trong đầu tôi xuất
Trang 28hiện không biết bao nhiêu là ý nghĩ kì dị”[3, 362] Mạc Ngôn sống trong gia đình
đông người, cha khó, tuổi thơ lại không được đi học, cực khổ nên tính cách Mạc
Ngôn sống khá trầm và thích hướng nội
Do kí ức về tuổi thơ ở nông thôn quá sâu đậm nên mặc dù sau này lớn lên, Mạc Ngôn từ giã làng quê đi làm thợ, đi lính, nhưng dấu ấn ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông vẫn đượm mùi dân dã nơi quê hương gia đình Phong cách ngôn ngữ
tự thuật của ông là thiên biến vạn hóa, chen nhiều ca dao thành ngữ, có hơi hướng cổ thi, danh ngôn biền ngẫu, có nhiều câu hay lời đẹp, có thanh có tục làm cho lời văn
và phong cách văn chương vừa hay lại vừa gần gũi với người dân đặc biệt là những người ở nông thôn dân dã, có lẽ cũng vì vậy mà người ta yêu mến Mạc Ngôn nhiều hơn vì tiếng nói của ông như tiếng nói của họ vậy Phong cách viết ảnh hưởng nhiều bởi tuổi thơ
Mạc Ngôn từng nói: “ Sáng tác của tôi đang tìm lại những gì đã mất về quê
hương, bởi vì thời niên thiếu của tôi gắn lền với nông thôn”[3, 394] Các tác phẩm
phần lấy cảm hứng từ quê hương và viết về quê hương: Trong tác phẩm “Cao lương
đỏ” đã được Mạc Ngôn dựa trên một câu chuyện có thật ở làng bên cạnh, cùng với
kí ức về cuộc chiến tranh chống quân xâm lược, các cảnh vật ở tác phẩm đều là cảnh
do kí ức những năm tháng đó Phải là người rất nhạy cảm và yêu quê hương thì mới
có thể nắm bắt được linh hồn của quê hương, từ những câu chuyện nhỏ được nghe,
được kể hay những kỉ niệm tuổi thơ của chính mình ông đã xây dựng nên những tác
phẩm rất hấp dẫn Mạc Ngôn nhắc lại kỉ niệm, năm đó khi đói qúa nên đã ăn trộm một củ cà rốt và bị bắt quỳ xin lỗi trước bức ảnh chủ tịch Mao Trạch Đông và trước mặt mọi người cười chê, về nhà thì bị bố giận và đánh thêm một trận sinh tử nữa
Khi viết tác phẩm “Củ cà rốt trong suốt” cảm hứng xuất phát từ kỉ niệm đó Trong
“Đàn hương hình” viết về quê hương Cao Mật khi mà bọn Đức sang làm đường sắt,
và gây nhiều đau thương cho người dân ở đây, khiến dân chúng phải chịu bao cảnh uất ức thiệt thòi Triều đình thì cấu kết với quân Đức hành hạ nhân dân, khiến người dân phải chịu bao đau khổ bất công, Mạc Ngôn đã tố cáo sự àn bạo dã mãn của quân
lính Đức và sự nhu nhược hèn kém của triều đình, tác phẩm “Đàn hương hình” gây tiếng vang lớn trong văn học Hay trong quyển “Người tỉnh nói chuyện mộng du” là
những kỉ niệm những dấu ấn trong đời Mạc Ngôn đã trải qua, nó như một quyển
Trang 29nhật kí ghi lại một cách chân thực nhất những điều tai nghe mắt thấy trong cuộc sống, mà không có sự hư cấu…Tất cả những gì đã trải qua trong cuộc, đều đọng lại trong trái tim nhạy cảm, con mắt tinh đời của Mạc Ngôn, khiến cho mỗi tác phẩm
đều mang đặc trưng riêng không giống bất cứ nhà văn nào, tạo nên sự khác biệt và
thành công cho nhà văn Mạc Ngôn
2 Tửu Quốc - thành tựu mới của Mạc Ngôn
2.1 Tác phẩm “Tửu quốc” của Mạc Ngôn
Mạc Ngôn bắt đầu sáng tác vào mùa thu năm 1981 với tác phẩm đầu tay
“Đêm xuân mưa giăng giăng” đăng trên số 5 nguyệt san “Đầm sen” của thành phố
Bảo Định tỉnh Hà Bắc, từ đó Mạc Ngôn sáng tác liên tục và cho ra nhiều tác phẩm xuất sắc Vào mùa đông năm 1989 Mạc Ngôn bắt đầu viết tiểu thuyết “Tửu Quốc”
và kéo dài tới tháng 2 năm 1993 thì hoàn thành và được xuất bản lần đầu tại Nhà xuất bản văn nghệ Hồ Nam Tái bản lần thứ nhất vào tháng 2 năm 2000, tại nhà xuất bản Nam Hải Tái bản lần thứ hai vào tháng 9 năm 2002, tại nhà xuất bản văn nghệ Sơn Đông Tiểu thuyết “Tửu Quốc” được Trần Đình Hiến dịch từ nguyên bản Trung văn Nhà xuất bản Sơn Đông và xuất bản lần lần đầu ở Việt Nam vào năm 2004, tại
nhà xuất bản Hội nhà văn
Tác phẩm được độc giả Việt Nam đón nhận rất nồng nhiệt, những vấn đề Mạc Ngôn đưa vào tác phẩm là ở xã hội Trung Quốc những những tệ nạn đó cũng là tệ
nạn chung của xã hội và nhất là rất gần gũi với người dân Việt Nam
* Tóm tắt tác phẩm
Tiểu thuyết “Tửu quốc”, sử dụng nghệ thuật truyện lồng trong truyện Đây là
hai câu chuyện song song nhưng lại có sự liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung làm rõ
cho nhau
Truyện thứ nhất, kể về Trinh sát viên hạng nhất Đinh Câu được điều về thành phố Rượu điều tra vụ ăn thịt trẻ con, của các quan chức cao cấp mà đối tượng tình nghi và là mục tiêu điều tra của Đinh Câu là Phó bộ trưởng Koan Kim Cương Trên đường đến thành phố Rượu, anh đi nhờ xe của một cô gái có ngoại hình rất hấp dẫn gây ấn tượng với anh Nơi đầu tiên anh đến là mỏ than La Sơn Anh được giám
đốc và phó giám đốc khu mỏ, cũng là hai anh sinh đôi giống nhau như đúc “Hai
Trang 30người giống nhau khinh khủng, người nọ là phiên bản của người kí” [1,67], “Hai vị cán bộ này trên dưới năm mươi, mặt tròn xoay như chiếc bánh bao, da đỏ hồng như tằm tía, cả hai đều bụng đại tướng Cả hai mặc bộ đồ Tôn Trung Sơn màu xám, nếp
là thẳng tắp”[1,38], tiếp đón Đinh Câu rất chu đáo Chưa điều tra được gì thì anh đã
được mời vào bàn tiệc, trên bàn đủ các sơn hào hải vị, cuộc ăn uống diễn ra vui vẻ, đến lúc Đinh Câu bị say thì Khoan Kim Cương xuất hiện cùng với tài uống rượu
không biết say đã làm Đinh Câu lóa mắt và nể phục Món ăn cuối cùng đưa lên để
đãi Đinh Câu được Khoan Kim Cương gọi lên có tên “kì lân dâng con”, được chế
biến giống y hệt một bé trai chiên giòn “thằng nhỏ ngồi xếp bằng tròn giũa mâm mạ
vàng, người vàng hươm, mỡ chảy thơm phức, nụ cười ngơ ngác trên khuôn mặt hiền khô”[1, 129] Điều tra viên Đinh Câu rụng rời chân tay khi nhìn thấy thằng nhỏ, cố
nuốt dịch vị chỉ chực trào lên họng Anh có cảm giác “thằng nhỏ nhìn lại anh, mắt
mọng nước, lỗ mũi xì hơi nóng, miệng mấp máy như định nói chuyện”[1, 129] Đinh
Câu dù bị say rượu nhưng anh vẫn ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, anh định bắt tất cả lại nhưng người anh mềm nhũn vì rượu, anh không đủ khả năng
để làm gì Sau đó, anh được chăm sóc rất cẩn thận, khi tỉnh lại anh đã bị thuyết phục,
món ăn đó được làm từ thực vật, do nghệ thuật chế biến món ăn của học viện nấu nướng nên nhìn giống như đứa trẻ thật Đinh Câu cũng ăn ngon lành một cánh tay của thằng nhỏ Rồi anh lại say không biết gì, anh được đưa vào một căn phòng,
trong lúc ngủ anh nhìn thấy “Một thằng lỏi khoảng mười bốn tuổi cởi trần, chỉ mặc
chiếc quần xà lỏn bằng vải xanh, lách vào Nó nhanh nhẹn như mèo, không một tiếng động Tôi thích thú nhìn nó Trông mặt quen quen , hình như đã gặp ở đâu Nhất định là đã gặp nó ở đâu rồi Nó ngậm trong miệng con dao lá liễu, y hệt con mèo ngậm lá lành canh”[1, 150] Nó ngồi đó nghịch ngợm một chút rồi lấy một số
đồ của Đinh Câu, trước khi ra khỏi phòng nó khắc trên tường bốn chữ “+” Đinh
Câu tỉnh dậy thì thấy mất áo, cái máy lửa và ví tiền Trên tường có bốn chữ “+”, hỏi Koan Kim Cương thì hắn cũng không biết thủ phạm là ai, chỉ biết đây là một tên trộm quen thuộc, sau mỗi lần gây án đều để lại kí hiệu như vậy Đinh Câu bỏ đi,
đúng hơn là anh chạy trốn, khi ra đến ngoài, chưa biết phải đi đâu và làm gì thì Nữ
Xế xuât hiện và cho anh đi nhờ xe Trên đường đi họ gặp nhiều chuyện Chuyện con
la bị thương một chân, người ta cắt luôn ba chân kia để lấy móng và vó la Xe đi tiếp, hết nước, Đinh Câu đi xin nước và gặp một ông già đi bắt dế về để ăn, đến
Trang 31“Trung tâm nghiên cứu gây trồng lương thực đặc chủng”[1, 212] thì thấy người ta
đánh bài Trong lúc đổ nước vào xe, không kiềm chế được nên anh đã hôn nữ xế và
bị cô cắn rách lưỡi Hai người về nhà Nữ Xế, cô chủ động đòi làm tình Khi hai người đang quấn lấy nhau thì Khoan Kim Cương xuất hiện cùng chiếc máy ảnh Tất
cả đã được ghi lại Khoan Kim Cương gán cho Đinh Câu tội “xông vào nhà tôi, hiếp
dâm vợ tôi, chứng cứ sờ sờ ra đấy”[1.289] và đông thời cũng là đồng lõa ăn thịt trẻ
Đinh Câu bỏ đi, Nữ Xế đòi theo, cô hứa giúp anh điều tra Hai người dìu nhau tới
phố Lừa, để gặp Dư Một Thước vì hắn biết mọi chuyện ở thành phố Rượu Đường đi rất khó, khi đến được quán Một Thước biết được Nữ Xế là người tình số chín của
Dư Một Thước, anh bỏ chạy, chạy vì đau khổ và cảm thấy ghê tởm Lúc này anh nhận ra là mình đã yêu Nữ Xế Anh chạy, chạy hoài cho tới khi gặp Tư Lưu – một ông lão bán vụng vằn thắn Anh ăn ngấu nghiến bốn bát vào bụng và không có tiền trả Sau đó, cụ Khưu một lão thành cách mạng và là người quản lí nghĩa trang thành phố xuất hiện cùng với con chó săn Cụ coi thường một người như anh rồi bỏ đi Lúc này, Đinh Câu lại có một khao khát được giãi bày tâm sự với cụ, anh tìm đến nghĩa trang và xin được gặp cụ Hai người đại diện cho hai thế hệ, ngồi lại với nhau Ai cũng có những nỗi niềm cần tâm sự, những bức xúc trong lòng được bộc lộ Họ uống rượu Mao Đài và Đinh Câu lại say Kết thúc tác phẩm là cơn mộng mị dài triền miên của Đinh Câu… Anh chìm trong những thứ rác rưởi, nhơ bẩn của thành phố
Dù có cố gắng thế nào anh cũng không thoát ra được, tất cả đã nhấn chìm một trinh sát viên hạng nhất của Viện kiểm sát
Song song với chuyện về Đinh Câu là cuộc đối thoại qua thư giữa nhà văn nổi tiếng Trung Quốc là Mạc Ngôn và tiến sĩ rượu Lý Một Gáo Tuy là tiến sĩ về rượu nhưng Lý Một Gáo lại không yêu nghề, anh có đam mê viết văn, anh lao vào sáng tác Mỗi một bức thư anh đều theo một truyện ngắn, tất cả có chín truyện đều là những chuyện xảy ra xung quanh hoặc Lý Một Gáo được trực tiếp nghe kể lại
Truyện đầu tiên “Rượu cồn” kể về bài thỉnh giảng của phó bộ trưởng – Giáo
sư Koan Kim Cương, ông được miêu tả “Tinh thần, tư thế của ông Phó bộ trưởng
Khoan Kim Cương cũng chẳng khác gì những con lừa choai Ông ta gật đầu vẩy
đuôi, tỏ ra vô cùng khả ái”[1 51] Chín trăm người của trường Đại học Rượu, gồm
sinh viên gái và trai cùng các giáo sư, phó giáo sư, lãnh đạo nhà trường…và cả giáo
Trang 32sư Viên Song Ngư bố vợ Lý Môt Gáo cũng rất chăm chú lắng nghe như nuốt từng lời Lúc nhỏ Khoan Kim Cương rất mê uống rượu nhưng không có rượu để uống, muốn bệnh vì thèm rượu Ông bắt đầu sự nghiệp uống rượu của mình từ cồn, lấy cồn sát trùng của thú y pha với ít nước lã nên bây giờ uống bao nhiêu rượu cũng không say
Truyện thứ hai “Trẻ thịt”- là trẻ được nuôi để lấy thịt Kể về gia đình anh nông dân Kim Nguyên Bảo, mang đứa con trai vẫn còn đang bú và rất kháu khỉnh dễ thương đi bán cho học viện nấu nướng Trên đường đi, nguyên bảo cũng gặp những người mang con đi bán giống mình Khi đợi thuyền ở bến sông có hai người già, một
thiếu niên hơn mười tuổi, một bà nạ dòng bế con nhỏ, đặc biệt là cậu thiếu niên “ở
trần, quần cộc màu xanh, chân đi đất, trên mặt và trên những chỗ lộ ra trên người, phủ một lớp da màu trắng, nứt nẻ hình vảy cá”[1, 116] Một lát sau, có một người
đàn ông râu quai nón, bế một đứa nhỏ cao chừng sáu mươi phân, nhập vào đoàn
người đợi thuyền Đứa nhỏ trong tay hắn ta nhìn rất lạ “ là một bé trai, mạc bộ quần
áo mới tinh màu đỏ…Nó rụt đầu trong cổ áo, tóc mảnh, rậm mà khô, da dẻ cũng có thể gọi là trắng, nhưng cặp mắt bé tí khiến nó trở nên rất già Nó còn có đôi tai lá
hò, vừa to vừa dày.”[1, 119] Nguyên Bảo rất sợ ánh mắt tối rầm của thằng nhỏ
“thằng nhỏ không phải một đứa trẻ, mà là môt tiểu yêu đội lốt người”[1, 120] Đến
trạm thu mua, tiểu yêu đạt loại hai, cu Báu đạt loại đặc biệt Nguyên Bảo vui mừng, xúc động không tin là mình lại may mắn thế, khi ở nhà chỉ hy vọng cu Báu đạt loại một, mà giờ loại đặc biệt
Truyện thứ ba “Thần đồng” Kể về thằng tiểu yêu khi nó đã vào trong học
viện nấu nước Tất cả những đứa trẻ được thu mua, họ gom lại ở một phòng Thằng tiểu yêu lãnh đạo tụi trẻ đứng lên đấu tranh, chống lại bọn ăn thịt người Việc đầu tiên nó làm là thành lập quy tắc giống như trong quân đội, tiểu yêu như một tướng quân, nó lãnh đạo tụi trẻ đập phá học viện, có đứa không nghe nó cắn đứt tai Hành
động dã man hơn là nó cùng bọn trẻ giết lão diều hâu, bằng cách móc mắt và nhét đất vào Cách đây mười bốn năm, tiêu yêu là một đứa trẻ, đã nghe chuyện ăn thịt trẻ
con của các quan chức ở thành phố Rượu “Sau đó, mẹ ta liên tiếp đẻ rất nhiều em
trai, nhưng đứa nào cũng khoảng lên hai là mất tích Ta nghĩ, các em ta đã bị ăn thịt”[1, 173] Tiểu yêu không bị ăn thịt vì nó mắc một bệnh kì quặc “khắp người
Trang 33như vẩy cá, đụng phải là chảy nước vàng, ai trông thấy cũng tởm không dám ăn thịt…Về sau, ta uống trộm chai rượu bên ngoài có vẽ con vượn của một nhà quan, vảy nến trên người rụng từng đợt, và thân thể ta cũng theo đó mà teo dần lại như bây giời”[1, 173] Sau khi lãnh đạo tụi trẻ làm loạn, tiểu yêu bỏ trốn, không biết đã
đi đâu
Truyện thứ tư “Phố Lừa” Phố Lừa là trung tâm của thành phố Rượu Đến
thành phố Rượu, mà không ghé qua phố Lừa cũng coi như chưa tới Phố lừa dài hai dặm, ở hai bên đường có các quán ăn, lấy thịt lừa làm nguyên liệu chính chế biến, mỗi quán có một đặc trưng riêng Đường phố thì rất trơn, đêm có nhiều con quạ kêu quà quà Ở phố Lừa, có một truyền thuyết: Vào mỗi đêm thanh vắng, có một con lừa
tơ màu đen cực kì linh lợi, cực kì đẹp mã, chạy như bay trên đường, từ đầu đông
chạy sang đầu tây, trên lưng chở “một cậu bé vừa lùn vừa nhỏ, là một thiếu niên,
mình có vẩy như vẩy cá phản quang lấp lánh, miệng ngậm con dao lá liễu, bọc quần
áo trên lưng…”[1, 273] Tiến sĩ rượu Lý Một Gáo đưa các bạn văn sĩ tới quán Một
Thước ăn uống, được Dư Một Thước chiêu đãi cả con, có món ăn đặc biệt nhất hôm
đó là “long phụng trình tường” được chế biến từ bộ phận sinh dục của con lừa Khi
ăn ai cũng tấm tắc khen ngon Ra về ai cũng vui vẻ
Truyện thứ năm “Một thước anh hào” Có những truyền thuyết về Dư Một Thước Hắn có một lời tuyên bố “Tớ phải đụ khắp lượt người đẹp ở thành phố
Rượu!” [1, 251], hắn là chủ quán Một Thước và rất giàu có Hắn tin rằng tiền của
hắn có thể làm mọi việc, sự tồn tại của hắn gắn với những chuyện lại của thành phố Rượu, không chuyện gì là hắn không biết Nhìn hắn không ai có thể đoán hắn bao
nhiêu tuổi “trong bộ nhớ của những người ở phố Lừa, mấy chục năm nay hắn vẫn
dung mạo như thế, thái độ như thế”[1, 238] hắn đã tám mươi lăm tuổi và còn có
khả năng bay lên khỏi mặt đất
Truyện thứ sáu “Giờ dạy chế biến món ăn” Mẹ vợ của Lý Một Gáo là một
chuyên gia trong nghệ thuật chế biến món ăn, người phụ trách của học viện nấu
nướng Bà là “người đàn bà không rõ già hay trẻ”[1, 349], bà có “thân thể đẫy đà,
da trắng mịn, tóc đen như sức dầu, suốt ngày miệng có mùi thịt nướng”[1, 350] đối
lập hoàn toàn vứi con gái “vừa đen vừa gầy, tóc vàng hoe, mặt đầy tàn hương, hơi
thở tanh mùi cá”[1, 350] Chính sự đối lập đó đã làm cho Lý Một Gáo có tư tưởng
Trang 34ngoại tình, hôn vợ mà lúc nào cũng nghĩ tới mẹ vợ, nhìn mẹ vợ mà trong đầu “anh
muốn ấy em”[1, 365] Tội nghiệp cho vợ của anh lúc nào cũng ghen với chính mẹ
mình, cô đâm ra căm ghét bà, hận bà đến tận xương tủy Hai vợ chồng Lý Một Gáo cãi nhau, đến học viện tìm mẹ, trên đường đi, cô vợ vui mừng vì được thăng chức
chủ nhiệm mục sinh hoạt văn hóa “Nhật báo thành phố Rượu”, cô bỏ đi để Lý Một Gáo đến học viện một mình Anh thấy bà đang đứng trên mục giảng bài “Thú mỏ vẹt
tần”, các máy quay phóng viên đang quay phim giờ dạy của bà Càng nhìn bà anh
càng có tư tưởng tội lỗi
Truyện thứ bẩy “Lấy tổ yến” Tổ yến là một loại thức ăn rất quý và bổ Ai ăn tổ
yến cũng rất tốt, giúp trẻ khỏe đẹp Mẹ vợ Lý Một Gáo trẻ đẹp như vậy là do từ nhỏ
bà đã được ăn nhiều tổ yến Gia đình mẹ vợ Lý Một Gáo chuyên làm ghề lấy tổ yến,
đó là một công việc rất nguy hiểm Chim yến thường làm tổ ở những vách đá cao,
trong hang tối Trong nghề lấy tổ yến có những quy tắc riêng, như trước khi vào
hang đá bắt tổ yến phải tế thần bằng một con trâu mộng “khi đã ở trong hang, tuyệt
đối không được nói những từ “ngã”, “trượt”, “chết”, “sợ”, nếu vi phạm, khó có thể
lành”[1, 431] Mẹ vợ Lý Một Gáo đã phạm sai lầm nói từ “sợ”, hậu quả là chú bẩy
bị chết thảm trong khi với lấy tổ yến Chính vì tổ yến rất quý và bổ, lại được khai thác từ rất lâu, nên hiện nay để có tổ yến thật rất hiếm Loài chim yến cũng đang bị
đe dọa, con người cần phải biết khai thác với gìn giữ, phát triển sao cho hợp lí, để
cho con cháu đời sau cũng được biết đến tổ yến
Truyện thứ tám “Rượu Bú Dù” Là một loại rượu ngon, được làm từ các loại
quả trên rừng Theo tích chuyện của người xưa, giáo sư Viên Song Ngư đã học tập,
bỏ nhà lên rừng ở một thời gian với vượn, và nghiên cứu ra loại rượu này Ông là một người có niềm đam mê với nghề, ông rất yêu rượu, yêu hơn chính bản thân mình, yêu hơn vợ Hậu quả của ông là bà vợ cũng phải lòng anh con dể cao to đẹp trai, đa tình, gây nên sự loạn luân trong gia đình
Truyện cuối cùng “Tửu thành” Là thành phố của rượu “Tửu quốc chỗ nào
cung thơm mùi rượu, nhà nhà có rượu ngon; Vài nghìn quán rượu ngày đêm đèn
đuốc sáng trưng, rượu chảy như suối Rượu ngon, thức nhắm tốt hấp dẫn khách du
lịch trong và ngoài nước, các thực khách, các bợm rượu thǎm viếng, uống rượu, thưởng thức các món ǎn Đương nhiên quan trọng hơn cả là thu hút các lái rượu để
Trang 35cho rượu ngon của thành phố Rượu cùng với tiếng thơm của nó chảy tràn thế giới, rượu ngon chảy đi, tiền đô chảy về Những nǎm gần đây, hàng nǎm thành phố Rượu nộp ngân sách nhà nước triệu nhân dân tệ Đồng thời mức sống của nhân dân thành phố đã được nâng cao rất nhiều, từ lâu đã “đủ ǎn”, đang vươn lên mức
“khá”, hướng theo mức “giàu” Cái gọi là “giàu”, tức Nói đến đây chắc các vị đã
rõ ý nghĩa quan trọng của công trình điêu khắc chiếc cóng rượu và đàn tế tửu đặt tại sân Uỷ ban Thị đến mức độ nào!”[1, 505]
Tửu thành sắp tổ chức lễ hội “Rượu bú dù” lớn nhất từ trước tới nay, đâu đâu
cũng vui mừng háo hức, chờ đón ngày lễ bắt đầu
Qua những lá thư, những truyện ngắn của Lý Một Gáo và những lời mời chân thành Mạc Ngôn đã tới thăm thành Phố rượu, gặp gỡ với Khoan Kim Cương,
Dư Một Thước và cả anh chàng Lý Một Gáo
2.2 Nhận xét chung về tiểu thuyết “Tửu Quốc”
* Giá trị nội dung
“Tửu Quốc” một thành tựu mới của Mạc Ngôn Ông lấy đề tài khá mới, vấn
đề rất nóng của xã hội, đó là tình trạng ăn nhậu của các quan chức cao cấp, họ không
chăm lo đến đời sống của nhân dân mà chỉ chìm đắm trong rượu, trong những thứ xa hoa, tốn kém khi mà các ông này đang xài “tiền chùa” Mạc Ngôn đã từng tâm sự
“những bàn rượu của người Trung Quốc chính là căn nguyên của mọi tội ác, chuyện
uống rượu trở thành một kiểu trụy lạc công nhiên của tuyệt đại đa số người Trung Quốc, đặc biệt là những tiệc rượu của tầng lớp quan chức, hao phí không biết bao nhiêu là mồ hôi nước mắt của nhân dân, xét về độ xa xỉ cũng chẳng khác nào quan lại thời kì phong kiến mạt trì trước, lãng phí vô cùng Trong bàn tiệc thì bao nhiêu lời lẽ cục súc, bao nhiêu hành vi đồi bại bên cạnh những lời mât ngọt, bên trong những cốc rượu đang giơ cao kia hình như chỉ chứa toàn máu đỏ lòm”[3, 258]
Mạc Ngôn từ nhỏ đã sống trong cảnh cơ hàn, nên ông thấu hiểu nỗi khổ cực của người dân nghèo khổ lam lũ, ông căm ghét vô cùng bệnh quan liêu cửa quyền,
sự xa hoa của giới lãnh đạo không chăm lo cho cuộc sống của nhân dân
Viết “Tửu quốc” Mạc Ngôn muốn đưa ra là lời cảnh báo, là bài học cho những
con người trong xã hội hiện đại, nên tỉnh táo và làm việc có ý thức trách nhiệm với
Trang 36cộng đồng, với xã hội Con người thời nay bị ảnh hưởng bởi xã hội “thương nghiệp
hóa”, đặt giá trị đồng tiền lên quá cao, làm mất đi những đạo đức truyền thống tốt
đẹp vốn có của con người, khi xây dựng nhân vật Đinh Câu, một trinh sát viên hạng
nhất của viện kiểm sát, Mạc Ngôn muốn con người hãy tỉnh táo, hãy hành động cho
đúng đạo đức và nghề nghiệp, dường như Đinh Câu lúc nào cũng chìm trong rượu
và mỹ nhân, để rồi chết trong cơn mộng mị
Bên cạnh hình ảnh của Đinh Câu Mạc Ngôn đã xây dựng một nhân vật song song với anh là Nữ Xế, một người phụ nữ gặp nhiều bất hạnh và đau khổ trong cuộc sống nhưng lại có nghị lực phi thường, sức chịu đựng lớn, những việc mạnh mẽ thường của đàn ông làm thì cô cũng có thể làm, không những thế mà còn làm tốt hơn nữa Từ đó, ta thấy lòng yêu mến của Mạc Ngôn dành cho những người phụ nữ, ông ca ngợi những người phụ nữ hiện đại, vừa đẹp lại có nghị lực, kiên cường dám
đứng lên vạch trần những xấu xa của xã hội, trong các tác phẩm của ông những
người phụ nữ chính đều có cá tính và rất đặc biệt, họ như là những anh hùng trong
nữ giới
Điều đặc biệt nữa ở “Tửu Quốc” là ông đã cho người ta có cảm giác khi đọc,
cảm giác được Mạc Ngôn khai thác và thể hiện ở từng góc cạnh Các nhân vật hành
động theo bản năng hơn là tự ý thức Nếu Đinh Câu hành động có ý thức trách
nhiệm hơn thì anh đã không có kết cục bi thảm vậy, như ta đã thấy một Đinh Câu giống hiện thực hơn, giống như những con người ngoài đời thực hơn, thấy sự hợp lí
ở trong tiểu thuyết Ta có cảm giác như mình đã gặp các nhân vật trong truyện này
ở đâu đó, nó rất gần, rất thật vì các hình mẫu, các hành động của họ rất gần rất thực
trong cuộc sống của chúng ta Cái cảm giác mà Mạc Ngôn muốn truyền cho người
đọc, đó là cảm giác của nhân vật, ta thấy mình giống như nhân vật trong truyện đang
phưu lưu, đang suy nghĩ, đang trải qua những sự kiện
Trong “Tửu quốc” Mạc Ngôn đã đưa ra rất nhiều những vấn đề trong cuộc
sống Chín câu chuyện của Lý Một Gáo như những bài học, những lời cảnh báo đối với con người chúng ta
Thứ nhất ảnh hưởng của rượu đối với xã hội Như ta biết uống rượu là một truyền thống đẹp, từ xưa đến nay người ta sử dụng rượu trong rất nhiều trường hợp: dùng để cúng ông bà tổ tiên, dùng rượu để xây dựng tình cảm quan hệ tốt đẹp, rượu