Tuy nhiên công nghệ bảo quản thóc đổ rời trong điều kiện áp suất thấpcũng bộc lộ một số nhược điểm như: sự đọng sương bề mặt màng phủ dẫnđến hiện tượng men mốc trong lô thóc bảo quản Ngu
Trang 1Phần I
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành Dự trữ Nhà nước thực hiện một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quantrọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, lượng thóc và gạo dự trữ thuộcngành Dự trữ quản lý là rất lớn theo đề án chiến lược DTNN giai đoạn 2010 –
2020 trình Chính Phủ, hiện tại và những năm tiếp theo chúng ta vẫn giữnguyên số lượng lương thực bảo quản khoảng 200.000 tấn, tiếp đếnkhoảng 800.000 tấn phấn đấu đến năm 2020 đạt được 1.200.000 tấn Tổnglượng thóc gạo phải đủ để phục vụ yêu cầu cấp bách của Quốc gia khi xảy
ra thiên tai hoặc chiến tranh
Trước năm 2008, ngành DTNN vẫn bảo quản thóc chủ yếu theophương thức truyền thống, đó là đóng bao xếp lô (đối với các tỉnh MiềnNam ) hoặc đổ rời trong kho Cuốn, kho Tiệp, kho A1 (đối với các tỉnh MiềnBắc, Miền Trung) và để thông thoáng tự nhiên Với phương thức bảo quảnnày mức độ tổn thất về lượng và đặc biệt suy giảm về chất lượng là tương đốilớn: Hao hụt thóc bảo quản từ 1-2 năm ở Miền Bắc lên tới 2,6% (cao hơn tỷ lệhao hụt theo định mức 0,8- 0,9%/ năm); đối với thóc bảo quản đóng bao ởĐồng bằng Sông Cửu Long cao gấp đôi hao hụt thóc bảo quản đổ rời ở MiếnBắc, chỉ trong 1 năm đã hao hụt 2,8- 3,0% Kết quả điều tra về chất lượngthóc xuất kho ở một số vùng kho thuộc Đồng bằng Trung du Bắc Bộ: tỷ lệ hạt
bị nhiễm mốc sau 12 tháng bảo quản có thể biến động từ 50- 60%, sau 24tháng cá biệt có kho lên tới 90% hạt bị nhiếm mốc Tỷ lệ hạt biến vàng đối vớithóc sau 24 tháng bảo quản từ 1- 5% [16]
Ngành DTNN rất quan tâm đến công tác nghiên cứu nhằm tìm ra cácgải pháp khắc phục hạn chế của công nghệ bảo quản thóc Từ những năm
Trang 21993 sau khi tìm hiểu công nghệ bảo quản gạo trong môi trường kín củaInđônêxia và một số nước châu Á có công nghệ bảo quản tiên tiến, CụcDTQG đã tiến hành thí điểm thành công bảo quản gạo đóng bao trong môitrường CO2 và đã đưa vào áp dụng rộng rãi công nghệ này trong toàn CụcDTQG Đến năm 2001 nghiên cứu thay thế CO2 bằng N2 và thí điểm bảo quảngạo đóng bao trong môi trường yếm khí cũng thu được kết quả tốt Từ năm
2002 được sự nhất trí của Cục DTQG, DTQGKV Đông Bắc đã triển khai thửnghiệm bảo quản thóc trong điều kiện áp suất thấp để từng bước thay thế bảoquản thóc theo phương pháp truyền thống Tháng 01/2008 hội nghị đánh giátổng kết công tác bảo quản của Cục DTQG đã khẳng định công nghệ bảoquản thóc trong điều kiện áp suất thấp thể hiện tính ưu việt hơn hẳn so vớiphương pháp bảo thóc thoáng truyền thống
Tuy nhiên công nghệ bảo quản thóc đổ rời trong điều kiện áp suất thấpcũng bộc lộ một số nhược điểm như: sự đọng sương bề mặt màng phủ dẫnđến hiện tượng men mốc trong lô thóc bảo quản
Nguyên nhân là do thủy phần thóc nhập kho cao hơn mức thủy phần antoàn do thóc có thể nhập từ các nguồn khác nhau, thóc thu gom trong kho đại
lý lâu ngày trước khi bán cho dự trữ; do kỹ thuật kê lót ban đầu tấm nền,màng phủ dán không kín không duy trì được áp suất trong lô hàng dẫn đếncôn trùng cắn thủng lớp màng PVC trên bề mặt, xung quanh lô hàng
Chính vì vậy việc nghiên cứu thành phần VSV gây hại trên thóc bảoquản khuyến nghị các biện pháp xử lý trong quá trình bảo quản có ý nghĩaquan trọng nhằm giảm tổn thất về số lượng và chất lượng đến mức thấp nhất.Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thành phần vi sinh vật gây hại chủ yếu trên thóc bảo quản ở áp suất thấp
và biện pháp xử lý”.
1.2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 3- Nghiên cứu các biện pháp xử lý nấm mốc trong phòng thí nghiệm
1.2.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định mức độ nhiễm VSV của thóc bảo quản trong điều kiện áp suấtthấp;
- Định tên đến loài của những giống nấm mốc gây hại chủ yếu;
- Khảo sát sự nhiễm aflatoxin trên thóc bảo quản trong điều kiện áp suấtthấp;
- Xác định được các chủng vi khuẩn (Baccilllus), nấm men tồn tại trênthóc bảo quản trong điều kiện áp suất thấp
- Đề xuất biện pháp xử lý nấm mốc trên thóc bảo quản áp suất thấp trongphòng thí nghiệm
Trang 4Phần IITỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT THÓC GẠO Ở VIỆT NAM
Từ chỗ phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, đến năm 1989 cùngvới chính sách ‘Đổi Mới” Việt Nam đã có thể xuất khẩu trong năm đó 1 triệu
370 ngàn tấn gạo, lượng gạo xuất khẩu tăng dần, năm 1999 Việt Nam xuấtkhẩu 4 triệu 560 ngàn tấn gạo và kể từ đó bắt đầu được xem là nước xuấtkhẩu gạo thứ nhì thế giới chỉ sau Thái Lan
Giai đoạn tiếp theo, có lúc Việt Nam tụt xuống vị trí thứ 3 sau Ấn Độnhưng đã giành lại ngôi vị từ năm 2003 Những năm kim ngạch xuất khẩu gạođáng chú ý phải kể tới 2005 cả nước xuất khẩu 5 triệu 200 ngàn tấn gạo
Năm 2008 lượng gạo xuất khẩu đạt 4 triệu 670 ngàn tấn Mỗi nămnông nghiệp đóng góp 20% tổng sản phẩm nội địa GDP Năm 2009 trong bốicảnh suy thoái kinh tế, nhưng nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã làm ra nhiều lúa gạo, để các doanh nghiệp có thể xuất khẩu đạt mức kỷ lụcgần 6 triệu tấn gạo kim ngạch 2 tỷ 600 triệu USD [Tổng cục thống kê] [48]
Bảng 2.1 Thống kê diện tích gieo trồng, sản lượng và xuất khẩu gạo của Việt Năm 2002-2009 [Tổng cục thống kê]
Năm Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tấn) Xuất khẩu (triệu tấn)
Trang 52009 7.200 38.913 5.800
2.2 TỔN THẤT LƯƠNG THỰC TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN
Bên cạnh những thành tựu đạt được của nền nông nghiệp nước ta nóichung và sản xuất lúa gạo nói riêng, cho đến nay khó có thể tránh khỏi tìnhtrạng mất mát lương thực từ khâu thu hoạch đến trước khi sử dụng làm thức
ăn Ở nước ta máy móc, thiết bị kỹ thuật hỗ trợ cho công nghệ bảo quản vẫncòn tương đối đơn giản nên tổn thất trong quá trình bảo quản rất lớn Tổn thấtsau thu hoạch được ví như “sự mất mùa trong nhà”, đó là những tổn thất trongcác khâu từ khi thu hoạch, sơ chế, bảo quản chế biến và đưa ra thị trường tiêudùng
Theo số liệu điều tra của Viện Công nghệ sau thu hoạch phối hợp vớiTổng Cục thống kê thì tổn thất bình quân sau thu hoạch lúa gạo ở Việt Namnhư sau:
tỷ lệ tổn thất gạo sau thu hoạch ở nước ta thuộc loại cao 13-16% Thực tế này
đã đẩy giá gạo của nước ta tăng lên tới 12-15% [44] Vì vậy đặt ra yêu cầucho ngành công nghệ bảo quản vừa giảm đến mức tối thiểu tổn thất trong bảoquản vừa đảm bảo chất lượng nông sản
Cũng theo thống kê của FAO, tổn thất hàng năm của các sản phẩm
Trang 6nông nghiệp trên thế giới là 15-20% tổng sản lượng, tính ra tới 130 tỷ USD,
đủ nuôi 120 triệu người trên 1 năm Riêng các nước có trình độ bảo quản thấpthì thiệt hại lớn hơn nhiều
Điều kiện nóng ẩm ở Việt Nam đã tạo điều kiện tốt cho côn trùng, visinh vật sinh trưởng phát triển và phá hoại cây trồng trên cả đồng ruộng cũngnhư trong bảo quản Đồng thời nó còn thúc đẩy các hoạt động sống của hạt vànông sản phẩm khác như quá trình hô hấp, quá trình nảy mầm, gây ra nhữngbiến đổi hoá học trong nông sản làm giảm chất lượng nông sản Sự hư hỏngsản phẩm dưới dạng hao hụt trọng lượng, biến đổi hoá học ở chất đạm, chấtđường, tinh bột Theo GS.TS Lê Doãn Diên (1994) tổn thất sau thu hoạchnước ta là không thể tránh khỏi vì vậy để giảm thiệt hại xuống tối thiểu là hếtsức cần thiết và có ý nghĩa kinh tế xã hội to lớn [6]
Có nhiều nguyên nhân gây ra tổn thất lương thực trong quá trình bảo quản.Theo kết quả của FAO thì nguyên nhân chính là do quá trình hô hấp của hạt,
do vi sinh vật, chuột và côn trùng gây nên, trong đó chuột chiếm 35-72% vàcôn trùng chiếm 36- 43%.[48]
Bên cạnh những tổn thất do chuột và côn trùng gây ra thì tổn thất do visinh vật gây ra cho thóc cũng không nhỏ, nó vừa làm giảm khối lượng đồngthời làm biến đổi chất lượng thóc trong quá trình bảo quản Đặc biệt một sốloài nấm mốc sản sinh ra độc tố (mycotoxin) ảnh hưởng đến sức khoẻ conngười, vật nuôi [1] Để tránh các tác động cơ lý, hạt gạo được bảo vệ bởi mộtlớp vỏ trấu bên ngoài nhưng do bề mặt không trơn nhẵn và có lớp lông cứng
đã tạo điều kiện cho bào tử nấm bay tự do trong không khí dễ được giữ lạitrên bề mặt vỏ Một số loài nấm có thể phát triển vào cả trong phôi và nội nhũhạt Khi gặp điều kiện thuận lợi chúng phát triển một cách nhanh chóng làmbiến đổi protein, làm thay đổi màu sắc, mùi vị, giảm giá trị dinh dưỡng và cóthể sản sinh mycotoxin tuỳ thuộc vào từng loài [44] Các nhà khoa học đã
Trang 7chứng minh, các loại mycotoxin khác nhau có thể gây ra các bệnh khác nhau
từ nhẹ đến hiểm nghèo, đặc biệt là căn bệnh ung thư do aflatoxin và các loạimycotoxin khác gây ra Đây là vấn đề quan trọng được nhiều nước trên thếgiới quan tâm và phối hợp xây dựng chương trình khuyến cáo về mycotoxintrên lương thực phẩm, xem như là biện pháp bảo vệ môi trường và bảo vệ sứckhoẻ con người [9]
2.3 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ NẤM MỐC PHÁT TRIỂN
2.3.1 Độ ẩm
Độ ẩm của hạt hay độ ẩm tương đối của không khí ảnh hưởng trực tiếpđến sự phát triển của hệ nấm mốc trên hạt Bởi vì ngay từ khi lúa thu hoạchngoài đồng đã có những bào tử nấm mốc trên bề mặt hạt thóc Khi gặp điềukiện thuận lợi như thuỷ phần của hạt cao hay độ ẩm tương đối của không khícao, nấm mốc bắt đầu nảy mầm, phát triển và sinh sản Theo Claude Moreau(1968), đã tập hợp được một số loài nấm mốc phát triển theo hàm lượng nướccủa nông sản như sau:
Aspergilusl oryze, Aspergilus fumigatus, Aspergillus niger, Penicillium notatum, Penicillium islandianm, Penicillium urticae
Fusarium, Rhizopus
Cũng theo Claude Moreau [24] khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm
tới quá trình phát triển của nấm mốc giống Aspergillus và Penicillium đã cho thấy khi độ ẩm tăng thì tốc độ phát triển của Penicillium tăng còn của Aspergillus giảm [24].
Trang 8Độ ẩm tương đối của không khí miền Bắc nước ta khá cao, trung bình
là 85%, khô nhất cũng đạt 75% Đây là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vậtphát triển Theo Vũ Quốc Trung và Lê Thế Ngọc [32], nếu để thóc tiếp xúcvới không khí có độ ẩm 100% thì sau 4 ngày mốc mọc trắng trên bề mặt hạt
và hạt thóc có mùi hôi mốc Ở độ ẩm tương đối của không khí 85% sau 4ngày những hạt còn xanh non, lép đã bị mốc Ở độ ẩm tương đối của khôngkhí từ 65 - 70% thì sau 2 tháng bảo quản thóc không hề bị mốc, hạt vẫn sángmàu, có mùi vị bình thường Do đó độ ẩm tương đối của không khí 70%tương ứng với thuỷ phần 13.5% của thóc có thể coi là giới hạn an toàn, nếu độ
ẩm của hạt vượt quá chỉ số đó thì nấm mốc bắt đầu phát triển trên thóc
Một số nghiên cứu khác của Vũ Quốc Trung và Lê Thế Ngọc, khi phôihạt có độ ẩm 14% trở lên thì nấm mốc sẽ tấn công trước tiên vào phôi hạt làm
phôi yếu dần rồi chết Khi độ ẩm đạt tới 15 - 16% thì nhóm Aspergillus candidus phát triển nhanh hơn làm nhiệt độ và độ ẩm của hạt tăng lên, khi độ
ẩm đạt tới 18% thì Aspergillus candidus phát triển cực mạnh và tiếp theo là Aspergillus flavus bắt đầu phát triển.
Như vậy độ ẩm tương đối của không khí hay độ ẩm của thóc là điềukiện quan trọng nhất quyết định đến khả năng phát triển của nấm mốc trênhạt Vì vậy để giảm tổn thất về chất lượng và số lượng của thóc trong quátrình bảo quản thì trước khi nhập kho thì thóc phải sấy đến độ ẩm an toàn
2.3 2 Nhiệt độ
Nhiệt độ được coi là yếu tố thứ hai sau độ ẩm quyết định đến sự pháttriển của nấm mốc Nó có vai trò chủ yếu trong sự sinh trưởng của sợi nấmđồng thời tác động đến sự sinh sản của bào tử, sự nảy mầm của bào tử Mỗiloài nấm mốc có khoảng nhiệt độ sinh trưởng và phát triển nhất định, nhưngphần lớn nấm mốc có khoảng nhiệt độ này là 15 – 30oC, nhiệt độ tăng trưởngtối ưu trong khoảng 25 – 30oC [9]
Trang 9Khí hậu nước ta thuộc loại hình nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều, đó làyếu tố thúc đẩy các hoạt động sống của hạt đồng thời tạo điều kiện thuận lợicho sự phát triển của nấm mốc Theo Trần Minh Tâm khi nghiên cứu ảnhhưởng giữa độ ẩm và nhiệt độ tới sự phát triển của nấm mốc như sau: khi ở
30oC và độ ẩm hạt 14 – 15% thì nấm mốc phát triển mạnh, còn khi ở 10oC và
độ ẩm hạt phải 19 – 20% thì nấm mốc mới phát triển mạnh [25]
2.3.3 Chất lượng của khối hạt
Thành phần dinh dưỡng của thóc với 63% tinh bột, 7.9% protein, 2.2%lipit, 9.9% xenlulose, 5.7% tro, 11,9% nước [10], là điều kiện vô cùng thuậnlợi cho nấm mốc phát triển Hạt thóc có cấu tạo gồm 5 phần: vỏ trấu, màythóc, vỏ hạt, nội nhũ và phôi Tuy vỏ trấu là phần nghèo chất dinh dưỡngnhất, độ ẩm thấp nhất nhưng bù lại do nó là phần nằm ngoài cùng của hạt mà
bề mặt của nó lại thô ráp, xù xì nên những bào tử bay lơ lửng trong không khírất dễ bị giữ trên bề mặt hạt Còn nội nhũ là phần có độ ẩm cao nhất lại giàudinh dưỡng nên rất dễ bị nấm mốc xâm nhập Theo OU (1985) thì bào tửnấm mốc có thể sống trên bề mặt hạt và sợi nấm có ở trong mô của nội nhũ,phôi và mày hạt
Các tạp chất trong khối hạt là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là cáctạp chất hữu cơ (rơm rác, các hạt cỏ, xác sau mọt, trấu, hạt lép và các hạt lạkhác) là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật, sâu mọt phát sinh và phát triển.Trong quá trình bảo quản, các tạp chất hữu cơ thường hút ẩm nhanh hơn,nhiều hơn, do vậy nấm mốc cũng như sâu mọt thường xuất hiện trước tiêntrong các tạp chất hữu cơ sau đó phát triển lây lan ra toàn khối hạt Vì vậymuốn bảo quản thóc được an toàn trước khi nhập kho thóc phải được làmsạch các tạp chất Tỷ lệ tạp chất cho phép lẫn trong thóc đưa vào bảo quảnkhông quá 2% [23]
2.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VI SINH VẬT GÂY HẠI TRÊN THÓC
Trang 102.4.1 Tác hại của vi sinh vật trên thóc
Do sự gây hại và lan truyền của vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây bệnh bạc lá mà loại vi khuẩn này đã được nhiều nước quan tâm Nó là đối
tượng kiểm dịch thực vật của một số nước như Nam Tư, Phần Lan, Thái Lan
Tổ chức bảo vệ thực vật Châu Âu đã đưa ra quy định rằng các nước này
không được nhập khẩu hạt lúa từ các nước đã có loại vi khuẩn Xanthomonas oryzae (EPPO, 1999).
Vi khuẩn gây bệnh bạc lá lúa còn được tìm thấy trong mày và đôi khi
giữa nội nhũ của hạt.[20]
Một loại vi khuẩn gây hại khác đó là Vi khuẩn Pseudomonas glumae (hay Burkholderia glumae) gây bệnh thối hạt, được coi là một trong những
loại bệnh quan trọng ở Nhật Bản, vi khuẩn gây bệnh trên hạt làm biến màuhạt, gây lép và nhăn nheo Hạt bị nhiếm bệnh thường bị co lại có màu xanh táisau đó trở thành vàng sẫm đến màu nâu khô
Trong điều kiện thóc được bảo quản không thích hợp, nấm mốc sẽ gâytác hại rất lớn Chúng có thể làm giảm tỷ lệ nảy mầm đối với thóc giống, giảmkhối lượng và chất lượng của thóc thương phẩm Ngoài ra, một số nấm mốc
có thể tiết ra độc tố gây nguy hiểm cho con người và gia súc
Đối với thóc giống, một số nấm mốc trên hạt còn là nguồn lây nhiễm
bệnh trên đồng ruộng như nấm Pyrialaria oryzae gây bệnh đạo ôn, Botrytis oryzae gây bệnh tiêm lửa, Fusarium moniliforme gây bệnh lúa von, Curvularia gây bệnh biến màu hạt, Những loại bệnh này ảnh hưởng đến
sản lượng và chất lượng thóc khi thu hoạch Theo nghiên cứu của Ocfemia,
1989 [20] cho thấy nấm Botrytis oryzae xâm nhiễm trên hạt thóc sẽ làm giảm
tỷ lệ nảy mầm của hạt, bào tử nấm Pyrialaria oryzae tồn tại trên bề mặt hạt
phát triển mạnh là nguyên nhân gây biến màu hạt và làm giảm tỷ lệ nảy mầm
Trang 11của hạt
Nấm Fusarium moniliforme gây bệnh trên hạt và trên bông lúa gây thiệt hại
lớn về diện tích lúa ở Nhật Bản (50% diện tích) và Ấn Độ (15% diện tích).Nấm xâm nhiễm ở phía ngoài của vỏ hạt, phôi và nội nhũ của hạt lúa trongbảo quản Tất cả những hạt lúa bị nấm xâm nhiễm đều biến màu Phần lớn cáchạt bị nhiễm bệnh đều không nảy mầm, một số hạt nảy mầm được sau đó sẽchết
Thóc thương phẩm, được bảo quản trong điều kiện không thích hợp thìnấm mốc phát sinh, phát triển làm giảm chất lượng của thóc một cáchnghiêm trọng Sự giảm chất lượng của thóc được thể hiện ở một số đặc điểm:thóc có mùi hôi mốc, chua, có vị đắng của mốc Nấm mốc phát triển trên thóclấy chất dinh dưỡng từ thóc bằng cách tiết ra các enzym làm thuỷ phân cácchất như: protein, lipit, tinh bột, vitamin tạo ra các chất có khối lượng phân tửthấp hơn Chính điều này làm giảm giá trị dinh dưỡng của thóc Ngoài rachúng còn làm hạt bị bở mục, dễ đớn nát, tỷ lệ thành phẩm có thể giảm đi 10– 20%
Bên cạnh việc nấm mốc gây hư hỏng, thối rữa, làm hỏng, giảm chấtlượng và giá trị sử dụng còn có rất nhiều loài nấm mốc tiết ra độc tố gây bệnh
cho con người Một số loại nấm có khả năng sinh ra độc tố như: Aspergillus flavus, Aspergillus paraciticus thuộc họ nấm cúc sinh độc tố aflatoxin, Đây là
loài nấm khá phổ biến, có thể tìm thấy trên khắp địa cầu, đặc biệt là các nướcnhiệt đới
Nấm Penicillium sản sinh độc tố ochratoxin, Fuarium sinh độc tố zeralenon
và trichothecences [9]
Điều kiện sản sinh aflatoxin.
Khả năng sinh độc tố của các chủng Aspergillus flavus và Aspergillus
Trang 12parasiticus rất khác nhau Điều đó phụ thuộc vào các yếu tố như chủng nấm
mốc, các cơ chất, các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm của cơ chất và môi trường
+ Chủng sinh độc tố
- Không phải tất cả các chủng Aspergillus flavus được khảo sát đều
sản sinh ra aflatoxin, chỉ có 73% có khả năng sản sinh aflatoxin, trong 23%sản sinh aflatoxin ở mức cao nhất
- Aflatoxin B1 được tìm thấy hầu hết các chủng thử nghiệm
- Ngoài ra, nhiều chủng còn sinh aflatoxin G1, B2, G2 trong đóAflatoxin G2 rất ít gặp và ít nguy hiểm hơn
+ Cơ chất và môi trường.
Sự hình thành aflatoxin phụ thuộc vào sinh khối sợi nấm và thời gianphát triển khối lượng sợi nấm càng nhiều thì sản sinh độc tố càng nhiều vàngược lại Thời gian để sản sinh aflatoxin thường từ ngày thứ sáu đến ngàythứ bảy sau đó giảm đi Lí do của sự giảm lượng aflatoxin trong những ngàytiếp theo là do quá trình tự phân giải của chính bản thân nấm mốc
- Nhiệt độ thích hợp nhất để sản sinh aflatoxin của các chủng nấmmốc là từ 25-28oC Nếu nuôi cấy Aspergillius flavus ở 45oC thì khả năng sảnsinh aflatoxin sẽ bị ức chế
- Hàm lượng nước trong sản phẩm đóng vài trò quan trọng trong quátrình hình thành aflatoxin Ở lạc nhân có lượng nước từ 15-30% Sự hìnhthành aflatoxin xuất hiện sau 2 ngày, trên gạo cần lượng nước là 24-26% và ởngô là 19-24% Như vậy có thể nói sự sản sinh aflatoxin diễn ra rất nhanh.Đặc biệt là sau thu hoạch, cơ chất có hàm lượng nước khá cao, thời gian làmkhô kéo dài là nguyên nhân dẫn đến nhiễm aflatoxin [2]
Năm 1967 ở Thái Lan, nhóm nghiên cứu của Shank cho thấy các mẫulương thực thực phẩm bị mốc thì 50 - 60% số mẫu đó có aflatoxin, đồng thời
Trang 13nhóm tác giả này tiến hành trên thức ăn gia đình (lấy mẫu lương thực thựcphẩm tại các gia đình) cũng thấy có 30-50% số mẫu có độc tố aflatoxin [12].
Ở Việt Nam, Aspergillus flavus và aflatoxin đã được phát hiện trên
nhiều loại lương thực, thực phẩm với các tần xuất và các tỷ lệ khác nhau trên
các sản phẩm và vùng địa lý khác nhau Aspergillus flavus và aflatoxin cũng
được phát hiện trên một số vị thuốc cổ truyền có nguồn gốc thực vật Cácaflatoxin cũng được xác định trên khô dầu lạc và trên thức ăn gia súc và giacầm [9]
2.4.2 Nghiên cứu về thành phần vi sinh vật trên thóc
Ở nước ta trước đây các nghiên cứu về thành phần vi sinh vật gây hạitrên thóc bảo quản còn rất ít, chủ yếu tập trung nghiên cứu thành phần vi sinhvật gây hại trên cây lúa ngoài đồng ruộng
Vi sinh vật gây hại trên hạt thóc không chỉ là nguyên nhân giảm chấtlượng, số lượng nó còn là nhân tố làm giảm sản lượng lúa gạo nếu đó là thóclàm giống [20]
Đối với vi khuẩn trên hạt lúa theo những nghiên cứu của TS Nguyễn
Văn Tuất (1996) cho thấy triệu trứng bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae trên vỏ hạt lúa và gạo là các vết đốm xám rải rác, hạt lép, không nảy mầm Vi khuẩn Pseudomonas glumae (hay Burkholderia glumae) gây thối hạt
thóc Đây là loại bệnh truyền qua hạt lúa đã gây đáng kể cho ngành sản xuấtlúa [31]
Kết quả điều tra thành phần nấm bệnh trên hạt lúa giống của PhạmThị Thoa và Trần Đình Nhật Dũng (2000) cho thấy các giống lúa sản xuất tạivùng Đồng bằng Sông Hồng trong vụ Đông Xuân năm 1999- 2000 đã nhiễm
một số loài nấm như: Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Microdochium oryzae, Fusarium moniliform, Rhizoctonia solani, Pyricularia oryzae.
Trang 14Trên hạt lúa biến màu thu thập giai đoạn chắc xanh trước khi thu hoạch7-10 ngày, nhóm nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1995) đã phân lậpđược 11 loại nấm và 02 loại vi khuẩn Đến năm 1998 đã phân lập được 12loài nấm trong đó chiếm tỷ lệ cao Curvularia sp., Fusarium moniliforme, Alternaria padwickii [31]
Trong công tác kiểm dịch thực vật, chúng ta cũng lập những danh mụccung cấp cho ban thư ký ASEAN về thành phần dịch hại trên một số loại câytrồng và sản phẩm cây trồng Năm 1997, trên lúa gạo Việt Nam có 14 loạinấm và 01 loại vi khuẩn [20]
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về thành phần bệnh hại trêncây lúa nói chung và hạt lúa nói riêng
Trên lúa có tới hơn 100 loại vi sinh vật gây bệnh bao gồm nấm, vikhuẩn, tuyến trùng, virus và phytoplasma Trong đó bệnh hại trên cây lúangoài đồng có tới 12 loại,
Kết quả kiểm tra hạt lúa bị nhiễm bệnh tự nhiên bảo quản ở nhiệt độphòng của Sing và cộng tác viên (1980), cho thấy vi khuẩn có thể sống đượctrên hạt lúa bị bệnh ở nhiệt độ phòng trong 10 tháng Murty và Devadath(1984) cũng xác nhận hạt lúa thu hoạch ở vụ trồng từ tháng 7 đến tháng 11 có
54 mẫu hạt bị nhiễm bệnh và vi khuẩn đã sống 170 - 180 ngày, còn hạt đượcthu trong vụ từ tháng 12 đến tháng 4 tỷ lệ là 45% hạt bị bệnh và vi khuẩn chỉsống được 120- 130 ngày Kauffman và Reddy, (1975) cho rằng mày hạt rất
dễ bị bệnh, vi khuẩn có thể tìm thấy trên hạt bị bệnh bảo quản ở điều kiện tựnhiên 2 tháng, nhưng sau thời gian này không thể phân lập được vi khuẩn [20]
Hệ nấm mốc trên thóc
Theo Christensen [37], các loại nấm mốc trên lương thực nói chung vàthóc nói riêng chia thành 2 hệ: hệ nấm mốc ngoài đồng và hệ nấm mốc trong
Trang 15bảo quản
Hệ nấm mốc ngoài đồng
Những loại nấm mốc này xâm nhiễm vào các hạt lương thực hay hạtgiống trước thu hoạch, trong khi lúa đang phát triển ở ngoài đồng ruộng hay
sau khi lúa được cắt nhưng trước khi đập hạt Ở Bangladesh khi nghiên cứu
nấm trên hạt lúa ở ngoài đồng cho thấy có nấm Aspegillus heteromoplus, Aspegillus niger, Cladossporium cladosporiodes, Curvularia lutana, Drechslera oryzae, Fusarium moniliforme, Nigrospora oryzae, Alternaria padwickii [20]
Ở Nigeria khi phân tích 16 mẫu hạt người ta đã phát hiện thấy có các
loại nấm như Helmithosporium oryzae, Fusarium moniliforme; Penicillium spp., Curvularia lutana, Aspergillus sp., Rhizopus arhizus, Alternaria spp
Năm 1986, các nhà khoa học của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI)
đã tiến hành kiểm tra 372 mẫu hạt nhưng chỉ phát hiện 17 loại nấm truyền qua
hạt, trong đó Curvularia sp thường xuyên có mặt ở trong hạt bị xâm nhiễm
[24]
Hệ nấm mốc trong quá trình bảo quản
Cũng theo Christensen [37], các nấm mốc bảo quản gồm 12 loài
Aspergillus, trong đó có 5 loài phổ biến, một số loài Penicillium, các loài đơn độc của Sporendonema và một số loại nấm men cũng có thể có ở giai đoạn
này
Trang 16Nấm mốc bảo quản phát triển nhanh trên hạt ở điều kiện nhiệt độkhoảng 30-32oC và tốc độ phát triển của chúng giảm khi nhiệt độ giảm Một
vài chủng của nhóm Aspergillus glaucus phát triển chậm ở nhiệt độ 10 -15oC
và vài loài Penicillium yêu cầu hàm ẩm cao hơn Theo Vũ Quốc Trung thì thành phần nấm mốc trong quá trình bảo gồm các chi Aspergillus, Penicillium, Rhiropus, Mucor, Fusarium [17] Theo Nguyễn Thị Hòa Bình [1] nghiên cứu hệ nấm mốc bên trong hạt thóc sau 3 tháng bảo quản gồm : Aspergillus flavus, Aspergillus niger, Aspergillus oryzae, Aspergillus ustus, Aspergillus fumigatus, Penicillium và Mucor; thành phần nấm trên hạt bảo
quản ở trong kho tăng theo thời gian lưu trữ
2.5 BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ NẤM VÀ VI KHUẨN TRÊN HẠT
+ Trong vụ thu hoạch đôi khi không có ánh sáng mặt trời hoặc trời mưanhiều ngày làm cho việc phơi hạt gặp khó khăn, tốn thời gian, tốn nhân công
+ Sấy nhân tạo chỉ phù hợp với số lượng hay sản xuất tập trung, khônghoặc ít phù hợp với sản xuất nhỏ và cá thể
Một biện pháp vật lý khác cũng được sử dụng, đó là chiếu xạ Biệnpháp chiếu xạ (tia cực tím, tia gama, tia X, …) có thể diệt một số loại vi
Trang 17khuẩn, nấm mốc để làm giảm sự thiệt hại do chúng gây ra Các tia này làmbiến đổi cấu trúc chủ yếu của các axit amin, axit nucleic, protein của vi sinhvật làm ngừng quá trình phân chia tế bào nấm mốc … Hầu hết các loài nấmmốc đều bị tiêu diệt ở liều lượng 45kGy (1 kGy = 1kJ/kg) Tuy nhiên xử lýchiếu xạ chỉ có tác dụng tại thời điểm xử lý, sau đó nếu không bảo quản thóctốt thì nấm mốc vẫn có thể nhiễm vào và phát triển trở lại, khả năng áp dụngcủa nó là rất hạn chế vì chỉ có thể xử lý một lượng thóc nhất định [9]
2.5.2 Biện pháp hóa học
Sử dụng các loại thuốc hóa học tổng hợp có tác dụng phòng trừ, tiêudiệt nấm mốc cho hiệu quả cao Biện pháp sử dụng các khí trơ như N, CO2 cótác dụng rất rõ rệt và được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước để bảo quản gạo ởquy mô lớn cho mục đích chống nấm mốc và côn trùng [34]
Một số công trình của Đậu Ngọc Hào [11] về sự nhiễm nấm mốc vàaflatoxin trên thức ăn gia súc và các biện pháp khử độc tố aflatoxin B1 bằng
NH4OH cũng đã được nghiên cứu và công bố Nguyễn Thùy Châu và cộng sự[3] cũng đã nghiên cứu khử aflatoxin trên ngô bằng NH3 và Ca(OH)2, kết quảcho thấy NH3 và Ca(OH)2 có tác dụng khử rõ rệt aflatoxin trên ngô và cho
Một số chất xông hơi như Methylbromid (CH3Br) ở liều 129 mg/l/h hoặc40mg/l/h có thể diệt được nhiều loài nấm mốc, khí O3 ở liều 10mg/m3 khôngkhí được tiếp xúc liên tục trong nhiều ngày có thể ngăn cản sự phát triển củanấm mốc, hỗn hợp Phosphine - amoniac đã được Monre Raghunathan và
cộng sự nghiên cứu cho thấy có tác dụng diệt Aspergillus, Penicillium CABI
(2000) [34] cho biết topsin M, anvil và benomyl có hiệu quả cao trong phòng
trừ nấm Fusarium moniliforme, phun thuốc Thiram nồng độ 0,2% đã ngăn
chặn sự xâm nhiễm của nấm mốc này tới 150 ngày bảo quản trong kho
Do tính chất an toàn của một số hoá chất, đặc biệt là axit hữu cơ: axit
Trang 18sorbic, axit propionic, axit acetic, axit benzoic, các muối natri và canxi củachúng như canxi propionat hay natripropionat, ở liều 1 - 3% các axit hoặcmuối của axit trên có thể ức chế sự phát triển của nấm mốc trong thời giandài.
Xử lý vi khuẩn và nấm men mốc bằng NH 3 :
Hiện nay người ta sử dụng NH3 ở dạng khí nén được bơm tuần hoànvào các thùng chứa ngô bằng thép (metal silo) hoặc trong các túi P.E có thểchứa tới 20-30 tấn ngô Ngô có hàm lượng aflatoxin 750ppb sau 13 ngày xử
lý, NH3 với nồng độ 1,5 % ở nhiệt độ 320c đã làm giảm xuống còn 7ppb
Nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm (Northern Regional Research Laboratory, ARS, USDA) được tiến hành để khử aflatoxin trong ngô bị
nhiễm tự nhiên bằng cách sử dụng dung dịch hoặc khí NH3 Mặc dù hiệu quảcủa việc xử lý xông hơi khử trùng NH3 chưa bao giờ được phổ biến bởi vì khókiểm soát lượng amoniac,
Nghiên cứu sử dụng NH3 diệt trừ nấm mốc trên ngô : có độ ẩm 26% và12% được xử lý bằng NH3 2 % và 0,5% tương ứng theo khối lượng khô củangô Sục NH3 ở cả hai nồng độ đã ức chế một số loại nấm mốc như
Aspergillus, Penicillium, Fusarium, Trichoderma, và Rhizopus nhiễm bên
ngoài và số lượng vi khuẩn có xu hướng giảm
Ngô xử lý bằng NH3 trong 14 ngày ở 26 -30oC Phân tích tổng số vikhuẩn hiếu khí, nấm mốc và nấm men, bên trong hoặc do lây nhiễm theophương pháp của Bothast et aI (1)
Thí nghiệm 1: xử lý của NH3 2.0% trên hệ vi sinh vật gây hại trên ngô Giống ngô ban đầu có 2,0 X 103 vi khuẩn/gam và 7,9 X 104 mốc và nấmmen/gram Từ thí nghiệm sự nhận dạng các khuẩn lạc nấm trên các đĩa pha
loãng, loài Fusarium chiếm 75% mốc bên ngoài, phần còn lại chủ yếu là
Trang 19Aspergillus flavus và loài Penicillium Sau 24 giờ làm ẩm tới 26%, vi khuẩn
đã tăng lên 1,4x 107/gam và nấm mốc và nấm men tăng đến 5,1 x 105 /gram.Nhưng 1 giờ sau khi thêm NH3 2%, nấm mốc và nấm men đã được loại bỏ và
số lượng vi khuẩn giảm đến 1,8 x 104/gram Sau 2 tuần lưu trữ NH3, không cónấm mốc và nấm men tồn tại thể hiện rất rõ, và số lượng vi khuẩn đã đượctiếp tục giảm tới 9,7 x 103 /gram Thí nghiệm xác định chỉ ra rằng loài vi
khuẩn Bacillus sống sót sau xử lý NH3
Thí nghiệm 2: xử lý NH3 0,5% trên hệ vi sinh bên ngoài của ngô bìnhthường có độ ẩm 12% Ngô này có hệ vi sinh như ban đầu trong thí nghiệm 1.Tuy nhiên, trong thí nghiệm thứ hai bắp không được làm ẩm 1 giờ sau khi xử
lý ammonia, vi khuẩn tăng (2,0 x 103 đến 6,8 x 103 / gam) và nấm mốc vànấm men đã bị phá hủy gần như hoàn toàn, số lượng nhỏ hơn 10 nấm
mốc/gram (chỉ có loài Fusarium sống sót) sau xử lý NH3 và sau khi lưu trữ 2tuần với NH3, chúng cũng đã được loại bỏ Số lượng vi khuẩn (4,2 x l03) vẫnduy trì sau 2 tuần lưu trữ Vẫn trong thí nghiệm của ngô có độ ẩm 12% đã xử
lý NH3 lưu trữ 2-3 tháng chỉ ra rằng vi khuẩn không thay đổi với NH3 0,5%nhưng xử lý NH3 2% tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn trong thời gian lưu trữ
Mặc dù hiệu quả tiêu diệt nấm mốc của biện pháp hóa học lên đến 95 –
98 % nhưng biện pháp này vẫn tồn tại một số nhược điểm [20]:
+ Để lại tồn dư thuốc hóa học trong thóc, ảnh hưởng lớn tới sức khỏecon người và vật nuôi vì vậy cần phải luôn luôn cập nhật các chỉ tiêu về mứccho phép các hóa chất dư thừa trong sản phẩm, các phương pháp phân tích dưlượng thuốc hóa học trong sản phẩm
+ Dễ gây ra tính kháng thuốc của các vi sinh vật gây bệnh
2.5.3 Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học đã được nghiên cứu từ nhiều năm, rất có triển vọng
Trang 20và được quan tâm đặc biệt do tính ưu việt là an toàn cho nông sản, cho người
và gia súc so với các loại hóa chất, hơn nữa nó có thể phân hủy nhanh vàkhông gây ô nhiễm môi trường Biện pháp sinh học để phòng trừ nấm đượcnghiên cứu theo 3 hướng chính [11]:
2.5.3.1 Biện pháp sử dụng các siêu kí sinh (kí sinh bậc 2):
Đó là những vi sinh vật sống kí sinh trên cơ thể vi sinh vật gây bệnh Ví
dụ như nấm Verticillium sống kí sinh trên bào tử nấm gỉ sắt cà phê Hemileia vastatrix, nấm Cicinnobolus ceratit kí sinh làm tan hủy sợi nấm và cơ quan
sinh sản của nấm phấn trắng [18]
2.5.3.2 Sử dụng các vi sinh vật đối kháng và chất kháng sinh của chúng
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học ở Nhật Bản đã tìm ra một số chủng
Bacillus subtilis có khả năng ức chế sự phát triển của nấm mốc Aspergillus flavus sản sinh aflatoxin và quá trình tổng hợp aflatoxin của chúng Nấm Trichoderma harzianum ức chế tiêu diệt nấm Botrytis cinnea hại cà chua [18].
Fitonxit là chất đề kháng do cây trồng sản sinh ra có tác dụng tiêu diệtnấm hại, fitonxit được nghiên cứu ứng dụng là củ hành, củ tỏi, rau ngải.Trước đây, nước tỏi, hành để xử lí hạt giống ngô và cà chua có tác dụng diệtnấm nên tỷ lệ phát bệnh từ hạt giống giảm đi rất nhiều
Các loại tinh dầu được tách triết từ các loại thảo mộc cũng có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt nấm đáng kể như tinh dầu húng quế, tinh dầu sả
Trang 21chanh, tinh dầu bạc hà, tinh dầu cam… Trong thành phần của các loại tinhdầu này có chứa các chất có tác dụng ức chế, tiêu diệt một số loại nấm mốc đó
là menthol, citronellal, citral trong tinh dầu sả chanh và methychaniol, linalioleugenol trong tinh dầu húng quế, methol trong tinh dầu bạc hà
Theo Đỗ Huy Bích và cộng sự [2] trong thí nghiệm invitro đánh giá vềhoạt tính kìm hãm nấm và diệt nấm của 3 loại tinh dầu sả, tỏi và húng quế,
chúng có tác dụng kháng nấm như Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Aspergillus oryzae, Penicillium
Theo Nikos G.Tzortzakis và Costas D.Economakis trong thí nghiệm
invitro, tinh dầu sả chanh có tác dụng kháng các loại nấm Colletotrichum coccodes, Botrytis cinerea, Cladosporium herbarum, Rhizopus stolonifer và Aspergillus niger ở nống độ 25 – 500ppm Sự sản sinh bào tử nấm có thể bị
ức chế tới 70% ở nồng độ 25ppm [40]
Theo Jaya Varma, tinh dầu húng quế có tác dụng kìm hãm và tiêu diệt
nấm mốc Aspergillus flavus, Aspergillus fumigatus, Penicillium oxalicum ở
liều lượng 0,6g/500g hạt và ở liều lượng 0,5g/500g hạt thì tinh dầu sả có tác
dụng kháng nấm Aspergillus flavus, Aspergillus sp, Fusarium sp, Colletotrichum[40]
Cũng theo V.Molegar và P.Narasimham, các thành phần trong tinh dầunhư citral, cinanic aldehyde và cittronelal ức chế sự phát triển của các loại
nấm Aspergillus niger, Fusarium oxyrum và Penicillium ở nồng độ 0,33g tinh dầu trên 500g hạt, còn menthol và rượu tecpen ức chế được Rhizopus stolonifore và Mucor sp ở nồng độ 200µg/ml không khí tương đương với
Trang 22Hoạt động sống (hoạt động trao đổi chất) của hạt và sinh vật trong khốihạt chỉ diễn ra ở điều kiện áp suất khí quyển bình thường là 760mmHg (tươngđương 1atm, cột nước áp kế có chỉ số bằng 0).
Khối thóc được bảo quản trong điều kiện áp suất thấp, nghĩa là lượngkhông khí trong khe hở khối thóc và trong các mao quản tế bào hạt còn lại ít(tuỳ theo áp suất cao hay thấp) do đó hoạt động sinh lý của hạt, điển hình làhoạt động hô hấp xảy ra không đáng kể Sự phát sinh và phát triển của vi sinhvật trong khối hạt cũng bị ức chế vì tế bào mất nước dần, khô sinh lý Côntrùng trong khối hạt bị chết hoàn toàn vì hô hấp bị đình chỉ
2.6.2 Các yêu cầu và điều kiện của phương pháp bảo quản
2.6.2.1 Yêu cầu đối với kho bảo quản
Thóc bảo quản đổ rời trong điều kiện áp suất thấp có thể triển khai trongtất cả các loại hình kho hiện có của hệ thống kho dự trữ (kho cuốn, kho A1,kho Tiệp )
Kho dùng bảo quản thóc phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Nền kho cao ráo, trần tường không bị thấm dột, nước mưa không hắt vào trongkho
- Mặt nền kho và tường trong của kho đảm bảo phẳng, nhẵn, không bịngưng tụ ẩm
- Đảm bảo thoáng khí đồng thời giữ được kín khi thời tiết diễn biến bất lợi
- Ngăn ngừa được sự lây nhiễm hoặc xâm nhập của côn trùng, chim, chuột gâyhại
2.6.2.2 Yêu cầu đối với vật tư thiết bị
Trang 231 Túi bảo quản bọc kín lô thóc gồm túi chính và hai lớp túi bảo vệ
- Túi chính được gia công từ màng PVC (Polyvinylclorua) Yêu cầu
màng PVC có độ dày 0,5 ± 0,03 mm; đảm bảo trong suốt, không có bọt khí,
không có khuyết tật (phồng rộp, lẫn tạp chất, vết sọc, vết xước) Màng PVCđược gắn kết với nhau bằng keo dán PVC hoặc bằng các thiết bị dán chuyêndụng
- Túi bảo vệ để giữ cho túi chính không bị xây xước, rách thủng trongquá trình nhập, bảo quản và xuất thóc Túi bảo vệ được gia công từ các chấtliệu mềm, dẻo, càng xốp, nhẹ càng tốt và không gây ảnh hưởng xấu đến chấtlượng thóc trong quá trình bảo quản
2 Hệ thống ống dẫn, hút khí
- Ống dẫn khí: Được đặt gọn trong lô thóc nhằm tạo các khoảng trống,thoáng và lưu thông khí khi hút Ống dẫn khí thường làm từ ống nhựa PVCcứng có đường kính từ 100 mm đến 200 mm; các lỗ thoáng được tạo (bằngcách khoan hoặc xẻ rãnh) suốt chiều dài của thân ống với mật độ và kíchthước lỗ phù hợp đảm bảo hút khí thuận lợi đồng thời không để hạt thóc lọtvào trong ống
- Ống hút khí: Dùng để chuyển dòng khí trong khối thóc ra ngoài Ốnghút khí thường làm từ ống nhựa PVC cứng; một đầu ống nối với ống dẫn khíbằng cút thu, phần ống bên ngoài lô thóc tạo thành cửa hút khí dài khoảng 30
cm có gắn van khóa khí cách cửa hút từ 10 cm đến 15 cm Cửa hút khí cóđườg kính phù hợp đảm bảo độ kín khít khi nối với thiết bị hút khí Tùy theokích thước kho và khối lượng thóc chứa có thể bố trí một hoặc hai cửa hút khí cho một lôthóc
Trang 24Hệ thống ống dẫn, hút khí đảm bảo không bị gãy, bẹp và biến dạngdưới tác động của quá trình nhập, xuất, bảo quản; dễ gia công (cắt, khoan lỗ, ghépnối ).
để dễ quan sát) Toàn bộ ống và thước được gắn cố định trên tấm gỗ có giá đỡhoặc có móc để treo
2.6.2.3.Y êu cầu đối với thóc nhập kho bảo quản
Là thóc mới thu hoạch và đảm bảo các yêu cầu về chất lượng theo quyđịnh tại Tiêu chuẩn ngành TCN 04:2004 Thóc dự trữ quốc gia – Yêu cầu kỹthuật do Bộ Tài chính ban hành kèm theo Quyết định số 35/2004/QĐ-BTC
ngày 14/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính (Tiêu chuẩn ngành TCN 04:2004 Thóc Dự trữ quốc gia – Yêu cầu kỹ thuật do Bộ Tài chính ban hành kèm theo Quyết định số 35/2004/QĐ-BTC ngày 14/4/2004 của Bộ trưởng
Trang 252.7.3 Qui trình bảo quản
Sơ đồ: Quy trình bảo quản thóc ở điều kiện áp suất thấp
Chuẩn bị thóc Thóc nhập kho theo tiêu chuẩn Ngành TCN-04-2004
Chuẩn bị vật tư Màng PVC, PP Ống nhựa φ 60, φ 34 ,27 các
Trang 26(Theo Quyết định số 65/2008/QĐ- BTC ngày 4/08/2008)Phần III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Thóc bảo quản áp suất thấp được lấy ở:
3 ngăn kho ( C2C3, C3C1, C2C10- Chi cục Dự trữ Hà Trung - Cục Dự trữQuốc gia khu vực Thanh Hoá tích lượng mỗi kho từ khoảng 110 tấn thời giannhập từ 27/8 đến 15/9/2009 xuất kho tháng 2/2011
3 ngăn kho (A1O8, A1O7, C7) Chi cục Dự trữ Vĩnh Tiên - Cục Dự trữNhà nước khu vực Đông Bắc, ngăn kho A1O8, A1O7 tích lượng kho khoảng
210 tấn, ngăn kho C7 tích lượng 112 tấn Thời gian nhập kho từ 01/09/1009đến 30/9/2009 xuất kho tháng 3/2011
2 ngăn kho (A1O2, A1 O3) Chi cục Dự trữ Kim Thi - Cục Dự trữ Nhànước khu vực Hải Hưng Tích lượng kho khoảng 200 tấn Thời gian nhập kho
từ 12/09/2009 đến 30/09/2009 xuất kho tháng 2/2011
- Vi sinh vật đã phân lập từ các mẫu thóc của ngăn kho thí nghiệm
- Thóc dùng cho nghiên cứu khả năng tiêu diệt nấm mốc bằng một sốloại tinh dầu tinh khiết là thóc bảo quản áp suất thấp tại các ngăn kho thínghiệm của 2 chi cục DTNNKV Hà Trung (Cục DTNNKV Thanh Hóa) vàChi cục DTNNKV Vĩnh Tiên (Cục DTNNKV Đông Bắc)
- Thóc dùng cho nghiên cứu khả năng tiêu diệt nấm mốc bằng NH3 làthóc bảo quản áp suất thấp tại các ngăn kho của Chi cục DTNNKV Đông Anh(Cục DTNNKV Hà Nội)
3.2 DỤNG CỤ
3.2.1 Dụng cụ, hóa chất dùng cho giám định hệ nấm mốc trên thóc:
Trang 27Kính hiển vi quang học, buồng cấy vô trùng, tủ sấy, nồi hấp khử trùng,máy xác định độ ẩm nhanh, cân điện tử, bếp điện.
Đĩa petri thủy tinh, bình tam giác, que cấy, lamen, lam kính, khay, đèncồn, giấy thấm, đũa thủy tinh, cốc cân thủy tinh, bông, pank và cối nghiền
Hóa chất: H2O2 10 % thể tích; đường saccaroza, NaNO3, K2PO4, KCl,MgSO4, FeSO4, Aga, cồn
3.2.2 Dụng cụ, hóa chất dùng cho phân tích độc tố aflatoxin B 1
• Buồng sắc kí lớp mỏng (chromatography tank), Thụy Sĩ
• Đèn cực tím sóng dài 254 nm, 366 nm, Camag, Thụy Sĩ
• Bản mỏng cho sắc ký 20x20 cm, Đức
• Phễu chiết phân tách pha dung môi, Trung Quốc
• Máy nghiền đồng thể polytron
• Ống hút 0,2 ml và 0,1 ml, Trung Quốc
• Máy lắc, máy xay
• Bình phun dung dịch lỏng có quả roa
• Giấy lọc Whatman n01, Chemapoli, Tiệp Khắc
• Kính hiển vi Olympus có gắn máy chụp ảnh, Nhật Bản
• Tủ cấy vô trùng tự động,
• Tủ cấy vô trùng tự động, Sanyo, Nhật Bản
• Máy có chân không quay, Đức
• Hộp petri, bình tam giác, ống đong 50ml, 100ml
• NaCl tinh khiết (Trung Quốc)
• Silicagel 60 f245, Merck, Cộng hòa liên bang Đức, cho sắc kí lớp mỏng
• NaSO3 khan (Trung Quốc)
Trang 28• NaHCl, Nhà máy hóa chất Việt trì.
• H2O2 Công ty Dược phẩm Hà Nội
• Các dung môi cloroform, hexan, aceton, axetat chì (Trung Quốc)
• Nước cất (Viện công nghệ sau thu hoạch)
• Các chuẩn độc tố aflatoxin B1 (Sigma)
3.2.3 Xử lý bằng NH3
Hóa chất: Lựa chọn dung dịch NH3 cho thực nghiệm: Dùng NH3 25% ( Xuấtxứ: Trung Quốc) theo TCVN 2613: 1993 Amoniac lỏng tổng hợp – Yêu cần
kỹ thuật
Máy phun sương (Tháp Tower spray) nước sản xuất: Anh
3.2.4 Xử lý bằng tinh dầu nguyên chất
Xử dụng các loại tinh dầu húng quế, sả chanh, bạc hà là các loại tinh dầunguyên chất Là sản phẩm của Công ty Cổ phần tinh dầu và hương liệu ViệtNam (Essoilvina) thành phẩm đóng chai 10ml
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Thành phần vi sinh vật, tỷ lệ nhiễm VSV trên thóc trên thóc nhập khosau 4, 8, 12, 16, 18 tháng bảo quản ở điều kiện áp suất thấp
3.3.2 Khảo sát sự hình thành độc tố Aflatoxin
3.3.3 Biện pháp phòng trừ nấm mốc trong phòng thí nghiệm
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu:
Các ngăn kho thí nghiệm bảo quản áp suất thấp lấy mẫu theo TCVN 5451-1991 lấy mẫu thóc ở 5 điểm chéo góc của lô tại các điểm lấy mẫu có đặt cáccút nhựa theo hướng dẫn trong quy chuẩn Dùng xiên lấy mẫu 2m thu mẫu
bên trong lô thóc Ký hiệu M1.
Trang 29Tiến hành dùng xiên lấy mẫu thóc ở các vị trí các góc sát tường kho cáchtường khoảng 20 cm và cửa ra, mặt lô (nơi tiếp xúc trực tiếp với không khí
bên ngoài kho), để thành lập mẫu thóc xung quanh lô thóc ký hiệu M2
Mẫu thóc thí nghiệm của mỗi ngăn kho gồm 2 túi riêng biệt mỗi mẫu khoảng
1 kg cho vào túi nilon kín ( ghi tên mẫu, thời điểm lấy mẫu, Ngăn kho,….)
Sau khi lấy mẫu tiến hành dán màng và hút khí theo hướng dẫn của “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dự trữ quốc gia đối với thóc bảo quản đổ rời trong điều kiện áp suất thấp “
3.4.2 Xác định hệ nấm mốc trên hạt
Tiến hành theo phương pháp đặt hạt trên giấy thấm [38] Trước khi tiếnhành đặt hạt, đĩa petri cần rửa sạch, đem đi sấy ở 1600C trong 2h để khửtrùng Giấy, pank, kẹp, cốc đong và nước cất được khử trùng ở 1210C trong
15 phút
Lấy 200 hạt chia làm 2 lần nhắc lại, mỗi lần 100 hạt Giấy thấm đượcnhúng ướt bằng nước cất vô trùng rồi đặt vào đĩa (mỗi đĩa 2 tờ giấy thấm).Dùng pank gắp hạt vào đĩa petri, mỗi đĩa 25 hạt theo 3 vòng 16-8-1 Đặt nắpghi ngày tháng đặt mẫu, công thức xử lý, địa điểm lấy mẫu rồi để ở nhiệt độphòng với 12h sáng luân phiên 12h tối
Sau 7 ngày , đếm số hạt nhiễm nấm mốc trong các đĩa petri và tính kếtquả theo công thức:
X(%) = [N/No] *100Trong đó:
X: Tỷ lệ hạt bị nhiễm nấm mốc (%)
N : Tổng số hạt bị nhiễm nấm mốc trong 1 lần nhắc lại
No: Số hạt nghiên cứu trong 1 lần nhắc lại ( No = 100 hạt )
3.4.2 Phương pháp xác định thành phần VSV gây hại trên thóc
Trang 30a/ Phân tích giám định hệ nấm mốc trên thóc
Sau khi xác định mức độ nhiễm mốc trên thóc, những hạt thóc bị nhiễmnấm tiến hành làm tiêu bản tươi để quan sát hình dạng sợi nấm, cành sinh bào
tử, bào tử và xác định nấm mốc quan sát được là nấm mốc nào dựa vào 1 sốtài liệu định danh có sẵn như giám định theo khóa phân loại Raper K.B and
Ch Thom (1949) ; Raper K.B and D.I Fennell (1965) ; W.B Ellis (1971,1978)
Tuy nhiên không phải hạt nào cũng chỉ nhiễm một giống có những hạtnhiễm nhiều giống nấm mốc khác nhau và có những giống còn nghi ngờ thìphải cấy trên môi trường thạch Czapek nguyên gốc đã được chuẩn bị sẵn Môitrường này sẽ giúp nấm mốc phát triển thành những khuẩn lạc sau 3-5 ngàyquan sát khuẩn lạc làm tiêu bản trên kính hiển vi ở vật kính 40 và 100 để đưa
ra kết luận chúng thuộc giống, chi nào
b/ Phân tích giám định vi khuẩn
Cách 1: Lấy khoảng 20 hạt nghiền trong cối sứ cùng 10ml nước vôtrùng, sau lấy dung dịch nước huyền phù pha loãng ở các nồng độ khác nhau,trang trên bề mặt đĩa môi trường
Cách 2: Đặt trực tiếp hạt trên môi trường
Các mẫu được nuôi cấy ở nhiệt độ 28-30oC trong thời gian 2-3 ngàycho khuẩn lạc mọc
Dùng môi trường đặc hiệu để phát hiện tinh thể và sự biến màu môi
trường đối với vi khuẩn Burkholderia glumae
Các loại vi khuẩn được giám định theo phương pháp của CABI (2000);Schaad (2001) [20]
c/ Phân tích aflatoxin
Chúng tôi tiến hành phân tích aflatoxin bằng phương pháp sắc kí bản
Trang 31mỏng do Doronina và Maksimenko mô tả Dựa trên cơ sở của phương pháp
CB (AOAC) có cải tiến gồm những giai đoạn sau: 50g mẫu được xay mịn trênmáy xay cà phê, chiết xuất aflatoxin bằng hỗn hợp aceton (100ml) và dungdịch NaCl 10% (50ml) Mẫu được nghiền trên máy nghiền đồng thể Polytron.Lọc qua giấy lọc Whatman N0 1 Lấy 50ml dịch lọc và tủa bằngPb(CH3COO)2 10% (50ml) để loại bỏ protein, lọc qua giấy lọc Whatman N0
1 80ml dịch lọc được chuyển vào phễu chiết để chiết xuất bằng hai pha lỏng– lỏng với 40ml hexan (2lần) Lớp nước axeton được chiết xuất với 40mlcloroform (3lần), loại bỏ lớp nước axeton Lớp cloroform có aflatoxin đượcgiữ lại, làm bay hơi toàn bộ lượng cloroform có aflatoxin ở máy cất quay côchân không Phần cặn được hòa tan vào 100 μl cloroform, giữ ở 40c cho đếnlúc tiến hành định tính và định lượng aflatoxin
* Định tính aflatoxin:
Dùng bơm tiêm vi lượng (microsyring) nhỏ trên sắc ký lớp mỏng 2μl,6μl và 2 lần 10μl mẫu phân tích Các vết nhỏ của dung dịch được chấm vàophiến mỏng cách đường thẳng mép 2cm (từ mép dưới của phiến mỏng) và 1,5– 2cm từ mỗi cạnh bên Việc chấm phải thực hiện ở những phần nhỏ sao chocác vết nhỏ không có đường kính quá 5 mm trên đường bắt đầu Nhỏ 2, 6,10μl chuẩn aflatoxin B1 với nồng độ 0,71 ng/μl trên cùng một phiến bản
mỏng Nhỏ 5μl chuẩn aflatoxin B1 vào cùng một vết của mẫu phân tích (10μl)
như chuẩn trong Hệ dung môi dùng cho sắc ký bản mỏng một chiều là:cloroform : aceton 9:1
Giới hạn độ phát hiện của phương pháp là 4 μg aflatoxin/kg sản phẩm,
hệ số dao động là 0,3 – 0,5
Phát hiện aflatoxin bằng cách phát hiện sự phát quang của phiến lớpmỏng ở buồng tối dưới đèn cực tím sóng dài (độ phát xạ cực đại 365nm) Pháthiện bằng mắt thường trên sắc ký đồ của mẫu chiết cường độ phát quang của
Trang 32các vết có giá trị rf bằng với chuẩn Chọn phần tương ứng thích hợp của mẫuphân tích cho việc định lượng của aflatoxin.
Thử xác minh aflatoxin:
Thử với axit vô cơ : phun lên bản mỏng dung dịch axit H2S04 trongnước, tỷ lệ 1: 2 Nếu như màu phát quang của các vết của mẫu chiết khôngchuyển sang màu vàng như ở mẫu chuẩn, tức là không có aflatoxin trong mẫuthử Nhưng nếu màu phát quang của các vết của mẫu thử aflatoxin ứng với độ
di động sắc ký cũng chuyển thành màu vàng, điều đó có thể xem như là cóaflatoxin trong mẫu thử
* Định lượng aflatoxin:
Nếu aflatoxin được phát hiện trong mẫu thử, định lượng chúng như sau:nhỏ 10μl chất chiết với đường kính của vết không quá 5mm, ở gócdưới, bên phải của bản mỏng, 1,5 cm cách mép
ở góc dưới bên trái, 1,2 và 3 cm cách mép và 1,5cm từ mép dưới củabản mỏng, nhỏ 2, 4, 6 μl theo thứ tự dung dịch chuẩn aflatoxin
nhỏ 6μl dung dịch chuẩn lên phía bên phải góc trên, 1,5cm cách mépphiến mỏng
Thực hiện sắc ký bản mỏng ở hệ dung môi cloroform : aceton (9:1) sosánh cường độ phát quang của các chuẩn aflatoxin khác nhau trên phiến mỏngvới vết của mẫu thử bằng mắt thường định lượng aflatoxin ở vết của mẫu thử(nanogram) theo công thức sau:
kg g
M V
V V
m V V V
6 4 2
5 3
=
( hay ppb)
Trang 33C là nồng độ aflatoxin b1 ở mẫu thực phẩm phân tích (ppb)
V1 là thể tích hỗn hợp nước – axeton (ml)
V2 là thể tích hỗn hợp nước – axeton lấy cho phân tích (ml)
V3 là thể tích hỗn hợp nước – axeton và acetate – chì (ml)
V4 là thể tích dịch lọc sau khi làm sạch bằng acetate – chì (ml)
V5 là thể tích dung dịch chiết đã bay hơi làm sạch ở chloroform trướckhi làm sắc ký bản mỏng (µl)
V6 là thể tích dung dịch chiết chấm vào bản mỏng (µl)
M là lượng aflatoxin ở vết chuẩn trên phiến mỏng (ng)
m là trọng lượng sản phẩm lấy để phân tích (g)
3.4.3 Biện pháp xử lý
3.4.3.1 Xử lý NH3 ở dạng phun sương
- Dùng xilanh 20 ml hút số ml NH3 đủ lượng với từng công thức, bơm NH3
vào cốc đong của máy phun sương
- Bước 1: Tính toán lượng NH3 bơm vào máy phun sương đúng nồng
độ các công thức xử lý
+ Công thức nồng độ 0,5%: tương ứng với 0,2ml NH3 25% cho 1 kgthóc
+ Công thức nồng độ 2%: tương ứng với 0,8ml NH3 25% cho 1 kg thóc
+ Công thức nồng độ 5%: tương ứng với 2ml NH3 25% cho 1 kg thóc+ Công thức đối chứng : Không xử lý NH3
Trang 34- Bước 2: Cân và đưa thóc (1kg) vào các bao dứa PP, bên ngoài là lớp màngPVC ( theo quy định trong: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dự trữ quốc giađối với thóc bảo quản đổ rời trong điều kiện áp suất thấp)
- Bước 3: Dùng xilanh 10ml hút đủ lượng NH3 phù hợp từng công thức từchai NH3 rồi bơm vào ống đong của máy phun sương Đặt túi thóc dướimiệng máy, cắm máy phun và tiến hành phun sau đó nhanh tay dán kín túi
- Bước 4: Kiểm tra đánh giá kết quả ở các ngày sau xử lý 15 30 và 45 ngày
về các tiêu chuẩn độ ẩm của thóc, tổng số men mốc và thành phần nấm mốc
3.4.3.2 Phương pháp xử lý thóc bằng tinh dầu tinh khiết
Sử dụng 3 loại tinh dầu tinh khiết : bạc hà, húng quế và sả chanh Sử dụngmẫu thóc đã được bảo quản 16 tháng tại chi cục Hà Trung – Thanh Hóa đểnghiên cứu Mỗi loại tinh dầu tinh khiết ta tiến hành sử lý ở 4 liều lượng khácnhau Bố trí thí nghiệm như sau:
Trang 35CT12 1,25
Tiến hành xử lý thóc theo các công thức ở trên, cho thóc vào các hộpnhựa Đậy nắp và tiến hành bảo quản trong tủ định ôn ( to = 300C ; RH 70-75%) Lấy mẫu thóc kiểm tra sự phát triển của nấm mốc sau 4 ; 8 ; 12 tuần để
so sánh hiệu quả diệt nấm mốc của các loại tinh dầu tinh khiết
3.4.3.3 Phương pháp xác định men mốc tổng số theo TCVN 6265-97:
Phương pháp xác định tổng số bào tử nấm men-mốc.
3.4.3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu cơ lý (chất lượng thóc) theoTiêu chuẩn ngành TCN 04: 2004 Thóc Dự trữ quốc gia - Yêu cầu kỹ thuật do
Bộ Tài chính ban hành kèm theo Quyết định số 35/2004/QĐ-BTC ngày14/4/2004
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý trên máy vi tính theo chương trình Excel vàIRRISTAT
Trang 36Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần vi sinh vật trên mẫu thóc bảo quản
Với các mẫu thóc thu được ở các ngăn kho thí nghiệm, chúng tôi tiến hànhphân tích và giám định kết quả được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần vi sinh vật trên thóc bảo quản áp suất thấp tại các kho DTNN tại Cục DTNNKV Đông Bắc, Thanh Hóa, Hải Hưng
1 Alternaria padwickii Ellis Dematiaceae Hyphales Hyphomycetes
-5 Bipolaris oryzae (Breda de Hann) Shoem Dematiaceae -
Trang 37-7 Curvularia lutana (Walker) - -
-8 Fusarium moniliforme Sheldon Turberculariaceae -
-9 Penicillium digitatum (Pers) Sacc. Moniliaceae
10 Sarocladium oryzae (Sawada)
W.Gams&D.Hawksw
12 Tilletia barclayana (Bref.) Sacc& P.Syd. Tilletiaceae Ustilaginales Basidiomycetes
13 Ustilaginoidea viren (Cke) Tak Ustilaginaceae -
-14 Burkholderia glumae Urakami et al Burkholderiaceae Burkholderiales Neisseriae
Qua kết quả bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy trên thóc bảo quản trong điều kiện
áp suất thấp có 13 loại nấm và 1 loại vi khuẩn thuộc 4 lớp, 4 bộ
Trong tổng số 14 loại nấm và vi khuẩn đã giám định được cho thấy có 13 loại
nấm chiếm 92,8% và 1 loại vi khuẩn chiếm 7,2%
Trong kết quả giám định không thấy xuất hiện nấm men và vi khuẩn Bacillus
cereus Thành phần và mức độ phổ biến của các loại VSV khác nhau sau 4, 8,
12, 16, 18 tháng bảo quản Sau 4 tháng bảo quản phát hiện thêm loài
Aspergillus fumigatus Fres thuộc chi Aspegillus
Kết quả của chúng tôi thu được cũng phù hợp với kết quả điều tra thànhphần sinh vật hại trên một số cây trồng của Trung tâm Giám định kiểm dịch
thực vật sau nhập khẩu - Cục Bảo vệ thực vật [ 35];
Trang 384.1.1 Đặc điểm hình thái, gây bệnh của các vi sinh vật trên thóc đưa vào bảo
Nấm gây bệnh đốm hạt lúa (Grain spot of rice)
Loài nấm phân bố rộng rãi ở các vùng trồng lúa trên thế giới Ou,
(1985) đã nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hạt thóc bị nhiễm nấm Alternaria padwickii có khi lên tới 80% Nấm là một trong những nguyên nhân là biến
màu hạt, tỷ lệ nhiễm nấm cao có thể làm thối hạt và làm ảnh hưởng đến cây
mạ và lúa ngoài đồng ruộng Mathur và CTV, (1972) [38] đã nghiên cứu thấy
nấm Alternaria padwickii lan truyền từ hạt đến cây mạ, hạt bị nhiễm nấm là
nguồn lây bệnh chính cho cây
Đặc điểm phát triển và hình thái học của chủng nấm này đã đượcquan sát: Trên môi truờng Czapek, khuẩn lạc phát triển tỏa ra, mỏng, sợi nấmmọc lan trên bề mặt của môi trường Lúc đầu sợi nấm có màu trắng, sau trởthành hơi xám hoặc nâu đen Nấm gây ra màu nâu đen nhạt dưới môi trường
do sợi nấm và cuống bào tử nằm lẫn trong môi trường; đường kính khuẩn lạctrên môi trường sau 5 ngày nuôi cấy có kích thước 3,5 – 3,8 cm
Bào tử có hình thẳng hoặc hơi cong hình chùy có cuống dài hơn mộtnửa chiều dài của bào tử Lúc còn non bào tử không màu, khi thành thục bào
tử có màu nâu, bề mặt bào tử nhẵn, bào tử có 3-5 vách ngăn thường gặp nhiềunhất là 4 vách ngăn Chiều dài bào tử đo được có kích thước 95- 16,8 x 11,5 – 19,5µm
Đặt hạt trên giấy ẩm sau 4 - 5 ngày nuôi cấy sợi nấm mọc trên bề
Trang 39mặt hạt lúa có màu hơi trắng, sau chuyển sang trắng xám Sau 7 - 8 ngày sợinấm mọc trên bề mặt hạt lúa rất xốp, bào tử nằm rải rác và lộn xộn.
Kích thước, màu sắc của khuẩn lạc, hình dạng và kích thước bào tửsợi nấm mà chúng tôi thu được cũng phù hợp với khóa phân loại của Ellis,(1978)
4.1.1 2 Nấm Aspergillus flavus Link
Họ: Moniliaceae
Bộ: Hyphales
Lớp : Hyphomycetes
Nấm gây bệnh thối hạt ( Storage rot of rice)
Nấm Aspergillus flavus là một loại nấm truyền qua hạt Nấm gây hại
làm hỏng các loại nông sản trong bảo quản không những thế nấm còn sản sinh
ra aflatoxin gây độc cho sản phẩm
Đặc điểm phát triển và đặc điểm hình thái: chúng tôi thấy sợi nấm
có vách ngăn, phân nhánh Khuẩn lạc trên môi trường Czapek có màu xanhvàng nhạt đến xanh Đường kính khuẩn lạc sau 5 ngày nuôi cấy từ 4 - 4,5 cm.Khối bào tử trần đỉnh bọng màu lục vàng, lục nâu Giá bào tử trần ráp
Cành bào tử không màu, chiều rộng của cành bào tử chúng tôi đođược có kích thước từ 10 – 20 µm Thể bình có kích thước 6 - 10 x 4- 5,5 µm.Bọng đính giá hình cầu đường kính từ 300- 400 µm đôi khi 500- 600 µm, cómột hoặc hai thể bình hình chai, xòe ra như bông hoa cúc Khối bào tử trầnhình cầu, bề mặt có gai nhỏ, màu xanh vàng nhạt, đường kính 3,0 – 6,0 µm
Sự phát triển của khuẩn lạc, màu sắc và hình dạng và kích thước bào
tử mà chúng tôi thu được phù hợp với khóa phân loại của Raper và Fennell(1965)
4.1.1.3 Nấm Aspergillus niger Tiegh
Trang 40Họ: Moniliaceae
Bộ: Hyphales
Lớp : Hyphomycetes
Nấm gây bệnh thối hạt ( Seed rot ) hay nấm mốc đen ( Black mould)
Nấm Aspergillus niger có trên rất nhiều các loại hạt trong bảo quản Khi nấm
lây nhiễm vào hạt có thể làm hạt biến màu mất sức nảy mầm (Christensen andMeronuck, 1986) [37]
Đặc điểm hình thái và phát triển: Khi nuôi cấy nấm trên môi trườngCzapek khuẩn lạc có màu đen, sợi nấm có màu vàng nhạt Đường kính khuẩnlạc sau 5 ngày nuôi cấy có kích thước 2,5 – 3,0 cm, màu đen Bào tử trần hìnhcầu hoặc elip có gai màu đen, đường kính 4-5 µm, cành bào tử màu nâu đếnđen chiều rộng 15-20 µm Đầu đính bào tử lớn, hình cầu đường kính 500 –
600 µm Cuống thể bình phần lớn 5-6 x 20-30µm Thể bình mỏng màu nâunhạt kích thước 3,0- 3,5 x 5- 6 µm
Kết quả theo dõi của chúng tôi về sự phát triển của khuẩn lạc, màusắc, hình dạng, kích thước của bào tử… phù hợp với khóa phân loại củaRaper và Fennell (1965)
4.1.1.4 Nấm Aspergillus fumigatus Fres.
Đặc điểm hình thái và phát triển: Khuẩn lạc trên môi trường Czapek