Luận văn thạc sĩ Quản Lý đất đai: Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện hoàng su phì, tỉnh hà giang
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN PHONG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN BỊ NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀNG SU PHÌ,
TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN PHONG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN BỊ NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀNG SU PHÌ,
TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Quản lý Đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Nhuận
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời
cảm ơn đến Thầy giáo TS Nguyễn Đức Nhuận - Người trực tiếp hướng dẫn và
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Quản lý TàiNguyên và Khoa Môi trường, các Thầy Cô thuộc phòng Đào tạo - Đào tạo sau đạihọc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôitrong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn HU - HĐND - UBND huyện Hoàng Su Phì; Phòng Tài nguyên MôiTrường huyện Hoàng Su Phì; Ban quản lý 2 dự án: Dự án Mở mới đường liên xãBản Luốc - Hồ Thầu và Dự án Nâng cấp, cải tạo đường Vinh Quang - Bản Máy;UBND các xã, thị trấn: Bản Máy, Hồ Thầu, Tụ Nhân, Vinh Quang, huyện Hoàng
Su Phì, tỉnh Hà Giang và các hộ gia đình ở 4 xã trên đã cung cấp số liệu thực tế vàthông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể giađình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 08 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Phong
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 3
1.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng 4
1.1.3 Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 4
1.1.4 Ảnh hưởng của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất 8
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 16
1.2.1 Chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số nước trên thế giới và các tổ chức ngân hàng quốc tế 16
1.2.2 Vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng và ảnh hưởng của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất 20
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Địa điểm nghiên cứu 35
2.2 Đối tượng nghiên cứu 35
2.3 Nội dung nghiên cứu 35
2.3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hoàng Su Phì ảnh hưởng tới công tác GPMB 35
2.3.2 Đánh giá thực trạng công tác bồi thường GPMB tại địa bàn địa bàn huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang 35
2.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của thu hồi đất để thực hiện dự án đến đời sống của người dân trên địa bàn huyện Hoàng Sư Phì 35
Trang 62.3.4 Đề xuất các giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân có đất bị thu hồi cả trong
hiện tại và tương lai 35
2.4 Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1 Phương pháp điều tra cơ bản 35
2.4.2 Phương pháp chuyên gia 37
2.4.3.Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra 37
2.4.4 Phương pháp so sánh 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẠN 38
3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội Huyện Hoàng Su Phì Tỉnh Hà Giang 38
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, tài nguyên của huyện Hoàng Su Phì 38
3.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội huyện Hoàng Su Phì 42
3.2 Thực trạng công tác bồi thường GPMB khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì 52
3.2.1 Tình hình thực hiện dự án Error! Bookmark not defined 3.2.2 Các văn bản pháp lý Error! Bookmark not defined. 3.2.3 Sơ lược về hai dự án nghiên cứu 52
3.2.4 Công tác bồi thường cụ thể 02 dựa án 52
3.3 Ảnh hưởng của thu hồi đất để thực hiện dự án đến đời sống của người dân trên địa bàn huyện Hoàng Sư Phì 54
3.3.1 Thông tin chung về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân tại hai dự án 56
3.3.2 Tình hình sử dụng tiền đền bù của các hộ dân sau thu hồi đất 58
3.3.3 Chất lượng lao động, tình hình lao động, việc làm của các hộ điều tra ở hai dự án 62
3.3.4 Thực trạng thu nhập của các hộ sau thu hồi đất 70
3.4 Một số quan điểm và định hướng nhằm giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống người dân sau THĐ 74
3.4.1 Một số chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về các vấn đề thu nhập, việc làm và ổn định đời sống người dân sau THĐ Error! Bookmark not defined. 3.4.2 Một số quan điểm, định hướng của Tỉnh Hà Giang về quy hoạch và hình thành các khu công nghiệp đô thị 74
3.4.3 Một số giải pháp nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân sau THĐ 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
11 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn BNN PTNT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Hoàng Su Phì 41
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Hoàng Su Phì 42
Bảng 3.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số huyện Hoàng Su Phì tính đến 31/12/2014 46
Bảng 3.4: Dân số và lao động của huyện Hoàng Su Phì qua một số năm 47
Bảng 3.5: Kết quả giá bồi thường thiệt hại về đất dự án Mở mới đường liên xã Bản Luốc - Hồ Thầu 53
Bảng 3.6: Kết quả giá bồi thường thiệt hại về đất dự án Dự án Nâng cấp, cải tạo đường Vinh Quang - Bản Máy 54
Bảng 3.7: Kết quả chi tiết về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ của 56
Bảng 3.8 Hiện trạng sử dụng đất trước và sau thu hồi đất của các hộ điều tra tại hai dự án 58
Bảng 3.9: Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân thuộc dự án: Mở mới đường liên xã Bản Luốc - Hồ Thầu 59
Bảng 3.10: Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân thuộc dự án: Dự án Nâng cấp, cải tạo đường Vinh Quang - Bản Máy 60
Bảng 3.11: Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân thuộc 02 dự án 61
Bảng 3.12: Trình độ văn hoá, chuyên môn của số người trong độ tuổi lao động tại hai dự án nghiên cứu 62
Bảng 3.13: Trình độ văn hoá, CMKT của các lao động ở các hộ điều tra 63
Bảng 3.14: Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất Dự án: Mở mới đường liên xã Bản Luốc - Hồ Thầu 64
Bảng 3.15: Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất dự án: Nâng cấp, cải tạo Đường Vinh Quang - Bản Máy 65
Bảng 3.16: Tình trạng việc làm của số lao động trong độ tuổi lao động trước và sau khi thu hồi đất tại hai Dự án 66
Bảng 3.17: Tổng hợp tình hình biến động việc làm của các hộ trước và sau THĐ 68
Bảng 3.18: Thu nhập bình quân của người dân tại hai dự án 70
Bảng 3.19: Tình hình thu nhập của các hộ trước và sau THĐ 71
Bảng 3.20: Tổng hợp sự biến động về thu nhập của các nhóm hộ sau THĐ 72
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang 39
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nềnkinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao Bên cạnh những thành tựu đã đạt đượccủa việc đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai còn những bất cậpchưa được giải quyết kịp thời Trong khi đó, nhu cầu sử dụng đất để xây dựng kếtcấu hạ tầng dịch vụ, phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng tăng
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở cáctỉnh, thành phố đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế và văn hóa củangười dân, làm biến đổi sâu rộng xã hội nông thôn truyền thống Sự biến đổi đờisống của người nông dân có đất bị thu hồi là một vấn đề mang tính thời sự cấpbách Vấn đề thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp ở nhiều địa phương, đặc biệt tìmkiếm việc làm tại các nước làng giềng và sự di chuyển tự do của lao động nôngthôn lên ra các đô thị Hậu quả là việc phát sinh các vấn đề xã hội: quản lý ngườilao động vượt biên giới trái phép, quản lý hộ tịch, hộ khẩu, an ninh trật tự, bố tríchỗ ở, vệ sinh môi trường
Thực tế hiện nay cho thấy, công tác thu hồi đất của công dân để phục vụ pháttriển các dự án đầu tư trong nước, nước ngoài và việc bồi thường cho những người
bị thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm, giải quyết không tốt, không thoả đángquyền lợi của người dân có đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng khi thu hồiđất để dẫn đến bùng phát khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đôngngười, sẽ trở thành vấn đề xã hội phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình
an ninh trật tự, mất ổn định xã hội và phần nào ảnh hưởng đến lòng tin của ngườidân đối với các chính sách của Nhà nước Nếu việc thu hồi đất bị lạm dụng, quỹ đấtnông nghiệp bị giảm dần, về lâu dài có thể ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốcgia ảnh hưởng tới môi trường, phong tục tập quan của người bị thu hồiđất.Ngoài ra nếu không có những chính sách hướng dẫn về việc đào tạo, chuyển đổinghề nghiệp cho người dân bị mất đất; về bồi thường, tái định cư phù hợp thì việc
Trang 12giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích của người bị thu hồi đất và Nhà nước trong việcphát triển kinh tế - xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn
Nhằm kịp thời có những giải pháp tích cực trong công tác bồi thường giải
phóng mặt bằng (GPMB) khi Nhà nước thu hồi đất, góp phần hoàn thiện chính sách
quản lý đất đai theo hướng ổn định và phát triển bền vững Xuất phát từ vấn đề
trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đề xuất các giải pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống cho những hộ dân
bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang trong thời gian tới
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.1.1.1 Bồi thường
Theo điều 307 Luật dân sự 2005 Bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần [27]Với khái niệm này cần được hiểu:
+ Không phải mọi khoản bồi thường đều chi trả được bằng tiền
+ Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà nhiềutrường hợp còn mất mát cả về tinh thần
+ Sự ảnh hưởng tới các phong tục tập quán sinh sống của người dân bị thuhồi đất
+ Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế
và vẫn là đòi hỏi sự "hi sinh", không thể là một sự bồi thường ngang giá tuyệt đối.Việc bồi thường có thể vô hình hoặc hữu hình, có thể do các quy định củapháp luật điều tiết, hoặc do thỏa thuận giữa các chủ thể
1.1.1.2 Hỗ trợ
Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúpcho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển, thông qua cáchình thức đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới,cấp kinh phí để di dời đến địa điểmmới [17]
Theo Nghị định số: 197/2004/NĐ - CP; Nghị định số 69/2009/NĐ [11] CPquy định ngoài phần bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất còn được hỗ trợ cáckhoản sau:
1 Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề
và hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất,hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tạikhu tái định cư
Trang 141.1.1.3 Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác để sinh sống và làm ăn Táiđịnh cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặctrưng thu đất đai để thực hiện các dự án đầu tư phát triển.Tái định cư là hoạt độngnhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đãgánh chịu vì sự phát triển chung [17]
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thìngười sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồithường bằng nhà ở; bằng giao đất ở mới; bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở.Táiđịnh cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trongchính sách GPMB
1.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng
Bồi thường giải phóng mặt bằng là công việc đa dạng, phức tạp vừa mangtính kỹ thuật, pháp luật và mang tính xã hội cao Nó liên quan trực tiếp đến lợi íchcủa các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội [30]
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được thực hiện trên mỗi vùng đất khácnhau có điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau Các khuvực nội thị, khu vực ven đô, khu vực nông thôn mật độ dân cư khác nhau, ngànhnghề đa dạng và hoạt động sản xuất theo một đặc trưng riêng của vùng đó Do đó,GPMB đối với từng vùng cũng có những điểm riêng biệt
- Tính phức tạp thể hiện: Công tác GPMB có tác động lớn đến mọi mặt đờisống kinh tế xã hội của người dân có đất bị thu hồi thực hiện dự án
1.1.3 Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
1.1.3.1 Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Các nước trên thế giới đều coi đất đai là một loại tài sản đặc biệt phải đăng kýquyền sở hữu, quyền sử dụng Luật đất đai quy định người sử dụng đất phải đăng kýquyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xét duyệtlập hồ sơ địa chính (HSĐC), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD
Trang 15đất) Hệ thống HSĐC và GCNQSD đất có liên quan mật thiết với công tác Bồithường, hỗ trợ, tái định cư là một trong những căn cứ khi xác định nguồn gốc sửdụng đất, đối tượng và mức Bồi thường, hỗ trợ [29]
Lập và quản lý chặt chẽ HSĐC có vai trò quan trọng để “quản lý chặt chẽ đấtđai trong thị trường bất động sản”, là cơ sở xác định tính pháp lý của đất đai Trong công tác Bồi thường, GPMB, GCNQSD đất là căn cứ để xácđịnh đối tượng, loại đất và diện tích đất được bồi thường Hiện nay, công tác đăng
ký đất đai ở nước ta chưa hoàn thành, đặc biệt công tác đăng ký biến động về sửdụng đất; việc cập nhật chỉnh lý GCNQSD đất, hồ sơ địa chính thưa thường xuyên
vì vậy, khó khăn trong việc xác định loại đất và diện tích đất được bồi thường Làmtốt công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSD đất thì công tác bồi thường, GPMB sẽthuận lợi hơn
1.1.3.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là biện pháp quản lý của nhà nước trongcông tác quản lý đất đai là căn cứ để thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất Dovậy công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng có tác động đến công tác bồi thường,GPMB thực hiện các dự án đầu tư
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnhhưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồithường Công tác bồi thường, GPMB liên quan mật thiết với công tác quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất thông qua Quyết định thu hồi đất vì:
- Trên cơ sở Quyết định thu hồi đất để lập, trình duyệt và thực hiệnphương án bồi thường, GPMB
Tuy nhiên, chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta nói chung
có nhiều tiến bộ nhưng chưa đạt yêu cầu đề ra Tiến độ lập quy hoạch còn thấp, nộidung quy hoạch còn bất cập…[19]
1.1.3.3 Công tác giao đất, cho thuê đất
Công tác giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồithường, GPMB và tái định cư Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất, phải căn cứ vàoquy hoạch, kế hoạch, nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này;
Trang 16xuất đầu tư làm căn cứ giao đất, cho thuê đất và nghĩa vụ đóng thuế đất quy địnhkhông rõ ràng, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho côngtác đền bù
1.1.3.4 Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đất đai
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển củanền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏicác văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phùhợp với tình hình thực tế
Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai,việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểmtra thi hành Luật Đất đai của Bộ TN&MT năm 2007 cho thấy UBND các cấp đều có
ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhưng nhận thức về các quy địnhcủa pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất yếu
Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải quyếtgiao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp GCNQSD đất,thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.Trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệmhiệu quả chưa cao Tại nhiều địa phương, còn tồn tại tình trạng nể nang trong giảiquyết các mối quan hệ về đất đai Cán bộ địa chính, UBND xã nói chung chưa làmtốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật
về đất đai trên địa bàn Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật,gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếpđến tiến độ GPMB [3]
1.1.3.5 Yếu tố giá đất và định giá đất
- Trước khi có Luật Đất đai năm 2003:
Việc xác định giá đất, bồi thường, GPMB, tái định cư đều được quy địnhtại các văn bản dưới luật như Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủquy định khung giá các loại đất; Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 củaChính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sửdụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng vàNghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ ban hành quy định
Trang 17về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Giá đất để tính bồi thường thiệt hại khiNhà nước thu hồi đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyếtđịnh trên cơ sở khung giá đất do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số87/CP Khung giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất quyđịnh tại Nghị định số 87/CP được áp dụng trong một thời gian dài trên mườinăm, mặc dù trong đã áp dụng hệ số K để điều chỉnh khung giá đất tính bồithường nhưng mức tăng cao nhất cũng chỉ là 1, 2 lần đối với đất trồng lúa Do vậygiá đất để tính bồi thường vẫn thấp hơn nhiều so với giá thực tế, dẫn đến phát sinhhàng loạt các khiếu kiện về bồi thường, GPMB tại các địa phương [20]
- Từ khi có Luật Đất đai năm 2003:
Giá đất được xác định theo nguyên tắc “sát với giá chuyển nhượngquyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình thường” (khoản 1 Điều 56).Được Chính phủ quy định cụ thể tại Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004
về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số123//2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 188/2004/NĐ-CP Khi định giá đất phải căn cứ vào nguyên tắc và phương phápđịnh giá đất; phải cân nhắc đầy đủ ảnh hưởng của chính sách đất đai của Chính phủtrên cơ sở nắm chắc tư liệu thị trường đất đai, căn cứ vào những thuộc tính kinh tế
và tự nhiên của đất đai theo chất lượng và khả năng sinh lợi của đất đai [23]
- Luật Đất đai năm 2013:
Giá cả đất dựa trên giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nếu như trướcđây Nhà nước chỉ quy định một loại giá đất áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khácnhau thì Luật Đất đai năm 2013 đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng nhóm quan
hệ đất đai khác nhau
Ngoài việc tiếp tục quy định khung giá các loại đất, bảng giá đất, Luật đất đại
2013 quy định xác định giá đất cụ thể Chính Phủ ban hành khung giá các loại đấtđịnh kỳ 05 năm một lần đối với tường loại đất, theo từng vùng Về bảng giá đấtBảng gía đất được xấy dựng theo định kỳ 05 năm một lần và công bố công khai vàongày 01/01/của năm đầu kỳ [24]
Trang 18Về giá đất cụ thể Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnhđược thuê tổ chức có chức năng tư vấn giá đất xác định cụ thể Như vậy trong quátrình thực hiện mỗi dự án sẽ tiến hành xác định giá đất cụ thể để tính bồithường.Việc xác định giá đất cụ thể sẽ rất khó khăn trong một dự án rất nhiều loạigiá đất khác nhau làm ảnh hưởng tiến độ dự án.
1.1.4 Ảnh hưởng của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất
1.1.4.1 Lao động và các vấn đề về lao động
- Lao động: Là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra của cải vật
chất và giá trị tinh thần cho xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quảcao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước [28]
- Lực lượng lao động: Bao gồm tất cả những người từ 15 tuổi trở lên có việc
làm và những người thất nghiệp trong thời gian quan sát Hay lực lượng lao động làmột bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế có tham gia lao động (đang có việclàm) và những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm [28]
- Độ tuổi lao động: Theo quy định của Bộ luật lao động thì độ tuổi lao động
được tính như sau: Đối với nam giới: Từ 15 đến 60 tuổi
Đối với nữ giới: Từ 15 đến 55 tuổi
Tuy nhiên theo khái niệm trên thì những người trong độ tuổi lao động không
có nhu cầu làm việc hoặc không có khả năng làm việc thì không được tính trong lựclượng lao động Ví dụ học sinh, người tàn tật
- Sức lao động: Là toàn bộ thể lực, tâm lực và trí lực tồn tại trong con người.
Thể lực, tâm lực, trí lực đó đem ra vận dụng trong quá trình lao động để tạo ra củacải vật chất và những giá trị tinh thần của xã hội
1.1.4.2 Việc làm và các vấn đề liên quan
Việc làm: Có nhiều quan niệm về việc làm:
+ Việc làm là cơ sở vật chất để huy động nguồn nhân lực vào hoạt động sảnxuất trong nền kinh tế quốc dân [1]
+ Việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức lànhững điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó [1]
Trang 19Theo điều 13 Bộ luật lao động nước CHXHCNVN (2006) [28] thì việc làmđược định nghĩa là: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị phápluật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Mặc dù có nhiều quan niệm về việc làm,song việc làm là dành cho con người và do con người thực hiện nó với các điều kiệnvật chất kĩ thuật tương ứng hay đó chính là nhu cầu sử dụng sức lao động của conngười Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội.Song, con người chỉ trở thành động lực cho sự phát triển khi hoạt động tạo ra nguồnthu nhập của họ không bị cấm và được thừa nhận là việc làm.
Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơhội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xãhội [28]
Phân loại việc làm: Việc làm được phân loại theo các mức độ sau.
+ Phân loại việc làm dựa theo mức độ đầu tư thời gian cho việc làm
- Việc làm chính: Là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhấthoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác
- Việc làm phụ: Là những việc làm mà người lao động dành nhiều thời giannhất sau việc làm chính
+ Phân loại việc làm dựa theo mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất
và thu nhập
- Việc làm đầy đủ: Là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khảnăng lao động trong nền kinh tế quốc dân Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người laođộng làm việc theo chế độ do Bộ luật lao động Việt Nam quy định (8h/ngày)
- Việc làm có hiệu quả: Là việc làm với năng suất, chất lượng cao, tiết kiệmđược chi phí lao động, tăng năng suất lao động đảm bảo được chất lượng của cácsản phẩm làm ra
+ Phân loại theo thời gian làm việc thường xuyên hay không thường xuyên:
- Việc làm ổn định: đối với người trong 12 tháng làm việc từ 6 tháng trở lên vànếu làm dưới 6 tháng nhưng tương lai vẫn tiếp tục làm việc đó ổn định
- Việc làm tạm thời: những người làm việc dưới 6 tháng trong một năm dướithời điểm điều tra và tại thời điểm điều tra đang làm công việc tạm thời hoặc không
có việc làm 1 tháng
Trang 20 Thiếu việc làm
Khi nguồn lao động được huy động, sử dụng không hiệu quả thì tình trạng
thiếu việc làm sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập của người lao dộng thấp, giảm mức sốngcon người Đồng thời đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội, thậmchí tạo ra các xung đột rối loạn về mặt an ninh chính trị
Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp
Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốncủa người lao động, họ phải làm việc nhưng không hết sử dụng hết thời gian theoquy định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp không đủ sống khiến họmuốn kiếm thêm việc làm bổ sung
- Thiếu việc làm được thể hiện dưới 2 dạng: Thiếu việc làm vô hình và thiếuviệc làm hữu hình
+ Thiếu việc làm vô hình: Là trạng thái những người có đủ việc làm, làm đủthời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp Trênthực tế họ vẫn làm việc nhưng sử dụng ít thời gian trong sản xuất do vậy thời giannhàn rỗi nhiều
+ Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng lao động làm việc thời gian ít hơnthường lệ, họ không đủ vệc làm đang kiếm thêm việc làm và sẵn sàng làm việc
Thất nghiệp: Trong bất kỳ nền kinh tế nào dù có sử dụng lao động đến
mức tốt nhất thì xã hội vẫn tồn tại thất nghiệp
Thất nghiệp được hiểu là hiện tượng mà người lao động trong độ tuổi laođộng có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng lại chưa có việc làm và đang tíchcực tìm việc làm [1]
Thất nghiệp có thể được chia thành các loại như sau:
- Xét về nguồn gốc thất nghiệp có thể chia thành:
+ Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra khi có một số người đang trong thời gian tìmkiếm công việc hơặc nơi làm tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng, hoặc những ngườimới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc hoặc chờ đợi đi làm
+ Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối cung - cầu giữa các loạilao động (không đồng bộ giữa tay nghề và cơ hội có việc làm khi động thái của nhucầu và sản xuất thay đổi)
Trang 21+ Thất nghiệp do thời vụ: Xuất hiện như là kết quả của những biến động thời
vụ trong các cơ hội lao động
+ Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sảnlượng của nền kinh tế Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá trịsản xuất giảm dần dẫn tới hầu hết các nhà sản xuất giảm lượng cầu đối với các yếu tốđầu vào trong đó có lao động [1]
- Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp bao gồm:
+ Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động bỏviệc để tìm công việc khác tốt hơn hoặc chưa tìm được việc làm phù hợp vớinguyện vọng
+ Thất nghiệp không tự nguyện: Là thất nghiệp xảy ra khi người lao độngchấp nhận làm việc ở mức tiền lương, tiền công phổ biến nhưng vẫn không tìmđược việc làm
- Ngoài ra ở các nước đang phát triển, người ta còn chia thất nghiệp thành thấtnghiệp hữu hình và thất nghiệp vô hình
+ Thất nghiệp hữu hình: Xảy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm việclàm nhưng không tìm được trên thị trường
+ Thất nghiệp vô hình: Là biểu hiện của tình trạng chưa sử dụng hết lao động
ở các nước đang phát triển, họ là những người có việc làm ở khu vực nông thônhoặc thành thị không chính thức, việc làm này cho năng suất thấp và không ổn định
Tạo việc làm
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụđáp ứng nhu cầu thị trường
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện sản xuất là quá trình người laođộng làm việc Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ màcòn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Vì vậy tao việc làm không chỉ lànhu cầu chủ quan của người lao động mà còn là yếu tố khách quan của xã hội Việc hình thành việc làm thường là sự tác động giữa 3 yếu tố:
- Nhu cầu thị trường
Trang 22- Điều kiện cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ (người lao động, công
cụ sản xuất, đối tượng lao động)
- Môi trường xã hội: xét cả góc độ kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội
Việc làm mới
Là phạm trù nói lên sự tăng lượng cầu về lao động, nó được thể hiện dưới hai dạng:
- Những việc làm đòi hỏi kỹ năng lao động mới
- Những chỗ làm việc mới đựoc tạo thêm song không đòi hỏi sự thay đổi về kỹnăng của người lao động
Việc làm mới cũng là những việc làm được pháp luật cho phép, đem lại thunhập cho người lao động, nó được tạo ra theo nhu cầu thị trường để sản xuất mộtloại hàng hoá dịch vụ nào đó cho xã hội
1.1.4.3 Thu nhập và các vấn đề liên quan.
Thu nhập là giá trị thu được (quy ra thóc hoặc tiền) sau khi đã trừ đi chi phí
trung gian (IC) và khấu hao tài sản cố định
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất baogồm cả công lao động và lợi nhuận thu được do người sản xuất trong 1 chu kỳ sảnxuất trên quy mô diện tích
C1: Khấu hao tài sản cố định
- Thu nhập ổn định: Là khả năng tạo thu nhập một cách ổn định, lâu dài quacác năm, đảm bảo ổn định cuộc sống lâu dài thông qua các hoạt động sản xuất, kinhdoanh của hộ
- Phân loại thu nhập: Theo mức độ, thì thu nhập bao gồm: Thu nhập thườngxuyên và thu nhập không thường xuyên
Trang 23+ Thu nhập thường xuyên: Là các khoản thu nhập có tính chất lặp đi lặplại và ổn định như: tiền lương, tiền công, tiền trợ cấp, các khoản thu nhập do tổchức cá nhân chi trả
+ Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập không ổn định, độtxuất như: quà biếu tặng, thu nhập từ các hoạt động khoa học
1.1.4.4 THĐ với thực trạng lao động, việc làm và thu nhập của hộ nông dân mất đất
* Vai trò của đất nông nghiệp đối với lao động trong nông nghiệp
Trong nông nghiệp nông thôn, đất đai lại càng đóng vai trò hết sức quan trọng,bởi đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp Với hơn 73% dân số sống ởnông thôn và gắn bó với nông nghiệp, có thể nói vấn đề đất đai là một trong nhữngvấn đề được quan tâm hàng đầu khi phát triển nông nghiệp nông thôn Người dânnông thôn bao đời nay vẫn gắn bó với từng mảnh đất của mình, họ vun trồng trênnhững mảnh ruộng ấy để tạo ra cơm ăn, áo mặc cho mình và nhiều người khác.Chính vì vậy, khi mất đất đồng nghĩa với việc người dân nông thôn mất dần đinguồn sinh kế vốn có của mình, và nếu như không tìm được hướng đi mới thì thiếuviệc làm, thất nghiệp và nghèo đói sẽ là tương lai gần [6]
Trong những năm vừa quan quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn đãkéo theo việc thu hồi một diện tích khá lớn đất nông nghiệp, và theo đó cũng córất nhiều hộ nông dân chịu ảnh hưởng của THĐ Một thực trạng đáng buồn là hầuhết các hộ nông dân sau khi mất đất đều rơi vào tình trạng thiếu việc làm, thu nhậpkhông ổn định và mức sống thấp hơn trước THĐ Đứng trước tình trạng này, Đảng
và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chính sách nhằm giải quyết vấn đề về việc làm,thu nhập và ổn định đời sống người dân sau THĐ, tuy nhiên kết quả thu đượcchưa thực sự cao Bởi vậy vấn đề này đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm củacác cầp ngành liên quan cũng như toàn xã hội
* Khó khăn thường gặp trong giải quyết việc làm cho lao động sau THĐ
Việc làm cho người lao động trong bối cảnh CNH, HĐH đang diễn ra với tốc
độ cao như hiện nay ở nước ta cả trước mắt và trong những năm tới vẫn là vấn đềnóng bỏng, tác động sâu sắc đến sự phát triển bền vững của đất nước Theo báo cáocủa 14 tỉnh/thành phố, tình hình lao động bị mất việc làm nông nghiệp giai đoạn
Trang 242001 - 2005 do bị thu hồi đất là 265.709 người Bình quân, mỗi ha đất nông nghiệp
bị thu hồi có khoảng 13 lao động mất việc làm cần phải chuyển đổi nghề mới Việcthu hồi đất tập trung phần lớn vào đất canh tác nông nghiệp và vùng đông dân cư,tập trung vào một số xã, nhất là ở ven đô thị lớn (khoảng 70% - 80%) Tính chung,đất nông nghiệp bị thu hồi chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất nông nghiệp(khoảng 1% - 2%), nhưng tình trạng khó khăn về việc làm của người lao động cũngphát sinh tập trung ở một số địa bàn nhất định Có thể thấy, hiện nay việc tạo việclàm, tăng thu nhập cho người lao động sau THĐ là một vấn đề bức thiết và đượcnhiều người quan tâm Chính vì vậy Đảng và Nhà nước cũng như các cấp địaphương đã có nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ tạo việc làm, tuy nhiên hiệu quả thựchiện của các biện pháp này còn cách xa nhu cầu thực tế Khi tiến hành điều tranguyên nhân, có thể thấy được những khó khăn thường gặp nhất trong việc giảiquyết việc làm cho lao động sau THĐ như sau:
- Người dân chưa kịp chuẩn bị để kiếm một nghề mới khi đột ngột mất đất,mất việc làm Bản thân họ ít có khả năng tìm ngay việc làm mới để bảo đảm thunhập Tình trạng thất nghiệp toàn phần và thất nghiệp một phần rất gay gắt Đa sốthanh niên các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp có trình độ vănhóa thấp, trong khi để có một nghề chắc chắn đáp ứng chỗ làm việc trong các doanhnghiệp, phần lớn yêu cầu phải có trình độ từ phổ thông trung học [6]
- Chính phủ đã có những quy định cụ thể hỗ trợ cho những người mất đất đượcđào tạo nghề mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp Tuy nhiên, số tiền hỗ trợ chuyểnđổi ngành nghề từ 300 - 700 nghìn đồng/người chỉ có thể tham gia một khóa đào tạongắn hạn với các nghề đơn giản Đa số các cơ sở dạy nghề tại các vùng chuyển đổimục đích sử dụng đất nông nghiệp không đủ năng lực tiếp nhận số lượng nhiều vàđào tạo nghề có chất lượng, nên đối tượng này khó cạnh tranh khi đi tìm việc làmtrong các KCN, KCX
- Cơ cấu nguồn thu của các hộ dân bước đầu đã có sự chuyển dịch theo hướngtiến bộ Nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp giảm, thu từ sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp, từ tiền lương tiền công và từ thương mại dịch vụ tăng hơn Tuyvậy, số hộ bị giảm thu nhập còn rất lớn Trên phương diện này, có thể đánh giá tính
Trang 25kém hiệu quả của các phương thức đền bù mà các địa phương đã triển khai Việcmột bộ phận hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp tăng tài sản do có tiền đền bù, nhưng
là sự biến động tăng không bền vững Sử dụng tiền đền bù không đúng mục đíchđang ẩn chứa những yếu tố bất ổn trong thu nhập của họ
- Hiện nay, nhiều địa phương đã có chính sách quy định các doanh nghiệp sửdụng đất phải có trách nhiệm sử dụng lao động tại chỗ mất việc làm do bị thu hồiđất nông nghiệp Nhưng các doanh nghiệp lại chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này.Tình trạng quy hoạch treo, hoặc chủ đầu tư nhận đất nhưng không triển khai dự ándẫn đến dân mất đất mà không có việc làm, còn doanh nghiệp không thu hút đượclao động vào làm việc khá phổ biến [6]
* Sự cần thiết phải tạo việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống cho người lao động sau khi THĐ
Theo kết quả nghiên cứu của Viện chính sách Bộ NN&PTNT tại 3 tỉnh códiện tích đất thu hồi lớn nhất cả nước là Hà Tây (cũ), Hải Dương và Hưng Yên thìđiểm nổi bật nhất trong định hướng giá trị việc làm của người nông dân bị thu hồiđất là rất nhiều người mong muốn có việc làm đem lại thu nhập ổn định, dù thunhập đó có thấp hơn chút ít so với trước kia Nhiều người không muốn đi làm xa, vì
họ ý thức rằng khi có việc làm sẽ có được vị thế xã hội nhất định và đời sống tâm lýthoải mái hơn Việc nhàn, ít bận rộn, không chịu nhiều áp lực cũng là một giá trịđược nhiều nông dân coi trọng, đặc biệt là nữ nông dân Tuy nhiên có thể thấy, giảiquyết được nhu cầu này không phải dễ dàng, mặc dù đây là mong muốn chính đángcủa người lao động [6]
Rất nhiều nông dân sau khi không tìm được việc làm mới tại các KCN, phảitìm về với nghề cũ (trồng trọt, chăn nuôi) nhưng khốn nỗi lại chẳng còn đất Theothống kê của Bộ NN&PTNT, có tới 67% lao động sau khi THĐ vẫn quay lại vớinghề cũ, 20% không có việc làm và chỉ có 13% có nghề mới Sở dĩ xảy ra tình trạngnày là vì, số nông dân tại các địa phương này được tuyển dụng vào làm việc tại cácKCN chiếm tỷ lệ rất ít do trình độ lao động, tay nghề không đáp ứng được nhu cầu.Đất bị thu hồi chủ yếu là đất canh tác màu mỡ, là “bờ xôi ruộng mật” nên khi mấtđất hiệu quả sản xuất trên diện tích đất còn lại rất thấp Điều kiện sống của người
Trang 26nông dân vì thế cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi chỉ có 29% số hộ có điều kiệnsống tốt hơn; số đông còn lại (34,5%) có mức sống thấp hơn so với trước khi bị thuhồi đất [6]
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số nước trên thế giới
và các tổ chức ngân hàng quốc tế.
1.2.1.1 Trung Quốc
Ở Trung Quốc có hai hình thức sở hữu về đất đai gồm: sở hữu nhà nước (đất
đô thị và đất xây dựng) và sở hữu tập thể (đất ở thuộc vùng nông thôn và đất nôngnghiệp) Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sởhữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giaođất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất và chothuê đất
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụngvào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách bồi thường
và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất Vấn đề bồi thường cho người có đất
bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc vụ viện cóthẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với cácloại đất khác Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ
sở hữu tập thể thành đất hữu nhà nước
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định,
người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường, phần lớn tiền bồithường do người sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sửdụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi.Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đờisống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngànhnghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha
Trang 27Người bị thu hồi đất được trả các khoản: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp táiđịnh cư, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồi thường đấtđai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai nhữngnăm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồithường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thuhồi đất.
Về nguyên tắc bồi thường: Các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho người
dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phầnlớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền tiết kiệm của họ cóthể mua được căn hộ mới Còn đối với người dân ở khu vực nông thôn có thể dùngkhoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng một nơi [7] Tuy nhiên, ở thànhthị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi thường cũng không mua nổimột căn hộ để ở Những đối tượng trong diện giải toả mặt bằng thường đượchưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên thực tế họ thườngmua nhà bên ngoài thị trường
Về tổ chức thực hiện và quản lý giải toả mặt bằng : Cục quản lý tài
nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải toả mặt bằng Ngườinhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải toả mặt bằng khu đất đó,thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải toả.Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và của Trung Quốc đều nhằmbảo vệ những người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án Theo một nghiên cứu gầnđây của WB thì các luật về tái định cư của Trung Quốc đối với các dự án phát triển
đô thị, công nghiệp và giao thông "đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tàiliệu hướng dẫn thực hiện tái định cư" [7]
1.2.1.2 Australia
Luật đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước
và sở hữu tư nhân Luật đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữuđất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc
mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích luỹ đất đai
Trang 28Theo luật của Australia 1989 có hai loại thu đất, đó là thu đất bắt buộc và thuđất tự nguyện Thu hồi đất tự nguyện được tiến hành khi chủ đất cần được thu hồiđất Trong thu đất tự nguyên không có quy định đặc biệt nào được áp dụng mà việcthoả thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất Chủ có đất cần được thu hồi và người thuhồi đất sẽ thoả thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận và căn cứ vào thịtrường Không có bên nào có quyền hơn bên nào trong thoả thuận và cũng khôngbên nào được áp đặt đối với bên kia.
Thu hồi đất bắt buộc được Nhà nước Australia tiến hành khi Nhà nước có nhucầu sử dụng đất cho các mục đích công cộng và các mục đích khác Thông thường,nhà nước có được đất đai thông qua đàm phán
Trình tự thu đất bắt buộc được thực hiện như sau: Nhà nước gửi cho các chủ
đất một văn bản trong đó nêu rõ mục tiêu thu hồi đất vì các mục đích công cộng.Văn bản này gồm các nội dung chính như cơ quan muốn thu hồi đất, miêu tả chi tiếtmảnh đất, mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi và các giải thích vì sao mảnh đất đóphù hợp với mục tiêu công cộng đó Chủ sở hữu mảnh đất có thể yêu cầu Bộ trưởng
Bộ Tài Chính và quản lý xem xét lại vấn đề thu hồi đất Nếu chủ sở hữu vẫn chưahài lòng thì có thể tiếp tục yêu cầu trọng tài phúc thẩm hành chính phán xử Trọngtài phúc thẩm hành chính không thể xem xét tính đúng đắn về quyết định của Chỉnhphủ nhưng có thể xem xét các vấn đề liên quan khác Nhà nước thông báo rộng rãiquyết định thu hồi đất và chủ sở hữu đất phải thông báo cho bất kỳ ai muốn muamảnh đất đó về quyết định thu hồi đất của Chính phủ Sau đó, Nhà nước sẽ ban hànhquyết định thu hồi đất và thông báo trên báo chí Chủ sở hữu đất nhận được thôngbáo khuyên tiến hành các thủ tục yêu cầu bồi thường Chủ sở hữu đất thông thường
có quyền tiếp tục ở trên đất ít nhất là 6 tháng sau khi đã có quyết định thu hồi đất.Ngay sau khi có quyết định thu hồi đất, chủ đất có thể yêu cầu nhà nước bồi thường.Nguyên tắc của bồi thường là công bằng và theo giá thị trường Thông thường, cácyếu tố sẽ được tính toán trong quá trình bồi thường đó là giá thị trường, giá đặc biệtđối với chủ sở hữu, các chi phí liên quan như chi phí di chuyển, chi phí TĐC
Trang 291.2.1.3 Thái Lan
Hiến pháp Thái Lan năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đíchxây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, pháttriển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác phải theo giá thị trườngcho những người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về tất cả các thiệt hại
do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho ngườichủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên các quy định này, cácngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình
Năm 1987 Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng BĐS áp dụng cho việc trưngdụng đất sử dụng vào các mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, pháttriển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước, phát triển đô thị, nôngnghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy địnhnhững nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tàisản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình tựtiến hành bồi thường TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá trị bồi thường, các bướclập và phê duyệt dự án bồi thường, thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toánbồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, quyền khiếu nại, quyềnkhởi kiện đưa ra toà án
1.2.1.4 Chính sách bồi thường và tái định cư của các tổ chức ngân hàng quốc tế.
Ngân hàng Thế giới (WB) là một trong những tổ chức tài trợ quốc tế đầu tiênđưa ra chính sách về tái định cư bắt buộc Tháng 2/1980, lần đầu tiên chính sách táiđịnh cư được ban hành dưới dạng một Thông báo, Hướng dẫn hoạt động nội bộ(OMS 2.33) cho nhân viên Từ đó đến nay chính sách tái định cư đã được sửa đổi
và ban hành lại nhiều lần
Kinh nghiệm của WB cho thấy việc tái định cư không tự nguyện do các dự ánphát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thường dẫn đếnnhững hiểm họa nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sảnxuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hoá khi những tài sản, công
cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất cả những điều đó nếu giải
Trang 30quyết không tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dẫn tới sựbần cùng hoá đời sống người bị thu hồi đất.
Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB làphải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng vàquy định thời hạn bồi thường, tái định cư hoàn thành trước một tháng khi dự ántriển khai thực hiện
Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường, tái định cư được các tổ
chức cho vay vốn quốc tế coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức
độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người BAH và mức độ tác độngcủa dự án Kế hoạch bồi thường, tái định cư phải được coi là một phần của chươngtrình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ BAH.Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hoà nhập đượcvới cộng đồng mới
Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ BAH, các tổ chức quốc tế quy
định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự ánphải được thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác, thậm chí traoquyền cho các hộ BAH và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu chính đáng của họ trongsuốt quá trình lập kế hoạch bồi thường, tái định cư cho tới khi thực hiện công táclập kế hoạch [13]
1.2.2 Vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng và ảnh hưởng của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất
1.2.2.1 Chính sách bồi thường GPMB ở Việt Nam qua các thời kỳ
* Trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Trong mỗi kiểu Nhà nước tuỳ theo tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và nhữngđặc điểm truyền thống, huyết thống, tập tục mà các hình thức sở hữu đất đai luônđược giai cấp thống trị chú trọng Ngày từ thời kỳ phát triển Nhà nước trung ươngtập quyền đến thời Nguyễn, chính sách bồi thường cho người bị thiệt hại khi Nhànước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi thường cho ruộng đấtcanh tác, đất ở không được quan tâm nhiều so với các loại đất khác Hình thức bồi
Trang 31thường chủ yếu bằng tiền, mức bồi thường được quy định chặt chẽ, tương ứng vớinhững thiệt hại của người bị thu hồi đất.[7]
Ngày 11 tháng 01 năm 1970, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối,các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố Vềthể thức bồi thường, trước hết là các ngành, các cơ quan xây dựng phải đến liên hệvới chính quyền các cấp để tiến hành thương lượng với nhân dân, căn cứ vào tài sảnhiện có hoặc hoa màu, công sức bỏ ra khai phá và phân loại đất đai của địa phương
mà định giá bồi thường cho phù hợp
Mặc dù chính sách bồi thường về đất chưa được quy định trong luật về thể chếthành một chính sách đầy đủ, song quy định về bồi thường khi nhà nước trưng dụngđất tại Thông tư 1792/TTg đã có sự thay đổi so với Nghị định 151/TTg, từ " chiếu
cố đúng mức quyền lợi và đời sống của những người có ruộng đất bị trưng dụng"trước đây sang "đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của Hợp tác xã và của nhândân" đồng thời những quy định tại Nghị định số 151/TTg trước đây chỉ có tínhnguyên tắc thì đến Thông tư 1792 - TTg đã được quy định cụ thể mức bồi thườngnhà ở, đất đai, cây lâu năm, hoa màu trên đất
Luật đất đai năm 1988 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lý, khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho các mụcđích công cộng, người sử dụng đất không được Nhà nước bồi thường bằng đất, chỉđược bồi thường bằng tiền, tài sản hoa màu có trên diện tích đất bị thu hồi
Ngày 31 tháng 5 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số186/HĐBT về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sửdụng vào mục đích khác Theo quy định của Nghị định số 186/HĐBT thì mọi tổchức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đíchkhác phải bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước.Khoản tiền bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp, đất có rừng mà người được Nhànước giao đất phải nộp được điều tiết về ngân sách Trung ương 30%, còn laị 70%thuộc ngân sách địa phương để sử dụng việc khai hoang, phục hoá, cải tạo đất nôngnghiệp và định canh, định cư cho nhân dân vùng bị lấy đất Người có đất bị thu hồi
Trang 32chỉ được bồi thường thiệt hại tài sản trên đất, trong lòng đất Nếu Nhà nước thu hồiđất vào đất làm nhà ở, việc bồi thường thiệt hại về đất không được đặt ra và người
bị thu hồi đất làm nhà ở sẽ phải tự lo liệu
Tóm lại, do thời kỳ này đất đai chưa được thừa nhận là có giá cho nên cácchính sách bồi thường GPMB còn có nhiều hạn chế, thể hiện trong cách tính giá trịbồi thường, phương thức thực hiện Tuy nhiên, nhìn nhận một cách công bằng thìnhững chính sách này cũng đã đóng vai trò tích cực trong việc GPMB để dành đấtcho việc xây dựng các công trình quan trọng trong hệ thống cơ sở hạ tầng ban đầucủa đất nước
* Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003
Hiến pháp 1992 đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thườngGPMB qua những điều 17, 18, 23
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 được Quốc hội thông qua và cóhiệu lực từ ngày 15 thàng 10 năm 1993 Với quy định "đất có giá" và người sử dụngđất có các quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với côngtác bồi thường GPMB của Luật đất đai năm 1993 Những quy định về bồi thườngGPMB của Luật đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng tronggiai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hìnhkinh tế xã hội, nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạođiều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thờibảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật đất đai đã được thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001
Để cụ thể hoá các quy định của Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sáchbồi thường GPMB đã được ban hành, bao gồm:
- Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ quy định vềviệc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh,quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghịđịnh 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước,Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực
Trang 33hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùngmục đích sử dụng, cùng hạng đất.v.v.
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất;
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên bộ Tài chính Xâydựng- Tổng cụ Địa chính – Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định87/CP;
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ
về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đíchquốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; thay thế Nghị định số90/CP nói trên;
- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thihành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ
* Chính sách bồi thường GPMB cụ thể theo quy định của Nghị định số22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC:Nghị định số 22/1998/NĐ-
CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC đã quy định rõ phạm vi áp dụng bồithường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đối tượng phải bồi thường thiệt hại,đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồi thường thiệt hại và các chínhsách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, việc lập khuTĐC cũng như việc tổ chức thực hiện
* Thời kỳ từ năm 2003 đến năm 2013
- Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 01tháng 7 năm 2004 Để hướng dẫn việc bồi thường GPMB theo quy định của Luậtđất đai năm 2003, một số văn bản sau đã được ban hành:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướngdẫn thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 củaChính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định hướng dẫn thi hành LuậtĐất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thànhcông ty cổ phần [8]
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về Hỗ trợ,tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày
Trang 3407/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CPcủa Chính phủ [11].
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về Quy định bổsung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sửdụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vàgiải quyết khiếu nại về đất đai; Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/7/2007 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày25/5/2007 của Chính phủ [13]
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ Quyđịnh bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ vàtái định cư [12]
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương phápxác định giá đất và khung giá các loại đất;
* Luật đất đai năm 2013.
Về cơ bản, chính sách bồi thường GPMB theo Luật đất đai 2013 đã kế thừanhững ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mớinhằm góp phần tháo gỡ những vướng mắc bất cập trong việc bồi thường GPMBhiện nay Cụ thể hoá Luật đất đai 2013 Chính Phủ ban hành Nghị định số 47/2014/
NĐ – CP ngày 15/05/2014 quy định bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nướcthu hồi đất.Thông tư số 30/2014/TT – BTNMT ngày 02/06/2014 quy định hồ sơgiao đất cho thuê đất chuyển mục đích sử dụng đất thu hồi đất Nghị định số44/2014/NĐ – CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 quy định về giá đất; thông tư số 37/
TT – TN&MT ngày 30 tháng 06 năm 2014 Quy định định chi tiết bồi thường hỗtrợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đẩt.[15]
1.2.2.2 Thực trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam
Đất đai có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặcbiệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Với những thay đổi như đã nghiêncứu ở trên, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường,GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất
để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 35nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đấtđai hiện nay.
* Hiện trạng quản lý sử dụng đất ở Việt Nam
Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2010 tổng diện tích tự nhiên 33.093.857
ha bao gồm đất nông nghiệp 26.100.106 ha chiếm 79%, đất phi nông nghiệp3.670.186 ha chiếm 11% và đất chưa sử dụng 3.323.512 ha chiếm 10% diện tích tựnhiên, trong đó có 24.989.102 ha chiếm 75,51% là đã có chủ sử dụng So với năm
2005, diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng 1.277.600 ha, trong đó đất trồng lúa
có 4.127.721 ha, vượt so với quy hoạch 10,33% nhưng giảm 37.546 ha, bình quânhàng năm giảm 7.000 ha; Đất lâm nghiệp tăng 571.616 ha, riêng tỉnh Quảng Namtăng 135.000 ha do giao đất trồng rừng, bổ sung đất rừng tự nhiên đặc dụng, khubảo tồn đặc dụng; Cơ cấu 3 loại rừng của cả nước có sự thay đổi lớn là đất rừng sảnxuất tăng 1.954.606 ha, rừng phòng hộ giảm 1.484.350 ha, rừng đặc dụng tăng71.361 ha; Đất nuôi trồng thuỷ sản giảm 9.843ha; Đất làm muối tăng 3.487 ha; Đấtnông nghiệp khác tăng 10.015 ha; Đất ở nông thôn tăng 54.054 ha, đạt bình quân91m2 /người; Đất ở đô thị tăng 27.994 ha, đạt bình quân 21m2/người; Đất chuyêndùng tăng 410.713 ha, tăng nhiều nhất là cho mục đích công cộng, giao thông, thuỷlợi, an ninh, quốc phòng; Đất tôn giáo tăng 1.816 ha; Đất nghĩa trang nghĩa địa tăng3.887 ha; Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng giảm 61.709 ha; Đất chưa sửdụng giảm 1.742.372 ha
Trong 10 năm, từ năm 2003-2013, tổng diện tích đất đã thu hồi là 536 nghìn
ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp
và cụm công nghiệp khoảng 136 nghìn ha, xây dựng đô thị là khoảng 167 nghìn ha
và xây dựng kết cấu hạ tầng khoảng 233 nghìn ha [4]
* Áp lực đối với thu hồi đất.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNN cho thấy việc thu hồi đất nôngnghiệp trong 10 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 826.012 hộ giađình với khoảng 1050.000 lao động và 3,3 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thuhồi ảnh hưởng tới việc làm 10 lao động nông nghiệp.Vùng đồng bằng sông Hồng
có số hộ BAH do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ
Trang 36khoảng 108 nghìn hộ.Nhằm giải quyết việc làm, đào tạo nghề, ổn định đời sống cholao động nông thôn nói chung và người dân bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng,các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm đối với người bị thu hồi đất nôngnghiệp đã thu được kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, Bộ LĐTB&XH thừa nhậnviệc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động bị thu hồiđất nông nghiệp nói riêng vẫn còn những "lỗ hổng chưa thể lấp đầy" [6]
* Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Trong những năm qua, dưới sự lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chínhquyền các cấp, công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã đạt được một số kết quảquan trọng, từng bước đi vào nề nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triểnkinh tế xã hội của tỉnh Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng có nhiều chuyểnbiến tích cực, thực hiện phân cấp mạnh cho cơ sở theo Nghị định số 69/2009/NĐ-
CP của Chính phủ, các huyện, thành phố thực hiện việc thẩm định phê duyệtphương án bồi thường, tái định cư các dự án trên địa bàn, trừ dự án đi qua hai huyệntrở lên thuộc thẩm quyền Hội đồng thẩm định cấp tỉnh Do vậy tính chủ động vàtrách nhiệm được nâng lên, khắc phục được tình trạng chưa giải phóng mặt bằngsạch đã thi công công trình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi người có đất bị thu hồi,dẫn đến khiếu kiện
Nhìn chung, trong 04 năm qua việc xây dựng cơ chế, chính sách về bồithường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh kịp thời, ngày càng được hoàn thiện,chặt chẽ, đáp ứng nhu cầu thực tế, tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thựchiện Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu trình UBND tỉnh ban hành: Quyếtđịnh số 2568/2008/QĐ-UBND ngày 11/8/2008 của UBND tỉnh Hà Giang ban hành
bộ đơn giá bồi thường đất đai, nhà cửa, cây cối hoa màu gắn liền với đất khi Nhànước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Quyết định số 3664/QĐ-UBND ngày 27/11/2007 của UBND tỉnh Hà Giangquy định mức hỗ trợ đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn,
ao liền kề với đất ở trong khu dân cư khi Nhà nước thu hồi đất; Mức bồi thườngbằng đất ở khi khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của các hộ gia đình và cá nhântrên địa bàn tỉnh Hà Giang
Trang 37Quyết định số 3011/2009/QĐ-UBND ngày 20/08/2009 của UBND tỉnh HàGiang Về việc quy định hạn mức giao đất ở; xác định diện tích đất ở đối với thửađất có vườn, ao và hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước chưa sửdụng đưa vào sử dụng theo quy hoạch cho hộ gia đình, các nhân trên địa bàn tỉnhQuyết định số 2758/QĐ-UBND ngày 07/08/2009 của UBND tỉnh Hà Giang vềviệc điều chỉnh vị trí, khu vực các loại đất và một số chính sách hỗ trợ áp dụng chocác dự án xây dựng Khu công nghiệp Bình Vàng.
Quyết định số 1152/2010/QĐ-UBND ngày 22/04/2010 của UBND tỉnh HàGiang Về việc quy định mức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồiđất trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Quyết định số 1129/2012/QĐ-UBND ngày 13/6/2012 về việc quy định mứcbồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh HàGiang, đơn giá về tài sản vật kiến trúc thay thế quyết định số 1152/2010/QĐ-UBNDngày 22/4/2010 của UBND tỉnh do một số chính sách của nhà nước có sự thay đổi [Các chính sách hỗ trợ cũng đã góp phần cải thiện được cuộc sống của ngườidân sau khi bị thu hồi đất, giải quyết cơ bản những khó khăn, vướng mắc của ngườidân và chủ đầu tư trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, bảođảm được lợi ích của người bị thu hồi đất, hạn chế tiêu cực phát sinh, được đôngđảo người dân và doanh nghiệp đồng tình ủng hộ, nên công tác bồi thường, hỗ trợ,tái định cư đã đạt được những kết quả khả quan, góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế, xã hội của tỉnh
Kết quả công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng từ năm 2011 – 2014 Hộiđồng thẩm định cấp tỉnh, cấp huyện đã thẩm định trình UBND tỉnh, huyện phêduyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cho 243 công trình, dự ánvới tổng kinh phí là: 179.862 triệu đồng
Trong đó: Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các sở: Tàichính, xây dựng đã thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗtrợ với 14 công trình, tổng diện tích đất thu hồi: 764.489,7m2 với kinh phí là: 7.369triệu đồng Phòng Tài nguyên Môi trường các huyện, thành phố trình UBND huyện
Trang 38phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng với 229 công trình, vớikinh phí là: 172.493 triệu đồng.
1.2.2.3 Phân tích một số tồn tại trong quá trình thực hiện thu hồi, bồi thường và giải phóng mặt bằng, tái định cư.
* Người nông dân thường chưa sẵn sàng cho việc bị thu hồi đất.
Theo quy định của pháp luật đất đai (khoản 2 Điều 39 Luật đất đai): “Trướckhi thu hồi đất, chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nông nghiệp và một trămtám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phảithông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch dichuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư.” [24]Mặt khác theo quy định của pháp luật đất đất đai và pháp luật xây dựng thì khi
có quy hoạch chuyển mục đích sử dụng đất sang xây dựng các khu công nghiệp, khu
đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, thì trong vòng 30 ngày cácquy hoạch đó sẽ được công khai để nhân dân được biết Theo quy định tại khoản 2Điều 42 Luật đất đai năm 2003: “Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thườngbằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thườngthì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thuhồi.” Tuy nhiên, đối với các tỉnh đồng bằng thì không còn quỹ đất nông nghiệp đểbồi thường bằng đất nên người nông dân buộc phải chuyển nghề
Như vậy, nếu thực hiện đúng quy định thì việc thu hồi đất nông nghiệp để chuyểnsang mục đích khác đã được báo trước, tuy nhiên nhiều khi người nông dân chưa sẵnsàng để chuẩn bị cho việc đó như: học nghề, chuyển nghề, mua sắm tư liệu sản xuấtkhác, Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng vấn đề hướng nghiệp chuyển nghề là vấn đề nangiải đối với cả các cấp chính quyền thì người nông dân cũng rất khó khăn trong việc lựachọn học nghệ gì, chuyển nghề như thế nào để có việc làm và có thu nhập Mặt khác, kể
cả khi đã có hướng chuyển nghề cụ thể thì lại gặp khó khăn về mặt tài chính Trong khi
đó chỉ đến khi thu hồi đất mới có được tiền bồi thường
* Quy trình bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện chưa đầy đủ
Một số địa phương, cơ quan quản lý thực hiện không thực hiện đầy đủ, hoặcthực hiện chưa tốt những chính sách đã ban hành về thu hồi đất, bồi thường, giảiphóng mặt bằng và tái định cư đến khiếu kiện kéo dài
Trang 39Điều này thường thấy qua việc thu hồi đất để xây dựng công trình mà nhândân khu vực không biết, chỉ đến khi sắp trả tiền bồi thường và giải phóng mặt bằngthì người dân mới được biết Đó là biểu hiện của việc thiếu công khai minh bạch,việc cắt xén quy trình, thủ tục thu hồi đất: quy hoạch không công khai đến nhândân, quyết định thu hồi đất không công khai đến nhân dân, kiểm đếm tài sản lậpphương án trên giấy,… chỉ đến khi có quyết định phê duyệt phương án bồi thường
và trả tiền cho dân thì người bị thu hồi đất mới biết
Mặc dù pháp luật đã có những quy định rất cụ thể nhưng thời gian vừa quanhiều địa phương vẫn vi phạm những quy định này Bên cạnh đó, những tồn tại vàtiêu cực trong quá trình giải phóng mặt bằng ở một số địa phương chậm được giảiquyết, gây bất bình lớn trong nhân dân
* Nhiều địa phương còn quá vội vàng trong việc thu hồi đất
Địa phương chưa chuẩn bị tốt công tác tái định cư, tái định canh, chuyển nghề,
ổn định cuộc sống cho người dân có đất bị thu hồi Trong thời gian qua các dự ánđầu tư khi được duyệt luôn có hạng mục báo cáo về phương án bồi thường, giảiphóng mặt bằng và đặc biệt luôn có báo cáo những dự kiến về công tác tái định cư,chuyển nghề cho người có đất bị thu hồi, nhưng thực tế triển khai thì quá kém Docác địa phương chưa thực sự vào cuộc, coi nhẹ công tác tái định cư, còn có tìnhtrạng buông xuôi và phó thác nhiệm vụ này cho các chủ dự án; các cơ quan chứcnăng mới chỉ làm công tác duyệt dự án đầu tư mà chưa làm tốt công tác hậu kiểmdẫn đến tình trạng các nhà đầu tư làm ẩu, đã thu hồi đất, nhà máy đi vào hoạt động
mà các khu tái định cư vẫn chưa thấy đâu
* Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn
Trong những năm gần đây, tại nhiều nơi trên cả nước, công tác bồi thường giảiphóng mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp gặp nhiều khókhăn, không thực hiện được Người dân không chịu bàn giao đất, không chịu nhậntiền bồi thường do một số nguyên nhân sau:
- Giá bồi thường quá thấp so với thực tế: Người nông dân chủ yếu sống bằngnghề nông nghiệp, ngoài ra còn có một số nghề phụ mang lại cho họ thu nhập đáng
kể trong những lúc nông nhàn (nghề mộc, nghề xây dựng, làm đậu phụ, làm thủcông,…) Tuy nhiên hầu hết đối với các hộ gia đình thuần nông thì việc thu hồi đất
Trang 40đối với họ đã dẫn đến một thay đổi lớn, đòi hỏi phải có một nguồn vốn đáng kể để
có thể chuyển đổi nghề nghiệp cho cả gia đình hoặc một số lao động dư thừa [29]
- Tình trạng không nhất quán trong giá bồi thường đất nông nghiệp tại mộtvùng ở các thời điểm khác nhau:
Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phươngpháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Thông tư số 114/2004/TT-BTCngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số188/2004/NĐ-CP đã quy định các tỉnh ban hành khung giá đất hàng năm phải sátvới giá thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên ở một số địa phương cơchế ban hành khung giá đất hàng năm chưa có quy định rõ ràng, việc công bố giáđất ở các tỉnh chưa đảm bảo nguyên tắc “giá đất phải sát giá thị trường trong điềukiện bình thường” [8]
Cũng theo các quy định trên thì trong trường hợp tại thời điểm bồi thường màgiá đất do UBND tỉnh ban hành không phù hợp với nguyên tắc định giá đất thị phảiđịnh giá lại Đây cũng là một quy định đòi hỏi nhưng người làm công tác định giáđất của mỗi địa phương phải có những nghiên cứu kỹ lưỡng, cẩn trọng để ban hànhmột khung giá đất thống nhất phù hợp
- Tình trạng không nhất quán trong giá bồi thường đất nông nghiệp có điềukiện tương đương nhau nhưng thuộc các địa phương khác nhau: Hiện tượng chênhlệch quá lớn về giá bồi thường đất nông nghiệp ở các khu vực có điều kiện tươngđương nhau nhưng thuộc 2 địa phương khác nhau cũng là một nguyên nhân quantrọng gây khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng Trên cùng một cánh đồng
có điều kiện tương tự nhau nhưng lại thuộc 2 tỉnh có điều kiện, có tiềm năng pháttriển kinh tế khác nhau lại có giá bồi thường chênh lệch qúa lớn khiến người dânkhông đồng tình
- Tình trạng một số doanh nghiệp tự nâng giá bồi thường: Trước tình trạngchậm trễ trong việc giải phóng mặt bằng do người dân không chịu nhận tiền bồithường quá thấp, một số doanh nghiệp đã “phá rào” tự động điều chỉnh nâng mứcbồi thường cao hơn so với quy định chung của địa phương để đẩy nhanh tiến độ bàn