Enzyme phytase có tác dụng phá vỡ phức hợp phytic – là dạng dự trữ phosphor trong nhiều loại ngũ cốc và đậu như đậu tương là 60%, ngô là 72% và lúa mì là 77% Phạm Thị Trân Châu, 2007 – v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NC&PT CÔNG NGHỆ SINH HỌC - KHOA KHOA HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
PHÂN LẬP MỘT SỐ DÒNG NẤM MỐC CÓ KHẢ NĂNG TỔNG HỢP ENZYME PHYTASE VÀ ỨNG DỤNG CHÚNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
VIỆN NC & PT CNSH LỚP CÔNG NGHỆ SINH HỌC K31
MSSV: 3052826
Cần Thơ, Năm 2009
Trang 2CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ
Phosphor (P) là thành phần cấu trúc của acid Nucleic (DNA, RNA), màng phosphorlipid, các hợp chất cao năng (như ATP, NADPH), xương , vì thế phosphor là một trong những nguyên tố có vai trò quan trọng đối với sinh vật Nếu thiếu phosphor, động vật sẽ chán ăn dẫn đến gầy còm, còi xương, giảm sinh sản
Trong tự nhiên, phosphor tồn tại chủ yếu ở hai dạng là phosphor vô cơ khó tan nằm trong các quặng thiên nhiên như apatit, phosphate sắt, phosphate nhôm, và dạng phosphor hữu cơ phức tạp có trong xác động vật, thực vật chủ yếu là acid nucleic, acid phytic, phytate, Cả hai dạng phosphor này sinh vật không thể hấp thu được
mà phải chuyển hóa về dạng phosphate tan (PO4
3-) thì cơ thể mới hấp thu được Muốn chuyển hóa được các hợp chất phosphor hữu cơ này phải nhờ hệ enzyme phytase có trong động thực vật và vi sinh vật
Enzyme phytase có tác dụng phá vỡ phức hợp phytic – là dạng dự trữ phosphor trong nhiều loại ngũ cốc và đậu như đậu tương là 60%, ngô là 72% và lúa mì là 77% (Phạm Thị Trân Châu, 2007) – và tăng khả năng tiêu hóa các phosphor thực vật trong thức ăn cũng như giải phóng một số acid amin, tinh bột, calcium và các nguyên tố vi lượng khác Phytase là enzyme tự nhiên được sử dụng để làm tăng chất lượng của thành phần thức ăn giàu acid phytic, giảm thấp sự bài tiết lân vào trong phân thải từ đó hạn chế được ô nhiễm môi trường Đồng thời, việc bổ sung phytase còn giúp giảm lượng phosphate vô cơ dễ tiêu bổ sung vào thức ăn gia súc từ đó sẽ giảm được chi phí thức ăn cho nhà chăn nuôi
Mục tiêu của đề tài: phân lập và nhận diện một số dòng nấm mốc tổng hợp được
enzyme phytase và ứng dụng trực tiếp các dòng nấm này trong việc cải thiện phân hữu cơ và bột đậu nành
Trang 3CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Acid phytic – phytate
Acid phytic (Myo-inositol hexakisphosphat) là một loại muối phosphor hữu cơ có vai trò rất quan trọng đối với động vật cũng như thực vật, con người và vi khuẩn Phytate là muối của acid phytic Acid phytic có nhiều trong các loại hạt ngũ cốc và hạt phấn, nó được giải phóng trong suốt quá trình nảy mầm của hạt Acid phytic là thành phần dự trữ chính của phosphor, nguồn inositol và nhiều chất khoáng trong cây Acid phytic chiếm 75-80% lượng phosphor tổng trong các loại hạt và 1-5% trọng lượng của các loại hạt dùng làm thực phẩm như hạt đậu, hạt ngũ cốc, và hạt có
dầu (Oh et al., 2004; Vohra et al., 2003)
Bảng 1: Hàm lượng Phytase Phosphorus và phosphor tổng trong thức ăn thực vật (%)
Phosphor tổng (%)
Hàm lượng Phytase Phosphorus (%)
Phytase Phosphorus tổng (%)
(Viện chăn nuôi Việt Nam 2009)
Trong tự nhiên, acid phytic tồn tại chủ yếu trong các dạng muối phytate dưới dạng phức hợp với các cation quan trọng cho dinh dưỡng như Ca2+, Zn2+ và Fe2+ Vì vậy, khi nói về acid phytic thì thường dùng thuật ngữ phytate Phytate chứa 14-25%
Trang 4phosphor, 12-2% Canxi, 1-2% kẽm và sắt Hổn hợp muối Ca-Mg của acid phytic được gọi là phytin
2.2 Phytase là gì?
Phytase là một enzyme có thể giải phóng phytate được đính phosphor để sử dụng trong đường tiêu hoá của vật nuôi dạ dày đơn Bổ sung phytase vào thức ăn vật nuôi
có thể làm giảm nhu cầu cung cấp lân vô cơ như dicalcium phosphate và giảm thấp
sự bài tiết lân vào trong phân thải, từ đó hạn chế được ô nhiễm lân vào trong đất và trong nước ngầm
Phytase (Myo- Inositol hexakisphosphat phosphorhydrolase) là một enzyme đặc biệt của lớp enzyme phosphatase xúc tác thủy phân nối phosphormonoester của acid phytic (Myo-inositol 1,2,3,4,5,6-hexakis dihydrogen phosphate hay Myo-inositol hexakisphosphate) giải phóng orthophosphate vô cơ và các dẫn xuất Myo-inositol
chứa ít nhóm phosphate hơn, có thể thành Myo-inositol tự do (Oh et al., 2004;
Vohra et al., 2003) (Hình 1)
Hình 1 Cơ chế thủy phân phosphate hữu cơ bởi phytase
Trang 5Nhóm photphate được giải phóng có thể gắn với thuốc thử molypdate hình thành phosphormolybdenum màu xanh lam có thể phát hiện được bằng phép so màu theo phương pháp Oniani (Vohra et al., 2003)
Phytase phân hủy acid phytic và phytate để giải phóng ra acid phosphoride, inositol, nguyên tố khoáng, protein, acid amin, tinh bột và liposome Phytase không chỉ là một loại enzyme có tác dụng phá vỡ phức hợp phytic, tăng khả năng tiêu hóa các phosphor thực vật trong thức ăn, giải phóng một số acid amin, tinh bột, calcium và các nguyên tố vi lượng khác mà phytase còn giúp giảm lượng phosphor vô cơ sử dụng và do đó sẽ giảm được chi phí thức ăn
2.3 Nấm mốc sản xuất phytase
2.3.1 Sơ lược về đặc điểm hình thái của một số loại nấm mốc có khả năng tổng
hợp phytase (Cao Ngọc Điệp, 2006)
2.3.1.1 Aspergillus
Chi Aspergillus thuộc ngành phụ Nấm Nang (Ascomycotina) Chi này có khoảng
200 loài và phát tán khắp nơi trong tự nhiên
Khuẩn ty Aspergillus có vách ngăn hoàn chỉnh và phân nhánh Nhiều khuẩn
ty phát triển trên bề mặt cơ chất để hấp thu chất dinh dưỡng Khuẩn ty khi đứt thành khúc thì mỗi khúc hay đoạn có thể phát triển cho ra một khuẩn ty mới
Khuẩn ty hình thành một cọng mang túi bào tử (conidiophore) và bào tử đính (conidia) với cọng mang túi bào tử không vách ngăn và không xuất phát từ tế bào chân (foot cell) Túi hay bọng (vesicle) là tế bào đa nhân và phát triển bề mặt gắn liền với thể bình (phialide hay sterigmata) (hình 2) Thể bình với bậc 1 hay bậc 2, mỗi thể bình là cấu trúc đa nhân và trên đầu thể bình tạo thành một chuổi bào tử đính, những bào tử non ở trong và càng xa càng già; bào tử trưởng thành sẽ phóng thích vào không khí và nẩy mầm (hình 3)
Trang 6(Cao Ngọc Điệp, 2006)
Hình 2: Khuẩn ty, cọng bào tử, túi và thể bình ở Aspergillus
(Cao Ngọc Điệp, 2006)
Trang 7Penicillium sinh sản vô tính với cọng bào tử và đính bào tử, cọng bào tử có thể
không phân nhánh, phân nhánh bậc 1, 2 hay 3 và tận cùng của cọng bào tử là các thể bình, nếu cọng bào tử không phân nhánh thì tận cùng là các thể bình và các chuỗi đính bào tử giống như cây cọ vẽ của các hoạ sĩ nên còn gọi là thể bình vẽ (metulae), cán (ramus) và cọ vẽ (penicillus) (hình 4) Đính bào tử có dạng tròn
có vách láng hay xần xùi, chỉ có đơn nhân nhưng cũng có khi chúng có đa nhân
Penicillium có đính bào tử mang màu xanh đặc trưng và phát tán dể dàng bởi gió
(Cao Ngọc Điệp, 2006)
Hình 4: Cọng bào tử, đính bào tử cán, thể bình vẽ, thể bình của Penicillium
Trang 8Bảng 2: Sự khác biệt giữa hai chi Aspergillus và Penicillium
- Cọng bào tử không phân chia và
không có vách ngăn ngang
- Cọng bào tử phát triển từ một tế bào
gọi là tế bào chân
- Mỗi cọng bào tử mở rộng trong một túi
- Vách của tử nang cầu dày
- Cọng bào tử phân chia và có vách ngăn ngang
- Cọng bào tử phát triển từ một vài tế bào của khuẩn ty, không có tế bào chân
- Túi không hình thành ở đầu cọng bào
tử và phát triển thành cọ vẽ
- Cán hiện diện bên dưới thể bình
- Đính bào tử có màu xanh lục
- Vách của tử nang cầu mỏng hơn
2.3.1.3 Rhizopus
(Cao Ngọc Điệp, 2006)
Hình 5: Các loại khuẩn ty ở Rhizopus - Khuẩn căn (rhizoids), khuẩn ngang
(stolon) và cọng bào tử (sporangiophores)
Trang 9Rhizopus thuộc ngành phụ Nấm tiếp hợp (Zygomycotina) với khoảng 120 loài
Khuẩn ty thường có màu trắng, phân nhánh, đa nhân và không có vách ngăn ngang Khi còn non khuẩn ty có dạng sợi như bông vải, khi phát triển sâu vào cơ chất thì phân chia thành ba dạng khuẩn ty là khuẩn căn, khuẩn ngang và cọng bào tử (hình 5)
Khuẩn căn là khuẩn ty ăn vào cơ chất để hấp thu chất dinh dưỡng
Khuẩn ngang là khuẩn ty phát triển theo chiều ngang, trên mặt cơ chất nối từng nhóm nấm với nhau
Cọng mang túi bào tử là khuẩn ty mọc thẳng lên không, chúng phát triển từ trung tâm điểm xuất phát của khuẩn căn và khuẩn ngang Từ một điểm mọc lên nhiều cọng bào tử
Đặc tính của Aspergillus là hình thành những cọng mang bọc bào tử
(sporangiophores) và túi (bọc) bào tử (sporangium) Bào tử không có roi, gần như tròn, đồng nhất, đa nhân nằm trong túi màu đen gọi là túi bào tử Một túi bào
tử phát triển đơn độc và tận cùng của cọng mang bọc bào tử và bọc bào tử có màu đen nên còn gọi là mốc đen
2.3.1.4 Mucor
Mucor cũng thuộc ngành phụ Nấm tiếp hợp (Zygomycotina)
Nấm Mucor sinh sản vô tính như nấm Rhizopus bằng cách thành lập cọng mang
bọc bào tử và bào tử vách dày (chlamydospore)
Cọng mang bọc bào tử với những bào tử bất động hình thành trong cái bao hay
bọc bào tử (sporangia); mỗi bọc bào tử phát triển tận ngọn, không phân nhánh và cọng mang bọc bào tử phát triển riêng biệt, không cùng nhóm (hình 6) Một số loài
cá biệt có thể mang bọc bào tử phân nhánh như Mucor racemosus và Mucor plumbeus
Trong tế bào chất chứa nhiều nhân nhưng ở bào tử chỉ có 1 nhân, túi bào tử đổi sang màu nâu khi bào tử trưởng thành và dễ dàng vỡ ra để phóng thích bào tử theo gió hoặc bám vào chân côn trùng để phát tán
Trang 10(Cao Ngọc Điệp, 2006)
Hình 6: Cọng mang bọc bào tử với 1 bọc bào tử ở Mucor
Bảng 3: Sự khác biệt giữa hai chi Rhizopus và Mucor
- Có khuẩn căn
- Có khuẩn ngang
- Thức ăn được hấp thu từ khuẩn căn
- Cọng bào tử phát triển riêng
biệt với khuẩn căn
- Bào tử dính trên cuống bào tử và
khó phân tán
- Không có khuẩn căn
- Không có khuẩn ngang
- Thức ăn được hấp thu từ bề mặt khuẩn ty
- Cọng bào tử phát triển riêng biệt và không cùng tập hợp thành nhóm
- Bào tử dễ phát tán theo gió
Trang 112.3.2 Một số nấm mốc tổng hợp phytase
Một số nhóm Aspergillus niger sản xuất phytase ngoại bào có thể cắt phosphor từ Calcium phytate trong môi trường axit Được phân lập từ đất A ficuum NRRL 3135
sản xuất hầu hết phytase có hoạt tính trong môi trường tinh bột ngô Việc sản xuất phytase bị ức chế một cách mạnh mẽ bởi phosphate vô cơ và tỉ lệ C/P trong môi
trường (Shieh và Ware, 1968) Hơn 2000 loài được phân lập từ 68 mẫu đất trong
môi trường giàu dinh dưỡng Hoạt tính của phytase ngoại bào được tìm thấy trong một vài nấm mốc khác nhau đã được kiểm tra trên môi trường (Shieh và Ware, 1968)
Bảng 4: Những loài Aspergillus phân lập từ đất sản xuất phytase ngoại bào có
hoạt tính
Loài
Số lượng test trên môi trường
Số lượng sản phẩm Phytase sinh ra
A Fumigatus
A Flavus
A Flavipes
A Clavatus
A glaucus
A nidulans
A ochraceus
A versicolor
A terreus
A ustus
A wentii
A restrictus
A niger
A candidus
Aspergillus speceisα
6
10
3
4
7
10
2
3
2
2
3
1
22
2
3
0
2
0
0
0
0
0
1
1
0
0
0
21
0
3
(Shieh và Ware, 1968)
Hoạt tính của phytase ngoại bào được quan sát với 28 trong 82 loài Aspergillus spp.,
1 trong 58 loài Penicillium spp., 1 trong 37 loài Mucor spp., không có trong 13 loài Rhizopus, 4 loài Cunninghamella, 4 loài Neurospora, 140 loài nấm men thì thể hiện
17 giống và 56 loài vi khuẩn thì chỉ thể hiện hoạt tính của enzyme phytase ngoại bào
Trang 12là 18 loài Tuy nhiên, có nhiều loài sản xuất enzyme nội bào có hoạt tính Trong số
30 loài nấm mốc có khả năng cắt calcium phytate có 28 loài là Aspergillus Nhóm hoạt động mạnh nhất là A niger (Shieh và Ware, 1968) (bảng 4)
Bảng 5: Một vài chủng Aspergillus khác có khả năng sản xuất phytase ngoại
bào
Loài khác của Aspergillus
Hoạt tính (units/ml)
A niger ATCC 9142
A niger ATCC 10864
A niger van Tieghem
A niger var Cinnamoneum NRRL 348
A niger japonicus saito ATCC 1034
A niger NRRL 372
A niger NRRL 326
A niger NRRL 330
A niger NRRL 4361
A niger NRRL 337
A awamori ATCC 11382
A awamori ATCC 11358
A saitoi ATCC 11362
A carbonarius NRRL 368
A carbonarius PCC 104
A tubingensis NRRL 4875
A ficuum WB 4016
A ficuum WB 320
A ficuum WB 364
A ficuum WB 4541
A ficuum WB 4781
A ficuum NRRL 3135 (phân lập từ đất)
A niger X (phân lập từ đất)
A niger K (phân lập từ đất)
2,1 0,8 3,5 1,4 0,6 1,0 0,7 0,8 0,7 0,5 2,3 3,3 1,8 1,9 1,5 2,4 1,1 1,0 1,5 1,0 1,2 10,5 5,0 4,0
(Shieh và Ware, 1968)
Nhiều loài khác của Aspergillus sản xuất một số lượng phytase nội bào có hoạt tính
nhưng không đáng kể Số lượng phytase ngoại bào được sản xuất bởi những chủng
khác của Aspergillus được thể hiện trong bảng 5 Nhiều loài được phân lập từ đất có thể tạo được halo trên môi trường có calcium phytate là A niger, A ficuum NRRL
Trang 133135 là loài được quan tâm nhất bởi vì nó không hình thành bào tử trên hầu hết môi trường và sản xuất lượng lớn phytase có hoạt tính cao nhất (Shieh và Ware, 1968)
* Ảnh hưởng của phosphate đến việc sản xuất phytase ngoại bào trên A ficuum NRRL 3135
Khi những loại đường như glucose, sucrose được sử dụng như là nguồn carbon thì người ta quan sát thấy hệ khuẩn ty dạng sợi hình thành và làm giảm sản lượng phytase sinh ra Khi sử dụng bột bắp thì hệ sợi phát triển giảm và lượng phytase cao Lượng phytase chứa trong bột bắp khác nhau phụ thuộc vào lượng phosphor và cũng khác nhau ở những vùng khác nhau (bảng 6) Sự phát triển của nấm mốc tăng khi tăng hàm lượng phosphate, nhưng sự tổng hợp phytase thì giảm một cách mạnh mẽ khi tăng hàm lượng phosphate bổ sung vào môi trường Sự ức chế quá trình tổng hợp phytase bằng phosphate là một hiện tượng chung, điều này được quan sát ở tất
cả các loài nấm mốc và nấm men (Shieh và Ware, 1968)
Bảng 6: Ảnh hưởng của hàm lượng phosphate lên sự tổng hợp phytase của
6,4 6,0 1,5 0,52 0,52 0,40 0,48 0,40 0,16 0,15 0,15
(Shieh và Ware, 1968)
Trang 14Bảng 7: Ảnh hưởng của tỉ lệ C/P b lên việc sản xuất phytase của Aspergillus ficuum NRRL 3135α
4,440
1,1 1,9 1,9 2,3 1,9
1,2
532
882 1,184 1,776 3,552
8,880
10,8 11,4 12,7 9,7 10,8
A ficuum NRRL 3135 sản xuất hầu hết phytase có hoạt tính khi lượng phosphate vô
cơ kém hơn 0,004%(w/v) trong môi trường chứa 8%(w/v) bột ngô Khi lượng phytase được tạo ra thì lượng phosphate vô cơ trong môi trường bị giới hạn (Shieh
và Ware, 1968)
Một thông báo chỉ ra rằng enzyme phytase được tinh sạch từ nhiều dòng khác nhau
Nhũng dòng có đặc điểm tốt nhất là Aspergillus ficuum và A niger Gen tổng hợp enzyme phytase của những dòng Aspergillus niger, A fumigatus, A terrus, A nidulans, Myceliophthora thermophila, và Talaromyces thermophila đã được nhân
dòng và giãi trình tự (Jane et al., 2007)
Trang 152.4 Các ứng dụng thực tế của enzyme phytase
2.4.1 Trong công nghiệp thức ăn gia súc
Chiếm một tỉ lệ lớn trong thức ăn gia súc là thành phần thức ăn có nguồn gốc thực vật như bắp, đậu, Khoảng 2/3 hàm lượng phosphor trong thức ăn có nguồn gốc thực vật là acid phytic hiện diện dưới dạng phytate Do đó, phosphor trong phytate hầu như không có giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gia súc (Nelson, 1967) Hơn nữa, phytate liên kết với các ion có giá trị dinh dưỡng cao vì thế hạn chế giá trị dinh dưỡng của các ion này
Động vật nhai lại tiêu hóa phytate thông qua hoạt động của enzyme phytase tiết ra từ
hệ vi sinh vật trong dạ cỏ Phosphate vô cơ được giải phóng từ phytate bởi phytase được cả hệ vi sinh vật dạ cỏ và động vật chủ sử dụng Tuy nhiên, các động vật có dạ dày một ngăn lớn, gia cầm và cá lại không thể biến dưỡng acid phytic vì chúng thiếu phytase ở hệ ruột và dạ dày Do đó, người ta thêm phosphate vô cơ, bột đậu nành và các loại bột có hàm lượng phosphor tổng cao vào thức ăn gia súc để đáp ứng nhu cầu phosphate của cơ thể động vật Việc này làm tăng chi phí cho các nhà chăn nuôi gia súc và tăng ô nhiễm môi trường Các vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách bổ sung phytase vi sinh vật vào thức ăn gia súc hoặc dùng các loại ngũ cốc có hàm lượng phytase cao làm thức ăn gia súc
Wodzinski và Ullah (1996) đã đưa ra con số thống kê rằng nếu dùng phytase để bổ sung vào thức ăn gia súc của tất cả vật nuôi ở Mỹ thì phosphor được giải phóng sẽ tương ứng với 168 triệu USD và sẽ giảm được 8,23x104 tấn phosphor thải ra môi trường mỗi năm Cục Quản Lý Thuốc và Thực Phẩm (FDA – The Food và Drug Administration) đã công nhận chế phẩm phytase đạt tiêu chuẩn GRAS (Generally
Regarded As Safe) (Wodzinski và Ullah, 1996; Kerovuo, 2000)
2.4.2 Trong công nghiệp thực phẩm
Ngũ cốc, hạt có dầu và các loại đậu là các loại nguyên liệu phổ biến trong chế biến thực phẩm Điều này dẫn đến một lượng lớn phosphate được đưa vào trong cơ thể
Trang 16con người Phytate trong hệ ruột không được tiêu hóa sẽ tác động xấu đến sự hấp thu kẽm, calcium, magie và sắt Hơn nữa, nó còn ức chế hoạt động của enzyme tiêu hóa
Do đó, việc bổ sung phytase vào nguyên liệu trước khi chế biến có ý nghĩa lớn
(Kerovuo, 2000)
Phytase đã được bổ sung vào quá trình chế biến bột mì để làm giảm lượng acid phytic trong các loại bánh dùng bột mì (trong bánh mì, acid phytic chiếm 0,29% - 1,05% (w/w)) Phytase thích hợp cho quá trình này cần có pH tối ưu ở 4,5 – 5,0, nhiệt độ tối ưu 300C và không phụ thuộc vào ion Ca2+
Các loại nấm mốc dùng trong chế biến thực phẩm lên men phương Đông được cho biết là tiết phytase Tempeh là một loại thực phẩm lên men phổ biến của người dân
Indonesia được làm từ đậu nành ủ với nấm mốc Rhizopus oligosporus, nấm này có
tiết phytase và làm tăng mùi, tăng hàm lượng vitamin và tăng khả năng tiêu hóa của đậu nành
Phytase đã được bổ sung vào quá trình chế biến nước chiết bắp (corn steep liquor),
rút ngắn được thời gian ngâm bắp (Kerovuo, 2000)
2.4.3 Các ứng dụng khác
Ngoài các ứng dụng trên, phytase còn được dùng trong chế biến thức ăn cá để làm giảm lượng phosphor thải ra môi trường nước và giảm chi phí bổ sung phosphate vô
cơ vào thức ăn cá (Kerovuo, 2000)
Phytase được dùng để cải thiện chất lượng đất, vì có những nơi acid phytic và các dẫn xuất của nó chiếm đến 50% tổng lượng phosphor hữu cơ trong đất Việc bổ sung phytase vào đất làm tăng làm hàm lượng phosphor vô cơ trong đất giúp cây tăng trưởng nhanh hơn và giảm chi phí dùng phân bón phosphor cho nhà nông
(Vohra et al., 2003)
Các phytase vi sinh vật là loại phytase tốt nhất cho các ứng dụng công nghiệp
(Kerovuo, 2000) Khi ứng dụng phytase trong sản xuất, việc dùng kết hợp phytase từ
Trang 17nhiên, phytase sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi kết hợp với các enzyme thủy phân khác (Casey và Walh, 2002)
Trang 18PHẦN III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện
3.1.1 Địa điểm tiến hành thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành tại phòng thí nghiệm Vi sinh vật – Viện Nghiên cứu và phát triển Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Cần Thơ
3.1.2 Thời gian thực hiện
Trang 19- Đĩa petri, ống nghiệm, bình Erlenmeyer 100ml-500ml, bình tam giác, cốc đựng dung dịch, chai lọ thủy tinh
- Đèn cồn, que cấy, tiêm bơm, bộ lọc vi khuẩn
- Cân điện tủ Sartorius (Đức)
- Máy vi tính phân tích và lưu trữ số liệu
Hình 7: Phân hữu cơ sử dụng cho thí nghiệm
Trang 203.2.3 Hóa chất và môi trường
* Hóa chất dùng pha môi trường phân lập nấm mốc
* Hóa chất dùng pha môi trường nhân nuôi nấm mốc
Môi trường bột đậu dạng lỏng để nhân mật số (pH = 5,5)