Đa số các tác giả cho rằng giữa hai thành phần đề và thuyết có những phương tiện chuyên dùng để đánh dấu và phân giới, trong đó chủ yếu là thì, là, mà.. Trong công trình này, tác giả khẳ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
LÊ TÂY HỒ
TÌM HIỂU TÁC TỬ CÚ PHÁP THÌ, LÀ, MÀ TRONG SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS CHIM VĂN BÉ
Cần Thơ, năm 2011
Trang 2I KHÁI NIỆM NGỮ PHÁP HỌC CHỨC NĂNG
II CẤU TRÚC CÚ PHÁP CƠ BẢN CỦA CÂU TIẾNG VIỆT
1 Khái niệm về câu
2 Khái niệm đề miêu thuật và thuyết miêu thuật
4 Mở rộng cấu trúc câu theo quan hệ ngữ đoạn: hiện tượng ghép
5 Phức tạp hoá cấu trúc câu theo quan hệ đối vị: hiện tượng phức
6 Hiện tượng ghép - phức
7 Hiện tượng phức – ghép
III CÁC YẾU TỐ CHUYÊN DÙNG PHÂN GIỚI VÀ ĐÁNH DẤU
ĐỀ -THUYÊT
1 Một số hiểu biết chung
1.1 Đối với thì (biến thể phát âm là thời)
1.2 Đối với mà
1.3 Đối với là
Trang 31 Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề tài
2 Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề khung
3 Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm phần thuyết, bao gồm các vị từ tình thái
4 Các phó từ dùng để đánh dấu phần thuyết
5 Các yếu tố phụ trợ phân giới và đánh dấu đề - thuyết
V ĐỀ TÌNH THÁI VÀ THUYẾT TÌNH THÁI
1 Khái niệm đề tình thái
2 Chức năng phân giới đề tình thái của các tác tử chuyên dùng
2.1 Đề tình thái được đánh dấu bằng thì
2.2 Đề tình thái được phân giới bằng mà
2.3 Đề tình thái được phân giới bằng là
3 Khái niệm về thuyết tình thái
4 Thuyết tình thái được đánh dấu bằng thì
5 Thuyết tình thái được đánh dấu bằng là
Trang 4CHƯƠNG HAI KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI TÁC TỬ
THÌ, MÀ, LÀ TRONG SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Giới thiệu sơ lược về tác giả và tác phẩm
2 Giới thiệu văn bản khảo sát và giới hạn phạm vi ngữ liệu
3 Quy ước chung về một số kí hiệu và cách viết tắt
II THỐNG KÊ VÀ PHÂN LOẠI TÁC TỬ THÌ, MÀ, LÀ TRONG BA
CHƯƠNG CỦA SỐ ĐỎ
1 Số liệu thống kê ba thì, mà, là
2 Miêu tả thì, mà, là
2.1 Miêu tả tác tử thì
2.1.1 Thì đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết
2.1.2 Thì đánh dấu phần thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết
2.1.3 Thì đánh dấu đề tình thái
2.1.4 Thì đánh dấu thuyết tình thái
2.2 Miêu tả tác tử mà
2.2.1 Mà đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết
2.2.2 Mà đánh dấu phần thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết
2.2.3 Mà đánh dấu đề tình thái
2.3 Miêu tả tác tử là
2.3.1 Là đánh dấu phần thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết
2.3.2 Là đánh dấu đề tình thái
2.3.3 Là đánh dấu thuyết tình thái
2.4 Miêu tả các tác tử được dùng kết hợp trong câu
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngữ pháp học chức năng là một hệ thống lí thuyết nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt hiện nay ở nước ta Hệ thống lí thuyết này cho phép chúng ta nghiên cứu tiếng Việt một cách khái quát hơn, toàn diện hơn so với ngữ pháp học truyền thống trước đó Qua tìm hiểu cụ thể, chúng tôi thấy rằng hướng nghiên cứu này có sức bao quát gần hết câu tiếng Việt Vì vậy, chúng tôi chọn quan điểm chức năng luận làm nền tảng nghiên cứu cho đề tài của mình
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm
chức năng luận Đánh chú ý nhất là công trình Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức
năng của Cao Xuân Hạo Theo Cao Xuân Hạo thì cấu trúc cú pháp cơ bản của câu
tiếng Việt là cấu trúc đề - thuyết Trong quyển sách này, ông nêu ra các phương tiện chuyên dùng để phân chia biên giới hai thành phần cơ bản này của câu, đó là thì và là
Ngoài công trình trên, thì còn có nhiều công trình khác cũng cho rằng cấu trúc cú pháp
cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc đề - thuyết Đa số các tác giả cho rằng giữa hai thành phần đề và thuyết có những phương tiện chuyên dùng để đánh dấu và phân giới, trong đó chủ yếu là thì, là, mà Sau khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về Ngữ pháp học chức năng, chúng tôi thấy rằng các từ thì, mà, là có chức năng quan trọng
trong câu tiếng Việt Chúng có nhiều chức năng, nhưng đánh chú ý nhất là chức năng đánh dấu và phân chia biên giới đề - thuyết trong câu Do đó, để tìm hiểu sâu hơn về
các từ này, chúng tôi chọn tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng để khảo sát, mà cụ
thể là chức năng đánh dấu và phân chia biên giới đề - thuyết
Ngoài lí do trên, chúng tôi còn muốn tìm hiểu cách dùng câu của Vũ Trọng
Phụng trong Số đỏ, để có thêm một hướng nhìn nhận về tác phẩm này theo hướng
ngôn ngữ
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt quan trọng đầu tiên cần kể đến, đó
là Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê
Trong công trình nghiên cứu này, hai tác giả đã nêu ra một số chức năng của ba “trợ
từ” thì, là, mà Theo nhận định của Chim Văn Bé trong quyển Giáo trình ngữ pháp
Trang 6chức năng tiếng Việt: Cú pháp học thì công trình Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
“đã vượt qua giới hạn của cấu trúc luận và bước đầu tiếp cận quan điểm chức năng luận” [1; tr 28] Thông qua những điều trình bày về công trình nghiên cứu Khảo luận
về ngữ pháp Việt Nam, Chim Văn Bé cũng khẳng định rằng “những gì mà tác giả Khảo luận ngữ pháp Việt Nam đã làm được rõ ràng là bước đột phá lớn, đi trước cả những học giả Âu – Mỹ cũng như học giả Việt Nam đến vài mươi năm” [1; tr 38]
Kế đến đó là công trình Subject or Topic in Vietnamese? của Helge J J Dyvik Công trình đi sâu vào nghiên cứu đề ngữ và chủ ngữ, ngôn ngữ thiên chủ ngữ và ngôn
ngữ thiên đề ngữ Tác giả cho rằng tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ thiên đề ngữ
Trong công trình này, Helge J J Dyvik đã nêu ra hai chức năng của thì
Tiếp nối các công trình nghiên cứu trước đó, Cao Xuân Hạo có công trình
nghiên cứu Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng Trong công trình này, tác giả khẳng định cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc đề - thuyết, và ranh giới giữa đề và thuyết được đánh dấu bằng các tác tử thì, là, mà Ngoài ra, ông còn nêu
ra đề tình thái và thuyết tình thái, và các yếu tố đi kèm với thì, là, cũng, mới để đánh
dấu hai thành phần trên
Công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng luận gần
đây nhất là công trình nghiên cứu của Chim Văn Bé: Giáo trình Ngữ pháp học chức
năng tiếng Việt: Cú pháp học Trong công trình này, tác giả cho rằng cấu trúc cú pháp
cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc đề - thuyết Ông nêu ra những điều hiểu biết chung, các quy tắc, các cách dùng của tác tử thì, là, mà để đánh dấu và phân giới đề -
thuyết trong câu Trong quyển sách này, ông nêu ra loại đề tình thái và thuyết tình thái,
và đặc biệt là các yếu tố đi kèm với thì, mà, là để đánh dấu loại đề tình thái và thuyết
tình thái này
Ngoài các công trình nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm chức năng luận và
các tác tử thì, mà, là nêu trên, thì còn có các công trình nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Đỗ Đức Hiểu với bài nghiên cứu Những lớp sóng ngôn từ trong “Số đỏ” Tác giả cho rằng lớp sóng ngôn từ của Số đỏ là “lớp sóng ngôn từ đô thị” [12; tr 183]
Qua những điều trình bày về những lớp sóng ngôn từ trong tác phẩm thì tác giả khẳng
định “Số đỏ là một hệ thống ngôn từ đặc sắc mang tính xã hội và tính lịch sử cụ thể.” [12; tr 193] Trong bài nghiên cứu này, ông cũng cho rằng “những cách tiếp cận khác
Trang 7sẽ khai thác nhiều ý tiềm ẩn phong phú của cuốn tiểu thuyết lớn này của Vũ Trọng Phụng” [12; tr 193]
Cùng với bài nghiên cứu được in chung quyển sách với Đỗ Đức Hiểu, Võ Thị
Quỳnh có bài nghiên cứu “Số đỏ” và sự phá sản của ngôn ngữ Tác giả cho rằng “Khi
nào mà còn có những Xuân Tóc Đỏ chỉ biết chê nhà tù này hẹp, khoe nhà tù kia rộng thì - Số đỏ - tiểu thyết phóng sự của Vũ Trọng Phụng còn sức công phá” [12; tr 272]
Bà cũng khẳng định thêm “Cần có sự phá sản của ngôn từ nhưng với một điều kiện:
thực tiễn tốt hơn cho ngôn ngữ sáng đẹp hơn.” [12; tr 272]
Nói chung, tất cả các công trình nghiên cứu trước đó về chức năng thì, mà, là
trong câu theo quan điểm chức năng luận, hay các công trình nghiên cứu về ngôn từ
nghệ thuật của Số đỏ đều chưa tìm hiểu về tác tử thì, mà, là được thể hiện như thế nào trong Số đỏ
III MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
1 Mục đích
Đầu tiên, chúng tôi giới thiệu chung về hệ thống lí thuyết Ngữ pháp học chức năng Chúng tôi trình bày khái niệm câu, đề miêu thuật – thuyết miêu thuật Qua đó,
cũng trình bày các chức năng cơ bản của thì, mà, là dùng để đánh dấu và phân giới đề
- thuyết các bậc Với ba tác tử trên, chúng tôi sẽ làm rõ các cách dùng bắt buộc và không bắt buộc của từng tác tử khi đánh dấu và phân chia biên giới đề - thuyết Ngoài
đề miêu thuật – thuyết miêu thuật, thì còn có đề tình thái và thuyết tình thái Tương ứng với hai thành phần này, chúng tôi cũng trình bày các nội dung tình thái của từng tác tử khi đánh dấu đề tình thái và các tổ hợp dùng để đánh dấu thuyết tình thái
Sau những vấn đề lí luận chung thì chúng tôi triển khai nội dung chính của luận văn Dựa vào hệ thống lí thuyết đó mà chúng tôi khảo sát và thống kê các tác tử trong một số chương cụ thể của tác phẩm, thì rút ra kết luận chung cho cách dùng từ của Vũ
Trọng Phụng trong Số đỏ
2 Yêu cầu
Chúng tôi trình bày kết quả khảo sát thì, mà, là trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng với yêu cầu đặt ra là phải phân biệt được đề miêu thuật – thuyết miêu thuật và
đề tình thái – thuyết tình thái Khi phân tích câu và các cách dùng tác tử thì phải đáp
ứng được lí thuyết đã nêu ra
Trang 8Thông qua kết quả khảo sát, chúng tôi sẽ chỉ rõ tổ chức nội tại của câu khi phân tích các câu điển hình cụ thể và rút ra các cách dùng bắt buộc hay không bắt buộc của các tác tử, và vị thế các từ này trong câu Thông qua đó, chúng ta rút ra kết luận
chung về cách dùng các từ của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này tập trung chủ yếu vào ba tác tử thì, mà, là
Nhưng muốn tìm hiểu cụ thể chức năng cũng như cách dùng của từng tác tử, thì chúng tôi dựa vào nền tảng hệ thống lí thuyết chức năng luận Phạm vi xoay quanh đề miêu thuật – thuyết miêu thuật, đề tình thái – thuyết tình thái, các cách dùng bắt buộc và
không bắt buộc của ba tác tử thì, mà, là
Khi đã có những lí thuyết chung thì chúng tôi đi vào khảo sát và phân loại câu
có dùng các tác tử trong từng trường hợp cụ thể Cuối cùng là dựa vào kết quả tìm
hiểu, chúng tôi khái quát lên cách dùng từ của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi dùng hai phương pháp nghiên cứu chính Đó là phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp
Phương pháp phân tích được chúng tôi dùng vào việc phân tích câu, chia tách câu từ cấp độ lớn đến cấp độ nhỏ Sau đó trình bày thành sơ đồ phân tích cú pháp câu
và xem xét mối quan hệ giữa các thành phần trong câu
Phương pháp tổng hợp được chúng tôi thực hiện sau khi đã khảo sát và phân tích từng câu văn cụ thể có chứa tác tử Chúng tôi tổng hợp các kết quả lại và miêu tả chúng thành các mục, tiểu mục trong văn bản
***
Trang 9CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ LÍ THUYẾT CHUNG VỀ
NGỮ PHÁP HỌC CHỨC NĂNG
I KHÁI NIỆM NGỮ PHÁP HỌC CHỨC NĂNG
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về Ngữ pháp học chức năng, trong số đó có
định nghĩa của Chim Văn Bé mà chúng tôi cho là hoàn chỉnh nhất Chúng ta có thể tham khảo định nghĩa của ông:
“Ngữ pháp học chức năng là hệ thống lí thuyết ngữ pháp có nhiệm vụ nghiên cứu, xác lập hệ thống các cấp độ đơn vị ngôn ngữ hay ngôn từ, song song với nhiệm
vụ rút ra hệ thống các quy tắc tổ chức, hoạt động của các cấp độ đơn vị này trong hệ thống – cấu trúc và trong hoạt động giao tiếp Các quy tắc tổ chức, hoạt động của cấp
độ đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ trong hệ thống – cấu trúc cũng như trong hoạt động giao tiếp được xem xét, lí giải trong mối quan hệ quy định mang tính chức năng giữa nội dung và hình thức, giữa mục đích và phương tiện.” [1; tr 45]
II CẤU TRÚC CÚ PHÁP CƠ BẢN CỦA CÂU TIẾNG VIỆT
8 Khái niệm về câu
Việc xác định cấu trúc cú pháp cơ bản và định nghĩa câu tiếng Việt còn chưa thống nhất, tuy nhiên với hướng tiếp cận này, thì chúng tôi có khái niệm cơ bản về câu tiếng Việt như sau:
Theo tác giả Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt: Cú pháp học thì “Câu là sản
phẩm hoàn chỉnh nhỏ nhất của lời mà có giá trị thông báo, được tạo ra bằng cách kết hợp tuyến tính những hình thức biểu đạt có sẵn theo những quy tắc có sẵn trong ngôn ngữ Câu phản ánh hành động nhận định của tư duy trong mối liên hệ với một, một vài
sự tình trọn vẹn hay tương đối trọn vẹn thế giới bên ngoài, gắn liền với ngôn cảnh hay tình huống giao tiếp cụ thể, nhằm đạt được mục đích giao tiếp cụ thể.” [1; tr 48]
9 Khái niệm đề miêu thuật và thuyết miêu thuật
Nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm chức năng luận hiện nay có nhiều khái
niệm về đề miêu thuật Trong Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo đưa ra khái niệm về đề như sau:
Trang 10“Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần thuyết” [7; tr 149]
Còn trong Giáo trình Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt: Cú pháp học, Chim Văn Bé định nghĩa “Đề là thành phần trực tiếp thứ nhất của câu, nêu lên phạm vi hiệu
lực của nội dung được triển khai tiếp theo trong thành phần trực tiếp thứ hai: phần thuyết” [1; tr 49]
Cả hai khái niệm đều có quan điểm riêng của nó Tuy nhiên, Cao Xuân Hạo
nêu ra thành tố trực tiếp thứ hai mà không nêu ra thành tố trực tiếp thứ nhất Khi đó,
định nghĩa của Chim Văn Bé thì rõ ràng và lô gích hơn Vì vậy, chúng tôi chọn khái
niệm của Chim Văn Bé làm cơ sở đi vào xem xét đề và thuyết
Chúng ta xem các câu sau đây, những từ ngữ in nghiêng là đề, từ ngữ gạch dưới là thuyết
1) Bây giờ mọi sự đã thay đổi cả (VTP: SĐ)
2) Bệnh tật khủng khiếp và đói khổ triền miên đã tận diệt cuộc sống nơi đây (BN: NBCT)
3) Ông lẩy bẩy đứng dậy (LL: TXV)
10 Phân loại đề
Trong các công trình nghiên cứu trước đó của Cao Xuân Hạo và Chim Văn Bé
thì đều cho rằng đề miêu thuật có hai loại: ngoại đề và nội đề Ngoại đề thì hai tác giả đều thống nhất với nhau về quan điểm Tuy nhiên, nội đề thì hai ông có quan niệm khác nhau Cao Xuân Hạo cho rằng, nội đề bao gồm chủ đề, khung đề Khi đó, Chim Văn Bé thì khác, ông cho rằng nội đề bao gồm đề tài, đề khung
Theo chúng tôi, bộ khái niệm của Cao Xuân Hạo có vấn đề không ổn Thứ
nhất, ông dùng không thống nhất về thuật ngữ, đáng lẽ sau chủ đề, khung đề là tình
thái đề thì ông gọi là đề tình thái Thứ hai, giữa chủ đề của ông và chủ đề thuộc lĩnh
vực văn học không đồng nhất về nội hàm, điều này được Chim Văn Bé trình bày rất rõ
ràng trong Giáo trình Ngữ pháp học chức năng: Cú pháp học (xem [1; tr 53]) Chim Văn Bé thì dùng bộ khái niệm có sự thống nhất về thuật ngữ, và giữa đề tài của ông có
cùng nội hàm với lĩnh vực văn học Như vậy sẽ không dẫn đến sự chồng chéo về thuật ngữ Vì vậy, chúng tôi chọn bộ khái niệm của Chim Văn Bé
Trang 113.1 Ngoại đề
Theo Chim Văn Bé, “Ngoại đề là đề có chức năng đưa đẩy, dẫn nhập vào sự
tình được nêu trong câu, cú chính Nó thường nêu lên đối tượng như sự vật ngoại tại,
có mối quan hệ nào đó với sự tình được câu, cú chính biểu đạt Câu, cú có thể có một hay một vài ngoại đề có quan hệ đẳng lập về mặt ngữ pháp [1; tr 52] Ngoài ra, ngoại
đề xuất hiện không phổ biến Vì vậy, ngoại đề không thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản
của câu tiếng Việt
Xét các câu sau, những từ ngữ gạch dưới là ngoại đề:
4) Thưa ngài, tôi, tôi là một người mọc sừng! (VTP: SĐ)
5) Còn tôi, tôi chỉ là con nhà hạ lưu mà thôi! (VTP: SĐ)
6) Tôi, tôi là một nhân viên quản nữa kia thưa thầy! (VTP: SĐ)
7) Tôi, tôi cứ sợ mình người trần mắt thịt, không biết chiều ý cậu thì cậu lại đòi về (VTP: SĐ)
3.2 Nội đề
3.2 1 Đề tài
Chúng ta tham khảo khái niệm chủ đề của Cao Xuân Hạo:
“Chủ đề, là phần câu chỉ cái đối tượng được nói đến trong phần thuyết, cái chủ thể của sự nhận định.” [7; tr 154]
Đối với khái niệm này, Cao Xuân Hạo dùng bất ổn vì chủ đề chỉ cái đối tượng được nói đến trong phần thuyết, suy ra là đề và thuyết có cùng quy chiếu vào một sự
vật nào đó Và trong khái niệm của ông, ông đã dùng dấu phẩy một cách bất thường
Vì vậy, theo chúng tôi khái niệm của Chim Văn Bé thì rõ ràng và khái quát hơn Ông
chỉ ra phạm vi của đối tượng được đề nêu lên rất rõ ràng, cụ thể
“Đề tài là loại đề nêu lên đối tượng mang tính chất chủng loại, tập hợp hay cá nhân, cá thể mà phần thuyết sẽ triển khai tiếp theo” [1; tr 53]
Các câu sau đây có đề là đề tài:
10) Hai chiếc L.19 đã bay lộn lại (NK: RĐ)
Trang 123.2 2 Đề khung
Khái niệm khung đề của Cao Xuân Hạo được định nghĩa như sau: “Khung đề
là phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh huống, thời gian, không gian, trong đó điều được nói đến ở phần thuyết có hiệu lực.” [7; tr 154]
Còn chúng tôi thì thống nhất với khái niệm của Chim Văn Bé
“Đề khung là loại đề nêu lên một cái khung về thời gian, không gian, trạng huống, điều kiện, số lượng mà nội dung được triển khai tiếp theo trong phần thuyết
có hiệu lực” [1; tr 54]
Chúng tôi chọn khái niệm của Chim Văn Bé vì ông vạch ra phạm vi của cái
khung rất rõ ràng, bao gồm: thời gian, không gian, trạng huống, điều kiện, số lượng
Khi đó, Cao Xuân Hạo thì không nêu ra điều kiện và số lượng Mà theo khái niệm của ông thì cảnh huống, thời gian, không gian là tiểu loại của điều kiện
Chúng ta xem các câu sau, có phần gạch dưới là đề khung:
11) Lần này thì bà đã bỏ cái áo dài, cái khăn vành dây (VTP: SĐ)
12) Bao giờ dân ta đến trình độ ấy? (VTP: SĐ)
13) Nỗi bực như tăng lên gấp đôi (MVK: MĐ)
14) Hôm thì người mất gà Hôm thì người mất chó (MVK: XG)
Lưu ý: đề tài hay đề khung thông thường được đặt trước thuyết, và nếu không
có thành phần phụ đứng trước thì nó thường mở đầu câu, cú Và khi lô gích ngôn từ trong câu rõ ràng và khôn gây nhằm lẫn thì đề tài của câu có thể dễ dàng bị lược bỏ
11 Mở rộng cấu trúc câu theo quan hệ ngữ đoạn: hiện tượng ghép
Câu tiếng Việt có thể được cấu tạo bằng một cấu trúc đề - thuyết duy nhất Tuy nhiên, chúng ta cũng bắt gặp những trường hợp câu có nhiều đề, nhiều thuyết hay nhiều cấu trúc đề - thuyết ghép lại với nhau theo một trật tự tuyến tính hay bằng các kết từ Hiện tượng này gọi là hiện tượng ghép
15) Công trình Thuỷ điện Sông Đà hoàn thành, điện phát sáng bừng một vùng trời Tây Bắc (MVK: NS)
Trang 1312 Phức tạp hoá cấu trúc câu theo quan hệ đối vị: hiện tượng phức
“Phức tạp hoá là hiện tượng câu có phần đề hay/và phần thuyết hay/và phụ tố (định tố, bổ tố) trong phần đề, phần thuyết được cấu tạo bằng cấu trúc đề - thuyết dưới bậc, có thể phát triển thành nhiều bậc” [1; tr 55]
Sau đây là các câu có hiện tượng phức tạp hoá
16) Lúc đó bà Phó Đoan mới nhận ra rằng dân Việt Nam không những ngu
mà còn đáng thương (VTP: SĐ)
17) Nếu nói đúng giờ thì số này phải bồ côi sớm (VTP: SĐ)
13 Hiện tượng ghép - phức
Theo Chim Văn Bé, “Ghép – phức là hiện tượng câu có nhiều đề, thuyết hay
có nhiều cú ghép lại với nhau Ngoài ra, đề, thuyết của câu, cú, hay phụ tố trong hai thành phần này được phức tạp hoá bằng tiểu cú, có thể phát triển thành nhiều bậc.”
[1; tr 60] Câu sau đây có hiện tượng ghép – phức
18) Nhưng mà theo lối kim thì mấy đời chồng cũng được, miễn tử tế thì thôi (VTP: SĐ)
14 Hiện tượng phức – ghép
Chim Văn Bé cho rằng: “Phức – ghép là hiện tượng câu có đề hay/và thuyết
hay phụ tố trong hai thành phần này được phức tạp hoá bằng tiểu cú, có thể phát triển thành nhiều bậc Qua đó, tiểu cú được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn” [1; tr 61]
Chúng ta xem xét câu sau, có hiện tượng phức – ghép
19) Hôm qua, lúc tan hát, đi qua ngõ Sầm Công thì có ba bốn chị chạy ùa ra, vây chung quanh, kéo tay, níu áo, tình bỏ mẹ ra ấy! (VTP: SĐ)
III CÁC YẾU TỐ CHUYÊN DÙNG PHÂN GIỚI VÀ ĐÁNH DẤU
ĐỀ - THUYÊT
6 Một số hiểu biết chung
Trong tiếng Việt, có ba yếu tố chuyên dùng để đánh dấu và phân giới đề -
thuyết trong câu, đó là thì, mà, là, được gọi là các tác tử cú pháp Trong Giáo trình
ngữ pháp học chức năng tiếng Việt: Cú pháp học, Chim Văn Bé đã nêu ra một số hiểu
biết chung về ba tác tử thì, mà, là như sau:
Trang 141.1 Đối với thì (biến thể phát âm là thời)
- Thì đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết khi đề mang tính chất
đối sánh với đề khác, được nêu ra hay mang tính chất tiền giả định
- Thì đánh dấu phần thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết khi đề của câu,
cú, tiểu cú là đề khung chỉ điều kiện, thời gian, không gian, cảnh huống hay số lượng,
và không mang tính chất đối sánh
1.2 Đối với mà
- Mà đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết khi đề và thuyết có quan hệ bất
thường về mặt lô gích theo sự nhìn nhận của người nói
- Mà đánh dấu phần thuyết khi đề là đề khung nêu lên điều kiện, còn phần
thuyết nêu hệ quả nghịch thường về mặt lô gích theo sự nhìn nhận của người nói Khi
đề khung nêu điều kiện, phần thuyết nêu lên hệ quả thông thường, thì phần thuyết có
thể đánh dấu bằng thì
1.3 Đối với là
- Trong câu, là có thể là tác tử chuyên dùng khi nó có tác dụng thuyết hoá những ngữ đoạn phi thuyết tính (phi vị từ tính) Khi đó, là đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết
- Ngoài chức năng trên, là còn có thể là vị từ quan hệ Trong trường hợp này,
là không có tác dụng phân giới đề - thuyết, mà nó thuộc phần thuyết và có chức năng
đánh dấu phần thuyết
7 Các quy tắc chung về cách dùng các tác tử thì, mà, là
Trong Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo đã đưa ra 7 thông lệ về các cách dùng thì, là trong câu Chúng tôi quan niệm, khi nghiên cứu thì cần phải có những quy tắc cụ thể, chứ không thể dùng những thông lệ một cách chung
chung, mang tính chất thói quen được Vì vậy, chúng tôi thấy cần phải có những quy tắc về cách dùng một cách chính xác
Theo Giáo trình Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt: Cú pháp học, Chim Văn
Bé nêu ra 3 quy tắc chi phối cách dùng thì, mà, là Và ông cũng đưa ra các cách dùng bắt buộc và không bắt buộc các tác tử thì, mà, là trong câu Sau đây chúng tôi trình
bày các quy tắc cũng như cách dùng cụ thể của từng tác tử
Trang 152.1 Quy tắc thứ nhất
Ở cùng một bậc quan hệ đề - thuyết, thì, mà, là được dùng không hạn chế về số
lượng, nhưng thường không quá bốn lần Xem xét các câu dưới đây:
23) Hàng rong, bồi, bếp, phu xe, ăn mày, những người ấy chỉ sau khi thầy
cảnh sát đã cắm đầu đạp xe khỏi phố thì mới đái đường, thì mới đánh nhau, chửi
nhau (VTP: SĐ)
24) Dò mãi mới biết rằng tên của vợ ông là Văn, của ông là Minh thì ông đặt
ngay là Văn Minh, tên vợ ở trên tên ông, tên ông đội dưới, cho nó có vẻ nịnh đầm (VTP: SĐ)
25) Nhiều sao thì nắng, vắng sao thì mưa (TN)
26) Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa (TN)
2.2 Quy tắc thứ hai
Ở hai bậc quan hệ đề - thuyết gián cách, thì, mà, là cũng có thể được dùng
nhiều lần Xem xét câu sau đây:
27) Trẻ con mà cứ chụp ảnh là một, khai sinh là hai, là chúa độc đấy (NCH: BĐC)
2.3 Quy tắc thứ ba
Ở hai bậc đề - thuyết kế cận nhau, thì, mà, là hoặc là chỉ được dùng phân giới
kết cấu đề - thuyết bậc trên, hoặc là chỉ được dùng phân giới kết cấu đề - thuyết bậc dưới Chẳng hạn như các câu sau:
Trang 16Mồng tám cá (thì) về cá vượt vũ môn (+)
Tuy nhiên chúng ta không thể đưa thì vào hai vị trí cùng lúc được
Mồng bốn (thì) cá (thì) đi ăn thề
Mồng tám (thì) cá (thì) về cá vượt vũ môn (-)
Chúng ta xem tiếp câu dưới đây:
29) Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau người cười (CD)
Chúng ta có 2 vị trí đứa thì vào câu Thứ nhất là:
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, (thì) hôm sau người cười (+)
Thứ hai là:
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau (thì) người cười (+)
Tuy nhiên ta không thể đưa thì vào 2 vị trí cùng lúc
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, (thì) hôm sau (thì) người cười (-)
Thực tế, cũng xuất hiện rất ít những trường hợp không theo quy tắc này Mà
theo Chim Văn Bé, đó là câu mở đầu bằng đề tình thái thôi đặt trước thì (= thôi thì), có
xu hướng cố định hoá Hay là là trong đề tình thái đã được thành ngữ hoá chả là, nhất
là đi với là phân giới đề - thuyết bậc dưới kế cận
8 Cách dùng tác tử thì
3.1 Bắt buộc dùng thì
3.1.1 Bắt buộc dùng thì trong kiểu câu có đề là đề khung, mà nếu vắng thì cấu
trúc đề - thuyết không rõ ràng, dễ bị lẫn lộn với kiểu cấu trúc khác, có nội dung biểu đạt khác hoặc cấu trúc đề - thuyết sẽ khó nhận diện
3.1.2 Thì được dùng bắt buộc trong kiểu câu ngắn và kiểu câu tục ngữ có dạng
cô đúc, gồm ba từ Kiểu câu này có đề là đề khung
3.1.3 Câu có đề là đề tài, thuyết lại ngắn, biên giới đề - thuyết khó nhận diện,
thì thì cũng được dùng bắt buộc
Trang 173.1.4 Bắt buộc dùng thì khi câu có phần thuyết biểu đạt nội dung tình thái, đã
được thành ngữ hoá, tiểu biểu như: thì thôi, thì chết, thì nguy, thì khốn, thì phải biết,
thì đâu đến nỗi, thì hết chỗ nói, thì hết xẩy, thì bỏ mẹ,.v.v
3.1.5 Thì cũng được dùng bắt buộc ở đầu câu và cuối câu như sau: dùng thì
đầu câu khi phần đề đã bị tỉnh lược dựa vào ngôn cảnh hay tình huống và dùng thì ở
cuối câu, khi thuyết bị bỏ lửng vì một lí do nào đó
Sau đây là một số câu minh hoạ cho cách dùng bắt buộc của thì:
30) Một cô đầm đi vào buồng thay quần áo thì Xuân cũng biến mất (VTP: SĐ) 28) Trước kia bàn mãi không ra, nhưng bây giờ thì cái gì cũng cụ thể, cũng có
thể hình dung được (NK: MCĐ)
29) - Hai hào! Hai hào một lá, có bằng lòng thì (VTP: SĐ)
3.2 Không bắt buộc dùng thì
3.2.1 Không bắt buộc dùng thì để đánh dấu đề hay thuyết và phân giới đề -
thuyết khi biên giới đề - thuyết đã rõ ràng, nhờ đề mang tính xác định, hay khi đề mang
tính chất đối sánh
3.2.2 Không bắt buộc dùng thì khi câu có đề khung là đại từ hồi chiếu thế, vậy
thay thế cho sự tình nào đó đã được nói đến
3.2.3 Hay là trong các câu tục ngữ được cấu tạo bằng hai vế đối xứng nhau, thì
Trang 18Ngoài ra thì còn được dùng với chức năng khác, đó là: thì là kết từ, làm chuyển
ngữ của câu (một loại thành phần phụ của câu), hay thì kết hợp với rồi, tạo thành tổ
hợp rồi thì, được dùng ở đầu câu, cú, khi đó thì là chuyển ngữ
9 Cách dùng tác tử là
4.1 Bắt buộc dùng là
4.1.1 Bắt buộc dùng là trong câu luận định Bao gồm các kiểu câu: câu định
tính, câu định lượng, câu định vị, câu đẳng thức, câu trùng ngôn
4.1.2 Trong kiểu câu có thuyết là ngữ đoạn phi vị từ tính như giới ngữ, tiểu cú,
tiểu cú có kết từ đứng trước (có chuyển tố tiền đính), danh ngữ xác định, từ trực chiếu, đại từ hồi chiếu, khứ chiếu
4.1.3 Bắt buộc dùng là khi người nói muốn nhấn mạnh nội dung biểu đạt của
phần thuyết hay nhấn mạnh cả sự tình trong mối quan hệ đối sánh với sự tình khác đã
nêu ra hay được tiền giả định, thì là được dùng phối hợp với phó từ có ý nghĩa hạn
định chỉ, mới: chỉ là, chỉ là, mới là
4.1.4 Trong kiểu câu phản bác - cải chính mang tính chất đối thoại hay độc
thoại, thì là được dùng bắt buộc
4.1.5 Bắt buộc dùng là trong kiểu câu có phần thuyết biểu đạt tình thái, được
thành ngữ hoá, tiêu biểu là một số tổ hợp: là may, là phúc, là giỏi, là cùng, là cái chắc,
là khác, là được,
4.1.6 Là được dùng bắt buộc ở đầu câu, khi đề tài của câu hay đề tài tiểu cú
làm đề khung của câu bị tỉnh lược dựa vào ngôn cảnh hay tình huống Trong cách
dùng này, là có thể được thay thế bằng nghĩa là
4.1.7 Hay là được dùng ở cuối câu khi phần thuyết bị bỏ lửng vì một lí do nào
đó
Sau đây là một số câu là được dùng bắt buộc:
32) Anh Hoàng là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng là một tay chợ đen rất
tài tình (NC: ĐM)
33) Chỉ có vợ chồng Văn Minh là biết rõ sự thật (VTP: SĐ)
34) - Bẩm tương lai là mai sau, chứ có phải ngay lúc ấy đâu? (VTP: SĐ)
Trang 194.2 Không bắt buộc dùng là
4.2.1 Không bắt buộc dùng là trong các kiểu câu định luận có phần thuyết giải
thích nguồn gốc, nguyên nhân, quyền sở hữu, thời gian, nguyên nhân của sự vật được nêu trong phần đề
4.2.2 Trong những tục ngữ có cấu trúc đối sánh nhịp nhàng thì là được dùng
không bắt buộc
Xem xét các câu sau, là không bắt buộc phải dùng:
35) Ăn (là) ra trần, mần (là) vô áo (TN)
36) Cầu cao (là) ván yếu Ngựa chạy (là) tứ linh (TN)
Ngoài các trường hợp nêu trên về cách dùng bắt buộc và không bắt buộc, thì là
còn thực hiện một số chức năng khác như: đánh dấu quan hệ chính - phụ; đặt sau từ
chỉ mức độ hay số lượng; dùng ở cuối câu cảm thán có thuyết là từ láy Khi đó là không có chức năng phân giới đề - thuyết Và ngoài ra, là có khả năng kết hợp đa dạng
với các yếu tố khác tạo thành một số tổ hợp có xu hướng cố định hoá được dùng trong câu
10 Cách dùng tác tử mà
5.1 Bắt buộc dùng mà
5.1.1 Bắt buộc dùng mà khi đề và thuyết có mối quan hệ bất thường về mặt lô
gích theo sự nhìn nhận của người nói
5.1.2 Bắt buộc dùng mà đánh dấu thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết các
bậc, khi đề là đề khung nêu điều kiện, và quan hệ đề - thuyết mang tính chất nghịch thường về mặt lô gích theo sự nhìn nhận chủ quan của người nói
5.1.3 Mà được dùng bắt buộc đánh dấu đề tiểu cú và phân giới đề - thuyết tiểu
cú làm đề khung chỉ điều kiện trong kiểu câu mà nếu vắng mà, đề khung sẽ trở thành
đề tài
5.1.4 Khi đề tài là đại từ phiếm chỉ ai hay danh ngữ phiếm định, và phần
thuyết không có phó từ lại biểu thị sự bất thường làm yếu tố đánh dấu phụ trợ, thì mà
được dùng bắt buộc đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết các bậc
5.1.5 Trong kiểu câu phủ định - phản bác có sắc thái cảm xúc mạnh thì mà
cũng được dùng bắt buộc
Trang 20Các câu sau có tác tử mà dùng bắt buộc để đánh dấu và phân chia biên giới đề -
(Có đi Yên Tử mới đành lòng tu) (CD)
41) Tôi mà làm thành công ấy a! (TH: BNK)
5.2 Không bắt buộc dùng mà
5.2.1 Khi đề là đại từ phiếm chỉ ai hay danh ngữ phiếm định và phần thuyết có
phó từ lại biểu thị sự bất thường làm yếu tố đánh dấu phụ trợ thì mà không bắt buộc
dùng
5.2.2 Không bắt buộc dùng mà để đánh dấu thuyết và phân giới đề - thuyết
tiểu cú làm đề khung chỉ điều kiện của câu
5.2.3 Mà cũng không bắt buộc đánh dấu đề tiểu cú và phân giới đề - thuyết
làm tiểu cú làm thuyết của câu
Xem câu dưới đây có mà không bắt buộc dùng
Cái kiến mầy ở trong nhà
42) Tao (mà) đóng cửa lại mày ra đàng nào? (CD)
Ngoài ra, mà còn có các chức năng khác ngoài các chức năng nêu trên Mà có
thể được dùng với chức năng đánh dấu quan hệ chính - phụ hay đẳng lập trong một số
tổ hợp là danh ngữ, hoặc là kết nối đề, thuyết, hay cú có quan hệ đẳng lập v/v Và mà
cũng có khả năng kết hợp với một số yếu tố tạo thành tổ hợp mang tính chất cố định,
và tuỳ trường hợp mà mà được dùng khác nhau
Trang 21IV CÁC YẾU TỐ PHỤ TRỢ ĐÁNH DẤU THÊM PHẦN ĐỀ, PHẦN THUYẾT, PHÂN GIỚI VÀ ĐÁNH DẤU ĐỀ - THUYẾT
Ngoài các yếu tố chuyên dùng để đánh dấu và phân giới đề - thuyết nêu trên, Chim Văn Bé còn nêu ra các yếu tố sau có chức năng phụ trợ đánh dấu phần đề, phần thuyết, phân chia biên giới đề - thuyết
6 Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề tài
Bao gồm các đại từ hồi chiếu và từ trực chiếu (này, ấy, đó, nọ, kia), đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (nó, hắn, họ, người ta)
7 Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề khung
Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề khung chỉ điều kiện bao gồm các yếu tố
là một số kết từ như nếu, hễ, giá, ví, dẫu, Và các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề
khung chỉ thời gian, không gian bao gồm một số danh từ chỉ thời gian, không gian như
sáng, chiều, hôm, ngày, đêm, nơi, chỗ, chốn
8 Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm phần thuyết, bao gồm các vị từ tình thái
3.1 Nhóm liền, bèn, lập tức, tức khắc, tức thì (tức thời): đặt trước ngữ vị từ
biểu thị hành động nào đó
3.2 Nhóm ắt, khắc, tất (tất nhiên), chắc chắn, chắc hẳn: mở đầu phần thuyết,
nêu lên tính tất yếu của hành động, quá trình nào đó
3.3 Nhóm đích, hẳn, rõ, thật (thực, thiệt), đích thực: mở đầu phần thuyết,
khẳng định tính chân thực của hành động, quá trình, tính chất,
3.4 Nhóm chợt, sực, bỗng, bỗng dưng, bỗng nhiên, đột nhiên, (bất) thình lình:
nêu lên trạng huống bất ngờ của hành động, quá trình,
3.5 Nhóm chực, suýt
9 Các phó từ dùng để đánh dấu phần thuyết
4.1 Phó từ cầu khiến hãy (hẫng), đừng, chớ, nên, khoan, chớ nên, hãy khoan:
biểu thị mệnh lệnh, yêu cầu hay lời khuyên nhủ thực hiện hay không thực hiện một hành động, quá trình nào đó
4.2 Phó từ mức độ hơi, khá (khí), rất, cực kì, tối, tuyệt: biểu thị mức độ của
tính chất, trạng thái, tư thế
Trang 224.3 Phó từ hạn định mới
10 Các yếu tố phụ trợ phân giới và đánh dấu đề - thuyết
5.1 Các cặp đại từ phiếm định – xác định hô ứng với nhau: gì - nấy/ấy; ai -
nấy/ấy; nào - nấy/ấy; sao - vậy; đâu - đấy/đó; ở đâu - ở đấy; đến đâu - đến đấy; thế nào - thế ấy; bao nhiêu - bấy nhiêu; bao giờ - bấy giờ
5.2 Các đại từ phiếm định kết hợp sóng đôi với phó từ cũng: ai, gì, nào, sao,
bao giờ, bao nhiêu,
5.3 Các cặp phó từ hô ứng với nhau: có - mới; mới – đã; vừa – đã; chưa – đã;
đang (đương) - lại; đã - lại; không/chẳng – cũng; càng – càng; mỗi - mỗi/một
V ĐỀ TÌNH THÁI VÀ THUYẾT TÌNH THÁI
6 Khái niệm đề tình thái
Theo Giáo trình ngữ pháp học chức năng tiếng Việt: Cú pháp học thì: “Đề tình
thái là loại đề nêu lên sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan của người nói về sự tình hay
sở thuyết được nêu tiếp theo.” [1; tr 133]
Đề tình thái có thể thuộc nhiều bậc: câu, cú, tiểu cú Đề tình thái cũng có thể
được phân giới với phần còn lại bằng các tác tử thì, là, mà
Cao Xuân Hạo gọi đây là “yếu tố tình thái” và ông đã nêu ra một số cách dùng
thì và là để đánh dấu “yếu tố tình thái” Còn Chim Văn Bé thì đưa ra một số cách dùng
để phân giới đề tình thái của các tác tử Chúng tôi thấy rằng cách miêu tả các nội dung
tình thái mà tác tử đánh dấu của Chim Văn Bé có sức thuyết phục và khái quát hơn Cao Xuân Hạo Những nội dung tình thái mà Chim Văn Bé nêu ra phong phú và đa dạng Vì thế, chúng tôi chọn hệ thống phân loại của Chim Văn Bé về cách dùng của các tác tử khi đánh dấu đề tình thái và thuyết tình thái
7 Chức năng phân giới đề tình thái của các tác tử chuyên dùng
2.1 Đề tình thái được đánh dấu bằng thì
2.1.1 Giới hạn giá trị chân thực của sự tình được nêu tiếp theo vào một góc nhìn
nào đó, có thể là người nói hay người khác Nếu gọi x là góc nhìn, thì nội dung tình
thái này được biểu đạt bằng các dạng thức: theo x, theo ý x, theo suy nghĩ của x, theo
tin x, theo lời x, đối với x, với x (thì),
43) Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải là thị này, thị nọ (NC: ĐM)
Trang 232.1.2 Cải chính điều được nêu tiếp theo mới là chân thực, chính xác so với nhận
định hay sự tình nào đó đã được đưa ra, hay được xem như tiền giả định Các dạng
thức biểu đạt: sự thật, thật sự, thật ra, kể, kể ra, xem ra, nói đúng hơn, nói cho đúng
(thì),
44) Sự thật thì thằng bé chẳng sao cả! (VTP: SĐ)
2.1.3 Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo mới là hợp lí, hợp lẽ
thường, nhưng nó đã không xảy ra Dạnh thức biểu đạt: lẽ ra, lí ra, đáng ra, đáng lí,
đúng ra, đúng lí ra, đáng lẽ, đáng lẽ ra (thì),
45) Đáng lẽ phải là một ngưòi thợ thì sư thầy lại đã đi tu (NT: CĐ)
2.1.4 Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là điều tất nhiên, không thể khác đi
Dạng thức biểu đạt rất đa dạng:
Thế nào (thì) cũng , bất luận thế nào (thì) (cũng)
Dù sao/dẫu sao (thì) , dù thế nào (đi nữa) (thì) cũng/vẫn
Đàng nào (thì) cũng , trước sau/trước sau gì (thì) cũng
Sớm muộn/sớm muộn gì (thì) cũng
Chẳng chóng thì chầy, chẳng sớm thì muộn, nói gì thì nói, gì thì gì,
46) Dù sao thì việc cũng đã xẩy ra rồi (VTP: SĐ)
2.1.5 Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là kết quả, khả năng tối đa hay kết
quả, khả năng cùng cực Dạng thức biểu đạt: may ra, may lắm, quá lắm, giỏi lắm, cao
lắm, hết mức, bất quá, cùng lắm, nói cho cùng (thì),
47) May ra, để anh đèo mày.(BN: NBCT)
2.1.6 Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là có cơ may hay nguy cơ xảy ra,
nhưng đã không xảy ra, và điều đó được xem là may mắn hay rủi ro Dạng thức biểu
đạt: suýt nữa, suýt chút nữa, tí nữa, một tí nữa, thiếu (một) chút nữa (thì),
48) Suýt nữa thì con cá chuối lọt lưới (TH: BNK)
2.1.7 Nhìn nhận sự tình được nêu tiếp theo là tích cực hay tiêu cực so với sự tình
được xem là tích cực hay tiêu cực Dạng thức biểu đạt: đàng này (thì)
49) Trong bóng đá, liên đoàn và các đội bóng phải gần gũi nhau và có tác động
hỗ tương như môi và răng Đàng này thì vì “phần” VFF mang tài trợ về mà buộc các
Trang 24CLB phải chấm dứt hợp đồng (cũng là làm ăn và là chiến lược phát triển kinh tế của các CLB), rõ ràng VFF chỉ nghĩ cho phần mình và quyền lợi của mình (BBĐ)
2.1.8 Biểu thị thái độ chấp nhận sự tình được nêu tiếp theo một cách miễn cưỡng,
ngoài ý muốn Dạng thức biểu đạt: thôi thì
50) Thôi thì cũng đành (BN: NBCT)
2.1.9 Đưa ra cách nhìn nhận, đánh giá sự tình được nêu tiếp theo Các dạng thức
biểu đạt: nhìn chung, nói chung, nói nôm na, suy cho cùng, xét cho cùng, về cơ bản, về
đại thể (thì),
51) Nói chung những kẻ yếu bóng vía rất khó sống ở đây (BN: NBCT)
2.2 Đề tình thái được phân giới bằng mà
2.2.1 Đánh giá sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều may mắn xét
trong mối quan hệ với tình huống Các dạng thức biểu đạt thường gặp: may, cũng may,
may sao (mà)
52) May mà vẫn đi giầy sẵn và chưa mắc màn! (LL: TXV)
2.2.2 Phỏng đoán về tính khả năng của sự tình được nêu tiếp theo, và đánh giá đó
là điều tích cực hay tiêu cực xét trong mối quan hệ với tình huống Các dạng thức biểu
đạt: may ra, chẳng may, chẳng may ra, lỡ, nhỡ, ngộ nhỡ, nhỡ ra, rủi, kẻo, khéo, không
khéo, khéo không (mà),
53) Khéo không mà có ai biết thì chết! (VTP: SĐ)
2.2.3 Nêu lên sự hoài nghi về tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu
tiếp theo Dạng thức biểu đạt: lẽ nào, có lẽ nào, có lí nào (mà),
54) Lẽ nào cậu ta phải hứng chịu tất cả những lời lẽ cay độc xỉ vả nặng nề của Hương? (LL: TXV)
2.2.4 Phủ định tính hợp lí của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo Dạng
thức biểu đạt: hơi đâu, cớ chi, hà cớ chi, can chi (mà),
55) Hơi đâu mà lo trước? (NC: BHQN)
2.2.5 Khẳng định sở thuyết hay sự tình được nêu tiếp theo là chân thực hay là
khả năng cùng cực Dạng thức biểu đạt: có mà, được thành ngữ hoá
Trang 2556) (- Làm gì có nhiều mật mà ngọt) Có mà ăn cho no bụng là phúc rồi (NC:NG)
2.2.6 Phủ định tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo Dạng
thức biểu đạt: dễ gì, làm sao, làm gì, biết đâu, biết thế nào, chẳng biết thế nào, chẳng
biết đâu, đời nào, mấy đời, có đời nào, chả đời nào, chẳng đời nào, không đời nào, không khi nào, có khi nào, chưa bao giờ, không bao giờ, chả bao giờ, chẳng bao giờ,
có bao giờ (mà),
57) Biết đâu mà chọn giàu sang
Biết đâu mà chọn những trang anh hùng (CD)
2.2.7 Nhận định sự tình nêu ra tiếp theo là không rõ lí do hay nguyên do nào đó
Các dạng thức biểu đạt: khi không, bỗng không, tự dưng, bỗng dưng, tự nhiên, không
hiểu sao, không hiểu tại sao, chẳng hiểu vì sao, không dưng, không phải ngẫu nhiên (mà),
(Có làm thì mới có ăn)
58) Không dưng ai dễ mang phần tới cho (CD)
2.2.8 Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là một phát hiện tình cờ, nhờ biết
được nguyên nhân của nó Dạng thức biểu đạt: hèn chi, hèn gì, hèn nào, thảo nào
(mà),
59) Hèn chi tụi lính bót nó mê cũng phải (AĐ: HĐ)
2.2.9 Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là không hợp lí, không
cần thiết phải thực hiện Các dạng thức biểu đạt: tội gì, tội tình gì, dại gì, không dại gì,
không dại dột gì, việc gì, cần gì, hơi đâu, hơi sức đâu, can chi (mà),
(Tới đây chiếu trải trầu mời,)
60) Can chi mà đứng giữa trời sương sa (CD)
2.2.10 Giả định về tính hiện thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo,
kèm theo thái độ tiếc rẻ: phải chi (mà),
61) Phải chi anh có cánh như chim,
(Bay lên đáp xuống đi tìm bạn xa) (CD)
2.2.11 Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều tuỳ nghi, tuỳ
thích thực hiện, không bị hạn chế Các dạng thức biểu đạt: tha hồ, mặc sức (mà),
Trang 26(Đã thương cắt tóc trao tay)
62) Tha hồ én liệng, nhạn bay mái ngoài (CD)
2.3 Đề tình thái được phân giới bằng là
2.3.1 Khẳng định tính chân thực của một nhận định được tiền giả định, hay nhấn
mạnh tính chân thực của sự tình, sở thuyết được nêu tiếp theo Các dạng thức biểu đạt
thường gặp: quả, thật (thực, thiệt), quả thật, thật quả, sự thật, thú thật, kì thực (thật),
đích, đích thực, đúng, quả tình, thật tình, thiệt tình, rõ, thật rõ, rõ ràng, phải nói, có thể nói, có thể gọi, phải thừa nhận, công nhận (là)
63) Rõ ràng giấy trắng mực đen
(Duyên ai phận ấy chớ ghen mà gầy) (CD)
2.3.2 Nhìn nhận sở thuyết hay sự tình được nêu tiếp theo là nguyên nhân đích
thực hay ý nghĩa của sự tình nào đó đã được nêu ra Dạng thức biểu đạt: chả là, chẳng
qua (là),
64) Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình,
để chừa lại chút xương (BN: NBCT)
2.3.3 Phỏng đoán về tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo
với nhiều mức độ khác nhau Các dạng thức biểu đạt: chắc, đâu như, không chừng,
hoạ, hoạ chăng, phải chăng, không khéo, dễ thường, không loại trừ, dường như, hình như, chừng như, cơ chừng, ý chừng, có lẽ, có thể, có vẻ, có khả năng, có khi, có triển vọng, biết đâu, nghe đâu, nghe nói, nghe đồn, thấy nói (là),
65) Phải chăng về già, hay sắp về già, người đời hết giấy phép thoả mãn tình dục? (VTP: SĐ)
66) Ăn không khéo không no, nằm không co không ấm (CD)
2.3.4 Nêu lên sự hoài nghi về tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu
tiếp theo Nội dung tình thái này có các tổ hợp biểu hiện: chẳng biết, chả biết, chẳng
hiểu, chả hiểu, chẳng rõ, chẳng hay, chưa biết, không chừng, chưa biết chừng, biết (là/rằng) có không?
67) Chẳng hay chàng ở đâu đây
(Thiếp xin mượn cánh, thiếp bay theo chàng.) (CD)
Trang 272.3.5 Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là kết quả hay khả năng
tối thiểu có thể đạt được Các dạng thức biểu đạt: ít nhất, ít ra, kém lắm, chí ít, tệ lắm,
tệ nhât (là),
68) Ít ra tôi cũng đã là một trang bán sử nữ! (VTP: SĐ)
2.3.6 Khẳng định tính tất yếu của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo Các
dạng thức biểu đạt thường gặp: tất nhiên, dĩ nhiên, đương nhiên, cố nhiên, quả, quả
nhiên, lẽ tất nhiên, ắt, ắt hẳn, chắc hẳn (là),
69) - Thưa cụ, quả con vô học, xưa nay nhặt banh quần, hạ lưu, không biết thuốc ạ! (VTP: SĐ)
2.3.7 Nhấn mạnh tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo,
qua đó khẳng định tính chân thực của một sự tình hàm ẩn, tức nghĩa hàm ẩn của câu
Loại đề tình thái này có các dạng thức biểu đạt: nữa là, huống chi, huống gì, nói gì, nói
chi (là),
(Chín con chưa gọi rằng chồng)
70) Huống chi em bậu tay không mới về (CD)
2.3.8 Phủ nhận tính chân thực hay hợp lí của sự tình, sở thuyết được nêu tiếp
theo Các dạng thức biểu đạt: vị tất, không nhất thiết, chưa chắc, chưa hẳn, không hẳn,
không lẽ, chẳng lẽ, chả lẽ, chả nhẽ, còn đâu (là),
71) Chả nhẽ bắt em mình đi khám đốc tờ? (VTP: SĐ)
2.3.9 Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là ưu điểm hay ưu điểm
tuyệt đối so với một sự tình khác được nêu ra hay được tiền giả định Các dạng thức
biểu đạt: tốt hơn, tốt hơn hết, tốt hơn cả, còn gì hơn, hay nhất, cần nhất, cần hơn nữa,
thà, chẳng thà (là),
72) Cần nhất là phải bắt những kẻ kêu: “Nước Pháp dân chủ vạn tuế!” và
“Chính phủ Bình dân vạn tuế!” (VTP: SĐ)
2.3.10 Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là điều bất ngờ, không lường trước
được Các dạng thức biểu đạt: không ngờ, thật không ngờ, đâu ngờ, ai ngờ, đâu ai
ngờ, có ai ngờ, ngờ đâu, ai dè, dè đâu (là),
73) - Lạy cụ! Thật không ngờ hôm nay cụ Hồng lại quá bộ đến chơi với em! (VTP: SĐ)
Trang 282.3.11 Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều kiện duy nhất
chấp nhận được Các dạng thức biểu đạt: miễn, miễn sao, chỉ xin một điều (là),
(Trai mà chi, gái mà chi)
74) Miễn sao có nghĩa, có nghì là hơn (CD)
2.3.12 Nhìn nhận sự tình được nêu tiếp theo là một phát hiện bất ngờ hay là ý
nghĩa của một sự tình khác Các dạng thức biểu đạt: té ra, hoá ra, thì ra (là),
75) Thì ra cuộc đời tôi kỳ thực có khác nào con thuyền bơi ngược dòng sông không ngừng bị đẩy lui về dĩ vãng (BN: NBCT)
2.3.13 Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều bất thường mà
người nói muốn nhấn mạnh Các dạng thức biểu đạt: thậm chí, đến nỗi, đâu đến nỗi,
không đến nỗi (là),
76) Vậy mà Kiên thậm chí không hề nhớ là đã từng có một cô bé nào đó sống ở đây hồi ấy (BN: NBCT)
2.3.14 Biểu thị thái độ chấp nhận miễn cưỡng sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp
theo; hay chấp nhận sự tình, sở thuyết được nêu tiếp theo như là một giải pháp tình
thế Dạng thức biểu đạt: âu, âu cũng, đành, đã đành, chả trách, coi như, cầm bằng
(như) (là),
(Một liều ba bảy cũng liều)
77) Cầm bằng như trẻ chơi diều đứt dây (CD)
2.3.15 Đánh giá sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là tích cực hay tiêu cực
xét trong mối quan hệ với ngôn cảnh, tình huống cụ thể Dạng thức biểu đạt: có điều,
chỉ có điều, được (một) cái, chết cái, mắc cái, ngặt cái, khốn nỗi, khổ nỗi, hiềm một nỗi, ác một nỗi, chết một nỗi, chỉ mỗi một tội, chỉ tiếc, chỉ tiếc một điều (là), hay điều đáng lo, điều đáng ngại, điều đáng tiếc, điều đáng mừng, điều cần quan tâm nhất, điều quan trọng hơn cả là hoặc đáng ngại, đáng sợ, đáng lo, đáng mừng, đáng tiếc là 78) (Núi vẫn thế, rừng vẫn thế, suối sông cũng vẫn thế thôi, bởi có là bao một năm trời.) Chỉ có điều hồi đó đang chiến tranh còn bây giờ trái lại, đã hòa bình rồi (BN: NBCT)
Trang 292.3.16 Dẫn nhập một nhận định mang tính chất đúc kết, tổng kết lại những gì đã
được trình bày Các dạng thức biểu đạt: rốt cuộc, rốt cục, chung quy, kết cục, kết quả,
sau cùng, cuối cùng, nói tóm lại (là),
79) Cuối cùng, bằng cái khoát tay khoáng đạt, hơi dữ dằn của một công dân sinh
ra từ miệt vườn hoang vu, ông bắt tôi phải nhận tháng lương bảy mươi nghìn mới lĩnh của ông (CL: AMDV)
Ngoài các loại nêu trên được đánh dấu bằng các tác tử, thì đề tình thái còn có thể được cấu tạo bằng tiểu cú Đó là các kết cấu đề - thuyết có đề tài là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và thuyết có chính tố là vị từ biểu thị hoạt động nói năng, tri giác, nhận thức, cam kết, thề thốt, hay thuyết là vị từ biểu thị tâm trạng, được dùng với nghĩa hiện
tại: tôi nghĩ, tôi biết, tôi hiểu…
Hoặc là những kết cấu đề - thuyết tiểu cú có đề tài là đại từ nhân xưng hay danh
từ đại từ hoá, được dùng ở ngôi thứ hai, thuyết là một số vị từ, ngữ vị từ biểu thị hoạt
động tri giác, nhận thức, tiểu biểu như: tính, xem, coi, nghĩ,
8 Khái niệm về thuyết tình thái
Chúng tôi quan niệm đề tình thái như sau:
Theo tác giả Giáo trình ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Cú pháp học thì: “Thuyết
tình thái là loại thuyết nêu lên sự nhìn nhận, đánh giá của người nói về sự tình hay sở
đề đã được nêu ra trước đó.” [1; tr 150]
Thuyết tình thái cũng được đánh dấu bằng các tác tử thì và là Trong công trình
nghiên cứu của ông, Chim Văn Bé cũng nêu ra các cách dùng tác tử để đánh dấu thuyết tình thái, bao gồm các cách dùng như sau:
9 Thuyết tình thái được đánh dấu bằng thì
Thuyết tình thái được đánh dấu bằng thì thường gặp là những tổ hợp sau đây: thì
phải, thì có, thì đã hẳn, thì thôi, thì đã đành, thì tốt, thì hơn, thì đúng hơn, thì chết, thì khốn, thì nguy, thì hỏng bét, thì bỏ mẹ, thì lạ thật, thì chớ, thì phải biết, thì khỏi phải nói, thì khỏi chê, thì hết xẩy, Ví dụ:
80) Nó tự thấy không xứng đáng làm chồng Tuyết, và phải chối từ đi thì hơn
(VTP: SĐ)
Trang 30(Bậu đừng trách ái hờn ân)
81) Đạo chồng ngãi vợ chẳng gần thì thôi (CD)
10 Thuyết tình thái được đánh dấu bằng là
Thuyết tình thái được đánh dấu bằng là thường gặp là những tổ hợp sau đây: là
khác, là đằng khác, là cùng, là hết mức, là nhiều, là ít, là thường, là hơn, là phải, là cái chắc, là may, là phúc, là quý, là được, là hết ý, Xem xét các câu sau:
82) Mẹ còn chẳng biết là may
(Mẹ mất mới tiếc những ngày làm con) (CD)
Ngoài hai tác tử nêu trên dùng để đánh dấu thuyết tình thái, thì còn có các từ khác
như: mới, cũng được dùng để đánh dấu thuyết tình thái Thường gặp là những tổ hợp như: mới phải, mới lạ, mới tuyệt, mới đã, mới chết, hay là cũng phải, cũng được,
cũng không được, cũng đành, cũng đành chịu,
Khi xem xét quan hệ cú pháp giữa các yếu tố, chúng tôi thấy rằng, câu tiếng Việt còn có một số thành phụ phụ nằm ngoài cấu trúc cú pháp cơ bản Do dung lượng một
đề tài nhỏ nên chúng tôi chỉ điểm qua, để khi xem xét quan hệ cú pháp từng câu cụ thể,
có thể chỉ ra đúng thành phần cú pháp của nó
Đứng trên quan điểm chức năng, các yếu tố phụ nằm ngoài cấu trúc cú pháp cơ bản của câu có khác so với Ngữ pháp học cấu trúc Chính trong nội tại các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm Ngữ pháp học chức năng cũng có quan điểm khác nhau khi đưa ra số lượng cũng như tên gọi các thành phần phụ Để thống nhất chung trong đề
tài này, chúng tôi theo cách phân loại trong Giáo trình ngữ pháp học chức năng: Cú
pháp học Trong quyển này, Chim Văn Bé đưa ra các loại thành phần phụ nằm ngoài
cấu trúc cơ bản của câu bao gồm: Trạng ngữ, chuyển ngữ, trạng ngữ liên - chuyển,
tình thái ngữ, giải thích ngữ, phụ chú ngữ, vấn ngữ, kiểm ngữ, hô ngữ, ứng ngữ
***
Trang 31CHƯƠNG HAI KHẢO SÁT TÁC TỬ THÌ, MÀ, LÀ
TRONG SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
4 Giới thiệu sơ lược về tác giả và tác phẩm
Vũ Trọng Phụng (sinh ngày 20/10/1912 - mất ngày 13/10/1939) là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỷ 20 Tuy thời gian cầm bút rất ngắn
ngủi, với tác phẩm đầu tiên là truyện ngắn “Chống nạng lên đường” đăng trên Ngọ
báo vào năm 1930, nhưng ông đã để lại một lượng tác phẩm lớn: hơn 30 truyện ngắn,
9 tập tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, cùng 1 bản dịch vở kịch từ tiếng Pháp, một
số bài viết phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về các vấn đề chính
trị, xã hội, văn hóa Số đỏ là một tiểu thuyết của ông, gồm 20 chương, đăng ở Hà Nội
báo từ số 40 ngày 7 tháng 10 năm 1936 và được in thành sách lần đầu vào năm 1938
Câu chuyện bắt đầu khi bà Phó Đoan đến chơi ở sân quần vợt nơi Xuân Tóc Đỏ làm việc Vô tình Xuân Tóc Đỏ vì xem trộm một cô đầm thay đồ nên bị cảnh sát bắt giam và được bà Phó Đoan bảo lãnh Sau đó, bà Phó Đoan giới thiệu Xuân đến làm việc ở tiệm may Âu Hóa, từ đó Xuân bắt đầu tham gia vào việc cải cách xã hội Nhờ thuộc lòng những bài quảng cáo thuốc lậu, hắn được vợ chồng Văn Minh gọi là "sinh viên trường thuốc", "đốc tờ Xuân" Hắn gia nhập xã hội thượng lưu, quen với những người giàu và có thế lực, quyến rũ được cô Tuyết và phát hiện cô Hoàng Hôn ngoại tình Xuân còn được bà Phó đoan nhờ dạy dỗ cậu Phước, được nhà sư Tăng Phú mời làm cố vấn cho báo Gõ Mõ Vì vô tình, hắn gây ra cái chết cho cụ cố tổ nên được mọi người mang ơn Văn Minh vì nghĩ ơn của Xuân nên dẫn Xuân đi xóa bỏ lí lịch trước kia rồi đăng kí đi tranh giải quần vợt nhân dịp vua Xiêm đến Bắc Kì Bằng thủ đoạn xảo trá, hắn làm hai vận động viên quán quân bị bắt ngay trước hôm thi đấu nên Xuân được dịp thi tài với quán quân Xiêm Vì để giữ tình giao hảo, hắn được lệnh phải thua Kết thúc trận đấu, khi bị đám đông phản đối, Xuân hùng hồn diễn thuyết cho đám đông dân chúng hiểu hành động "hi sinh vì tổ quốc của mình", được mời vào hội Khai trí tiến đức, được nhận huân chương Bắc Đẩu bội tinh và cuối cùng trở thành con rể cụ
cố Hồng
Trang 325 Giới thiệu văn bản khảo sát và giới hạn phạm vi ngữ liệu
Văn bản Số đỏ mà chúng tôi khảo sát là quyển “Vũ Trọng Phụng: Số đỏ” do Nhà
Xuất bản Văn học xuất bản năm 2008 tại Hà Nội
Vì lý do tác phẩm có đến 20 chương và là một tiểu thuyết dài mà giới hạn trong một đề tài luận văn nên chúng tôi chỉ khảo sát ba chương: chương I, chương II, và chương III
6 Quy ước chung về một số kí hiệu và cách viết tắt
Do có nhiều hình vẽ sơ đồ phân tích câu cho từng kết quả khảo sát cụ thể nên chúng tôi dùng một số kí hiệu và cách viết tắt sau để khi xem sơ đồ chúng ta không nhằm với các kí hiệu khác Cụ thể như sau:
tử thì, số câu xuất hiện trong cả ba chương là 73 câu Trong đó, chức năng đánh dấu
phần đề của là 27 câu, đánh dấu phần thuyết là 41 câu, đánh dấu đề tình thái là 2 câu,
và còn lại 3 câu đánh dấu thuyết tình thái (xem chi tiết bảng 1) (ghi chú: có 1 câu, thì
xuất hiện 2 lần và 1 lần đánh dấu đề tình thái và 1 lần đánh dấu thuyết tình thái)
Trang 33Còn đối với mà, số lần xuất hiện là 12 câu Trong đó mà đánh dấu phần đề là 1
câu, đánh dấu thuyết là 9 câu và đánh dấu đề tình thái là 2 câu (xem chi tiết bảng 2)
Riêng đối với là, thì là xuất hiện 30 câu Trong đó là đánh dấu thuyết và phân
giới đề - thuyết là 25 câu, đánh dấu đề tình thái là 4 câu, và đánh dấu thuyết tình thái là
1 câu (xem chi tiết bảng 3)
Ngoài ra, chúng tôi còn thống kê được số lượng câu có sự kết hợp giữa các tác từ trong cùng một câu là 12 câu (xem chi tiết bảng 4)
Sau đây là bảng thống kê chi tiết các tác tử:
BẢNG 1: SỐ LƯỢNG CÂU TÁC TỬ THÌ XUẤT HIỆN
Chương Đánh dấu phần
đề
Đánh dấu phần thuyết
Đánh dấu
đề tình thái
Đánh dấu thuyết tình thái
Trang 342 Miêu tả thì, mà, là
2.1 Miêu tả tác tử thì
2.1.1 Thì đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết
Như đã nói ở chương trước, thì đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề -
thuyết khi đề mang tính chất đối sánh với đề khác, được nêu ra hay mang tính chất tiền giả định Đề ở đây có thể là đề tài hay đề khung
Qua khảo sát ba chương thì chúng tôi đã thống kê được 27 câu thì thực hiện chức
năng trên Vì vậy, chúng tôi không thể trình bày hết được nên chúng tôi chọn một số câu tiểu biểu để miêu tả chi tiết Sau đây là miêu tả chi tiết một số câu
Chúng ta xem xét câu (82) và chú ý tác tử thì (in đậm) Thì ở đây thực hiện chức
năng đánh dấu phần đề và phân giới đề thuyết bậc câu, vì đề ở đây là đề tài có tính chất đối sánh Người bán mía trong câu được đối sánh với một người bán mía khác Đây là cách dùng không bắt buộc, vì đề và thuyết có sự phân chia tương đối rõ và có
từ cũng phụ trợ đánh dấu Vì thế nếu câu này bỏ thì chúng ta cũng rõ nghĩa và có thể
xác định được đề - thuyết một cách rõ ràng Trong câu này, giữa thuyết 1 và thuyết 2
có kết từ chứ kết nối 2 thuyết lại với nhau Về mặt ngữ nghĩa là khác nhau, và về mặt
cú pháp là đẳng lập
Câu (83), có thì đánh dấu đề khung của câu Câu này được lão tướng số tiền giả
định trong đầu về xem tướng và xem số Khi nói ra câu này là ông ta đã có ý đối sánh giữa việc xem số và xem tướng Sự đối sánh diễn ra trong nội bộ của câu
Chúng ta xem xét các câu tiếp theo dưới đây, có thì đánh dấu đề
82) Ngay như con bé bán mía này thì cũng "nước nôi" đến nơi chứ có không đâu!
83) Xem số thì kỹ hơn xem tướng
Trang 35Đối với câu (84), thì đánh dấu đề tài của câu Câu có hiện tượng ghép thuyết, bao gồm 2 thuyết đẳng lập Tôi trong câu này là đề tài có sự đối sánh, vì khi nói ra câu nói
này, thì bà Phó Đoan có ý ngầm so sánh lòng nhân đức, thương người của bà ta đối với những người khác
Trong câu (85) thì thì đánh dấu đề khung bậc câu và phần thuyết của câu này
được phức tạp hoá bằng tiểu cú dưới bậc Câu này là câu nói của lão tướng số Trong câu nói của lão có sự so sánh, đối chiếu giữa hiện tại và xưa kia của cuộc đời Xuân Tóc Đỏ
Nhìn vào sơ đồ câu, thì câu (86) có thì đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết bậc câu Đề là đề khung chỉ thời gian Lần này trong câu tương ứng với sự việc xảy ra
là Bà Phó Đoan đã bỏ đi cái áo dài và khăn vành dây, vì trước đó bà đã khoác lên người các thứ trên Trong câu này, thuyết được phức tạp hoá thành thành tiểu cú Tiểu
cú này có đề là đề tài, thuyết là một tổ hợp chính – phụ, mà chính tố là đã bỏ, hai yếu
tố cái áo dài và cái khăn vành dây là phụ tố
84) Tôi thì vốn người nhân đức, hay thương người
Trang 36Câu (87) có thì đánh dấu đề khung bậc câu Xem số được tiền giả định trong đầu lão tướng số, và xem số được đối sánh với xem tướng
Đối với câu (88), thì đánh dấu đề khung của câu, đề khung của câu này được đối
sánh với đề khung của câu tiếp theo sau đó, được chúng tôi dẫn ra Phần thuyết của câu được phức tạp hoá 1 bậc thành tiểu cú Và tiểu cú làm phần thuyết có đề là đề tình
thái theo lời thánh dạy, chúng ta có thể dùng thì để kiểm tra biên giới đề - thuyết tiểu
cú Tuy nhiên vì Vũ Trọng Phụng đã dùng thì phân giới đề - thuyết bậc câu nên không thể dùng thì tiếp tục trong trường hợp này, mà muốn kiểm tra phải bỏ tác tử thì phía
trước
Câu (89) được cấu tạo bằng hai cú ghép đẳng lập với nhau Thì được dùng đánh
dấu phần đề của cả hai cú Và đề khung của hai cú này có sự đối sánh với nhau,
Đương ngủ ngoài đường và đương ngủ ở bóp Thì trong câu này có thể dùng hai lần là
do thì được dùng đánh dấu đề - thuyết cùng bậc với nhau
88) Bao nhiêu con gái thì, theo lời thánh dạy, cũng chẳng đáng kể
(Còn con giai mà một có cậu thôi, theo lời thánh dạy, thế cũng là hiếm)
89) Đương ngủ ngoài đường thì bắt vào bóp, đương ngủ ở bóp thì gọi dậy bảo đi ra!
90) Phòng giam thì bằng cái lỗ mũi!
Trang 37Câu (90) có thì đánh dấu đề tài của câu Đề tài phòng giam được Xuân Tóc Đỏ
dùng để đối sánh giữa phòng giam mà hắn bị bắt với những phòng giam trước đó hắn từng ở mà hắn cho là rộng hơn, to hơn
Đối với câu (91) này, thì đánh dấu đề tài của cú thứ nhất Khi đọc xong câu, chúng ta khó xác định được đề tài Xuân Tóc Đỏ đối sánh với đề tài nào khác Câu tiền
ngôn là “Lão thầy số để cháp, chiếu, ô xuống đất rồi ngồi lên cháp để thở hổn hển” Vì
vậy, giữa Xuân Tóc Đỏ và lão thầy số có sự đối sánh với nhau, cho nên thì ở đây đánh
dấu đề tài của cú và phân giới đề - thuyết bậc cú Ngoài ra, trong cú thứ 3 và thứ 4 có
hiện tượng đề tài bị tỉnh lược, chúng ta có thể hiểu là hắn Và câu này cũng có sự xuất hiện của thành phần phụ là một cách trịnh thượng (7) và một cách thản nhiên (10) Hai thành phần này đều là trạng ngữ chỉ cách thức, phương tiện Hai trạng ngữ trên được cấu tạo bằng một danh ngữ, được mở đầu bằng một cách, có định tố miêu tả là một vị
từ Chức năng của loại trạng ngữ này là cung cấp thông tin phụ về cách thức hay
phương tiện mà hành động được nêu trong câu, cú được thực hiện [1; tr 156]
91) Xuân Tóc Đỏ thì còn đứng lại, hai tay gãi sườn nhìn mọi người một
Trang 38Câu (92) có thì đánh dấu phần đề và phân chia biên giới bậc cú Câu này được cấu tạo bằng 2 cú đẳng lập, trong đó thì đánh dấu đề tài của cú thứ hai Cú thứ nhất có
hiện tượng ghép thuyết, và đề là đề tài Cú thứ hai thì được phức tạp hoá, và phần thuyết của cú có hiện tượng ghép cả đề lẫn thuyết, bao gồm 3 đề tài và 2 thuyết Đề tài
trong cú này là nhà cửa của họ được đối sánh với đề tài khác được ngầm giả định là
nhà cửa của người khác
được xem là nguyên nhân của sự tình được kết cấu đề - thuyết biểu đạt [1; tr 158]
Câu (94), có thì đánh dấu đề tài bậc câu Cái ơn ấy được đối sánh với một cái ơn
nào đó khác được Xuân Tóc Đỏ ngầm giả định trong đầu Thuyết trong câu này được phức tạp hoá hai bậc Tiểu cú của phần thuyết có đề là đề tình thái, có thể kiểm tra
93) Cung tài bạch tốt, cung điền trạch càng tốt, mà cung mồ mả tổ tiên, thì