1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam

62 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 787,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chênh lệch đó thông thường là sự không cân xứng về kỳ hạn làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản nợ và tài sản có; hoặc là sự thay đổi giá trị của

Trang 1

NGUYỄN THANH NHUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro lãi suất và ngoại hối

1.1 Tổng quan về hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)

1.1.1 Bản chất ngân hàng thương mại:

Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, và cung cấp các dịch vụ thanh toán với nghiệp vụ cơ bản, thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng nguồn vốn đó cho vay nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở sự chênh lệch lãi suất Luật các tổ chức tín dụng tại điều 20 khoản 1 và 2 giải thích :" Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ , làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan"

Ngày nay, với những yêu cầu hết sức phong phú và đa dạng từ phía khách hàng cùng với sự hỗ trợ tích cực của công nghệ thông tin, ngân hàng đã cung cấp thêm nhiều dịch vụ khác như : tài trợ thương mại trong nước và quốc tế; mua bán ngoại tệ; cung cấp các phương tiện chuyển tiền

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại:

1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng: NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc luân chuyển tài sản (vốn ) trong toàn bộ nền kinh tế của một nước (xem sơ đồ 1) Từ sơ đồ 1 ta nhận thấy có một phần những khoản tiết kiệm được đầu tư trực tiếp dưới dạng cho vay trực tiếp, đầu tư chứng khoán vào các công ty, chứng khoán chính phủ Tuy nhiên, luồng vốn luân chuyển dưới dạng này rất hạn chế Nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp, chính phủ là với khối lượng lớn và dài hạn

Trang 3

nhằm phục vụ nhu cầu đầu tư phát triển Do đó hình thành nên một trung gian tài chính để tạo điều kiện cho các luồng cung-cầu về vốn được gặp nhau Các trung gian tài chính tạo ra hai thị trường tách biệt nhau (thị trường sơ cấp và thứ cấp) thông qua tiến hành đồng thời hai hoạt động Thứ nhất, NHTM huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi (chứng khoán thứ cấp), như vậy sẽ hấp dẫn người đầu tư hơn nhiều so với các chứng khoán của công ty, chính phủ phát hành trực tiếp Thứ hai, NHTM tiến hành đầu tư bằng cách cấp tín dụng hoặc mua chứng khoán (chứng khoán sơ cấp) NHTM tìm được lợi nhuận từ hoạt động này nhờ việc xử lý tốt hơn các thành phần khác và giảm đáng kể các loại chi phí như chi phí điều tra, giám sát khách hàng, chi phí về luân chuyển vốn, chi phí về thanh khoản và rủi

ro biến động giá mà từng nhà đầu tư riêng rẽ không thể đạt được

1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán: NHTM cung cấp cho khách hàng của mình các dịch vụ thanh toán như : chuyển khoản, phát hành Séc, chuyển tiền trong và ngoài nước, thẻ tín dụng MasterCard, Visa

1.1.2.3 Chức năng tạo tiền: Trên cơ sở nhận tiền ký thác của khách hàng, NHTM tạo ra khả năng cho vay số tiền ký thác đó, tức là đã tạo ra tiền "Bút tệ" và tiếp tục như thế những "Bút tệ" khác được tạo ra hình thành một cấp số nhân tiền gửi tại NHTM

1.1.2.4 Chức năng môi giới và tư vấn tài chính, đầu tư: NHTM có điều kiện thuận lợi trong việc điều tra, khảo sát, thu thập thông tin khách hàng, thị trường; thiết lập được mối quan hệ rộng rãi với nhiều doanh nghiệp Chính vì vậy NHTM có ưu thế trong việc cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, đầu tư, thanh toán quốc tế

1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM :

1.1.3.1 Hoạt động nội bảng:

Trang 4

1.1.3.1.1 Nghiệp vụ tạo vốn (tiêu sản) : là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng được thể hiện bên tài sản nợ trên bảng tổng kết tài sản của NHTM, bao gồm:

a.Vốn huy động : là những phương tiện tiền tệ do ngân hàng thu nhận từ nền kinh tế, thông qua các nghiệp vụ ký thác và nghiệp vụ khác để làm vốn kinh doanh Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là ngân hàng chỉ được quyền sử dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó vẫn thuộc về những người ký thác Dựa vào tính khả dụng có thể chia vốn huy động thành các loại gồm : tiền gởi không kỳ hạn; tiền gởi có kỳ hạn; tiền gởi tiết kiệm; nguồn vốn huy động khác như phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gởi Theo quy định của NHNN VN tại quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/08/1999 thì tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn đối với các tổ chức tín dụng như sau : 25% đối với tổ chức tín dụng nhà nước, liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 20% đối với tổ chức tín dụng cổ phần; 10% đối với tổ chức tín dụng hợp tác

b.Vốn vay: ngân hàng có thể vay mượn lẫn nhau trên thị trường tiền tệ ngắn hạn hoặc tại NHNN nhằm bù đắp những khoản thiếu hụt tạm thời, giải quyết kịp thời các khó khăn về tài chính Đặc biệt một số ngân hàng có uy tín còn có thể vay được từ các tổ chức tài chính nước ngoài

c.Vốn tiếp nhận, ủy thác, các nguồn vốn khác: là những nguồn vốn mà ngân hàng nhận ủy thác từ các từ các tổ chức trong và ngoài nước, từ ngân sách Nhà nước để cấp tín dụng trung, dài hạn để thực hiện những chương trình và dự án tập trung của Chính phủ Ngoài ra ngân hàng còn có các nguồn vốn khác từ các hoạt động đại lý, dịch vụ thanh toán, tư vấn tài chính, môi giới đầu tư

Trang 5

d.Vốn chủ sở hữu: đây là nguồn vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp, vốn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại Vốn chủ sở hữu là điều kiện pháp lý cơ bản, là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo đối với các khoản nợ của khách hàng Chính vì vậy, quy mô vốn chủ sở hữu là yếu tố quyết định quy mô huy động vốn và quy mô các nghiệp vụ thuộc tài sản có Theo quy định của NHNN VN tại quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/08/1999 thì tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tài sản có, kể cả các cam kết ngoại bảng, được điều chỉnh theo mức độ rủi ro

1.1.3.1.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn (tích sản) : là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn đã hình thành của ngân hàng được thể hiện bên tài sản có trên bảng tổng kết tài sản của NHTM, bao gồm:

a.Tiền dự trữ : gồm dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng dư Trong đó, dự trữ bắt buộc là khoản tiền NHNN bắt buộc các NHTM phải duy trì thường xuyên trên tài khoản tiền gởi tại NHNN theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số vốn huy động được Tỷ lệ dự trữ bắt buộc phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHNN trong từng thời kỳ nhất định, khoản này sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và chi phí của ngân hàng Hiện nay theo quy định của NHNN tại quyết định 235/99/QĐ-NHNN1 ngày 05/07/1999 thì tổ chức tín dụng phải duy trì tỷ lệ dự trữ 5% trên tổng vốn huy động đối với những khoản tiền gởi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng Dự trữ thặng dư là khoản tiền phòng hờ theo một tỷ lệ nhất định để đảm bảo nhu cầu rút tiền của khách hàng và cho vay trong kỳ

b.Hùn vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán : ngân hàng có thể sử dụng vốn tự có của mình để góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác, hoặc mua cổ phần của các

Trang 6

doanh danh nghiệp hoặc của các tổ chức tín dụng khác nhưng không được vượt quá mức quy định Hiện nay tỷ lệ này không quá 20% vốn điều lệ và quỹ dự trữ (theo quyết định 275/QĐ-NH5 ngày 07/11/1994)

c.Nghiệp vụ tín dụng : đây là hoạt động cơ bản và là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng, đồng thời cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất Do đó, luật Tổ chức Tín dụng tại mục 1 điều 79 quy định "tổng dư nợ vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng" Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ tín dụng ngày càng đa dạng nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vốn cho nền kinh kế Ngày nay, các ngân hàng cung cấp các hình thức tín dụng gồm: chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá; tín dụng chấp nhận là hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng; tín dụng thấu chi là việc ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng vượt quá số dư tài khoản của mình đến một hạn mức nhất định; tín dụng ứng trước vào tài khoản là ngân hàng đồng ý cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định trong một thời gian nhất định; tín dụng thuê mua, Factoring; tín dụng đầu tư là những khoản cho vay trung, dài hạn nhằm tài trợ cho những dự án đầu tư mới, mở rộng sản xuất; tài trợ ngoại thương , bảo lãnh

d.Tài sản có khác : phát sinh trong nghiệp vụ thanh toán, các khoản phải thu, tài sản cố định, công cụ lao động

1.1.3.2 Hoạt động ngoại bảng: Ngoài những giao dịch được phản ánh trong phần nội bảng trên bảng tổng kết tài sản, ngân hàng còn tham gia các hoạt động chưa được thừa nhận là tài sản nợ hoặc tài sản có của ngân hàng thông qua một số nghiệp vụ ngoại bảng sau :

Trang 7

9 Các nghiệp vụ bảo lãnh : bảo lãnh thanh toán, vay vốn nước ngoài, bảo lãnh giao hàng, dự thầu, thực hiện hợp đồng, nộp thuế, chào giá, bảo hành

9 Các giao dịch về hối đoái : giao ngay (Spots), kỳ hạn ( Forwards), hoán đổi (Swaps), tương lai (Futures), quyền chọn (Options)

9 Những cam kết mua bán, tài trợ; và các khoản lãi treo

Mặc dù sự biến động của các giao dịch ngoại bảng không làm thay đổi kết cấu bảng tổng kết tài sản, nhưng vì nó cũng là một hiện tương kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng nên mức độ rủi ro của nó có tác động mạnh mẽ đến độ an toàn của toàn ngân hàng

1.2 Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái :

1.2.1 Khái niệm về lãi suất và tỷ giá hối đoái:

1.2.1.1 Lãi suất : Trong thực tế có rất nhiều loại lãi suất khác nhau như lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu, lãi suất vay, gửi Tuy nhiên, tất cả các loại lãi suất đều có một khái niệm chung nhất đó là phần thưởng cho sự hy sinh nhu cầu tiêu dùng hiện tại để đổi lấy một sự tiêu dùng trong tương lai Sự hy sinh của nhà đầu tư bao gồm hai yếu tố : thứ nhất về mặt thời gian mà đồng tiền phải đầu tư; thứ hai rủi ro phải gánh chịu trong khoản thời gian ấy Như vậy có thể định nghĩa một cách đơn giản là : lãi suất là giá trị của thời gian và sự rủi ro

Phương pháp xác định lãi suất : theo khái niệm nêu trên thì lãi suất được hiểu là lãi suất danh nghĩa, bao gồm : lãi suất thực (a); tỷ lệ lạm phát (i); chi phí chuyển sang tiền mặt (l); chi phí rủi ro (σ) Ba yếu tố đầu tiên là những yếu tố thời gian của lãi suất, yếu tố thứ tư là rủi ro gánh chịu trong thời gian trên Như vậy, lãi suất danh nghĩa được xác định theo công thức : r = a+ i+ l + σ

Trang 8

1.2.1.2 Tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền với nhau Hoặc có thể nói tỷ giá hối đoái là giá cả đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác Ví dụ : 1 USD = 14.000 VND Phương pháp xác định tỷ giá hối đoái : trong lịch sử phát triển thương mại quốc tế xuất hiện các phương pháp xác định tỷ giá hối đoái sau :

9 Chế độ bản vị vàng : Tỷ giá hối đoái được xác định dựa trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng giữa hai đồng tiền với nhau Ví dụ :1 GBP có hàm lượng vàng là 7,32 g vàng; 1 USD có hàm lượng vàng là 4,52 g vàng; suy ra tỷ giá giữa GBP và USD: 1 GBP= 7,32/4,52 = 1,6196 USD

9 Hệ thống tỷ giá Bretton Woods (1944-1971): tỷ giá hối đoái chính thức của các nước được hình thành trên cơ sở so sánh với hàm lượng vàng chính thức của Đô la Mỹ (0,888671g) và không được phép biến động vượt quá phạm vi ± x % của tỷ giá chính thức đăng ký tại quỹ IMF

9 Tỷ giá thả nổi tự do: được hình thành một cách tự phát trên thị trường do quan hệ cung cầu ngoại tệ quyết định mà không có bất kỳ sự can thiệp nào của chính phủ

9 Tỷ giá thả nổi có quản lý :là tỷ giá thả nổi nhưng có sự can thiệp của chính phủ nhằm ổn định tỷ giá phục vụ cho chiến lược chung của nước mình Sự can thiệp của chính phủ thông qua nhiều hình thức khác nhau như can thiệp trực tiếp, can thiệp thông qua thị trường hối đoái

9 Tỷ giá hối đoái có hai cách biểu hiện :

- Lấy đồng tiền trong nước ( bản tệ ) làm một đơn vị để so sánh với số lượng tiền tệ nước ngoài (ngoại tệ) : 1 bản tệ = N ngoại tệ

- Lấy đồng ngoại tệ làm một đơn vị so sánh với số lượng tiền tệ trong nước :

1 ngoại tệ = N bản tệ

Trang 9

Tuy nhiên, nhằm đơn giản vấn đề biểu thị tỷ giá hối đoái nên thống nhất chỉ áp dụng một phương pháp biểu thị tỷ giá hối đoái là lấy đồng tiền nước ngoài làm đơn vị so sánh với số lượng tiền tệ trong nước

9 Tỷ giá chéo : Thông thường tại các ngân hàng, thị trường tài chính, người ta chỉ thông báo tỷ giá đồng USD so với đồng bản tệ Trên cơ sở đó sẽ tính tỷ giá các ngoại tệ khác so với đồng bản tệ bằng phương pháp tỷ giá chéo Ví dụ : tại thị trường VN ngày 31/12/1999, tỷ giá USD được niêm yết : 1 USD = 14.026 -50 VND ( tỷ giá mua - bán ) Trên các thị trường tài chính quốc tế, tỷ giá niêm yết như

Trong đó : N là kỳ hạn tính tỷ giá ( tính theo ngày); rh,rf là lãi suất đồng nội tệ và ngoại tệ; e0,et là tỷ giá đầu kỳ và cuối kỳ

1.2.2 Rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái:

1.2.2.1 Rủi ro lãi suất : là khả năng ngân hàng phải đối mặt sới sự suy giảm lợi nhuận hoặc bị lỗ từ việc dao động của lãi suất Khi một NHTM thực hiện chức năng cơ bản của mình tức là nhận những khoản ký thác, đồng thời cung cấp những khoản cho vay thì sẽ tạo ra một sự chênh lệch giữa tài sản nợ và tài sản có Chênh lệch đó thông thường là sự không cân xứng về kỳ hạn làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản nợ và tài sản có; hoặc là sự thay đổi giá trị của tài sản nợ và tài sản có do việc đánh giá lại tài sản một khi lãi suất biến động theo hướng bất lợi đối với ngân hàng Tức là ngân hàng có thể phải chịu một khoản

Trang 10

lỗ do phải tài trợ cho các khoản vay với lãi suất cao hơn hoặc cho vay với lãi suất thấp hơn so với mức lãi suất dự định

1.2.2.2 Rủi ro ngoại hối : trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng đa dạng và mang tính toàn cầu hóa cao, các NHTM phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng mình về nhu cầu thanh toán quốc tế, đầu tư nước ngoài cho nên NHTM phải thiết lập trạng thái trường ròng (tài sản có lớn hơn tài sản nợ đối với một ngoại tệ nào đó) hoặc đoản ròng (tài sản có nhỏ hơn tài sản nợ đối với một ngoại tệ nào đó) cho từng ngoại tệ, tức là tạo ra sự không cân xứng giữa tài sản có ngoại tệ và tài sản nợ ngoại tệ về số lượng hoặc về kỳ hạn của chúng; ngân hàng có khả năng phải chịu những khoản lỗ từ sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi

1.2.3 Một số kỹ thuật nghiệp vụ quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái

1.2.3.1 Quản trị rủi ro lãi suất :

1.2.3.1.1 Một số phương pháp đo lường rủi ro lãi suất

a Mô hình kỳ hạn đến hạn (The Maturity Model)

Một sự thay đổi của lãi suất sẽ ảnh hưởng đến thu nhập, làm thay đổi giá trị của tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng Tuy nhiên sự tác động (có thể tốt hay xấu) phụ thuộc vào mức độ và tính chất của sự không cân xứng các kỳ hạn giữa danh mục tài sản có và tài sản nợ Nếu gọi MA là kỳ hạn đến hạn trung bình của danh mục tài sản có và ML là kỳ hạn đến hạn trung bình của danh mục tài sản nợ, ta có :

Trang 11

Phương trình này nói lên kỳ hạn đến hạn của một danh mục tài sản có hoặc tài sản nợ bằng tỷ trọng trung bình của tất cả các kỳ hạn cấu thành trong danh mục Nguyên lý ảnh hưởng của lãi suất đối với danh mục tài sản là :

9 Một sự tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm (tăng) giá trị của danh mục tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng;

9 Khi lãi suất thị trường tăng (giảm) thì kỳ hạn của danh mục tài sản có hoặc tài sản nợ có thu nhập cố định càng dài, thì giá trị của chúng giảm (tăng) càng lớn;

9 Khi lãi suất thị trường tăng, thì kỳ hạn danh mục tài sản càng dài thì tốc độ giảm giá của chúng càng giảm và ngược lại

Nếu gọi A, L, E lần lượt là giá trị thị trường của tài sản có, vốn huy động, và vốn chủ sở hữu, ta có E = A - L Như vậy với một sự tăng (giảm) lãi suất thị trường thì mức thay đổi theo giá thị trường của vốn chủ sở hữu được xác định là chênh lệch giữa giá trị thị trường của tài sản có và vốn huy động theo công thức :ΔE = ΔA - ΔL Qua công thức trên cho thấy rằng để hạn chế rủi ro lãi suất ngân hàng có thể làm cho kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có cân xứng nhau, tức là MA=ML Tuy nhiên, điều này lại đi ngược lại với chức năng cơ bản của NHTM là chức năng luân chuyển tài sản với mục tiêu làm tập trung những nguồn vốn ngắn hạn, khối lượng nhỏ, phân tán thành nguồn vốn lớn phục vụ cho đầu tư phát triển Mặt khác, ngay cả trong trường hợp ngân hàng đã cân xứng kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có thì tiềm ẩn rủi

ro lãi suất vẫn xuất hiện do tỷ lệ vốn huy động/tổng tài sản có là nhỏ hơn một và thời lượng của luồng tiền không đồng nhất với kỳ hạn trung bình Mặc dù tồn tại nhiều hạn chế nhưng mô hình kỳ hạn đến hạn là một phương pháp đơn giản, ít tốn kém để đo lường mức độ rủi ro lãi suất đối với NHTM

b Mô hình thời lượng (The Duration Model)

Trang 12

Thời lượng của một tài sản là thước đo thời gian tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó Công thức tổng quát xác định thời lượng của một chứng khoán có thu nhập cố định như sau :

Trong đó : CFt là luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ t; n là số kỳ thanh toán;

DFt = 1/(1+R)t là nhân tố chiết khấu; R : mức lãi suất thị trường; PVt = CFt x DFt giá trị hiện tại của luồng tiền cuối kỳ t Ví dụ : ngân hàng cấp một khoản tín dụng trị giá

5 tỷ đồng, lãi suất 12%/năm, kỳ hạn 5 năm, trả lãi hàng năm; lãi suất hiện hành của thị trường cũng là 12%/năm Ta có thời lượng của khoản vay được xác định theo bảng sau :

Suy ra thời lượng khoản vay D = 20.186.020.000/5.000.000.000 = 4,037 năm

Những đặc điểm quan trọng của mô hình thời lượng trong mối liên quan với kỳ hạn tài sản, lãi suất thị trường, luồng tiền thu được mỗi kỳ như sau :

9 Thời lượng tăng lên cùng với kỳ hạn của tài sản có thu nhập cố định, nhưng với một tỷ lệ giảm dần; tức là : δD/δM > 0 và δD2/δ2M < 0 ;

9 Thời lượng và lãi suất thị trường biến đổi ngược chiều nhau; tức là δD/δR < 0;

9 Lãi suất của tài sản (có hoặc nợ) càng cao thì thời lượng càng giảm

Nếu gọi P là thị giá của tài sản ( cổ phiếu, trái phiếu ) ta có :

Trang 13

Thay đổi lãi suất dR/(1+R) -D

Như vậy đối với một danh mục tài sản có và tài sản nợ ta xác định thời lượng tổng hợp theo công thức sau :

DA =X1AD1A+X2AD2A+ +XnADnA= Σ XiADiA

DL=X1LD1L+X2LD2L+ +XnLDnL= Σ XiLDiL

Trong đó DA, DL là thời lượng của tài sản có, vốn huy động; Xi, Di là tỷ trọng và thời lượng của tài sản thứ i

Mặt khác ta có : ΔE = ΔA - ΔL = -( DA.A -DL.L)[ΔR/(1+R)]

Trang 14

ΔE = - ( DA-DL.k).A.[ΔR/(1+R)] (6) với k=L/A Từ phương trình (6) cho ta kết luận sau :

9 ( DA-DL.k) : phản ánh sự không cân xứng về thời lượng của hai vế bảng tổng kết tài sản Nếu sự chênh lệch này càng lớn thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao;

9 A : phản ánh quy mô tổng tài sản có của ngân hàng Quy mô tài sản có càng lớn thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao;

9 ΔR/(1+R) : phản ánh mức độ thay đổi lãi suất Mức độ thay đổi lãi suất càng nhiều thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao

Trong ba nhân tố trên thì chỉ có lãi suất là mang tính ngoại cảnh, còn hai yếu tố còn lại được đặt dưới sự kiểm soát của ngân hàng Ngày nay, việc áp dụng mô hình thời lượng vào việc quản trị rủi ro lãi suất trở nên đơn giản nhờ sự phong phú của các nghiệp vụ ngân hàng như : các giao dịch Forwards, Swaps, Futures, Options thông qua các thị trường chứng khoán tập trung và bán tập trung Tuy nhiên, mô hình thời lượng chỉ chính xác với những biến động lãi suất tương đối nhỏ Một khi sự thay đổi của lãi suất là khá lớn thì quan hệ giữa lãi suất và thị giá tài sản không còn là quan hệ tuyến tính do tính lồi trong mối quan hệ giữa lãi suất và thị giá tài sản

dP/P

dR/

c Mô hình định giá lại ( The Repricing Model )

(1+R)-D

Quan hệ thực tế

Trang 15

Mô hình định giá lại dựa trên cơ sở phân tích các luồng tiền tệ theo giá trị ghi sổ nhằm xác định thu nhập lãi từ tài sản có và chi phí lãi từ vốn huy động trong một khoản thời gian nhất định Mô hình này được xác định như sau :

ΔNIIi = GAPi x ΔRi = (RSAi-RSLi) ΔRi Trong đó : ΔNIIi sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của nhóm tài sản i; GAPi chênh lệch theo giá trị ghi sổ giữa tài sản có và tài sản nợ của nhóm tài sản i; ΔRi sự thay đổi lãi suất của nhóm tài sản i; RSAi, RALi là giá trị ghi sổ của tài sản có, tài sản nợ nhóm tài sản i Ở đây nhóm tài sản thường được phân chia theo từng kỳ hạn mà tài sản có và tài sản nợ được định giá lại theo lãi suất mới trên thị trường Thông thường kỳ hạn được phân chia theo các nhóm như : 1 ngày; đến 3 tháng; đến

6 tháng; đến 12 tháng; đến 5 năm; và trên 5 năm Mô hình định giá lại là tương đối đơn giản và trực quan nhưng lại bỏ qua việc phân tích thị giá của tài sản, bỏ qua sự chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có trong cùng một nhóm

1.2.3.1.2 Những nghiệp vụ bảo đảm rủi ro lãi suất :

a Bảo đảm rủi ro lãi suất nội bảng :

Từ ba phương pháp đo lường rủi ro lãi suất trên ta rút ra một số biện pháp bảo đảm rủi ro lãi suất trực tiếp trên bảng cân đối tài sản nội bảng như sau :

9 Làm cho cân xứng kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có; tức là MA= ML;

9 Điều chỉnh chênh lệch thời lượng (DA-kDL) đạt đến 0 bằng cách điều chỉnh riêng lẽ hoặc đồng thời ba nhân tố DA, DL, và k;

9 Điều chỉnh chênh lệch theo giá trị ghi sổ giữa tài sản có và tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất (GAP) đạt đến 0; tức là RSA = RSL

Phương pháp bảo đảm rủi ro lãi suất thông qua việc cơ cấu lại bảng cân đối tài sản nội bảng thường tốn nhiều thời gian và chi phí hơn so với các phương pháp khác

Trang 16

b Bảo đảm rủi ro lãi suất ngoại bảng :

b1 Bảo đảm rủi ro lãi suất bằng hợp đồng kỳ hạn :

Giả sử tại thời điểm t=0, ngân hàng đang nắm giữ một tài sản có với thị giá P, thời lượng D, lãi suất thị trường R Khi đó ta có thể xác định được một khoản lỗ do lãi suất thị trường tăng lên ΔR tại thời điểm t như sau : ΔP = -D.P ΔR/(1+R) Để bù đắp khoản lỗ này, nhà quản trị ngân hàng tiến hành nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn bằng cách bán kỳ hạn một tài sản tương tự với giá P, thanh toán tại thời điểm t Như vậy, tại thời điểm t nếu lãi suất thị trường tăng lên ΔR thì ngân hàng sẽ có một khoản thu nhập từ giao dịch kỳ hạn là : P - Pf = P - P [1- D.ΔR/(1+R)] = D ΔR/(1+R) Tức là ngân hàng đã loại trừ được rủi ro lãi suất

Lãi/lỗ của ngân hàng từ sự thay đổi lãi suất

Lãi/lỗ từ giao dịch mua hợp đồng kỳ hạn, hoặc tương lai (Long position) ΔR

ΔP

Rủi ro lãi

suất được

loại trừ

Đồ thị 1 : Thu nhập của ngân hàng biến đổi cùng chiều lãi suất (ngân

hàng huy động vốn dài hạn và cho vay ngắn hạn )

Lãi/lỗ của ngân hàng từ sự thay đổi lãi suất

Lãi/lỗ từ giao dịch bán hợp đồng kỳ hạn, hoặc tương lai (Short position) P

Δ

RΔRủi ro lãi

suất được

loại trừ

Đồ thị 2 : Thu nhập của ngân hàng biến đổi ngược chiều lãi suất (ngân

hàng huy động vốn ngắn hạn và cho vay dài hạn )

Trang 17

b2 Bảo đảm rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai :

Về cơ bản bảo đảm rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai và kỳ hạn là tương tự nhau nhưng hợp đồng tương lai là những hợp đồng được chuẩn hoá , giao dịch một cách có tổ chức trên sở giao dịch Vì vậy để bảo đảm rủi ro lãi suất cho một tài sản, ngân hàng còn phải xác định số lượng hợp đồng tương lai cần sử dụng

Ta có công thức : ΔF = - DF.F ΔR/(1+R) với F là giá trị ban đầu của hợp đồng tương lai, ΔF là thay đổi giá trị của hợp đồng tương lai, DF thời lượng của chứng khoán sử dụng trong hợp đồng tương lai Nếu gọi NF, PF là số lượng và giá cả của hợp đồng tương lai thì F=NF.PF hay ΔF = - DF NF.PF ΔR/(1+R) Để bù đắp với khoản lỗ do lãi suất thị trường tăng lên ΔR tại thời điểm t đối với tài sản trị giá P là

vậy số lượng hợp đồng tương lai cần sử sụng : Nf = D.P / Df.Pf

Tương tự như vậy mở rộng cho toàn bộ bảng cân đối tài sản, khi lãi suất tăng ngân hàng có thể chịu một khoản lỗ : ΔE = - ( DA-DL.k).A.[ΔR/(1+R)] Như vậy số lượng hợp đồng tương lai ngân hàng cần sử dụng để bảo đảm rủi ro lãi suất toàn bộ bảng cân đối tài sản là :

b3 Bảo đảm rủi ro lãi suất bằng giao dịch quyền chọn :

i Mua quyền chọn mua ( buying a call ) để bảo đảm rủi ro lãi suất :

Trang 18

Người mua quyền chọn mua có quyền mà không có nghĩa vụ đối với việc mua một loại chứng khoán tại một mức giá cố định X (giá giao dịch ) đã thoả thuận trong hợp đồng Đồng thời tại thời điểm ký kết hợp đồng người mua phải trả một khoản phí C (phí chọn mua) cho người bán quyền chọn mua Như vậy, người mua sẽ thu được lợi nhuận khi giá trái phiếu tăng bằng cách thực hiện quyền chọn mua của mình và ngược lại chỉ chịu lỗ tối đa là khoản phí C nếu giá trái phiếu giảm do không bắt buộc phải thực hiện hợp đồng

Lãi/lỗ

ΔV

Tăng/giảm giá chứng khoán

ΔP C

Giả sử ngân hàng đang nắm giữ một danh mục tài sản mà thu nhập của nó biến đổi cùng chiều với lãi suất (như đồ thị 1 - trạng thái đoản) Để bảo đảm rủi ro khi lãi suất thị trường giảm (tức là giá thị trường tài sản tăng) thì ngân hàng có thể thực hiện mua quyền chọn mua Bởi vì khi lãi suất thị trường giảm, giá chứng khoán tăng cho nên người mua sẽ thu được lợi nhuận từ quyền chọn mua nhằm bù đắp khoản lỗ từ danh mục tài sản

A

P=X

B

Đường thu nhập từ quyền chọn mua (long call)

Đồ thị 3 : thu nhập của người mua quyền chọn mua

Tăng/giảm lãi

suất thị trường

ΔR

Trang 19

Lãi/lỗ

ΔV

Tăng/giảm giá chứng khoán

ΔP C

ii Bán quyền chọn mua (selling/writing a call) để bảo đảm rủi ro lãi suất :

Ngược lại với mua quyền chọn mua, người bán quyền chọn mua sẽ nhận được một khoản phí bán quyền chọn mua (C) và phải luôn sẵn sàng bán chứng khoán cho người mua Do vậy, người bán quyền chọn mua chỉ thu được lợi nhuận trong giới hạn mức phí thu được nếu lãi suất thị trường tăng và có khả năng bị lỗ là không hạn chế khi lãi suất thị trường giảm

A

P=X

B

Đường thu nhập từ quyền chọn mua Đường thu nhập của

tài sản sau khi bảo

đảm rủi ro lãi suất

Đường thu nhập của tài sản trước khi bảo đảm rủi ro lãi suất

ΔP

CA

Đường thu nhập từ bán quyền chọn mua (short call)

Đồ thị 5 : thu nhập của người bán quyền chọn mua

Tăng/giảm lãi

suất thị trường

ΔR

Trang 20

Bảo đảm rủi ro lãi suất bằng bán quyền chọn mua :

Lãi/lỗ

ΔV

Tăng/giảm giá chứng khoán

ΔP C

Ta thấy việc bảo đảm rủi ro lãi suất bằng bán quyền chọn mua thì khả năng phát sinh lỗ vẫn không có giới hạn Vì vậy ở nghiệp vụ này, ngân hàng chỉ sử dụng để giảm bớt một phần rủi ro trong danh mục tài sản (ở trạng thái trường) chứ không thể phòng ngừa toàn bộ rủi ro trong trường hợp lãi suất thị trường tăng

iii Mua quyền chọn bán ( buying a put ) để bảo đảm rủi ro lãi suất :

Người mua quyền chọn bán có quyền mà không có nghĩa vụ đối với việc bán một loại chứng khoán tại một mức giá cố định X (giá giao dịch ) đã thoả thuận trong hợp đồng Đồng thời tại thời điểm ký kết hợp đồng người mua phải trả một khoản phí C (phí chọn mua) cho người bán quyền chọn bán Như vậy, người mua sẽ thu được lợi nhuận khi giá trái phiếu giảm (lãi suất thị trường tăng) bằng cách thực hiện quyền chọn bán của mình và ngược lại chỉ chịu lỗ tối đa là khoản phí C nếu giá trái phiếu tăng (lãi suất thị trường giảm) do không bắt buộc phải thực hiện hợp đồng

AP=X

B

Đường thu nhập từ bán quyền chọn mua (short call)

Đường thu nhập của tài sản trước khi bảo đảm rủi ro lãi suất

ΔR Đường thu nhập của

tài sản sau khi bảo

đảm rủi ro lãi suất

Đồ thị 6 : bán quyền chọn mua để bảo đảm rủi ro lãi suất

Trang 21

ΔV

Tăng/giảm giá chứng khoán

ΔP C

P=XA

B

Đường thu nhập từ mua quyền chọn bán (long put)

Đồ thị 7 : thu nhập của người mua quyền chọn bán

ΔP C

A

P=X

B

Đường thu nhập từ mua quyền chọn

Từ đồ thị 8 cho thấy trong trường hợp ngân hàng đang nắm giữ một danh mục tài sản mà thu nhập của nó biến đổi ngược chiều với lãi suất (như đồ thị 2 - trạng thái trường) thì có thể sử dụng nghiệp vụ mua quyền chọn bán để bảo đảm rủi ro lãi suất trong trường hợp lãi suất thị trường tăng

iv Bán quyền chọn bán ( selling/writing a put ) để bảo đảm rủi ro lãi suất :

Ngược lại với mua quyền chọn bán, người bán quyền chọn bán sẽ nhận được một khoản phí bán quyền chọn bán và phải luôn sẵn sàng mua chứng khoán cho người mua Do vậy, người bán quyền chọn bán chỉ thu được lợi nhuận trong giới hạn mức

bán (long put)

Đường thu nhập của tài sản trước khi bảo đảm rủi ro lãi suất

Đư

đả

ờng thu nhập của

i sản sau khi bảo

m rủi ro lãi suất

ΔR

Đồ thị 8 : bảo đảm rủi ro lãi suất bằng mua quyền chọn bán

Trang 22

phí thu được nếu lãi suất thị trường giảm và có khả năng bị lỗ là không hạn chế khi lãi suất thị trường tăng

Lãi/lỗ

ΔV

Tăng/giảm giá chứng khoán

Đồ thị 9 : thu nhập của người bán quyền chọn bán

ΔP

C

AP=X

B

Đường thu nhập từ bán quyền chọn bán (short put)

Đồ thị 10 : bảo đảm rủi ro lãi suất bằng bán quyền chọn bán

Đường thu nhập của

tài sản trước khi bảo

đảm rủi ro lãi suất

Đường thu nhập của tài sản sau khi bảo đảm rủi ro lãi suất

ΔR

Từ đồ thị 10 ta thấy việc bảo đảm rủi ro lãi suất bằng bán quyền chọn bán thì khả năng phát sinh lỗ vẫn không có giới hạn Vì vậy ở nghiệp vụ này, ngân hàng chỉ sử

Trang 23

dụng để giảm bớt một phần rủi ro trong danh mục tài sản (ở trạng thái đoản) chứ không thể phòng ngừa toàn bộ rủi ro trong trường hợp lãi suất thị trường giảm Tóm lại : ta có mối quan hệ giữa các giao dịch quyền chọn và giao dịch kỳ hạn theo đẳng thức sau :

Bán quyền chọn mua + Mua quyền chọn bán = Bán kỳ hạn/tương lai

Minh hoạ bằng đồ thị : ( giả sử bỏ qua mức phí giao dịch C)

ΔP

ΔV

Mua quyền chọn mua

ΔPΔV

Bán quyền chọn bán

Bán quyền chọn mua

ΔPΔV

Mua quyền chọn bán

ΔP

ΔV

Bán kỳ hạn/tương lai

b4 Bảo đảm rủi ro lãi suất bằng giao dịch hoán đổi (Swaps):

Ngân hàng sử dụng giao dịch hoán đổi lãi suất với mục đích chuyển những tài sản có lãi suất cố định thành tài sản có lãi suất thả nổi và ngược lại hoặc chuyển đổi giữa những tài sản có lãi suất thả nổi khác nhau Theo thông lệ trong hợp đồng Swaps lãi suất, người mua sẽ thanh toán lãi suất cố định cho người bán; và người bán sẽ thanh toán lãi suất thả nổi cho người mua Chẳng hạn ngân hàng phát hành một loại trái phiếu lãi suất cố định 7,5%/năm kỳ hạn 10 năm; để bảo đảm rủi ro lãi suất trong

Trang 24

trường hợp lãi suất thị trường giảm ngân hàng có thể bán một hợp đồng Swaps lãi suất kỳ hạn 10 năm thanh toán theo lãi suất cố định 8%/năm và lãi suất thả nổi là lãi suất thị trường (LIBOR,SIBOR ) với giá trị hợp đồng tương đương giá trị trái phiếu phát hành Như vậy ngân hàng đã chuyển trái phiếu lãi suất cố định thành trái phiếu có lãi suất thả nổi là lãi suất thị trường trừ 0,5% (LIBOR-0,5)

1.2.3.2 Quản trị rủi ro tỷ giá :

1.2.3.2.1 Một số phương pháp đo lường rủi ro ngoại hối

a Trạng thái ngoại hối ròng :

Trạng thái ngoại hối ròng của một loại ngoại tệ được xác định theo công thức :

Doanh số mua vào ngoại tệ i

Doanh số bán ra ngoại tệ i

Trạng thái ngoại hối mua vào ròngngoại tệ i

Trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ i dương gọi là trạng thái trường ròng và ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro hối đoái khi ngoại tệ i giảm giá so với đồng bản tệ (tỷ giá giảm) Ngược lại, trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ i âm gọi là trạng thái đoản ròng và ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro hối đoái khi ngoại tệ i tăng giá so với đồng bản tệ (tỷ giá tăng) Như vậy, rủi ro ngoại hối từ trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ i khác 0 được cấu thành bởi hai hoạt động là : hoạt động trên tài sản có và tài sản nợ và hoạt động mua bán ngoại tệ i Trong đó, rủi ro từ tài sản có và tài sản nợ là do sự không cân xứng về kỳ hạn và giá trị giữa tài sản có và tài sản nợ đối với ngoại tệ i; còn rủi ro từ hoạt động mua bán ngoại tệ là do ngân hàng duy trì một trạng thái ngoại hối mở (trạng thái đầu cơ ngoại hối) đối với ngoại tệ i

Trang 25

b Mức biến động tỷ giá :

Rủi ro ngoại hối đối với ngoại tệ i phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá ngoại tệ i,

ta có công thức : Lãi/lỗ đối với ngoại tệ i = (trạng thái ngoại hối ròng của ngoại tệ i)

x (mức biến động tỷ giá ngoại tệ i) Rõ ràng khi tỷ giá ngoại tệ i có mức biến động lớn thì khả năng lãi/lỗ của ngân hàng đối với ngoại tệ i càng lớn; tức là ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá ngoại tệ i càng cao

1.2.3.2.2 Những nghiệp vụ bảo đảm rủi ro ngoại hối

a Bảo đảm rủi ro ngoại hối nội bảng :

a1 Đa dạng hoá danh mục ngoại tệ : rủi ro ngoại hối của một danh mục nhiều ngoại tệ khác nhau là nhỏ hơn tổng các rủi ro của từng ngoại tệ riêng lẻ Bởi vì, sự thay đổi tỷ giá giưã các ngoại tệ có mối tương quan nghịch biến, do đó lãi lỗ từ việc duy trì trạng thái mở đối với nhiều ngoại tệ có thể bù đắp lẫn nhau

a2 Cân xứng tài sản có và tài sản nợ : ngân hàng có thể bảo đảm rủi ro lãi suất một cách chắc chắn bằng việc làm cho tài sản nợ và tài sản có cân xứng với nhau cả về kỳ hạn và trạng thái ngoại hối đối với từng ngoại tệ

b Bảo đảm rủi ro ngoại hối ngoại bảng :

b1 Bảo đảm rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng kỳ hạn/tương lai :

Trường hợp trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ i là trường ròng, tức là ngân hàng phải đối mặt với rủi ro ngoại hối khi tỷ giá giảm Ngân hàng đảm bảo rủi ro ngoại hối bằng cách bán hợp đồng kỳ hạn (hoặc một số hợp đồng tương lai) tương ứng với kỳ hạn và trị giá chênh lệch ròng của ngoại tệ i Như vậy, khi tỷ giá ngoại tệ i giảm thì ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận từ hợp đồng kỳ hạn để bù đắp cho khoản lỗ từ trạng thái trường ròng đối với ngoại tệ i

Trang 26

Bảo đảm rủi ro bằn

Trường hợp trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ i là đoản ròng, tức là ngân hàng phải đối mặt với rủi ro ngoại hối khi tỷ giá tăng Ngân hàng đảm bảo rủi ro ngoại hối bằng cách mua hợp đồng kỳ hạn (hoặc một số hợp đồng tương lai) tương ứng với kỳ hạn và trị giá chênh lệch ròng của ngoại tệ i

b2 Bảo đảm rủi ro ngoại hối bằng giao dịch quyền chọn :

Trường hợp trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ i là trường ròng, thay vì sử dụng hợp đồng kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng giao dịch quyền chọn bằng cách mua quyền chọn bán tương ứng với kỳ hạn và trị giá chênh lệch ròng của ngoại tệ i Bởi vì, khi tỷ giá giảm thì ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận từ giao dịch quyền chọn Ngược lại, nếu trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ i là đoản ròng, thay vì sử dụng hợp đồng kỳ

Lãi/lỗ

Không bảo đảm rủi ro

Tỷ giá

Trạng thái trường (long position)

g bán kỳ han

Tỷ giá

Trạng thái trường (long position)

Bán kỳ hạn

Đồ thị 11 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá với trạng thái ngoại hối trường ròng

Rủi ro được loại trừ

Đồ thị 12 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá với trạng thái ngoại hối đoản ròng

Rủi ro được loại trừ

Trang 27

hạn, ngân hàng có thể sử dụng giao dịch quyền chọn bằng cách mua quyền chọn mua tương ứng với kỳ hạn và trị giá chênh lệch ròng của ngoại tệ i

Đồ thị 13 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá bằng giao dịch quyền chọn

Rủi ro tỷ giá được bảo đảm

Mua quyền chọn bán (Long put)

Rủi ro tỷ giá được bảo đảmï

b3 Bảo đảm rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng hoán đổi tiền tệ :

Về cơ bản bảo đảm rủi ro ngoại hối bằng giao dịch hoán đổi tiền tệ tương tự như giao dịch hoán đổi lãi suất, nhưng trong giao dịch hoán đổi tiền tệ giá trị hợp đồng bao gồm cả phần gốc và lãi của tài sản (trong khi giá trị hợp đồng hoán đổi lãi suất chỉ có phần lãi) Chẳng hạn, ngân hàng tài trợ một khoản tín dụng cho doanh nghiệp trong nước bằng đồng bản tệ với lãi suất cố định; để có nguồn vốn cho khoản tín dụng này, ngân hàng đã phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ cũng với lãi suất cố định Như vậy, ngân hàng đã bộc lộ rủi ro hối đoái trong trường hợp tỷ giá tăng Một giải pháp để bảo đảm rủi ro hối đoái là ngân hàng tiến hành giao dịch hoán đổi tiền tệ bằng cách chuyển khoản thanh toán cả gốc và lãi đối với trái phiếu ngoại tệ cho đối tác và nhận thanh toán một khoản tương đương bằng đồng bản tệ từ phía đối tác

Trang 28

Chương 2 : Thực trạng hoạt động và sự tác động của lãi suất và tỷ giá hối đoái của hệ thống ngân hàng thương mại trên

địa bàn Tp.HCM từ năm 1990 đến nay

2.1.Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn Thàng phố HCM từ 1990 đến nay:

2.1.1 Tình hình chung :

Từ chủ trương đổi mới kinh tế từ Đại hội Đảng lần VI, hệ thống ngân hàng cũng không tách khỏi yêu cầu đó bằng việc chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang ngân hàng hai cấp thông qua hai pháp lệnh ngân hàng được ban hàng năm

1990 (Pháp lệnh NHNN và pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) Cùng với sự trưởng thành của hệ thống NHTM cả nước, hệ thống NHTM trên địa bàn Tp.HCM cũng không ngừng phát triển thể hiện qua các số liệu sau :

9 Doanh số chi trả

kiều hối (triệu

Trang 29

Trong 10 năm qua hệ thống NHTM trên địa bàn Tp.HCM đã không ngừng tăng trưởng cả về số lượng ngân hàng lẫn quy mô hoạt động, đã thực sự góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, sản xuất hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, hàng nông sản chế biến tạo nên những bước đột phá kinh tế của Tp.HCM trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

2.1.2 Diễn biến lãi suất :(xem bảng 1- phần phụ lục)

Trong hơn 10 năm qua l·i suÍt cña ng©n hμng ị n−íc ta dao ®ĩng víi biªn ®ĩ rÍt lín N¨m 1989, tiÒn göi kú h¹n 12 th¸ng, l·i suÍt 12%/th¸ng - tøc 144%/n¨m, b»ng l·i suÍt cho vay nƯng l·i cña thíi kú phong kiÕn Tíi nay, còng tiÒn göi Íy, ng−íi göi tiÒn chØ ®−îc h−ịng 0,67%/th¸ng, b»ng 5,8% l·i suÍt 12%/th¸ng cña n¨m 1989 Trong giai đoạn 1992-1995, lãi suất có phần ổn định ở mức trên dưới 2%/tháng; song kể từ năm 1996 đến nay, diễn biến lãi suất không ổn định Đặc biệt trong năm 1999, NHNN VN đã liên tục hạ lãi suất từ mức trần lãi suất cho vay từ 1,20%/tháng đối với cho vay ngắn hạn và 1,25%/tháng đối với cho vay trung, dài hạn (theo quyết định số 39/1998/QĐ-NHNN1 ngày 17/01/1998); xuống 1,15%/tháng đối với cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn (theo quyết định số 189/1999/QĐ-NHNN1 ngày 29/05/1999); xuống 1,05%/tháng (theo quyết định số 266/1999/QĐ-NHNN1 ngày 30/07/1999); gần đây nhất vào ngày 22/10/1999, theo quyết định số 383/1999/QĐ-NHNN1 NHNN tiếp tục hạ mức trần lãi suất cho vay xuống còn 0,85%/tháng Chỉ riêng năm 1999, lãi suất cho vay đã giảm 0,4%/tháng tương đương 4,8/năm tương đương với tỷ lệ giảm là 32% Cùng với sự điều chỉnh lãi suất trần cho vay, lãi suất cho vay tái cấp vốn cũng được điều chỉnh từ 1,1%/tháng xuống 1,0%; 0,85%; 0,7%; và 0,5% Qua theo dõi tình hình cho thấy lãi suất huy động bình quân đầu vào của hệ thống NHTM giảm khoảng 50% so với đầu năm 1999 Như vậy mức trần lãi suất cho vay hiện nay đã hạ xuống

Trang 30

thấp hơn so với trước tháng 07/1997 là 1%/tháng đối với cho vay ngắn hạn và 1,1%/tháng đối với cho vay trung, dài hạn

Nhìn tổng thể trong hơn 10 năm qua, bức tranh kinh tế nước tra trải qua ba tình thế :

• Trước 1989 : nền kinh tế khủng hoảng thiếu, lạm phát phi mã với tốc độ cao, đỉnh điểm là vào năm 1986 lạm phát 774%/năm, ứng với lãi suất 12%/tháng;

• Giai đoạn 1992-1998 : nền kinh tế tăng trưởng ổn định ở mức cao, tăng GDP hàng năm trên 8%, lạm phát được kiểm soát với cường độ thấp, ứng với lãi suất dao động từ 1-2%/tháng;

• Trong năm 1999 : nền kinh tế trì trệ, khủng hoảng thừa và thiểu phát , tốc độ tăng GDP chựng lại, tình hình sản xuất kinh doanh cầm chừng, nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ, ứng với lãi suất 0,67%/tháng

Với những phân tích trên của nền kinh tế nước ta trong thời gian qua cho thấy lãi suất là một tấm gương phản chiếu thực trạng của nền kinh tế trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

2.1.3 Diễn biến tỷ giá hối đoái :(xem bảng 2 - phần phụ lục)

Hiện nay, chính sách quản lý ngoại hối của nước ta dựa trên nền tảng nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/08/1998, Thông tư số 01/1999/TT-NHNN7 ngày 16/04/1999 hướng dẫn thi hành Nghị định 63/1998/NĐ-CP; đồng thời NHNN cũng liên tục ra các quyết định về điều hành tỷ giá hối đoái sao cho phù hợp với tình hình cung - cầu ngoại tệ trên thị trường trong từng thời kỳ Trong đó có cả những quyết định mang tính hành chính để quản lý chặt các khoản thu chi ngoại tệ của tất cả các tổ chức và cá nhân trên lãnh thổ VN như Quyết định số 37/1998/QĐ-TTg ngày 14-02-1998 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp quản lý ngoại tệ, Quyết định số 173/1998/QĐ-TTg ngày 12-09-1998 của Thủ tướng Chính phủ về nghĩa vụ bán

Trang 31

và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức , rồi Thông tư số NHNN7 ngày 30-09-1998 của Thống đốc NHNN VN hướng dẫn thi hành Quyết định 173/1998/QĐ-TTg Nhìn chung, các chính sách quản lý ngoại hối nhằm mục đích cuối cùng là đảm bảo tính độc lập, tự chủ và ổn định lưu thông tiền tệ trong nước Đó là hệ quả của nhiều yếu tố; trong đó sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển là yếu tố cơ bản để ổn định lưu thông tiền tệ, giữ vững sức mua đồng tiền, vì tiền tệ trước hết và chủ yếu là đại diện cho quyền lực hàng hoá-tiền tệ Tuy nhiên quản lý ngoại hối cũng là yếu tố hết sức quan trọng không thể xem nhẹ trong việc thi hành chính sách tiền tệ quốc gia Đất nước ta vẫn tồn tại nhiều loại ngoại tệ mạnh lưu thông trên thị trường (như USD, FRF, DEM, GBP, JPY.v.v.) sẽ tác động làm suy yếu, giảm sức mua của đồng tiền VN Điều này trở nên rất nguy hại khi nền lưu thông tiền tệ mất đi tính độc lập, tự chủ, bị lệ thuộc vào tiền nước ngoài dễ dẫn đến tình trạng rối loạn trong lưu thông tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, lưu thông hàng hoá và đời sống xã hội

08/1998/TT-Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, từng bước xóa bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chuyển sang xây dựng và phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa Chính vì vậy, trong chính sách tài chính tiền tệ cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ Tỷ giá hối đoaúi, khâu đột phá có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình cải cách được đặc biệt quan tâm Tháng 03/1989, nhà nước chính thức công bố xoá bỏ tỷ giá kết toán nội bộ, xoá bỏ mọi hoạt động trợ giá cho các hoạt động ngoại thương Tỷ giá chính thức được NHNN công bố căn cứ vào chỉ số lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán, tham khảo diễn biến tỷ giá trên thị trường tự do và giá vàng trên thị trường quốc tế và trong nước

Ngày đăng: 15/12/2015, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2 : Thu nhập của ngân hàng biến đổi ngược chiều lãi suất (ngân - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 2 : Thu nhập của ngân hàng biến đổi ngược chiều lãi suất (ngân (Trang 16)
Đồ thị 1 : Thu nhập của ngân hàng biến đổi cùng chiều lãi suất (ngân - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 1 : Thu nhập của ngân hàng biến đổi cùng chiều lãi suất (ngân (Trang 16)
Đồ thị 3 : thu nhập của người mua quyền chọn mua - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 3 : thu nhập của người mua quyền chọn mua (Trang 18)
Đồ thị 4 : mua quyền chọn mua để bảo đảm rủi ro lãi suất - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 4 : mua quyền chọn mua để bảo đảm rủi ro lãi suất (Trang 19)
Đồ thị 5 : thu nhập của người bán quyền chọn mua - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 5 : thu nhập của người bán quyền chọn mua (Trang 19)
Đồ thị 6 : bán quyền chọn mua để bảo đảm rủi ro lãi suất - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 6 : bán quyền chọn mua để bảo đảm rủi ro lãi suất (Trang 20)
Đồ thị 7 : thu nhập của người mua quyền chọn bán - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 7 : thu nhập của người mua quyền chọn bán (Trang 21)
Đồ thị 11 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá với trạng thái ngoại hối trường ròng - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 11 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá với trạng thái ngoại hối trường ròng (Trang 26)
Đồ thị 12 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá với trạng thái ngoại hối đoản ròng - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 12 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá với trạng thái ngoại hối đoản ròng (Trang 26)
Đồ thị 13 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá bằng giao dịch quyền chọn - quản trị rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
th ị 13 : Bảo đảm rủi ro tỷ giá bằng giao dịch quyền chọn (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm