Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuvà chỉ tuân theo pháp luật được xác lập ðiều 69; bị cáo được quyền bào chữa hoặc mượn luật sư ðiều 67; khi xét xử việc hình
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ðẦU 3
CHƯƠNG 1 4
KHÁI QUÁT VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ VẤN ðỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 4
1 KHÁI QUÁT VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP VIỆT NAM 4
1.1 Khái niệm cải cách tư pháp 4
1.2 Sự cấp thiết của cải cách tư pháp hình sự 5
1.3 Quá trình cải cách hệ thống cơ quan tư pháp ở Việt Nam 6
1.3.1 Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì trước Hiến pháp năm 1946 6
1.3.2 Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì 1946 - 1960 7
1.3.3 Hệ thống có quan tư pháp thời kì 1960 - 1980 9
1.3.4 Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì 1980 -1992 12
1.3.5 Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì 1992 ñến nay 14
1.4 Nhiệm vụ cải cách tư pháp hiện nay 15
2 TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 16
2.1 Vai trò, nhiệm vụ của tố tụng hình sự trong ñời sống 16
2.2 Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam hiện nay 17
CHƯƠNG 2 19
MỘT SỐ VẤN ðỀ CẢI CÁCH CỤ THỂ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 19
1 ðỔI MỚI CÔNG TÁC XÉT XỬ 19
1.1 Những ñòi hỏi của việc cải cách tổ chức và hoạt ñộng của Toà án 19
1.1.1 Tổ chức bộ máy và hoạt ñộng của Toà án hiện nay 19
1.1.2 Mô hình tổ chức và hoạt ñộng của Toà án theo tinh thần cải cách tư pháp 20
1.1.2.1 ðối với Toà án sơ thẩm khu vực 20
1.1.2.2 ðối với Toà án phúc thẩm 22
1.1.2.3 ðối với Toà án thượng thẩm 23
1.1.2.4 ðối với Toà án nhân dân tối cao 23
1.2 ðổi mới hoạt ñộng xét xử theo hướng tranh tụng 27
1.2.1 Các hình thức tố tụng tại phiên toà 27
1.2.2 Tố tụng tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp 28
1.2.3 Một số kết quả, hạn chế trong ñổi mới tranh tụng hình sự 29
1.2.4 Giải pháp cụ thể 33
2 VIỆN KIỂM SÁT TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP 34
2.1 Những quy ñịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự về Cơ quan ñiều tra và Viện kiểm sát 34
2.1.1 Về Cơ quan ñiều tra 34
2.1.2 Về Viện kiểm sát 36
2.2 Khái quát chung về quyền công tố (buộc tội) của Viện kiểm sát 37
2.3 Các cơ quan ñiều tra tội phạm phải thuộc Viện Kiểm sát 38
2.4 Hiện trạng thực hiện chức năng công tố của Viện kiểm sát 40
2.5 Viện công tố trong cải cách tư pháp 43
3 HOẠT ðỘNG CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA 46
3.1 Khái quát một số ñiểm về người bào chữa 46
3.2 Một số ñiểm ñược và chưa ñược trong Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành về người bào chữa 47
3.2.1 Những quy ñịnh mới về người bào chữa thể hiện tinh thần cải cách tư pháp trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 47
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3.2.2 Thời ñiểm và thủ tục người bào chữa tham gia tố tụng 49
3.2.3 Vị thế của người bào chữa tại phiên toà 51
3.3 Hướng hoàn thiện 53
4 NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG ðỂ TĂNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TỐ TỤNG HÌNH SỰ 55
4.1 ðối với ðiều tra viên và Kiểm sát viên 55
4.2 ðối với Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 57
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI NÓI ðẦU
Với ñịnh hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp ñã trở thành vấn ñề thời sự cả về lí luận và thực tiễn bởi vai trò của tư pháp ñang ngày càng tăng cao ñối với xã hội Với sự ra ñời của Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp ñến năm 2020”, nó ñã khẳng ñịnh tầm quan trọng của công tác cải
cách tư pháp Tố tụng hình sự là một ngành luật ñang cần có nhiều sự quan tâm hơn nữa Vì thực tiễn ñã và ñang diễn ra nhiều sự việc mà ñòi hỏi cần phải ñược xem xét, nghiên cứu kĩ lưỡng hơn nữa các quy ñịnh của pháp luật ñể hoàn thiện chúng Mặt khác tố tụng hình sự nó liên quan rất lớn ñến tự do, tính mạng của một công dân, không thể vì những quy ñịnh không rõ ràng của các quy phạm tố tụng hình sự
mà dẫn ñến những hậu quả là bỏ sót, lọt tội phạm hoặc những bản án mà ñược xem
là oan, sai Từ những lí do trên, mà việc nghiên cứu, tìm hiểu ñề tài trở nên có ý nghĩa thiết thực
Mục tiêu nghiên cứu của ñề tài: Tìm hiểu các vấn ñề chung về cải cách tư pháp trong tố tụng hình sự, quá trình cải cách hệ thống tư pháp của nước ta Làm rõ những thành tựu và khó khăn của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan ñiều tra, Người bào chữa khi thực hiện các quy ñịnh của tố tụng hình sự nước ta trong chiến lược cải cách hiện nay Từ những khó khăn, vướng mắc ñó mà nêu ra các hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt ñộng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
Phạm vi nghiên cứu của ñề tài: Người viết chỉ dừng lại nghiên cứu cơ cấu
tổ chức, thẩm quyền của Tòa án, Viện kiểm sát (chỉ nói về chức năng công tố), Cơ quan ñiều tra và Người bào chữa (cụ thể chỉ nói về Luật sư)
Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, thực tiễn áp dụng luật, từ ñó ñưa ra các ý kiến chủ quan góp phần hoàn thiện pháp luật Việc nghiên cứu ñề tài cải cách tư pháp là một cố gắng nhằm góp phần làm rõ hơn
về nội dung công cuộc cải cách hiện nay của nước ta Nhưng với sự hiểu biết có hạn, năng lực trình bày còn non kém mà bài viết còn nhiều thiếu sót, vì vậy mà rất cần có sự hướng dẫn, chỉ dạy của thầy, cô và sự góp ý, xây dựng của các bạn
Cơ cấu của luận văn ñược chia thành hai chương: Chương 1: Khái quát về cải cách tư pháp và vấn ñề cải cách tư pháp trong tố tụng hình sự của Việt Nam; Chương 2: Một số cải cách cụ thể ñể hoàn thiện Bộ luật Tố tụng Hình sự Bao gồm các mục về Tòa án, Viện kiểm sát, Người bào chữa
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ VẤN ðỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1 KHÁI QUÁT VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP VIỆT NAM
1.1 Khái niệm cải cách tư pháp
Từ khi có Nhà nước của dân tộc Việt Nam (năm 1945), về mặt lập pháp chúng ta chưa có một khái niệm pháp lí nào trực tiếp nói về khái niệm “tư pháp”, cụ thể Hiến pháp năm 1946, ðiều 63 chỉ nói: “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà gồm có: Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án ñệ nhị cấp và các Toà án sơ cấp” Như vậy, khái niệm “tư pháp” ñược ñồng nghĩa với hoạt ñộng xét xử và hệ thống các cơ quan tư pháp chính là hệ thống các Toà án Như vậy, tư pháp là hoạt ñộng phân xử và phán xét tính ñúng ñắn và tính hợp pháp của các hành vi Chủ thể của tư pháp hình sự thực hiện chức năng: ñiều tra, truy tố, xét xử Tất nhiên, bên cạnh hoạt ñộng xét xử của Toà án, hoạt ñộng tư pháp còn bao gồm một số hoạt ñộng khác như công tố, ñiều tra tư pháp, giám sát tư pháp… nhưng các cơ quan thực hiện các hoạt ñộng này ñều là những bộ phận thuộc Toà án Trong những năm ñầu giành chính quyền, việc thực hiện quyền công tố cũng do Toà án thực hiện, mặc dù có sự phân công giữa Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội
Hiến pháp năm 1992, sửa ñổi bồ sung 2001 quy ñịnh: “Nhà nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và ñội ngũ trí thức Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Ở ñây quyền tư pháp có thể ñược hiểu trên hai bình diện (nghĩa rộng và nghĩa hẹp):
riêng, cũng như các hoạt ñộng áp dụng pháp luật của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật (Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Bộ tư pháp, Thanh tra,…) và của hệ thống bổ trợ tư pháp (Tổ chức Luật sư, Cơ quan Công chứng, Giám ñịnh,…)
- Theo nghĩa hẹp, quyền tư pháp là quyền xét xử của Toà án và ñược thực hiện bằng hoạt ñộng tố tụng về Hiến pháp, Hành chính, Dân sự, Kinh tế,… ñể giải quyết các xung ñột của các mối quan hệ xã hội và ñưa ra phán quyết nhân danh công lí
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Về mặt lập pháp, từ trước ựến nay trong tất cả các quy phạm pháp luật của nước ta vẫn chưa có một văn bản pháp luật thực ựịnh nào của Nhà nước Việt Nam
mà trong ựó nhà làm luật chắnh thức ghi nhận ựịnh nghĩa pháp lắ của khái niệm Ộcải cách tư phápỢ Dựa vào khái niệm Ộtư phápỢ ở trên, có thể hiểu khái niệm Ộcải cách
tư phápỢ cũng trên hai bình diện rộng và hẹp:
án, hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật và hệ thống các cơ quan bổ trợ tư pháp, cũng như hoạt ựộng thực tiễn và ựội ngũ cán bộ của ba hệ thống cơ quan này, ựồng thời hoàn thiện các quy ựịnh của pháp luật có liên quan
thực tiễn của Toà án và ựội ngũ Thẩm phán, ựồng thời hoàn thiện các quy ựịnh pháp luật liên quan
Dựa vào tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chắnh trị, có thể hiểu cải cách tư pháp là việc ựổi mới toàn bộ hệ thống Toà án, hệ thống các cơ quan bảo
vệ pháp luật và hệ thống các cơ quan bổ trợ tư pháp, cũng như hoạt ựộng thực tiễn
và ựội ngũ cán bộ của ba hệ thống cơ quan này, ựồng thời hoàn thiện các quy ựịnh của pháp luật có liên quan Như vậy, thống nhất hiểu các khái niệm Ộtư phápỢ, Ộcải cách tư phápỢ theo nghĩa rộng cho phù hợp với Nghị quyết trên
1.2 Sự cấp thiết của cải cách tư pháp hình sự
Mặc dù công tác cải cách tư pháp ựã ựược triển khai thực hiện trong nhiều năm qua, nhưng vẫn còn nhiều vấn ựề ựòi hỏi viêc cải cách cần phải ựược ựẩy mạnh hơn nữa, cụ thể như:
- Yêu cầu thực tế của xã hội: Chúng ta ựang trong tiến trình hội nhập với thế giới, do ựó, hoạt ựộng pháp luật của chúng ta cũng cần phải có những Ộựổi mớiỢ sao cho bắt kịp với nhịp ựộ phát triển chung của toàn cầu Vì hệ thống pháp luật của Việt Nam còn lạc hậu so với thế giới Bên cạnh ựó, tình hình thực tế của xã hội trong nước cũng ựang ựòi hỏi pháp luật phải ựi trước hoặc ắt cũng ngang bằng với
sự phát triển của xã hội đã và ựang xuất hiện nhiều loại tội phạm mới nguy hiểm cho xã hội, với tắnh chất và mức ựộ nguy hiểm ngày càng cao, như: tổ chức phạm tội, tội phạm trong các lĩnh vực công nghệ thông tin,Ầ Nhưng thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự của chúng ta còn chưa ựược hoàn chỉnh, cụ thể là trong quy ựịnh của pháp luật tố tụng hình sự, dẫn ựến hoạt ựộng của các cơ quan tư pháp kém hiệu quả Mặc dù ựã có giảm sau khi chúng ta cải cách tư pháp nhưng vẫn còn tình trạng bị oan, sai trong tố tụng hình sự Vì thế, cải cách tư pháp hình sự là một việc làm cần ựược làm ngay và không ngừng phải tự hoàn thiện ựường lối cải cách
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Vấn ñề còn tồn tại trong tiến trình cải cách tư pháp:
+ Về hoạt ñộng của Toà án: 1/ Vấn ñề xét xử của Toà án vẫn nghiêng về
“xét hỏi” hơn “tranh tụng”, mà ñòi hỏi chung hiện nay là cần ñề cao tranh tụng hơn nữa 2/ ðội ngũ thẩm phán theo ñánh giá chung vẫn còn yếu và thiếu 3/ Sự ñộc lập của Tòa án chưa ñược xem trọng
+ Về hoạt ñộng của Viện kiểm sát và Cơ quan ñiều tra: 1/ Thực tế Viện kiểm sát ñang “quá tải” khi ñồng thời thực hiện hai chức năng công tố và kiểm sát
tư pháp 2/ Còn nhiều ñiều bất cập giữa Viện kiểm sát và Cơ quan ñiều tra 3/ Công tác ñiều tra chưa ñược quan tâm ñúng mức 4/ Năng lực của ðiều tra viên và Kiểm sát viên chưa ñáp ứng ñược yêu cầu của cải cách tư pháp
+ Về hoạt ñộng của người bào chữa: 1/ Hoạt ñộng của người bào chữa còn gặp nhìều khó khăn, cản trở 2/ Số lượng và chất lượng người bào chữa thì không nhiều và chưa cao
1.3 Quá trình cải cách hệ thống cơ quan tư pháp ở Việt Nam
Việc phân kì phát triển của hệ thống cơ quan tư pháp Việt Nam ñược dựa trên tiêu chí cơ bản là sự ra ñời của các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 1992 sửa ñổi
1.3.1 Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì trước Hiến pháp năm 1946
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, các cơ quan tư pháp ñầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ñã ñược thành lập, bao gồm: Toà án quân
sự, toà án ñặc biệt, toà án binh và toà án thường (toà án tư pháp) Toà án quân sự
ñược thành lập theo Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1995 và theo Sắc lệnh số 77C
ngày 18/12/1945, Toà án quân sự ñược tổ chức theo mô hình một cấp, có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ñồng thời chung thẩm tất cả những người phạm vào việc có phương hại ñến nền ñộc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Việc xét xử các
vụ án hình sự thường như xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của công dân và trật tự an toàn xã hội và các vụ án dân sự ñược tạm thời giao cho ban
tư pháp thuộc Uỷ ban hành chính cấp huyện và cấp tỉnh ñảm nhiệm
Theo Sắc lệnh số 163/SL ngày 23/8/1946, Toà án binh lâm thời ñã ñược thành lập tại Hà Nội, có thẩm quyền xét xử các quân nhân hoặc những người làm việc tại cơ quan chuyên môn của quân ñội phạm pháp hoặc phạm pháp có ảnh hưởng ñến quân ñội ðồng thời, các toà án binh tại mặt trận cũng ñược thành lập ñể kịp thời xét xử các vụ việc xảy ra ở các ñiểm ñang tác chiến nhằm ñáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ cách mạng, củng cố sức mạnh của quân ñội
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Theo Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945, tại Hà Nội toà án ñặc biệt ñã
ñược thành lập ñể xét xử những người là nhân viên của uỷ ban hành chính các cấp
và của các cơ quan Chính phủ phạm tội, do ban thanh tra ñặc biệt truy tố
Các toà án tư pháp ñược thành lập ở các cấp theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946: Ở mỗi quận (phủ, huyện, châu) có một toà án sơ cấp; ở mỗi tỉnh và các thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn) có một toà án ñệ nhị cấp; ở mỗi
kì có một toà thượng thẩm ñặt tại Hà Nội, Huế (Thuận Hoá) và Sài Gòn Toà án sơ cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, sơ chung thẩm các vụ án hình sự, dân sự và thương sự Toà án ñệ nhị cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, sơ chung thẩm các vụ
án hình sự, dân sự và thương sự; khi xét xử các vụ án dân sự và thương sự, chánh án xét xử một mình nhưng khi xét xử các việc tiểu hình phải có thêm hai phụ thẩm nhân dân và khi xét xử các việc ñại hình toà ñệ nhị cấp có 5 người cùng ngồi xét xử
và ñều có quyền quyết nghị Toà thượng thẩm có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án của toà án sơ cấp và toà án ñệ nhị cấp bị kháng cáo
Ngoài ra, theo ðiều 75 Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945, các ban tư pháp xã
ñã ñược thành lập bao gồm: Chủ tịch, phó chủ tịch và thư ký của uỷ ban hành chính
xã, ñể thực hiện nhiệm vụ tư pháp ở cơ sở Sau ñó, theo Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/7/1946, tổ chức tư pháp công an ñã ñược thành lập ñể ñiều tra các vụ phạm pháp
ñại hình, tiểu hình và vi cảnh, thu thập tang chứng và bắt người phạm pháp giao cho
ñệ nhị cấp có thể làm việc ở toà thượng thẩm Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm
thẩm phán toà sơ cấp và Chủ tịch nước bổ nhiệm thẩm phán toà ñệ nhị cấp
Như vậy, hệ thống cơ quan tư pháp nước ta ñã ñược thành lập rất sớm Hệ thống các cơ quan tư pháp bước ñầu ñã có cơ cấu bao gồm toà án, công tố, ñiều tra
và cơ quan tư pháp ñịa phương, trong ñó các toà án có vị trí và vai trò ñặc biệt quan trọng
1.3.2 Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì 1946 - 1960
Theo quy ñịnh của Hiến pháp năm 1946, hệ thống cơ quan tư pháp nước ta gồm có: Toà án tối cao; các toà án phúc thẩm; các toà án ñệ nhị cấp và sơ cấp (ðiều 63) Một số nguyên tắc cơ bản thể hiện tính dân chủ, tiến bộ của cơ quan tư pháp ñã
ñược xác lập như: Nguyên tắc xét xử công khai (ðiều 67); thẩm phán xét xử ñộc lập
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
và chỉ tuân theo pháp luật được xác lập (ðiều 69); bị cáo được quyền bào chữa hoặc mượn luật sư (ðiều 67); khi xét xử việc hình phải cĩ phụ thẩm nhân dân tham gia ý kiến nếu là tiểu hình hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại hình (ðiều 65); quốc dân thiểu số cĩ quyền dùng tiếng nĩi của mình trước tồ án… Do điều kiện chiến tranh nên hệ thống các tồ án trong thời kì này chưa được thiết lập theo
đúng quy định của Hiến pháp năm 1946, cụ thể là chỉ cĩ tồ án sơ cấp và tồ án đệ
nhị cấp được thành lập (ở hầu hết các địa phương trên miền Bắc và miền Trung), cịn Tồ án tối cao chưa được thành lập và tồ án phúc thẩm được thành lập nhưng sau đĩ, theo Nghị định số 05 ngày 1/1/1947 đã tạm đình chỉ và giải thể
Do yêu cầu củng cố sức mạnh của quân đội trong hồn cảnh cuộc kháng chiến tồn quốc, Tồ án quân sự và tồ án binh được củng cố và mở rộng để kịp thời xét xử các tội phạm trong quân đội và trừng trị những người xâm hại đến sức chiến đấu của quân đội Hệ thống tồ án binh trong thời kì này bao gồm: Tồ án binh mặt trận, tồ án binh khu, Tồ án binh tối cao và Tồ án khu trung ương Tồ
án binh mặt trận được thành lập từ cấp trung đồn trở lên, cĩ thẩm quyền xét xử sơ, chung thẩm những người phạm tội phản quốc, gián điệp hoặc cướp của, nhũng nhiễu nhân dân ở các điểm đang tác chiến; tồ án binh khu cĩ thẩm quyền xét xử những quân nhân phạm vào một hay nhiều tội định ở hình luật chung, một hay nhiều tội cĩ tính cách nhà binh (ðiều 67 Sắc lệnh 163/SL); Tồ án binh tối cao cĩ thẩm quyền xét xử những quân nhân từ cấp trung đồn trở lên và các quân nhân thuộc
cơ quan trung ương phạm vào các tội đã được quy định ở hình luật chung và những tội cĩ tính cách nhà binh (ðiều 67 Sắc lệnh số 163/SL) và Tồ án khu trung
ương tại Bộ quốc phịng, cĩ thẩm quyền xét xử các nhân viên thuộc các cơ quan của
Bộ quốc phịng và Bộ tổng chỉ huy, kể cả trung đồn trưởng trở lên phạm tội trong
địa bàn khu trung ương Một đặc điểm đáng lưu ý trong thời kì này là tồ án binh cĩ
nhiều chức năng khác nhau như xét xử, điều tra, cơng tố, tuyên truyền giáo dục pháp luật và quản lí phạm nhân
Ngày 22/5/1950, Sắc lệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã được ban hành Từ đây, tồ án sơ cấp được đổi thành tồ án nhân dân huyện; tồ án đệ nhị cấp được đổi thành tồ án nhân dân tỉnh; hội đồng phúc án
được đổi thành tồ án phúc thẩm và phụ thẩm nhân dân được gọi là hội thẩm nhân
dân; hội thẩm nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra với nhiệm kì là một năm, cĩ quyền biểu quyết và quyền tài phán như thẩm phán Sắc lệnh số 85/SL cịn quy định về việc thành lập hội đồng hồ giải ở cấp huyện và mở rộng thẩm quyền cho ban tư pháp xã đối với việc phạt vi cảnh và giải quyết một số việc ít quan trọng
về mặt trị an Những cải cách này cĩ ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng dân
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chủ, làm cho cơ quan tư pháp gần dân, hơn và trở thành cơng cụ quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng, phục vụ lợi ích của Nhà nước và nhân dân
Các cơ quan điều tra cũng đã cĩ sự thay đổi đáng kể Theo Sắc lệnh số 141/SL ngày 16/12/1953, Nha cơng an Việt Nam được đổi thành Thứ bộ cơng an và
hệ thống cơ quan điều tra của Thứ bộ cơng an được thành lập gồm cĩ: Vụ chấp pháp và lao cải (ở trung ương); ban chấp pháp (ở các tỉnh, thành phố) và phịng chấp pháp (ở các liên khu)
Một trong những cải cách quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của các cơ quan tư pháp Việt Nam là vào tháng 4/1958, tại kì họp thứ 8 của Quốc hội (khố I) đã thơng qua Nghị quyết về việc thành lập Tồ án nhân dân tối cao và Viện cơng tố nhân dân trung ương Từ đây, hệ thống tồ án nhân dân và viện cơng tố tách khỏi Bộ tư pháp và chịu sự quản lí của Hội đồng Chính phủ Những cải cách này
được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959
1.3.3 Hệ thống cĩ quan tư pháp thời kì 1960 - 1980
Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, tổ chức bộ máy nhà nước ta đã cĩ những thay đổi căn bản, trong đĩ tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp được quy
định tại Chương VIII của Hiến pháp Các cơ quan tịa án nhân dân và viện kiểm sát
nhân dân đã hình thành một hệ thống thống nhất từ trung ương xuống địa phương và khơng trực thuộc Hội đồng Chính phủ nữa mà trực thuộc Quốc hội
và hội đồng nhân dân cùng cấp
Hệ thống tồ án nhân dân bao gồm: Tồ án nhân dân tối cao; các tồ án nhân dân địa phương (cấp tỉnh thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương và tồ án khu tự trị) và các tồ án quân sự (Tồ án quân sự trung ương và các Tồ án quân sự quân khu, quân binh chủng, sư đồn trực thuộc Bộ quốc phịng và tương đương) Ngồi ra, theo
ðiều 97 Hiến pháp năm 1959, trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt,
Quốc hội cĩ thể quyết định thành lập tồ án đặc biệt Hệ thống tồ án nhân dân
được tổ chức theo nguyên tắc hai cấp xét xử; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của tồ án nhân dân thời kì 1946-1960 đã được kế thừa và phát triển ở mức cao hơn,
cụ thể là: Khi xét xử, tồ án nhân dân cĩ quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (ðiều 100 Hiến pháp năm 1959); việc xét xử của tồ án nhân dân cĩ hội thẩm nhân dân tham gia… Khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán (ðiều 99 Hiến pháp năm 1959); tồ án nhân dân xét xử cơng khai; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo (ðiều 101 Hiến pháp năm 1959); tồ án xét xử theo nguyên tắc mọi cơng dân đều bình đẳng trước pháp luật (ðiều 3 Luật tổ chức tịa án nhân dân năm 1960)…
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trên cơ sở các quy ñịnh của Hiến pháp 1959, Luật tổ chức toà án nhân dân
ñã ñược ban hành ngày 14/7/1960 và ngày 23/3/1961, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
ñã ban hành Pháp lệnh quy ñịnh cụ thể về tổ chức của toà án nhân dân các cấp
Theo ñó, Toà án nhân dân tối cao có cơ cấu tổ chức gồm: Uỷ ban thẩm phán; các toà chuyên trách (toà hình sự, toà dân sự, toà phúc thẩm); hội ñồng toàn thể thẩm phán và bộ máy giúp việc (ðiều 1 Pháp lệnh) Chánh án Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và bãi miễn với nhiệm kì 5 năm; các phó chánh án, thẩm phán, thẩm phán dự khuyết và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao do uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi nhiệm Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét
xử cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, có thẩm quyền: Xét xử sơ thẩm các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao và những vụ án của tòa án nhân dân cấp dưới mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên ñể xử; phúc thẩm những bản
án, quyết ñịnh của tòa án nhân dân cấp dưới bị kháng án hoặc bị kháng nghị; giám
ñốc thẩm việc xét xử của các tòa án nhân dân ñịa phương, Toà án quân sự và toà án ñặc biệt; Hội ñồng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ duyệt
lại các bản án tử hình của tòa án nhân dân các cấp trước khi các bản ñó ñược ñem thi hành Cùng với chức năng xét xử, Toà án nhân dân tối cao còn có các chức năng khác: Có quyền trình các dự án luật, pháp lệnh về những vấn ñề thuộc phạm vi công tác chuyên môn của mình; quản lí các tòa án nhân dân ñịa phương về mặt
tổ chức; hướng dẫn các tòa án nhân dân cấp dưới áp dụng pháp luật; huấn luyện cán bộ toà án; nghiên cứu khoa học và tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân
Toà án nhân dân cấp tỉnh có cơ cấu tổ chức gồm: Chánh án, các phó chánh
án các thẩm phán (do hội ñồng nhân cùng cấp bầu ra và bãi miễn với nhiệm kì 4 năm) và bộ máy giúp việc Tòa án nhân dân cấp tỉnh chỉ có hội ñồng thẩm phán, không có các toà chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự và dân sự thuộc thẩm quyền và những vụ án thuộc thẩm quyền của cấp dưới mà tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên ñể xét xử; phúc thẩm những bản án và quyết ñịnh của cấp dưới bị kháng án hoặc bị kháng nghị, tòa án nhân dân cấp tỉnh còn ñược giao nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp ñịa phương, huấn luyện thư kí toà án ñịa phương, cán bộ tư pháp thị trấn, xã và tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân (ðiều 9 Pháp lệnh) Toà án nhân dân cấp huyện có cơ cấu tổ chức gồm: Chánh án, các thẩm phán và bộ máy giúp việc; trong trường hợp cần thiết có thể có phó chánh án Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện là xét
xử các vụ án dân sự và những vụ án hình sự có hình phạt tù từ 2 năm tù trở xuống; hoà giải các việc tranh chấp về dân sự và phân xử những việc hình nhỏ mà theo luật
ñịnh không phải mở phiên toà Toà án nhân dân cấp huyện còn có nhiệm vụ xây
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
dựng tổ chức tư pháp và hướng dẫn công tác hoà giải ở xã, phường, thị trấn, khu phố và tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Ngoài ra, trong thời kì này tại hai khu tự trị Tây Bắc và Việt Bắc còn thành lập hai toà án cấp khu là Toà án khu tự trị Tây Bắc và Toà án khu tự trị Việt Bắc
Hệ thống Toà án quân sự trong thời kì này cũng có bước phát triển mới và có những ựặc ựiểm riêng Tại miền Bắc, các Toà án quân sự ựược thành lập mới (theo Quyết ựịnh số 165/TM ngày 21/2/1961 của Bộ tổng tham mưu quân ựội nhân dân Việt Nam ựể thay thế cho các Toà án quân sự và toà án binh ựược thành lập trước
ựây, gồm có: Toà án quân sự trung ương và các Toà án quân sự quân khu, quân
binh chủng, sư ựoàn trực thuộc Bộ quốc phòng và tương ựương Tại miền Nam, các Toà án quân sự mới cũng ựược thành lập (theo Chỉ thị số 51/H của Bộ Chỉ huy Miền) gồm có: Toà án quân sự miền; Toà án quân sự miền đông Nam bộ và các Toà án quân sự cấp sư ựoàn ở các mặt trận Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất ựất nước, hệ thống Toà án quân sự ựược xây dựng thống nhất về mặt tổ chức
và hoạt ựộng, gồm có: Toà án quân sự trung ương và 16 Toà án quân sự quân khu, quân chủng và tương ựương
Trong thời kì này, Bộ tư pháp giải thể (năm 1960) và việc quản lắ tòa án nhân dân ựịa phương ựược giao cho Toà án nhân dân tối cao
Hệ thống viện kiểm sát nhân dân ựược thành lập mới, thống nhất từ trung
ương xuống ựịa phương, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các viện kiểm
sát nhân dân ựịa phương viện kiểm sát nhân dân có chức năng và thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước thuộc Hội ựồng Chắnh phủ, các cơ quan nhà nước ở ựịa phương, các nhân viên nhà nước và công dân (điều 105 Hiến pháp năm 1959); ựiều tra, truy tố trước tòa án nhân dân những người phạm tội
về hình sự; giữ quyền công tố trước tòa án nhân dân cùng cấp; kiểm sát hoạt ựộng xét xử của tòa án nhân dân và thi hành các bản án; kiểm sát hoạt ựộng giam giữ, khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan ựến lợi ắch của Nhà nước và của nhân dân (điều 3 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960) Khác với hệ thống tòa án nhân dân, hệ thống viện kiểm sát nhân dân ựược tổ chức theo nguyên tắc thống nhất từ trung ương xuống ựịa phương: Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan thuộc Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và ủy ban thường vụ quốc hội (điều 108 Hiến pháp năm 1959); viện kiểm sát nhân dân các cấp chịu sự chỉ ựạo của viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh ựạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 107 Hiến pháp năm 1959) đây là ựiểm khác biệt cơ bản của viện kiểm sát nhân dân thời kì này so với thời kì trước
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hệ thống cơ quan điều tra trong thời kì này gồm cĩ: Các cơ quan điều tra hình sự của Bộ cơng an và Bộ quốc phịng và các cơ quan điều tra thuộc viện kiểm sát nhân dân các cấp Cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân cĩ nhiệm vụ trực tiếp điều tra một số loại tội phạm kinh tế và trị an mà kẻ phạm pháp và hành vi phạm tội đã tương đối rõ; cơ quan điều tra của Cơng an điều tra tất cả những vụ án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp; cịn cơ quan điều tra của quân đội thực hiện việc điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tồ án quân
sự Nhìn chung, hệ thống cơ quan điều tra trong thời kì này đã cĩ sự phát triển và cĩ
sự phối hợp hoạt động, bảo đảm tốt việc điều tra, truy tố, phục vụ cho việc xét xử của tồ án
1.3.4 Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì 1980 -1992
Chương IX Hiến pháp năm 1980 quy định về tồ án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, trong đĩ ðiều 127 quy định chung về chức năng, nhiệm vụ của tịa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân; đồng thời trong Hiến pháp cĩ nhiều quy định
cụ thể hơn về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan tư pháp và bổ sung thêm một số nguyên tắc, quy định quan trọng mới
ðối với hệ thống tịa án nhân dân, về cơ bản hệ thống tịa án nhân dân thời
kì này vẫn kế thừa và phát triển mơ hình tổ chức của tịa án nhân dân giai đoạn trước Tuy nhiên, đi sâu phân tích thì thấy cĩ nhiều điểm mới, trong đĩ cĩ những
điểm cơ bản như sau:
- Về tổ chức, Tồ án quân sự cấp cao trở thành bộ phận của Tồ án nhân dân tối cao; tịa án nhân dân cấp tỉnh thành lập các tồ chuyên trách (tồ hình sự, tồ dân sự); tịa án nhân dân cấp huyện được quy định thêm về thư kí tồ án và chuyên viên pháp lí giúp việc; Cơ cấu tổ chức Tồ án quân sự gồm: Tồ án quân sự cấp cao, các Tồ án quân sự quân khu và tương đương và các Tồ án quân sự khu vực; các Tồ án quân sự quân đồn, quân chủng bị giải thể
- Về thẩm quyền xét xử, tịa án nhân dân cấp huyện đã được mở rộng hơn thẩm quyền: Xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự mà theo quy định của Bộ luật hình
sự, người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù từ 7 năm tù trở xuống, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm nghiêm trọng, gây hậu quả lớn, các vụ án mà
bị cáo phạm tội ở nước ngồi hoặc do tịa án nhân dân cấp trên lấy lên để xử; xét xử
sơ thẩm các vụ án dân sự, lao động, hơn nhân và gia đình và những vụ án khác theo luật định, trừ những việc mà đương sự là người nước ngồi Tồ án quân sự đã chuyển từ hệ thống một cấp xét xử (sơ thẩm đồng thời chung thẩm - trước năm 1985) sang mơ hình thẩm quyền xét xử đủ các trình tự như các tịa án nhân dân khác
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Về nhiệm kì của chánh án, phó chánh án, thẩm phán tòa án nhân dân các cấp ñược xác ñịnh theo nhiệm kì của cơ quan bầu ra các chức vụ ñó
- Về quản lí về mặt tổ chức ñối với các tòa án nhân dân ñịa phương và các Toà án quân sự quân khu và khu vực, thẩm quyền này ñược giao cho bộ trưởng Bộ tư pháp phối hợp với Chánh án Toà án nhân dân tối cao và bộ trưởng Bộ quốc phòng thực hiện
- Ghi nhận chính thức trong Hiến pháp một số quy ñịnh trước ñây ñã ñược xác lập như: Tổ chức luật sư ñược thành lập ñể giúp các bị cáo và ñương sự khác về mặt pháp lí (ðiều 133); chế ñộ bầu cử hội thẩm nhân dân; nguyên tắc xét xử tập thể
và quyết ñịnh theo ña số (ðiều 130 và 132)
ðối với hệ thống viện kiểm sát nhân dân, về cơ bản, hệ thống viện kiểm sát
nhân dân thời kì này vẫn kế thừa và phát triển mô hình tổ chức của viện kiểm sát nhân dân giai ñoạn trước Tuy nhiên, có nhiều ñiểm mới như sau:
- Về tổ chức, viện kiểm sát nhân dân khu tự trị bị giải thể; trong cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng như viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cũng có quy ñịnh về thành lập thêm những bộ phận mới ðội ngũ kiểm sát viên
ñược quy ñịnh gồm ba ngạch: Kiểm sát viên cao cấp, kiểm sát viên trung cấp và
kiểm sát viên sơ cấp
- Về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của viện kiểm sát nhân dân ñược quy ñịnh rõ: Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hiện quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân (ðiều 138 Hiến pháp 1980); thẩm quyền của viện kiểm sát nhân dân ñược mở rộng hơn như thẩm quyền kiểm sát giam, giữ
và cải tạo; thẩm quyền kiểm sát chấp hành án; một số thẩm quyền mới ñược quy
ñịnh bổ sung như: Quyền yêu cầu các cơ quan thông báo cho Viện kiểm sát biết về
việc vi phạm pháp luật và kết quả xử lí; quyền yêu cầu thanh tra cùng cấp thanh tra việc vi phạm pháp luật và thông báo cho Viện kiểm sát biết kết quả; quyền kiến nghị và kháng nghị ñối với các cơ quan quản lí; quyền tham dự việc trù bị phiên toà, tham gia tố tụng tại phiên toà của tòa án nhân dân cùng cấp; quyền yêu cầu tòa án nhân dân cùng cấp chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết ñể kiểm sát xét xử; quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám ñốc thẩm; quyền khởi tố hoặc yêu cầu khởi tố những vụ án dân sự quan trọng
- Khẳng ñịnh rõ về quản lí tổ chức và hoạt ñộng của hệ thống viện kiểm sát nhân dân: Các viện kiểm sát nhân dân tổ chức và hoạt ñộng theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh ñạo trong ngành, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào của
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nhà nước ở ñịa phương; viện kiểm sát nhân dân do viện trưởng lãnh ñạo (ðiều 5 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1981)
ðối với hệ thống cơ quan ñiều tra, trong thời kì này hệ thống cơ quan ñiều
tra ñược tiếp tục củng cố và phát triển, bao gồm: Cơ quan ñiều tra của lực lượng cảnh sát nhân dân; cơ quan ñiều tra của lực lượng an ninh nhân dân; cơ quan ñiều tra trong quân ñội; cơ quan ñiều tra của viện kiểm sát nhân dân Ngoài ra, các cơ quan như bộ ñội biên phòng, hải quan, kiểm lâm cũng ñược giao nhiệm vụ tổ chức
ñiều tra những việc theo quy ñịnh tại ðiều 93 của Bộ luật Tố tụng hình sự
1.3.5 Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì 1992 ñến nay
Hệ thống cơ quan tư pháp nước ta thời kì 1992 ñến nay tiếp tục ñược củng
cố và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị và yếu tố hợp lí của
hệ thống cơ quan tư pháp các thời kì trước ñồng thời có những cải biến quan trọng nhằm ñáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ñặc biệt, sau khi có Hiến pháp năm 1992 sửa ñổi tháng 12/2001 Có thể khái quát những ñiểm mới cơ bản như sau:
- ðối với hệ thống tòa án nhân dân, ñã thành lập một số toà chuyên trách mới (toà kinh tế, toà lao ñộng, toà hành chính); ñã bổ sung hai nguyên tắc mới trong hoạt ñộng xét xử của tòa án nhân dân: Toà án có thể xét xử kín “ñể giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mĩ tục của dân tộc hoặc ñể giữ bí mật cho các ñương sự theo yêu cầu chính ñáng của họ” (ðiều 7 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002) và nguyên tắc bình ñẳng trước pháp luật của các chủ thể (ðiều 8 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002); bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm ñồng thời chung thẩm của Toà
án nhân dân tối cao; chế ñộ bổ nhiệm thẩm phán ñã ñược áp dụng và thực hiện sự phân cấp: Chánh án tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và miễn nhiệm; thẩm phán tòa án nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức; thẩm phán tòa án nhân dân ñịa phương do chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo ñề nghị của hội ñồng tuyển chọn thẩm phán; tòa
án nhân dân tối cao quản lí các tòa án nhân dân ñịa phương về mặt tổ chức
- ðối với hệ thống viện kiểm sát nhân dân, chức năng của viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt ñộng tư pháp (không còn chức năng kiểm sát chung); ñặt các viện kiểm sát nhân dân dưới sự giám sát của Quốc hội và Hội ñồng nhân dân các cấp
- ðối với hệ thống cơ quan ñiều tra về cơ bản vẫn ñược củng cố và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa và phát triển mô hình tổ chức và hoạt ñộng của giai ñoạn trước
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta trong hơn nửa thế kỉ qua có thể thấy rằng hệ thống cơ quan tư pháp là bộ phận trọng yếu của bộ máy nhà nước Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống các cơ quan tư pháp nước ta gắn với từng thời kì của cách mạng Việt Nam, tổ chức và hoạt ñộng của các cơ quan tư pháp luôn mang ñậm dấu tích lịch sử của mỗi
thời kì cụ thể ñó
1.4 Nhiệm vụ cải cách tư pháp hiện nay
Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết số 49–NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm
2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp ñến năm 2020”, thì nhiệm
vụ của cải cách trong tố tụng hình sự bao gồm:
1 Hoàn thiện chính sách, pháp luât và thủ tục tố tụng tư pháp
- Phân ñịnh rõ thẩm quyền quản lí hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt ñộng tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho
ñiều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán ñể họ chủ ñộng trong thực thi nhiệm vụ,
nâng cao tính ñộc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết
ñịnh tố tụng của mình Xác ñịnh rõ căn cứ tạm giam; hạn chế thực hiện biện pháp
tạm giam ñối với một số loại tội phạm; thu hẹp ñối tượng người có thẩm quyền quyết ñịnh việc áp dụng các biện pháp tạm giam
- Từng bước hoàn thiện thủ tục giám ñộc thẩm, tái thẩm theo hướng quy ñịnh chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy ñịnh rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị ñối với bản án hoặc quyết ñịnh của toà án ñã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn ñối với những vụ án có ñủ một só ñiều kiện nhất ñịnh
2 Xác ñịnh rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoàn thiện
bộ máy toà án nhân dân
- Tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào ñơn
vị hành chính Nghiên cứu, xác ñịnh hợp lí phạm vi thẩm quyền xét xử của toà án quân sự
- ðổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác ñịnh rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng ñảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi ñây là khâu ñột phá của hoạt ñộng tư pháp
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Viện kiểm sát nhân dân ñược tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức toà án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt ñộng ñiều tra
- Nghiên cứu và chuẩn bị mọi ñiều kiện ñể tiến tới tổ chức lại các cơ quan
ñiều tra theo hướng thu gọn ñầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và
hoạt ñộng ñiều tra tố tụng hình sự
3 Hoàn thiện các chế ñịnh bổ trợ tư pháp
- Hoàn thiện cơ chế ñảm bảo ñể luật sư thực hiện tốt tranh tụng tại phiên toà,
ñồng thời xác ñịnh rõ chế ñộ trách nhiệm ñối với luật sư Cần nâng cao vai trò của
luật sư hơn nữa trong tiến trình tham gia tố tụng, ñảm bảo vị trí cân bằng của luật sư
và bên công tố khi tham gia xét xử Quản lý luật sư cần mềm dẻo, linh họat và trong khuôn khổ pháp lý rộng rãi, luật sư có quyền tự do hành nghề theo quy ñịnh pháp luật
- Hoàn thiện chế ñịnh giám ñịnh tư pháp Xây dựng lại các cơ quan giám
ñịnh thành một hệ thống cấp quốc gia (Viện giám ñịnh) có sự tham gia của các
chuyên gia ñầu ngành ñể ñảm bảo kết quả giám ñịnh ñược chính xác, khách quan góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vụ việc
2 TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 Vai trò, nhiệm vụ của tố tụng hình sự trong ñời sống
Nam Nó giữ vai trò rất quan trọng trong ñời sống xã hội Một xã hội muốn ổn ñịnh thì nhất thiết phải có những quy ñịnh pháp luật ñiều chỉnh, mà ở ñây cụ thể trong lĩnh vực hình sự, phải có những quy ñịnh ñể giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước
và người phạm tội, do ñó, tố tụng hình sự ra ñời Tố tụng hình sự không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân mà còn bảo vệ chính người phạm tội, góp phần ñảm bảo người phạm tội chỉ bị trừng phạt ñúng hoặc nhẹ hơn hành vi của mình
Nhiệm vụ của luật Tố tụng Hình sự ñã ñược cụ thể hóa trong Bộ luật tại
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế ñộ Bên cạnh ñó, Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ, cho nên luật tố tụng hình sự còn có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thực hiện công bằng xã hội Bộ luật Tố tụng Hình sự góp phần khôi phục quyền và lợi ích của công dân bị tội phạm xâm hại; bảo vệ công dân khỏi
bị xâm hại và trả thù của người phạm tội; bảo vệ quyền và lợi ích của bị can, bị cáo
và những người tham gia tố tụng khác
- ðấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Bộ luật Tố tụng Hình sự tạo những căn cứ pháp lí ñể các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự, nhằm phát hiện nhanh chóng và kịp thời tội phạm, xử lí công minh hành vi phạm tội, không ñể lọt tội phạm
- Giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật Các quy phạm pháp luật
tố tụng hình sự tự bản thân ñã mang tính giáo dục, vì nó là căn cứ ñể các cơ quan tiến hành tố tụng ý thực rõ phạm vi, quyền hạn của mình; giúp những người tham gia tố tụng nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình Mặt khác nó còn tác ñộng ñến nhận thức và tư tưởng của công dân, giáo dục họ nghiêm chỉnh chấp hành và có ý thức tích cực phòng chống tội phạm
2.2 Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam hiện nay
Tố tụng hình sự là một ngành luật hết sức quan trọng trong hệ thống pháp luật Nó góp phần vào ñảm bảo cho xã hội ñược ổn ñịnh, ñảm bảo công bằng cho mọi người Chính vì vậy mà Nhà nước ta luôn chú trọng ñến công tác xây dựng pháp luật tố tụng sao cho không một tội phạm nào bị bỏ sót, kẻ phạm tội phải bị trừng trị, người vô tội phải ñược tôn trọng Việc Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
ra ñời là kết quả của quá trình cải cách tư pháp mà toàn ðảng, toàn dân ta ñang nỗ lực thực hiện
Bộ luật tố tụng hình sự ñược Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 Bộ luật tố tụng hình sự này thay thế Bộ luât tố tụng hình sự ñược Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 1988 và các luật sửa ñổi, bổ sung một số ñiều của Bộ luật tố tụng hình sự ñược Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 09 tháng 6 năm
2000 Bộ luật tố tụng hình sự năm1988 là Bộ luật tố tụng hình sự ñầu tiên của Nhà nước ta ñược ban hành trong những năm ñầu của thời kỳ ñổi mới Bộ luật tố tụng hình sự ñã góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế ñộ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc ñổi mới, ñấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trong quá trình thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự ñã ñược Quốc hội nước ta sửa ñổi,
bổ sung 3 lần Các lần sửa ñổi, bổ sung ñã ñáp ứng kịp thời yêu cầu, ñòi hỏi của thực tiễn ñấu tranh phòng chống tội phạm trong từng thời kỳ và ñã từng bước thể chế hóa một số quan ñiểm về cải cách tư pháp ở nước ta Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X ngày 29 tháng 4 năm 1999, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ñã thay mặt các cơ quan soạn thảo trình Quốc hội cho ý kiến về dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa ñổi), trong ñó nêu rõ sự cần thiết phải sửa ñổi Bộ luật tố tụng hình sự một cách toàn diện ñể bảo ñảm cho Bộ luật phù hợp với những nội dung cải cách tư pháp, với
dự kiến sửa ñổi Bộ luật hình sự Trong khi chờ Quốc hội xem xét, thông qua Bộ luật
tố tụng hình sự (sửa ñổi) thì Bộ luật hình sự mới ñã ñược Quốc hội khóa X thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 tại kỳ họp thứ 6 và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2000 ðể bảo ñảm thi hành một số nội dung mới theo quy ñịnh của Bộ luật hình sự năm 1999, giải quyết một số vấn ñề bức xúc do thực tiễn ñặt ra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ñã trình Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa ñổi, bổ sung một
số ñiều của Bộ luật tố tụng hình sự vào tháng 6 năm 2000 tại kỳ họp thứ 7
Hiện nay, cùng với công cuộc cải cách kinh tế và cải cách hành chính, cải cách tư pháp ñang ñược ðảng và Nhà nước ta tích cực triển khai và coi ñây là nhân
tố quan trọng thúc ñẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong bối cảnh ñó, Hiến pháp năm 1992 ñã ñược sửa ñổi ðể tiếp tục thực hiện, ñẩy mạnh hơn công cuộc cải cách tư pháp, ngày 2 tháng 1 năm 2002, Bộ Chính trị ñã ra Nghị quyết số 08- NQ/TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Trong Nghị quyết này ñã chỉ rõ nhiều vấn ñề cụ thể của tố tụng hình sự ñòi hỏi phải ñược nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện ñể thể chế hóa thành những quy ñịnh của Bộ luật tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng công tác ñiều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự Mặt khác, thời gian qua cũng ñã có nhiều văn bản pháp luật mới ñược ban hành có các nội dung liên quan ñến tố tụng hình sự như Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002; ñồng thời cũng cần phải tiếp tục sửa ñổi, bổ sung các quy ñịnh Bộ luật tố tụng hình sự năm1988 cho phù hợp với các quy ñịnh của Bộ luật hình sự năm 1999 nhằm bảo ñảm tính thống nhất, ñồng bộ giữa các văn bản pháp luật Vì vậy, việc sửa ñổi toàn diện Bộ luật tố tụng hình sự nhằm ñáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, ñấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ðỀ CẢI CÁCH CỤ THỂ TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM
1 ðỔI MỚI CÔNG TÁC XÉT XỬ
1.1 Những ñòi hỏi của việc cải cách tổ chức và hoạt ñộng của Toà án 1.1.1 Tổ chức bộ máy và hoạt ñộng của Toà án hiện nay
Theo pháp luật hiện hành Toà án nhân dân của nước ta ñược tổ chức theo
ñơn vị hành chính: Toà án tối cao, Toà án cấp tỉnh và Toà án huyện Cách tổ chức
này giải quyết ñược vấn ñề giám sát của Hội ñồng nhân dân các cấp, vấn ñề bổ nhiệm Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán, về chế ñộ bầu Hội thẩm nhân dân Tuy nhiên, với quy ñịnh về tổ chức toà án thành ba cấp và trải ñều trên tất cả các tỉnh của ñất nước thì vô hình chung tạo ra một thực trạng có nơi Toà án quá tải về vụ việc phải giải quyết, có nơi toà án lại có rất ít vụ việc Bên cạnh ñó hiệu quả hoạt
ñộng của toà án còn chịu sự chi phối của cấp chính quyền tương ñương Những yếu
tố này chi phối hoạt ñộng của toà án, làm cho nguyên tắc ñề cao và tuân thủ triệt ñể
tính ñộc lập của thẩm phán trong hoạt ñộng xét xử chưa ñược ñảm bảo
Một vài ñiểm mới về thẩm quyền xét xử của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 ñã cho thấy cải cách tư pháp hình sự ñang từng bước ñược thực hiện: ðiều
145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy ñịnh: “Toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật Hình sự quy
ñịnh hình phạt từ 7 năm tù trở xuống, trừ các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia
và các tội phạm quy ñịnh tại các ñiều 95, 96, khoản 1 ðiều 172 và các ñiều 222,
223, 263, 293, 294, 296 Bộ luật Hình sự Toà án nhân dân cấp tỉnh và toà án quân
sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực hoặc có thể lấy lên ñể xét xử sơ thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện” Quá trình thực hiện quy ñịnh trên cho thấy, Toà án cấp tỉnh phải xét xử sơ thẩm khá nhiều tội phạm và do ñó Toà án tối cao phải xét xử phúc thẩm một khối lượng khá lớn vụ án mà Toà cấp tỉnh ñã xử sơ thẩm ðiều ñó dẫn ñến tồn ñọng khá nhiều án ở cấp phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, làm ảnh hưởng ñến công tác tổng kết thực tiễn, hướng dẫn việc xét xử của Toà án tối cao và công tác giám ñốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết ñịnh ñã có hiệu lực pháp luật theo quy ñịnh của pháp luật Trước thực trạng này, Nghị quyết 08 Ban chấp hành trung ương ðảng khoá VII ñã ñề ra
nhiệm vụ “nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử cho Toà án nhân dân cấp huyện theo hướng việc xét xử sơ thẩm ñược thực hiện chủ yếu ở Toà án này” Như vậy, Toà án
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cấp tỉnh sẽ chủ yếu xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao chủ yếu thực hiện việc giám ñốc thẩm các bản án, quyết ñịnh ñã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp dưới bị kháng nghị, ñồng thời tập trung vào tổng kết thực tiễn, hướng dẫn việc xét xử của Toà án các cấp Với tinh thần cải cách tư pháp, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 ra ñời, tại ðiều 170 ñã quy ñịnh tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án cấp huyện, theo ñó các toà án cấp này ñược xét xử những tội phạm mà khung hình phạt ñối với các tội phạm ñó có mức cao nhất là 15 năm tù
ðể thực hiện ñược quy ñịnh mới về thẩm quyền xét xử của Toà án cấp
huyện thì tổ chức bộ máy và cơ sở vật chất của Toà án cấp huyện cũng như các cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan ñiều tra cần phải ñược tăng cường và do ñó, phải có bước ñi phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam Chính vì vậy, cùng với việc thông qua quy ñịnh về thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, Quốc hội cũng ñã thông qua nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự, trong ñó ñã
ñề ra lộ trình thực hiện thẩm quyền xét xử mới Kể từ ngày Bộ luật Tố tụng Hình sự
có hiệu lực, những Toà án cấp huyện ñủ ñiều kiện thực hiện thì ñược giao thẩm quyền xét xử mới theo quy ñịnh tại ðiều 170 Những Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu vực chưa ñủ diều kiện thì cần củng
cố về tổ chức cán bộ, tăng cường cơ sở vật chất và trước mắt vẫn thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, trừ những tội phạm quy ñịnh tại các ñiểm a, b và c khoản 1
ðiều 170 của Bộ luật này, nhưng chậm nhất là ñến ngày 01 tháng 7 năm 2009, tất
cả Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu vực trong cả nước sẽ thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử mới theo quy ñịnh tại
và hoạt ñộng của toà án nhân dân” Trong phần này người viết trình bày vài nét
khái quát về mô hình bộ máy tổ chức và hoạt ñộng của Toà án theo tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị:
1.1.2.1 ðối với Toà án sơ thẩm khu vực
Toà án sơ thẩm khu vực là toà án chỉ xét xử sơ thẩm các vụ án theo quy
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñịnh của pháp luật “ðược tổ chức ở một hoặc một số ñơn vị hành chính cấp
huyện”, tức một hoặc một số ñơn vị hành chính cấp huyện có thể tổ chức một Toà
án sơ thẩm khu vực Sau khi hoàn thành việc tăng thẩm quyền cho các toà án cấp huyện theo quy ñịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Toà án nhân dân tối cao sẽ trình phê chuẩn việc thành lập các Toà án khu vực Hiện ñang có ý kiến sẽ nhập các Toà án cấp huyện lại ñể thành lập Toà án sơ thẩm khu vực Ý kiến này
theo người viết thì nó không thể hiện ñúng tinh thần cải cách tư pháp, chúng ta
không thể cứ gom hai hoặc ba toà cấp huyện lại ñể thành lập toà sơ thẩm khu vực
ñược mà cần căn cứ vào tình hình thực tế Ví dụ, chúng ta có thể xem xét số lượng
án ở một toà án cấp huyện ít hay nhiều, nếu ít thì có thể gom hai hoặc ba toà huyện lại, nhiều thì có thể thành lập toà khu vực ở một huyện ñó Có ý kiến việc thành lập Toà án sơ thẩm khu vực có thể không bắt buộc theo một ñơn vị hành chính, tức hai hoặc ba toà án cấp huyện của hai hoặc ba tỉnh có chung ranh giới có thể thành lập
một toà án sơ thẩm khu vực Người viết nghĩ rằng ñiều này không khả quan vì nếu
chúng ta hay ñổi sự quản lí hệ thống Toà án thì rất khó cho việc thành lập các Toà phúc thẩm, Viện công tố phúc thẩm Theo người viết chỉ nên lấy các Toà án cấp huyện trong ñịa giới hành chính một tỉnh ñể gom thành Toà án sơ thẩm khu vực Không thể lấy hai hoặc ba toà án cấp huyện cách xa nhau về mặt ñịa lí ñể thành lập toà án sơ thẩm khu vực ñược vì sẽ gây khó khăn trong việc ñi lại của nhân dân Việc thành lập các Toà án sơ thẩm khu vực phải ñảm bảo tốt các tiêu chí: ðủ năng lực xét xử và thuận tiện cho người tham gia tố tụng Ngoài ra còn phải dựa vào: số lượng các loại vụ án xảy ra, quy mô ñịa giới hành chính, số lượng dân cư và ñiều kiện phát triển kinh tế, xã hội nơi dự kiến sẽ lập Tòa án sơ thẩm khu vực Nếu lấy tiêu chí về số lượng các loại vụ án và kết hợp với quy mô ñịa giới hành chính cấp huyện hiện nay thì ña số các Toà án nhân dân quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sẽ
là nơi thành lập các Tòa án sơ thẩm khu vực là hoàn toàn khả thi và phù hợp với thực tế ðối với các Toà án nhân dân huyện ở ñồng bằng, thì sẽ phải sát nhập hai hoặc ba ñơn vị Tòa án cấp huyện hiện nay ñể thành lập một Tòa án sơ thẩm khu vực Tuy nhiên, ở miền núi, thành lập một Tòa án sơ thẩm khu vực trên cơ sở hai hoặc ba Toà án nhân dân cấp huyện hiện nay thì ñịa bàn hoạt ñộng của Tòa án mới
sẽ là quá rộng, trong khi ñó ñiều kiện kinh tế-xã hội, cụ thể là hệ thống giao thông chưa phát triển sẽ làm ảnh hưởng ñến hoạt ñộng của Tòa án và là khó khăn ñối với
người dân khi có công việc tới Tòa án
Về vấn ñể thẩm quyền của Tòa án sơ thẩm khu vực, hiện có thể có hai phương án ñể xác ñịnh Theo phương án thứ nhất, thời gian ñầu mới thành lập, thẩm quyền xét xử của Tòa án sơ thẩm khu vực ñược xác ñịnh giữ nguyên như thẩm quyền xét xử hiện nay của Tòa án cấp huyện quy ñịnh tại Bộ luật Tố tụng Hình sự
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
năm 2003, sau một số năm nhất ñịnh sẽ tăng thẩm quyền theo hướng ñại ña số các
vụ án do Tòa án sơ thẩm khu vực giải quyết Theo phương án thứ hai, xây dựng ngay thẩm quyền xét xử của Tòa án sơ thẩm khu vực theo hướng mở rộng hơn nữa thẩm quyền xét xử của Tòa án này so với thẩm quyền hiện nay của Tòa án cấp huyện Theo ñó, ña số các vụ án sẽ ñược xét xử sơ thẩm ở cấp Tòa án này, trừ các
vụ án lớn, trọng ñiểm về hình sự Người viết xét thấy tình hình hiện nay về ñội ngũ
cán bộ, trình ñộ chuyên môn của người tiến hành tố tụng chưa ñáp ứng ñược yêu cầu của phương án hai, nếu chuyển ñổi ngay thì e rằng “quá sức” ñối với chúng ta hiện nay
1.1.2.2 ðối với Toà án phúc thẩm
Toà án phúc thẩm là toà án xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm các vụ án của toà án sơ thẩm khu vực có kháng cáo, kháng nghị Hiện ñang có những tranh cãi
về tên gọi cho Toà án này Có ý kiến không ñồng ý với tên gọi “Toà án phúc thẩm”
vì nó cũng có nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà
án sơ thẩm khu vực Nếu gọi là “Toà cấp tỉnh” thì càng không hợp lí vì không phù hợp với Nghị quyết 49 của Bộ chính trị về cải cách tư pháp là tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử chứ không theo ñơn vị hành chính Có ý kiến ñặt nó là “Toà án trung cấp”, ý kiến này hiện nay có thể chấp nhận ñược và theo ñó hệ thống toà án sẽ gồm: Toà án sơ thẩm khu vực, Toà trung cấp (Toà phúc thẩm), Toà thượng thẩm, Toà án nhân dân tối cao Mặc dù ñổi tên gọi nhưng nhìn chung sau cải cách về thẩm quyền xét xử nó cũng giống như Toà án cấp tỉnh Hiện có ý kiến cho rằng việc thành lập Toà án phúc thẩm cũng phải ñảm bảo nguyên tắc không phụ thuộc vào
ñơn vị hành chính Không nên cứ toà cấp tỉnh bây giờ thì chuyển thành Toà án phúc
thẩm sau này Cũng giống như Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án nhân dân tối cao cần căn cứ vào số lượng án của các Toà án sơ thẩm khu vực và phạm vi ñịa bàn mà thành lập các Toà phúc thẩm Có thể hai hoặc ba tỉnh tổ chức một Toà án phúc thẩm, những thành phố lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có số lượng vụ án lớn thì có thể ở mỗi thành phố có một hoặc hai Toà án phúc thẩm
Người viết thấy rằng quan ñiểm trên có một vài trở ngại, bất cập Theo quy ñịnh tại
Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 thì hồ sơ bổ nhiệm Chánh
án, Phó chánh án cấp tỉnh hoặc cấp huyện ñều phải có sự ñồng ý của thường trực Hội ñồng nhân dân cùng cấp Việc bổ nhiệm Thẩm phán phải thông qua Hội ñồng tuyển chọn thẩm phán do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội ñồng nhân dân cấp tỉnh làm chủ tịch hội ñồng Hội ñồng này có trách nhiệm tuyển chọn cả Thẩm phán cấp tỉnh và Thẩm phán cấp huyện trong phạm vi tỉnh mình trước khi trình Chánh án toà
án tối cao ký quyết ñịnh bổ nhiệm Trong trường hợp Toà sơ thẩm khu vực ñược thành lập theo các ñơn vị hành chính trong cùng một tỉnh, thành phố thì không có gì
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
xáo trộn, nếu không cùng ñơn vị hành chính cấp tỉnh thì giải quyết thế nào Do ñó, hiện có ba phương án giải quyết vấn ñề này Thứ nhất, thành lập Toà án sơ thẩm khu vực, Toà phúc thẩm không theo ñịa giới hành chính, việc tuyển chọn Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án sẽ do Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm Thứ hai, Toà sơ thẩm khu vực không theo ñịa giới hành chính (nhưng phải thuộc ñịa hạt hành chính Tỉnh, Thành phố thuộc trung ương), Toà phúc thẩm sẽ là Toà án nhân dân tỉnh trước kia, tức xét xử tội phạm trong một tỉnh, việc tuyển chọn Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án vẫn như trước kia Thứ ba, Toà án sơ thẩm khu vực không theo ñịa giới hành chính (nhưng phải thuộc ñịa hạt hành chính Tỉnh, Thành phố thuộc trung ương), Toà phúc thẩm là Toà án nhân dân tỉnh trước kia, việc tuyển chọn Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án sẽ do Toà án nhân dân tối cao chịu trách
nhiệm Người viết ñồng tình với phương án thứ ba vì những lí do sau ñây: việc Toà
án sơ thẩm khu vực không theo ñịa giới hành chính là một bước ñi tiến bộ trước tình trạng tổ chức Toà án nhân dân huyện theo ñịa giới hành chính làm việc không có hiệu quả; việc bổ nhiệm các chức danh: Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án sẽ do Toà án nhân dân quyết ñịnh ñộc lập không cần có sự “ñồng ý” của chính quyền ñịa phương sẽ tránh ñược sự “can thiệp” vào nguyên tắc ñộc lập xét xử của Toà án; Toà
án phúc thẩm vẫn thuộc ñịa hạt cấp tỉnh nhằm thống nhất với cơ cấu tổ chức mới của Viện công tố theo tinh thần cải cách tư pháp
1.1.2.3 ðối với Toà án thượng thẩm
Toà án thượng thẩm là toà án xét xử phúc thẩm các vụ án của Tòa phúc thẩm (Tòa trung cấp) Vị trí, vai trò và thẩm quyền của Toà thượng thẩm cũng giống như Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao hiện nay Và cả nước hiện tại có 3 toà án phúc thẩm toà án nhân dân tối cao ở ba miền, nhưng nó lại nằm trong toà án nhân dân tối cao, còn nếu thành lập Toà thượng thẩm thì sẽ không thuộc Toà án nhân dân tối cao mà là một cấp trong hệ thống toà án Về việc nên có bao nhiêu Toà
án thượng thẩm trong tương lai thì cần xét ñến tình hình thực tế về ñiều kiện vật chất và nhân lực ñể tổ chức và theo ý kiến của người viết thì số lượng Toà thượng thẩm cần nhiều hơn Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao là ba hiện nay, có thể mỗi miền có hai Toà thượng thẩm (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) vì với việc cải cách tổ chức Toà án, thì có thể Toà thượng thẩm có thêm nhiệm vụ giám ñốc thẩm, tái thẩm các bản án ñã có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm khu vực và Toà phúc thẩm
1.1.2.4 ðối với Toà án nhân dân tối cao
Toà án nhân dân tối cao là toà án có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám ñốc thẩm,
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tái thẩm Hệ thống Tồ án theo tinh thần cải cách tư pháp đã khơng cịn Tồ phúc thẩm tồ án nhân dân tối cao trực thuộc Tồ án nhân dân tối cao cĩ nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các vụ án của Tồ án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị Và nhiệm vụ của Tồ án nhân dân tối cao cĩ thêm nhiệm vụ “phát triển án lệ”
Song song với đổi mới hệ thống tồ án, việc tổ chức lại các Tồ chuyên trách thuộc Tồ án tối cao là việc hết sức quan trọng, cụ thể ở đây là Tồ hình sự Hiện nay với vai trị là một Tồ chuyên trách, Tồ hình sự cĩ nhiệm vụ giám đốc việc xét xử các vụ án hình sự tồn ngành tồ án thơng qua đơn yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm; xem xét những kiến nghị của các cơ quan, ban ngành, các đồn đại biểu Quốc hội,… ðối với các bản án, quyết định đã cĩ hiệu lực pháp luật của Tồ
án các cấp; đề xuất với Chánh án Tồ án nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các vụ án hình sự mà bản án hoặc quyết định của Tồ án các cấp đã
cĩ hiệu lực pháp luật Ngồi ra, Tồ hình sự cịn tham mưu cho Lãnh đạo Tồ án nhân dân tối cao tổng kết xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật hình sự
và xây dựng pháp luật “Nếu theo tinh thần nghị quyết số 49 thì sau khi hồn thành cải cách tư pháp, Uỷ ban thẩm phán Tồ án cấp tỉnh khơng cịn chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm nữa thì Tồ hình sự Tồ án nhân dân tối cao cịn phải giám đốc việc xét xử cả các vụ án mà bản án đã cĩ hiệu lực pháp luật của Tồ án sơ thẩm khu vực
hiện triệt để thu gọn đầu mối như vậy theo người viết là chưa cĩ tính khả thi Vì mọi việc cứ dồn về đầu não, trong khi đĩ năng lực của Tồ chuyên trách chưa đủ mạnh Bên cạnh đĩ, theo tinh thần cải cách tư pháp là giảm tải cho các Tồ án cấp
trên, mà bây giờ lại gom vào mình thì là điều khơng hợp lí Người viết đồng tình
với ý kiến giao cho Tồ thượng thẩm chức năng xét xử phúc thẩm và chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án mà bản án của Tồ án sơ thẩm khu vực và Tồ
án phúc thẩm đã cĩ hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị do cĩ vi phạm pháp luật nghiêm trọng, để giảm tải cho Tồ hình sự Tồ án nhân dân tối cao, cịn Tồ hình sự Tồ án nhân dân tối cao chỉ giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án mà bản án của Tồ thượng thẩm đã cĩ hiệu lực pháp luật
ðổi mới Tồ án nhân dân các cấp thì khơng thể khơng đề cập đến Tồ án
quân sự Hiện nay cĩ quan điểm sẽ chuyển đổi hệ thống Tồ án quân sự giống như
hệ thống Tồ án nhân dân Người viết cũng đồng tình với quan điểm này vì một số
lí do sau: 1/ Các Tồ quân sự được thành lập trong thời kì đất nước cịn chiến tranh, xét xử các tội phạm trong các lực lượng vũ trang, nay đất nước ta đã hồn tồn độc
1
ðinh Văn Quế, Một số vấn đề về tổ chức hệ thống tồ án theo định hướng cải cách tư pháp, Tạp chí Tồ án Nhân dân số 23, năm 2007
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lập; 2/ Chúng ta ựang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, mọi người
ựều bình ựẳng, thì không có lắ do gì lại có một hệ thống cơ quan tư pháp riêng biệt
cho một bộ phận người; 3/ Nhằm tinh gọn bộ máy tổ chức, thống nhất hoạt ựộng trong các cơ quan tư pháp thì nên có một hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng chung; 4/ đang có sự quyết tâm mạnh trong tiến trình cải cách hệ thống các cơ quan tư pháp thì cần tiếp tục ựà ựó cải cách luôn hệ thống Toà án quân sự
Nhằm tăng cường tắnh chuyên môn cao, hiện có quan ựiểm mà theo người viết rất phù hợp đó là, trong Tòa hình sự sẽ thành lập các phân tòa: phân tòa xét xử các tội xâm phạm an ninh quốc gia, phân tòa xét xử các tội phạm thường Có ý kiến nên có thêm phân tòa xét xử các tội phạm tham nhũng, theo tôi với tình hình hiện nay của xã hội nên có nó, ựể tăng cường chống tội phạm ựang bị coi là quốc nạn này Do bỏ hệ thống Tòa án quân sự, cho nên cần có thêm phân tòa xét xử các tội trong lực lượng vũ trang Như vậy, trong hệ thống Tòa hình sự sẽ có bốn phân tòa xét xử chuyên bốn nhóm tội phạm lớn: xâm phạm an ninh quốc gia, tham nhũng, tội trong lực lượng vũ trang và tội phạm thường
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.2 ðổi mới hoạt động xét xử theo hướng tranh tụng
1.2.1 Các hình thức tố tụng tại phiên tồ
Theo trường phái tố tụng hình sự lịch sử, thì trong lịch sử đã trải qua ba hình thức tố tụng hình sự: tố tụng hình sự buộc tội, tố tụng hình sự thẩm vấn, tố tụng hình sự tranh tụng Trường phái này cho rằng, các hình thức tố tụng hình sự hình thành do cách thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự điển hình trong từng giai
đoạn phát triển lịch sử của xã hội lồi người và chịu sự chi phối bởi mối quan hệ
giữa tự do cá nhân và Nhà nước, giữa lợi ích riêng của cá nhân và lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội
Trong thời kì xã hội chưa cĩ giai cấp, chưa cĩ Nhà nước và pháp luật, thì khơng cĩ một trình tự tố tụng theo đúng nghĩa, mà việc giải quyết các mâu thuẫn bằng “trả thù nợ máu” Sang thời kì xã hội cĩ giai cấp, cĩ Nhà nước và pháp luật, bắt đầu xuất hiện hình thức tố tụng hình sự, đĩ là tố tụng tố cáo (buộc tội) ðặc
điểm của tố tụng này là một trình tự tố tụng khởi đầu khi cĩ người tố cáo tội phạm,
buộc tội và tiến hành tranh cãi sơi nổi giữa hai bên buộc tội và gỡ tội Tố tụng tiến hành chủ yếu cơng khai, trực diện, bằng miệng và khơng cĩ tính chuyên nghiệp pháp lí, tồn dân tham gia xét xử
Tới thời phong kiến xuất hiện tố tụng kiểu xét hỏi ðặc điểm của tố tụng này là tiến hành bằng viết, bí mật, khơng trực diện; bị cáo chịu vai trị bị động, khơng cĩ quyền bào chữa Tồ án với thẩm phán chuyên nghiệp, tự thụ lí vụ án và
điều tra bí mật, phiên tồ chỉ là hình thức Lời thú tội của bị cáo được xem là chứng
cứ quan trọng nhất nên việc tra tấn là thủ tục chủ yếu để lấy cho được lời nhận tội
Ở Việt Nam trong chế độ phong kiến những quy định tố tụng trong bộ luật Hồng ðức, bộ luật Gia Long đều phản ánh các hình thức tố tụng xét hỏi mà đặc điểm cơ
bản là quan cai trị là thẩm phán và điều tra viên, bị cáo khơng cĩ quyền bào chữa, trình bày chứng cứ, mà chỉ là đối tượng cưỡng chế; chứng cứ chủ yếu là lời khai nhân chứng và lời nhận tội của bị cáo, xét xử khơng cơng khai ðiều đĩ thể hiện chế
độ chính trị độc đốn, tàn bạo của giai cấp thống trị ðến xã hội tư bản chủ nghĩa
xuất hiện hình thức tố tụng mới, với hệ thống tồ án mới, với các nguyên tắc “bình
đẳng trước pháp luât”, “xét xử cơng khai, bằng miệng và trực diện”, nhưng duy trì
hình thức điều tra khơng cơng khai của tố tụng xét hỏi Cĩ thể nĩi hình thức tố tụng này đã tiến bộ hơn nhiều so với tố tụng xét hỏi, nhưng đến thời kì chủ nghĩa đế quốc thì những điều tiến bộ của kiểu tố tụng này bị chà đạp để phục vụ cho các nhà tư bản lũng đoạn, độc quyền Ở nước ta dưới thời phong kiến cũng như thời thực dân Pháp cai trị về cơ bản vẫn duy trì kiểu tố tụng xét hỏi mãi cho đến Cách mạng tháng
8 bùng nổ Sau cách mạng thành cơng, chính quyền dân chủ nhân dân được thành
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lập, dần dần hình thành hình thức tố tụng kiểu xã hội chủ nghĩa trên cơ sở một hệ thống tồ án thống nhất
Tố tụng tranh tụng cĩ đặc điểm: hai bên tranh tụng đối trọng nhau là bên buộc tội và bên gỡ tội; hai bên hồn tồn bình đẳng với nhau về địa vị pháp lí; Tồ
án độc lập với các bên Hình thức này địi hỏi áp dụng phương pháp điều chỉnh pháp luật là phương pháp trọng tài dựa trên tự do và độc lập ý chí của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng Hình thức này thừa nhận quyền tự định đoạt của các bên và quyết định cĩ tính bắt buộc thi hành của Tồ án
1.2.2 Tố tụng tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp
* So sánh tố tụng hình sự tranh tụng và tố tụng hình sự thẩm vấn (xét hỏi)
Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn là hai cách thức khác nhau Tố tụng tranh tụng mở ra cơ hội và tạo ra một cơ chế hồn tồn thích hợp cho các bên: nhà nước và bị cáo tranh tụng khá tự do trên cơ sở đưa ra các chứng cứ để buộc tội hoặc
gỡ tội Thẩm phán đĩng vai trị như một trọng tài, mọi việc được giải quyết tại tồ Cịn trong tố tụng thẩm vấn, phiên tồ dường như là giai đoạn tiếp tục điều tra, trong đĩ thẩm phán là điều tra viên Thẩm phán với những câu hỏi dường như hỏi cung, phần tranh tụng giữa kiểm sát viên và người bào chữa khơng được đề cao Quyền lực tại phiên tồ hầu như tập trung vào thẩm phán trong hệ tố tụng thẩm vấn Cịn trong tố tụng tranh tụng, ở phiên tồ, quyền lực được san sẻ giữa thẩm phán, cơng tố, luật sư và bồi thẩm đồn Tìm sự thật trong điều tra, nên hệ tố tụng thẩm vấn cần thiết sự nhận tội hay hợp tác của bị cáo Nhưng hệ tố tụng tranh tụng khơng
Những ưu điểm của tố tụng thẩm vấn là bảo đảm sự truy kích và đấu tranh tội phạm, nhất là việc đấu tranh với các tổ chức phạm tội Các phiên tồ diễn ra ngắn gọn Bên cạnh các ưu điểm, kiểu tố tụng này thường bị chỉ trích là khơng tơn trọng đầy đủ quyền các bên đương sự, vì họ khơng cĩ nghĩa vụ chứng minh chứng
cứ do thẩm phán đưa ra Ta dễ nhận thấy tố tụng thẩm vấn đi ngược lại nguyên tắc
vơ tư, khách quan, đơi khi cịn xảy ra tình trạng “án bỏ túi”, việc tranh tụng tại phiên tồ khơng cĩ nhiều tác dụng Bởi trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về
ba cơ quan tiến hành tố tụng là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tồ án Ngược lại, tố tụng tranh tụng, quyền con người được tơn trọng hơn, các bên cĩ quyền tranh luận tự do, nên tính vơ tư khách quan trong hoạt động tố tụng được đảm bảo, nguyên tắc suy đốn vơ tội được tơn trọng triệt để Song nĩ cũng cĩ nhược điểm
2
Ngơ Huy Cương, Gĩp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản
Tư pháp, năm 2006
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Như phiên toà diễn ra rất dài, bởi công ñoạn ñiều tra ñược gộp lại giải quyết trong phiên toà
Hình thức tố tụng hình sự của chúng ta hiện nay “là mô hình tố tụng pha trộn vì nó vừa có ñặc ñiểm của tố tụng thẩm vấn, vừa có ñặc ñiểm của tố tụng tranh
sự bình ñẳng trong ñịa vị tố tụng của các bên, do hạn chế tính công khai của kết quả
ñiều tra, kết quả ñiều tra ñược phản ánh trong hồ sơ chính thức và là cơ sở cho hoạt ñộng xét xử của Toà án Toà án nghiên cứu hồ sơ trước khi mở phiên toà xét xử và
có vai trò tích cực trong quá trình xét hỏi (dấu hiệu của tố tụng hình sự thẩm vấn) Bên cạnh ñó không thể phủ nhận là quá trình tranh tụng ñã bắt ñầu từ giai ñoạn ñiều tra mặc dù lúc này tranh tụng giữa các bên chưa thật sự bình ñẳng về ñịa vị tố tụng Nhưng ñến phiên toà sơ thẩm, tranh tụng ñã là tranh tụng công khai giữa các bên hoàn toàn bình ñẳng về ñịa vị tố tụng trong hoạt ñộng chứng minh tại phiên toà Bên buộc tội có quyền gì thì bên gỡ tội có quyền ñó Các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự do các chủ thể khác nhau thực hiện, sự tách biệt về chức năng này tương ñối rõ ràng mặc dù chưa thật triệt ñể (dấu hiệu tố tụng hình sự tranh tụng)
So với Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2003 ñã có nhiều sửa ñổi, bổ sung các quy ñịnh về tranh tụng tại phiên toà ðối với quy ñịnh về trình tự phát biểu khi tranh luận, tại ðiều 217 ñã bổ sung “Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ ñã ñược kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của ñương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà” ðối với quy ñịnh về ñối ñáp khi tranh luận tại phiên toà, tại ðiều 218 ñã bổ sung quy ñịnh “Bị cáo, người bào chữa
và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và ñưa ra ñề nghị của mình; Kiểm sát viên phải ñưa ra những lập luận của mình ñối với từng ý kiến” và “Chủ toạ phiên toà có quyền ñề nghị Kiểm sát viên phải ñáp lại những ý kiến có liên quan ñến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến ñó chưa ñược Kiểm sát viên tranh luận”
1.2.3 Một số kết quả, hạn chế trong ñổi mới tranh tụng hình sự
Theo báo cáo kết quả 4 năm thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ chính trị thì “Ở nhiều ñịa phương, việc thực hiện chủ trương mở rộng tranh tụng còn mang tính hình thức, chưa ñáp ứng ñược yêu cầu là các bản án, phán quyết của Toà
án chủ yếu phải dựa trên kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên toà” Việc thực hiện
3
Nguyễn Thái Phúc, Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam những vấn ñề lí luận và thực tiễn, Tạp chí Kiểm sát số 18, năm 2007
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
“phiên toà mẫu” theo ñó Hội ñồng xét xử giữ vai trò gợi mở các vấn ñề cho Công tố viên và Người bào chữa tranh luận ñã không ñược thành công và gây ra tình trạng
“tranh tụng làm kéo dài phiên toà” Theo Nguyễn Hà Thanh – Vụ 1, Ban Nội chính Trung ương - thì có hai nguyên nhân chính: Thứ nhất, tố tụng hình sự ở nước ta coi trọng giai ñoạn ñiều tra nên kết quả vụ án phụ thuộc phần lớn vào kết quả ñiều tra, nên việc Kiểm sát viên tranh luận lại từng vấn ñề Luật sư, bị cáo ñưa ra chưa chắc góp phần làm sáng tỏ vụ án mà chỉ kéo dài thời gian phiên toà một cách không cần thiết; thứ hai, Luật sư, bị cáo là bên gỡ tội, Kiểm sát viên là bên buộc tội nên việc bên này có trả lời những câu hỏi, ñáp lại các lập luận bên kia hay không là quyền mỗi bên”
ðổi mới hoạt ñộng xét xử theo hướng tranh tụng ñòi hỏi phiên toà xét xử
phải dựa vào những chứng cứ ñã ñược thẩm tra rõ ràng Một phán quyết mà không dựa vào chứng cứ thì phán quyết ñó vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng Vậy mà trong thực tiễn xét xử lại ñể xảy ra trường hợp này tại Toà án Nhân dân Huyện Bình Chánh – Thành phố Hồ Chí Minh Vụ án xảy ra ngày 04/8/2006 và sau khi vụ án ñược khởi tố về tội “bắt người trái pháp luật”, Viện kiểm sát Huyện Bình Chánh chuyển toàn bộ hồ sơ sang Toà án, nhưng Toà án lại ñể thất lạc hồ sơ ðể
“chữa cháy”, Toà án ñã phôtô lại hồ sơ do Cơ quan ñiều tra và Viện kiểm sát lưu giữ, nó ñược “hợp thức hoá” bằng chữ kí và con dấu của phó Thủ trưởng Cơ quan
ñiều tra huyện Tất cả hồ sơ từ giai ñoạn ñiều tra, truy tố ñáng lẽ phải do Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát xây dựng nhưng cũng ñều ñược ñóng dấu bút lục của Toà án
huyện Bình Chánh Khoản 2 ðiều 64 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy ñịnh
“Chứng cứ ñược xác ñịnh bằng: vật chứng; lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên ñơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án, người bị bắt, người bị bắt, người bị tạm giữ bị can, bị cáo; kết luận giám ñịnh; biên bản về hoạt ñộng ñiều tra, xét xử và các tài liệu ñiều tra, xét xử khác” Và Toà án ñã dựa vào những “chứng cứ” mà ñáng lẽ nó không thể ñược xem là chứng cứ (chỉ là tài liệu tham khảo) ñể ñưa ra bản án Một trong những bị cáo của vụ án trên có ñơn kháng cáo, thì lúc này Toà phúc thẩm mới phát hiện những vi phạm nghiêm trọng này và ra phán quyết huỷ án sơ thẩm của Toà án nhân dân Huyện Bình Chánh Rõ ràng hiện nay, cần nâng cao trách nhiệm của những người làm công tác xét, không thể vì muốn che lấp sự thiếu trách nhiệm ñó mà làm ẩu, làm bừa, vi phạm nghiêm
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tố tụng hình sự tại Việt Nam hiện nay thuộc kiểu tố tụng xét hỏi nhưng cũng có một số yếu tố của tố tụng tranh tụng Nhưng hiện nay do quy ñịnh của bộ luật tố tụng Hình sự mà vai trò của Hội ñồng xét xử có một vài bất cập Cụ thể do quy ñịnh tại Khoản 1 ðiều 207 Bộ luật Tố tụng Hình sự “Hội ñồng xét xử phải xác
ñịnh ñầy ñủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi
hợp lí” mà hiện nay một nhóm người hiểu rằng Toà án thực hiện chức năng xét hỏi
là chính Vì vậy mà việc tranh tụng giữa Viện kiểm sát và người bào chữa chưa
ñược ñề cao xem trọng Việc Hội ñồng xét xử hiện nay chủ ñộng tích cực xét hỏi
nhằm tìm kiếm các dữ kiện, tài liệu, xác ñịnh bị cáo có lỗi hay không có lỗi ñể rồi
vậy, tham gia vào thủ tục xét hỏi chỉ nên là các bên tranh tụng Bên buộc tội là Viện kiểm sát và người bị hại Bên bào chữa là người bào chữa và bị cáo Xét hỏi chính
là cách thức chứng minh bằng các chứng cứ sự tồn tại hay không tồn tại của những
sự kiện, tình tiết cụ thể của vụ án Chứng minh tội phạm là nghĩa vụ của bên buộc tội và chứng minh không phải tội phạm là quyền của bên bào chữa Toà án không phải là bên tranh tụng thì không nên tham gia xét hỏi mà là người ñiều khiển quá trình xét hỏi Thêm vào ñó, ðiều 10 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy ñịnh
“trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng” Việc quy ñịnh như vậy là không phù hợp với chức năng của Toà án là xét xử, toà không
có trách nhiệm chứng minh tội phạm Toà án không phải là người truy tố bị cáo nên không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, nghĩa vụ ñó thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội (Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát) Toà án chỉ có nghĩa vụ chứng minh trong bản án của mình lí do vì sao Toà án chấp nhận cáo trạng của Viện kiểm sát mà không chấp nhận lời bào chữa của luật sư, hoặc ngược lại, vì sao Toà án không chấp nhận cáo trạng của Viện kiểm sát mà chấp nhận lời bào chữa của luật sư
Về nội dung tranh tụng Hiện nay ñang tồn tại hai quan ñiểm về vấn ñề này:
- Quan ñiểm thứ 1: Mọi chủ thể tham gia tranh luận ñều có quyền phát biểu, ñối ñáp về tất cả các vấn ñề liên quan ñến vụ án Vì theo ðiều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự thì mọi chủ thể tranh luận ñều có quyền tranh luận và ñối ñáp lại ý kiến của nhau trong khuôn khổ những vấn ñề liên quan ñến vụ án Theo quan ñiểm này, Kiểm sát viên có nghĩa vụ ñối ñáp tất cả các ý kiến có nội dung liên quan ñến vụ án,
mà không phân biệt ý kiến ñó do tư cách tố tụng nào ñưa ra
5
ðỗ Văn Thinh, Vai trò của Hội ñồng xét xử và Kiểm sát viên trong thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Tạp chí Tòa án nhân dân số 18, năm 2007
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Quan ñiểm thứ 2: Mỗi chủ thể chỉ tranh luận về những vấn ñề liên quan
ñến quyền lợi và nghĩa vụ của mình Vì theo ðiều 54 khoản 1 “tranh luận tại phiên
toà ñể bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình”
Người viết ñồng tình với quan ñiểm thứ hai Vì bị cáo, bị hại, nguyên ñơn
dân sự, bị ñơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người ñại diện hợp pháp là những người có nghĩa vụ trả lời khi ñược xét hỏi và chỉ có nghĩa vụ trình bày những nội dung ñã ñược pháp luật quy ñịnh Do ñó, họ không thể tranh luận về các vấn ñề ngoài vấn ñề họ có nghĩa vụ trình bày khi ñược xét hỏi Thêm vào ñó, quyền kháng cáo làm rõ giới hạn nội dung tranh luận của họ Một người chỉ có quyền kháng cáo ñối với những vấn ñề trực tiếp liên quan ñến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Chẳng hạn, vì nguyên ñơn dân sự chỉ có quyền kháng cáo về phần bồi thường thiết hại nên sẽ không có quyền tranh luận về tội danh và hình phạt của bị cáo, bởi nó không phù hợp với vị trí pháp lí và chức năng tham gia tố tụng của họ
Có thể thấy rằng: “những vấn ñề liên quan ñến quyền lợi và nghĩa vụ của người tham gia tranh luận hiển nhiên là những vấn ñề liên quan ñến vụ án, nhưng không phải mọi vấn ñề liên quan ñến vụ án ñề liên quan ñến quyền lợi và nghĩa vụ của
ñề liên quan ñến vụ án” như quy ñịnh tại ðiều 218 là chưa ñủ, chưa phù hợp, cần ñược xem xét lại
Về thời gian tranh luận tại phiên toà Muốn có ñược trắng ñen rõ ràng thì nhất thiết phải ñối ñáp giữa các bên ñể tìm ra sự thật, do ñó không thể giới hạn một thời gian nhất ñịnh cho các bên khi tranh luận Gần ñây dư luận hết sức bất bình tại phiên toà xét xử vụ PMU 18, Chủ toạ phiên toà ñã không cho các Luật sư nói bằng cách giới hạn thời gian tranh luận là mười phút, thậm chí còn ra lệnh “ngồi xuống, không ñược nói nữa” Không biết vị thẩm phán này căn cứ vào quy ñịnh nào của pháp luật ñể ngăn cản không cho luật sư bào chữa Cùng với quyền bình ñẳng trước pháp luật, công dân có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Tranh luận mà bên buộc tội ñược nói, bên gỡ tội bị hạn chế thời gian thì không thể gọi là bình ñẳng, do ñó quyền ñược bào chữa của công dân không ñược tôn trọng Chủ toạ phiên toà ñưa ra lý do hạn chế thời gian là vì sợ luật sư nói dài Ở ñây giữa sự mất thời gian vật chất ở một phiên toà và mất sự thật khách quan của một vụ án thì phải chọn lựa bên nào? Chắc chắn phải chấp nhận mất thời gian, bởi vì bỏ sót các chứng
cứ phạm tội cũng như chứng cứ chứng minh sự vô tội ñều dẫn ñến sự oan sai Tuy
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhiên, việc không giới hạn thời gian không có nghĩa là các bên muốn nói bao lâu cũng ựược Chủ toạ phiên toà phải là người ựiều khiển, hướng dẫn tranh luận vào vấn ựề, tránh tình trạng các bên nói lan man, lạc xa vấn ựề
1.2.4 Giải pháp cụ thể
Trình tự xét hỏi tại phiên toà cần thay ựổi ựể ựảm bảo sự công minh, chắnh xác của phiên toà Sau khi công bố cáo trạng thì Kiểm sát viên phải là người hỏi trước ựối với bị cáo, tiếp ựó là hỏi những người liên quan nhằm làm sáng tỏ nội dung vừa cáo trạng Sau ựó ựến Luật sư bào chữa Hội ựồng xét xử có thể yêu cầu hai bên xét hỏi thêm ựể làm rõ những ựiều chưa rõ, ựiều còn mâu thuẫn Hội ựồng xét xử không nên tham gia quá sâu vào xét hỏi Có như vậy Hội ựồng xét xử mới có
ựiều kiện tĩnh tâm lắng nghe và công minh trong việc ra các phán quyết của bản án
đổi mới hoạt ựộng xét xử theo hướng tranh tụng là một quá trình lâu dài ựòi hỏi phải ựược nghiên cứu kĩ, ựược sự ựồng tình ủng hộ của mọi tầng lớp, sư
quyết tâm của các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm Muốn thực hiện tốt ựổi mới tranh tụng cần quan tâm ựến một số vấn ựề sau:
- đào tạo lại ựội ngũ thẩm phán theo hướng tranh tụng, xác ựịnh vai trò của thẩm phán tại phiên toà là trọng tài, xoá bỏ tắnh ỷ lại vào hồ sơ vụ án Nên giảm ựi quyền xét hỏi của Hội ựồng xét xử Hội ựồng xét xử chỉ giữ vai trò là nguời ựiều khiển phiên toà, giữ gìn trật tự phiên toà, quyết ựịnh cho ai hỏi,Ầ Không nên chủ yếu xét hỏi ựể bảo vệ cáo trạng của Viện kiểm sát như trước kia, chỉ xét hỏi khi thật cần thiết Ngược lại, tăng trách nhiệm chứng minh và nghĩa vụ xét hỏi cho Viện kiểm sát Về trình tự xét hỏi, Hội ựồng xét xử hỏi khi bên buộc tội và bên bào chữa hỏi xong, nếu thấy cần thiết phải làm rõ thêm vấn ựề điều này thể hiện tắnh dân chủ và tranh tụng rất cao, tạo sự chủ ựộng cho các bên xét hỏi
- Tăng cường vai trò của luật sư bằng cách tăng ựội ngũ luật sư và chất lượng của luật sư; cho luật sư tham gia ngay từ ựầu vào quá trình tố tụng
- Công tố viên và luật sư ựược tranh luận tự do ở phiên toà, hỏi trực tiếp nhân chứng, ựưa vật chứng, bác bỏ vật chứngẦ Các ý kiến tranh luận phải ựược xem xét và tôn trọng một cách thắch ựáng
- Bỏ chức năng giám sát của Viện kiểm sát ựể tăng tắnh bình ựẳng giữa luật
sư và ựại diện cho nhà nước khi tranh luận tại toà Nếu toà án xét xử không ựúng thì trong luật vẫn quy ựịnh Viện kiểm sát có quyền kháng nghị hoặc khuyến nghị hơn nữa còn có hệ thống kiểm tra dọc Ờ Toà cấp trên kiểm tra Toà cấp dưới