Đề tài đã nghiên cứu một số vấn đề cho quá lên men bồn bồn muối chua gồm i Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường bổ sung khi lên men bằng nước vo gạo đến khả năng lên men của bồn bồn muối
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN SẢN PHẨM
DƯA BỒN BỒN MUỐI CHUA
Trang 2KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN SẢN PHẨM
DƯA BỒN BỒN MUỐI CHUA
Lớp: CNTP K33
Trang 3Luận văn đính kèm theo đây, với đề tài “Xây dựng quy trình chế biến sản phẩm
dưa bồn bồn muối chua” do Trần Thị The thực hiện và báo cáo đã được hội đồng
chấm luận văn thông qua
Giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Chủ tịch hội đồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả
Trần Thị The
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Xây dựng quy trình chế biến sản phẩm dưa bồn bồn muối chua” được
thực hiện trong thời gian 3 tháng
Luận văn này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ về trang thiết bị, hóa chất, dụng cụ phân tích của phòng thí nghiệm Bộ Môn Công Nghệ Thực Phẩm, Khoa Nông Nghiệp
và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ Trong quá trình nghiên cứu cũng
có những khó khăn nhưng đến nay thì tôi cũng đã hoàn thành công trình nghiên cứu của mình Để có được thành quả như ngày hôm nay chính nhờ sự giúp đỡ của cha mẹ, thầy cô, bạn bè và sự nỗ lực của bản thân
Con kính gởi đến ba mẹ và những người thân yêu nhất của con lòng biết ơn sâu sắc về những gì mà mọi người đã giành cho con, để con có đầy đủ điều kiện học tập và nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn cô Phan Thị Anh Đào đã tận tình hướng dẫn, luôn quan tâm, động viên, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ cho em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô của bộ môn Công Nghệ Thực Phẩm, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu của em trong suốt thời gian qua
Em xin gửi lời cảm ơn đến giáo viên phản biện đã đọc và đóng góp ý kiến quý báu cho luận văn được hoàn chỉnh
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị học viên, và sinh viên của bộ môn Công Nghệ Thực Phẩm, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ đã giúp đỡ và động viên tinh thần rất nhiều trong quá trình tôi nghiên cứu đề tài của mình
Cần Thơ, ngày tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trần Thị The
Trang 6TÓM LƯỢC
Bồn bồn muối chua là sản phẩm được chế biến dựa trên kỹ thuật muối chua truyền thống theo quy mô thủ công hộ gia đình do đó biện pháp lên men chưa được nghiên cứu nhiều Vì vậy, nghiên cứu xây dựng quy trình chế biến sản phẩm dưa bồn bồn muối chua được tiến hành Đề tài đã nghiên cứu một số vấn đề cho quá lên men bồn bồn muối chua gồm (i) Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường bổ sung khi lên men bằng nước vo gạo đến khả năng lên men của bồn bồn muối chua, (ii) Ảnh hưởng của loại và hàm lượng bột bổ sung đến khả năng lên men cũng như chất lượng sản phẩm Kết quả nghiên cứu cho thấy khi lên men bằng nước vo gạo có bổ sung 2,5% muối và 3% đường cho quá trình lên men đạt hiệu quả, hàm lượng acid đạt được khoảng 0,76% với pH là 3,05, sản phẩm có giá trị cảm quan cao Ngoài ra, khi thay thế nước
vo gạo bằng bột bắp và bột gạo bổ sung cũng cho thấy quá trình lên men đạt hiệu quả nhưng bột bắp cho kết quả lên men tốt hơn bột gạo Song các mẫu lên men bằng bột gạo cho kết quả cảm quan cao hơn lên men bằng bột bắp
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM LƯỢC iv
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH SÁCH BẢNG x
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 1
Phần 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Sơ lược về nguyên liệu 2
2.2 Nguồn bột sử dụng trong quá trình lên men 3
2.2.1 Gạo 3
2.2.2 Bột bắp (ngô) 3
2.3 Tinh bột 4
2.4 Cơ sở lý thuyết của quá trình lên men 6
2.4.1 Vi sinh vật trong quá trình lên men 6
2.4.2 Các giai đoạn trong quá trình lên men 10
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men 10
2.6 Các hiện tượng hư hỏng trong quá trình muối chua 12
2.7 Các phương pháp bảo quản 13
Phần 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Phương tiện nghiên cứu 14
3.1.1 Thời gian và địa điểm 14
3.1.2 Nguyên liệu 14
3.1.3 Hóa chất 14
3.1.4 Thiết bị và dụng cụ 14
3.2 Phương pháp nghiên cứu 14
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 14
Trang 83.2.1.2 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu tìm ra nồng độ muối đường thích hợp cho
quá trình muối chua bồn bồn 15
3.2.1.3 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của loại và nồng độ bột bổ sung đến quá trình lên men bồn bồn 17
3.3 Phương pháp đo lường các thông số 18
3.3.1 Chỉ tiêu cảm quan 18
3.3.2 Chỉ tiêu hóa lý 19
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học của nguyên liệu 20
4.2 Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến chất lượng sản phẩm 20
4.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ muối, đường bổ sung đến pH dịch lên men sản phẩm 21
4.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ muối, đường đến oBrix của bồn bồn muối chua 22
4.2.3 Ảnh hưởng của nồng độ muối, đường đến hàm lượng acid sản phẩm 24
4.2.4 Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến cấu trúc sản phẩm 25
4.2.5 Ảnh hưởng của nồng độ muối, đường đến cảm quan sản phẩm 27
4.3 Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến quá trình lên men bồn bồn muối chua 29
4.3.1 Ảnh hưởng loại và tỉ lệ bột bổ sung đến pH của quá trình lên men bồn bồn muối chua 30
4.3.2 Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến hàm lượng acid sản phẩm bồn bồn muối chua 31
4.3.3 Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến hàm lượng đường sản phẩm bồn bồn muối chua (%) 32
4.3.4 Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến cấu trúc sản phẩm bồn bồn muối chua, độ giòn (g lực) 33
4.3.5 Ảnh hưởng của loại và nồng độ bột sử dụng đến cảm quan sản phẩm bồn bồn muối chua 35
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 39
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHỤ LỤC A CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH xii PHỤ LỤC B PHÂN TÍCH THỐNG KÊ xvii
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Bồn bồn Trang 2 Hình 2.2: Amylose Trang 5 Hình 2.3: Amylopectin Trang 5
Hình 2.4: Lactobacillus phantarum Trang 6
Hình 2.5: Lên men đồng hình Trang 7 Hình 2.6: Lên men dị hình Trang 8
Hình 2.7: Leuconestoc mensenteroides Trang 8
Hình 3.8: Quy trình khảo sát bồn bồn muối chua Trang 15 Hình 3.9: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 Trang 16 Hình 3.10: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 Trang 18 Hình 4.11: Đồ thị thể hiện pH trong suốt quá trình lên men bồn bồn Trang 22 Hình 4.12: Đồ thị thể hiện sự thay đổi độ Brix trong suốt quá trình lên men Trang 23 Hình 4.13: Đồ thị thể hiện hàm lượng acid sản phẩm (%) của bồn bồn muối chua
Trang 25 Hình 4.14: Đồ thị thể hiện cấu trúc sản phẩm bồn bồn muối chua Trang 26 Hình 4.15: Đồ thị thể hiện giá trị cảm quan của bồn bồn muối chua Trang 27 Hình 4.16: Đồ thị thể hiện giá trị cảm quan của hai ngiệm thức lên men bồn bồn
muối chua Trang 29 Hình 4.17: Đồ thị thể hiện ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến pH sản phẩm
Trang 30 Hình 4.18: Đồ thị thể hiện ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến hàm lượng
acid sản phẩm Trang 31 Hình 4.19: Đồ thị thể hiện ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến hàm lượng
đường sản phẩm Trang 33 Hình 4.20: Đồ thị thể hiện ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến cấu trúc sản
phẩm Trang 34 Hình 4.21: Đồ thị thể hiện ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến cảm quan sản
phẩm Trang 35 Hình 4.22: Sản phẩm bồn bồn muối chua bằng nước vo gạo Trang 37
Trang 11Hình 4.24: Sản phẩm bồn bồn muối chua có bổ sung bột gạo Trang 37 Hình 4.25: Sản phẩm bồn bồn muối chua Trang 37 Hình 5.26: Quy trình sản xuất bồn bồn muối chua đề nghị Trang 38
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của bồn bồn trong 100 gram 2
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng cơ bản của hạt gạo nguyên 3
Bảng 2.3: Thành phần dinh dưỡng của bột bắp và bột gạo trong 100 gram 4
Bảng 2.4: pH hoạt động của vi sinh vật 11
Bảng 2.5: Vitamin và các chất sinh trưởng cần thiết cho sinh trưởng của các vi khuẩn lactic 12
Bảng 3.6: Các phương pháp phân tích 19
Bảng 4.7: Thành phần của nguyên liệu 20
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của nồng độ muối và nồng độ đường đến pH của bồn bồn muối chua 21
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến oBrix của dung dịch lên men bồn bồn muối chua 23
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến hàm lượng acid sản phẩm (%) của bồn bồn muối chua 24
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến cấu trúc sản phẩm bồn bồn muối chua, độ giòn (g lực) 26
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến cảm quan sản phẩm bồn bồn muối chua 27
Bảng 4.13: So sánh hai nghiệm thức sử dụng nước vo gạo (2,5% muối và 3% đường) với nghiệm thức không sử dụng nước vo gạo (2% muối và 3% đường) 28
Bảng 4.14: Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến pH của quá trình bồn bồn muối chua 30
Bảng 4.15: Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến hàm lượng acid sản phẩm (%, tính theo acid lactic) 31
Bảng 4.16: Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến hàm lượng đường của sản phẩm (%) 32
Bảng 4.17: Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến độ giòn sản phẩm (g lực) 34
Bảng 4.18: Ảnh hưởng của loại và tỉ lệ bột bổ sung đến cảm quan sản phẩm 35
Bảng 1: Bảng tra lượng đường nghịch chuyển xv
Bảng 2: Bảng đánh giá cảm quan xvi
Trang 13Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Rau xanh là thức ăn hết sức quan trọng cho sức khỏe của con người Nó cung cấp vitamin và các chất khoáng cần thiết cho các hoạt động chuyển hoá các chất dinh dưỡng trong cơ thể Đặc biệt là các loại vitamin và khoáng chất có tác dụng phòng chống lão hóa, duy trì hoạt động của các cơ quan và bảo vệ sức khỏe Rau cung cấp chủ yếu chất xơ, giúp hệ tiêu hoá hoạt động tốt (chất xơ có tác dụng giải độc, ngừa bệnh tiểu đường, ung thư và làm giảm tác hại của các chất béo có hại cho tim mạch, gan, thận,…) Vì vậy, rau không thể thiếu trong khẩu phần ăn của con người khi mà nhu cầu về nguồn thực phẩm giàu chất đạm, chất đường bột … ngày càng cao, nhằm giúp cơ thể cân bằng dinh dưỡng (tiêu hóa, hấp thu, biến dưỡng) và kéo dài tuổi thọ Việt Nam, có khí hậu nhiệt đới, có nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau nên chủng loại rau đa dạng, sản lượng lớn, giá thành rẻ Tuy nhiên, sau thu hoạch rau dễ bị hư hỏng trong điều kiện bảo quản bình thường Vì vậy, việc chế biến rau thành những món ăn dinh dưỡng và kéo dài thời gian bảo quản luôn là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu Cũng giống như nhiều loại rau cải khác: bắp cải, dưa leo… Bồn bồn muối chua là một sản phẩm đặc trưng của vùng Bạc Liêu – Cà Mau, miền Tây Nam Bộ Những năm gần đây, dưa bồn bồn được nhiều người ưa chuộng và trở thành món khoái khẩu
ở nhiều vùng, nhiều địa phương như Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng,…Tuy nhiên, với kỹ thuật truyền thống thủ công tại các đơn vị nhỏ lẻ quy mô gia đình thì khó ổn định được chất lượng sản phẩm Vì vậy, để tạo ra sản phẩm có chất lượng đồng đều sau quá trình lên men và bước đầu định hướng cho việc bảo quản sản phẩm
là vấn đề cần được quan tâm – Đây cũng chính là cơ sở cho đề tài này
1.2 Mục tiêu đề tài
Xác định các nhân tố ảnh hưởng và tìm ra phương pháp sản xuất bồn bồn muối chua nhằm tạo ra sự đồng nhất về chất lượng sản phẩm, từng bước công nghiệp hóa quy trình sản xuất Ngoài ra còn nâng cao được giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cho cây bồn bồn và tạo nên sự đa dạng cho sản phẩm muối chua Đề tài nhằm đưa ra một quy trình sản xuất hoàn chỉnh, tạo ra sản phẩm được nhiều người ưa chuộng và hướng phát triển mới cho cây bồn bồn của người nông dân.
Trang 14Phần 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về nguyên liệu
năm Thuộc dạng cây hoa đơn tính
Hoa có màu vàng nâu, nhiều lông
Thành phần dinh dưỡng cơ bản của bồn bồn được thể hiện ở bảng 2.1 sau:
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của bồn bồn trong 100 gram
Thành phần Đơn vị tính Hàm lượng Thành phần Đơn vị tính Hàm lượng
Trang 152.2 Nguồn bột sử dụng trong quá trình lên men
2.2.1 Gạo
Hạt gạo được hình thành bởi phôi (hạt mầm) và phôi nhũ (phần lớn nhất được dùng làm sản phẩm lương thực) Thông thường người ta nói đến hạt gạo với biểu tượng chung nhất là phôi nhũ Bao quanh phôi nhũ gồm ba lớp: lớp vỏ bì, lớp vỏ lụa và lớp cutin của nhân hạt gạo (Lê Văn Thịnh, 2000 ) Thông thường hạt gạo chứa 18,5% amylose và 81,5% amylose pectin (Bùi Đức Lợi và cộng sự, 2007)
Thành phần dinh dưỡng của gạo được trình bày ở bảng 2.2 sau đây:
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng cơ bản của hạt gạo nguyên
Trang 16Dựa vào sự khác nhau về hình dáng hạt, mức độ trắng trong của nội nhũ và ý nghĩa sử dụng mà phân bắp thành các loại khác nhau Tùy theo từng loại mà có hàm lượng tinh bột khác nhau Ví dụ như ngô đá có hàm lượng tinh bột từ 56 – 75%, ngô răng ngựa chứa 60 – 63% hàm lượng tinh bột, ngô bột chứa 55 – 58% hàm lượng tinh bột Tinh bột các giống ngô thông thường có khoảng 24% amylose và 76% amylosepectin
(Bùi Đức Lợi và cộng sự, 2007)
Thành phần dinh dưỡng của bột bắp và bột gạo được trình bày dưới bảng sau:
Bảng 2.3: Thành phần dinh dưỡng của bột bắp và bột gạo trong 100 gram
Trang 17Amylose là loại mạch thẳng, chuỗi dài từ 500 – 2000 đơn vị glucose, liên kết với nhau bởi liên kết a - 1,4 glycozide Trọng lượng phân tử khoảng 50.000 – 160.000
(Nguyễn Nhật Minh Phương, 2009)
Amylose pectin là polyme mạch nhánh, ngoài mạch chính có liên kết a -1,4 glucozide còn có nhánh liên kết với mạch chính bằng liên kết a - 1,6 glucozide Mối liên kết này làm cho phân tử cồng kềnh hơn, chiều dài của chuỗi mạch nhánh này khoảng 25 – 30 đơn vị glucose Phân tử amylose pectin có thể chứa tới 100.000 đơn vị glucose (Nguyễn Nhật Minh Phương, 2009)
Các tính chất chức năng của tinh bột:
- Khả năng hấp thụ nước và sự hồ hóa của tinh bột:
+ Quá trình trương nở: Khi hòa tan tinh bột vào nước, đầu tiên các phân tử nước
sẽ thâm nhập vào giữa các phân tử tinh bột có kích thước lớn và tương tác với các nhóm hoạt động của tinh bột, tạo ra lớp vỏ nước và làm cho mắt xích nào đó của phân
Trang 18trình này xảy ra không hạn chế sẽ làm bung các phân tử tinh bột và chuyển thành dạng dung dịch (Hoàng Kim Anh, 2007)
+ Quá trình hấp thụ nước: Ở trạng thái bình thường, các phân tử tinh bột liên kết với nhau bằng liên kết hydro rất bền Khi hấp thụ nước sẽ xảy ra sự hydrat hóa các nhóm hydroxy và tạo thành liên kết hydro với nước Khi nhiệt độ tăng sẽ làm tăng khả năng hấp thụ nước, làm đứt các liên kết hydro và phá vỡ hạt tinh bột (Hoàng Kim Anh, 2007)
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ hồ hóa tinh bột: Nhiệt độ hồ hóa phụ thuộc vào thành phần amylose và amylose pectin, các ion kim loại liên kết với tinh bột, các muối vô cơ ở nồng độ thấp, các chất không điện ly như đường (Hoàng Kim Anh, 2007)
- Tính chất nhớt dẻo của hồ tinh bột: Độ nhớt của tinh bột tăng trong môi trường kiềm vì làm tăng khả năng ion hóa các phân tử tinh bột nên làm tăng khả năng hydrat hóa, ngoài ra độ nhớt còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như pH, chất phụ gia
(Hoàng Kim Anh, 2007)
- Khả năng tạo gel và thoái hóa của tinh bột: Dung dịch có khả năng tạo gel khi có nồng độ vừa phải, để nguội ở trạng thái yên tĩnh Tinh bột có hàm lượng amylose pectin cao thì khó tạo gel vì cấu trúc phân nhánh sẽ cản trở sự kết tinh (Hoàng Kim Anh, 2007)
- Khả năng tạo màng của tinh bột: Để tạo màng các phân tử tinh bột sẽ giàn phẳng
ra, sắp xếp lại và tương tác trực tiếp với nhau nhờ các liên kết hydro và/hoặc gián tiếp thông qua các phân tử nước (Hoàng Kim Anh, 2007)
- Khả năng tạo sợi
- Khả năng phồng nở của tinh bột
2.4 Cơ sở lý thuyết của quá trình lên men
Quá trình lên men bồn bồn là quá trình lên men lactic Trong quá trình lên men lactic xảy ra hàng loạt các quá trình như quá trình trích ly hay thẩm thấu của các chất từ mô
tế bào thực vật, quá trình tăng sinh khối của vi sinh vật (vi khuẩn lactic), quá trình tạo acid lactic, quá trình ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây thối bởi acid lactic và muối, quá trình tạo hương của sản phẩm
2.4.1 Vi sinh vật trong quá trình lên men
Vi khuẩn: Chủ yếu là vi khuẩn Lactic thuộc họ
Bacterium, thường là trực khuẩn hay cầu
khuẩn, không tạo bào tử, thường không chuyển
động và lên men yếm khí tùy tiện Sự phát
triển của nó cần có những hợp chất chứa nitơ
Trang 19Chúng thường được chia 2 loại: Lên men đồng hình và lên men dị hình (Nguyễn Đức Lượng, 2004)
Lên men đồng hình là quá trình mà sản phẩm chủ yếu là acid lactic, một mol glucose
sẽ tạo ra hai mol acid lactic theo phương trình dưới đây:
C6H12O6 → 2 CH3CHOHCOOH
Do hệ enzyme trong những vi khuẩn khác nhau thường khác nhau nên cơ chế hóa học của quá trình lên men lactic ở các giống vi khuẩn thường không giống nhau Ở vi khuẩn điển hình, sự chuyển hóa đường thành acid lactic đi theo con đường lên men rượu và sao đó tạo thành acid pyruvic, acid này được khử bằng 2 nguyên tử hydro nhờ enzyme lacticodehydrogenase thành acid lactic (Nguyễn Đức Lượng, 2004)
Vi khuẩn lên men lactic đồng hình bao gồm các giống sau:
Streptococcus (Streptococcus lactic, Streptococcus thermophilus) là loài vi khuẩn
không nha bào, có dạng liên cầu khuẩn, có khả năng lên men nhiều loại đường như: glucose, lactose, mantose… Nhiệt độ thích hợp là 30oC
Lactobacillus (Lactobacillus plantarum, Lactobacillus acidophilum) là loài có khả
năng chịu acid cao nhất Fleming cùng cộng sự (1969) đã kết luận rằng Lactobacillus
plamtarum góp phần quan trọng trong việc tạo mùi vị sản phẩm lên men, sinh ra hàm
lượng acid để bảo quản và ngăn cản những vi sinh vật không mong muốn (có thể sinh
ra mùi vị xấu cho sản phẩm) phát triển Nhiệt độ thích hợp: loài ưa ấm (28 ÷ 35oC), loài ưa nóng (40 ÷ 60o
C)
Lactic dehydrogenase
Trang 20Lên men dị hình: Quá trình lên men dị hình bên cạnh sản phẩm chính acid lactic, còn
có các sản phẩm phụ như: rượu, CO2, H2, acetone, acid acetic, chất thơm (ester, diacetil)…Chúng ta có thể tóm tắt quá trình lên men dị hình như sau:
Các vi khuẩn lên men dị hình:
Leuconostoc (Leuconostoc mesenteroides) (hình
2.7) có vai trò quan trọng việc chế biến rau muối
chua Chúng sử dụng đường glucose và đường 6-
carbon chuyển hóa thành lactate, CO2, ethanol theo
con đường kết hợp phức tạp của quá đường phân
và pentose phophate Ngoài ra, nó còn chuyển hóa
citrate thành diacetyl và acetone, hay sucrose thành
dextran và levan (đường khử)
Lactobacillus pentoaceticus là loài trực khuẩn không sinh bào tử, nhiệt độ thích hợp là
30 ÷ 35oC
Hình 2.7 Leuconostoc mesenteroides
Acid lactic (40%)
Acid acetic (10%)
Ethanol (10%)
Acid formic
Acid pyruvic
Acid succinic
Hình 2.6 Quá trình lên men dị hình
http://www.bacteriologie.wikibis.com/voies_fermentaires_des_enterobacteries.php
Trang 21Bacterium – coli – acrogenes là giống điển hình của quá trình lên men dị hình Nó có
dạng hình que, không sinh bào tử Nhiệt độ thích hợp là 35 ÷ 38oC Sản phẩm của vi khuẩn này là acid lactic, rượu ethylic, acid acetic, acid succinic, CO2, H2O Ngoài ra
còn có các vi khuẩn sau: Lactobacillus brevis, Betabacterium brevis,…
Vi khuẩn Butyric: Lên men acid butyric, đây là quá trình sinh hóa rất phức tạp trong điều liện yếm khí, sản phẩm của acid này không chỉ là acid butyric mà còn có các hợp chất khác: rượu ethylic, rượu butyric, acetone, acid acetic,…Đầu tiên chúng sẽ tạo thành acid pyruvic, acid này bị loại cacboxyl đến acetaldehyde, sau đó sẽ tạo thành acid butyric được thể hiện ở phương trình sau:
2CH3CHO CH3- CHOH – CH2 – CHO CH3(CH2)2COOH
Vi khuẩn lên men butyric rất có hại đối với công nghiệp thực phẩm, chúng cản trở sự phát triển của nấm men và làm cho sản phẩm rau muối chua có mùi hôi Bào tử của chúng rất bền, chịu nhiệt cao, rất khó bị tiêu diệt (Hồ Quang Trí, 2000)
Vi khuẩn gây thối: Có khả năng hoạt động ở môi trường hiếu khí: Mensentericus,
Bacillus subtilis và môi trường yếm khí: Bacillus botulinus, ngoài ra còn có loài Proteus Sản phẩm của vi khuẩn gây thối là H2S, indol, NH3… kết quả làm cho dưa
bị thối (Lê Mỹ Hồng, 2000)
Nấm men: Chúng có thể hoạt động trong hầu hết quá trình lên men rau cải Nấm men
có thể hiện diện với số lượng rất ít trong nước muối dưa ở những ngày đầu sau khi ngâm muối (Etchell et al.,1956) Nấm men thường hoạt động ở giai đoạn lên men chính của quá trình muối chua cho đến khi lượng cacbohydrate không còn nữa Lodder
(1970) đã phân loại một số loài nấm men chủ yếu: Sacharomyces rosei, Sacharomyces
delbrueckii, Torulopsis versatilis, Torulopsis caroliniana, Torulopsis holmii, Torulopsis etchellsii, Hansenula subpelliculosa, Hansenula anomala Các loại nấm
men có tính oxy hóa: Debaryomyces membranaefcien, Pichia ohmeri, Saccharomyces
rouxii, Candida krusei Nấm men có tính oxy hóa có thể sử dụng acid lactic và hạ thấp
độ acid của nước muối tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây hư hỏng khác phát triển Acid ascorbic được sử dụng để làm giảm sự phát triển của nấm men oxy hóa (Lê Mỹ Hồng, 2000)
Nấm mốc: Đây là loại vi sinh vật hiếu khí Trong quá trình muối chua, loài nấm mốc
thường gặp là Aspergillus Cidium lactic Đặc biệt là loài sinh enzyme thủy phân
pectin làm mền cấu trúc mô rau cải
cacboligase
Acid butyric
Trang 222.4.2 Các giai đoạn trong quá trình lên men
Đây là quá trình lên men tự nhiên xảy ra 3 giai đoạn cơ bản:
Giai đoạn 1: Đường và các chất hòa tan có trong dịch bào của mô bào thực vật được
thẩm thấu ra ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lactic và một số vi khuẩn khác phát triển Dễ nhận thấy là trên bề mặt khối dịch lên men có nhiều bọt khí, khí này được tạo ra do hoạt động của các vi sinh vật Trong giai đoạn phát triển này vi
khuẩn Leuconostoc mensenteroides phát triển rất nhanh và mạnh Lượng acid lactic
trong giai đoạn này rất nhỏ (<1%) (Nguyễn Đức Lượng, 2004)
Giai đoạn 2: Số lượng vi khuẩn lactic đạt được cao nhất, acid lactic được tích tụ cao
nhất, pH dịch lên men giảm nhanh Do acid lactic mà các vi khuẩn gây thối giảm rất nhanh và hương vị đặc trưng của sản phẩm lên men bắt đầu được hình thành, chất lượng sản phẩm cuối cùng phụ thuộc rất nhiều ở giai đoạn này Chủng vi khuẩn phát
triển trong thời kỳ này chủ yếu là: Lactobacillus phantarum, lactobacillus
cucumeris,…Cuối giai đoạn này lượng acid lactic được tích tụ cực đại và tác động
ngược lại đối với vi khuẩn lactic
Giai đoạn 3: Vi khuẩn lactic chết dần trong khi nấm sợi và nấm men lại tăng dần số
lượng Do sự phát triển mạnh của nấm sợi, acid lactic bắt đầu giảm nhanh dẫn đến hư
hỏng sản phẩm Trong giai đoạn này các vi sinh vật phát triển chủ yếu là: Cidium
lactic tạo thành váng trắng Cidium có khả năng phân giải acid lactic thành CO2 và
H2O, làm pH trở về trung tính, tạo điều kiện cho vi khuẩn gây thối phát triển Ngoài ra
còn có vi khuẩn Clostridium butyricum biến đường và acid lactic thành acid butyric
làm cho sản phẩm có mùi ôi khó chịu Để kéo dài giai đoạn 3 ta nên đưa sản phẩm kết thúc giai đoạn 2 vào điều kiện lạnh (2 – 4o
C) hay dùng hóa chất chống nấm sợi, nấm men và vi khuẩn gây thối (acid sorbic hay natri benzoat) (Nguyễn Đức Lượng, 2004)
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men
Dung dịch muối: Nồng độ muối quá cao hay quá thấp đều không tốt cho quá trình
muối chua Nếu quá cao thì sẽ làm ngừng hoạt động của vi khuẩn kể cả vi khuẩn lactic, nếu quá thấp thì không đủ khả năng tạo áp suất thẩm thấu làm cho các chất khô thoát nhanh ra ngoài Ở nồng độ muối 2% có ảnh hưởng đến vi khuẩn butyric và nhóm Coli Ở nồng độ 5 ÷ 6% thì hoàn toàn ức chế vi khuẩn butyric, vi khuẩn lactic lúc này giảm 30% (Trần Minh Tâm, 2000)
Hàm lượng đường: Đây là nguồn dinh dưỡng quan trọng để lên men acid lactic
Trường hợp lượng đường trong nguyên liệu không đủ thì độ acid cần thiết cho dưa muối chua không đạt, vì thế phải chọn nguyên liệu có hàm lượng đường phù hợp Lượng đường lên men lactic tốt nhất là 1,5 ÷ 3% (Trần Minh Tâm, 2000 )
Trang 23Độ acid và điều kiện acid: Acid lactic được tạo ra trong quá trình lên men sẽ tích tụ
nhiều làm cho môi trường pH giảm xuống 3÷ 4 và khi đạt nồng độ pH từ 1÷ 2 thì quá trình lên men lactic ngừng lại (Trần Minh Tâm, 2000)
Bảng 2.4: pH hoạt động của vi sinh vật
Loại vi sinh vật pH
(Nguồn: Lê Mỹ Hồng – Bùi HữuThuận, 1999)
Nhiệt độ: Thích hợp cho vi khuẩn lên men lactic là khoảng 30 ÷ 35oC Nhưng ở nhiệt
độ này vi khuẩn butyric sẽ phát triển mạnh nên người ta thường khống chế ở nhiệt độ
20 ÷ 25oC (Nguyễn Đức Lượng, 2004 ) Theo Trần Minh Tâm, 2000 nhiệt độ ảnh hưởng đến thời gian lên men như sau:
Ở nhiệt độ 25 ÷ 30oC quá trình lên men lactic hết 6 ÷ 8 ngày
Ở nhiệt độ 20 ÷ 22oC quá trình lên men lactic hết 8 ÷ 10 ngày
Ở nhiệt độ 18 ÷ 20oC quá trình lên men lactic hết 9 ÷ 12 ngày
Ở nhiệt độ 14 ÷ 16oC quá trình lên men lactic hết 14 ÷ 16 ngày
Môi trường dinh dưỡng: Ngoài các điều kiện của môi trường tác động đến sự sống của
vi sinh vật thì muốn cho vi sinh vật có ích sinh sống và phát triển thì cần phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho chúng Thành phần môi trường gồm có nguồn thức ăn cacbon , nitơm các chất khoáng, các nguyên tố vi lượng và có thể có cả những chất kích thích sinh trưởng (Lê Mỹ Hồng, 2000)
Trang 24Bảng 2.5: Vitamin và các chất sinh trưởng cần thiết cho sinh trưởng của các vi khuẩn
lactic
Chất Vi sinh vật điển hình Chất Vi sinh vật điển hình
Acid pantothenic Lactobacillus casei Pantetein, pantein Lactobacillus acidophylus
Leuconoctos mesenteroides Lactobacillus bulgaricus Streptococcus faecalis Lactobacillus casei
Acid nicotinic Leuconoctos mensenteroides Lơcovorin Lactobacillus casei
Streptococcus faecalis Tiamin Lactobacillus fermenti
Riboflavin Lactobacillus casei Streptococcus lactic
Streptococcus lactic Biotin Lactobacillus plantarum
Acid folic Lactobacillus casei Leuconoctos mesenteroides
Streptococcus faecalis Streptococcus faecalis
Acid lipoic Streptococcus lactic Bioxitin Lactobacillus arabinosus
Streptococcus faecalis Lactobacillus casei
(Nguồn: Theo K Buchta, 1983 được trích bởi Kiều Hữu Ảnh, 1999)
2.6 Các hiện tượng hư hỏng trong quá trình muối chua
Dưa bị sẫm màu: theo nghiên cứu của Fabian màu thâm đen của nước muối là do các
sắc tố hòa tan tạo ra bởi Bacillus nigrificans trong điều kiện có glucose, hàm lượng
nitơ thấp và môi trường trung tính hay kiềm yếu Hiện tượng dưa thâm còn do sự phát
triển của các tạp khuẩn đặc biệt là trong trường hợp lên men ở nhiệt độ cao (30oC) khi
muối phân bố không đều hoặc nồng độ muối quá cao làm ức chế vi khuẩn lactic, tạo
điều kiện cho các tạp khuẩn khác phát triển Fabian cũng xác định được rằng hiện
tượng sậm màu là do tạo thành sulfur sắt Màu sẫm còn do tác dụng giữa các tanin với
sắt Ngoài ra sự biến màu cũng có thể do hiện tượng oxy hóa bởi oxy trong không khí,
đặc biệt khi lớp dưa bên trên không ngập nước Đồng thời, hoạt động của vi sinh vật lạ
có thể làm cho sản phẩm sinh ra các màu khác nhau (Lê Mỹ Hồng, 2000)
Sản phẩm có hương vị lạ: Do xuất hiện một số nấm mốc như Mycoderma,
Debaromyces, Hanzenula, Pichia và một số vi sinh vật khác hoạt động, làm giảm acid
sản phẩm (Lê Mỹ Hồng, 2000)
Dưa bị mềm: Do quá trình thủy phân protopectin dưới tác dụng của enzyme
protopectinase tạo thành pectin hòa tan Các enzyme này do vi sinh vật tạo ra trong
điều kiện nồng độ nước muối quá thấp Để khắc phục hiện tượng này người ta dùng
nước cứng (có canxi) độ cứng >16% sẽ làm cho rau quả cứng hơn do pectin dưới tác
dụng của enzyme pectin methylesterase (PME) sẽ tạo thành acid pectic, dưới tác dụng
của canxi sẽ tạo thành pectate canxi làm cho mô quả cứng hơn, giòn hơn Dưa còn bị
mềm do nồng độ muối trong sản phẩm thấp, khi đó, dịch bào trong rau tiết ra chậm
làm cho quá trình lên men bị chậm lại (Lê Mỹ Hồng, 2000)
Trang 25Dưa bị nhăn nheo: Do nước muối có nồng độ quá cao dẫn đến hiện tượng co nguyên
sinh gây ra hiện tượng này (Lê Mỹ Hồng, 2000).
Nước dưa có lớp váng: Chủ yếu là do hoạt động của nấm men và nấm mốc Các vi
sinh vật gây váng chủ yếu là chủng Mycoderma, Debaromyces, Pichia Chúng có
khả năng chịu được nồng độ muối cao có khi tới 20% Chúng phân hủy acid lactic bằng cách oxy hóa acid này Để ngăn ngừa nên phủ lên mặt sản phẩm một lớp dầu thực vật trung tính khoảng 3mm (Lê Mỹ Hồng, 2000)
Dưa bị thối: Do vi sinh vật gây thối gây ra
Dưa bị nhớt: Do chủng vi khuẩn lactic phát triển quá mạnh ở nhiệt độ cao Theo
Fabian do bị nhớt là do vi khuẩn có vỏ nang phát triển trong điều kiện dưa có hàm lượng muối và acid quá thấp (Lê Mỹ Hồng, 2000)
2.7 Các phương pháp bảo quản
Sản phẩm sau khi đạt độ chua yêu cầu, cần tiến hành bảo quản ngay nhằm hạn chế các hiện tượng hư hỏng
Bảo quản lạnh: Sau khi kết thúc quá trình lên men, nước dưa được lọc kỹ, rồi cho vào
bao bì cùng với phần nguyên liệu, đậy kín rồi bảo quản ở nhiệt độ 0÷ 2oC
Bảo quản bằng cách dùng hóa chất: Có thể dùng các hóa chất sau để bảo quản acid
ascorbic, natri benzoate, kali sorbate, natri sorbate, acid sorbic
Bảo quản bằng cách thanh trùng: Nước muối được tách ra khỏi dưa, lọc kỹ, rồi cho
vào bao bì cùng với phàn nguyên liệu, đem ghép kín cùng với phần nguyên liệu, thanh trùng ở nhiệt độ 90 ÷ 100oC
Bảo quản lạnh có ưu điểm là kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm nhưng sẽ làm tăng chi phí năng lượng, dẫn đến giá thành cao Mặt khác, bảo quản bằng cách thanh trùng nhiệt sẽ làm thay đổi cấu trúc, sản phẩm trở nên mềm hơn, kém hấp dẫn
Vì thế trong thực tế người ta vẫn thường bảo quản trong điều kiện thường sau khi kết thúc quá trình lên men Tuy nhiên khi đó thời gian bảo quản sẽ không lâu vì quá trình lên men vẫn tiếp diễn, pH của sản phẩm sẽ hạ thấp hơn, dẫn đến vị chua không mong
muốn (Lâm Thị Việt Hà, 2005)
Trang 26Phần 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương tiện nghiên cứu
3.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: Thực hiện từ tháng 03/01/2011 đến tháng 22/4/2011
Địa điểm: Phòng thí nghiệm Bộ môn Công Nghệ Thực Phẩm, khoa Nông Nghiệp
& Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ
Dụng cụ: Dụng cụ đun nóng, vải lọc, nhiệt kế, keo nhựa
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Dựa vào quá trình khảo sát một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Nguyên liệu (bồn bồn) được chọn ở độ chín thích hợp Bố trí thí nghiệm theo dãy, một cách ngẫu nhiên và theo thể thức thừa số với 3 lần lặp lại Lấy thông số tối
ưu của công đoạn trước làm cơ sở cho thí nghiệm sau
Trang 27Quy trình thí nghiệm:
Nguyên liệu bồn bồn được xử lý, rửa sạch, cắt thành những khúc có kích thước đồng đều khoảng 10cm Nước muối: lấy từ nước vo gạo, khoảng 0,5kg gạo thì vo khoảng 1 lít nước trong thời gian 2 phút, sau đó bổ sung nồng độ muối đường và tiến hành thanh trùng, để nguội Nguyên liệu sẽ được lên men trong keo nhựa và thu được sản phẩm
3.2.1.1 Xác định thành phần cơ bản của nguyên liệu
Các thành phần cơ bản của bồn bồn như đường tổng số, độ ẩm, acid tổng được xác định Đây chính là cơ sở cho việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
3.2.1.2 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu tìm ra nồng độ muối đường thích hợp cho quá
trình muối chua bồn bồn
· Mục đích: Tìm ra nồng độ muối đường lên men tốt nhất
· Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm tiến hành với 2 nhân tố và lặp lại 3 lần:
· Nhân tố M: Nồng độ muối, với 3 nồng độ muối
Nước muối
Hình 3.8: Quy trình tham khảo sản xuất bồn bồn muối chua
Trang 28độ phòng, theo dõi quá trình lên men khi khi sản phẩm đạt đến độ acid cần thiết hay
pH của dịch lên men nằm trong khoảng 3,0 ÷ 3,3
Ghi nhận kết quả:
pH của dịch lên men theo từng ngày
Thời gian kết thúc của quá trình lên men, ngày
Hàm lượng acid của sản phẩm
Bồn bồn
Xử lý
Lên men
Sản phẩm Thanh trùng
Hình 3.9: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1
Nước muối
M1 M2 M3 M1 M2 M3 M1 M2 M3 M1 M2 M3
Trang 29Brix của dịch lên men theo từng ngày
Cấu trúc của sản phẩm
Đánh giá cảm quan của sản phẩm
3.2.1.3 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của loại và nồng độ bột bổ sung đến
quá trình lên men bồn bồn
· Mục đích thí nghiệm: Tìm ra nồng độ và so sánh các quá trình lên men của từng loại bột sử dụng
· Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành với 2 nhân tố và 2 lần lặp lại:
§ Nhân tố N: nồng độ với 4 nồng độ
N1: 0,25 % N2: 0,5%
cm, rồi tiến hành lên men theo nồng độ muối đường kết quả thí nghiệm 1, thay thế nước vo gạo bằng hai loại bột (bột bắp và bột gạo) ở 4 nồng độ khác nhau (0,25%; 0,5%; 0,75%; 1%) Sau đó tiến hành lên men và dừng lại khi sản phẩm đạt đến độ acid cần thiết
Trang 30Ghi nhận kết quả:
pH của dịch lên men
Thời gian kết thúc quá trình lên men, ngày
Hàm lượng acid của sản phẩm, %
Hàm lượng đường của sản phẩm
Cấu trúc (độ giòn) của sản phẩm
Nước muối
B1 B2 B1 B2 B1 B2 B1 B2
Trang 31Hàm lượng đường tổng số (%)
Phương pháp Lano – Eynon Dựa vào phản ứng của đường nghịch đảo khử đồng trong dung dịch Feling thành oxit đồng 1 (Cu2O)
có màu đỏ gạch Cấu trúc (độ cứng) Sử dụng máu đo độ cứng Rheotex
Cảm quan Sử dụng phương pháp cho điểm theo tiêu
chuẩn Việt Nam Hàm lượng chất khô tổng số sử dụng Brix kế
Trang 32Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học của nguyên liệu
Lượng đường có thể lên men được là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của
vi khuẩn lactic và kết quả chuyển hóa cacbohydrate thành acid lactic Kết quả việc hạ thấp pH phụ thuộc vào lượng đường và loại acid sinh ra cũng như khả năng đệm của rau củ lên men, từ đó có thể xác định được lượng cacbohydrate tối thiểu có thể lên men theo yêu cầu Do đó việc phân tích nguyên liệu ban đầu rất quan trọng
Bảng 4.7: Thành phần của nguyên liệu
Thành phần Hàm lượng (%)
Hàm lượng đường 1,11 ± 0,22
Hàm lượng acid 0,07 ± 0,02
(* Thể hiện giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn)
Kết quả phân tích cho thấy, bồn bồn có hàm lượng đường tổng khá thấp đạt 1,11%, vì thế trong quá trình muối chua cần bổ sung đường để sản phẩm đạt chất lượng tốt hơn
4.2 Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến chất lượng sản phẩm
Thời gian lên men và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó hàm lượng đường và muối là quan trọng nhất Muối có vai trò quan trọng trong việc khởi đầu của quá trình lên men, đồng thời có tác dụng đáng kể đến chất lượng sản phẩm cuối (Lê Mỹ hồng, 2000) Việc sử dụng muối ở nồng độ cao thường là nguyên nhân ức chế sự phát triển của các vi khuẩn không mong muốn, mặc dù trong một số trường hợp, muối có vai trò tích cực đối với cấu trúc của rau muối chua Chẳng hạn sự tăng
nồng độ muối giới hạn sự phát triển của Pseudomonads, Flavobacteria, nấm mốc
trong khi sự phát triển của vi khuẩn lactic được phát huy (Pedeson, 1960) Mặt khác, nồng độ muối quá thấp (<0,8%) có thể xảy ra quá trình lên men không mong muốn, sản phẩm kém chất lượng như sản phẩm bị mềm Nếu muối có vai trò quan trọng trong việc khởi đầu của quá trình lên men thì đường là nguồn dinh dưỡng quan trọng
để tích tụ acid lactic Nếu lượng đường trong nguyên liệu không phù hợp thì độ acid cần thiết cho dưa muối chua sẽ không đảm bảo và sản phẩm kém chất lượng Do đó việc tìm ra nồng độ muối, đường bổ sung thích hợp cho quá trình lên men cần được nghiên cứu
Trang 334.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ muối, đường bổ sung đến pH dịch lên men sản phẩm
Quá trình lên men bồn bồn được tiến hành với tỉ lệ bồn bồn: nước muối là: 1:1, trong
đó dung dịch muối đường với các tỉ lệ sau: muối khảo sát ở 3 nồng độ: 2%; 2,5%; 3%
và đường ở 4 mức độ: 0%; 2%; 3%; 4% Tiến hành dừng quá trình lên men khi dung dịch sản phẩm đạt pH = 3,0 ÷ 3,3 Kết quả phân tích và thống kê ảnh hưởng của nồng
độ muối và đường đến sự thay đổi pH theo thời gian lên men của dịch lên men thể hiện ở bảng 4.8 sau:
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của nồng độ muối và nồng độ đường đến pH của bồn bồn muối
hư Nguyên nhân của quá trình này là do lượng đường trong nguyên liệu quá thấp (1,11% - bảng 4.7 thành phần của nguyên liệu) không đủ cho vi khuẩn lactic sử dụng
vì vậy, sau một thời gian lên men thì hết đường để vi khuẩn sử dụng nên quá trình lên men dừng lại ở pH khá cao tạo điều kiện cho vi khuẩn gây thối phát triển, do đó pH có
Trang 34Đối với tất cả các mẫu còn lại thì pH giảm dần qua các ngày, đến 2 ngày cuối (ngày 3
và ngày 4) thì pH có giảm nhưng không đáng kể do vi khuẩn lactic lúc này đã bị ức chế bởi lượng acid lactic chính nó sinh ra và quá trình lên men dừng lại (Trần Minh tâm, 2000)
Đồ thị 4.11 biễu diễn sự suy giảm pH của các mẫu theo thời gian lên men, tốc độ giảm
pH cũng giảm dần theo thời gian lên men Ở ngày 1 tốc độ giảm pH rất cao, điều này chứng tỏ tốc độ lên men rất cao, qua các ngày sau thì tốc độ lên men giảm dần, đến ngày thứ 3 và thứ 4 (2 ngày cuối) thì tốc độ lên men rất chậm, pH giảm xuống không đáng kể Nguyên nhân là do vi khuẩn lactic sử dụng hết chất dinh dưỡng trong nước muối hoặc bị kìm hãm với pH quá thấp nên những ngày cuối tốc độ giảm pH hầu như không đáng kể (Lê Mỹ Hồng, 2000)
4.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ muối, đường đến oBrix của bồn bồn muối chua
Quá trình lên men trong dưa bồn bồn là quá trình sinh hóa do hoạt động của một số vi sinh vật lên men lactic Quá trình sống của vi sinh vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố của môi trường xung quanh như nước, nhiệt độ, pH…trong đó môi trường dinh dưỡng cũng là một yếu tố quan trọng để cung cấp năng lượng, đảm bảo cho quá trình tăng trưởng Vì thế, quá trình phát triển của vi sinh vật (lactic) có thể theo dõi thông qua hàm lượng chất dinh dưỡng (đường) trong môi trường
Hình 4.11: Đồ thị thể hiện sự thay đổi pH trong suốt quá trình lên men bồn bồn
Trang 35Bảng 4.9: Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến oBrix của dung dịch lên men bồn
Trang 36nguyên nhân là do vi sinh vật (chủ yếu là vi khuẩn lactic) đã sử dụng đường trong quá trình lên men thành acid lactic
Tuy nhiên, đối với các mẫu 0% đường oBrix không tuân theo quy luật trên, chúng hầu như không giảm mà có xu hướng tăng, nguyên nhân là do các mẫu này lên men rất kém, trong quá trình lên men còn có mùi lạ (mẫu 2% muối và 0% đường; 2,5% muối
và 0% đường) Đối với mẫu 2,5% muối và 2% đường thì ngày 1 oBrix giảm mạnh sau
đó có xu hướng tăng dần Điều này là do ngày đầu tiên vi sinh vật sử dụng chất dinh dưỡng trong môi trường quá nhiều cho quá trình phát triển sinh khối tạo nên sự chênh lệch nồng độ giữa nguyên liệu và môi trường cao Đến những ngày sau thì tốc độ thoát chất dinh dưỡng từ nguyên liệu ra môi trường cao hơn quá trình vi sinh vật sử dụng lên men (những ngày sau tốc độ lên men giảm dần) nên làm cho oBrix có phần tăng trở lại Tương tự đối với mẫu 2% muối và 2% đường cũng xảy ra hiện tượng thay đổi
oBrix như trên
4.2.3 Ảnh hưởng của nồng độ muối, đường đến hàm lượng acid sản phẩm
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men lactic trong rau muối chua Trong
đó đường và muối là những yếu tố quan trọng trong quá trình lên men Muối có vai trò trong việc quyết định quá trình lên men, ảnh hưởng đến hương vị sản phẩm, hạn chế
sự hoạt động của vi sinh vật gây thối cũng như tăng cường hoạt động của vi khuẩn lactic và làm cho dinh dưỡng trong tế bào rau thoát ra ngoài Đường thúc đẩy quá trình lên men và giúp cho sản phẩm có vị dịu ngọt (Lê Mỹ Hồng, 2000)
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến hàm lượng acid sản phẩm (%)
của bồn bồn muối chua
Nồng độ muối (%) Nồng độ đường
(* Ghi chú: Các chữ cái thường khác nhau trong cùng một dòng hoặc một cột biểu thị sự khác biệt có
ý nghĩa ở độ tin cậy 95%, TBNT: Trung bình nghiệm thức)
Kết quả thống kê ở bảng 4.10 cho thấy sau 3 ngày lên men hàm lượng acid đạt từ 0,45% ÷ 0,76% Trong đó mẫu có nồng độ muối 2,5% và đường 3% có nồng độ acid của sản phẩm đạt giá trị cao nhất và có sự khác biệt ý nghĩa thống kê so với các mẫu còn lại
Trang 37Dựa vào hình 4.13 và bảng 4.10 ta thấy rằng ở nồng độ muối 2,5% thì hàm lượng acid sinh ra cao nhất, ở 2% và 3% thì hàm lượng acid sinh ra ít hơn và có sự khác biệt ý nghĩa thống kê, nguyên nhân là do ở nồng độ 2% muối khả năng gây ra áp suất thẩm thấu thấp, khả năng gây ức chế các vi sinh vật không có lợi cho quá trình lên men thấp, dẫn đến chúng phát triển và gây cản trở cho quá trình lên men làm cho hàm lượng acid sản phẩm kém Ở nồng độ muối 3% ảnh hưởng đến các hoạt động của vi khuẩn lactic
Đường góp phần thúc đẩy quá trình lên men, ở nồng độ đường 2% thì lượng acid tạo
ra ít hơn 3% Tuy nhiên, ở nồng độ 4% thì hàm lượng acid trong sản phẩm giảm nguyên nhân là do không phải tất cả lượng đường đều chuyển hóa thành acid lactic (Lê
Mỹ Hồng, 2000) Khi hai nhân tố đường và muối tương tác với nhau thì hàm lượng acid sản phẩm cao nhất ở 2,5% muối và 3% đường Ở nồng độ này, chúng có khả năng ức chế vi sinh vật gây thối cũng như tạo điều kiện cho vi khuẩn lactic phát triển Ngoài
ra, với sự hỗ trợ của vitamin có trong môi trường nước vo gạo sẽ làm cho quá trình lên men lactic đạt hiệu quả cao
4.2.4 Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến cấu trúc sản phẩm
Nồng độ muối, đường không những ảnh hưởng đến chất acid sản phẩm mà còn ảnh
Hình 4.13: Đồ thị thể hiện hàm lượng acid sản phẩm (%) của bồn bồn muối chua
Trang 38tâm Sau đây là kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ muối đường đến cấu trúc bồn bồn muối chua:
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến cấu trúc sản phẩm bồn bồn
muối chua, độ giòn (g lực)
Nồng độ muối (%) Nồng độ đường
(* Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một dòng hoặc một cột biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa
ở độ tin cậy 95%, TBNT: trung bình nghiệm thức)
Qua bảng số liệu 4.11 và hình 4.14 ta thấy rằng sự tương tác giữa muối đường ảnh
hưởng đến cấu trúc sản phẩm có sự khác biệt Trong các nồng độ 2%; 2,5% và 3% muối thì mẫu 2,5% muối cho số liệu cấu trúc cao nhất (364,59) Mẫu 2% và 3% đường đều có số liệu cấu trúc sản phẩm cao hơn mẫu 4%, tuy nhiên mẫu 2% đường thì hàm lượng acid sản phẩm thấp (0,53% - bảng 4.10)
Như vậy, dựa vào bảng 4.10 và bảng 4.11 - số liệu acid sản phẩm và cấu trúc sản
Hình 4.14: Đồ thị thể hiện độ giòn sản phẩm bồn bồn muối chua
Trang 39Màu sắc Mùi vị Độ giòn
nhân là do ở nồng độ muối và đường thích hợp sẽ tạo ra được một áp suất thẩm thấu vừa đủ để các chất dinh dưỡng trong nguyên liệu thoát ra môi trường mà không ảnh hưởng lớn đến cấu trúc tế bào và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lên men
4.2.5 Ảnh hưởng của nồng độ muối, đường đến cảm quan sản phẩm
Sản phẩm có chất lượng tốt ngoài đạt các chỉ tiêu phân tích trên còn cần phải đạt yêu cầu về mặt cảm quan Do đó chỉ tiêu cảm quan là một trong những chỉ tiêu không kém phần quan trọng trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của nồng độ muối và đường đến cảm quan sản phẩm bồn bồn
muối chua
Chỉ tiêu cảm quan Nồng độ muối
(%)
Nồng độ đường (%) Màu sắc Mùi vị Độ giòn
Trang 40Qua hình 4.15 cảm quan sản phẩm về màu sắc, mùi vị, độ giòn và ý thích sản phẩm thì nghiệm thức 2,5% muối và 3% đường có điểm trung bình cảm quan tốt nhất Màu sắc của sản phẩm thì mẫu 2,5% muối và 2% đường cho điểm cao nhất và khác biệt ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại
Mùi vị thì mẫu có hàm lượng đường 3% và 2,5% muối cho điểm cảm quan mùi vị cao nhất
Độ giòn thì hầu như không có sự khác biệt trong sản phẩm Trong đó mẫu 2,5% muối
và 3% đường cho điểm cảm quan độ giòn cao nhất
Như vậy, thông qua các thống kê số liệu về acid, cấu trúc và cảm quan thì ngiệm thức 2,5% muối và 3% đường có thông số tối ưu làm cơ sở cho thí nghiệm tiếp theo
Trong thí nghiệm trên, môi trường nước muối là sử dụng nước vo gạo, để kiểm tra lại việc sử dụng nước vo gạo thay thế nước muối có ý nghĩa thực tiễn không, ta tiến hành thí nghiệm so sánh quá trình lên men giữa thông số tối ưu của nước vo gạo (2,5% muối và 3% đường) và nước muối (2% muối và 5% đường) Thông số tối ưu của nước muối này được tìm ra vào năm 2007 do học viên Nguyễn Quốc Huy, lớp cao học Công Nghệ Sinh Học – K11 – Viện NC & PT Công Nghệ Sinh Học
Bảng 4.13: So sánh hai nghiệm thức sử dụng nước vo gạo (2,5% muối và 3% đường) với nghiệm thức không sử dụng nước vo gạo (2% muối và 3% đường)
Mẫu Chỉ tiêu
Muối 2,5%, Đường 3% Muối 2%, Đường 5%
Màu sắc 4,15a* ± 0,75 4,10a ± 0,91 Mùi vị 3,65a ± 0,99 2,80b ± 0,70 Cảm quan
Cấu trúc 4,00a ± 0,73 4,10a ± 0,97 Hàm lượng acid sản phẩm (%) 0,76a ± 0,01 0,49b ± 0,02
do đó vitamin của môi trường còn giữ một vai trò quan trọng của quá trình sinh tổng hợp của các vi khuẩn lactic, đặc biệt là các vi khuẩn lactic có khả năng sinh tổng hợp yếu (Kiều Hữu Ảnh, 1999) Trong khi đó nước vo gạo có nhiều chất dinh dưỡng hòa tan như khoáng, tinh bột, vitamin… Giúp cho quá trình sinh khối phát triển Kiều Hữu