Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng là sự đa dạng dịch vụ ngân hàng, trong đó thẻ thanh toán được chú ý đầu tư với hy vọng có thể thay thế được hình thức thanh toán bằng tiền m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG
VÀ GIẢI PHÁP KÍCH THÍCH NHU CẦU
Sinh viên thực hiện
LIỄU NHƯ QUỲNH
Mã số SV: B070071 Lớp: Tài chính- ngân hàng K33
Cần Thơ - 2010
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Qua thời gian là sinh viên học ở trường đại học, được sự quan tâm và nhiệt tình truyền đạt kiến thức các môn học của quý thầy cô là niềm vinh dự và hạnh phúc của toàn thể sinh viên trường nói chung và bản thân em
Để hoàn thành được chương trình đào tạo của trường, trường đã tạo điều kiện cho em được đi thực tập để được bám sát với thực tế và qua đó có thể hoàn tất được bài luận văn cuối khóa
Trong thời gian thực tập em đã được sự giúp đở rất nhiệt tình của thầy cô trong khoa nhất là thầy Lê Tấn Nghiêm người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình hoàn tất luận văn, đồng thời em cũng được sự hỗ trợ rất nhiều từ chi nhánh Ngân hàng Techcombank Cần Thơ
Em xin chân thành cám ơn
− Quý thầy cô khoa kinh tế - quản trị kinh doanh Trường Đại Học Cần Thơ
− Thầy Lê Tấn Nghiêm
− Ông Nguyễn Thế Hoàng Quốc Anh – Phó giám đốc chi nhánh Techcombank Cần Thơ
− Cùng tất cả anh chị cán bộ viên chức các phòng ban trong Ngân hàng đã giúp đỡ, và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng em xin chúc quý thầy cô ở khoa kinh tế trường đại học Cần Thơ và toàn thể anh chị ở Techcombank Cần Thơ luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong công tác
Em xin chân thành cám ơn!
Ngày 11 tháng 11 n ăm 2010 Sinh viên th ực hiện
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập
và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày 11 tháng 11 n ăm 2010
Sinh viên th ực hiện
Trang 4NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
-
Ngày tháng năm 2010 Thủ trưởng đơn vị
( ký tên và đóng dấu )
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
-
Ngày tháng năm 2010
Giáo viên hướng dẫn
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
-
Ngày tháng năm 2010
Giáo viên phản biện
Trang 7MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU
1.1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Không gian 3
1.4.2 Thời gian 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương Pháp Luận 4
2.1.1 Lịch sử ra đời của thẻ thanh toán 4
2.1.2 Khái niệm và phân loại thẻ 8
2.1.3 Qui trình thanh toán thẻ 12
2.1.4 Lợi ích của của việc dùng thẻ 16
2.2 Kinh nghiệm của một số thị trường thẻ trên thế giới 16
2.3 Phương Pháp Nghiên Cứu 22
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 22
CHƯƠNG 3: KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM (TECHCOMBANK) 3.1 Lịch sử hình thành Techcombank 24
3.2 Sứ Mệnh và Tầm Nhìn Của Techcombank 26
3.3 Sản Phẩm Techcombank 27
3.3.1 Ngân hàng cá nhân 27
Trang 83.3.2 Ngân hàng doanh nghiệp 29
3.4 Sơ Lược Về Techcombank Chi Nhánh Cần Thơ 34
3.4.1 Giới thiệu sơ lược 30
3.4.2 Thành tựu đạt được của Techcombank Cần Thơ từ ngày thành lập 30
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG THẺ THANH TOÁN TẠI VIỆT NAM 4.1 Tốc Độ Phát Triển Thẻ Thanh Toán Trong Nước 32
4.2 Một Số Điểm Bất Cập Trong Thanh Toán Thẻ 36
4.2.1 Bất cập về dịch vụ ngân hàng tự động ATM 36
4.2.2 Bất cập cập về xử lý yêu cầu của khách hàng 38
4.2.3 Phương tiện thanh toán thẻ 39
4.2.4 An toàn trong việc sử dụng thẻ 40
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG TECHCOMBANK CHI NHÁNH CẦN THƠ 5.1 Tốc Độ Phát Triển Từ Năm 2007 Đến 6 Tháng Đầu Năm 2010 42
5.1.1 Tăng trưởng về số lượng thẻ 42
5.1.2 Hoạt động thanh toán thẻ 50
5.1.3 Thu nhập từ dịch vụ thẻ 53
5.2 Những Mặt Tích Cực 58
5.3 Những Khó Khăn Vướng Mắc 58
CHƯƠNG 6: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ GIẢI PHÁP KÍCH THÍCH NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC TIỆN ÍCH CỦA THẺ THANH TECHCOMBANK TẠI CẦN THƠ 6.1 Thực Trạng Sử Dụng Thẻ Tại Techcombank 61
6.1.1 Đối tượng khảo sát 61
6.1.2 Tính năng được sử dụng nhiều nhất 62
Trang 96.1.3 Nguyên nhân sự chênh lệch của việc sử dụng các tính năng thẻ
Techcombank 64
6.1.4 Mức độ hài lòng của khách hàng về thẻ Techcombank 65
6.1.5 Đề nghị phát triển các tính năng thẻ 70
6.2 Giải Pháp Kích Thích Nhu Cầu Sử Dụng Thẻ 71
6.2.1 Qui trình, qui định mới 73
6.2.2 Phát triển các công cụ thanh toán thẻ 74
6.2.3 Giải pháp phát triển công nghệ 75
6.2.4 Giải pháp hạn chế rủi ro 76
CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
7.1 Kết Luận 78
7.2 Kiến Nghị 79
7.2.1 Kiến nghị đối với Techcombank 79
7.2.2 Kiến nghị đối với chính phủ 80
Trang 10DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 1: Xu hướng phát triển dịch vụ thẻ trên thế giới 20
Bảng 2: Số lượng thẻ phát hành trong năm 2007 đến 6 tháng đầu năm 2010 43
Bảng 3: Số lượng máy ATM và POS 47
Bảng 4: Số lượng tài khoản chi lương và đơn vị chi lương qua Techcombank Cần Thơ 49
Bảng 5: Hoạt động thanh toán tại máy ATM 51
Bảng 6: Phí dịch vụ thẻ từ năm 2008 đến 6 tháng đầu năm 2010 54
Bảng 7: Doanh thu từ số dư trong tài khoản thanh toán 55
Bảng 8: Lợi nhuận từ dịch vụ thẻ tại chi nhánh 55
Bảng 9: Tổng hợp đối tượng khảo sát 62
Bảng 10: Tỷ lệ các tính năng thường được sử dụng nhất 63
Bảng 11: Đo lường mức độ hài lòng về thẻ Techcombank 66
Bảng 12: Mức độ hài lòng về việc thu phí giao dịch khác hệ thống 68
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Chủ thể tham gia vào quá trình thanh toán thẻ 12
Biểu đồ 2: Qui trình thanh toán thẻ 14
Biểu đồ 3: So sánh chỉ tiêu và số lượng thẻ phát hành từ 2007 đến 6 tháng đầu năm 2010 44
Biểu đồ 4: Tổng hợp số lượng các loại thẻ phát hành tại tại chi nhánh Cần Thơ từ năm 2007 đến 6 tháng đầu năm 2010 46
Biểu đồ 5: So sánh số lượng máy ATM với một số ngân hàng 48
Biểu đồ 6: Lợi nhuận từ dịch vụ thẻ Techcombank 56
Biểu đồ 7: Mức độ hài lòng về thẻ Techcombank phân theo đối tượng 66
Biểu đồ 8: Những tiện ích được nghị phát triển 70
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- NHTM : ngân hàng thương mại
- NHTM CP : ngân hàng thương mại cổ phần
- DVNH CN : dịch vụ ngân hàng cá nhân
- VCB: Ngân hàng Ngoại Thương
- ACB: Ngân hàng Á Châu
- Vietinbank: Ngân hàng Công Thương
- ATM: Automatic Teller Machine
- POS: point of sale
- SIG: observed significance level
- VN: Việt Nam
- Agribank: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam
- SCB: Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
- Sacombank: Ngân Hàng Sài Gòn Thương Tín
- BIDV: Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
- Techcombank: Ngân hàng Thương Mại Kỹ Thương Việt Nam
- VietABank: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Á
- Navibank: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Nam Việt
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Sự Cần Thiết Nghiên Cứu Đề Tài
Tiền mặt đã xuất hiện từ lâu và là một phương thức thanh toán không thể thiếu
ở bất cứ một quốc gia nào Tuy nhiên, khi xã hội càng phát triển, có rất nhiều phương thức thanh toán nhanh chóng, tiện dụng và hiện đại hơn ra đời và được gọi chung là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Và thẻ thanh toán là một trong những phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng phổ biến nhất trong giai đoạn hiện nay
Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng là sự đa dạng dịch vụ ngân hàng, trong đó thẻ thanh toán được chú ý đầu tư với hy vọng có thể thay thế được hình thức thanh toán bằng tiền mặt Khi hoạt động thương mại, hàng hoá diễn ra ngày càng đa dạng và vượt ra khỏi phạm vi về lãnh thổ, nếu xét về gốc độ thanh toán, thanh toán bằng tiền mặt sẽ mang đến nhiều rủi ro hơn Tại sao tại các nước phát triển trên thế giới họ đều sử dụng thẻ thanh toán và rất ngại dùng tiền mặt trong hoạt động mua bán của mình, đó chính là vì lý do an toàn và ti ện lợi Trong khi đó tại Việt Nam tỷ lệ người dân sử dụng thẻ trong thanh toán chỉ chiếm một con số không đáng kể so với con số hơn 83 triệu dân như hiện nay Rõ ràng việc
sử dụng tiền mặt trong thanh toán đã mang đến không biết bao nhiêu tổn thất cho
cá nhân và nền kinh tế Thấy rõ được vấn đề trên chính phủ Việt Nam đã ban hành rất nhiều chính sách vừa khuyến khích, vừa mang tính bắt buộc đối với người dân trong việc hạn chế sử dụng tiền mặt, như trả lương qua tài khoản ngân hàng Tuy nhiên, các quy định trên của chính phủ chỉ giải quyết về mặt kết quả không giải quyết được nguyên nhân của vấn đề đang tồn tại, thực tế người dân Việt Nam khi cầm trong tay chiếc thẻ thanh toán thì họ vẫn chỉ sử dụng để rút tiền mặt chứ chưa hoàn toàn dùng thẻ đó để thay thế tiền mặt Nguyên nhân nằm
ở chỗ các ngân hàng đồng loạt phát triển thẻ, phát triển các máy ATM (automatic teller machine) mà trên thế giới họ gọi là ngân hàng tự động trong khi ở Việt Nam thì đơn thuần chỉ là máy rút tiền tự động, mà quên đi việc tăng cường các phương tiện để người dân có thể thanh toán thay tiền mặt, mặc khác, cũng do sự thiếu hợp tác của các đơn vị kinh doanh Nếu nhà nước và ngân hàng có cố gắng
Trang 14tăng cường các tiện ích trong thanh toán mà các đơn vị kinh doanh vẫn thờ ơ và thiếu hiểu biết về lợi ích của thanh toán không dùng tiền mặt, thì những cố gắng cũng trở nên vô nghĩa Vì vậy, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa người dân, ngân hàng, đơn vị kinh doanh và nhà nước để có thể đưa hình thức thanh toán thông qua thẻ trở thành hình thức thanh toán tất yếu trong xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế
Về phía ngân hàng, việc tăng cường dịch vụ thẻ và kích thích người dân sử dụng thẻ trong thanh toán mang lại nhiều lợi ích, điển hình việc ngân hàng có thể tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi của khách hàng, thu nhập từ các loại phí liên quan đến thẻ, phí chuyển lương, số dư trong tài khoản thẻ Lợi nhuận thu được từ dịch vụ thẻ là động lực để các ngân hàng không ngừng phát triển ngày càng đa dạng các tiện ích dành cho thẻ thanh toán và tìm kiếm các biện pháp để thu hút khách hàng Cũng chính từ những lý do trên, đề tài tập trung phân tích tốc độ tăng trưởng và giải pháp kích thích nhu cầu sử dụng các tiện ích của thẻ thanh toán Techcombank tại Cần Thơ
1.2 Mục Tiêu Nghiên Cứu
Mục tiêu 3: phân tích thực trạng việc sử dụng và giải pháp kích thích nhu cầu
sử dụng các tiện ích của thẻ thanh toán Techcombank tại Cần Thơ
Mục tiêu 4: đề xuất các giải pháp kích thích nhu cầu sử dụng các tiện ích của thẻ thanh toán Techcombank tại Cần Thơ
1.3 Phạm Vi Nghiên Cứu
Trang 151.4 Đối Tượng Nghiên Cứu
Thẻ thanh toán tại ngân hàng Techcombank chi nhánh C ần Thơ
Trang 16CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Phương Pháp Luận
2.1.1 Lịch sử ra đời của thẻ thanh toán
“Thẻ nhựa bao gồm thẻ tín dụng, thẻ chấm công, thẻ rút tiền tự động… đầu tiên ra đời vào năm 1951 mang tên là Creditcard Cha đẻ của những chiếc thẻ nhựa này là ông Frank X.Mc Namara (Mỹ) Ngay khi vừa ra đời, thẻ nhựa được nhiệt liệt đón chào nồng nhiệt bởi những người giàu trong xã hội Mỹ Song những chiếc Creditcard đầu tiên này chỉ được sử dụng hạn chế trong 27 nhà hàng sang trọng ở New York Nhận thấy vai trò tiện ích của thẻ nhựa, vào năm 1965, một ngân hàng của Mỹ tên là Bank of America Đã cấp giấy phép cho những ngân hàng lớn nhỏ khắp Hoa Kỳ Được sử dụng Bank Americard cho khách hàng Và những chiếc thẻ thần kỳ này đã đưa Bank of America từ một ngân hàng địa phương thành một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới Sự ra đời của Creditcard khởi đầu cho một bước đột phá trong công nghệ thẻ nhựa trên thế giới
Thoạt đầu chức năng của những thẻ này khá đơn giản Đó là phương tiện lưu trữ dữ liệu được bảo vệ nhằm tránh giả mạo và sửa đổi Thông tin chung như tên nhà phát hành thẻ được in trên bề mặt thẻ trong khi những thông tin cá nhân như tên của chủ thẻ và số thẻ thì được dập nổi Nhiều thẻ có thêm chỗ ký tên để chủ thẻ ký tên dành cho tham khảo Trong thế hệ thẻ phát hành đầu tiên này, việc bảo
vệ chống lại sự giả mạo dựa trên những đặc điểm trực quan như phần in trên thẻ
và phần ký tên Vì thế sự an toàn của hệ thống phụ thuộc khá nhiều sự tỉnh táo của người chịu trách nhiệm chấp nhận thẻ Sau này việc dùng thẻ phát triển tăng vọt nên những đặc điểm trực quan này không còn hiệu quả, đặc biệt là các mối đe dọa từ các tổ chức tội phạm đang phát triển nhanh
Tiến bộ đầu tiên của thẻ nhựa là dùng dải từ trên mặt sau của thẻ, cho phép dữ liệu số được lưu trữ trên thẻ dưới dạng máy có thể đọc được để hỗ trợ thêm vào thông tin trực quan Điều này làm giảm khả năng dùng biên nhận giấy, mặc dù
Trang 17chữ ký khách hàng vẫn được yêu cầu trên ứng dụng thẻ tín dụng truyền thống như là một hình thức định danh người dùng Tuy nhiên, người ta cũng đưa ra một cách tiếp cận mới không yêu cầu biên nhận giấy, dẫn tới khả năng đạt được một mục đích lâu dài là thay thế giao dịch dựa trên giấy bằng xử lý dữ liệu điện tử Vì vậy cần thiết phải có một phương pháp khác được sử dụng để xác thực định danh người dùng Phương pháp được sử dụng rộng rãi liên quan đến một con số định danh cá nhân bí mật, hay còn gọi là số PIN (personal identification number) Những thẻ dập nổi với dải từ vẫn còn là loại thẻ được sử dụng thông thường cho các giao dịch tài chính đến thời điểm hiện nay
Tuy nhiên, công nghệ từ có một điểm yếu quan trọng là dữ liệu lưu trữ trên dải
từ có thể bị đọc, xóa và thay đổi bởi bất cứ người nào với thiết bị cần thiết Vì thế không thích hợp cho việc lưu trữ dữ liệu bí mật
Thế hệ thẻ cải tiến tiếp theo sau thẻ từ là thẻ thông minh Sự phát triển của thẻ thông minh đi liền với sự phát triển của các hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, dẫn đến khả năng sáng chế ra nhiều giải pháp mới Sự phát triển to lớn của vi điện tử những năm 1970 cho phép tích hợp dữ liệu và xử lý logic trong một con chip silicon đơn có kích thước chỉ bằng một vài mili mét vuông Ý tưởng kết hợp một mạch tích hợp vào một thẻ định danh đã được sáng chế bởi hai nhà phát minh người Đức Jurgen Dethloff và Helmut Grotrupp năm 1968 Sau đó, năm 1979 ra đời một sáng chế tương tự của Kunitaka Arimura ở Nhật Bản Tuy nhiên sự phát triển thật sự đầu tiên của thẻ thông minh là khi Roland Moreno đăng ký sáng chế thẻ thông minh ở Pháp năm 1974 Và chỉ lúc đó công nghệ bán dẫn mới có khả năng cung cấp các mạch tích hợp cần thiết với giá chấp nhận được
Một bước đột phá lớn của thẻ vào năm 1984 là khi French PTT (post, telegraph and telephone) đã thành công trong việc thử nghiệm thẻ điện thoại Trong lĩnh vực thử nghiệm này, thẻ thông minh ngay lập tức chứng minh đã đáp ứng tất cả mong đợi về tính tin cậy cao và an toàn, tiện ích trong việc sử dụng Kết quả thẻ thông minh đã chứng minh được sự nổi trội về tính an toàn cao, ngoài ra thẻ thông minh còn có khả năng được sử dụng linh hoạt trong các ứng dụng trong tương lai Các mạch tích hợp ban đầu được sử dụng trong thẻ điện thoại là những chip nhớ (memory chip) nhỏ, đơn giản và không đắt tiền với một security logic chuyên biệt cho phép số dư thẻ giảm xuống trong khi vẫn chống lại
Trang 18các thao tác bất hợp pháp Những chip vi xử lý sau này thường lớn hơn và phức tạp hơn, lần đầu tiên được sử dụng số lớn ở các ứng dụng truyền thông, đặc biệt trong truyền thông di động Năm 1988, bưu điện Đức đóng vai trò tiên phong trong việc giới thiệu thẻ vi xử lý hiện đại dùng công nghệ EEPROM như một thẻ chứng thực cho các mạng điện thoại di động tương tự (analog mobile) Năm
1991, tại các nước Châu Âu, thẻ thông minh được ứng dụng vào công nghệ di động GSM, thẻ SIM cho điện thoại di động ra đời, đặt nền tảng cho sự phát triển
vũ bão của công nghệ di động ở hơn 170 quốc gia như hiện nay
Không giống như thành công rực rỡ của thẻ thông minh trong lĩnh vực truyền thông, việc áp dụng thẻ thông minh trong lĩnh vực tài chính nhằm thay thế thẻ từ gặp khó khăn do đòi hỏi về an toàn và bảo mật thông tin do đặc thù thông tin nhạy cảm của lĩnh vực tài chính Phần cứng và phần mềm hiện đại đã cho phép thực thi các thuật toán phức tạp với nhiều cấp độ bảo mật chưa từng có trước đây Hơn nữa, công nghệ mới này là sẵn có cho mọi người, ngược lại với trước đây bảo mật chỉ được sử dụng trong quân đội và các dịch vụ bí mật Thẻ thông minh
đã chứng minh là một phương tiện lý tưởng, có độ bảo mật cao (dựa trên mật mã học) khả dụng cho mọi người vì có thể lưu các khóa bí mật và thực thi các thụât toán mật mã an toàn Hơn nữa, thẻ thông minh nhỏ và dễ quản lý nên có thể được mang và sử dụng khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày Đó là một ý kiến tự nhiên trong việc cố gắng dùng những đặc điểm bảo mật mới cho những thẻ ngân hàng,
để nắm và ngăn chặn các rủi ro về bảo mật xuất hiện từ việc gia tăng dùng thẻ từ Năm 1997, tất cả các tổ chức tiết kiệm Đức và nhiều ngân hàng phát hành các thẻ thông minh mới Năm trước đó, Úc đã phát hàng thẻ thông minh đa chức năng với các chức năng POS, ví điện tử và các dịch vụ tùy chọn được thêm vào Điều này làm Úc trở thành nước đầu tiên trên thế giới có một hệ thống ví điện tử toàn quốc
Một mốc quan trọng trong việc sử dụng thẻ thông minh cho việc thanh toán trên toàn thế giới trong tương lai là sự hoàn thiện của chuẩn kỹ thuật EMV (europay, Mastercard và Visa) Đó là một sản phẩm kết quả của nỗ lực liên kết giữa Europay, MasterCard và Visa Phiên bản kỹ thuật đầu tiên là vào năm 1994
Nó mô tả chi tiết của thẻ tín dụng tích hợp chip vi xử lý và đảm bảo tính tương thích lẫn nhau của thẻ thông minh sau này của 3 tố chức thẻ tín dụng lớn nhất
Trang 19Thanh toán qua Internet đưa ra một lĩnh vực ứng dụng mới và hứa hẹn cho ví điện tử Tuy nhiên, vấn đề an toàn trong thanh toán qua mạng Internet công cộng chưa được giải quyết một cách thoả mãn Thẻ thông minh đóng vai trò quyết định để giải quyết bài toán này Ngoài ra, thẻ thông minh vạch ra một vai trò quan trọng trong việc giới thiệu chữ ký điện tử Nhiều nước ở Châu Âu đã bắt đầu giới thiệu các hệ thống ví điện tử sau khi một một cơ sở pháp lý về việc sử dụng chữ ký điện tử được phê duyệt và ban hành năm 1999
Tính linh động cao về chức năng của thẻ thông minh, thậm chí cho phép chương trình của những ứng dụng mới được thêm vào thẻ thông minh đang dùng
đã mở ra một lĩnh lực ứng dụng hoàn toàn mới vượt xa giới hạn sử dụng thẻ truyền thống Hiện tại, thẻ thông minh đang được sử dụng trong việc chăm sóc sức khỏe, thẻ bảo hiểm quốc gia trên nhiều nước Ngoài ra thẻ thông minh còn được dùng như là thẻ điện tử cho việc vận chuyển trên các phương tiện giao
thông công cộng trong nhiều thành phố trên thế giới.” [6]
Tại Việt Nam, năm 1990 hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa giữa ngân hàng Ngoại Thương Pháp BFCE và Ngân hàng Ngoại thương VN đã mở đầu cho sự
du nhập của thẻ thanh toán vào VN Sự liên kết này chủ yếu là nhằm phục vụ cho lượng khách du lịch quốc tế đang đến VN ngày càng nhiều Sau Ngân hàng Ngoại Thương, Sài Gòn Thương Tín cũng liên kết với trung tâm thanh toán thẻ Visa để làm đại lý thanh toán
Năm 1996 Ngân hàng Ngoại thương chính thức là thành viên của tổ chức Visa International Tiếp sau đó là Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Công thương VN cũng lần lượt là thành viên chính thức của tổ chức Visa Card, trong đó Ngân hàng Ngoại thương và Á Châu thực hiện thanh toán trực tiếp với tổ chức này Cũng trong năm này Ngân hàng Ngoại thương VN phát hành thí điểm thẻ ngân hàng đầu tiên, đồng thời Hội các ngân hàng thanh toán thẻ VN cũng được thành lập với bốn thành viên sáng lập gồm Vietcombank, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu (Eximbank) và First Vinabank Việc ứng dụng thẻ ở VN vào thời điểm này còn bị giới hạn rất nhiều về cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế, hạ tầng kỹ thuật…
Trang 20Thị trường thẻ từ năm 2006 trở lên sôi động vì VN đã bước vào sân chơi rộng
là WTO, thị trường tài chính VN càng cạnh tranh quyết liệt hơn khi có thêm nhiều ngân hàng nước ngoài đầu tư vào đây và dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ATM là một loại vũ khí đắc lực để ngân hàng thâm nhập thị trường Hàng loạt sản phẩm thẻ thanh toán ra đời, mở ra một cuộc cạnh tranh phát hành thẻ giữa các ngân hàng trong nước
2.1.2 Khái niệm và phân loại thẻ
2.1.2.1 Khái niệm
Thẻ ngân hàng hay còn gọi là thẻ thanh toán được biết đến như công cụ giao dịch được các tổ chức tài chính phát hành cho khách hàng c ủa họ, nhằm cung cấp những tiện ích giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, chi phí, và tiếp cận được phương thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại
Thẻ thanh toán có thể được hiểu rõ hơn thông qua những chức năng mà nó mang đến cho khách hàng như:
- Thẻ thanh toán có thể dùng để rút tiền mặt từ tài khoản thanh toán hoặc tài khoản tiết kiệm mở tại ngân hàng, dùng để kiểm tra thông tin tài khoản, chuyển khoản giữa các tài khoản cùng hệ thống Trong tương lai, thẻ thanh toán sẽ có thể dùng để chuyển khoản giữa các tài khoản khác hệ thống ngân hàng
- Hiện tại các ngân hàng đã phát triển thêm cho thẻ thanh toán một số tiện ích khác ngoài chức năng truyền thống của nó như thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, thanh toán trên Internet…
- Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant) Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán
- Theo chuẩn quốc tế một thẻ thanh toán sẽ có kích thước 86 × 54 mm
2.1.2.2 Phân loại
Có rất nhiều cách phân loại thẻ thanh toán:
Trang 21- Phân loại theo công nghệ sản xuất: có 3 loại thẻ
• Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi,
thông tin của khách hàng và ngày phát hành th ẻ được dập nổi, riêng thông tin của đơn vị phát hành thẻ được in trên mặt trước của thẻ Thế hệ thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này Tuy nhiên, hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo
• Thẻ từ: là loại thẻ mà trên đó có dải băng từ (magnetic stripe) Dải băng
từ này có từ tính và các thiết bị đọc ghi thẻ có thể thay đổi nội dung dữ liệu trên thẻ Có hai loại thẻ từ là thẻ từ có mật độ từ cao (hico) và thẻ từ có mật độ từ thấp (loco) Để mã hóa thẻ từ hico người ta phải dùng nhiều năng lượng hơn so với thẻ từ loco và do vậy các thông tin lưu trên dải từ hico cũng khó bị phá huỷ hơn Nhưng để đảm bảo an toàn, người ta thường để thẻ từ của mình tránh xa các thiết
bị có gây ra từ tính
• Thẻ chip hay còn gọi là thẻ thông minh: là loại thẻ có gắn con chíp điện
tử có chứa chỉ bộ nhớ hoặc bộ nhớ với một bộ vi xử lý Thẻ chip có cấu trúc hoàn toàn giống với một máy vi tính Trong tương lai các ngân hàng bắt buộc phải chuyển đổi sang thẻ chip để đảm bảo độ an toàn cho việc sử lý thẻ và thông tin khách hàng sẽ được bảo mật hơn Hiện tại, một số ngân hàng như Vietcombank,
VP bank, Á Châu,… đã mạnh dạn chuyển đổi sang công nghệ thẻ chip
- Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ: có 4 loại thẻ
• Thẻ tín dụng (credit card): đây là một loại thẻ được dùng như một công
cụ thanh toán, cho phép người dùng mua hàng hóa, dịch vụ được cung cấp bởi các đơn vị liên kết với ngân hàng hoặc dùng rút tiền mặt tại các máy ATM Thẻ tín dụng khác với các loại thẻ thanh toán khác ở đặc điểm tài khoản của người dùng thẻ không cần phải nộp tiền vào, mà thay vào đó ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng của họ một tài khoản hạn mức tín dụng và tài khoản này phải được
sử dụng thông qua chiếc thẻ do ngân hàng cấp Để có thể được cấp khoản vay thông qua thẻ tín dụng khách hàng phải thỏa mãn những yêu cầu do ngân hàng đưa ra Có hai hình thức cấp thẻ tín dụng tín chấp và có thể chấp Thẻ tín dụng có
ưu điểm cho phép người dùng có thời gian ân hạn 45 ngày, đến thời điểm thanh toán nếu người dùng thanh toán hết số dư nợ sẽ không phải chịu lãi của ngân
Trang 22hàng Tuy nhiên, chủ thẻ không nhất thiết phải thanh toán toàn bộ dư nợ thẻ vì họ chỉ cần thanh toán 10% trên dư nợ vẫn được chấp nhận và được tiếp tục sử dụng hạn mức được cấp
• Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền
với tài khoản tiền gửi Loại thẻ này khi được sử dụng để mua hàng hoá hay dịch
vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn , đồng thời số tiền thanh tóan sẽ chuyển ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động ATM Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
- Thẻ offline: có thể xem loại thẻ này như một dạng thẻ trả trước với hạn mức
được cấp theo ngày hoặc bằng với số tiền tối đa có trong tài khoản của chủ thẻ, giá trị những giao dịch được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó từ 2-3 ngày
- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức
vào tài khoản chủ thẻ Các giao dịch online được đảm bảo an toàn nhờ hệ thống xác nhận mật khẩu cá nhân (số PIN personal identifica tion number) Các máy có thể thực hiện giao dịch online như máy ATM hoặc máy POS (point of sale), các máy này đều có bộ phận nhập mã PIN (PINpad) Nhìn chung, giao dịch online đảm bảo an toàn cho chủ thẻ và ngân hàng hơn các giao dịch offline
• Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền
tự động hoặc ở ngân hàng Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được Cash card không ghi tên chủ thẻ, là một ví điện tử, khi giao dịch chủ thẻ không cần phải nhập mã Pin hay ký tên
Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
- Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành
Trang 23- Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng phát hành thẻ
• Thẻ trả trước (charge card): loại thẻ này tương tự như thẻ tín dụng,
nhưng đến kỳ thanh toán chủ thẻ buộc phải thanh toán toàn bộ số tiền đã sử dụng
để được tiếp tục sử dụng thẻ Chủ thẻ không thể duy trì dư nợ từ tháng này sang tháng khác như đối với thẻ tín dụng Bên cạnh đó, chủ thẻ sẽ phải chịu một mức phạt rất cao nếu không thể thanh toán dư nợ trong kỳ Ưu điểm của thẻ này là chủ thẻ không phải chịu lãi suất
- Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:
• Thẻ trong nước hay còn gọi thẻ nội địa: là thẻ được giới hạn trong phạm
vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó Thẻ nội địa của một số ngân hàng: Ngân hàng Techcombank phát hành thẻ nội địa với thương hiệu F@st Access, Vietcombank nổi tiếng với thẻ CONNECT24, ACB với ATM2+…
• Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng
các ngoại tệ mạnh để thanh toán Các thương hiệu thẻ quốc tế phổ biến tại Việt Nam hiện nay có Visa, Master, JCB, AMEX
- Phân loại theo chủ thể phát hành:
• Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng
phát hành giúp cho khách hàng s ử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng
• Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí
của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn phát hành như Diner's Club, Amex
2.1.3 Qui trình thanh toán thẻ
Trang 24Biểu đồ 1 Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán thẻ
Sơ đồ 1 cho thấy một giao dịch thanh toán thẻ có 5 chủ thể tham gia:
• Tổ chức thẻ quốc tế: là tổ chức đứng ra liên kết các thành viên là các
ngân hàng, tổ chức tín dụng, các công ty phát hành thẻ, đặt ra các quy tắc bắt buộc các thành viên phải áp dụng thống nhất theo một hệ thống toàn cầu Bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thanh toán thẻ quốc tế đều phải
là thành viên của một Tổ chức thẻ quốc tế Mỗi Tổ chức thẻ quốc tế đều có tên trên sản phẩm của mình Khác với ngân hàng thành viên, Tổ chức thẻ quốc tế không có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay cơ sở chấp nhận thẻ, mà chỉ cung cấp một mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán, cấp phép cho ngân hàng thành viên một cách nhanh chóng
• Ngân hàng phát hành: là ngân hàng được sự cho phép của tổ chức thẻ
hoặc công ty thẻ trong việc phát hành thẻ mang thương hiệu của mình Ngân hàng phát hành trực tiếp tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở
và quản lý tài khoản thẻ của khách hàng, quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho khách hàng là chủ thẻ Ngân hàng phát hành có quyền kí hợp đồng đại lý với bên thứ 3 là một ngân hàng hay một tổ chức tín dụng khác trong việc thanh toán hoặc phát hành thẻ Từng định kỳ, ngân hàng phát hành phải lập bảng sao kê ghi rõ các khoản cụ thể đã sử dụng và yêu cầu thanh toán đối với chử thẻ tín dụng hoặc khấu trừ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ ghi nợ
• Ngân hàng thanh toán: là ngân hàng chấp nhận các giao dịch thẻ như
một phương tiện thanh toán thông qua việc kí kết các hợp đồng chấp nhận thẻ với
Trang 25các điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ Qua việc kí kết hợp đồng, các địa điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ này được chấp nhận vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cung cấp các thiết bị đọc thẻ, đào tạo nhân viên về dịch
vụ thanh toán thẻ, quản lí và xử lí những giao dịch thẻ diễn ra tại địa điểm này Trên thực tế, rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành,vừa là ngân hàng thanh toán
• Chủ thẻ: là cá nhân hay người đựơc uỷ quyền được ngân hàng cho phép
sử dụng thẻ để chi trả các hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt theo những điều kiện, quy định của ngân hàng Một chủ thẻ có thể sở hữu một hay nhiều thẻ
• Cơ sở chấp nhận thẻ: là các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ có kí kết
với ngân hàng thanh toán về việc chấp nhận thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ
mà mình cung cấp bằng thẻ
Biểu đồ 2 Qui trình thanh toán thẻ
Trên thực tế, qui trình thanh toán thẻ được diễn ra theo các bước như sau:
- Khi khách mua hàng có nhu cầu thanh toán bằng thẻ (ví dụ thẻ VISA), cửa hàng sẽ quẹt (swipe) thẻ vào một chiếc máy đọc (gọi là EDCT - Electronic Data Capture Terminal) EDCT đọc các thông tin về thẻ ghi trên băng từ và kết nối (contact) tới ngân hàng của cửa hàng (Merchant's Bank) thông qua modem,
Trang 26đường điện thoại hoặc ISDN line, gửi kèm theo yêu cầu về số tiền cần thanh toán, ngân hàng này kiểm tra trong cơ sở dữ liệu của VISA xem thẻ của bạn có phải là thẻ hết hạn hoặc bị mất cắp hay không, số tiền chủ thẻ muốn trả có vượt quá hạn mức không, nếu không, ngân hàng sẽ báo lại ngay trong vài giây về EDCT là giao dịch được phê duyệt (approved), khi đó EDCT sẽ in ra một tờ giấy nhỏ ghi rõ số tiền, mã số giao dịch để chủ thẻ ký vào đó (Sale Slip) Chủ thẻ được giữ bản chính của sale slip, cửa hàng sẽ giữ hai bản sao
- Sau khi thanh toán cho khách hàng cửa hàng thực hiện kết chuyển (settle) số tiền vừa thanh toán về ngân hàng thông qua EDCT để được ngân hàng hoàn lại
số tiền bán hàng Nhận được bút toán settle từ đơn vị chấp nhận thẻ ngân hàng sẽ ghi có (credit) ngay số tiền giao dịch vào tài khoản của cửa hàng Trường hợp khách hàng dùng thẻ của một ngân hàng phát hành khác, ngân hàng c ủa cửa hàng đóng vai trò là ngân hàng thanh toán hộ Sau khi nhận được bút toán settle của cửa hàng ngân hàng vẫn thực hiện ghi có vào tài khoản của cửa hàng, đồng thời gửi thông báo qua mạng của VISA yêu cầu ngân hàng phát hành của chủ thẻ (Cardholder's Bank) thanh toán số tiền Ngân hàng phát hành sẽ thanh toán tiền cho ngân hàng của cửa hàng và ghi nợ số tiền vào tài khoản của chủ thẻ Chi tiết
về giao dịch sẽ được ghi trong thông báo kế tiếp gửi đến cho chủ thẻ nếu chủ thẻ dùng thẻ tín dụng, nếu chủ thẻ dùng thẻ ghi nợ, chi tiết giao dịch sẽ thể hiện trong sổ phụ tài khoản thanh toán Giả sử có người ăn cắp thẻ, giả mạo chữ ký thì trong thời hạn nhất định (thường là 2 tuần) chủ thẻ có thể liên hệ với ngân hàng phát hành để đòi lại tiền VISA đảm bảo rằng nếu ngân hàng phát hành chứng minh được chữ ký không phải là chữ ký của chủ thẻ thì họ sẽ trả lại tiền cho bạn ngay Ngân hàng của cửa hàng sẽ lấy lại tiền từ tài khoản của cửa hàng Trường hợp này gọi là tra soát (Chargeback)
- Trường hợp thanh toán trực tuyến (online), cửa hàng không có điều kiện quẹt (swipe) thẻ, cũng không nhìn thấy chủ thẻ Nhưng chủ thẻ cung cấp tên, ngày hết hạn và số thẻ (16 số in trên mặt trước thẻ) thì họ cũng kiểm tra được tương tự như làm qua EDCT, thông thường họ sẽ thực hiện thanh toán thử một số tiền nhỏ
từ tài khoản thẻ của khách hàng để kiểm tra thẻ có thật sự tồn tại không Để bảo
vệ thêm cho cửa hàng, phía sau thẻ có một dãy số dài in trên cùng dải băng nơi
có chữ ký của chủ thẻ Đa số các cửa hàng yêu cầu chủ thẻ cung cấp 3-4 số cuối
Trang 27trong dãy số này, gọi là security code hay CVV (card verification value) trước khi nhận thanh toán Tuy nhiên, những giao dịch này không hoàn toàn an toàn 100%, một người có bản photocopy cả 2 mặt thẻ là có thể thanh toán trực tuyến Nếu phát hiện giao dịch không phải do mình thực hiện, chủ thẻ chủ động thông báo ngân hàng phát hành để thực hiện tra soát và đồng thời khóa thẻ để tránh bị lợi dụng
2.1.4 Lợi ích của của việc dùng thẻ
Thẻ thanh toán là một trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến, với việc phát triển hình thức thanh toán này nền kinh tế sẽ hạn chế được rất nhiều rủi ro về lưu thông tiền giả, thất thoát trong quá trình thanh toán, lưu chuyển tiền tệ, giảm các chi phí về in ấn tiền mặt Bên cạnh đó, thanh toán qua thẻ một phần sẽ giúp ngân hàng nhà nước kiểm soát được lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, và quản lý được thu nhập của người dân trong việc tính thuế thu nhập
Đối với người dân, thanh toán qua thẻ sẽ đảm bảo an toàn hạn chế thất thoát
và rủi ro như mất tiền, cướp giật…, ngân hàng hiện nay đã phát triển thêm rất nhiều các dịch vụ kèm theo để tạo thuận lợi hơn cho việc thanh toán như các điểm chấp nhận thẻ ngày càng nhiều, vì thế khi đi mua sắm, công tác, hay du lịch
sẽ hạn chế được việc mang theo tiền mặt không an toàn Thanh toán qua th ẻ giúp tiết kiệm thời gian, thay vì phải đến giao dịch trực tiếp, điển hình hiện nay thẻ có thể dùng trong giao dịch thanh toán tiền điện, điện thoại, nước,…tại bất cứ nơi nào và vào bất cứ thời điểm nào thuận tiện Thẻ còn là công cụ giúp chủ thẻ quản
lý thu nhập tốt hơn
2.2 Kinh nghiệm của một số thị trường thẻ trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có 5 loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất, phân chia nhau thống trị các thị trường lớn
• Thẻ DINNERS CLUB: thẻ du lịch giải trí đầu tiên được phát hành vào
năm 1949 Năm 1960 là thẻ đầu tiên có mặt tại Nhật, chi nhánh được quản lý bởi CitiCorp, đứng đầu trong số các ngân hàng được phát hành thẻ Năm 1990, DINNERS CLUB có 6,9 triệu người sử dụng trên thế giới với doanh số khoảng
Trang 2816 tỷ đôla Hiện nay số người sử dụng thẻ DINNERS CLUB đang giảm dần, đến
1993 tổng doanh số chỉ còn 7,9 tỷ đôla với khoảng 1,5 triệu thẻ lưu hành
• Thẻ American Express (AMEX): ra đời vào năm 1958, hiện nay đang là
tổ chức thẻ du lịch giải trí lớn nhất thế giới với tổng số thẻ phát hành gấp 5 lần DINNERS CLUB Năm 1990, tổng doanh thu chỉ khoảng 111,5 triệu đôla với khoảng 32,5 triệu thẻ lưu hành, đến năm 1993, tổng doanh thu đã tăng lên 124 tỷ đôla với khoảng 35,4 triệu thẻ lưu hành và 3,6 triệu cơ sở chấp nhận thanh toán Năm 1987, AMEX cho ra đời loại hình tín dụng mới có khả năng cung cấp tín dụng tuần hoàn cho khách hàng có tên Optima Card để cạnh tranh với VISA và MASTER CARD
• Thẻ VISA: tiền thân là Bank Americard do Bank of America phát hành
vào năm 1960 Ngày nay VISA là thẻ có quy mô phát triển nhất trên toàn cầu Với hơn 21.000 thành viên là các tổ chức tài chính ngân hàng,VISA International's đã trở thành hệ thống thanh toán cung cấp đầy đủ nhất các dịch vụ Các sản phẩm thẻ VISA có mặt tại 300 nước và vùng lãnh thổ, với hệ thống xử lí
số liệu lớn nhất và phức tạp nhất trên thế giới, VISA có thể thực hiện trên 3.700 giao dịch mỗi giây với 160 loại tiền tệ khách nhau trên thế giới Cho đến nay, VISA đã phát hành hơn 1 tỷ thẻ, được chấp nhận tại hơn 20 triệu điểm POS, trên 840.000 máy ATM tại 150 nước trên thế giới
• Thẻ JCB: được xuất phát từ Nhật vào năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa,
năm 1981 JCB đã vươn ra thế giới Mục tiêu chủ yếu của thẻ là hướng vào lĩnh vực giải trí và du lịch Đến năm 1990, doanh thu thẻ JCB vào khoảng 16,5 tỷ đôla với 17 triệu thẻ lưu hành Đến năm 1992, doanh thu tăng lên 30,9 tỷ đôla với khoảng 27,5 triệu thẻ lưu hành Hiện tại, JCB được chấp nhận trên 400000 nơi, tiêu thụ trên 109 quốc gia ngoài Nhật
• Thẻ MASTER CARD: ra đời vào năm 1966 với tên gọi là MASTER
CHARGE do hiệp hội thẻ gọi tắt là ICA (Interbank Card Association) phát hành thông qua các thành viên trên thế giới Năm 1990, thẻ MASTER đã phát hành được trên 178 triệu thẻ, có 5000 thành viên phát hành và trên 9 triệu điểm chấp nhận thanh toán trên thế giới Đến nay, số lượng thành viên tham gia vào hiệp hội
Trang 29thẻ MASTER đã lên tới 25000 thành viên và đến tháng 6/2003 đã phát hành 604,4 triệu thẻ trên thế giới
• Với những loại thẻ trên, thị trường thẻ trên thế giới hiện tại được chia thành 6 khu vực chính Đối với mỗi khu vực có một điều kiện kinh tế xã hội, dân
cư, địa lý khác nhau, chính vì thế hoạt động thanh toán thẻ cũng có những điểm khác nhau:
• Mỹ: là nơi khai sinh, đồng thời cũng là nơi mà hoạt động thanh toán phát
triển nhất Khu vực này dường như đã bão hoà về thẻ tín dụng, do đó sự cạnh tranh và phân chia thị trường rất khốc liệt, thêm vào đó dịch vụ ATM dường như
có mặt tại khắp nơi ở Mỹ VISA và MASTER là hai loại thẻ phát triển mạnh nhất trên thị trường này
• Châu Âu: bắt đầu xuất hiện thẻ vào năm 1966, Châu Âu nhanh chóng trở
thành một thị trường thẻ phát triển mạnh đứng thứ 2 sau Mỹ Đa phần thẻ lưu hành trên thị trường này là thẻ tín dụng Là khu vực có trình độ dân trí cao, kinh
tế phát triển, việc sử dụng thẻ trong thanh toán trở nên phổ biến Người dân sử dụng thẻ không chỉ vì được cấp tín dụng mà chủ yếu là vì những tiện ích mà thẻ mang lại cho họ
• Châu á - Thái Bình Dương: khu vực Châu á – Thái Bình Dương gồm
khoản 41 quốc gia với những điều kiện cơ sở hạ tầng, tập quán tiêu dùng khác hẳn nhau Tại khu vực này, hầu hết các nước đều có sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ Tại đây, VISA và MASTER là 2 loại thẻ đứng ở vị trí hàng đầu, JCB có thị phần nhỏ hơn nhưng hiện nay là loại thẻ đang có tốc độ phát triển rất nhanh Cả hai mạng lưới rút tiền tự động CIRRUS đối với MASTER và PLUS đối với VISA đều đang có những bước phát triển nhất định Với đặc điểm bao gồm nhiều nước đang phát triển, khu vực này hứa hẹn một tiềm năng tiêu dùng và sử dụng thẻ rất lớn
• Canada: là một trong những thị trường mạnh nhất trên thế giới của thẻ tín
dụng Tại đây, khách hàng khá trung thành với ngân hàng của mình nên thường chỉ chấp nhận thanh toán thẻ của hiệp hội Tại thị trường này, VISA hoạt động vượt trội hẳn so với MASTER AMEX và DINNERS CLUB cũng có mặt với hai mục tiêu chính là lĩnh vực hàng không và du lịch
Trang 30• Châu Mỹ Latinh: là khu vực có sự phát triển không đồng đều, bao gồm cả
những nước phát triển và những nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng thông tin nhìn chung là yếu kém, khu vực này có sự phát triển về hoạt động thanh toán thẻ tại mỗi quốc gia không đồng đều
• Trung Đông và Châu Phi: đây là vùng nổi tiếng về du lịch và là khu vực
tốt để kinh doanh thẻ Các loại thẻ chính tại đây là MASTER, VISA và AMEX Mạng lưới ATM ở đây cũng khá mạnh, chủ yếu được cài đặt ở Nam Phi và Trung Đông Nhờ sự gia tăng của các thành viên, hiện nay một số chương trình phát hành thẻ mới đã được giới thiệu đến một số quốc gia ở vùng này [10]
Bảng 1 Xu hướng phát triển dịch vụ thẻ trên thế giới
Khu vực
Doanh
số thanh toán thẻ
(tỷ USD)
Thị phần
(%)
Doanh số thanh toán thẻ
(tỷ USD)
Thị phần
(%)
Doanh số thanh toán thẻ
(tỷ USD)
Thị phần
(%)
Trang 31(Nguồn: Các thị trường thẻ trên thế giới - Tạp chí VCB)
Trong vài năm tới đây, dịch vụ thẻ sẽ từng bước trở thành một trong những dịch vụ mang lại nguồn thu tương đối lớn và ổn định cho các ngân hàng thương mại Với tốc độ tăng trưởng kinh tế trên thế giới hiện nay, thanh toán thông qua thẻ sẽ trở thành một phương thức thanh toán thông dụng nhất Đây là cơ hội cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng tham gia hoạt động thanh toán thẻ Với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay, trong tương lai thẻ thanh toán vẫn sẽ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được ưa chuộng, nhất là trong các tầng lớp dân cư Số lượng thẻ sẽ tiếp tục tăng ở các thị trường trên thế giới Nhưng tốc độ phát triển của thẻ tại các khu vực cụ thể sẽ có những thay đổi rõ rệt
Dựa vào số liệu trong bảng 1 cho thấy Mỹ là nước có doanh số thanh toán thẻ lớn nhất trên thế giới, mỗi năm doanh số này vẫn tăng khoảng 20% Điều này dễ hiểu bởi Mỹ là quê hương của thẻ thanh toán Nhưng thị phần của Mỹ so với các khu vực khác đang giảm dần từ 46% (năm 1995) xuống còn 14% vào cuối năm nay và còn 39% vào năm 2005 Nguyên nhân là do sự vươn lên của các thị trường mới nổi khác
Châu Âu là thị trường lý tưởng cho các tổ chức thẻ hoạt động và phát triển Người dân ở đây sử dụng thẻ do sự tiện lợi nhiều hơn là được cấp tín dụng và thẻ được xem như là một phương thức thanh toán của tầng lớp thượng lưu.Vì vậy thẻ vẫn sẽ là phương tiện thanh toán được ưa chuộng Doanh số thanh toán thẻ tăng khoảng 195% từ 728,16 tỷ USD vào cuối năm 2000 và 1420,73 tỷ USD vào năm
Trang 322005 Nhưng giống như thị trường Mỹ thị phần của nó cũng đang giảm đi để nhường chỗ cho những thị trường tiềm năng khác
Châu Mỹ Latinh là châu lục có sự phát triển kinh tế không đồng đều Cho đến đầu thập niên 90, nền kinh tế ở đây mới bắt đầu ổn định và có đầu tư nước ngoài Điều này mở ra một thị trường mới đầy hấp dẫn cho thẻ Thẻ ở đây vẫn còn tương đối xa lạ nhưng với nhịp độ tăng trưởng như hiện nay, trong tương lai thẻ
sẽ trở thành một phương tiện thanh toán chủ yếu Tốc độ tăng trưởng dự kiến trong 10 năm (từ 1995 -2005) là 625%, khu vực này với số dân chiếm 59% dân
số thế giới sẽ trở thành thị trường lớn thứ 2 thế giới cùng với Châu Âu vào năm
2005 Đây là thị trường có tốc độ tăng mạnh nhất trong thời gian tới
Trung Đông và châu Phi là hai vùng nổi tiếng về du lịch, ở đây thu hút phần lớn khách du lịch từ châu Âu, là thị trường tốt để kinh doanh thẻ Doanh số thanh toán thẻ của nó tăng mạnh trong thời gian qua và trong thời gian tới chủ yếu do lượng khách nước ngoài ra vào nhiều Việc sử dụng thẻ trong dân cư còn rất hạn chế do điều kiện về kinh tế, tôn giáo Trong những năm tới, thị trường thẻ ở đây vẫn là thị trường khiêm tốn nhất chưa xứng với tiềm năng của nó
2.3 Phương Pháp Nghiên Cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập thông qua chương trình kế toán ngân hàng T24, và qua các tài liệu được lưu trữ tại ngân hàng trong những năm qua như Báo cáo thường niên, Báo cáo tổng kết tài chính năm 2007 và 2008, 2009 và 6 tháng đầu năm
2010
Bên cạnh đó, những số liệu thứ cấp thu thập được không thể hiện rõ thực trạng
sử dụng các tiện ích của thẻ Techcombank, do đó một phần của bài nghiên cứu
đã được bổ sung thêm những số liệu sơ cấp thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát ý kiến của khách hàng về tiện ích của thẻ thanh toán Phần khảo sát thực hiện trên ba đối tượng là sinh viên, công chức nhà nước, và đối tượng đang công tác tại các doanh nghiệp tư nhân Cuộc khảo sát được tiến hành đối với 470 cá nhân đang sử dụng thẻ Techcombank thuộc ba nhóm Nhóm thứ nhất là sinh viên tại
Trang 33trường Đại Học Cần Thơ, nhóm thứ hai cán bộ, công chức nhà nước, và nhóm thứ ba là những cá nhân đang công tác tại các doanh nghiệp tư nhân
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau để phân tích số liệu:
► Dùng đồ thị biểu diễn trực quan các số liệu liên quan về thẻ
số Nhờ đó, nhà phân tích có thể nhìn thấu suốt bên trong các hoạt động của ngân hàng
2.3.2.3 Phương pháp thống kê mô tả
Bài nghiên cứu đã sử SPSS để phân tích dữ liệu thu thập được từ bảng câu hỏi
từ đó đưa ra những nhận định về mối liên hệ giữa các biến
Trang 34CHƯƠNG 3: KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM
(TECHCOMBANK)
3.1 Lịch sử hình thành Techcombank
Được thành lập ngày 27/09/1993 với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng, trải qua hơn 16 năm hoạt động, đến nay Techcombank đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 107.910 tỷ đồng (tính đến hết tháng 6/2010)
Techcombank có cổ đông chiến lược là ngân hàng HSBC với 20% cổ phần Với mạng lưới gần 230 chi nhánh, phòng giao dịch trên hơn 40 tỉnh và thành phố trong cả nước, dự kiến đến cuối năm 2010, Techcombank sẽ tiếp tục mở rộng, nâng tổng số Chi nhánh và Phòng giao dịch lên 300 điểm trên toàn quốc Techcombank còn là ngân hàng đầu tiên và duy nhất được Financial Insights tặng danh hiệu Ngân hàng dẫn đầu về giải pháp và ứng dụng công nghệ Hiện tại, với đội ngũ nhân viên lên tới trên 5000 người, Techcombank luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ dành cho khách hàng Techcombank hiện phục vụ trên 1 triệu khách hàng cá nhân, gần 42.000 khách hàng doanh nghiệp
Từ năm 1994-1995, Techcombank đã tăng vốn điều lệ lên 51,495 tỷ đồng và thành lập Chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quá trình phát triển nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn
Đến năm 1996, Techcombank tiếp tục tằng vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng Đồng thời trong thời điểm này Chi nhánh Techcombank Thăng Long cùng Phòng Giao dịch Nguyễn Chí Thanh tại Hà Nội cũng được thành lập Tại Miền Nam để mở rộng địa bàn Chi nhánh Hồ Chí Minh tiếp tục thành lập Phòng giao dịch Thắng Lợi, một trong những phòng giao dịch hoạt động rất hiệu quả tại phía Nam Sau 8 năm hoạt động, năm 2001 Techcombank đã nâng vốn điều lệ từ 20 tỷ lên đến 102,345 tỷ đồng Cũng trong năm 2001 Techcombank đã ký kết hợp đồng với nhà cung cấp phần mềm hệ thống ngân hàng hàng đầu trên thế giới
Trang 35Temenos Holding NV, về việc triển khai hệ thống phần mềm Ngân hàng GLOBUS cho toàn hệ thống Techcombank nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Năm 2002, đánh dấu năm Techcombank là ngân hàng là Ngân hàng Cổ phần có mạng lưới giao dịch rộng nhất tại thủ đô Hà Nội Mạng lưới bao gồm Hội sở chính và 8 Chi nhánh cùng 4 Phòng giao dịch tại các thành phố lớn trong cả nước
Trong quá trình hoạt động, Techcombank đã nhận được rất nhiều các giải thưởng cũng như danh hiệu do các tổ chức danh tiếng trên thế giới và trong nước trao tặng Điển hình tháng 5/2006 nhận cúp vàng “Vì sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững” do Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trao Tháng 8/2006, Moody’s, hãng xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới, đã công bố xếp hạng tín nhiệm của Techcombank, ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam được xếp hạng bởi Moody’s Năm 2007, Techcombank trở thành ngân hàng Việt Nam đầu tiên
và duy nhất được Financial Insights công nhận thành tựu về ứng dụng công nghệ
đi đầu trong giải pháp phát triển thị trường Cũng trong năm này, Ngân hàng nhận giải thưởng “Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services 2007” - giải thưởng dành cho những doanh nghiệp tiêu biểu, hoạt động trong 11 lĩnh vực Thương mại Dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO do Bộ Công thương trao tặng Tháng 02/2008, Techcombank đã vinh dự nhận danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất năm 2008” do độc giả của báo Sài Gòn Tiếp thị bình chọn Tháng 09/2008, Techcombank ti ếp tục nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2008
do Hội Doanh nghiệp trẻ trao tặng Trong năm 2009 và 2010, techcombank đã nhận được rất nhiều giải thưởng và danh hiệu bao gồm giải thưởng “Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009” do Việt Nam Report trao tặng, giải thưởng “Ngân hàng xuất sắc trong hoạt động thanh toán quốc tế” do ngân hàng Wachovina trao tặng, giải thưởng “Ngôi sao quốc tế dẫn đầu về quản lý chất lượng” (International Star for Leadership in Quality Award) do BID, Tổ chức Sáng kiến Doanh nghiệp quốc tế trao tặng, danh vị “Thương hiệu quốc gia 2010”, giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2010” do tạp chí Euromoney trao tặng.…
Về sản phẩm thẻ, Techcombank chính thức phát hành thẻ thanh toán F@stAccess-Connect 24 (hợp tác với Vietcombank) vào ngày 05/12/2003 Bên
Trang 36cạnh đó, ngày 16/12/2003 ngân hàng này đã triển khai thành công hệ thống phần mềm Globus trên toàn hệ thống Tiến hành xây dựng một biểu tượng mới cho ngân hàng Để dịch vụ thẻ phát triển và được quản lý tốt hơn, ngày 13/12/2004 Techcombank đã ký hợp đồng mua phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ với Compass Plus Phần mềm này này được đưa vào hoạt động vào ngày 29/9/2005 Đến 15/12/2006, Techcombank bổ sung thêm một loại mới Techcombank Visa Debit góp phần làm đa dạng dịch vụ thẻ của ngân hàng Thẻ Techcombank ngày càng được công nhận và phát triển, năm 2007 được xem là năm phát triển vượt bậc của dịch vụ thẻ với tổng số lượng phát hành đạt trên 200.000 thẻ các loại Để gia tăng dịch vụ thẻ và phát triển ngày càng nhiều sản phẩm, Techcombank đã tiếp tục ra mắt sản phẩm thẻ tín dụng Techcombank Visa Credit vào năm 2008 Hơn nữa, Techcombank thực hiện liên kết với VietNam Airline tiếp tục cho ra mắt sản phẩm thẻ đầy tiện ích Techcombank VietNam Airline Visa Credit và Debit vào năm tháng 9/2008 Sản phẩm thẻ liên kết với VietNam Airline đánh dấu một bước phát triển mới cho dịch vụ thẻ của Techcombank Đến nay Techcombank là thành viên của cả hai liên minh thẻ lớn nhất Smartlink và BankNet, kết nối hệ thống ATM với đối tác chiến lược HSBC và VNBC
Trong năm 2010, Techcombank đã tăng vốn điều lệ lên 6.932 tỷ đồng, với số lượng nhân viên hiện tại 5000
Trang 37việc áp dụng các thông lệ quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro chặt chẽ theo tiêu chuẩn quốc tế
Techcombank đã xác định 5 giá trị cốt lõi trong quá trình xây dựng và phát triển của mình, trong đó nhấn mạnh khách hàng là trên hết, Techcombank trân trọng từng khách hàng và luôn nỗ lực mang đến những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Bên cạnh đó, Techcombank liên tục cải tiến, không ngừng học hỏi và cải thiện Techcombank tạo cho nhân viên nhận thức được giá trị của tinh thần phối hợp, để từ đó mọi người tin tưởng vào đồng nghiệp của mình và hợp tác để cùng mang lại điều tốt nhất cho ngân hàng Ngoài
ra, phát triển nhân lực, tạo điều kiện cán bộ nhân viên có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân và khen thưởng xứng đáng cho những người đạt thành tích cũng chính là phương châm của Techcombank Tinh thần hợp tác, nổ lực hoàn thành công việc, nhân viên Techcombank luôn đảm bảo rằng công việc đã được cam kết sẽ phải được hoàn thành
- Tiết kiệm online
- Tiết kiệm thường
3.3.1.2 Tài khoản
- Tài khoản thanh toán
- Tài khoản năng động
- Tài khoản chi lương
3.3.1.3 Tín dụng
- Cho vay mua ôtô
- Cho vay tiêu dùng thế chấp bất động sản
Trang 38- Tiền gởi thực gởi
- Tiền gởi thanh toán
- Tiêt kiệm linh hoạt Fast Invest
- Tiền gởi có kỳ hạn
3.3.2.2 Tín dụng
- Vay vốn lưu động theo món
- Vay vốn lưu động theo hạn mức
- Tài trợ trung dài hạn theo dự án
- Vay vốn lưu động trung dài hạn
- Thấu chi doanh nghiệp
Trang 393.3.2.3 Quản lý tiền tệ và thanh khoản
- Quản lý các khoản phải thu
- Quản lý các khoản phải chi
- Quản lý thanh khoản
- Fast E Bank
3.3.2.4 Tài trợ thương mại và bảo lãnh
- Tài trợ xuất khẩu nông sản
- Tài trợ nhà phân phối
- Tài trợ nhà cung cấp
- Bao thanh toán
- Tài trợ dự án trọn gói
- Bảo lãnh
3.3.2.5 Thanh toán quốc tế
- Thư tín dụng xuất nhập khẩu
- Nhờ thu xuất nhập khẩu
- Thanh toán biên mậu
- Chuyển và nhận ngoại tệ
3.3.2.6 Ngoại hối và phòng ngừa rủi ro
- Ngoại hối
- Phòng ngừa rủi ro
- Gia tăng tính thanh khoản cho chứng từ có giá
3.4 Sơ Lược Về Techcombank Chi Nhánh Cần Thơ
3.4.1 Giới thiệu sơ lược
Sau 14 năm hoạt động, ngày 24/4/07 Techcombank chính thức khai trương Chi nhánh Cần Thơ (293F Trần Văn Khéo, Quận Ninh Kiều) Chi nhánh Cần Thơ là nơi khai thác tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ, đặc điểm dân cư đông
Trang 40đúc và là “đầu cầu” để Techcombank tiếp tục mở rộng mạng lưới tại Đồng Bằng Sông Cửu Long và các tỉnh còn lại ở miền Nam Ngoài các sản phẩm truyền thống như: huy động vốn, cho vay, sản phẩm thẻ… Chi nhánh Cần Thơ từng bước giới thiệu các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, chất lượng cao đến dân
cư và đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn
3.4.2 Thành tựu đạt được của Techcombank Cần Thơ từ ngày thành lập
Sau ba năm thành lập từ 2007 đến 2010 Techcombank Cần Thơ đã thành lập thêm hai phòng giao dịch Tân An và An Hòa, mở rộng địa bàn hoạt động Dự kiến đến cuối năm 2010 Techcombank Cần Thơ sẽ mở thêm hai phòng giao dịch tại Thốt Nốt và Cái Răng để kịp thời phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng tại hai khu vực này
Số lượng tài khoản cá nhân mở đến thời điểm hiện tại đạt khoản 4000 tài khoản, tài khoản doanh nghiệp đạt 500 tài khoản Techcombank Cần Thơ được đánh giá là siêu chi nhánh và trong tương lai sẽ trở thành trung tâm của Techcombank tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
Với số lượng nhân viên ban đầu là 5 nhân viên đến nay chi nhánh đã trở thành nơi làm việc của hơn 80 nhân viên Với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp Techcombank Cần Thơ không ngừng phát triển về cả dịch vụ, sản phẩm lẫn chất lượng phục vụ Từ việc chỉ cung cấp đơn thuần những sản phẩm như tiền gởi tiết kiệm, tiền gởi thanh toán, cho vay bất động sản và bổ sung vốn cho doanh nghiệp, đến nay Chi nhánh đã đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng như các sản phẩm ngân hàng điện tử, các sản phẩm vay tín chấp, chi lương…Với số lượng máy ATM ban đầu 3 máy đến nay chi nhánh
đã lắp đặt 10 máy ATM phân bổ rộng tại địa bàn quận Ninh Kiều Để phục vụ khách hàng tốt hơn, chi nhánh có những dự án liên kết với các đơn vị kinh doanh khác Về nhà ở, Chi nhánh thực hiện liên kết với công ty 586, công ty Xây Dựng
Số 8, công ty Long Thịnh…, về xe đã liên kết với HuynhDai Cần Thơ, công ty Cameco, công ty Ôtô Trường Hải…
Sáng ngày 13/10/2010, Techcombank Cần Thơ đã tổ chức Lễ Động thổ khởi công xây dựng trụ sở mới của Chi nhánh Techcombank Cần Thơ tại số 43-45 đường 30/4, Tp.Cần Thơ Là công trình cao nhất Tp Cần Thơ tính đến thời điểm