KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG LÊ THỊ TRANG MSSV: 2071846 VAI TRÒ CỦA KHOÁNG & DINH DƯỠNG ĐẾN HOẠT TÍNH PECTIN METHYLESTERASE SINH RA TỪ SỰ LÊN MEN ASPERGILLUS NIGER Luận văn tố
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ THỊ TRANG MSSV: 2071846
VAI TRÒ CỦA KHOÁNG & DINH DƯỠNG ĐẾN HOẠT TÍNH PECTIN METHYLESTERASE SINH RA
TỪ SỰ LÊN MEN ASPERGILLUS NIGER
Luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ Ngành: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Giáo viên hướng dẫn:
Ths TRẦN THANH TRÚC
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA KHOÁNG & DINH DƯỠNG ĐẾN HOẠT TÍNH PECTIN METHYLESTERASE SINH RA
TỪ SỰ LÊN MEN ASPERGILLUS NIGER
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Ths Trần Thanh Trúc Lê Thị Trang
MSSV: 2071846
Lớp: CNTP K33
Cần Thơ, 2010
Trang 3L I CAM OAN
Luận văn đính kèm theo đây, với đề tài “Vai trò của khoáng và dinh dưỡng đến hoạt
tính pectin methylesterase sinh ra từ sự lên men Aspergillus niger” do sinh viên Lê
Thị Trang thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông qua
Giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
Chủ tịch hội đồng
Trang 4L I CẢM TẠ
Là sinh viên của trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi luôn được những điều kiện học tập và sự quan tâm sâu sắc của Trường, Khoa nói chung, sự dạy bảo truyền đạt tận tình của quý Thầy cô bộ môn Công Nghệ Thực Phẩm nói riêng Nhờ sự tận tình dạy bảo của thầy cô và sự giúp đỡ của các bạn cùng với sự cố gắng của bản thân, đề tài luận văn tốt nghiệp của tôi đã hoàn thành Để có được kết quả này, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến:
- Cô Trần Thanh Trúc và Thầy Nguyễn Văn Mười, những người đã trực tiếp hướng dẫn, theo dõi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
- Thầy cô bộ môn Công Nghệ Thực Phẩm, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian gần 4 năm học tập tại trường
- Cán bộ phòng thí nghiệm bộ môn Công Nghệ Thực Phẩm, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình
- Các bạn sinh viên lớp Công Nghệ Thực Phẩm khoá 33 và các anh chị cao học đã nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Cuối lời xin kính chúc quý thầy cô và các bạn luôn dồi dào sức khỏe và thành công Xin chân thành cảm ơn !
Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm 2010
Sinh viên thực hiện
LÊ THỊ TRANG
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài: “Vai trò của khoáng và dinh dưỡng đến hoạt tính pectin methylesterase sinh ra từ sự lên men Aspergillus niger” được thực hiện nhằm tìm ra nguồn dinh dưỡng và khoáng thích hợp cho quá trình lên men từ nấm mốc Aspergillus niger trên cơ chất bã táo và vỏ cam
KCl và CaCl 2 , nguồn dinh dưỡng nitrogen được bổ sung từ urea, pepton, (NH 4 ) 2 SO 4 và
NH 4 H 2 PO 4 với nồng độ thích hợp cho quá trình sinh tổng hợp PME hoạt tính cao Bên cạnh
đó, nguồn carbohydrate thích hợp cho hoạt động của Aspergillus niger sinh enzyme PME cũng được thử nghiệm bằng cách bổ sung một lượng vỏ bưởi sấy khô với tỷ lệ từ 2,5 đến 10% vào cơ chất lên men
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt tính enzyme PME thu nhận cao nhất khi A.niger được nuôi cấy trên môi trường có bổ sung 0,5% MgCl 2 và 1,5% CaCl 2 Thêm vào đó, việc bổ sung nguồn dinh dưỡng từ urea 0,1% cho hiệu quả sinh PME từ A.niger cao hơn hẳn các trường hợp còn lại, hoạt tính PME lên đến 36,93 U/mL Đồng thời, việc bổ sung 5% vỏ bưởi làm gia tăng lượng pectin trong môi trường lên men, điều chỉnh độ DE của cơ chất và tạo điều kiện thích hợp cho sự sinh tổng hợp PME đạt hiệu quả cao nhất Hoạt tính của PME thu được tăng 1,15 lần so với mẫu không bổ sung vỏ bưởi và tăng gần 2 lần so với mẫu nuôi cấy trong điều kiện không có sự hỗ trợ của khoáng và nitrogen
Trang 6MỤC LỤC
L I CAM OAN i
L I CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH S CH H NH vi
DANH S CH ẢNG vii
Chương 1 ẶT VẤN Ề 1
1.1 Tổng quan 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu về Pectin methylesterase 3
2.1.1 Cấu trúc, đặc tính, cơ chế hoạt động thủy phân của PME 3
2.1.2 Nguồn tổng hợp PME 5
2.1.3 Một số ứng dụng của PME trong chế biến thực phẩm 6
2.2 Kỹ thuật trích ly PME từ nấm mốc Aspergillus niger trên cơ chất bã táo và vỏ cam 8
2.2.1 Giới thiệu về nấm mốc Aspergillus niger 8
2.2.2 Môi trường nuôi cấy 9
2.2.3 Phương pháp nuôi cấy 10
2.2.4 Thu nhận enzyme 12
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tổng hợp PME 12
2.3.1 Môi trường nuôi cấy 12
2.3.2 Độ ẩm 13
2.3.3 pH 13
2.3.4 Thời gian nuôi cấy 13
2.3.5 Nhiệt độ nuôi cấy 14
2.3.6 Nguồn khoáng và dinh dưỡng bổ sung 14
2.4 Một số nghiên cứu có liên quan 15
Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PH P NGHIÊN CỨU 17
Trang 73.1.1 Địa điểm, thời gian 17
3.1.2 Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.3 Thiết bị, hóa chất 17
3.1.4 Môi trường nuôi cấy 18
3.2 Phương pháp nghiên cứu 18
3.2.1 Phương pháp phân tích và đo đạc các chỉ tiêu 18
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 19
3.3 ố trí thí nghiệm 19
3.3.1 Thông số cố định 19
3.3.2 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của thành phần khoáng bổ sung đến khả năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger 19
3.3.3 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của thành phần khoáng bổ sung kết hợp đến khả năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger 21
3.3.4 Thí nghiệm 3: Khảo sát ảnh hưởng nguồn nitrogen bổ sung đến khả năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger 23
3.3.5 Thí nghiệm 4: Khảo sát ảnh hưởng thành phần carbohydrate bổ sung đến khả năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger 24
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Ảnh hưởng của thành phần khoáng bổ sung riêng lẽ đến khả năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger 27
4.2 Ảnh hưởng của thành phần khoáng bổ sung kết hợp đến khả năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger 29
4.3 Ảnh hưởng của nguồn nitrogen bổ sung đến khả năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger 31
4.4 Ảnh hưởng thành phần carbohydrate bổ sung đến khả năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger 33
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ Ề NGHỊ 35
5.1 Kết luận 35
5.2 ề Nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
PHỤ LỤC 1 PHƯƠNG PH P PHÂN TÍCH viii
PHỤ LỤC 2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ xi
Trang 8DANH S CH H NH
Hình 1: Sơ đồ thủy phân pectin của PME 3
Hình 2: Phản ứng thuỷ phân pectin dưới sự xúc tác của PME 4
Hình 3: Nấm mốc Aspergillus niger 8
Hình 4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 20
Hình 5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 22
Hình 6: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 24
Hình 7: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 4 25
Hình 8: Đồ thị so sánh ảnh hưởng của các loại khoáng bổ sung tối ưu đối với hiệu quả gia tăng hoạt tính PME từ A.niger 29
Hình 9: Đồ thị so sánh ảnh hưởng của các loại khoáng bổ sung kết hợp đối với hiệu quả gia tăng hoạt tính PME từ A.niger 30
Trang 9DANH S CH ẢNG
Bảng 1: Hiệu quả xử lý nước táo và nước vải bằng chế phẩm enzyme pectinase 7 Bảng 2: Thành phần pectin của táo, cam và một số loại trái cây 10 ảng 3: Phương pháp phân tích và đo đạc các ch tiêu trong nghiên cứu 19 Bảng 4: Ảnh hưởng của nồng độ và loại khoáng bổ sung đến sự thay đổi hoạt tính của PME
Trang 10CHƯƠNG 1 ẶT VẤN Ề
Trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, điều khiển hoạt động PME đóng vai trò hết sức
quan trọng, cụ thể là trong sản xuất nước quả citrus đục (Nath and Ranganna, 1977),
giúp tăng độ nhớt trong sản xuất nước quả và puree cà (Nath et al., 1983), hoặc góp
phần cải thiện cấu trúc và độ cứng chắc trong quá trình chế biến một số loại rau quả
(Pilnik and Voragen, 1991; Stanley et al., 1995)
Hoạt động của enzyme PME trong thực phẩm có thể được thúc đẩy bằng cách kích
hoạt nội enzyme hay bổ sung thêm chế phẩm enzyme (Duvetter, 2007; Tran et al.,
2008) Tuy nhiên, một số loại rau quả PME nội bào rất thấp đồng thời việc kích hoạt
PME bằng phương pháp xử lý nhiệt làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, vì vậy
việc nghiên cứu bổ sung chế phẩm enzyme PME là biện pháp khả thi nhất
So với pectinase từ thực vật, sản xuất pectinase từ vi sinh vật có nhiều ưu điểm hơn
như: tốc độ sinh sản của vi sinh vật nhanh, tiết ra enzyme dễ dàng trên cơ chất rẽ tiền
và có hiệu suất thu hồi cao (Nguyễn Đức Lượng, 2004) Tuy vậy, việc sử dụng rộng
rãi nhóm emzyme này và sản xuất PME thương mại vẫn chưa được quan tâm nhiều ở
nước ta, việc nhập khẩu PME từ nước ngoài thường có giá rất cao Chính vì thế,
nghiên cứu trích ly PME trong điều kiện hiện tại ở Việt Nam là cần thiết
PME có thể được sản xuất từ rất nhiều loại vi khuẩn và nấm mốc như: Aspergillus sp,
Botrytis cinerea, Fusarium monilforme, Rhizopus stolonifer, Trichoderma sp…
(Polizeli et al.,1991), nhưng Aspergillus là nguồn chủ yếu (Torres et al.,2005) Trong
nhóm này, việc ly trích PME từ Aspergillus niger cũng được ưu tiên chọn lựa
(Schmitz, WO 03/000876)
Mặc dù vậy, hiệu quả trích ly PME từ nấm mốc phụ thuộc vào rất nhiều các thông số
như điều kiện nuôi cấy, tỷ lệ pha loãng của cơ chất, pH, nhiệt độ, thời gian ủ cũng như
tác động của các thành phần khoáng vi lượng, nguồn dinh dưỡng bổ sung… (Berovic
et al., 1993; Schmitz, 2002; Hamdy, 2005; Joshi et al., 2006) Hiệu quả trích ly cũng
như hoạt tính của PME sẽ được cải thiện khi các thông số trên được thực hiện ở giá trị
tối ưu Do đó, việc khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính của PME cần được
quan tâm
Chính vì vậy, đề tài “vai trò của khoáng và dinh dưỡng đến hoạt tính enzyme PME
sinh ra từ sự lên men Aspergillus niger” đã được nghiên cứu
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát vai trò của khoáng và nguồn dinh dƣỡng bổ
sung đến hoạt tính của enzyme pectin methylesterase sinh ra từ sự lên men nấm mốc
Aspergillus niger để thu đƣợc nguồn enzyme có hoạt tính cao
Trang 12CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Pectin methylesterase (PME, Pectinesterase (PE), EC 3.1.1.11) thuộc nhóm enzyme
pectinase, nhóm enzyme xúc tác sự thủy phân pectin PME thường tấn công vào các
nhóm ester methyl của đơn vị galacturonate nằm kề đơn vị không bị ester hóa, phân
cắt nhóm methoxyl (-OCH3) đứng cạnh các nhóm –COOH tự do, tạo thành acid pectic
PME có 2 dạng cấu trúc là bậc I và bậc II Ở cấu trúc bậc I, PME là một chuỗi acid
amin cao Trung tâm hoạt động cố định gồm các acid amin: 2 acid aspartic, arginine, 2
glutamine và các acid amin có nhân thơm liên kết với khớp phản ứng Cấu trúc bậc II
của PME là dạng cấu trúc β-helix Đây là cấu trúc dạng vòng xoắn có gấp nếp β-helix
theo hướng phải, bao gồm 3 chuỗi β-sheet song song và có những đoạn dạng vòng
được kéo ra từ lõi của vòng xoắn, nó tạo ra một vùng sâu giống như khe nứt Khe nứt
thường tạo nên bởi những gốc có vòng thơm và 2 gốc aspartate, tương ứng với trung
tâm hoạt động của PME (Jenkins et al., 2001; Johansson et al., 2002; D’Avino et al.,
2003)
Trang 13PME từ những nguồn khác nhau có những đặc trưng không giống nhau Nhiều loại
PME khác nhau về phân tử khối, pI và hoạt tính sinh hóa được tìm thấy ở các thực vật
2 lá mầm ( ordenave et al., 1996) PME là những enzyme có kích thước trung bình và
phân tử khối vào khoảng 25 ÷ 54 kDa (Benen et al., 2003) Điểm đẳng điện của PME
thay đổi từ 3,1 đối với enzyme từ nấm mốc đến 11 đối với PME cà chua Hầu hết
PME chiết xuất từ thực vật có pI trung tính đến kiềm, ch một vài trường hợp có PME
có tính acid (Bordenave, 1996)
Việc đo lường hoạt tính đã ch ra có sự khác biệt giữa các loại PME lấy từ các bộ phận
khác nhau hoặc trong giai đoạn phát triển khác nhau ( ordenave and Goldberg, 1993)
Nhìn chung, PME rất nhạy cảm đối với môi trường chứa ion và chịu tác động lớn bởi
pH Hầu hết PME thực vật có pH tối ưu từ 6 ÷ 8, trong khi giá trị pH tối ưu của PME
vi sinh vật nằm trong khoảng từ 4 ÷ 9 (Bordenave, 1996) Giá trị pH tối thích cho hoạt
động của enzyme PME cà chua là 8,0 trong khi đó giá trị 4,5 là phù hợp cho
PME từ Aspergillus (Duvetter, 2006) PME thường được hoạt hóa bởi các ion Ca2+ và
Mg2+
Hai nguồn được dùng sản xuất PME là từ thực vật (cà chua, cam, táo, cà rốt…) và vi
sinh vật (nấm mốc Aspergillus aculeatus, Aspergillus niger…)
iii Cơ chế hoạt động thủy phân của PME
Phản ứng thủy phân pectin được thực hiện ở đơn vị galacturonic chứa ester bên cạnh
nhóm carboxyl tự do hoặc từ cuối chuỗi pectin (Rexova-Benkova et al., 2004) Kết
quả là hình thành methanol và chất pectin có độ methoxyl thấp hơn (pectinic acid hoặc
pectic acid)
Hình 2: Phản ứng thuỷ phân pectin dưới sự xúc tác của PME
(Nguồn: Sila et al, 2003)
Khi enzyme hoạt động, không phải toàn bộ cấu trúc enzyme tham gia hoạt động xúc
tác mà ch có trung tâm hoạt động của enzyme tham gia phản ứng Trung tâm hoạt
động của enzyme do cấu trúc của enzyme tạo ra
Trang 14Dựa trên cấu trúc của PME carrot, Johansson et al (2002) đề nghị cơ chế hoạt động
như sau: trung tâm hoạt động của PME carrot bao gồm Asp157, Arg225, Gln113,
Gln115 và Asp136 Trong đó, Asp157 có liên kết hydro gắn với cả oxy và Arg225
Arg225 được xem là một phần tử ái điện tử tấn công chủ yếu vào nhóm carbon từ
carboxymethyl và carbonyl của pectin Asp136 liên kết với Phe160, có tính acid trong
giai đoạn đầu phản ứng và methanol được tách ra Tiếp theo, Asp136 có khả năng
phản ứng như một base tách hydrocuar một phân tử nước để cắt liên kết hóa trị giữa
cơ chất và Asp157 và phục hồi lại trung tâm hoạt động cho enzyme (Johansson et al.,
2002)
2.1.2 Nguồn tổng hợp PME
i Thực vật
PME có nhiều trong hầu hết các loại trái cây Đặc biệt có nhiều trong cà chua, chuối,
cam, táo,… PME ở thực vật thường tồn tại dạng đồng phân Thông thường, các dạng
đồng phân của chúng khác nhau ở điểm đẳng điện pI và khối lượng phân tử
(Bordenave, 1996) Mối quan hệ t lệ của các dạng đồng phân này có thể thay đổi tùy
theo mức độ tăng trưởng của trái và các nguồn PME khác nhau (Bordenave and
Goldberg, 1993) Ví dụ như cà chua có hai loại đồng phân là PME1 và PME2 Trong
giai đoạn trái bắt đầu chín, PME1 và PME2 đều tăng nhưng ở giữa giai đoạn chín thì
PME1 giảm xuống, PME2 tiếp tục tăng đến cuối quá trình chín (Nguyễn Đức Lượng,
2004) Hoặc như hai dạng đồng phân của PME trong cam, PME1 có pI là 10,05 và
PME2 có pI > 11 Các đồng phân PME trong kiwi thì có cùng khối lượng phân tử,
cùng pI nhưng lại khác nhau về tính bền nhiệt (Nguyễn Đức Lượng, 2004)
PME thực vật nói chung có hoạt độ tối ưu trong khoảng pH hơi kiềm Các cation kim
loại ở nồng độ thấp như Ca2+ có khuynh hướng làm tăng độ hoạt động của enzyme
Các ion Ca2+ và Na+ làm tăng hoạt độ của enzyme lên tối đa ở các nồng độ lần lượt là
0,005M và 0,05M (Bordenave, 1996)
Các PME ở thực vật tấn công vào hoặc đầu không khử hoặc gần với nhóm carboxyl tự
do và tiến dọc theo phân tử bằng cơ chế chuỗi đơn, tạo ra các khối galacturonic acid
không bị ester hóa rất mẫn cảm với calcium (Nguyễn Đức Lượng, 2004)
Hoạt tính của PME thực vật có thể được gia tăng bởi tác động của áp suất và đạt được
cường độ hoạt động tối ưu ở áp suất thay đổi trong khoảng 200 ÷ 500 MPa và nhiệt độ
từ 50 ÷ 57°C (Verlent et al., 2004)
ii Vi sinh vật
Nguồn giàu enzyme pectinase là nấm mốc, nấm men và vi khuẩn
Trang 15Nấm mốc: Aspergillus niger, Aspergillus awamori, Aspergillus terrus, Aspergillus
saitoi, Penicillium glaucum, Penicillium chrysogenum, Penicillium expanam,
Penicillium Cilimim, Fusarium monniliforme,…
Nấm men: Saccharomyces fragilis,…
Vi khuẩn: bacillus polymyxa, Flavobacterium pectinovorum, Klebsiella aerogenes,
Erwinia,…
Các PME có nguồn gốc từ nấm mốc chịu nhiêt hơn so với các PME có nguồn gốc
thực vật Các PME của nấm mốc khác với PME của thực vật theo cơ cấu đa dạng, các
nhóm methoxyl bị lấy đi một cách ngẫu nhiên (Ly Nguyen, 2004)
Nấm mốc là nguồn cung cấp enzyme, đặc biệt là hệ enzyme pectinase PME từ nấm
mốc là các loại enzyme ngoại bào Chúng hoạt động trong khoảng nhiệt độ tối ưu từ
30 45oC và bị vô hoạt ở nhiệt độ lớn hơn 55oC pH tối ưu của nấm mốc trong
khoảng 3 5,5 PME từ các loài Aspergillus là điển hình cho các PME có điểm đẳng
điện và pH tối ưu trong vùng acid Hoạt động của PME từ A.niger đạt tối đa ở pH 4,5
và nhiệt độ 400C Trong khi pH tối ưu của PME từ A.species là 3,7 4,2 và PME từ
A.sojae là 5,5 (Nguyễn Đức Lượng, 2004)
2.1.3 Một số ứng dụng của PME trong chế biến thực phẩm
Trong sản xuất nước quả và rượu vang, việc sử dụng enzyme là một tiến bộ khoa học
lớn Một trong những nguyên nhân chính gây ra sự thành lập chất có hại trong nước
trái cây và rượu vang là do sự hiện diện các hợp chất pectic đặc biệt là pectin, các chất
này nằm ở thành tế bào được phóng thích khi trái cây bị nghiền nhão Các chế phẩm
enzyme sử dụng trong sản xuất nước quả có tác dụng làm trong dịch chiết ép (nhất là
đối với những quả có nhiều pectin, độ nhớt cao) tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
cô đặc dịch quả, làm tăng hiệu suất ép, hiệu suất trích ly các chất trong tế bào thực vật
Việc thu nhận nước quả từ trước đến nay chủ yếu bằng phương pháp ép Nếu pectin
còn nhiều sẽ theo vào nước quả gây ra hiện tượng nước quả bị đục, có độ keo cao và
rất khó lọc trong
Trang 16ảng 1: Hiệu quả xử lý nước táo và nước vải bằng chế phẩm enzyme pectinase
Loại nước quả
Hiệu suất nước quả (%)
Hàm lượng chất khô (%)
Độ acid chuẩn (%)
Đường (%)
Pectin (%)
Điểm đánh giá cảm quan
Nước quả từ táo
a- Không có chế phẩm enzyme
b- Có chế phẩm enzyme
71,2 78,8
10,2 11,5
0,53 0,62
6,7 8,0
0,33 0,15
4,5 4,8
Nước quả vải
a- Không có chế phẩm enzyme
b- Có chế phẩm enzyme
49,2 72,4
8,5 10,2
0,91 1,16
5,62 7,4
0,26 0,12
3,8 4,3
(Nguồn: Nguyễn Đức Lượng, 2004)
Ứng dụng quan trọng nhất của PME trong công nghiệp chế biến thực phẩm là khả
năng cải thiện cấu trúc của rau quả đóng hộp ( aker và Wicker, 1996) Khi được kích
hoạt, PME phân cắt nhóm ester của pectin, tạo điều kiện cho pectin liên kết với ion
Ca2+, tạo độ giòn và độ cứng chắc cho sản phẩm
Ảnh hưởng của sự tách loại nhóm methoxyl trong phân tử pectin đối với độ cứng mô
thực vật bao gồm hai hiện tượng: ở mô chưa xử lý, sự hiện diện các nhóm carboxyl tự
do làm tăng khả năng tạo thành và độ bền của phức calcium giữa hai mạch pectin, và
ở mô đã xử lý nhiệt sẽ có sự gia tăng liên kết với Ca2+
và làm giảm nguy cơ bị tự phân cắt hay còn gọi là β – elimination (Sajjaanatukal và Pitifer, 1991)
Tuy nhiên, một vài loại trái cây ch chứa một lượng rất nhỏ PME nội bào Do đó nhiều
phương pháp khác nhau được đề nghị để bổ sung enzyme vào mô thực vật nguyên vẹn
và cách đơn giản nhất là phương pháp ngâm – thấm thụ động Tuy nhiên đây là một
quá trình xảy ra chậm và sự thấm enzyme vào mô ch giới hạn ở bề mặt Vì thế cần có
sự hiện diện của các chất phụ gia Nếu trong mô có khoảng không chứa khí đáng kể
thì phải tiến hành dưới áp lực trực tiếp hoặc là chân không Kỹ thuật trong trong chân
không (vacuum infusion – VI) được sử dụng trong nhiều quá trình chế biến khác nhau
để cải thiện chất lượng về cấu trúc của sản phẩm hoặc tạo sự đồng nhất của các thành
phần chức năng trong sản phẩm
Ngâm bằng kỹ thuật chân không áp dụng cho trái đào cắt nửa với PME của bưởi và
CaCl2 đã làm tăng đáng kể độ cứng của trái đào đóng hộp Theo aker và Wicker
(1996), có mối tương quan giữa mức độ ester hóa của pectin với khả năng cải thiện độ
Trang 17cứng Kỹ thuật trong trong chân không của PME nấm mốc với CaCl2 được khảo sát
thấy có hiệu quả cải thiện độ cứng cho dâu tây cắt nửa lạnh đông
và vỏ cam
2.2.1 Giới thiệu về nấm mốc Aspergillus niger
Hình 3: Nấm mốc Aspergillus niger
(nguồn: http://genome.jgi-psf.org/Aspni1/Aspni1.home.html )
Aspergillus thuộc nhóm nấm bất toàn (Deuteromycetes hay Fungi Imperfecti), cuống
đính bào tử có đầu phình ra Nhóm nấm bất toàn là những nấm sinh sản vô tính bằng
bào tử bụi mang bởi những giá bào tử có hình dạng khác nhau xếp thành chuỗi (đính
bào tử) ở đầu ngọn có cuống bào tử Nấm Aspergillus còn gọi là mốc tương Sợi nấm
có vách ngăn, cuống mang bào tử bụi phồng lên ở ngọn Các chuỗi bào tử bụi từ đầu
phồng mọc tỏa khắp mọi hướng ào tử bụi có thể màu vàng (Aspergillus flavus), màu
đen (Aspergillus niger) (Abarca et al., 2004)
Aspergillus niger được sử dụng phổ biến trong công nghệ thực phẩm trong nhiều thập
kỷ qua và không có tác động xấu đến sức khỏe con người (Dijck et al., 2003) Thêm
vào đó, sản phẩm từ Aspergillus niger cũng được Viện nghiên cứu thực phẩm và
thuốc của Mỹ (FDA) chứng nhận sản phẩm an toàn (GRAS)
Nấm mốc Aspergillus niger thường được tìm thấy trong quá trình thu hoạch và bảo
quản các loại thực phẩm như đậu phộng, bắp, táo, lê, đào, nho, dâu tây, cà chua và dưa
(Pitt và Hocking, 1997)
A.niger thường được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp để sản xuất enzyme (như -
galactosidases, lipases, protease, hemicellulase, cellulases và pectinases) và acid hữu
cơ Pectinases thường được sử dụng trong quá trình chế biến thực phẩm có nguồn gốc
Trang 18thực vật Trong khi đó, các acid hữu cơ như acid citric được sử dụng rộng rãi trong
công nghiệp chế biến thực phẩm và thức ăn gia súc như một phụ gia tạo vị, điều ch nh
acid, chất ổn định hay bảo quản (Magnuson và Lasure, 2004)
Ngay từ năm 1917, A.niger đã được sử dụng để sản xuất acid citric (Raper và
Femmel, 1965) Ngày nay, acid citric được sản xuất từ A.niger với sản lượng khoảng
700.000 ÷ 1.000.000 tấn/năm (Ikasari et al., 1996; Magnuson và Lasure, 2004; Prado
et al, 2005) Khoảng 70% acid citric sản xuất được sử dụng trong các loại thực phẩm
và sản phẩm bia, phần còn lại thường được ứng dụng trong ngành dược (Magnuson và
Lasure, 2003; Prado et al., 2005)
Pectinases từ nguồn nấm mốc, đặc biệt là A.niger, thường được sử dụng phổ biến
trong công nghệ chế biến nước quả, kế đến là cellulases và hemicellilases, hàng năm
doanh số thu được từ ba dạng enzyme này xấp x 20% một triệu đô la Mỹ (Kashyap et
al., 2001)
A.niger sản xuất nhiều loại enzyme tác động trên phần homogalacturonan của phân tử
pectin Chúng bao gồm pectin methylesterase (EC 3.1.1.11) và pectin acetylesterase
(EC 3.1.1.6), endopolygalacturonase (EC 3.2.1.15), exopolygalacturonase (EC
3.2.1.67),… Hoạt động của pectin methylesterase cần thiết để tạo ra pectin có độ
methyl ester thấp (pectate), nguồn cơ chất cho polygalacturonase và pectate lyase
Trong khi đó pectin lyase có thể sử dụng cơ chất có độ methyl ester bất kỳ
(Christensen et al., 2001)
2.2.2 Môi trường nuôi cấy
i Khái quát về nguyên liệu táo và cam
Táo ta và cam sành là hai loại quả chủ lực ở Việt Nam, đặc biệt là ở đồng bằng sông
Cửu Long (Lê Thanh Phong, 2004; Hà Văn Thuyết và Trần Quang ình, 2002) Táo
ta có tên khoa học là Ziziphus nummularia thuộc họ Rhamnaceae Đây là loài cây ăn
quả của vùng nhiệt đới, là loại cây được trồng khá phổ biến ở đồng bằng sông Cửu
Long Cây có thể lớn rất nhanh thậm chí trong các khu vực khô và cao tới 12 mét và
đạt tuổi thọ 25 năm
Táo là một trong những loại quả chứa rất nhiều chất dinh dưỡng quý giá và giúp chữa
rất nhiều bệnh nguy hiểm: giảm các bệnh đường ruột, hạ lượng cholesterol trong máu,
ngăn ngừa bệnh ung thư…
Cam sành có tên khoa học là Citrus grandis, là một giống cây ăn quả thuộc chi Cam
chanh, có nguồn gốc từ Việt Nam Quả cam sành rất dễ nhận ra nhờ lớp vỏ dầy, sần
sùi giống bề mặt mảnh sành, và thường có màu lục nhạt (khi chín có sắc cam), các
múi thịt có màu cam Đây là loại quả có giá trị dinh dưỡng cao, thành phần múi chứa
Trang 19từ 6÷12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40 ÷ 90mg/100 gam cam sành tươi, các axit
hữu cơ từ 0,4 ÷ 12% trong đó nhiều loại khoáng chất, dầu thơm có lợi cho sức khỏe
Táo và cam cũng giống như nhiều loại quả khác có rất nhiều pectin đặc biệt là phía
trong lõi (Joshi, 2006), nên được chọn làm cơ chất để nuôi cấy nấm mốc sinh tổng hợp
PME
ảng 2: Thành phần pectin của táo, cam và một số loại trái cây
ii Chuẩn bị môi trường nuôi cấy
Trong quá trình chuẩn bị môi trường, điều quan trọng nhất là tạo được độ ẩm thích
hợp Độ ẩm thích hợp cho nhiều vi sinh vật khi nuôi cấy trong môi trường cám là
60% Độ ẩm vượt quá 60% thường tạo điều kiện cho nhiều vi khuẩn phát triển, khi đó
dễ xảy ra nhiễm vi sinh vật lạ Nếu độ ẩm nhỏ hơn 60% (thường 45 ÷ 50%) thường
gây hiện tượng tạo nhiều bào tử ở nấm sợi, và như vậy enzyme thu sẽ giảm hoạt tính
rất mạnh
Sau khi chuẩn bị xong môi trường, tiến hành thanh trùng môi trường để tiêu diệt các
vi sinh vật nhiễm vào môi trường mà có thể ức chế sự phát triển của giống vi sinh vật
mà ta sẽ nuôi cấy Thông thường, môi trường sẽ được thanh trùng bằng hơi nước nóng
ở 121oC trong thời gian 15 ÷ 30 phút
Môi trường nuôi cấy sẽ được trải đều vào các khay và tiến hành trộn giống vi sinh vật
vào khối môi trường sao cho thật đều Thời gian nuôi cấy nấm sợi để thu nhận enzyme
vào khoảng 36 ÷ 60 giờ
(Schmitz, 2002; Nguyễn Đức Lượng, 2004)
2.2.3 Phương pháp nuôi cấy
Quá trình nuôi cấy nấm mốc Aspergillus niger sản xuất enzyme PME có thể được
thực hiện theo cả hai phương pháp nuôi cấy bề mặt với môi trường rắn và lên men
chìm Trong đó, phương pháp nuôi cấy bề mặt là phương pháp tạo điều kiện cho vi
sinh vật phát triển trên bề mặt môi trường hay trên bề mặt vật liệu rắn, xốp, ẩm Thông
thường, môi trường dạng rắn với nguyên liệu chín là bột cám mì, bã củ cải, bột bắp
nghiền, hạt thóc nẩy mầm, trấu và bổ sung thêm một số chất dinh dưỡng khác
Trang 20(amonium sulfate, amonium chloride, amonium phosphate) Phương pháp này phát
triển rất mạnh từ những năm 1970 đến nay Những ưu điểm cơ bản của phương pháp
nuôi cấy bề mặt:
- Dễ thực hiện, quy tr ình công nghệ đơn giản
- Lượng enzyme được tạo thành từ nuôi cấy bề mặt thường cao hơn rất nhiều so với
nuôi cấy chìm
- Sản phẩm enzyme thô sau khi thu nhận rất dễ sấy khô và dễ bảo quản
Quá trình phát triển của nấm mốc trong môi trường rắn khi nuôi cấy bằng phương
pháp bề mặt trải qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1:
Giai đoạn này kéo dài 10 ÷ 14 giờ kể từ thời gian bắt đầu nuôi cấy, lúc này bào tử bắt
đầu trương nở và hô hấp Ở giai đoạn này có xảy ra nhiều biến đổi:
- Nhiệt độ tăng rất chậm
- Sợi nấm bắt đầu hình thành và có màu trắng hoặc màu sữa
- Thành phần dinh dưỡng bắt đầu có sự thay đổi
- Khối môi trường còn rời rạc
- Enzyme mới bắt đầu được hình thành
- Các chất dinh dưỡng bắt đầu giảm nhanh, do sự đồng hóa mạnh của nấm sợi
- Các enzyme được hình thành và enzyme nào có cơ chất cảm ứng trội hơn sẽ được
tạo ra nhiều hơn
- Lượng oxy trong không khí giảm và CO2 sẽ tăng dần, do đó trong giai đoạn này
cần phải được thông khí mạnh là tốt nhất
Giai đoạn 3:
Trang 21Giai đoạn này kéo dài khoảng 10 ÷ 12 giờ Lúc này nhiệt độ khối môi trường sẽ giảm
dần, cường độ hô hấp giảm dần một cách rõ rệt Màu sắc của sợi nấm bắt đầu thay đổi
và thể hiện màu đặc trưng (Nguyễn Đức Lượng, 2004)
2.2.4 Thu nhận enzyme
Kết thúc quá trình nuôi cấy ta thu nhận được chế phẩm enzyme Chế phẩm này được
gọi là chế phẩm thô vì ngoài thành phần enzyme ra chúng còn chứa sinh khối vi sinh
vật, thành phần môi trường và nước có trong môi trường
Tùy theo mục đích sử dụng, có thể dùng chế phẩm thô này ngay không cần qua quá
trình tinh sạch Trong những trường hợp cần thiết khác, ta phải tiến hành tinh sạch
enzyme Để thu nhận được chế phẩm enzyme PME tinh khiết thì chế phẩm enzyme
thô phải được trích ly bằng phương pháp kết tủa nhờ dung môi hữu cơ hay muối trung
tính
Muối trung tính như amonium sulfate, natri chloride thường được sử dụng để kết tủa
enzyme vì độ hoà tan của muối rất cao, sự kết tủa không phụ thuộc vào nhiệt độ,
không làm biến tính enzyme, enzyme thu được có hoạt tính cao hơn so với các
enzyme thu được bằng phương pháp sử dụng dung môi hữu cơ Tuy nhiên, khi sử
dụng muối trung tính cũng có nhược điểm là lượng dung dịch dùng gấp 5 ÷ 6 lần dịch
chiết enzyme và không thể tái thu hồi được dung môi
Để đảm bảo chế phẩm enzyme thu được không mất hoạt tính nhanh, người ta thường
sấy khô chế phẩm enzyme đến một độ ẩm thấp Độ ẩm cần đạt sau khi kết thúc quá
trình sấy thường nhỏ hơn 10% Để đảm bảo hoạt tính enzyme không thay đổi, ta
thường sấy enzyme ở nhiệt độ 38 ÷ 40oC Ở nhiệt độ này phần lớn enzyme ít bị biến
đổi Trong trường hợp sấy ở nhiệt độ cao quá 40oC, enzyme rất dễ bị biến tính
(Nguyễn Đức Lượng, 2004)
2.3.1 Môi trường nuôi cấy
Thành phần môi trường là yếu tố cơ bản nhất quyết định khả năng sinh PME cũng như
các enzyme khác từ vi sinh vật, trong đó thành phần pectin giữ vai trò rất quan trọng
(Patil, 2006) Các phụ phẩm nông nghiệp như cám mì (Taragano et al., 1997), bã mía,
bã củ cải đường (Solis-Pereira et al., 1993), xác đậu cô ve (Boccas et al., 1994), vỏ
chanh (Larios et al., 1989) và bã táo (Hours et al., 1988; Joshi et al., 2006) có hàm
lượng pectin cao (15 25%) được biết đến như nguồn cơ chất thích hợp cho việc sản
xuất pectinase cũng như PME nguồn gốc vi sinh vật
Trang 222.3.2 Độ ẩm
Độ ẩm cao của môi trường ảnh hưởng đến độ thoáng khí trong khi độ ẩm thấp quá sẽ
kiềm hãm sự sinh trưởng và phát triển của sợi nấm cũng như khả năng tạo enzyme
ên cạnh việc ảnh hưởng đến độ thoáng khí, độ ẩm của môi trường còn liên quan đến
sự kết dính, từ đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm sợi cũng như
khả năng tạo enzyme
Trong điều kiện sản xuất, độ ẩm ban đầu tối thích của môi trường là 58 ÷ 60% và phải
giữ cho độ ẩm của môi trường ổn định trong quá trình nuôi Độ ẩm vượt quá 70% làm
giảm độ thoáng khí, còn độ ẩm thấp hơn 50 55% thì kiềm hãm sự sinh trưởng và
phát triển của vi sinh vật cũng như tạo enzyme (Ashok et al., 2000)
Khi nuôi cấy trong điều kiện không được vô trùng tuyệt đối thì độ ẩm môi trường sau
khi cấy giống không được vượt quá 60%, vì cao hơn sẽ dễ bị nhiễm khuẩn (Joshi et
al., 2006)
2.3.3 pH
Khi nuôi cấy bằng phương pháp bề mặt, do môi trường có dung dịch đệm cao và hàm
ẩm thấp nên pH môi trường thường ít thay đổi trong suốt thời gian nuôi cấy Tuy
nhiên, giá trị pH ban đầu của môi trường có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
của nấm mốc và sự tạo thành enzyme Khi pH môi trường dịch về phía acid hoặc phía
kiềm, sự tạo thành sinh khối không bị ảnh hưởng nhưng sự tạo thành enzyme
pectinase bị kiềm hãm pH tối thích của enzyme có nguồn gốc vi sinh vật trong
khoảng 4,5 ÷ 5,5 (Trần Xuân Ngạch, 2007) Mặc dù vậy, tùy thuộc vào đặc điểm từng
enzyme, loại cơ chất và chủng nấm mốc, giá trị pH tối thích cho hoạt động của
A.niger sinh tổng hợp PME là khác nhau Chính vì thế, cần thiết phải xác định điều
kiện pH ban đầu của môi trường nuôi cấy đến hiệu quả thu nhận enzyme mong muốn
2.3.4 Thời gian nuôi cấy
Thời gian lên men cũng ảnh hưởng đáng kể đến việc sản sinh enzyme cũng như hoạt
tính của enzyme Vi sinh vật cần thời gian đủ dài để phát triển và sản sinh enzyme
Tuy nhiên, khi thời gian ủ quá dài, môi trường cạn dần chất dinh dưỡng, vi sinh vật
phát triển kém và do đó hoạt tính enzyme sẽ giảm
Thời gian nuôi cấy để thu được lượng enzyme lớn thường được xác định bằng thực
nghiệm Sự tạo bào tử là hiện tượng không mong muốn vì thường làm giảm hoạt tính
enzyme Đối với nấm sợi Aspergillus niger, sự tạo enzyme cực đại thường kết thúc
khi nấm bắt đầu sinh bào tử đính (Nguyễn Đức Lượng, 2004) Nấm mốc Aspergillus
niger thường được nuôi cấy trong thời gian 48 đến 96 giờ cho quá trình sinh tổng hợp
PME (Smith, 2002; Joshi et al., 2006)
Trang 232.3.5 Nhiệt độ nuôi cấy
Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của
nấm sợi, kéo theo sự giảm hoạt lực của enzyme
Nhiệt độ nuôi cấy cũng là yếu tố quan trọng đối với sự sinh trưởng của vi sinh vật và
tổng hợp enzyme Nếu không tuân thủ đầy đủ chế độ nhiệt độ sẽ làm giảm hoạt lực
của các enzyme Nấm mốc Aspergillus niger phát triển thích hợp ở nhiệt độ 30oC
Nhiệt độ thấp hoặc cao hơn sẽ hạn chế sự sinh trưởng của nấm mốc, đến một mức tới
hạn nào đó sẽ ức chế hoàn toàn sự phát triển của chúng (Nguyễn Đức Lượng, 2004;
Joshi et al., 2006)
2.3.6 Nguồn khoáng và dinh dưỡng bổ sung
Vi sinh vật cũng như tất cả các cơ thể sống khác cần nitơ trong các quá trình sống để
xây dựng tế bào Tất cả các thành phần quan trọng của tế bào đều có chứa nitơ
(protein, acid nucleic, enzyme, …)
Trong tất cả các môi trường nuôi cấy cần thiết phải có các loại hợp chất nitơ mà vi
sinh vật có thể đồng hóa được Việc chọn nguồn nitơ là rất cần để đảm bảo được hiệu
suất cao và có lợi về mặt kinh tế trong sản xuất vi sinh vật Các nguồn nitơ dùng trong
công nghiệp lên men thường là các hợp chất nitơ hữu cơ và vô cơ (Lương Đức Phẩm,
1998)
Các nguyên tố đa, vi lượng có ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng và tổng hợp enzyme của
vi sinh vật Phospho cần để tổng hợp các hợp phần quan trọng của sinh chất và nhiều
coenzyme, đồng thời để phosphoryl hóa glucid trong quá trình oxy hóa sinh học
Phospho ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh sản của nấm sợi và các vi sinh vật khác
Cation Mg2+ có ảnh hưởng đến độ bền nhiệt của enzyme MgSO4 sẽ có ảnh hưởng xấu
đến sự tổng hợp enzyme bởi nấm sợi Lưu huỳnh kích thích tạo enzyme (Lưu huỳnh
có trong thành phần các acid amin quan trọng như methionine, cystein) Ngoài ra,
calcium, mangan, corban, … cũng ảnh hưởng đến sự tổng hợp enzyme (Nguyễn Đức
Lượng, 2004)
Những hợp chất khoáng của môi trường có nhiều ý nghĩa sinh lý khác nhau Một trong
những tính chất của chúng là làm thay đổi trạng thái hóa keo của tế bào chất Dưới tác
dụng của những muối vô cơ, lớp bề mặt tế bào không ngừng thay đổi và dẫn đến làm
thay đổi tốc độ các phản ứng enzyme trong quá trình trao đổi chất (Lương Đức Phẩm,
1998)
Theo nhiều tác giả, các ion K+
, Na+, Ca2+ có ảnh hưởng tới hiệu quả tác dụng của PME, Kretovits và Iarovenko (1982) thừa nhận rằng muối Ca2+ và Mg2+ nâng cao hoạt
độ của enzyme Tuy nhiên, KCl, HCl, HgCl2, H2O2 không có tác dụng tới hoạt độ
PME trong cam trong khi acid ascorbic, NaHSO3 với nồng độ thấp có khả năng nâng
Trang 24cao hoạt độ của enzyme này Nghiên cứu của Hossam (2005) đã đưa ra kết luận
EDTA, PbCl2, HgCl2 và IAA là nhân tố ức chế khả năng lên men của Aspergillus
repens, làm giảm hoạt tính PME
PME đã được phân lập bằng việc lên men các dòng Aspergillus (Polizeli, 1991;
Solís-Pereira, 1993), đặc biệt là A.niger đã được khảo sát khá chi tiết với cả hai phương thức
lên men nổi và lên men chìm (Joshi et al., 2006) trên nhiều loại cơ chất khác nhau
(Schmitz, 2002; Joshi et al., 2006) Nhìn chung, đặc điểm thành phần cơ chất giàu
pectin và điều kiện môi trường là những yếu tố chi phối mạnh đến hiệu quả lên men
sinh PME từ vi sinh vật
Theo nghiên cứu của Joshi et al., (2006) về việc sinh pectin methylesterase (PME) từ
Aspergillus niger trên cơ chất bã táo đã cho thấy, nhiệt độ ủ 25oC, điều kiện pH phản
ứng 4,0 và thời gian ủ là 96 giờ là điều kiện tối ưu cho việc lên men sinh PME ở cả
môi trường rắn (SSF) và môi trường lỏng (SmF) Ngoài ra, vai trò của các nguồn nitơ
bổ sung như (NH4)2SO4, thành phần khoáng cũng như tỷ lệ pha loãng của cơ chất :
nước nhằm tạo độ ẩm cho quá trình lên men sinh PME thích hợp cũng được xác định
Theo đó, t lệ pha loãng 1: 3 (độ ẩm ban đầu của cơ chất khoảng 4%) là thông số tối
ưu cho quá trình lên men rắn (SSF) (Joshi et al., 2006)
Theo Trần Xuân Ngạch (2007), PME nấm mốc có nhiệt độ hoạt động tối thích trong
khoảng từ 30 ÷ 45oC và bị vô hoạt ở 55 62oC và được hoạt hóa bởi Ca2+
và Mg2+ Phương pháp trích ly PME cũng được nghiên cứu (Contreras – Esquivel, 1999), kết
quả cho thấy dung dịch NaCl 0,5% và 0,1% được sử dụng trích ly PME từ vỏ quả
chanh (Mexico lime) và vỏ quả lê (prickly pear) cho hiệu quả trích ly cao nhất
Sarvamangala và cộng sự (2006) đã nuôi cấy nấm mốc Aspergillus niger với cơ chất
là hạt của hoa hướng dương và kết quả cho thấy rằng, với 4% glucose bổ sung trong
quá trình lên men ở trạng thái rắn, 6% succrose quá trình lên men chìm và 0,3%
amonium sulphate cho cả 2 quá trình lên men thì kết quả cho thấy hoạt tính của
pectinase thu được trên môi trường rắn cao hơn gần gấp 2 lần so với pectinase thu
được trên môi trường lỏng (45,9U/g và 18,9U/g)
Vỏ cam cũng được sử dụng làm cơ chất cho quá trình lên men sản xuất pectin lyase từ
Rhizopus oryzea với những điều kiện thích hợp (bổ sung NH4NO3, NH4Cl, nhiệt độ
đạt 50oC và pH 7,5 với sự có mặt của các chất khoáng như Ca2+, Mg2+, Na+ và K+)
(Hossam, 2005) Kết quả thu được pectin lyase với hoạt tính là 297 U/mL Đồng thời,
nghiên cứu này cũng cho thấy ion Zn2+, Co2+, Mn2+, Hg2+ là nhân tố ức chế khả năng
sinh pectin lyase của Rhizopus oryzea
Trang 25Tóm lại, quá trình lên men sinh enzyme PME phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau, vì
vậy cần phải được khảo sát một cách cẩn thận cho từng chủng nấm mốc sử dụng, từng
loại cơ chất cũng như các điều kiện của môi trường lên men
Trang 26CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PH P NGHIÊN CỨU
3.1.1 Địa điểm, thời gian
Địa điểm: Luận văn được thực hiện tại phòng thí nghiệm ộ môn Công nghệ Thực
phẩm, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Thời gian: từ 9/8/2010 đến 06/12/2010
3.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Nấm sợi Aspergillus niger So2 từ cam soàn đã được phân lập và tuyển chọn từ phù
hợp cho quá trình nuôi cấy sinh pectin methylesterase (Tran et al., 2010 a)
Môi trường lên men sinh PME: lên men bề mặt trên cơ chất bã táo ta và vỏ cam với tỷ
lệ bã táo : vỏ cam là 7 : 3 và độ ẩm điều ch nh đến 60% (Tran et al., 2010 b)
Pectin táo DE = 75% (Sigma)
Acid citric, Na2HPO4 (Merck)
Trang 27 Ammonium sulfate ((NH4)2SO4 )
Ammonium dihydrogen phosphate (NH4H2PO4 )
Urea (P.A)
Peptone
Và một số hóa chất khác sử dụng trong phân tích
3.1.4 Môi trường nuôi cấy
i Cơ chất
ã táo: bã táo ta (Ziziphus nummularia) được tách loại nước bằng cơ học và được sấy
ở nhiệt độ (60 1)0C đến khi độ ẩm còn (4 1)% ã táo khô được nghiền thành bột
và đóng trong các bao PE nhỏ (Joshi et al., 2006) hay để trong keo thủy tinh cách ẩm
Vỏ cam: (Citrus grandis): lấy phần vỏ trắng bên trong, rửa sạch, cắt nhỏ khoảng 1mm
(chú ý luôn duy trì độ ẩm vỏ cam 75%)
Vỏ bưởi: giống Năm roi (tên khoa học Citrus maxima) cũng được xử lý loại phần vỏ
xanh, sau khi cắt nhỏ sẽ mang đi sấy ở nhiệt độ khoảng 600
C đến độ ẩm bằng với độ
ẩm bã táo
ii Chủng vi sinh vật
Nấm mốc A.niger So2 được chọn lựa ra từ nhiều chủng khác nhau, đã phân lập và
được nuôi cấy trên môi trường rắn, chọn chủng sinh PME có hoạt tính cao nhất Cho 5
mL dung dịch NaCl 0,025M vào ống nghiệm A.niger đã được nuôi cấy sau 4 ngày để
thu nhận dung dịch có chứa bào tử nấm A.niger Đo độ truyền quang %T của
Aspergillus niger ở bước sóng 530 nm để xác định mật số trước khi pha loãng với
nước cất đến mật số mong muốn (105
bào tử/mL) Lấy 2 mL huyền phù nấm mốc cho vào các bình tam giác có sẵn cơ chất
3.2.1 Phương pháp phân tích và đo đạc các chỉ tiêu
Các ch tiêu cơ bản được phân tích và đo đạc theo phương pháp tổng hợp ở bảng 3
Trang 28ảng 3: Phương pháp phân tích và đo đạc các ch tiêu trong nghiên cứu
Hoạt tính của PME (U/mL) Phương pháp chuẩn độ điện thế acid – baz ở pH 4,5 và
nhiệt độ 30 0 C ±1 (Crelier et al., 1995, trích dẫn bởi Duvetter, 2007)
Số liệu được xử lý bằng việc sử dụng phần mềm Statgraphic Plus 4.0 Sử dụng
phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) để đưa ra kết luận về sự sai biệt giữa
các giá trị trung bình các nghiệm thức Các số trung bình được so sánh bằng phương
pháp LSD
3.3.1 Thông số cố định
Một số thông số cơ bản của quá trình lên men được sử dụng dựa trên các nghiên cứu
trước đây như: khối lượng cơ chất sử dụng (5 g/bình lên men 250 mL, với t lệ 3,5 g
táo - 1,5 g vỏ cam), mật số nấm mốc được cho vào môi trường lên men (2 mL huyền
phù A.niger, 105 bào tử/mL), được nuôi cấy 96 giờ ở nhiệt độ 370C trong môi trường
60% ẩm (pH của môi trường là 3,5) và t lệ dung dịch đệm sử dụng để trích ly PME
(20 mL dung dịch đệm citrate - phosphate pH 4,5 trên 5 g cơ chất)
3.3.2 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của thành phần khoáng bổ sung đến khả
năng sinh pectin methylesterase từ Aspergillus niger
i Mục đích
Tìm ra loại khoáng và tỷ lệ bổ sung thích hợp cho quá trình sinh tổng hợp PME từ
nấm mốc A.niger đạt hoạt tính cao nhất