Các tác giả đã phân loại tính từ dựa trên các đặc trưng xác định thang độ và không xác định thang độ, khả năng kết hợp cũng như chức năng cú pháp của tính từ cũng được đề cập, ngoài ra c
Trang 1TRƯỜNG ĐAI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
LÂM NGỌC TÚ
MSSV: 6075466
KHẢO SÁT TÍNH TỪ TRONG CHUYÊN MỤC
GIÁO DỤC CỦA BÁO TUỔI TRẺ
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN VĂN TƯ
Cần Thơ, năm 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian tìm hiểu và nghiên cứu, đề tài “Khảo sát tính từ trong chuyên
mục Giáo dục của báo Tuổi trẻ” đã hoàn thành Người viết xin chân thành cảm ơn thầy
Nguyễn Văn Tư - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ người viết trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhân đây, người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô trong Bộ môn Ngữ Văn, những người đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho người viết trong suốt bốn năm học vừa qua, giúp người viết có được điều kiện thuận lợi khi thực hiện luận văn Đồng thời, xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Trung tâm học liệu và các anh chị thư viện Thành phố Cần Thơ đã giúp đỡ người viết trong quá trình sưu tầm và nghiên cứu tài liệu Cuối cùng, xin được cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động
viên, khuyến khích người viết trong suốt thời gian làm luận văn
Dù rất cố gắng nhưng do trình độ của người viết còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được lời góp ý của quý thầy cô và bạn đọc đểluận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng !
Trang 3KHÁI QUÁT VỀ TỪ LOẠI TÍNH TỪ
VÀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ
1.1 Khái quát về từ loại tính từ
Trang 4CHƯƠNG 2:
KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TÍNH TỪ TRONG CHUYÊN MỤC GIÁO DỤC CỦA BÁO TUỔI TRẺ
2.1 Sơ lược về báo Tuổi Trẻ
2.2 Tính từ trong chuyên mục Giáo dục của báo Tuổi Trẻ
2.2.4.3 Xu hướng đặt tính từ trước động từ hoặc danh từ
PHẦN KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
THƯ MỤC THAM KHẢO
MỤC LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
6 Lí do chọn đề tài
Mỗi ngôn ngữ đều có vốn từ vựng rất lớn Trong đó, từ vựng tiếng Việt cũng hết sức đa dạng và phong phú Việc phân định từ loại tiếng Việt có nhiều điều cần chú ý, từ trước đến nay, đó vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều người Tính
từ cũng là một trong những từ loại tích cực, nó góp phần quan trọng cho việc đảm nhiệm chức năng biểu cảm của câu, vì thế tìm hiểu về tính từ là một việc làm hết sức cần thiết và bổ ích
Trong thời đại ngày nay, báo chí Việt Nam cũng đã góp công không nhỏ vào sự nghiệp đổi mới đất nước Đây chính là phương tiện truyền thông hữu hiệu, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn sự trong sáng và phong phú của tiếng Việt Để thực hiện điều đó, báo chí đã phát huy triệt để hiệu quả sử dụng ngôn ngữ, trong đó từ loại tính từ được vận dụng một cách khéo léo và linh hoạt, tạo nên sức hấp dẫn và truyền cảm trong những ấn phẩm báo chí, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng độc giả
Chính sự trong sáng và vẻ đẹp lạ kì của tiếng Việt đã thu hút tôi, là động lực thúc đẩy tôi tìm tòi, nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, đặc biệt là lớp từ loại tính từ Thêm vào đó, tôi nhận thức được rằng, phải tìm hiểu trên báo chí để thấy được hết sự vận dụng tài tình lớp từ này cũng như để có thêm nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc trau dồi vốn ngôn ngữ dân tộc Vì những lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài
“Khảo sát tính từ trong chuyên mục Giáo dục của báo Tuổi Trẻ” để làm đề tài luận
văn của mình Một đề tài có tính ứng dụng cao trong thực tiễn viết báo, có thể giúp ích cho tôi rất nhiều trong học tập, nghiên cứu và làm việc sau này
7 Lịch sử vấn đề
Tính từ là một từ loại có vị trí quan trọng trong hệ thống thực từ tiếng Việt,
nó góp phần tích cực vào việc tạo giá trị biểu cảm cho câu Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu các đặc điểm của từ loại này, cũng chính vì thế, tính từ đã được tìm hiểu ở nhiều góc độ một cách khá cụ thể và tỉ mỉ
Trang 6Hồ Lê trong Cú pháp tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội – 1992 đã nghiên cứu tính từ trên phương diện “khả năng phối kết với danh từ, động từ kèm theo
những từ chỉ mức độ” cũng như vị trí của tính từ trong chuỗi phối kết ấy
Ông chú trọng tìm ra ranh giới giữa tính từ và động từ bằng cách tìm lời giải đáp cho những vấn đề còn “nhập nhằng” giữa hai từ loại này, những vấn đề này chủ yếu liên quan đến khả năng phối hợp với những từ chỉ mức độ, sự chuyển hóa giữa động từ thành tính từ và ngược lại Ông còn phân tính từ ra làm ba tiểu loại: tính từ cách thức, tính từ tính chất và tính từ đặc tả, đồng thời đi sâu tìm hiểu những mô hình cấu trúc của tiểu loại tính từ đặc tả
Giáo trình tiếng Việt do Bùi Tất Tươm chủ biên, NXB Giáo dục - 1995 xem
tính từ là một từ loại cơ bản với ý nghĩa khái quát là ý nghĩa về tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái, nhóm tác giả cho rằng phần lớn tính từ tiếng Việt có thể kết hợp với từ chỉ mức độ, không kết hợp với từ chỉ mệnh lệnh, từ chỉ ý nghĩa kết thúc quá trình, đây cũng là dấu hiệu quan trọng để phân biệt tính từ và động từ Giáo trình đã tiến hành phân loại tính từ dựa trên tiêu chí về phương diện ý nghĩa: tính từ phẩm chất, tính từ màu sắc và tính từ chỉ lượng, đồng thời cũng nêu lên đặc điểm tiêu biểu của tính từ tiếng Việt về chức năng ngữ pháp đó là vừa có khả năng bổ nghĩa cho danh từ, vừa có khả năng bổ nghĩa cho động từ
Tác giả Nguyễn Kim Thản trong Nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt, NXB
Giáo dục - 1997 thì tiếp cận tính từ trên phương diện ngữ pháp khi so sánh với tính từ trong ngôn ngữ Ấn- Âu Ông phân tính từ thành hai loại tương đối và tuyệt đối, từ đó phân định ra thành các lớp nhỏ hơn Trong công trình nghiên cứu này, ông có nêu thêm về sự phân định tính từ và các từ tổ khác để ta dễ phân biệt, đồng thời tránh nhầm lẫn giữa từ loại và chức năng ngữ pháp của từ
Công trình nghiên cứu Từ loại tiếng Việt hiện đại của tác giả Lê Biên, NXB
Giáo dục - 1998 là một công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ, chi tiết và cụ thể , cung cấp cho độc giả nhiều kiến thức quan trọng và giúp người viết có thêm nhiều thông tin có giá trị trong quá trình thực hiện đề tài Tiến hành nghiên cứu sâu về đặc trưng và các tiểu loại tính từ, cũng như khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của tính từ, tác giả còn
đề cập đến những nét khác biệt giữa tính từ và động từ để người đọc dễ phân biệt, đưa
ra vài suy nghĩ về lớp từ tượng thanh và một số lưu ý khi phân loại tính từ
Trang 7Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt – tập 1 của Diệp Quang Ban – Hoàng Văn
Thung, NXB Giáo dục – 1998 đã có những nghiên cứu khá khoa học trong việc tìm hiểu từ loại tính từ Các tác giả đã phân loại tính từ dựa trên các đặc trưng xác định thang độ và không xác định thang độ, khả năng kết hợp cũng như chức năng cú pháp của tính từ cũng được đề cập, ngoài ra các tác giả còn nêu lên những nhận định về tính chất đặc biệt của lớp từ mô phỏng, và đưa ra những ý kiến trong việc phân loại cho lớp
từ này
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục – 1999, tác giả Đỗ Thị Kim
Liên có những nhận định khá đơn giản về tính từ, bà cho rằng chính khả năng kết hợp phổ biến với các loại phó từ khác nhau tạo nên những đặc điểm khác nhau giữa tính từ
và động từ Bà cũng tiến hành phân loại tính từ ra thành nhiều nhóm, ở mỗi nhóm bà đều nghiên cứu về ý nghĩa và khả năng kết hợp của chúng
Đinh Văn Đức trong Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội – 2001 đã đi vào tìm hiểu khá chi tiết và tỉ mỉ về từ loại tính từ, trong đó ông còn đưa ra nhiều nhận định khác nhau về từ loại tính từ trong lịch sử của nhiều nhà
nghiên cứu như : các nhà Đông phương học cho rằng “tính từ trong các ngôn ngữ đơn
lập có thiên hướng gần với động từ về phương diện đặc điểm cú pháp ( khả năng kết hợp và chức năng thành phần câu)” và “Lê Văn Lý [2] lần đầu tiên trong tiếng Việt xếp tính từ bên cạnh động từ, đối lập với danh từ nhờ vào khả năng kết hợp với từ chứng” [5;174]
Không những đi sâu vào phân tích khái niệm đặc trưng thể hiện ở ý nghĩa tính từ, Đinh Văn Đức còn phân loại tính từ, xem xét khả năng kết hợp và đặc biệt chú
ý đến việc nhận diện danh từ và tính từ Thêm vào đó, ông còn đề cập đến một tập hợp
từ đặc biệt trong tiếng Việt – các từ mô phỏng và các tổ hợp tính từ Cuối cùng, ông đề cập đến chức năng cú pháp của tính từ trong việc tạo lập câu
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia trong giáo trình Ngữ
pháp tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội - 2002 chú trọng đi vào phân loại tính
từ Ở đây, nhóm các tác giả cũng có đề cập đến khả năng kết hợp và chức năng cú pháp của tính từ nhưng khá sơ lược, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu phổ cập rộng rãi, nhằm giúp người dùng sách, đặc biệt là người Việt Nam nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt trong thực tiễn nói và viết
Trang 8Nguyễn Chí Hòa trong Ngữ pháp tiếng Việt thực hành, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội - 2006 đã xem xét tính từ trên phương diện ngữ pháp (chức năng và cấu tạo), ông cũng đi vào phân loại tính từ và định danh cho những tính từ có cấu tạo lâm
thời, không tồn tại như một đơn vị từ vựng trong từ điển là những “tính từ giả”
Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa –
2007 nhận định tính từ có khuynh hướng giống động từ dựa trên khả năng kết hợp với các phó từ Ông cũng chú ý đến hiện tượng chuyển loại giữa danh từ và tính từ, theo ông cần phải dựa vào đặc điểm về ý nghĩa và ngữ pháp để phân biệt tính từ và danh từ
trong câu Tuy nhiên, cách phân loại tính từ của ông chưa thật hợp lí vì “không nên
phân biệt tính từ chỉ dáng vẻ bên ngoài với tính từ chỉ phẩm chất bên trong Ranh giới thuộc tính bên ngoài và bên trong chỉ là tương đối, không phải để xác định” [2;110]
Quyển Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục – 2008 của nhóm
tác giả Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến chỉ đề cập một cách sơ lược về từ loại tính từ, trong đó phân chia tính từ ra thành hai lớp con: tính từ tính chất
và tính từ quan hệ, nếu như tính từ tính chất có thể xuất hiện sau rất, quá, hoặc trước
lắm, quá thì tính từ quan hệ cũng có thể kết hợp như tính từ tính chất, nhưng thay vì
“rất” còn kết hợp được với “rặt” Ví dụ: giọng rặt Sài Gòn, cử chỉ rặt côn đồ
Qua việc khảo sát, người viết nhận thấy, về căn bản, tính từ đã được tìm hiểu một cách sâu sắc và toàn diện Nhưng tính từ chủ yếu được nghiên cứu về đặc trưng ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp trên hệ thống từ loại tiếng Việt chứ chưa được khai thác nhiều về giá trị sử dụng thực tiễn trên lĩnh vực báo chí, đặc biệt là ở báo Tuổi Trẻ Do đó, đây có thể xem là một đề tài mới lạ, đòi hỏi nhiều sự cố gắng của người thực hiện đề tài
Trang 9Đề tài có đối tượng nghiên cứu là lớp từ loại tính từ và các tính từ được sử dụng trong chuyên mục Giáo dục của báo Tuổi Trẻ Do đó, người viết sẽ tìm hiểu những tài liệu nghiên cứu về từ loại tiếng Việt và khảo sát những tính từ xuất hiện trong chuyên mục Giáo dục Tuy nhiên, do những hạn chế về thời gian và trình độ, người viết chỉ khảo sát tính từ trên các chuyên mục Giáo dục thông qua các ấn phẩm Tuổi Trẻ nhật báo, bao gồm các số phát hành trong ba tháng cuối năm 2010
10 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, trước hết người viết tìm hiểu những công trình có liên quan đến đề tài để làm nền tảng cho việc nghiên cứu
Tiếp đó, người viết tiến hành thu thập các bài viết trong chuyên mục Giáo dục của báo Tuổi Trẻ, sử dụng phương pháp thống kê và phân loại tính từ trong chuyên mục này
Khi hoàn tất việc thống kê, phân loại, người viết tiếp tục phân tích, chứng minh giá trị sử dụng của lớp từ này để làm nổi bật mối quan hệ giữa từ vựng và đời sống xã hội về mọi mặt Cuối cùng, người viết tổng hợp lại và đưa ra kết luận về vấn
đề
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỪ LOẠI TÍNH TỪ
VÀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ 1.1 Khái quát về từ loại tính từ
1.1.1 Khái niệm
Trang 10 Những quan niệm khác nhau về từ loại tính từ
Trong rất nhiều công trình nghiên cứu về từ loại tính từ, mỗi tác giả đều đưa
ra những định nghĩa khác nhau về loại từ này, cụ thể như sau:
Đỗ Thị Kim Liên có định nghĩa khá đơn giản: “Tính từ là những từ chỉ tính
chất, màu sắc” [8;55] Khái niệm ngắn gọn này tạo cho ta cái nhìn phổ quát và dễ hiểu
về từ loại tính từ, tuy nhiên với những ai có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn về lớp từ này thì
đây mới chỉ là một định nghĩa đúng nhưng chưa đủ, bởi qua thực tế sinh động của
ngôn ngữ đời sống, còn rất nhiều điều về tính từ cần được miêu tả, phân loại một cách
chi tiết và tỉ mỉ hơn
Nguyễn Chí Hòa trong Ngữ pháp tiếng Việt thực hành thì lại có cách định
nghĩa tính từ như sau:
“ 1) Tính từ là những từ chỉ tính chất của sự vật
2) Nói tới tính chất của sự vật tức là nói đến đặc trưng, hình khối
(méo mó), màu sắc (đen), dung lượng (nhiều, ít)
Như vậy, về phương diện ý nghĩa thì tính từ thường biểu thị tính chất,
trạng thái, thuộc tính.” [6;80]
Ở định nghĩa này, tác giả đã cố gắng cụ thể hóa khái niệm về “tính chất”
của từ loại tính từ, điều này giúp ta dễ dàng hơn trong việc nhận diện và phân loại tính
từ
Trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên quan niệm: “ Tính từ là những
thực từ gọi tên tính chất, đặc trưng của sự vật, thực thể hoặc của vận động, quá trình,
hoạt động” [2;103] Tác giả cho rằng tính từ cũng là một loại từ cơ bản giống như
danh từ và động từ Do tính từ có những đặc điểm về ngữ pháp gần gũi với động từ
nên hai từ loại này thường được xếp chung trong phạm trù vị từ
Còn Nguyễn Kim Thản trong Nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt lại định nghĩa
tính từ dựa trên khả năng kết hợp và chức năng cú pháp:
“Tính từ là loại từ chỉ tính chất của sự vật có những đặc điểm ngữ pháp như sau:
a) Có thể trực tiếp làm vị ngữ, không cần hệ từ là làm môi giới
b) Không kết hợp được với hãy… (đi)” [11;260]
Trang 11Theo khái niệm này, tính chất của sự vật được tác giả cho rằng do các giác quan cảm thụ được hoặc do tưởng tượng mà nhận thức được
Đinh Văn Đức quan niệm tính từ tiếng Việt là “từ loại chỉ ra đặc trưng của
tất cả những gì (khái niệm) được biểu đạt bằng danh từ và động từ” [5;182] Khái
niệm này cho phép ta phân định được từ loại của một tập hợp từ đặc biệt trong tiếng Việt: lớp từ mô phỏng
Trong khi đó, khái niệm về từ loại tính từ được Nguyễn Hữu Quỳnh định nghĩa như sau : “ Tính từ là những từ chỉ tính chất, chỉ đặc trưng của sự vật như hình
thể, màu sắc, dung lượng, kích thước, đặc trưng” [10;132]
Còn Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung cho rằng: “ Lớp từ chỉ ý nghĩa
đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình) là tính từ” [1;101]
Các tác giả còn nhấn mạnh “ý nghĩa đặc trưng được biểu hiện trong tính từ thường có
tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc có tính chất mức độ (so sánh và miêu tả theo thang độ)” [1;101]
Hàng loạt các định nghĩa nêu trên hầu hết đều nhấn mạnh tính từ là từ loại chỉ tính chất, đặc trưng nói chung Điều này đặt ra một vấn đề khác cần giải quyết, đó
là câu hỏi “Đặc trưng là gì ?”, vì vậy khái niệm “đặc trưng” cần được phân tích thêm
Qua tìm hiểu sơ bộ các quan niệm về từ loại tính từ, ta thấy mỗi tác giả đều đưa ra những nhận định khác nhau, tuy chưa có sự thống nhất hoàn toàn, nhưng nhờ vào các định nghĩa đó, ta có cái nhìn ban đầu về lớp từ này, từ đó có được cơ sở lý thuyết để đi vào khảo sát kĩ hơn về ý nghĩa, đặc điểm, chức năng và việc vận dụng tính
Trang 12Cũng theo Lê Biên, cần lưu ý rằng, nghĩa tính chất, đặc trưng của tính từ
không phải là một cái gì trừu tượng, tách khỏi sự vật, hoạt động, mà phải thấy nó như
một dấu hiệu, thuộc tính sẵn có, có quan hệ gắn bó với sự vật, hoạt động (đặc trưng
như một đối tượng phản ánh thực tại) Mặt khác, đặc trưng cũng thể hiện cách nhận
thức chủ quan của con người Nghĩa là, đặc trưng luôn gắn liền với thực thể, sự vật và
có tiềm ẩn thái độ đánh giá của con người đối với thực thể, sự vật đó
Ví dụ: Con đường cái rải đá bỗng mất hẳn giữa hàng trăm hố bom toang hoác,
lổn nhổn, tơi bời, đảo lộn cả một vùng đồng ruộng thành một cảnh tượng kì quái,
hoang rợ
( (Nguyễn Đình Thi)
Khái niệm “đặc trưng” thể hiện ở tính từ là sự thống nhất cao giữa các yếu
tố từ vựng và ngữ pháp Với yếu tố từ vựng, ý nghĩa tính từ liên hệ trực tiếp với nội
dung phản ánh thực tại, ta dễ dàng nhận thấy điều đó qua các khái niệm về màu sắc
(xanh, vàng, đen, trắng), tiếp đến là các khái niệm về không gian, trọng lượng, kích
thước
Bên cạnh đó, khái niệm “đặc trưng” trên bậc ngữ pháp là một khái niệm có
tính chất quan hệ thể hiện mối liên hệ giữa các khái niệm trong khi phản ánh thực tại
Xuất phát từ đó, không chỉ có khái niệm tính chất được nhận thức như là đặc trưng mà
bất cứ một khái niệm nào về sự vật, hành động, quá trình cũng đều có thể trở thành đặc
trưng theo lối tri giác của con người và được diễn đạt như tính từ
Ví dụ: khái niệm về thực thể (danh từ riêng) “Nam Bộ” sẽ trở thành khái
niệm đặc trưng (tính từ) khi thêm vào trước nó thành tố “rất” Rất Nam Bộ
1.1.2 Đặc trưng của từ loại tính từ
1.1.2.1 Chức năng cú pháp
Trong bài viết này, người viết chỉ trình bày sơ lược về chức năng cú pháp
của từ loại tính từ chứ không đi sâu vào tìm hiểu khía cạnh này Giống như danh từ và
động từ, tính từ cũng giữ nhiều chức vụ ngữ pháp trong câu, tiêu biểu là hai chức năng
chính: định ngữ và vị ngữ:
- Chức năng định ngữ: được giải thích bằng bản chất ngữ pháp là hạn định
Trang 13đặc trưng cho khái niệm thực thể (được diễn đạt bằng thực từ) Khác với ngôn ngữ châu Âu, tính từ không chỉ làm định ngữ cho danh từ mà còn làm định ngữ cho động
từ
Ví dụ: Ngôi nhà mới có trồng nhiều hoa đẹp
Chức năng định ngữ là chức năng phổ biến và thường trực nhất của tính từ
- Chức năng vị ngữ: trong tiếng Việt, tính từ tương đồng với động từ ở khả
năng làm vị ngữ trực tiếp trong câu, điều này khá khác biệt với tính từ trong ngôn ngữ châu Âu
Ví dụ: Nông dân rất cần cù
Học sinh vô cùng chăm chỉ
Ngoài ra, tính từ còn đảm nhiệm một số chức năng cú pháp khác:
Xét về đặc điểm ngữ pháp, tính từ có nhiều nét giống động từ (được xếp vào một phạm trù chung là vị từ), do đó, tính từ cũng có nhiều nét tương đồng với động từ trong khả năng kết hợp Trong khuôn khổ cấu trúc của ngữ tính từ, các thành phần phụ kết hợp được với tính từ chia thành các loại sau:
Các phó từ kết hợp được với tính từ, đồng thời kết hợp được với động từ:
- Các phó từ khẳng định, phủ định: không, chẳng, chưa, có…
Ví dụ: Trốn chạy là một hành động không dũng cảm
- Các phó từ chỉ thời gian: đã, sẽ, đang…
Ví dụ: Những cơn gió ùa về báo hiệu đêm nay trời sẽ lạnh
- Các phó từ chỉ sự đối chiếu: vẫn, còn, cứ…
Ví dụ: Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu
Trang 14(Phan Bội Châu)
- Các phó từ sai khiến: hãy, đừng, chớ…
Ví dụ: Đừng buồn nhưng cũng đừng vui
Êm êm nắng nhẹ qua trời rợn mưa
(Hồ Dzếnh)
- Các phó từ: ra, lên, đi, lại
Ví dụ: Thị trẻ ra mười tuổi (Nam Cao) Trong trường hợp này, các phó từ ra, lên, đi, lại không mang nghĩa chỉ
hướng như khi kết hợp với động từ mà chỉ ra kết quả diễn tiến của đặc trưng, sự biến đổi của trạng thái
Các phó từ chuyên kết hợp với tính từ:
So với động từ, khả năng kết hợp có tính chất tiêu biểu hơn của tính từ là
những phó từ chỉ mức độ: hơi, khá, rất, cực kì, vô cùng… để chỉ các mức độ khác nhau
của đặc trưng, chúng được sử dụng như một yếu tố tình thái biểu thi cảm giác hay sự đánh giá chủ quan của người nói, nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau của phát ngôn (giảm nhẹ, nhấn mạnh)
Ví dụ: hơi chậm, khá tốt, cực kì đẹp, vô cùng liều lĩnh
Hầu hết tính từ đều có thể kết hợp được với các phó từ chỉ mức độ, tuy nhiên đối với những tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ (chỉ đặc trưng tuyệt đối):
phải, trái, chính, phụ, đỏ lòm, xanh lè, thơm phức…thường không kết hợp được với
phó từ chỉ mức độ Tất nhiên, cũng xuất hiện một số ít trường hợp ngoại lệ mà chúng tôi sẽ đề cập thêm trong phần phân loại tính từ
Ngoài ra, tính từ còn kết hợp với những thành tố phụ đứng kèm đằng sau nó như:
- Hư từ: lắm, quá
Ví dụ: Mặt trăng đẹp quá !
- Thực từ (thường là danh từ)
Ví dụ: vui tính, tốt bụng, dễ bảo, mát tay
- Kiểu tổ hợp: “quan hệ từ + danh từ” làm bổ ngữ cho tính từ:
Ví dụ:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Chẳng lịch cũng thể con người thượng kinh
Trang 15(Ca dao)
1.1.3 Phân loại
Phân định từ loại là một nhu cầu của nhận thức, một yêu cầu khách quan của ngữ pháp học Công việc này đòi hỏi phải biết rõ quy luật và hoạt động ngữ pháp của từng loại từ Việc phân định từ loại cần phải có căn cứ rõ ràng và tuân theo những nguyên tắc phân loại mà mọi người công nhận
Có thể nói việc phân loại tính từ ít phức tạp hơn so với danh từ và động từ Hiện nay, có nhiều cách phân loại tính từ rất khác nhau, chủ yếu do vận dụng những tiêu chuẩn khác biệt để phân định Có thể điểm qua một số cách phân loại như sau:
Hồ Lê trong Cú pháp tiếng Việt đã chia tính từ ra làm ba tiểu loại:
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn đã chia
tính từ ra làm hai loại là tính từ hàm chất và tính từ hàm lượng, có thể xem đây là cách phân định khái quát và đơn giản nhất trong khá nhiều cách phân loại hiện nay
Nguyễn Hữu Quỳnh cũng đã góp thêm một cách phân loại tính từ trong công
trình Ngữ pháp tiếng Việt, theo đó, tính từ được chia làm ba tiểu loại:
- Tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật
- Tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật
Trang 16đối Để tiện bề khảo sát, người viết xin được tham khảo các cách phân loại khác nhau
và tạm phân chia tính từ ra làm hai lớp:
- Lớp chỉ đặc trưng không xác định thang độ
- Lớp chỉ đặc trưng xác định thang độ
1.1.3.1 Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
Đây là lớp tính từ chỉ đặc trưng không biểu thị ý nghĩa thang độ tự thân nên
thường kết hợp với các phó từ chỉ mức độ: hơi, rất, cực kì, vô cùng Lớp tính từ này
bao gồm:
Nhóm tính từ chỉ tính chất – phẩm chất: được dùng để đánh giá phẩm chất sự
vật như tốt, xấu, đẹp, giàu, hèn, kém, tồi, bền…
Nhóm tính từ chỉ trạng thái: thường được dùng để chỉ trạng thái nhất định
của sự vật khi hoạt động như nhanh, chậm, vội, lề mề, hấp tấp, nóng nảy, bộp chộp…
Nhóm tính từ chỉ kích thước, số lượng: dùng để chỉ kích thước, số lượng của
sự vật, thực thể Nhóm từ này bao gồm các từ như to, nhỏ, ít, nhiều, ngắn, dài, cao,
- Lớp từ này xác định tính chất của sự vật nêu ở chủ thể, không phân biệt
tính từ chỉ dáng vẻ bên ngoài với tính từ chỉ phẩm chất bên trong, nên ta có thể nói
“núi cao”, “trình độ cao”…
Chỉ đặc trưng tuyệt đối tạo thành cặp đối lập: số lượng từ trong
nhóm khá hạn chế, nó chỉ gồm vài từ như: riêng, chung, công, tư, chính, phụ, tối đa,
tối thiểu
Trang 17Ví dụ: Tham gia hội chợ chỉ là việc phụ, việc quảng bá sản phẩm làm
sao để đa số người tiêu dùng có thể biết đến, chất lượng thế nào, tác dụng ra sao mới là mục tiêu chính (Tạp chí Kinh doanh)
Trong thực tế sinh động của ngôn ngữ, các tính từ chỉ đặc trưng tuyệt đối
trên vẫn có thể kết hợp với các phó từ chỉ mức độ: hơi, rất, cực kì, vô cùng như tính
từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
Ví dụ: Những khoảng lặng “rất riêng” trước thềm đại lễ
(báo điện tử Vietnamnet) Trong những trường hợp đi kèm với phó từ chỉ mức độ, thì việc sử dụng cũng chỉ nhằm nhấn mạnh thêm, tăng tác dụng biểu cảm, chỉ có ý nghĩa đối với phong cách học ngữ pháp chứ không nhằm đánh giá theo thang độ, cũng không có tác dụng
so sánh
Chỉ đặc trưng tuyệt đối không tạo thành cặp đối lập (các từ trong
nhóm thường là từ láy hoặc từ ghép): vuông vức, ngắn ngủn, mặn chát, hiền khô, trắng
nhách, đỏ au, vàng khè, đo đỏ, xanh xanh, tim tím Những yếu tố như “vức, chát, nhách, au, khè…” đã hàm chứa tính chất, đặc trưng xác định ở mức độ tuyệt đối, tính
chất hay đặc trưng ấy không đặt vào thế so sánh đối lập Nhóm từ này thường không kết hợp với phó từ chỉ mức độ, chỉ một số ít từ có thể kết hợp được với phó từ chỉ mức
độ thấp như: hơi, hơi hơi
Ví dụ: Đàn ông khăn nhiễu đội đầu
Đôi giày da láng, khăn trầu đỏ loe Đàn bà yếm đậu vàng hoe, Hàm răng đen nhức, váy lê thẹn thùng (Chơi xuân - Đoàn Văn Cừ)
Trong tiếng Việt, cần đặc biệt chú ý đến giá trị của lớp từ này, vì ngoài giá trị sở chỉ, chỉ ra đặc trưng của sự vật, hiện tượng mà mỗi từ còn gắn với một loại sự vật nhất định, chúng còn có tác dụng tạo hình ảnh, biểu cảm và bộc lộ thái độ, cách đánh giá của người phát ngôn, nên chúng vừa có tác dụng miêu tả, gợi cảm vừa có giá trị thẩm mĩ
1.2 Phong cách ngôn ngữ báo chí
1.2.1 Khái niệm
Trang 18Phong cách ngôn ngữ báo chí là kiểu diễn đạt được dùng trong lĩnh vực thông tin của xã hội về tất cả những vấn đề thời sự
Báo chí là nơi đăng tải các loại tin tức, kiến thức có tính tổng hợp và cập nhật hóa, nên trong đó hầu như hiện diện đủ tất cả các loại phong cách như: khoa học, hành chính, chính luận, văn chương Vì thế, chỉ một số loại văn bản sau đây được xác định thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí:
- Văn bản cung cấp tin tức: tin ngắn, phóng sự, phỏng vấn, tin tổng hợp
- Văn bản phản ánh công luận: ý kiến bạn đọc, trả lời bạn đọc
- Văn bản thông tin quảng cáo: nhắn tin, rao vặt, quảng cáo
nổ về thông tin và nhu cầu thông tin, khả năng tiếp cận thông tin qua giao tiếp mắc phải nhiều hạn chế, vì thế sự xuất hiện của báo chí đã phần nào giải quyết được những vướng mắc đó
Trước tiên, báo chí ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu con người trong việc tìm kiếm thông tin, những vấn đề xảy ra trong cuộc sống (những sự kiện có liên quan và chi phối xã hội) Hơn nữa, do sự vận động không ngừng của thế giới khách quan, con người càng muốn đi đầu, tiên phong trong mọi vấn đề của cuộc sống, theo đà phát triển của xã hội, nhu cầu nắm bắt thông tin của con người cũng ngày càng tăng
Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập các sự kiện “nóng hổi”, những vấn đề bức xúc có thực đang được đông đảo công chúng quan tâm, chờ đợi Bằng việc cung cấp thông tin đến mọi người, báo chí đã thực hiện chức năng thông báo, và để thực hiện hiệu quả chức năng này, ngôn ngữ trong báo chí cần đảm bảo tính khách quan, trung thực trong việc phản ánh thông tin nhằm đưa đến những thông tin lành mạnh, có ích, giúp cho người ta mở rộng sự hiểu biết và phát triển theo khuynh hướng toàn diện
Trang 19Luôn đi kèm với chức năng thông báo, báo chí còn đảm nhận một nhiệm vụ
to lớn khác là tác động đến dư luận Bất kì một sự kiện nào khi xuất hiện trên báo chí đều gắn với thái độ, cách nhìn nhận sự việc của cơ quan báo chí đó, có thể nói, chính
sự công khai, thẳng thắn và tích cực trong quan điểm của báo chí đã khiến nó trở thành phương tiện tác động có sức mạnh ghê gớm, thậm chí có khả năng hướng dẫn dư luận
“Thực tế, khi lĩnh hội thông tin, bao giờ trong tâm lý người đọc cũng xảy ra phản ứng, hay là sự phản hồi đối với thông tin Trước một sự kiện, người ta có thể phản ứng theo cách này hay cách kia tùy theo quan niệm cũng như sự kiện đó có ảnh hưởng thế nào tới quyền lợi của mình” [4;225]
Dùng tiếng nói của mình để tác động, nếu bài báo viết không đúng, cung cấp sai thông tin sẽ gây tác động tiêu cực đến xã hội Ngược lại, nếu báo chí phản ánh đúng sự thật khách quan, thì nó sẽ tác động tích cực đến tư tưởng, quan niệm của cộng đồng Từ đó, độc giả sẽ nhận thức được bản chất của sự thật, phân biệt rõ thật và giả, đâu là chân lý, đâu là ngụy biện, hiểu được đâu là cái đúng, cái đáng ca ngợi, đâu là cái sai, đáng chê trách, phê phán Chính sự tác động đó giúp cho con người ngày càng sống tốt hơn, xã hội ngày càng tiến bộ hơn
Trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, “báo chí phải tác
động tích cực và có hiệu quả vào việc hình thành bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn, khí phách con người Việt Nam trong thời kỳ mới, hình thành dư luận xã hội lành mạnh góp phần
cổ vũ sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện các nhiệm vụ cách mạng” đồng thời báo chí
cũng luôn phải “hướng dẫn nhận thức, dư luận xã hội trước những sự kiện lớn trong
nước cũng như trên thế giới” (trích phát biểu bế mạc Đại hội VIII Hội Nhà báo Việt
Nam)
Cả hai chức năng thông báo và tác động của báo chí không thể tách rời nhau
mà có sự gắn kết chặt chẽ và tương quan lẫn nhau Báo chí phục vụ cho nhu cầu thông tin của con người, đồng thời lấy con người làm cơ sở khảo sát, phản ánh mọi vấn đề và khía cạnh trong cuộc sống
1.2.2.2 Đặc trưng
Để thực hiện tốt chức năng truyền tải thông tin và tạo được khả năng tác động đến mọi người thì báo chí phải đảm bảo ba đặc trưng sau: tính thời sự, tính chiến đấu và tính hấp dẫn
Tính thời sự:
Trang 20Báo chí ra đời nhằm mục đích truyền tải thông tin, đáp ứng nhu cầu của mọi người Những thông tin mà báo chí truyền đạt không những mới mẻ mà còn phải kịp thời và nhanh chóng, nội dung thông tin cung cấp cần đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời để thu hút sự chú ý của độc giả, những thông tin đó còn phải liên quan đến những vấn đề mà xã hội quan tâm
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu trao đổi và tiếp nhận thông tin của con người ngày càng lớn Báo chí muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì phải đáp ứng đầy
đủ cho nhu cầu đó, muốn thế, báo chí trước hết cần bắt kịp thời đại, cung cấp một cách nhanh chóng, kịp thời các tin tức quan trọng, cần thiết, “nóng hổi”, đang được dư luận
và xã hội quan tâm Thông tin mà báo chí đăng tải phải xác thực và có tính cập nhật, tin không nên đưa một chiều mà phải phản ánh nhiều hướng dư luận khác nhau (nếu có) để độc giả tiện theo dõi, thắc mắc và bàn luận nhằm tìm ra bản chất của sự việc, hiện tượng
Ngày nay, tính thời sự của báo chí được phản ánh thông qua các hiện tượng
“nổi cộm” của cuộc sống, đó có thể là những tệ nạn xã hội xuất hiện ngổn ngang, những tiêu cực trong hoạt động kinh doanh và quản lí kinh tế, sự nhộn nhịp của đời sống văn hóa - nghệ thuật, các bước tiến của khoa học, mọi chuyển biến của nền kinh tế Báo chí không chỉ cập nhật kịp thời các thông tin trong nước mà còn theo dõi, truyền tải các thông tin, hoạt động của các nước trên Thế giới
Tính chiến đấu:
Mỗi tờ báo luôn đại diện cho tiếng nói của một nhóm người hay một tập đoàn người, nó là công cụ đấu tranh chính trị của một nhà nước, một đảng phái, một tổ chức Trong xã hội, không phải lúc nào quyền lợi của các tập đoàn người cũng thống nhất với nhau Ngược lại, tùy từng lúc, từng nơi, có khi quyền lợi này trở nên mâu thuẫn gay gắt, nhất là trong xã hội có giai cấp Khi đó báo chí hoạt động với tư cách là công cụ đắc lực, trực tiếp nhất phục vụ cho công cuộc đấu tranh tư tưởng, chính trị của giai cấp mình Tất cả các công việc thu thập và đưa tin đều phải phục vụ cho nhiệm vụ quan trọng đó
Tính chiến đấu được thể hiện rõ nhất trong các bài xã luận, trong các bài bình luận văn học, chính trị và xã hội, thông qua việc lựa chọn thông tin và cách thức đưa tin của báo chí, nó là một yếu tố không thể thiếu để tạo nên sự ổn định và phát triển của xã hội trên mặt trận chính trị tư tưởng
Trang 21Được hình thành từ cách lập luận đanh thép, cách sử dụng từ ngữ nhằm châm biếm, đả kích, phủ định những điều xấu xa, trong đó việc xây dựng các hình ảnh tương phản, các mệnh đề khẳng định và phủ định chiếm vai trò quan trọng Tính chiến đấu trong báo chí cũng thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau:
- Phủ định hoàn toàn đối tượng (thường sử dụng mệnh đề khẳng định hoặc phủ định)
Ví dụ: Mỹ nhất định thua ! (Hồ Chí Minh)
Hàng không tư nhân Việt Nam chưa biết cách “bay” (Kiên Cường)
- Châm biếm, đả kích nhằm hạ uy thế đối tượng bằng các hình ảnh tương phản:
Ví dụ:
Lý luận như sao buổi sớm, phê bình như lá mùa thu (Ngọc Linh - Minh Quân)
Vụ án PMU18: Công ty “gầy” và những dự án “béo”
(Bùi Ngọc Long - Hữu Trà - Văn Nguyễn )
Nếu hiểu tính chiến đấu trong ngôn ngữ báo chí chỉ xuất hiện trong xã hội
có giai cấp là một cách hiểu theo nghĩa hẹp Thật ra, ngay khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp thì tính chiến đấu của báo chí vẫn luôn là một yếu tố không thể thiếu nhằm hướng con người vươn đến sự hoàn thiện Đó chính là cuộc đấu tranh trong nội bộ nhân dân giữa các luồng tư tưởng đối lập nhau: đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái tích cực và tiêu cực Chính những cuộc đấu tranh đó đã góp phần thúc đẩy xã hội thêm trong sạch, tốt đẹp và vững mạnh
Tính hấp dẫn:
Bên cạnh tính thời sự và tính chiến đấu thì tính hấp dẫn là yếu tố quyết định
sự sinh tồn của một tờ báo, tạp chí hay các đài phát thanh, truyền hình, bởi trong thời đại mà báo chí đã phát triển vượt bậc, cuộc cạnh tranh bạn đọc diễn ra ngày càng gay gắt như hiện nay, tờ báo nào thiếu đi tính hấp dẫn để thu hút độc giả, tờ báo đó sẽ bị
“tẩy chay”
Thông tin xuất hiện trên báo chí cần được trình bày và diễn đạt sao cho khơi gợi hứng thú của người đọc, muốn được như thế, cần có sự kết hợp chặt chẽ và nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố: nội dung và hình thức
- Nội dung:
Trang 22Thông tin quan trọng, nổi bật, cốt lõi, tiêu biểu của một sự kiện hay sự việc, hiện tượng nào đó, hoặc những thông tin nóng bỏng, mới mẻ, bất ngờ, kì lạ có liên quan đến tính hiếu kì của độc giả Cho dù là thông tin nào, điều cốt yếu nhất là nó phải chính xác, trung thực, gây chú ý và hứng thú cho người đọc
- Hình thức:
Ngôn ngữ rõ ràng, súc tích, có sức thu hút, lôi cuốn người đọc, nhất là tạo
ấn tượng ngay từ tiêu đề bài báo (thể hiện trong cách sử dụng từ độc đáo, các biện pháp chơi chữ, vận dụng tục ngữ, thành ngữ, ca dao một cách sáng tạo) Cỡ chữ và màu sắc của tiêu đề cũng có tác động mạnh mẽ đến cảm nhận ban đầu của độc giả
Tất nhiên, tiêu đề bài báo chỉ là yếu tố kích thích sự hứng thú ban đầu, tính hấp dẫn của báo chí cũng sẽ trở nên sáo rỗng nếu trong phần nội dung chính của văn bản không được trình bày bằng thứ ngôn ngữ sáng sủa và có tính thuyết phục cao Do
đó, sự hấp dẫn về mặt hình thức của báo chí phải bao gồm một tổng thể hình thức: từ cách trình bày đến tranh ảnh minh họa (tăng tính thuyết phục và sinh động cho bài báo) kết hợp với các biện pháp sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt trong khâu lựa chọn từ ngữ Bên cạnh đó, nếu nhà báo biết cách tạo ra những kiểu kết hợp từ ngữ bất ngờ, gây ấn tượng mạnh về ngữ nghĩa sẽ có tác dụng rất lớn đến sự cảm nhận và tri giác của độc giả
Là sản phẩm đại diện cho một cơ quan ngôn luận, thể hiện lập trường tư tưởng của cơ quan ngôn luận đó, tính hấp dẫn là một đòi hỏi vừa thiết thực vừa cấp bách đối với báo chí Vì thế việc đảm bảo nội dung thông tin luôn bắt kịp thời đại và chuẩn xác cũng như hình thức luôn mới mẻ, thu hút là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển vững bền của báo chí
Trang 23Đối với các đài phát thanh và truyền hình địa phương hay khu vực, có thể sử
dụng biến thể phát âm thuộc phương ngữ vùng đó một cách chừng mực
Từ ngữ:
Là một phương tiện thông tin đại chúng, do đó từ ngữ được dùng trong
phong cách ngôn ngữ báo chí phải là từ toàn dân, mang tính thông dụng cao Tuy
nhiên, ở mỗi thể loại có sự thể hiện khác nhau, đó là các từ ngữ chuyên dùng trong các
lĩnh vực như: hoạt động của bộ máy Nhà nước và đoàn thể, quảng cáo, phỏng vấn,
phóng sự Tuy thuộc nhiều lĩnh vực khá đa dạng, nhưng đó vẫn là những từ thông
dụng chứ không trừu tượng, khá trong sáng, rõ ràng, được dùng một cách cô đọng, súc
tích
Như đã nói, các tin được đăng tải trên báo hầu như hiện diện đủ các thể loại
nên khi cần thiết, báo chí có thể sử dụng biệt ngữ, tiếng lóng, từ vay mượn từ tiếng
nước ngoài, khẩu ngữ
Thường xuất hiện những từ mang sắc thái trang trọng (thường là các từ Hán
Việt đã được Việt hóa cao) như: tăng cường sự hợp tác quốc tế với tất cả các nước, kế
thừa truyền thống quý báu của dân tộc, bày tỏ thiện chí hòa bình của nhân dân ta
khi thể hiện sự đánh giá tích cực, người ta lựa chọn các từ như: tín hiệu đáng mừng,
thành tựu nổi bật, chuyển biến tích cực , ngược lại, để thể hiện sự đánh giá tiêu cực,
người ta dùng những từ ngữ biểu lộ thái độ bình giá phủ định như: trả đũa, rùm beng,
ngóc đầu, tiếp tay, dính líu
Bên cạnh đó, trong báo chí còn sử dụng những từ ngữ mang màu sắc biểu
cảm -cảm xúc, có xu hướng đi tìm cái mới trong ý nghĩa của từ Điều này bộc lộ khả
năng tìm tòi, phát hiện những năng lực tiềm tàng, ẩn chứa trong từ hoặc trong các kết
hợp mới mẻ có tính bất ngờ, sáng tạo, rất ấn tượng nên dễ đi vào lòng người
Ví dụ: tội ác xuyên quốc gia, liên minh ma quỷ, rửa tiền, chảy máu chất
xám
Phong cách ngôn ngữ báo chí có mối tương quan giữa những từ ngữ diễn
cảm (có màu sắc tu từ) và những từ ngữ dùng theo khuôn mẫu (đã mất đi màu sắc tu
từ)
có tính năng động và linh hoạt
Trang 24Ví dụ: Trước đây, từ “thế kỉ” được dùng để phản ánh độ dài của khoảng
thời gian là 100 năm, những năm gần đây, báo chí bắt đầu sử dụng từ “thế kỉ” trong
nhiều kết hợp như công trình thế kỉ, căn bệnh thế kỉ, cuộc chiến thế kỉ, cú lừa thế kỉ
Một đặc điểm giúp khu biệt phong cách ngôn ngữ báo chí với các phong
cách khác là phong cách này có lớp từ riêng, gọi là từ ngữ chuyên ngành báo chí Ví
dụ: thông tấn xã, biên tập viên, bạn đọc
Ngoài ra, ở phong cách này, còn xuất hiện nhiều những cách nói tắt, viết tắt
nhằm hỗ trợ cho việc đưa tin cũng như tiếp nhận thông tin được nhanh gọn Chẳng hạn
như tổ chức WTO, VIP, mô hình V.A.C…
Cú pháp:
Bên cạnh phương diện từ ngữ, phong cách ngôn ngữ báo chí còn phải chú
trọng đến đặc điểm về cấu trúc cú pháp
Trong phong cách ngôn ngữ báo chí, thường sử dụng một kiểu cấu trúc nhất
định như: câu đơn thường được sử dụng trong bài quảng cáo, câu ghép hay câu đơn có
kết cấu phức tạp được dùng trong những bài đưa tin, riêng những bài phỏng vấn,
phóng sự thì thường dùng nhiều câu ghép hay câu phức Tuy mỗi văn bản đều có kiểu
hành văn riêng, nhưng mỗi thể loại báo chí đều có khuôn mẫu văn bản và công thức
hành văn nhất định
Đặc biệt là trong các bài phóng sự điều tra hay tiểu phẩm hoặc chuyên mục
văn hóa nghệ thuật thường xuất hiện cấu trúc câu khẩu ngữ và những câu trong
phong cách ngôn ngữ văn chương (câu cảm thán, câu hỏi, câu đảo trật tự thành phần
cú pháp, câu tỉnh lược ) nhằm thực hiện những chức năng riêng của từng thể loại báo
chí Riêng trong phần tiêu đề của các thể loại này, thường sử dụng câu đảo ngữ như:
“Lặng lẽ quá liên hoan phim” (Báo Văn hóa), “Nổi nênh nghiệp rối” (Báo Văn nghệ
trẻ) nhằm biểu lộ một cách rõ ràng, trực tiếp thái độ đánh giá của tác giả đối với sự
kiện
Những khuôn mẫu cú pháp thường gặp trong báo chí:
- Sử dụng câu khuyết chủ ngữ, thường được dùng ở câu đầu các bài tin
nhằm tạo tính khách quan và tăng cường độ tập trung thông tin:
Ví dụ: Hôm qua tại đã khai mạc…
- Để làm nổi bật thông tin, gây ấn tượng cho độc giả, các đầu đề tin tức
cũng sử dụng câu có đề ngữ:
Trang 25Ví dụ: Lũ đồng bằng sông Cửu Long – sao chưa đến hẹn lại lên ? (Báo An Giang)
Ma túy – Quằn quại những nẻo về (Báo Thương mại)
Thường sử dụng lời nói gián tiếp để nén thông tin hay lời nói trực tiếp để làm tăng tính thuyết phục cho thông tin
Chính sự linh hoạt , sáng tạo trong cách sử dụng từ ngữ kết hợp với sự đa dạng, phong phú nhưng vẫn mang những đặc trưng khó trộn lẫn của phong cách ngôn ngữ báo chí đã đáp ứng tốt nhu cầu cập nhật thông tin, giải trí ngày càng cao của độc giả, khiến báo chí trở thành món ăn không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người ngày nay
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TÍNH TỪ
TRONG CHUYÊN MỤC GIÁO DỤC CỦA BÁO TUỔI TRẺ
2.1 Sơ lược về báo Tuổi Trẻ
Báo Tuổi Trẻ là cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - Thành phố Hồ Chí Minh Ra đời chính thức ngày 02 tháng 9 năm 1975, tiền thân của tờ báo này bắt đầu từ những tờ truyền đơn và bản tin in roneo của sinh viên, học sinh Sài Gòn trong phong trào chống Mỹ những ngày chiến tranh Việt Nam
Đầu thập niên 90, Tuổi Trẻ thật sự gây tiếng vang mạnh mẽ ở tầm toàn quốc với một số vụ điều tra chống tiêu cực gây chấn động dư luận Loạt bài điều tra
đầu tiên được ghi nhận là Xóm video đen, tiếp theo là vụ Đường Sơn Quán – một điểm
ăn chơi khét tiếng của các cán bộ nhà nước lúc bấy giờ Sau vụ này, số lượng phát hành của báo Tuổi Trẻ tăng từ vài chục ngàn bản mỗi kì lên hơn 100.000 bản mỗi kì rồi đứng vững ở mức số lượng đó
Trang 267/1981: Tuổi Trẻ phát hành 2 kì / drtuần (thứ 4 và thứ 7), đến 8/1982, Tuổi Trẻ tăng lên ba kì phát hành mỗi tuần (thứ 3, thứ 5 và thứ 7)
01/1983: Tuổi Trẻ Chủ Nhật ra đời với số lượng khoảng 20.000 tờ mỗi
kì Bảy năm sau, Tuổi Trẻ Chủ Nhật đạt kỉ lục 131.000 tờ trong năm 1990
9/2000: số thứ 6 được phát hành Sau đó hai số thứ 4 và thứ 2 lần lượt được xuất bản vào các ngày 23/01 và 07/10 năm 2002
Từ ngày 02/4/2006, Tuổi Trẻ chính thức trở thành một tờ nhật báo khi được phép ra thêm một kì vào ngày chủ nhật Cùng lúc đó, tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật đổi tên thành Tuổi Trẻ Cuối tuần
Từ 8/2008, truyền hình Tuổi Trẻ (TVO) được thành lập, sản xuất những chương trình truyền hình phát trên Tuổi Trẻ Online và hợp tác phát sóng với các kênh truyền hình trong nước
Các ấn phẩm:
* Tuổi Trẻ (nhật báo): năm 2007 bắt đầu có 20 trang nội dung bao gồm
các chuyên mục trên nhiều lĩnh vực rất đa dạng
* Tuổi Trẻ Cuối tuần (tuần báo): vốn có tên là Tuổi Trẻ Chủ Nhật Có
nội dung phong phú với hầu hết các lĩnh vực, song do không có đầu tư tương xứng nên đến những năm đầu thế kỉ 21 đã bị tụt hậu nặng nề
Từ ngày 01/11/2009, Tuổi Trẻ Cuối tuần ra ấn bản bốn màu (in màu hết
20 trang) phát hành lần đầu tiên, và là tờ báo in màu toàn bộ đầu tiên tại Việt Nam
* Tuổi Trẻ Cười (tạp chí hàng tháng, hiện nay là bán nguyệt san): ra
đời 01/01/1984, dưới thời Tổng biên tập Vũ Kim Hạnh, là tờ báo trào phúng duy nhất thời đó
* Tuổi Trẻ Online (báo điện tử): được xuất bản lần đầu dưới thời Tổng
biên tập Lê Hoàng năm 2003 Sau đó nhanh chóng trở thành ấn phẩm có tốc độ phát triển nhanh mạnh trong bảng xếp hạng hệ thống các website tiếng Việt trên Thế Giới
* Tuổi Trẻ News: chính thức ra mắt 18/6/2010 – phiên bản điện tử bằng
tiếng Anh của báo Tuổi Trẻ, được xem là cổng thông tin hướng đến mọi đối tượng bạn đọc sử dụng tiếng Anh trong và ngoài nước quan tâm đến những thông tin, tin tức về Việt Nam
* Áo trắng (tạp chí hàng tháng): là ấn phẩm liên kết với Nhà xuất bản
Trẻ Chủ yếu là thơ, văn cho tuổi mới lớn
Trang 27* Tuổi Trẻ Mobile: là phiên bản của Tuổi Trẻ Online cho điện thoại di
- Từ 9/2000: bốn kì mỗi tuần, trên 250.000 bản / kì
- Từ 23/01/2002: năm kì mỗi tuần
- Từ 10/2002: sáu kì mỗi tuần, trên 300.000 bản / kì
- 2005: trên 350.000 bản / kì
- Từ 02/01/2006: ra chuyên trang Tuổi Trẻ 24h
- Từ 02/4/2006: ra số chủ nhật, trở thành nhật báo, hiện đạt trên 400.000 bản / kì
- Từ năm 2008 – 2009: Tuổi Trẻ nhật báo đạt 450.000 bản / kì, có thời điểm đạt trên 500.000 bản / kì
* Tuổi Trẻ Chủ Nhật (nay là Tuổi Trẻ Cuối tuần):
- Ngày 16/01/1983: ra số đầu tiên, số lượng 20.000 bản / kì
- Năm 2006: gần 60.000 bản / kì
- Từ 09/4/2006: đổi tên thành Tuổi Trẻ Cuối tuần
- Từ 01/11/2009: phát hành ấn bản 4 màu (in màu toàn bộ 20 trang) lần đầu tiên
Trang 28- Ra đời 01/12/2003, hiện nay trên 4.500.000 lượt truy cập / ngày
- 20/03/2010: đổi tên miền thành tuoitre.vn và thay giao diện mới
Các chuyên mục trên Tuổi Trẻ nhật báo:
Từ năm 2007, Tuổi Trẻ nhật báo trở thành ấn phẩm có 20 trang nội dung với khá nhiều chuyên mục rất đa dạng và phong phú, phản ánh một cách đầy đủ và rõ
nét mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Đó là các chuyên mục như: Thời sự, Bạn đọc
& Tuổi Trẻ, Thể thao, Sống khỏe, Văn hóa – nghệ thuật – giải trí, Kinh tế, Thế giới muôn màu, Thế giới hôm nay, Giáo dục, Pháp luật & cuộc sống, Phóng sự - kí sự …,
trong những thời điểm khác nhau, báo Tuổi Trẻ thường linh hoạt lựa chọn một vài chuyên mục trong số các chuyên mục kể trên để thay thế cho nhau Riêng trên tờ Tuổi
Trẻ ra ngày Chủ Nhật, bên cạnh các chuyên mục quen thuộc như Thời sự, Thế thao,
Thế giới muôn màu… còn có thêm các mục như Du lịch, Nhân vật hàng tuần, Truyền hình, Nhịp sống số, 360 0 yêu, Phóng sự ảnh…
2.2 Tính từ trong chuyên mục Giáo dục của báo Tuổi Trẻ
2.2.1 Thống kê ( xem phụ lục)
2.2.2 Phân loại
Trong phần khái quát về từ loại tính từ, người viết đã đề cập đến vấn đề phân loại tính từ, bây giờ khi đi sâu vào tìm hiểu từng bài viết cụ thể trong chuyên mục Giáo dục của báo Tuổi Trẻ, người viết cũng căn cứ vào cách phân loại đã trình bày trên Theo đó, tính từ được phân thành hai loại: tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ và tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ Dựa vào cách phân loại này, người viết sẽ đi vào thống kê các tính từ trong chuyên mục Giáo dục
BẢNG THỐNG KÊ - PHÂN LOẠI TÍNH TỪ TRONG CHUYÊN MỤC GIÁO
DỤC
STT Phân loại tính từ (TT) trong chuyên mục
Giáo dục của báo Tuổi Trẻ Số lượng Tỉ lệ Ghi chú
49.2%
9.6%
Trang 29Khi đề cập đến sự bất lợi, thử thách trong đời sống, các bài viết thường
dùng từ “khó khăn” để miêu tả những tính chất đó, tất nhiên từ “khó khăn” chủ yếu
được miêu tả về đời sống còn gặp nhiều trở ngại và thiếu thốn về vật chất của các đối tượng được phản ánh trong bài viết Chẳng hạn như, nó được dùng để diễn tả mức sống của giáo viên trước thực trạng nhiều giáo viên ở 61 trường tại huyện Châu Thành (An Giang) bị kho bạc huyện nợ tiền dạy thêm giờ, thêm buổi hai năm học 2008 -
2009 và 2009 - 2010, với tổng số nợ lên đến 123 triệu đồng :“Thầy Tạ Ngọc Bưu, hiệu
trưởng Trường THCS Quản Cơ Thành cho hay giáo viên trường mình chưa được thanh toán gần 80 triệu đồng, trong khi đời sống một số người rất khó khăn”
(24/11/2010) Cả trong việc điều chỉnh lại chính sách vay vốn tín dụng cho đối tượng
học sinh – sinh viên cũng cần phải “có xác nhận khó khăn đột xuất mới được vay tiếp”
Trang 30(19/10/2010) Tính từ “khó khăn” dùng để chỉ tình trạng của đời sống, hẳn nhiên đó là
một cuộc sống không được thuận lợi như những người bình thường khác Tuy nhiên, theo người viết, nó chỉ phản ánh một tình trạng tạm thời và không đến mức xác định
sự thiếu thốn về vật chất như từ “nghèo”, do đó trong những ngữ cảnh trên, không thể tùy tiện thay thế tính từ “nghèo” vào được, ví dụ như “trong khi đời sống một số
người rất nghèo” và càng không thể viết “có xác nhận nghèo đột xuất mới được vay tiếp” Từ “khó khăn” còn dùng để chỉ tính chất của một sự việc mà để thực hiện sự
việc đó thì không dễ dàng, suôn sẻ: “Theo đánh giá của các trường, kể cả công lập và
ngoài công lập, nguyên nhân của việc tuyển sinh khó khăn trong kỳ tuyển sinh năm nay là do thiếu nguồn tuyển ”(01/10/2010), hay “Đây không phải là năm đầu tiên trường tuyển sinh khó khăn” (05/10/2010), “khó khăn” là tình hình chung trước thực
trạng các trường đua nhau mở quá nhiều ngành mới hay xé lẻ các ngành thành nhiều chuyên ngành nhỏ, khi đó nếu có một số ít ngành thu hút được sự quan tâm của thí sinh thì cũng sẽ có rất nhiều ngành khác phải chịu cảnh đìu hiu, dẫn đến hiện tượng trường mở lối nhưng thí sinh không vào
Bên cạnh tính từ “khó khăn” được xuất hiện với tần số cao (19 lần), người viết còn nhận thấy sự xuất hiện dày đặc của tính từ “mới”, tính từ “mới” này chủ yếu
giữ chức năng định ngữ nhằm bổ sung ý nghĩa cho danh từ mà nó kết hợp Nó thường
chỉ tính chất của một sự vật, sự việc vừa được làm ra, hay chưa dùng lâu như “ngành
mới”, “quy định mới”, “thống kê mới”, đôi khi nó mang nét nghĩa chỉ sự thích hợp
với xu thế thay đổi và quá trình phát triển tiến bộ như “nền giáo dục mới”, “giai đoạn
mới”, “phương án tuyển sinh mới” Điều này cũng xảy ra tương tự với tính từ “cũ” -
tính từ trái nghĩa với nó
Trước tình hình ngành mới lấn át ngành truyền thống, nhất là các nhóm ngành liên quan đến kinh tế, công nghệ thông tin, vì đây là những ngành rất hút thí
sinh nên các trường liền tìm cách tăng chỉ tiêu để mở rộng đào tạo, thế nhưng “Cách
tuyển sinh này chỉ giải quyết được quyền lợi trước mắt của các trường Về lâu dài và xét trên tổng thể nhu cầu đào tạo nhân lực sẽ ngày càng mất cân đối nghiêm trọng”
(06/10/2010) hay do những hạn chế về cơ sở vật chất , để được tổ chức giảng dạy trong nội ô các thành phố lớn, nhiều trường đã sử dụng cơ sở phân tán, nhỏ hẹp thậm chí chỉ vài trăm mét vuông, điều này dẫn đến hiện tượng sinh viên phải chen chúc
trong những giảng đường chật chội, vì thế “Đây là lý do dẫn đến môi trường sư phạm
Trang 31ngày càng xuống cấp nghiêm trọng” (27/12/2010), tính từ “nghiêm trọng” được sử
dụng trong hai trường hợp trên đã cho thấy mức độ thiệt hại lớn, với những hậu quả
nặng nề của nhiều bất cập trong giáo dục Nếu chỉ đơn giản dùng tính từ “nhiều” để diễn đạt như “sẽ ngày càng mất cân đối nhiều” hay “môi trường sư phạm ngày càng
xuống cấp nhiều” thì giá trị biểu cảm của thông tin sẽ bị giảm sút Thông qua những
tình huống này, ta nhận thấy việc lựa chọn từ ngữ nói chung và tính từ nói riêng để vận dụng vào các bài báo là hết sức quan trọng Không chỉ là vấn đề lựa chọn chính xác
mà còn là lựa chọn sao cho tạo được tính hấp dẫn, lôi cuốn trên từng trang viết Chính việc lựa chọn đó đã làm nên sự phong phú về số lượng của nhóm tính từ này Bên cạnh
đó, còn có sự góp mặt của hàng loạt tính từ chỉ phẩm chất của các đối tượng được
phản ánh như: “tốt”, “xấu”, “thẳng thắn”, “trung thực”,… Ví dụ như, để diễn tả sự
theo đuổi một cách lâu dài nhằm chinh phục mục tiêu xác định nào đó, các phóng viên
đã sử dụng tính từ “kiên trì”: “Hiện nay, chúng ta vẫn đang kiên trì thực hiện chủ
trương và các chính sách để xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời cho người dân” (08/12/2010), hay đề cập đến những phẩm chất cao quý của một người nói
chung, tính từ “tốt đẹp” đã được chọn lựa để đưa vào sử dụng: “nhưng thử hỏi một
thầy giáo không có phẩm chất tốt đẹp hoặc lối sống “có vấn đề” thì có giáo dục được học sinh trở thành người tốt không?” (23/10/2010) Giống như danh từ và động từ,
tính từ cũng xuất hiện theo dạng mang ý nghĩa tổng hợp, “tốt đẹp” là một ví dụ điển hình, bên cạnh đó còn có những tính từ khác như: “sạch đẹp”, “bền vững”,“yếu
kém”, sự có mặt của những tính từ này đã tạo nên một nhận định vô cùng khái quát,
toàn diện cho một đặc trưng, tính chất của sự vật Ngoài ra, qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy hầu hết các cặp từ đối lập trong nhóm này đều được sử dụng triệt
để như: hợp lý - vô lý, đúng - sai, tốt - xấu, gần - xa, nặng nề - nhẹ nhàng, rõ ràng -
mơ hồ, dễ - khó, hiện đại - lạc hậu,… Sự có mặt của những cặp tính từ trái nghĩa đã
làm phong phú thêm khả năng diễn đạt, góp phần thiết yếu vào việc cung cấp thông tin hiệu quả trên từng trang viết
Nhóm tính từ chỉ trạng thái:
Đây là lớp tính từ cũng được sử dụng tương đối nhiều, với chức năng miêu
tả trạng thái của sự vật, hoạt động, nhóm tính từ chỉ trạng thái đã góp phần đáng kể vào việc tái hiện chân thực và sinh động diễn biến của hoạt động giáo dục
Trang 32Giống như nhóm tính từ chỉ đặc trưng về tính chất – phẩm chất, các tính từ trong nhóm này cũng được phát huy tác dụng triệt để bằng những cặp từ đối lập như:
vui - buồn, nhanh - chậm, Do đặc trưng của chuyên mục Giáo dục là phản ánh kịp
thời tình hình của mọi hoạt động giáo dục đang diễn ra đồng thời diễn tả chính xác tốc
độ của hoạt động đó Ở điều kiện thông thường, mọi diễn biến của hoạt động đều có một vận tốc giới hạn, giới hạn này nhằm đảm bảo sự cân bằng và khả năng phát triển
bền vững của nó Nếu nó diễn ra “nhanh” tức là vượt quá giới hạn, hay “chậm” tức
không đạt tới giới hạn thì đều là những hiện tượng bất thường, nhưng sự bất thường này không khiến người tiếp nhận có cái nhìn sai lệch về kết quả của diễn biến, vì khi
đặt vào ngữ cảnh, tốc độ “nhanh”, “chậm” đó mới thật sự phản ánh rõ nét được kết
quả tiêu cực hay tích cực
Những bất cập trong giáo dục ĐH hiện nay thật sự là bài toán nan giải, xu
hướng phát triển thiên lệch là một trong những bài toán đó: “Hiện nay, quy mô giáo
dục ĐH tăng khá nhanh nhưng chất lượng giảm sút nghiêm trọng” (18/10/2010),
trong tình huống này, sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô đào tạo ĐH đã khiến cho chất lượng đào tạo không đáp ứng kịp, điều này đòi hỏi cần nhanh chóng triển khai một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng Trong một cảnh huống khác, với việc tiến hành thử nghiệm cách tổ chức bữa ăn mới cho học sinh mầm non Phương pháp này cho thấy việc cho học sinh ăn bằng khay thay vì tô đã mang lại hiệu quả tích cực, bởi bây giờ trên khay hiện diện đầy đủ tất cả món ăn, các em được tự do lựa chọn món ăn theo
ý thích, vì thế: “giờ ăn trôi đi nhanh hơn trước” (12/11/2010) Sáng kiến này đã giúp
trẻ tỏ ra hứng thú hơn với giờ ăn, đồng thời cũng giảm được cường độ lao động cho giáo viên rất nhiều
Bên cạnh những tính từ chỉ trạng thái của hoạt động, ta còn bắt gặp nhiều tính từ chỉ trạng thái tâm lý, tình cảm Sự xuất hiện với tần số cao của những tính từ này đã góp phần tạo nên bức tranh “muôn màu muôn vẻ” về đời sống của con người nói chung và cụ thể hơn là đời sống tâm lý phong phú của các đối tượng được phản ánh trong bài viết Nhằm đáp ứng nhu cầu nắm bắt thông tin đang diễn ra trong xã hội, nhất là những thông tin phản ánh tiêu cực, tồn tại, đồng thời cất lên tiếng nói quyết liệt
để phản ứng trước cái xấu, báo Tuổi Trẻ đã luôn cập nhật, chuyển tải những thông tin
“nóng hổi” về thực trạng giáo dục nhằm tìm ra giải pháp khắc phục thực trạng đó Để việc phản ánh được chân thực và sinh động, các phóng viên đã khéo léo dùng các tính
Trang 33từ miêu tả trạng thái tâm lý một cách chính xác và hấp dẫn nhất Đó là thái độ “bức
xúc” của sinh viên trước những quyết định bất hợp lý của nhà trường: “Một sinh viên bức xúc: “Nhà chỉ cách trường năm phút đi bộ nhưng trường vẫn bắt vào ở KTX thì vô
lý quá” (01/10/2010), hay: “Đón nhận thông báo đăng ký môn học học kỳ 2 năm học
2010 – 2011 của nhà trường, rất nhiều sinh viên Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM tỏ ra bức xúc bởi thời điểm đăng ký môn học trùng với mùa thi học kỳ khiến sinh viên không tập trung ôn tập được” (03/12/2010) Đó cũng là phản ứng của gia đình em Vũ Đức
Công (An Giang) trước sự tắc trách của bưu điện khi chuyển giấy báo trúng tuyển ĐH
đến em chậm …hai tháng: “gia đình rất bức xúc và báo cho lãnh đạo Bưu điện Châu
Thành biết” (15/10/2010) Bên cạnh đó, ta cũng bắt gặp tính từ “lúng túng” xuất hiện
khá nhiều lần Khi Nghị định 49/2010/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí của
Chính phủ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2010: “Thế nhưng đến nay do vẫn chưa
có thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định này nên các trường đang rất lúng túng
…”(23/11/2010) “Lúng túng” cũng là tâm trạng của học sinh trong kỳ thi học kỳ I
khối 12 ở các trường THPT tỉnh Phú Yên vì “các câu hỏi thuộc phần thi riêng dành
cho học sinh nâng cao và học sinh cơ bản đều có số thứ tự như nhau nên học sinh lúng túng không biết làm phần nào” (30/12/2010) Trước hiện trạng mà nền giáo dục nước
ta hiện nay còn nhiều tồn đọng, bởi những lỏng lẻo trong phương thức quản lý và sai lầm trong phương pháp đào tạo đã gây nên những ảnh hưởng tiêu cực lên giáo dục, thì những chuyện xảy ra như trên là điều không tránh khỏi Điều này giải thích cho lý do
tại sao bên cạnh những tính từ chỉ trạng thái tâm lý cơ bản như “vui”, “buồn”, còn có hàng loạt hệ thống tính từ có nét nghĩa tiêu cực khác như “hoang mang”, “nóng nảy”,
“lúng túng” “căng thẳng”,… được chọn lựa và xuất hiện
Khảo sát về nhóm tính từ chỉ trạng thái, người viết nhận thấy các tính từ thuộc nhóm này đều được lựa chọn rất kĩ càng và hợp lí Làm sao ta quên được cái
dáng vẻ dễ thương của những em bé lớp 1 trong giờ thực nghiệm khoa học: “Các em
rất háo hức “nếm thử nước”, có em dùng thìa chưa yên tâm, cầm cả đĩa lên liếm”
(09/10/2010), từ “háo hức” gợi cho chúng ta thái độ rất hồn nhiên, đáng yêu của trẻ nhỏ, dù có thể thay thế vào đó một tính từ khác có ý nghĩa tương đương như “hào
hứng”, nhưng tính từ này ít nhiều làm mất đi nét vô tư của lứa tuổi đó, bởi đó là lứa
tuổi luôn thể hiện sự mong chờ đầy say mê, thích thú trước những khám phá mới lạ Người viết xin được dẫn một ví dụ điển hình khác, đây là minh chứng cho việc chọn
Trang 34lọc từ ngữ hết sức xác đáng trên chuyên mục Giáo dục, nó xuất hiện trong bài viết về cuộc gặp gỡ ngày 16/11/2010, khi Bí thư Thành ủy TP.HCM đến thăm và chúc mừng
GS Trần Văn Giàu nhân dịp lễ nhà giáo tại Bệnh viện Thống Nhất Khi đó: “Nhìn GS
Trần Văn Giàu nằm trên giường bệnh, ông Lê Thanh Hải xúc động nói: “Kính thưa bác Sáu hôm nay chúng cháu vào thăm bác nhân Ngày nhà giáo VN”…”(17/11/2010), cũng mang ý nghĩa tương tự với “xúc động”, nhưng nếu ta thay
tính từ “cảm động” vào, sắc thái biểu cảm của câu cũng theo đó mà giảm đi đáng kể,
vì chỉ với từ “xúc động” ta mới nhận thấy hết được tình cảm yêu quý, kính trọng được
gửi gắm trong câu nói của ông Lê Thanh Hải, bởi người mà ông đến thăm hôm ấy là người đã dành trọn cuộc đời cho lao động và cống hiến, là cây đại thụ, là người thầy của biết bao thế hệ nhà giáo Việt Nam Có thể nói mỗi tính từ trên chuyên mục Giáo dục của báo Tuổi Trẻ nói chung và tính từ chỉ trạng thái nói riêng đều mang một giá trị nhất định, nhưng khi góp mặt vào bài viết, chúng đều hoàn thành xuất sắc vai trò của mình
Nhóm tính từ chỉ kích thước, số lượng:
Đây là nhóm có số lượng từ biểu hiện khá giới hạn, nhưng do tần số xuất hiện cao, nên nó cũng là nhóm tính từ chiếm số lượng lớn trong trang báo Giáo dục, chỉ đứng sau nhóm tính từ chỉ tính chất – phẩm chất
Không khác với hai nhóm tính từ kia, nó cũng được vận dụng tối đa ở các
cặp tính từ đối lập như: đông - vắng, cao - thấp, ít - nhiều, thiếu - đủ, lớn - nhỏ, ngắn -
dài, … Tuy nhìn bên ngoài, nó có vẻ không được phong phú như lớp tính từ chỉ tính
chất – phẩm chất, nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong việc miêu tả đặc trưng về dung lượng của sự vật, hiện tượng và nếu cùng xuất hiện với tính từ chỉ tính chất – phẩm chất trong câu, nó có chức năng bổ sung, nhấn mạnh thêm ý nghĩa đặc trưng của
tính chất và phẩm chất đó Trong các tính từ này, hai tính từ “lớn”, “nhỏ” đảm nhiệm
chủ yếu chức năng chỉ kích thước của sự vật, đặc trưng về kích thước này được miêu
tả bởi nhận định của người viết, nhận định này được đưa ra trên cơ sở so sánh với một
chuẩn nhất định, nếu vượt quá chuẩn này thì được gọi là “lớn”, không đạt đến chuẩn mực này thì gọi là “nhỏ”, chẳng hạn như khi nói về kích cỡ của màn hình LCD được
trang bị trong các lớp học đã trở thành “phong trào” ở nhiều trường tại TP.HCM, anh
Thanh Quang, nhân viên một siêu thị điện máy ở Bình Thạnh cho biết: “Đã có trường
hợp các trường sắm màn hình loại 32 inch nhưng khi về không dùng được vì màn hình
Trang 35quá nhỏ” (20/12/2010), kích cỡ “nhỏ” ở đây được nhận định dựa trên chuẩn chung về
kích cỡ màn hình thích hợp cho một lớp học có diện tích khoảng 50m2 với 40 – 50 học
sinh là trên 42 inch, mức độ “nhỏ” của sự vật cũng phụ thuộc vào việc tính từ “nhỏ”
đứng đơn lẻ hay kết hợp với các phó từ chỉ mức độ đứng trước nó Qua khảo sát,
người viết còn nhận thấy tính từ “lớn” xuất hiện trên chuyên mục Giáo dục nhằm chỉ diện tích của thành phố, được gọi khái quát là “thành phố lớn”, còn hầu hết các từ
“lớn” còn lại chủ yếu được dùng với nghĩa chỉ số lượng giống như “nhiều”, chẳng
hạn như: “tỉ lệ ảo trong tuyển sinh rất lớn” (05/10/2010), “Mức “trợ cấp ẩn” từ nhà
nước rất lớn” (13/10/2010), hay “sẽ ảnh hưởng rất lớn đến…” (29/10/2010) Trong
khi đó, cặp tính từ ít - nhiều là cặp từ được dùng phổ biến nhất để chỉ đặc trưng về số lượng, hẳn nhiên cũng giống như cặp tính từ lớn - nhỏ, đặc trưng về lượng này được
đặt ra trên cơ sở so sánh một chuẩn chung, nếu vượt quá mức bình thường đó thì gọi là
“nhiều”, không đạt tới mức đó gọi là “ít”, cặp tính từ này thường được kết hợp với
phó từ chỉ mức độ như: rất, khá, quá đứng trước nó, riêng tính từ “ít” còn thường xuyên kết hợp với phó từ phủ định “không” đằng trước tạo thành cụm từ “không ít”, lúc này nó mang nét nghĩa ngược lại “ít” – tức là “nhiều”, nhưng sắc thái ý nghĩa không đạt được mức độ cao như “nhiều” Bên cạnh đó, các cặp tính từ chỉ lượng khác
cũng được đặt trong ngữ cảnh phù hợp để diễn tả đầy đủ nhất diện mạo của sự vật,
hiện tượng Cũng nói về số lượng nhiều, ít, nhưng khi dùng cặp từ đông - vắng thì độc
giả cảm nhận được hiện trạng đó một cách hình tượng, rõ nét hơn Khung cảnh nhộn
nhịp, ấm áp nghĩa tình dường như hiện ra trước mắt người đọc: “Ngày 20-11 những
năm trước, nhà lúc nào cũng đông người đến thăm” (17/11/2010), hay tình trạng thưa
thớt, hiếm hoi được xuất hiện trong tiêu đề bài viết: “Trường vắng thí sinh, ngành
đóng cửa” (01/10/2010), tính từ “vắng” được dùng để mô tả tình cảnh bi đát của các
ngành không nhận được sự quan tâm của người học Với số lượng từ biểu đạt khá ít ỏi, nhưng cách sử dụng linh hoạt của các phóng viên đã xóa đi sự nhàm chán, đơn điệu rất khó tránh khỏi khi vận dụng nhóm tính từ này, qua đó người viết cũng học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn lựa chọn và vận dụng lớp tính từ chỉ kích thước, số lượng
Nhóm tính từ chỉ màu sắc, âm thanh, mùi, vị:
Trang 36Có thể nói trong chuyên mục Giáo dục của báo Tuổi Trẻ, lớp từ này ít được
sử dụng nhất Theo thống kê, chỉ có 3 tính từ loại này được nhắc đến trong các bài viết
Đối với lớp tính từ chỉ màu sắc, chỉ có duy nhất tính từ “trắng” được dùng
2 lần Đó là màu trắng trên chiếc áo người thầy đôn hậu của một lớp học tình thương ở chùa Phước Thiện, Quận 7, TP.HCM; màu áo ấy xuất hiện trong một căn phòng trọ
chật hẹp, nhỏ bé: “Chúng tôi bắt gặp thứ tươm tất nhất là chiếc áo sơmi trắng cũ kỹ
nhưng được ủi thẳng tắp…” (18/11/2010) Nó không phải là màu trắng sáng hay màu
trắng mới của một chiếc áo đẹp đẽ, đắt tiền, nó là một màu “trắng cũ kỹ” Cái màu ấy
gợi lên trong cảm nhận độc giả một cuộc sống còn nhiều lắm những khó khăn, chật vật, nhưng qua cái màu áo bình dị và đơn sơ ấy, ta còn thấy được tấm lòng cao thượng của một người thầy – người đã luôn san sẻ tình yêu thương cho những đứa trẻ chỉ vì nghèo mà phải từ bỏ giấc mơ học tập để ngày ngày rong ruổi trên những nẻo mưu sinh
Màu trắng còn là tượng trưng cho sự trong sáng và thanh khiết, màu trắng của những tà áo dài thướt tha trên con đường đến lớp, màu trắng của đám mây bồng bềnh trôi trong một chiều ngập nắng, màu trắng của cánh cò thong thả bay trên cánh đồng quê yên bình, và dường như không có gì đẹp đẽ hơn, hồn nhiên hơn, vui tươi hơn trang vở trắng học trò Thế mà, cũng là màu trắng ấy, nhưng nó lại xuất hiện trong một
khung cảnh không lấy gì làm vui: “Chúng tôi đến Trường tiểu học Quảng Minh A
(huyện Quảng Trạch) Hầu hết, học sinh đã trở lại trường sau một tuần nghỉ học vì lũ Sân trường phơi trắng hồ sơ, sách vở của giáo viên, học sinh” (14/10/2010) Còn gì
xót xa hơn khi chứng kiến cảnh tượng này, cảnh tượng mà cái màu trắng của trang vở chỉ gợi lên trong lòng người tiếp nhận nỗi buồn của thiệt hại và mất mát, để rồi người đọc có cảm nhận rõ hơn về nỗi khó khăn mà thầy trò ở vùng Quảng Bình đang phải đối mặt Nhưng nhìn xa hơn, cái màu trắng ấy vẫn ẩn chứa trong nó một niềm hy vọng, vẫn còn lấp lánh những ước mơ cho tương lai Đồng thời, nó cũng chứng tỏ rằng đối mặt trước nghịch cảnh do thiên tai gây ra, con người vẫn không đầu hàng trước số phận mà sẵn sàng bắt đầu lại Dù sự khởi đầu còn lắm gian nan, nhưng ta có quyền tin vào một tương lai tươi sáng hơn, bền vững hơn vì giữa một khung cảnh hoang tàn, đổ nát sau lũ vẫn còn đó màu trắng tinh khôi của những trang vở học trò Từ đó, ta càng
tự hào về truyền thống kiên cường và hiếu học của người Việt Nam
Trang 37Đối với lớp tính từ chỉ mùi, vị, sự có mặt của hai tính từ “mặn”, “ngọt”
được xuất hiện trong tình huống của một giờ giảng dạy môn khoa học cho học sinh lớp
1 Trường tiểu học Nguyễn Văn Huyên (Hà Nội): “Lần thứ hai thầy đổ nước muối vào
cốc, cho thêm nước nóng để tạo sự bốc hơi Học sinh nếm thử nước trong cốc cho nhận xét “mặn” và các em rất ngạc nhiên khi nếm nước đọng trên đĩa vẫn “không có
vị gì” Lần thứ ba, thầy đổ đường vào cốc, pha nước nóng để tạo sự bốc hơi Học sinh nếm và nhận xét “ngọt” nhưng nước bốc hơi bám trên đĩa “không có vị” Sau ba lần thí nghiệm, hầu hết các trò đều có nhận xét nước dù mặn, hay ngọt, hơi nước là nước tinh khiết” (09/10/2010) Đây chỉ một trong những giờ thí nghiệm rất sinh động nằm
trong đề án thử nghiệm giảng dạy theo nguyên lý của nhóm “Cánh buồm” Ở đó, học sinh được học tập một cách thoải mái, vui vẻ và còn được trực tiếp tham gia thực hành bằng cách quan sát, thảo luận, thậm chí dùng cả vị giác để “nếm” được vị mặn, ngọt của nước Đây là một trong những phương pháp hữu hiệu giúp các em thấy hào hứng với môn học, làm cho trẻ được hạnh phúc trong khám phá và sáng tạo, từ đó có được cách tri nhận kiến thức dễ dàng hơn, và kiến thức tri nhận cũng được ghi nhớ sâu sắc hơn Cũng qua thống kê, chúng tôi nhận thấy hầu như không có sự xuất hiện của lớp tính từ chỉ âm thanh Nhưng phải khẳng định rằng sự thiếu vắng này không làm mất đi tính nhộn nhịp, sôi động của hoạt động dạy và học trong môi trường giáo dục được phản ánh trong các bài viết, cũng như không làm ảnh hưởng đến tính hấp dẫn trong những chuyên mục Giáo dục của Tuổi Trẻ nhật báo
2.2.3.2 Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ
Tuy có số lượng không nhiều bằng lớp tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ (chỉ chiếm 26.5% trong tổng số lượng tính từ mà chúng tôi đã thống kê), nhưng phải khẳng định sự có mặt của lớp từ này đã mang lại hiệu quả diễn đạt rất tích cực, với vai trò nhấn mạnh tính chất của sự vật, hiện tượng Vai trò này có thể được thay thế bằng cách cho kết hợp các phó từ chỉ mức độ với các tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ, nhưng việc thay thế này không thể đảm bảo tốt sắc thái biểu cảm của câu, do đó có thể nói đây là lớp từ hết sức cần thiết, quan trọng và có giá trị
Tính từ chỉ đặc trưng tuyệt đối tạo thành cặp đối lập:
Các cặp tính từ xuất hiện trong nhóm này chủ yếu chỉ đặc trưng về tính chất, phẩm chất, số lượng, gần như không có tính từ chỉ trạng thái, âm thanh, màu sắc hay mùi vị Như đã nói, đây là những tính từ biểu thị thang độ của đặc trưng mang ý nghĩa
Trang 38tự thân, thường có tính chất tuyệt đối nên hoàn toàn không thể kết hợp với các phó từ chỉ mức độ mà chỉ đứng độc lập trong câu Để miêu tả về tính quan trọng nhất, thuộc
về cái cơ bản của sự vật, hiện tượng, tính từ “chính” đã được đưa vào sử dụng và đảm nhiệm trọn vẹn chức năng này: “Đối tượng dự thi là giáo viên dạy tiếng Anh dành cho
các nước mà tiếng Anh không phải ngôn ngữ chính” (20/12/2010) Đây là quy định
trong một cuộc thi viết về giảng dạy tiếng Anh, dành cho các nước không sử dụng
tiếng Anh như một ngôn ngữ chủ yếu, cơ bản Tính từ “chính” còn được dùng trong
câu để phản ánh tình trạng loạn đào tạo tại các viện, trung tâm Bởi theo quy định, viện
là nơi để nghiên cứu, nếu có đào tạo thì đào tạo chuyên sâu sau đại học, thế nhưng,
hiện có nhiều đơn vị “thành lập viện với chức năng chính là đào tạo, kinh doanh” (16/11/2010), tính từ “chính” được dùng trong trường hợp này đã cho thấy sai phạm
nghiêm trọng của các viện, trung tâm; không những thế còn cho thấy sự xâm nhập nguy hại của cơ chế thị trường vào môi trường học đường, khiến giáo dục bị biến tướng, méo mó
Cũng theo khảo sát, tính từ “phụ” chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong tiêu
đề “Khi ngành “phụ” lấn át” (06/10/2010), ngành “phụ” ở đây tức chỉ những ngành
mới được xuất hiện trong xu hướng đua nhau trở thành trường đào tạo đa ngành của
các trường ĐH Gọi là ngành “mới” nhưng theo kiểu “cũ người mới ta” nên dẫn đến
tình trạng chồng chéo, đồng thời các ngành mới đó lại dễ dàng tuyển đủ chỉ tiêu, trong khi các ngành cũ lại xảy ra hiện tượng tuyển sinh rất trầy trật Những ngành cũ này vốn được trường xem là ngành chủ lực, ngành truyền thống nên các ngành mới so với
các ngành cũ thì được xem là ngành “phụ” Tương tự vậy, cặp từ công - tư trong khảo sát gần như chỉ để miêu tả về tính chất của trường học “bao gồm cả trường công và
trường tư” (06/10/2010), trong đó tính từ “công” ý chỉ hình thức trường thuộc về nhà
nước, tập thể, còn “tư” là trường chỉ của riêng một người, hay một nhóm người nào đó
đứng ra thành lập Nhằm phản ánh và đánh giá tình hình lạc hậu về cơ sở vật chất,
thiết bị đào tạo của các trường ĐH, CĐ công lập, tính từ “công” được đặt trong tiêu đề
“Trường công, cái gì cũng thiếu” (26/10/2010) đã tạo nên ấn tượng ngắn gọn, súc tích
và nêu ra một nhận định mang tính phê phán ngay từ đầu bài viết
Bên cạnh những cặp từ chỉ tính chất, cặp tính từ đối lập chỉ số lượng như
tối đa - tối thiểu cũng chiếm khá nhiều vị trí xuất hiện trong các bài tin Thông thường,
từ “tối thiểu” được dùng với nghĩa là ít nhất, không thể ít hơn được nữa, như việc đầu
Trang 39tư về cơ sở vật chất, thiết bị cho đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai
đoạn 2010-2020, theo đó “diện tích tối thiểu phải nâng lên 30m 2 /học sinh” Đây là
bình quân diện tích ít nhất mà các trường phải đảm bảo mới đạt được yêu cầu đề ra của
dự án Hay theo nhận định của phó trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Khoa học Xã hội
và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM về thực tế đào tạo hệ tại chức, ông cho rằng trong quá trình giảng dạy, do cảm nhận được sức học của hệ tại chức nên giảng viên cho đề dễ
hơn, tuy nhiên các trường cần phải kiểm soát chất lượng sao cho “sinh viên đảm bảo
những điều kiện tối thiểu mới được tốt nghiệp” (06/12/2010), từ “tối thiểu” ở đây
được hiểu theo nghĩa là điều kiện thấp nhất, đơn giản nhất ở mức tạm có thể chấp nhận
được Cũng tương tự như “tối thiểu”, tính từ “tối đa” được dùng để chỉ về số
lượng mà số lượng này là nhiều nhất, là không thể nhiều hơn được nữa, và khi xuất
hiện trong câu, tính từ “tối đa” có hiện tượng kết hợp cùng các con số như để thông tin về số tiền học bổng toàn phần tại Hà Lan ở chương trình tiến sĩ “kinh phí tối đa lên
đến 74.000 euro” (04/10/2010), hay theo văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình
tiếng Anh tăng cường lớp 1 năm học 2010-2011 của Sở GD-ĐT TP.HCM thì “sĩ số
trong lớp học tiếng Anh tăng cường tối đa là 35 học sinh” (22/11/2010)
Qua thống kê, chúng tôi nhận thấy các cặp tính từ đối lập chỉ đặc trưng xác định thang độ được vận dụng khá nhiều và nhờ có những cặp tính từ này mà mọi
đặc trưng của thực thể hay hiện tượng đều được phác họa toàn diện và đầy đủ
Tính từ chỉ đặc trưng tuyệt đối không tạo thành cặp đối lập:
Có số lượng ít hơn các tính từ chỉ đặc trưng tuyệt đối tạo thành cặp đối lập, nhưng lớp tính từ này khá phong phú do được gom góp từ nhiều nhóm tính từ như tính từ chỉ trạng thái, chỉ tính chất – phẩm chất, kích thước, số lượng và màu sắc
Đáng chú ý trong lớp tính từ này là sự xuất hiện của các từ láy, chẳng hạn như khi đề cập đến mức độ đề thi liên quan đến phương thức tổ chức thi, tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2011, khi Bộ dự kiến không tổ chức đợt thi riêng cho các trường
CĐ mà ghép với hai đợt thi ĐH, tuy nhiên vẫn xác định điểm sàn riêng Có người cho rằng nếu thực hiện theo phương án này thì khó lòng tuyển đúng đối tượng phù hợp,
bởi chẳng khác gì kì thi tốt nghiệp THPT nếu “đề thi dễ dễ để cả CĐ và ĐH đều làm
được” (25/10/2010), tính từ “dễ dễ” nhằm chỉ mức độ đánh đố của đề thi, nếu ta thay
vào đó một tính từ tương đương để câu có dạng như “đề thi dễ để cả ĐH và CĐ đều
làm được” thì về mặt ý nghĩa, câu nhận định trên không có gì thay đổi, nhưng sắc thái
Trang 40biểu cảm của câu đã bị nhạt nhòa bớt, bởi nếu nói theo cách nhận định rằng đề thi “dễ
dễ”, tức có hàm ý nói người ra đề phải cố tình cho đề vừa sức cả hai đối tượng thi, dù
bản thân họ cũng phần nào nhận ra đó là một yêu cầu bất hợp lí
Để miêu tả trạng thái tình cảm của đối tượng được phản ánh, từ láy
“buồn buồn” cũng được đưa vào câu hết sức cảm động: “Trong lớp 4/4, em Trần Thị Thảo Phương ngồi buồn buồn ở bàn đầu” (14/10/2010), bởi các em học sinh lớp này
vừa trở lại lớp học sau một cơn lũ dữ, trở lại trường với đôi bàn tay trắng vì nước lũ đã cuốn trôi tất cả sách vở và đồ dùng học tập Tại sao các phóng viên không dùng tính từ
“buồn” để miêu tả dáng vẻ của em? Bởi đây là nỗi buồn của một học sinh tiểu học, em
“buồn buồn” vì giờ đây em chỉ còn cuốn vở duy nhất và nó cũng không còn lành lặn
để đến lớp, em “buồn buồn” vì giờ đây em chỉ còn mỗi một cây bút chì và thước, nỗi buồn của em còn đượm vẻ ngây thơ của lứa tuổi, em “buồn buồn” vì giờ đây đến lớp
em chỉ có thể ngồi nhìn và nghe thôi, chứ em chưa biết “buồn” vì những mất mát và thiệt hại mà cơn lũ dữ gây ra cho quê hương em Nhưng chính cái vẻ “buồn buồn” tội
nghiệp của cô học trò ấy đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả, để rồi khi gấp lại những trang báo, người đọc còn thấy đâu đây những ánh nhìn đã bớt đi vẻ hồn nhiên, trong sáng của những đứa trẻ mà hành trình đến trường đối với chúng là bao nỗi gian nan
Để chỉ kích thước của sự vật, tính từ nhóm này cũng dùng những từ láy
như “nho nhỏ”, “be bé”, còn chỉ về số lượng thì có các từ láy “lác đác”, “lèo tèo”, hay các tính từ “xấp xỉ”, “suýt soát” cũng được nhắc đến Mỗi từ được sử dụng
trong trường hợp này đều mang ý đồ riêng, và việc vận dụng xuất sắc các từ này không chỉ tạo nên sắc thái biểu cảm cho câu mà còn làm cho câu văn thêm tính hình tượng, sinh động Hãy cùng người viết xem xét các trường hợp sau: Chẳng hạn như, kích
thước của những bức ảnh thầy cô được các phóng viên miêu tả là “2.011 bức ảnh chân
dung be bé”, những bức ảnh này được dán san sát nhau trên một tấm bảng to, như một
lời cảm ơn của các bạn sinh viên Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM dành cho những
người đưa đò trong ngày 20-11, nếu chỉ dùng tính từ “bé” hay “nhỏ” để miêu tả về
những tấm ảnh này thì làm sao ta thấy được nét trẻ trung, dễ thương của món quà, cũng như không thể nhận ra sự kì công, tỉ mỉ của những bàn tay học trò để chăm chút
cho một món quà đặc biệt như thế này Hay để nói về số lượng ít ỏi, tính từ “lác đác”
được đưa vào sử dụng rất hợp lí Nó xuất hiện trong ngữ cảnh các ngành sư phạm