1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1Mục tiêu tổng quát Đề tài phân tích, đánh giá tình hình hoạt động tín dụng qua 3 năm 2010-2012 và 6 tháng đầu năm 2013 tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
NGUYỄN CHÂU NGỌC TÙNG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC – TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Tài chính – Ngân hàng
Mã số ngành:52340201
Tháng 10 - Năm 2013
Trang 2Năm 2013, sản xuất nông nghiệp được dự báo gặp nhiều khó khăn, thị trường đang có nhiều biến động: giá cả xăng dầu tăng, vật tư nông nghiệp có chiều hướng tăng làm tăng chi phí đầu vào trong khi sản phẩm lương thực, chăn nuôi, thủy sản cùng nhiều loại hoa màu chưa có đầu ra ổn định và giá cả biến động liên tục ảnh hưởng đến lợi nhuận sản xuất của nông dân Vì vậy, nguồn vốn cần cho sản xuất nông nghiệp ngày càng cao, đặc biệt là tín dụng nông thôn.
An Giang là tỉnh có sản xuất nông, ngư nghiệp là thế mạnh, Châu Đốc là một thành phốvùng biên thuần nông nên việc cần vốn tín dụng để tái đầu tư là rất cần thiết Để đáp ứng nhu cầu vốn của người dân một cách hiệu quả thi vai trò của hoạt động tín dụng là hết sức quan trọng Nhiệm vụ của ngân hàng là phải nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng bằng cách đa dạng và đẩy mạnh phương thức huy động vốn, đồng thời thu hồi vốn một cách có hiệu quả nhất Với sự hiện diện của hơn 20 ngân hàng cạnh trạnh thì để mở rộng quy
Trang 3pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cũng như tìm hiểu mức độ hài lòng của khách hàng khi đến vay vốn
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1Mục tiêu tổng quát
Đề tài phân tích, đánh giá tình hình hoạt động tín dụng qua 3 năm
2010-2012 và 6 tháng đầu năm 2013 tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh thành phố Châu Đốc để thấy rõ thực trạng tín dụng,
từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng từ năm 2010
đến tháng 6 năm 2013
Phân tích hoạt động tín dụng của ngân hàng từ năm 2010 đến tháng 6
năm 2013, thông qua phân tích các chỉ số tài chính
Đánh giá, đưa ra giải pháp hợp lí để nâng cao khả năng hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là doanh số cho vay, doanh số thu nợ,
dư nợ, nợ xấu,… tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giangtừ năm 2010 đến tháng 6 năm 2013
Trang 4CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Khái quát về tín dụng
2.1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng Nhìn chung, một hoạt động được gọi là tín dụng phải có các điều kiện sau:
- Thứ nhất: Có sự chuyển giao tạm thời (có thời hạn)
- Thứ hai: Một lượng giá trị dưới dạng hàng hoá hoặc tiền tệ
- Thứ ba: Có sự hoàn trả và giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị ban đầu
[Thái Văn Đại và Bùi Văn Trịnh (2010), tr.28]
2.1.1.2 Bản chất của tín dụng
Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau Ở bất cứ phương thức nào tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài như là sự vay mượn tạm thời một vật hoặc một số vốn bằng tiền, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hoá hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi
Để vạch rõ bản chất của tín dụng cần thiết phải nghiên cứu liên hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình tái sản xuất.[Thái Văn Đại và Bùi Văn Trịnh (2010), tr.30]
a) Sự vận động của tín dụng
Tín dụng là một mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá Quá trình vận động đó được thể hiện qua các giai đoạn sau:
- Thứ nhất: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hoá được chuyển từ người cho vay sang người
đi vay Như vậy khi cho vay, giá trị vốn tín dụng được chuyển sang cho người đi
Trang 5- Thứ ba: Sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để quay trở về với hình thái tiền tệ, thì người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay Như vậy, sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác
b) Hoạt động của tín dụng trong tầm vĩ mô
Sau năm 1930 lý thuyết cho vay đã được thừa nhận và sử dụng để phân tích hoạt động của tín dụng và lãi suất trong nền kinh tế thị trường Quỹ cho vay được hình thành và vận động giữa các chủ thể tham gia trong quá trình tái sản xuất, bao gồm các xí nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông, các tổ chức tài chính – tín dụng Nhà nước và công dân
Cung và cầu của quỹ cho vay
- Cung của quỹ cho vay:
+ Tiết kiệm cá nhân: Thu nhập của cá nhân được chia làm 2 phần: tiêu dùng và tiết kiệm Số thu về tiết kiệm cá nhân, một phần được sử dụng để mua nhà đất hoặc đầu tưtrực tiếp vào các chứng khoán; một phần còn lại được đầu
tư gián tiếp vào thị trường vốn và tiền tệ thông qua các ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tiết kiệm, HTX tín dụng,…
+ Tiết kiệm của nhà doanh nghiệp: Tổng số tiết kiệm cua nhà doanh nghiệp là phần lợi nhuận không chia và khấu hao; số tiền tiết kiệm này khi nhà doanh nghiệp chưa sử dụng đến thì có thể trở thành một bộ phận ngân quỹ cho vay thông qua thị trường vốn và tiền tệ
+ Mức thừa tiền cùa ngân sách Nhà nước: mức thặng dư ngân sách Nhà nước bằng thu nhập trừ đi chi phí về hàng hoá dịch vụ
+ Mức tăng của khối lượng tiền tệ cung ứng: cơ sở để tính mức tăng này là khối lượng tiền tệ lưu thông ngoài Ngân hàng và tiền trên tài khoản séc
- Cầu về quỹ cho vay:
+ Nhu cầu về dầu tư của doanh nghiệp: Khu vực doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất về nhu cầu của quỹ cho vay
+ Nhu cầu về tín dụng tiêu dùng cá nhân: Ở các nước phát tiển tín dụng tiêu dùng chiếm một tỷ trọng đáng kể
+ Sự thiếu hụt ngân sách của chính phủ: Khi ngân sách Nhà nước bị thâm hụt, Nhà nước phải đi vay thông qua phát hành công trái hay trái phiếu kho bạc
để bù đắp khoản bội chi hàng năm
Trang 6+ Ngoài ra mức giảm kối lượng tiền tệ cung ứng và mức tăng dự trữ tiền tệ cũng là hai thành phần của số cầu Khi ngân hàng trung ương tăng tỷ lệ
dự trữ bắt buộc hoặc thực hiện thắt chặt tiền tệ thì cũng làm tăng nhu cầu vốn
Đặc điểm của quỹ cho vay
- Quỹ cho vay biểu hiện quan hệ giữa những người tham gia quá trình tái sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất và lưu thông hàng hoá cũng như Nhà nước và dân cư Mục đích sử dụng quỹ cho vay là nhằm thoả mãn nhu cầu vốn tiền tệ tạm thời cho sản xuất và tiêu dùng
- Quỹ cho vay chủ yếu tập trung và phân phối thông qua: Các tổ chức tín dụng Trong nền sản xuất hàng hoá hiện đại, phân phối quỹ cho vay thường được thực hiện bằng 2 cách: phân phối trực tiếp như mua trái phiếu công ty và qua các
tổ chức trung gian như ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tiết kiệm, quỹ bảo hiểm
xã hội, quỹ tín dụng và các tổ chức tín dụng khác Trong đó việc phân phối qua các tổ chức trung gian chiếm đại bộ phận
- Quỹ cho vay vận động trên cơ sở hoàn trả và có lãi suất: Sự hoàn trả là đặc trưng riêng của quỹ tín dụng, đồng thời nó phản ánh bản chất vận động của quỹ cho vay Tuần hoàn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế quyết định khả năng hoàn trả tín dụng Về hình thức, sự hoàn trả được thực hiện trên cơ sở thoả thuận bằng hợp đồng tín dụng giữa người cho vay và người đi vay
- Tín dụng là phương pháp huy động vốn quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường Vì vậy sử dụng có hiệu quả phương pháp này sẽ góp phần giải quyết nhu cầu đang là vấn đề cấp thiết cho sản xuất và đầu tư
2.1.1.3 Các hình thức của tín dụng
Trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng rất phong phú, đa dạng Trong quản lý tín dụng, các nhà kinh tế dựa vào nhiều cơ sở khác nhau để phân loại
Cụ thể:
Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng có thời hạn đến 1 năm, thường được sử dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống
Trang 7- Tín dụng vốn lưu động: Tín dụng vốn lưu động là loại tín dụng được sử
dụngnhằm hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp như: cho vay để dự trữ
hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất
- Tín dụng vốn cố định: Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng được cung cấp nhằm hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp
Căn cứ vào mục đích tín dụng
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là hình thức tín dụng nhằm
cung cấp vốn cho các doanh nghiệp để tiến hành sản xuất kinh doanh, và tiêu thụ
hàng hóa
- Tín dụng học tập: là hình thức tín dụng dùng để phục vụ nhu cầu học tập của sinh viên
- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng như là: mua sắm xe cộ, các vật dụng tiện nghi trong gia đình
Căn cứ vào chủ thể tín dụng
- Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các công ty, xí nghiệp, các
tổ chức kinh tế với nhau được thể hiện qua hình thức mua bán chịu hàng hóa cho
nhau
- Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các tổ
chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn
bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng nói trên
- Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng mà trong đó Nhà nước là người đi
vay
Căn cứ vào đối tượng trả nợ
- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay cũng
là người trực tiếp trả nợ
- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay và
người trả nợ là 2 đối tượng khác nhau [Thái Văn Đại và Bùi Văn Trịnh (2010), tr.32]
2.1.2 Một số quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam về nghiệp vụ tín dụng
2.1.2.1 Nguyên tắc cho vay
- Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận trên hợp đồng tín dụng
Theo nguyên tắc này, tiền vay phải được sử dụng đúng cho các nhu cầu đã được bên vay trình bày với Ngân hàng và được Ngân hàng cho vay chấp nhận
Trang 8Đó là các khoản chi phí, những đối tượng phù hợp với nội dung sản xuất kinh doanh của bên vay Ngân hàng có quyền từ chối và hủy bỏ mọi yêu cầu vay vốn không được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận, việc sử dụng vốn vay sai mục đích thể hiện sự thất tín của bên vay và hứa hẹn những rủi ro cho khoản vay Do
đó tuân thủ nguyên tắc này khi cho vay Ngân hàng có quyền yêu cầu bắt buộc bên vay phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết và thường xuyên giám sát hành động của bên vay về phương diện này
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của bên vay gắn liền với hiệu quả cho vay Ngân hàng Hiệu quả kinh tế của họat động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn là cơ sở cho sự an toàn của khoản vay
Thiếu yêu cầu này không thể nói đến sự tồn tại và phát triển của các mối quan hệ vay vốn Vì vậy, hiệu quả kinh tế của tiền vay được đưa ra như một sự đảm bảo, một sự cam kết của bên vay vốn Việc thỏa thuận và sự cụ thể hóa nguyên tắc này như một trong những điều kiện cho vay được sử dụng làm cơ sở
để Ngân hàng thiết lập quan hệ tín dụng và giám sát hoạtđộng của các ngân hàngvay vốntrong quá trình hoạt động có sử dụng vốn vay của Ngân hàng
- Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạnđã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tín dụng là giao dịch cung cầu về vốn, tín dụng chỉ là giao dịch quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Trong khoảng thời gian cam kết giao dịch, ngân hàng và bên vay thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng rằng ngân hàng sẽ chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định cho bên vay Khi kết thúc kỳ hạn, bên vay phải hoàn trả quyền này cho ngân hàng với một khoản chi phí nhất định cho việc sử dụng vốn vay
Nguyên tắc này là nguyên tắc về tính bảo tồn của tín dụng: Tiền vay phảiđược bảo đảm không bị giảm giá, tiền vay phải được bảo đảm thu hồi đầy đủ
và có sinh lời Tuân thủ nguyên tắc này là cơ sở đảm bảo cho sự phát triển kinh
tế, xã hội được ổn định, các mối quan hệ của ngân hàng được phát triển theo xu thế an toàn và năng động Nguyên tắc này ràng buộc các ngân hàng không thể an toàn đối với các khách hàng làm ăn yếu kém, không trả được nợ, gây khó khăn
Trang 9Các khách hàng muốn được vay vốn ngân hàng phải có các điều kiện cơ bản sau đây:
- Có năng lực pháp lực dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
- Đối với khách hàng là pháp nhân và cá nhân Việt Nam
- Pháp nhân phải có pháp lực dân sự
- Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật hành vi dân sự
- Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
- Thành viên hợp doanh của công ty hợp doanh phải có năng lực pháp lực
và hành vi dân sự
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thivà có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật
- Thực hiện quy định về bảo nảm tiền vay theo quy định của Chính Phủ, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, và hướng dẫn của Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam
- Các điều kiện cho vay có thể được từng ngân hàng cụ thể hóa tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động của từng khách hàng, đặc điểm của từng khoản vay, tùy thuộc vào môi trường kinh doanh
2.1.2.3 Đối tượng cho vay
Đối tượng cho vay của Ngân hàng là phần thiếu hụt trong tổng giá trị cấu thành tài sản cố định, tài sản lưu động và các khoản chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng trong một thời kì nhất định
Ngân hàng cho vay các đối tượng sau:
- Giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh của kháchhàng trong một thời kì nhất định
- Số tiền vay trả cho các tổ chức tín dụng trong thời gian thi công chưa bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho vay trung và dài hạn để đầu
tư tài sản cố định mà khoản lãi sẽ được tính từng giá trị tài sản cố định đó
Trang 10Ngân hàng không cho vay các đối tượng sau:
- Số tiền thuế phải nộp (trừ số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu)
- Số tiền để trả nợ gốc và lãi vay cho tổ chức tín dụng khác
- Số tiền vay trả cho chính tổ chức tín dụng vay vốn
2.1.2.4 Thời hạn cho vay
Ngân hàng cho vay và khách hàng thỏa thuận về thời hạn cho vay căn cứ vào:
- Chu kì sản xuất, kinh doanh của đối tượng đầu tư
- Thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư
- Khả năng trả nợ của khách hàng
- Nguồn vốn cho vay của Ngân hàng
2.1.2.5 Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay là tỉ lệ phần trăm giữa số lợi tức thu được trong kỳ so với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định Thông thường lãi suất tính cho năm, quý, tháng
Lãi suất cho vay thực hiện theo qui định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cấp trên trong từng thời kỳ
Cho vay theo hạn mức tín dụng thì lãi suất áp dụng tại thời điểm nhận nợ, cho vay lưu vụ lãi suất áp dụng tại thời điểm lưu vụ
Trường hợp gia hạn nợ, giảm nợ thì lãi suất cho vay áp dụng theo thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng
Lãi suất nợ quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay
2.1.2.6 Mức cho vay
Ngân hàng nơi cho vay quyết định mức cho vay căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, giá trị tài sản làm đảm bảo tiền vay (nếu khoản vay áp dụng bảo đảm bằng tài sản), khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn
Trang 112.1.2.7 Phương thức cho vay
- Cho vay theo hạn mức tín dụng:
Theo phương thức này thì ngân hàng và khách hàng sẽ xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:
Đây là phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, nhưng ngân hàng sẽ cam kết dành cho khách hàng số hạn mức tín dụng đã định, không vì tình hình thiếu vốn để từ chối cho vay Ngân hàng phải bớt các món vay của khách hàng khác để giữ cam kết về hạn mức tín dụng nên khách hàng phải trả một mức phí cho việc duy trì hạn mức dự phòng Đó là số chênh lệch giữa hạn mức tín dụng với số thực vay
- Cho vay theo dự án:
Đây là phương thức cho vay trung và dài hạn, ngân hàng phải thẩm định dự
án trước khi cho vay Tuy nhiên, trong cho vay ngắn hạn ngân hàng vận dụng bổ sung phương thức cho vay theo dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống
-Cho vay trả góp:
Khi vay vốn thì ngân hàng và khách hàng xác định, thỏa thuận số lãi vay phải trả cộng với vốn gốc được chia ra để trả theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
- Cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:
Tổ chức tín dụng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt và đại lý của tổ chức tín tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các qui định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Trang 12- Cho vay theo hạn mức thấu chi:
Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng
- Cho vay hợp vốn:
Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng Trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác
2.1.2.8Phân loại nợ quá hạn, nợ xấu
* Phân loại nợ:
- Nhóm 01 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn tối thiểu trong vòng 01 năm đối với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn
- Nhóm 02 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã được cơ cấu lại
+ Các khoản nợ khác như:
Trường hợp khách hàng có nhiều hơn 01 khoản nợ với tổ chức tín dụng mà
có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín dụng
Trang 13- Nhóm 03 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
+ Các khoản nợ khác ở nhóm 02 nếu bị đánh giá có rủi ro cao và không được xếp vào nhóm 02
- Nhóm 04 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
+ Các khoản nợ khác ở nhóm 02 nếu có rủi ro cao và không được xếp vào nhóm 02 hoặc nhóm 03
2.1.2.9 Quy trình cho vay
QUY TRÌNH CHO VAY TAI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ TRÁT
TRIỂN NÔNG THÔN
(1) Khách hàng đến liên hệ với cán bộ tín dụng để được hướng dẫn về điều kiện vay vốn và lập hồ sơ vay vốn
(2) Cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định khách hàng vay vốn, kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các tài liệu do khách hàng cung cấp; phân tích tính khả thi,
(7)
Trang 14hiệu quả của phương án, dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn; kiểm tra phân tích về biện pháp bảo đảm tiền vay Sau đó cán bộ tín dụng lập tờ trình thẩm định; chịu trách nhiệm về các kết quả phân tích, thẩm định trên tờ trình và ý kiến đề xuất về việc cho vay hay không cho vay, kế đến chuyển toàn bộ hồ sơ và tờ trình đến lãnh đạo phòng Tín dụng xem xét
(3) Trưởng phòng Tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của hồ sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng lập, tiến hành xem xét, tái thẩm định (nếu cần thiết), ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định (nếu có) và trình giám đốc hoặc người được ủy quyền hợp pháp xem xét quyết định (4) Giám đốc chi nhánh Ngân hàng hoặc người được ủy quyền sẽ xem xét lại toàn bộ hồ sơ vay vốn và tờ trình của cán bộ tín dụng Nếucần thiết Giám đốc
có thể quyết định thành lập tồ tái thẩm định để thẩm định lại phương án, dự án vay Sau đó, sẽ quyết định vay hay không cho vay và chuyển cho phòng tín dụng (5) Nếu không cho vay thì phòng Tín dụng sẽ thông báo với khách hàng bằng văn bản Nếu cho vay thì cán bộ Tín dụng cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng kèm theo giấy nhận nợ, hợp đồng thế chấp, cầm cố giao dịch đảm bảo tài sản đồng thời cùng khách hàng thực hiện việc công chứng thế chấp tại cơ quan có liên quan
(6) Sau khi xong thủ tục Công chứng, đăng kí giao dịch đảm bảo, khách hàng chuyển toàn bộ hồ sơ cho phòng tín dụng Kế đến hồ sơ này được trình cho lãnh đạo ký
(7) Sau đó phòng Tín dụng chuyển hồ sơ đến cho phòng Kế toán
(8) Bộ phận Kế toán sẽ làm thủ tục giải ngân cho khách hàng
Ưu điểm: Thẩm định trực tiếp đến hộ vay vốn, giúp nắm bắt thông tin được chính xác và kịp thời
Nhược điểm: Tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và cho vay chậm, tốn kém chi phí
cho hộ sản xuất và chi phí ngân hàng để thẩm định đến từng hộ vay vốn.[Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (2010), Tr.12]
Trang 15- Doanh số thu nợ: là tất cả các khoản thu nợ mà ngân hàng đã thu về không phân biệt thời điểm cho vay
- Dư nợ tín dụng: là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm nào đó ngân hàng
hiện cho vay bao nhiêu và đây cũng chính là khoản mà ngân hàng phải thu về
Dư nợ tín dụng là để đánh giá tình hình hoạt động của ngân hàng qua các chỉ tiêu
so sánh mức độ tăng giảm qua các năm
2.1.3.2 Hệ số thu nợ
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ của ngân hàng hay khả năng trả nợ vay của khách hàng, chỉ tiêu này cho ta biết được số tiền mà ngân hàng thu được trong một thời kỳ kinh doanh nhất định từ doanh số cho vay Hệ số này càng lớn
thì công tác thu hồi vốn của ngân hàng càng hiệu quả và ngược lại.[Thái Văn Đại (2012), tr.139]
2.1.3.3Nợ xấu trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu này đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng Những ngân hàng nào có chỉ số này thấp cũng có nghĩa là hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân
hàng đó cao.[Thái Văn Đại và Nguyễn Thanh Nguyệt (2010), tr.29]
2.1.3.4 Vòng quay vốn tín dụng
Đây là chỉ tiêu đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, thời gian thu hồi
nợ vay nhanh hay chậm Nó phản ánh hiệu quả của đồng vốn tín dụng thông qua tính luân chuyển của nó Đồng vốn được quay vòng càng nhanh thì càng hiệu quả
và đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng.[Thái Văn Đại (2012), tr.139]
2.1.3.5 Tổng dư nợ trên vốn huy động
Chỉ tiêu cho thấy khả năng sử dụng vốn của ngân hàng, chỉ tiêu này quá lớn hay quá nhỏ đều không tốt Nếu chỉ tiêu này lớn thì khả năng huy động vốn của
Hệ số thu nợ =
Doanh số thu nợ Tổng doanh số cho vay
x 100%
Tổng dư nợ Tổng dư nợ / Vốn huy động =
x 100%
Trang 16ngân hàng thấp và ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ thì ngân hàng sử dụng nguồn
vốn không hiệu quả [Thái Văn Đại (2012), tr.138]
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua:
- Báo cáo tài chính tại phòng tín dụng của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang từ năm
p(1-p) : độ biến động của dữ liệu
MOE: sai số cho phép với cỡ mẫu nhỏ
Z : Giá thị tra bảng của phân phối chuẩn tắc ứng với độ tin cậy
Trong trường hợp bất lợi nhất là độ biến động của dữ liệu ở mức tối đa thì p=0,5
x Z2a/2
n =
[p(1-p)]
MOE2
Trang 172.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu
Mẫu phỏng vấn được lấy theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện: Các đơn
vị mẫu được chọn tại 1 địa điểm và vào 1 thời gian nhất định [Mai Văn Nam (2008), Tr.185]
Mẫu trong đề tài được thu thập trong hai xã Vĩnh Châu và Vĩnh Tế
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Trong quá trình phân tích, các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng gồm :
Đối với mục tiêu (1) và (2): phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh
doanh và phân tích hoạt động tín dụng của ngân hàng qua 3 năm 2010-2012 và 6 tháng đầu năm 2013 được thực hiện thông qua công cụ thống kê mô tả nhằm mô
tả bức tranh tổng quát về tình hình cơ bản của đơn vị đang được nghiên cứu, thức trạng hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tín dụng trong thời gian nghiên cứu và sử dụng phương pháp so sánh nhằm thấy được mức độ biến động của các
chỉ tiêu nghiên cứu qua các năm:
- So sánh số tuyệt đối: Biểu hiện quy mô, khối lượng của hiện trạng hoặc quá trình kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu
kinh tế [Mai Văn Nam (2008), Tr.39]
Y= Y1 – Y0
Y0 : Chỉ tiêu năm gốc
Y1 : Chỉ tiêu năm sau
Y : Phần chênh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu
- So sánh số tương đối : Biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai chỉ tiêu thống
kê cùng loại nhưng khác nhau về thời gian hoặc không gian hoặc giữa hai chỉ tiêu khác loại nhưng có quan hệ với nhau Trong hai chỉ tiêu để so sánh của số tương đối, sẽ có một số được chọn làm gốc để so sánh So sánh số tương đối là kết quả
của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế
[Mai Văn Nam (2008), Tr.40]
Trang 18T2 : Số liệu năm sau
Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê là một hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận Các đại lượng thống kê mô tả chỉ tính được với các biến định lượng
Đối với mục tiêu (3): dựa vào kết quả phân tích và thống kê mô tả từ kết
quả phỏng vấn trực tiếp từ các hộ gia đình Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả, khả năng của hoạt động tín dụng của chi nhánh
Trang 19CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNGNÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
TỈNH AN GIANG 3.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
tế nông nghiệp, nông thôn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mọi lĩnh vực khác của nền kinh tế
3.1.1.2 Giới thiệu về Thị xã Châu Đốc
Các đơn vị hành chính của Thị xã Châu Đốc
Thị xã Châu Đốc có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 5 phường và 2 xã: phường Châu Phú A, phường Châu Phú B, phường Núi Sam, phường Vĩnh
Mỹ, phường Vĩnh Ngươn, xã Vĩnh Châu, xã Vĩnh Tế
Lịch sử hình thành
Năm 1868, sau khi quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, nhà cầm quyền thực dân chia Nam Kỳ thành 24 hạt Tham biện Trong đó, hạt Châu Đốc trông coi hạt Đông Xuyên (Long Xuyên) và Sa Đéc Ngày 30 tháng
12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi hạt Tham biện thành tỉnh; chia An Giang thành 2 tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên
Trang 20Trong Cách mạng tháng Tám, lực lượng cách mạng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 24 tháng 8 năm 1945 Đến 20 tháng 01 năm 1946, quân Pháp chiếm lại Châu Đốc
Theo sự phân chia của chính quyền Cách mạng, ngày 06 tháng
3 năm 1948, Châu Đốc thuộc huyện Châu Phú A của tỉnh Long Châu Hậu Đến cuối năm 1950, huyện Châu Phú A thuộc huyện Long Châu Hà Đến cuối năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm sát nhập Châu Đốc với Long Xuyên thành tỉnh An Giang, địa bàn Châu Đốc nằm trên xã Châu Phú thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Phú tỉnh An Giang Từ năm 1957, Châu Đốc thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Năm 1964, sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách tỉnh, Châu Đốc thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 Đến giữa năm 1966, thành lập thị xã ủy Châu Đốc
Mùa nước năm 1967 thực hiện chỉ đạo của Khu ủy khu 8 và Tỉnh ủy An Giang trong hội nghị mở rộng tại núi Cô Tô, Châu Đốc được chọn làm mặt trận chính của tỉnh trong chiến dịch Xuân 1968 Năm 1971, huyện Châu Phú vẫn thuộc tỉnh An Giang sau khi tách tỉnh Long Châu Hà Cho đến tháng
5 năm 1974, huyện Châu Phú thuộc tỉnh Long Châu Hà theo Hội nghị thường trực Trung ương Cục cho đến ngày giải phóng Tháng 2/ 1976, thị xã Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang, gồm 2 xã: Châu Phú A và Châu Phú B
Ngày 27 tháng 01 năm 1977, nhận thêm xã Vĩnh Ngươn của huyện Châu Phú theo Quyết định số 199/TC.UB của UBND tỉnh An Giang
Vị trí địa lý
Thị xã Châu Đốc nằm trên bờ sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 245 km về phía tây, nếu chạy xe buýt mất khoảng 6 tiếng
- Phía bắc thành phố giáp huyện An Phú
- Phía đông giáp huyện Phú Tân và thị xã Tân Châu
- Phía nam giáp huyện Châu Phú
- Phía tây nam giáp huyện Tịnh Biên và biên giới với Campuchia
Trang 21thành phố cũng tập trung phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phường Vĩnh Mỹ, Vĩnh Châu,
Thương mại-dịch vụ
Với tiềm năng là một thành phố du lịch nên thương mại - dịch vụ của thành phố là một ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế thành phố Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, chợ, các trung tâm mua bán phân bố rộng khắp trên địa bàn thành phố Hàng hóa phân bố rộng khắp đến các địa bàn trong thành phố Dịch vụ nhà hàng khách sạn cũng phát triển,với một chuỗi các khách sạn, nhà hàng lớn như Victoria (4,5 sao), Châu Phố (3 sao), Bến Đá (3 sao), Đông Nam (2 sao), Song Sao (2 sao), Trung Nguyễn ( 2 sao ), Hải Châu (2 sao)
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Đây không phải là một ngành trọng điểm của thành phố nhưng cũng đóng góp một phần vào sự phát triển của thành phố.Các cụm công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp được thành phố quan tâm đầu tư và phát triển đã giải quyết một phần cho lao động nhàn rỗi nông thôn
Nông nghiệp
Đây là một ngành đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời ở thành phố.Loại hình nông nghiệp đô thị là một thế mạnh của thành phố.Các cánh đồng đã được cơ giới hóa trong công tác trước,trong và sau thu hoạch do đó năng suất không ngừng tăng và chất lượng nông phẩm cũng tăng lên
Nghiệp vụ cho vay: Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng
đồng Việt Nam đối với tất cả các thành phần kinh tế với mức lãi suất và thời hạn cho vay phù họp Đối tượng cho vay đa dạng, phong phú, phương thức
cho vay phù hợp với từng loại hình sản xuất kinh doanh
Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng:
- Thanh toán, dịch vụ Western Union
- Mua ngoại tệ và chi trả kiều hối
Trang 22- Mua bán các loại trái phiếu kho bạc và các dịch vụ khác
3.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý chi nhánh
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Thành phố Châu Đốc
Qua sơ đồ sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Châu Đốc nhìn chung gọn nhẹ, đảm bảo tính linh hoạt và nhanh chóng trong vấn đề giải quyết công việc phù hợp và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường, hiện nay NHNo&PTNT Châu Đốc gồm 25 cán bộ nhân viên, các cán bộ điều được đào tạo về nghiệp vụ và về chuyên môn, thường xuyên không ngừng nâng cao cải tiến các thể chế, quy trình nghiệp vụ và quy tắc điều hành Các cán bộ luôn được củng cố và phát huy tinh thần đoàn kết nội bộ nên quá trình công tác rất thuận lợi và nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu của thị trường một cách kịp thời
Chức năng và nhiệm vụ của từng phòng ban:
Ban giám đốc:
Gồm có 3 người, 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc, được phân công như sau: Giám đốc phụ trách chung chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác tổ chức hành chính, xây dựng kế hoạch kinh doanh của đơn vị; 1 Phó Giám đốc phụ trách công tác kế toán ngân quỹ; 1 Phó Giám đốc trực phụ trách phòng tín dụng và thay Giám đốc điều hành hoạt động Ngân hàng khi Giám đốc đi vắng
Ban giám đốc trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động của Ngân hàng, tiếp
Phòng kế toán
Trang 23Phòng kế hoạch – kinh doanh:
- Phòng kế hoạch kinh doanh gồm 11 người: 1 trưởng phòng, 2 phó phòng
và 8 cán bộ tín dụng phụ trách các xã, phường, thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, hướng dẫn khi khách hàng đến xin vay
+ Trực tiếp xem xét và thẩm định các khoản vay vốn của khách hàng
+ Theo dõi các khoản nợ trong suốt quá trình cho vay, kể từ khi khách hàng nhận tiền vay cho đến khi kết thúc hợp đồng vay vốn
+ Chịu trách nhiệm kiểm tra, xử lý, đôn đốc thu hồi các khoản nợ vay + Tổng hợp, phân tích các thông tin kinh tế, quản lý doanh mục khách hàng
và phân loại khách hàng
+ Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê chuyên đề, báo cáo sơ kết tổng hợp tháng, quý, năm theo quy định
+ Đề xuất chiến lược kinh doanh và huy động vốn
Phòng kế toán – ngân quỹ:
- Phòng kế toán – ngân quỹ có 11 người: 1 trưởng phòng, 2 phó phòng (1 phó phòng phụ trách vi tính, 1 phó phòng phụ trách ngân quỹ kiêm thủ quỹ), 6 nhân viên giao dịch phụ trách chi tiêu, tài sản, tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ chuyển tiền, nghiệp vụ thẻ,… 2 kiểm ngân Phòng có nhiệm vụ sau:
+ Trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và hạch toán nghiệp vụ thanh toán theo quy định của NHNo & PTNT Việt Nam
+ Làm dịch vụ thu chi tiền mặt, các chứng từ có giá, quản lý kho tiền, bảo quản kho tài sản thế chấp, quản lý an toàn kho quỹ, thực hiện giải ngân
và thu nợ
+ Tổng hợp lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, cháp hành chế độ báo cáo theo quy định và bảo vệ kế hoạch quyết toán tài chính hành quý, hàng năm so
với Ngân hàng cấp trên
3.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUA 3 NĂM 2010-2013 CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Dựa vào bảng số bên dưới ta thấy lợi nhuận của ngân hàng liên tục tăng qua 3 năm Cụ thể, năm 2010 lợi nhuận đạt đạt 7.586 triệu đồng, đến năm
2011 lợi nhuận tiếp tục tăng lên đến 9.830 triệu đồng, tương ứng tăng
Trang 25Bảng 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNN chi nhánh
Châu Đốc qua 3 năm 2010-2012
ĐVT: Triệu đồng
Bảng 3.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNN chi nhánh
Châu Đốc 6 tháng đầu năm 2011-2013
ĐVT: Triệu đồng
Nguồn : Phòng tín dụng của NHNo & PTNT Châu Đốc, 2010,2011,2012, 6T/2013
Chênh lệch 2011/2010
Chênh lệch 2012/2011
Số tiền Tỷ lệ (%)
Số tiền Tỷ lệ (%)
Chênh lệch 6T 2013/2012
Số tiền Tỷ lệ (%)
Số tiền Tỷ lệ (%)
Trang 26Riêng 6 tháng đầu năm 2012 thu từ hoạt động tín dụng đạt 7.216 triệu đồng Cùng kỳ năm 2013 doanh thu đạt 7.356 triệu đồng, tăng 140 triệu đồng, ứng với mức tăng 1,94% Đạt được mức tăng trưởng như vậy là do ngân hàng
đã kết hợp tốt công tác tăng cường, mở rộng cho vay và công tác đôn đốc, thu lãi đúng hạn
Đạt được kết quả này là do ngân hàng có chính sách phù hợp trong công tác huy động vốn và chính sách cho vay như chính sách về lãi suất, chính sách
ưu đãi khi cho vay, các chương trình khuyến mãi…Bên cạnh đó ngân hàng cũng nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có nhằm làm hài lòng khách hàng
và tạo niềm tin đối với uy tín của ngân hàng Thông qua đó ngày càng thu hút khách hàng làm cho hoạt động tín dụng thu từ cho vay của ngân hàng ngày càng tăng làm cho tổng thu nhập của ngân hàng cũng tăng lên vì khoản thu từ lãi cho vay là khoản thu luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của ngân hàng, bên cạnh đó thì ngân hàng còn tăng doanh thu thông qua các hoạt động dịch vụ mở thẻ, đăng ký tin nhắn báo gốc-lãi khi đến kỳ thanh toán,…
Chi phí
Để đạt được mức doanh thu trên thì ngân hàng cũng đã bỏ ra rất nhiều chi phí tương ứng và tốc độ tăng của chi phí nhìn chung qua năm tăng nhưng chậm tạo điều kiện cho lợi nhuận tăng tốt Nhìn chung tổng chi phí tăng qua các năm nhưng mức tăng đều dưới 15% Năm 2011 tăng 7,47% so với năm
2010 Nguyên nhân của sự tăng lên trong tổng chi phí là do chi trả lãi Mục cho trả lãi tăng đến 12 tỷ đồng, ứng với 39,28% trong khi đó chi khác lại giảm
đi hơn 10 tỷ
Sang năm 2012, tổng chi phí tăng 13,38% so với năm 2011 Mức tăng cao hơn giai đoạn trước là do cả chi phí trả lãi và chi khác đều tăng với mức tăng lần lượt là 12,95% và 64,05%
Riêng 6 tháng đầu năm 2013, tổng chi phí cũng tăng hơn 57% so với cùng kỳ năm 2012
Trang 27CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠINGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG 4.1 TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VỐN TẠI NGÂN HÀNGTRONG THỜI GIAN TỪ NĂM 2010 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2013
Do cán bộ hướng dẫn tại ngân hàng không nắm được lượng vốn điều chuyển của ngân hàng cấp trên chuyển xuống nên đề tài xin bỏ qua phần phân tích vốn điều chuyển Dưới đây là kết quả huy động vốn của ngân hàng qua ba năm:
Nhìn vào bảng số liệu 4.1 và 4.2ta thấy, tình hình nguồn vốn huy động của ngân hàng qua 3 năm và 06 tháng có chiều hướng tăng trưởng tốt Tuy vậy giai đoạn năm 2010-2011 thì vốn huy động có tốc độ tăng trưởng âm 9,59% Trong đó, khoản giảm chủ yếu gây ra là do lượng tiền gửi tiết kiệm có
kì hạn sụt giảm mạnh một lượng tiền là hơn 31 tỷ dồng, với tộc độ giảm là 13,64% Nguyên nhân cho sự sụt giảm này là do năm 2011 là một năm kinh tế đầy khó khăn, từ đầu năm trần lãi suất liên tục giảm về 13%, 12%, 11%, 9%, lãi suất huy động thấp nên không thu hút được khách hàng Tuy nhiên với uy tín thương hiệu của Agribank cùng sự nổ lực của toàn bộ nhân viên nên kết quả này được cải thiện đang kể vào thời gian sau
Đặc biệt là trong năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013 nguồn vốn huy động tăng khá mạnh, cụ thể là vào giai đoạn2011-2012 tổng vốn huy động tăng hơn 32 tỷ đồng với tốc độ tăng là 12,20% và 6 tháng đầu năm 2013 là
257 tỷ đồng Đạt được kết quả khả quan trên là do để định hướng thị trường, ngay từ đầu năm 2012, NHNN đã đưa ra mục tiêu giảm lãi suất huy động xuống còn 9-10%/năm vào cuối năm 2012, đồng thời đưa ra lộ trình giảm trung bình mỗi quí 1%/năm Từ tháng 5-2012, NHNN đã qui định trần lăi suất cho vay ngắn hạn VND đối với lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; trần lăi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên được điều chỉnh giảm từ mức 15%/năm xuống 12%/năm, phù hợp với xu hướng giảm của trần lãi suất tiền gửi VND.Đến cuối năm 2012, lãi suất huy động VND giảm mạnh từ 3-6%/năm, lãi suất cho vay giảm từ 5-9%/năm so với cuối năm 2011 và trở về mức lãi suất của năm 2007 Lãi suất cho vay ưu tiên giảm về mức 12%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh khác và cho vay tiêu dùng ở mức 12-15%/năm, riêng lãi suất cho vay đối với các khách hàng tốt chỉ còn 9-11%/năm Tổng phương tiện thanh toán và tín dụng
Trang 28tăng lần lượt khoảng 20% và 9%, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức thấp (6,8%), góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh
tế
Vốn huy động tại chính nhánh thành phố Châu Đốc bao gồm tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và huy động giấy tờ có giá (kỳ phiếu) Trong đó tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng cao (trên 50%) và là nguồn vốn có tốc
độ tăng trưởng khá ổn định Cụ thể, năm 2010 đạt 271.208 triệu đồng, trong
đó tiền gửi có kì hạn là 266.108 triệu đồng, chiếm 91,7% trong tổng nguồn vốn huy động Sang năm 2011 thì giảm xuống 36.298 triệu đồng, nguyên nhân như đã nêu là do khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước, tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tâm lý của khách hàng Mặt khác, NHNN áp dụng chế độ lãi suất cơ bản, quy định trần lãi suất huy động cho các ngân hàng, điều đó cũng phần nào hạn chế chính sách huy động vốn của ngân hàng Và đến năm 2012 thì tốc độ tăng trưởng của tiền gửi tiết kiệm tăng vượt bậc so với năm 2011, tăng 32.090 triệu đồng
so với 2011 Trong đó tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn đều tăng, đối với tiền gửi không kỳ hạn tăng 1.800 triệu đồng, đối với tiền gửi có kỳ hạn tăng 30.290 triệu đồng so với năm 2011
Riêng 6 tháng đầu năm 2013 thì tình hình lượng tiền gửi tiết kiệm tăng trưởng rất tốt 6 tháng đầu năm 2013 đạt 380.400 triệu đồng, tăng 228.573 triệu đồng so với 6 tháng đầu 2012, khi kênh đầu tư vàng không còn mức hấp dẫn của nó thì các người dân có xu hướng chuyển sang gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn khoản tiền đầu tư của mình
Hình 4.1: Diễn biến trần lãi suất huy động từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2013
Trang 29Trong đó, tiền gửi thanh toán năm 2011 tăng 2.480 triệu đồng so với năm
2010 và năm 2012 tăng 1.400 triệu đồng so với năm 2011
Còn kỳ phiếu thì năm 2011 tăng 730 triệu đồng so với năm 2010 Năm
2012 đạt 6.900 triệu đồng, tiếp tục tăng 120 triệu đồng so với 2011 Qua 3 năm thì kỳ phiếu chỉ tăng nhẹ dưới 13% do bộ phận dân cư của thị xã (chính thức lên thành phố vào tháng 9 năm 2013) chưa có thói quen mua kỳ phiếu để đầu tư, chủ yếu kỳ phiếu thông qua các lần phát hành tại các phường, xã theo phát động của địa phương và xem như công cụ để dành Bước sang 6 tháng năm 2013 thì con số này đạt 14.100 triệu đồng, tăng 10.246 triệu đồng, tăng khá nhiều so với cùng kỳ năm 2012 Có được sự tăng trưởng này là do thông tin thị xã Châu Đốc được nâng cấp lên thành đô thị loại 2 vào tháng 9 năm
2013 nên đã thu hút khá nhiều nhà đầu tư, thông qua đó ngân hàng phát hành
kỳ phiếu nhằm nâng cao nguồn vốn huy động của ngân hàng
Bảng 4.1: Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT chi nhánh Châu Đốc
Số tiền
Tỷ Trọng (%)
Số tiền
Tỷ Trọng (%)
Số tiền
Tỷ Trọng (%)
Số tiền
Tỷ lệ (%)
Trang 30Bảng 4.2: Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT chi nhánh Châu Đốc
Nguồn : Phòng tín dụng của NHNo & PTNT Châu Đốc, 2010,2011,2012, 6T 2011-2013
4.2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG
4.2.1 Doanh số cho vay
Doanh số cho vay là tổng số tiền mà Ngân hàng đã giải ngân dưới hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản trong một khoảng thời gian nhất định Doanh số cho vay phản ánh kết quả về việc phát triển, mở rộng hoạt động cho vay và tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng Nếu như các nhân tố khác không đổi thì doanh số cho vay càng cao phản ánh việc mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng tốt và ngược lại Sự tăng trưởng của doanh
số cho vay thể hiện quy mô tăng trưởng của hoạt động tín dụng Ngân hàng có vốn mạnh thì doanh số cho vay có thể cao hơn nhiều lần so với các ngân hàng
Chênh lệch 6T 2013/2012
Số tiền tiền Số tiền Số tiền Số Tỷ lệ (%)
Số tiền Tỷ lệ (%)
Trang 31số cho vay Dưới đây là những bảng thống kê doanh số cho vay của Ngân
hàng được phân theo: thời hạn, thành phần kinh tế và theo ngành nghề kinh tế
4.2.1.1 Theo thời hạn
Ngân hàng No&PTNT chi nhánh Châu Đốc cho vay ngắn hạn nhằm mục đích cung cấp vốn cho người dân buôn bán, sản xuất, tái sản xuất, đầu tư vào
các đối tượng như: giống cây, lao động, thuốc bảo vệ thực vật Và cho vay
trung - dài hạn để cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, đầu tư xây dựng cơ bản
mới, đầu tư cho các dự án phục vụ đời sống, cơ giới hóa nông nghiệp, người
dân đầu tư mua sắm các dụng cụ sản xuất như: máy cày, máy bơm, máy sấy,
hay phục vụ đời sống cán bộ, công nhân viên như sửa chữa nhà cửa, xây dựng
công trình, tạo vốn cho các doanh nghiệp để kinh doanh nhằm tạo ra sản
phẩm, lợi nhuận
Tình hình cho vay theo thời hạn được thể hiện rõ trong bảng dưới đây:
Bảng 4.3: Doanh số cho vay theo thởi hạn của ngân hàng giai đoạn
Trang 32Bảng 4.4: Doanh số cho vay theo thởi hạn của ngân hàng trong 6 tháng đầu
Nguồn : Phòng tín dụng của NHNo & PTNT Châu Đốc, 2010,2011,2012, 6T 2011-2013
Qua các bảng 4.3 và bảng 4.4 doanh số cho vay giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2013 ta thấy nhìn chung chỉ tiêu này đều có sự gia tăng rất tốt qua
các năm Cụ thể, năm 2011 tổng doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng tăng
58.393 triệu đồng tương ứng tăng 12,84% so với năm 2010, đó là một sự tăng
trưởng đáng ghi nhận của ngân hàng.Nguyên nhân tăng là do nhu cầu sử dụng
vốn trong nông nghiệp trên địa bàn ngày càng tăng do người dân sử dụng vốn vào
nông nghiệp ngày càng đa dạng, kết hợp nhiều ngành nghề vừa trồng lúa vừa
chăn nuôi, kết hợp xen canh đa vụ, ngoài ra còn có mở thêm dịch vụ lò sấy lúa,
gặt lúa bằng máy với qui mô nhỏ phục vụ trên địa bàn
Chuyển sang 2012 chỉ tiêu này tiếp tục tăng với tỷ lệ tăng là 3,96% so với
2011 và đạt doanh số 533.572 triệu đồng.Còn đối với 6 tháng đầu năm 2013 tổng
doanh số cho vay đạt 592.604 triệu đồng tăng 108,67% so với doanh số 308.634
triệu đồng của 6 tháng đầu năm 2012 Do nhu cầu cần vốn kinh doanh mua bán
hàng hóa của các tiểu thương trên địa bàn thành phố Châu Đốc tăng thêm do địa
phương thực hiện nhiều dự án xây dựng mới như các khu phố thương mại và mở
Trang 332012 do Ngân hàng thực hiện chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp theo nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng
ưu tiên phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn nên các hộ dân đến vay vốn chủ yếu là hình thức vay ngắn hạn nhằm phục vụ cho chi phí sản xuất nông nghiệp ngày càng nhiều hơn
a) Doanh số cho vay ngắn hạn
Nhìn chung trong tổng doanh số cho vay thì doanh số cho vay ngắn hạn của Ngân hàng chiếm tỷ trọng hơn 80% doanh số cho vay, lớn hơn nhiều so các khoản vay trung, dài hạn
Từ bảng số liệu 4.3 và 4.4 trên cho thấy doanh số cho vay ngắn hạn của NHNo&PTNT thành phố Châu Đốc tăng qua các năm và ngân hàng dường như đang rất chú trọng cho vay vốn ngắn hạn, đặc biệt đối với các hộ nông dân vay ngắn hạn phục vụ sản xuất nông nghiệp và kinh doanh các dịch vụ phục vụ nông nghiệp Năm 2010 doanh số cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng 82% so với tổng doanh số cho vay Năm 2011, doanh số cho vay ngắn hạn tăng tuyệt đối so với năm 2010 là 55.993 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 83,58% so với tổng doanh số cho vay, tỷ lệ tăng 15,01% so với năm 2010 Năm 2012, doanh số cho vay ngắn hạn tiếp tục tăng đạt 446.568 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 83,69%, tăng tuyệt đối so với năm 2011 là 17.595 triệu đồng, tỷ lệ tăng 4,10% so với năm 2011.Nguyên nhân của sự gia tăng doanh số cho vay ngắn hạn trong những năm qua là do sự thay đổi chính sách tín dụng theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước, phát triển hoạt động tín dụng một cách linh dộng nhất giúp cho nguồn vốn ngân hàng ngày càng đáp ứng sâu rộng nhu cầu vốn cho nền kinh tế
Trong sự tăng lên qua các năm thì trong giai đoạn 6 tháng đầu năm của mỗi năm cũng có sự tăng lên đáng kể 6 tháng đầu năm 2011 doanh số cho vay ngắn hạn chiếm 86,36% trong tổng doanh số cho vay ngắn hạn năm 2011, chiếm tỷ trọng khá cao 6 tháng đầu năm 2013 doanh số cho vay ngắn hạn đạt hơn 495 tỷ đồng, chiếm 83,66% doanh số cho vay, tăng hơn 222.515 triệu đồng tương ứng với 81,43% so với cùng kì năm trước
Ngoài những nguyên nhân trên thì còn có sự phấn đấu của cán bộ tín dụng trong việc đẩy mạnh công tác thẩm định, giảm bớt các thủ tục không cần thiết mang lại sự tối ưu trong công tác thẩm định Song song đó, những khách hàng truyền thống luôn được Ngân hàng luôn chú trọng đến, những nông dân vay vốn sản xuất lúa, thêm nữa còn tăng cường cho vay các hộ kinh doanh mua bán nhỏ và các doanh nghiệp tư nhân tạm thời thiếu vốn mua hàng, sản xuất kinh doanh nên đếnvay vốn Ngân hàng trong thời gian ngắn Chính vì
Trang 34vậy mà doanh số cho vay ngắn hạn của Ngân hàng luôn gia tăng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số cho vay Ngoài ra, còn do khách hàng có xu hướng chuyển sang vay vốn ngắn hạn nhiều vì lãi suất thấp hơn so với vay vốn trung và dài hạn
b) Doanh số cho vay trung và dài hạn
Doanh số cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng khá thấp trong doanh
số cho vay theo thời hạn, chỉ khoảng 20% trong tổng doanh số cho vay vì lĩnh vực cho vay này chứa nhiều rủi ro: rủi ro thanh khoản vì vốn vay lớn thời gian thu hồi vốn dài nên nguy cơ mất vốn cao Nhìn chung chỉ tiêu này vẫn tăng qua từng năm nhưng vẫn mang tính chất dè chừng NHNo&PTNT Châu Đốc cho vay vốn trung - dài hạn chủ yếu đầu tư mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, lò sấy lúa, nhà máy xay xát gạo, xây dựng sửa chữa nhà ở, phục vụ đời sống,
Năm 2010 doanh số cho vay trung và dài hạn đạt 81.874 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 18% trong doang số cho vay,sang năm 2011 doanh số này chỉ đạt 84.274 triệu đồng chiếm tỷ trọng 16,42% và tăng 2,93% Trong đó cho vay 3 hợp đồng đầu tư lò sấy lúa ở các xã Vĩnh Châu, Vĩnh Tế và Vĩnh Ngươn với tổng giá trị hơn 1,5 tỷ đồng
Đến năm 2012 doanh số cho vay trung - dài hạn có sự tăng nhiều hơn cụ thể là 2.730 triệu đồng tương ứng 3,24% và chiếm tỷ trọng 16,31%.Riêng đối với 6 tháng đầu năm 2012 so với 6 tháng cùng kỳ năm 2011 thì có sự tăng11.645 triệu đồng về số tuyệt đối 6 tháng 2012 doanh số cho vay trung và dài hạn đạt 53.791 triệu đồng thì so với cùng kì năm 2013 doanh số lại tăng thêm 79,98% tương ứng mức tăng 43.002 triệu đồng
Việc doanh số cho vay trung hạn tăng liên tục là do nhu cầu sản xuất kinh doanh của người dân ngày càng gia tăng các năm Đồng thời theo chủ trương chỉ đạo của tỉnh nhà tích cực đầu tư về các xã xây dựng và phát triển nông thôn mới, đặc biệt là khoản mà Ngân hàng cho vay hỗ trợ làm đường giao thông nông thôn mới, lắp đặt hệ thống mạng lưới điện đến vùng sâu, vùng xa Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ cho vay dài hạn đối với hộ nông dân
Trang 35theo ngành kinh tế giúp ta thấy được sự tác động của từng ngành đến doanh số cho vay của ngân hàng qua từng năm thông qua bảng số liệu 4.5, 4.6 bên dưới
a) Nông nghiệp
Qua bảng số liệu 4.5ta thấy được phần lớn khách hàng của chi nhánh là doanh nghiệp và hộ cá thể nên cho vay nông nghiệp hiện tại chỉ chiếm giá trị khá thấp trong tổng doanh số cho vay (chiếm hơn 20% tổng doanh số cho vay)
và có tốc độ tăng trưởng không ổn định Cụ thể năm 2011 doanh số cho vay ngành nông nghiệp tăng 112.290 triệu đồng (tăng hơn 1540%, tức hơn 15 lần)
so với năm 2010 Đến năm 2012 doanh số cho vay ngành này giảm lại, giảm 28.042 triệu đồng so với năm 2011
Nhìn chung thì doanh số cho vay ngành nông nghiệp qua các năm có xu hướng tăng qua các năm và chững lại vào năm 2012 Còn đối với khoảng thời gian 6 tháng đầu mỗi năm thì có xu hướng ngược lại 6 tháng 2012 lại giảm 14,93% so với năm 2011 Còn 6 tháng đầu năm 2013 doanh số cho vay ngành này đạt mức 95.567 triệu đồng tăng lên 60,97% tương đương với tăng thêm 36.198 triệu đồng so với cùng kì năm 2012
Nguyên nhân doanh số cho vay ngắn hạn ngành nông nghiệp tăng mạnh giai đoạn 2010 Ờ 2011 là do trong thời gian qua, Chắnh phủ đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, nghị định quan trọng để định hướng và làm hành lang pháp
lý cho các tổ chức tắn dụng tập trung đầu tư vào các ngành nghề kinh tế lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu giảm 0,5-1%/năm và dao động ở mức 14,5-17%/năm, thậm chắ chỉ còn 13,5%/năm Bên cạnh đó diện tắch đất nông nghiệp khá lớn, đa phần người dân ở đây trồng lúa là chắnh vì vậy nhu cầu vay vốn phục vụ cho nông nghiệp ngày càng tăng là điều tất yếu Thêm vào đó với chi phắ đầu tư mùa vụ (cải tạo đất, cây giống, phân bón, máy móc ) ngày càng tăng cao, hay chủ trương độc canh cây lúa, đẩy mạnh xen canh tăng vụ, hiện nay có nhiều nông dân mạnh dạn phát triển kinh tế chăn nuôi bò, heo theo mô hình mới mang tắnh hiệu quả kinh tế cao đang đýợc mở rộng quy mô áp dụng ngày càng tãng đã làm tăng nhu cầu tắn dụng ngắn hạn,
và điều này làm cho doanh số cho vay nông nghiệp ngày càng tăng Sang năm
2012 doanh số cho vay ngày này giảm lại do ngân hàng thực hiện điều chỉnh lại cơ cấu cho vay theo ngành, cụ thể là giảm tỷ trọng cho vay nông nghiệp và tăng tỷ trọng cho vay ngành tiêu dùng
Trang 36Bảng 4.5: Doanh số cho vay theo ngành kinh tế của ngân hàng từ 2010 - 2012
Số tiền (%) Số tiền Số tiền
Nông nghiệp 69.790 59.369 95.567 (10.421) (14,93) 36.198 60,97 Ngành thuỷ, hải sản 44.111 63.783 90.529 19.672 44,60 26.746 41,93 Tiểu thủ công nghiệp 4.853 7.209 15.045 2.356 48,55 7.836 108,70 Thương mại dịch vụ 136.255 85.494 160.546 (50.761) (37,25) 75.052 87,79 Cho vay tiêu dùng 23.008 71.383 150.350 48.375 210,25 78.967 110,62 Ngành nghề khác 31.004 39.829 80.567 8.825 28,46 40.738 102,28
Trang 37b) Thuỷ sản
Đây là nguồn vốn cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu mua tôm giống, cá giống, thức ăn, thuốc ngừa bệnh và các chi phí khác phục vụ việc nuôi trồng thuỷ sản Đa số người dân nuôi trồng theo dạng bao tiêu hợp đồng với các xí nghiệp chế biến thuỷ sản nên đảm cho khả năng thanh toán cho các hộ vay vào cuối vụ Năm 2011 cho vay thuỷ sản tăng 44.788 triệu đồng, tương đương 203,10% so với năm 2010 Do trong năm 2011 diễn biến thời tiết không có nhiều thuận lợi, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng đã ảnh hưởng đến khả năng nuôi trồng Tuy nhiên, tổng cục thuỷ sản đã phối hợp với địa phương chỉ đạo kịp thời nên phần nào hạn chế thiệt hại cho người nuôi và tình hình nuôi trồng vẫn được duy trì Kết quả sản xuất của toàn tỉnh An Giang tăng khá so với năm 2010, tăng hơn 82%
Sang năm 2012, cho vay ở lĩnh vực này tăng 33.684 triệu đồng, ứng với 50,39% so với năm 2011 Trong năm nay tình hình nuôi trồng thuỷ sản không thuận lợi với những cơn bão lần lượt đổ bộ vào nước ta và cá tra nguyên liệu liên tục rớt giá thảm hại, thậm chí xuống dưới mức giá thành sản xuất làm cho người nuôi cá trong tỉnh rơi vào tình cảnh khó khăn triền miên Tuy vậy diện tích nuôi trồng tính đến 23/11/2012 vẫn tăng 112,2% so với cùng kỳ năm
2011 và sản lượng thu hoạch luỹ kế từ đầu năm đạt 1.095.742 tấn, bằng 102,6% so với cùng kỳ năm trước do xu hướng người nuôi trồng hy vọng tình hình sản xuất sẽ khá hơn và tính thu nhập lý thuyết thì vẫn đủ khả năng trả nợ, bên cạnh việc lấy công làm lời thì việc mở rộng thêm diện tích sản xuất do đây là ngành truyền thống diện tích mặt nước lớn nên nhu cầu vay vốn tăng khá cao trong năm 2012
Nhìn chung thì tình hình cho vay ngành này trong 6 tháng đầu năm giai đoạn 2011-2013 cũng có diễn biến cùng chiều Nếu giai đoạn 2011-2012 tốc
độ tăng cho vay ngành này là 231,37% thì chỉ trong 6 tháng đầu năm của giai đoạn trên, doanh số cho vay ngành này chiếm hơn 44,60% Sang 6 tháng đầu năm 2013 thì tình hình thời tiết tiếp tục diễn biến không thuận lợi, ở toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long thì nắng nóng và thay đổi bất thường nên phần nào ảnh hưởng đến việc nuôi trồng của người dân Bên cạnh đó giá cả của một số loại thuỷ sản tăng khá mạnh, đặc biệt là giá cá điêu hồng đá lên đến đỉnh điểm giúp cho người nuôi thu lợi và bù đắp phần nào thiệt hại của năm trước Cụ thể 6 tháng đầu năm 2013 doanh số cho vay ngành thuỷ sản đạt 90.529 triệu đồng, tăng 26.746 triệu đồng, ứng với 41,93% so với 6 tháng đầu năm 2012
Trang 38c) Tiểu thủ công nghiệp
Đối với các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và tiểu thủ công nghiệp là những loại hình chủ yếu là những khoản cho vay trung hạn, nhìn chung tốc độ cho vay tăng nhanh qua từng năm Như đã được phân tích, giới thiệu ở trên thì Châu Đốc là thành phố có tiềm năng về kinh tế, nhu cầu người dân ngày càng cao, khu vực giải tỏa nhiều nên việc vay vốn xây dựng, sửa chữa cao Mặc khác với chủ trương công nghiệp hóa và đa dạng ngành nghề nên nhu cầu vốn của người dân để xây dựng sửa chữa ngày càng cao đặc biệt là sự nâng cấp máy, dụng cụ sản xuất của làng dệt truyền thống Cụ thể là vào năm 2011 giảm 3.350 triệu đồng, tức 34,36% so với năm 2010, cho đến năm 2012 thì chỉ tiêu ở ngành này tăng trở lại 3.640 triệu đồng tăng 56,88% so với năm 2011 và đạt 10.040 triệu đồng
Xét giai đoạn 2011-2012, doanh số cho vay ngành tiểu thủ công nghiệp tăng 56,88%, trong đó giai đoạn 6 tháng đầu năm 2012 đã có tốc độ tăng trưởng hơn 48% so với giai đoạn cùng kỳ năm 2011.Đối với 6 tháng 2012, doanh số cho vay của ngành đạt được 7.209 triệu đồng, so với cùng kì thì năm
2013 chỉ tiêu này đạt 15.045 triệu đồng tăng 108,7% so với 6 tháng 2011 Vốn vay của loại hình này luôn cao qua từng năm là do nhiều nguyên nhân đó là tình hình kinh tế ở thành phố luôn ổn định, ngoài ra thành phố đang từng bước phát triển nhu cầu nhà ở, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cảnh quan đô thị nhưng vẫn chú trọng giữ gìn, phát triển cho các làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống, nhằm đáp ứng cơ sở vật chất của một đô thị loại 2 Nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất ngày càng tăng thì bên cạnh đó giá cả nguyên vật liệu đang theo chiều hướng tăng cao
Ta thấy thời hạn trả nợ của loại hình cho vay trung hạn khá lâu nên khi Ngân hàng cần vốn thì không có và nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro, vì thế Ngân hàng cho vay với tỷ trọng thấp Nhưng nhìn chung tốc độ gia tăng năm sau vẫn cao hơn năm trước là do có một số khách hàng có uy tín luôn được Ngân hàng quan tâm cho vay khi họ có nhu cầu Với số tiền cho vay xây dựng, sửa chữa, tiểu thủ công nghiệp luôn tăng cao trong những năm gần đây
Trang 39Trong đó, 6 tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ năm 2011 thì cũng giảm tương ứng 37,25% về số tương đối, về số tuyệt đối thì cũng đã giảm hơn 50.761 triệu đồng Còn đối với 6 tháng 2013 chỉ tiêu này đạt 160.546 triệu đồng tăng 87,79% tương ứng tăng 75.052 triệu đồng so với 6 tháng đầu năm
2012
Nguyên nhân do hiện nay ngành thương mại - dịch vụ đang trên đà phát triển, các công ty TNHH thương mại dịch vụ, du lịch, doanh nghiệp tư nhân cũng bắt đầu phát triển nhằm đáp ứng kịp thời những nhu cầu cho cuộc sống hiện đại vì vậyvốn đầu tư vào các ngành này cũng tăng dần qua các năm Cho vay khách hàng thuộc ngành này thường có vòng quay vốn nhanh ngân hàng
dễ thu hồi vốn tốt và liên tục Vì thế, ngân hàng luôn chú trọng nâng cao cho vay đối với ngành này Bên cạnh đó thì nguồn vốn này cũng được tập trung vào việc xây dựng một số công trình vui chơi giải trí như Vạn Hương Mai, phố thương mại Khang An, các mô hình khách sạn trong khu vực Núi Sam nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, du lịch của khách hành hương trong dịp lễ hội Vía bà Chúa xứ Núi Sam diễn ra trong thời gian khá dài
e) Cho vay tiêu dùng
Bên cạnh cho vay sản xuất nông nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ thì doanh số cho vay tiêu dùng hiện đang chiếm tỷ trọng khá cao (hơn 45%) và tăng mạnh qua các năm Cụ thể năm giảm 187.040 triệu đồng, ứng với giảm 88,39%, so với năm 2010 Đến năm 2012 là 120.027 triệu đồng, tăng trở lại 95.457 triệu đồng, tương ứng với 388,51%
Nguyên nhân là do đời sống nhân dân ngày càng cao nên nhu cầu vay tiêu dùng của họ ngày càng lớn như: phục vụ nhu cầu đời sống cá nhân, cán
bộ công nhân viên chức cải thiện đời sống như cho vay mua sắm thiết bị, đồ dùng trong gia đình, sữa chữa nhà,… tuy nhiên đến khi người dân không còn nhu cầu mua sắm nữa thì doanh số cho vay lĩnh vực này giảm xuống Nhu cầu người dân hiện đang được đánh giá là rất cao và sẽ tiếp tục tăng do đời sống của đại bộ phận dân cư trên địa ngày càng được nâng cao Doanh số cho vay ngành này cũng phụ thuộc vào cơ cấu doanh số cho vay của ngân hàng theo từng năm
f) Ngành khác
Ngoài ra ngân hàng còn cho vay các đối tượng khác, chủ yếu là cho vay mua sắm các thiết bị sản xuất nông nghiệp, cho vay xuất khẩu lao động, mua các vật tư thiết bị phục vụ nuôi cá,… Năm 2011 là 37.207 triệu đồng, giảm 17.469 triệu đồng đến năm 2012 thì doanh số cho vay trong ngành này tăng lên 60.928 triệu đồng, tăng 23.658 triệu đồng so với năm 2011 Trong đó cho
Trang 40vay ngành khác chủ yếu là trong ngắn hạn Riêng 6 tháng đầu năm 2013 doanh số cho vay ngành này đạt 80.567 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng hơn 40 tỷ đồng
4.2.1.3 Theo thành phần kinh tế
Trong những năm qua, chi nhánh ngân hàng đã không ngừng tìm kiếm khách hàng mới và giải quyết kịp thời nhu cầu vốn hợp lý cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân Trong từng thời điểm Ngân hàng có sự thay đổi trong cơ cấu cho vay của mình để phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng Địa bàn ngành nghề chủ yếu là nuôi trồngthuỷ sản, thương mại - dịch vụ, tiểu thương nên cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn rất lớn chiếm trên 80% trong tổng nhu cầu vốn vay đối với thành phần kinh tế Còn đối với loại hình công ty do thành phố phát triển nhưng còn non trẻ, số lượng doanh nghiệp chưa nhiều, quy mô nhỏ nên nhu cầu vốn chưa thực sự nhiều, nhưng cũng tăng tương đối qua các năm
a) Cá nhân và hộ gia đình
Nhìn vào bảng số liệu bên dưới ta có thể thấy nhu cầu vay vốn của cá nhân và hộ kinh doanh tăng qua các năm Vào năm 2011 là 466.450 triệu đồng, nghĩa là tăng 39.141 triệu đồng, ứng với 9,16% so với 2010 Đến năm
2012 thì doanh số này tăng lên 4,93%, tương ứng với 23.000 triệu đồng
6 tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ năm 2011 thì có cùng xu hướng chung với cả năm tăng 1,09% Riêng 6 tháng đầu năm 2013 thì doanh số cho vay đối với hộ kinh doanh đạt 546.954 triệu đồng, tăng rất nhanh so với thời gian cùng kỳ năm 2012, tăng hơn 85%
Nhìn vào đây thì có thể thấy tuy ngân hàng định hướng phát triển với vai trò chủ đạo làm trụ cột đối với nền kinh tế địa phương, đặc biệt là đối với nông nghiệp và nông thôn, thì bên cạnh đó ngân hàng chi nhánh Châu Đốc cũng hoạt động dựa vào tình hình nhu cầu của địa phương Đối với một thị xã vừa được nâng cấp lên đô thị loại 2 thì trong quá trình chuẩn bị cho sự phát triển chung của toàn thành phố thì nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng được